Minh văn trên hai chiếc phương di đồng thời Thương ở Bắc Ninh và cổ sử Việt

Theo định vị của sử Tàu ngày nay, triều đại thứ hai trong Tam đại Trung Hoa là nhà Thương nằm ven sông Hoàng Hà (Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam). Sang thời Chu đất đai thiên tử bắt đầu tiến tới bờ sông Dương Tử, còn cách đất Việt Nam ngày nay vài ngàn cây số. Tới tận khi Tần Thủy Hoàng xua quân bình định phương Nam thì cuộc đụng độ đầu tiên giữa người Việt và Trung Hoa mới xảy ra… Trước đó, phương Nam là nơi man di, còn đang ở thời kỳ “cởi trần đóng khố”, chưa biết đến chữ viết là gì…
Ấy vậy mà thực tế ở miền Bắc Việt Nam lại gặp khá nhiều hiện vật cổ của thời kỳ Thương Chu. Điển hình là những chiếc nha chương bằng ngọc, kích thước khá lớn được khai quật ở Phú Thọ, có niên đại ước vào cuối thời Thương, đầu Tây Chu. Hàng loạt những đồ đồng mang phong cách Thương Chu cũng được tìm thấy khắp nơi tại Việt Nam. Hơn nữa, không ít hiện vật đồ đồng này còn có minh văn, được khắc bằng chính những loại chữ Kim, chữ Triện của Trung Hoa cổ đại. Những đồ Thương Chu này ở đâu mà ra? Sự hiện diện của chúng ở Việt Nam nói lên sự thật gì về lịch sử Trung Hoa và Việt Nam cổ đại?

Di Thuong

Chiếc phương di đồng ở Bắc Ninh.

Trong bộ sưu tầm của một người chơi đồ cổ ở Bắc Ninh có 2 chiếc di vuông đặc biệt. Di là tên gọi chung đồ đồng, do có hình vuông nên gọi là phương di. Hai chiếc di ở Bắc Ninh có hình dạng, kích thước, trang trí giống nhau, chiều cao khoảng 36 cm, trông giống như hình một ngôi nhà lớn, có phần đáy vuông và nắp. Mỗi mặt của phần đáy dưới được chia làm 3 tầng. Tầng trên là hình 2 con chim quay vào nhau. Tầng giữa rộng nhất là hình mặt thú Thao thiết, có 2 tai và 2 sừng hai bên. Tầng dưới cùng là 2 con quỳ long quay mặt ra ngoài.
Phần nắp chiếc di có hình mái nhà 4 mặt. Trên nóc mái có núm cũng hình mái nhà. Hai mặt dài là hình Thao thiết, giống như mặt Thao thiết ở phần dưới của chiếc di, nhưng quay ngược lên trên. Hai mặt bên cũng là hình Thao thiết này quay ngược, nhưng không có tai. Những họa tiết trang trí này mang phong cách đặc trưng của đồ đồng thời Thương.
So sánh hình dạng, kích thước, họa tiết trang trí thì 2 chiếc di vuông này hoàn toàn giống với mô tả của chiếc di được tìm thấy trong mộ Phụ Hảo thời Thương tại thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương (Hà Nam, Trung Quốc). Chiếc di trong mộ này ở Hà Nam có khắc hai chữ Phụ Hảo 妇好 bên trong nắp.
Phụ Hảo là một vị phi tần của vua Cao Tông nhà Thương (Vũ Đinh), sống vào khoảng năm 1.200 năm trước Công nguyên. Theo như những ghi chép trong Giáp cốt văn thì Phụ Hảo là nữ tướng tiên phong, có lúc thống lĩnh quân đội nhà Thương trong các cuộc chinh phạt các nước Khương Phương, Thổ Phương, Ba Phương, Đông Di. Ngoài ra bà còn thực hiện việc chủ trì các hoạt động tế tự quan trọng, như chủ trì việc cúng tế tổ tiên, thần thánh, đất, trời (theo wikipedia).
Sự kiện quan trọng dưới thời Ân Cao Tông là việc nhà Ân tiến đánh nước Quỷ Phương. Có thể thấy Phụ Hảo thống lĩnh quân đội nhà Thương đánh nước Khương Phương cũng là nước Quỷ Phương vì Quỷ = Cửu là số 9 chỉ hướng Tây. Khương là tính chất Khăng định của phương Tây trong Dịch học. Nước Khương Phương hay Quỷ Phương là nước nằm ở phía Tây của nhà Thương.

Chu Tu

Chữ ở mặt trong của nắp chiếc di.

Không kém so với chiếc di Phụ Hảo, bên trong nắp chiếc di ở Bắc Ninh cũng có chữ. Một chữ có thể đọc được là chữ Tử 子. Trên đáy trong 2 chiếc di đồng này còn có khắc 8 chữ cổ, chia làm 2 cột, mỗi cột 4 chữ. Đây cũng là dạng chữ Kim văn, tức là loại chữ thời Thương Chu khắc trên đồ kim khí.
Hai cột chữ này có thể tạm đọc là:
尊家出物 – Tôn gia xuất vật
寶妇司奠 – Bảo phụ tư điện
Tạm hiểu nghĩa: Gia tộc cao quý sinh ra nhân vật lớn. Người phụ nữ kính trọng phụ trách việc tiến cúng.
Ý tứ của những chữ này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh của thời Ân Thương. Nếu Trung Quốc có vị nữ tướng Phụ Hảo lo việc tế tự thì Việt Nam cũng có Bảo Phụ, là nhân vật xuất sắc trong hoàng tộc và phụ trách việc tiến cúng. Thời Ân Thương Trung Hoa còn đang ở chế độ thị tộc mẫu hệ nên vai trò người phụ nữ mới quan trọng như vậy.

Kim vanChữ Kim văn trên đáy chiếc di.

Chủ nhân hai chiếc di đồng ở Bắc Ninh cho biết ông đã mua lại được chúng từ những người dân tộc địa phương (Sán Dìu và Dao đỏ) sống quanh núi Tam Đảo từ những năm 1980. Làm thế nào mà những chiếc di đồng của nhà Thương với tuổi cổ vật trên 3.000 năm lại có mặt ở nước ta?
Lý giải chuyện này có thể có giả thuyết như sau. Khoảng năm 1126 trước Công nguyên Cơ Phát, con trai của Cơ Xương đã phát động các chư hầu tiến đánh Trụ Vương. Truyền thuyết Việt kể chuyện Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân ở Vũ Ninh. Vũ Ninh hay Ninh Vương là danh xưng của Cơ Phát trước khi lên ngôi.
Bài hát Ải Lào trong lễ hội Phù Đổng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Trong hội Dóng 28 cô gái trẻ đóng thành các tướng giặc Ân. Rõ ràng đây ám chỉ nhà Ân còn đang ở chế độ mẫu hệ. Những dẫn chứng về Phụ Hảo và Bảo Phụ trong Kim văn trên đồ đồng thời Thương xác nhận thêm điều này.
Sau khi diệt Trụ Vương, Cơ Phát lên ngôi xưng làm thiên tử, gọi là Chu Vũ Vương, bắt đầu vương triều Chu trong lịch sử Trung Hoa. Vũ Vương tiến hành phong tước vị, phân đất đai cho các chư hầu, các đại công thần trong công cuộc diệt Ân Trụ Vương. Trung Hoa bước sang thời kỳ phong kiến thực sự.
Con cháu Trụ Vương là Vũ Canh vẫn được nhận phân phong tại đất cũ của nhà Ân ở vùng Triều Ca (Hà Nam). Khi Vũ Vương mất, Vũ Canh liên kết với các bộ tộc Đông Di nổi loạn. Em trai của Vũ Vương là Chu Công Cơ Đán đang nắm quyền phụ chính triều Chu đã cất quân dẹp loạn. Sau khi dẹp được loạn Chu Công mang đám quý tộc “ngoan ngạnh” của nhà Ân về Lạc Dương để “an trí”. Đây chính là điểm mấu chốt để giải thích sự có mặt của đồ đồng thời Thương tại vùng Bắc Việt.
Lạc Dương hay Đông Đô của nhà Chu là thành Đông Đô Hà Nội, tức là vùng Cổ Loa xưa. Các quý tộc Thương được an trí tại Lạc Dương rất có thể là ở vùng quanh núi Tam Đảo, nên đã để những di vật tại đây. Thành phần dân tộc chính của nhà Ân là người thuộc nhóm Miêu – Dao. Điều này cũng phù hợp với thông tin rằng 2 chiếc di thời Thương được mua lại từ người Dao đỏ và Sán Dìu. Sán Dìu còn gọi là Sơn Dao nhân. Có thể những tộc người Dao này là hậu duệ của các gia tộc nhà Ân Thương đã được Chu Công cho “định cư” tại đất Lạc Dương.
Ở khu vực Cổ Loa trong quá khứ từng có một cuộc “khai quật khảo cổ” nữa. Đó là “thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua” (Lão Tử minh). Lão Tử là Huyền Thiên Trấn Vũ, người đã cử thần Kim Quy giúp Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, bắt yêu trừ quỷ ở núi Thất Diệu (núi Sái ở Đông Anh). Theo truyền thuyết lúc này ở Cổ Loa đã đào thấy xương cốt, nhạc khí thời cổ (như chiêng trống đồng). Như vậy những đồ đồng đào được ở thời Đông Chu tại Cổ Loa cũng có thể là những di vật của các quý tộc nhà Ân Thương đã mang tới khi bị an trí tại Đông Đô – Lạc Dương.
Mối liên hệ các triều đại Thương – Chu với vùng đất Lạc (Việt) ngày nay được chứng thực bởi những cổ vật có minh văn tại đây.

Thánh Gióng là ai?

P1060325

Lời hát của phường Ải Lao trong lễ hội Gióng ở Phù Đổng:

Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài…

Lễ hội Phù Đổng đã được tôn vinh công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, nhưng Thánh Gióng là ai thì vẫn mỗi người một ý. Điểm qua vài quan điểm về thánh Gióng của các chuyên gia ngày nay.
Tạ Chí Đại Trường trong cuốn Thần và người đất Việt đã cố công biến hết “người đất Việt” thành “thần”. Thánh Gióng bị cho là thần đá vì chữ Phù Đổng được thấy giống chữ pù – đống, trong tiếng Tày Thái nghĩa là đống đá… Một nhân vật lịch sử lâu đời như vậy mà bị cho “hóa thạch”, thật là bậy bạ hết chỗ nói… Thế mà vẫn có những “sử gia” thuộc vào hàng đáng kính viết lời giới thiệu quảng bá cho sách…
Khá khẩm hơn có tiến sĩ Đinh Hồng Hải mới xuất bản cuốn sách Các vị thần, nhưng cũng chỉ thấy mới “thần” mà không thấy “thánh”. Thánh Gióng ở đây được “xếp hạng” ngang hàng với Thần tài, Thần bếp…?! Tác giả đã “truy nguyên” hình tượng Phù Đổng Thiên Vương là được nhà Lý dựng nên vào thế kỷ 11, lấy nguyên mẫu từ Tỳ Sa Môn Thiên Vương, một vị hộ pháp của nhà Phật…!?
Nước ta “độc lập” kể từ nhà Lý, truyền tích, di vật để lại thì không từ thời Lý thì còn từ thời nào nữa. Nhưng chuyện Thánh Gióng được kể có từ thời nhà Ân, từ trên 3.000 năm trước. Lúc đó Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời thì làm sao Thánh Gióng lại là tướng nhà Phật được? Trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương cũng có chỗ nào nói đến Phật đâu mà có thể cho là chép từ Phật tích ra.
Các “Phật tử” du học ở Tây, ở Ấn về hơi ngộ nhận về ảnh hưởng của Phật Giáo đối với cổ sử Việt. Cũng như thiền sư Lê Mạnh Thát biến chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa thành chuyện… gì đó ở trong kinh Phật… Có biết đâu là có chuyện Lão Tử hóa Hồ… Đạo Lão của người Việt còn có trước Đạo Phật, và Đạo Phật có thể đã chịu ảnh hưởng của Đạo Lão ở một số mô típ và quan niệm.
Tư duy biện chứng hơn phải kể đến tác giả Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt người Mường. Tạ Đức cho rằng Thánh Gióng là hình ảnh của thần chiến tranh Xuy Vưu. Cuộc chiến chống giặc Ân là sự đụng độ của nước Quỷ Phương với Ân Cao Tông. Nước Quỷ Phương được cho là nước Xích Quỷ của người Việt cổ, được giải thích là nghĩa đen là “Quỷ đỏ” vì… Xuy Vưu ở một số nơi bên Hàn quốc được thờ với áo màu đỏ…
Quan điểm của Tạ Đức đúng ở chỗ cho rằng Thánh Gióng là một nhân vật lịch sử có thật trong trận chiến với nhà Ân. Có điều truyền thuyết cho biết Thánh Gióng đã đánh thắng giặc Ân, vua Ân chết trận ở Trâu Sơn, vua Hùng thứ sáu sau đó lên ngôi còn duy trì quốc gia dài dài… Cuộc chinh phạt nước Quỷ Phương của Ân Cao Tông có phần thắng thuộc về nhà Ân, chứ không phải thuộc về nước Quỷ Phương.
Tạ Chí Đại Trường đã nhận xét có lý rằng chuyện Thánh Gióng thắng giặc Ân là chỉ nhà Chu, vì Chu thiên tử mới là triều đại đã đánh đổ nhà Ân. Đây không phải sự sao chép hay học đòi, “tự sướng” của người Việt, mà là lịch sử thật sự. Chính Hùng Vương Vũ Ninh đã đánh thắng Ân Trụ Vương chứ chẳng phải ai khác.
Lễ hội làng Phù Đổng và truyền thuyết về người anh hùng Gióng vẫn còn mang đậm hơi thở lịch sử của 3.000 năm trước. Câu trả lời Thánh Gióng là ai nằm ngay ở trong những truyền thuyết lễ hội dân gian. Câu hát Ải Lào hội Gióng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Nu nhung

Nữ tướng Ân trong lễ hội Phù Đổng (Ảnh Nguyễn Hồng Quân).

Trong ngày hội Gióng 28 cô gái trẻ (vị thành niên, dưới 13 tuổi) đóng vai làm 28 tướng Ân, diễn lại trận đánh với Thánh Gióng. Một bên là một cậu bé 3 tuổi, ăn cơm cà của cả làng mà lớn nhanh như thổi, cầm gậy cưỡi ngựa ra trận. Một bên là 28 thiếu nữ… Có lẽ chẳng có lễ hội nào trên thế giới lâu đời, kỳ lạ và khó hiểu đến vậy.

Tác giả Văn nhân đã giải thích rõ tập tục trong lễ hội này. Số 2 trong Hoa ngữ còn gọi là Ơn, biến thành Ân. Hoặc trong thập can Ất là số 2 (Giáp – Ất). Ất biến ra Ân. Còn 8 là con số chỉ phương Đông (như trong từ Bát Hải – biến Đông). Phương Đông lấy tượng là màu xanh = thanh = thương. Phương Đông là phương của tình cảm – tình thương. 28 như vậy là tên gọi đã số hóa của nhà Ân Thương. Nhà Thương từ khi Bàn Canh dời đô vượt sông được gọi là nhà Ân, nghĩa là nhà Thương thứ hai.
28 nữ tướng Ân yểu điệu ám chỉ nhà Ân Thương còn đang ở thời kỳ mẫu hệ, kém văn minh so với nhà Chu. Sau cuộc chiến của Vũ Vương diệt Ân, lập nên nhà Chu, Trung Hoa bước vào giai đoạn quân chủ phong kiến chính thức. Chu Công tiếp đó đặt nên lễ nhạc, hình thành nền tảng phong hóa Trung Hoa cho hàng ngàn năm sau. Vũ Ninh, nơi Thánh Gióng thắng giặc Ân là tên của Chu Vũ Vương. Vũ Vương trước khi lên ngôi có danh là Ninh Vương Cơ Phát.
Đặc biệt sự có mặt của phường hát Ải Lào với người đội lốt hổ chỉ rõ mối liên hệ nguồn gốc của nhà Chu với tộc người Ai Lao Di ở vùng Vân Nam Quý Châu, tộc người lấy con hổ làm con thần thú của mình. Ải Lào thiết Âu. Hai khu vực Âu của người Ai Lao Di và Lạc (Hùng Vương thứ sáu = Hùng Lục Vương = Hùng Lạc Vương) nơi Thánh Gióng xuất thế, đã cùng nhau đánh đổ triều Ân, lập nên nước Âu Lạc. Hai dòng tộc của cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ lại gặp nhau, hòa hợp trong một thời đại mới.
Cuối cùng, là Thánh Gióng không phải là ông Đổng, ông Khổng lồ, để có những “phát hiện” kiểu Thánh Gióng mang họ Đổng nhưng lại diệt thủy quái dựa theo thần tích đền Bộ Đầu (Thường Tín). Đền Bộ Đầu thờ Đổng Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh bị gộp chung với các di tích của Thánh Gióng ở Phù Đổng và Sóc Sơn thành di sản văn hóa thế giới. Ông Đổng là một nhân vật khác với Phù Đổng. Phù Đổng thiết Phổng hay Bổng, chính xác Thánh Gióng là thần Bổng. Cậu bé ba tuổi làng Phù Đổng đã lớn phổng, cưỡi ngựa nhổ tre đánh giặc rồi bay bổng về trời trên núi Sóc. Bắt đầu từ Ninh Vương Cơ Phát sinh Bách Việt, lịch sử Âu Lạc sang một trang mới, một thời đại bay bổng tuyệt vời của xã hội Việt.

… Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lựa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.

Bàn về nước Xích Quỷ cùng Tạ Đức

Tôi là một trong số những người đầu tiên mua cuốn sách Nguồn gốc người Việt người Mường của Tạ Đức ở nhà xuất bản Tri thức vào đúng hôm cuốn sách được nộp lưu chiểu. Đây là do sự tình cờ nhưng có lẽ cũng là có chút duyên nào đó với những vấn đề mà cuốn sách đặt ra. Vấn đề nguồn gốc tộc người Việt Mường là vấn đề thú vị nhưng cũng rất nan giải. Nhất là khi vấn đề lại được nêu ra theo một quan điểm “khác thường” trong một cuốn sách nhiều trang, nhiều tư liệu dẫn chứng từ những lĩnh vực khảo cổ, truyền thuyết, ngôn ngữ,…
Cuốn sách của Tạ Đức đã được nhiều người khen chê nên tôi chỉ xin bàn luận thêm vào những vấn đề mà cuốn sách đã đặt ra về nguồn gốc người Việt với hy vọng là những bàn luận này phần nào giúp tác giả có thêm tư liệu, thêm cách nhìn nhận về sự thật của những khúc mắc khi tìm về cội nguồn của người Việt chúng ta.
Xin bắt đầu từ Chương 5 – Nước Xích Quỷ, nhà nước đầu tiên có tên của người Việt theo truyền thuyết. Xin dẫn các kết luận về nước Xích Quỷ của Tạ Đức đã nêu trong cuốn sách:
1 – Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương trong truyền thuyết Việt Nam là một nước có thực trong lịch sử. Thực chất, đó là liên minh của ba nước Việt Chương ở Giang Tây, Việt Thường ở Hồ Nam, Việt Dương hay Dương Việt ở Hồ Bắc ra đời trong quá trình đấy tranh giành độc lập gắn với sự tan rã của đế chế Thương. Nước Việt Chương có kinh đô ở Ngô Thành là nòng cốt và đã lãnh đạo quân dân Xích Quỷ đánh bại cuộc xâm lược của quân Ân Thương do vua Thương Vũ Đinh đích thân chỉ huy.
2 – Nền tảng vật chất của nước Xích Quỷ là nền văn hóa đồng thau Ngô Thành với các di vật tiêu biểu là những bộ não bạt và trống đồng cỡ lớn có vai trò đặc biệt trong tín ngưỡng của người Xích Quỷ.
3 – Điều có ý nghĩa nhất là bằng truyền thuyết Họ Hồng Bàng và đặc biệt là bằng truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân, người Việt Nam đã lưu truyền được những hồi âm, hồi quang xa xăm của nước Xích Quỷ đó.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định “Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương trong truyền thuyết Việt Nam là một nước có thực trong lịch sử”. Tuy nhiên việc định vị và định thời gian của nước Xích Quỷ như Tạ Đức thì gặp phải một số mâu thuẫn:
–    Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương theo truyền thuyết Việt có cách nay trên 4.000 năm, tức là trước nhà Thương tới cả 1.000 năm.
–    Theo truyền thuyết Kinh Dương Vương đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, lấy con gái Thần Long ở hồ Động Đình. Việc định vị Kinh Dương là châu Kinh, châu Dương ở quanh sông Dương Tử, Ngũ Lĩnh và Động Đình hồ ở Hồ Nam là lạc hướng bởi những từ ngữ trong cổ sử. Xin bàn thêm ở dưới đây về những địa danh này.
–    Nền văn hóa đồng thau ở vùng Giang Tây – Hồ Nam – Hồ Bắc có nhiều điểm đặc trưng là văn hóa Thương. Đất Kinh Sở như vậy chính là đất của nhà Thương rồi, đâu cần đánh chiếm gì nữa.
–    Thánh Gióng đã giúp vua Hùng chiến thắng giặc Ân, vua Ân chết ở Giếng Việt. Còn Ân Vũ Đinh đã đánh thắng nước Quỷ Phương sau 3 năm. Vũ Đinh là thời thịnh đầu nhà Ân chứ không phải thời nhà Ân tan rã. Vì thế truyền thuyết Thánh Gióng không phải sự kiện Ân Vũ Đinh đánh nước Quỷ Phương.
Xin nêu một số tư liệu làm rõ các vấn đề trên:

KINH DƯƠNG VƯƠNG Ở ĐÂU?

Truyền thuyết Họ Hồng Bàng chép: “Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân…
Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) kể về việc kết hôn của Kinh Dương Vương:

Kinh Dương ngày ấy đi chơi
Thuyền trăng buồm gió tếch vời Nam minh.

Ở chốn Nam minh ấy Kinh Dương Vương gặp con gái Thần Long:

Nàng rằng: thiếp con Động Đình
Thần Long là hiệu, Nam minh là nhà.

Nam minh được chú là “bể rộng ở phía Nam”. Sách Nam hoa kinh của Trang Tử có câu “Bằng chi tỉ ư Nam minh đã, đoàn phù dạo nhi thường giả cửu vạn lý”. Dịch nghĩa: Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không.
Như vậy Nam minh chính là biển Nam. Trong lịch sử Hoa Việt thì rõ ràng đây là vùng biển Đông ngày nay. Thông tin trên của Thiên Nam ngữ lục cho thấy Kinh Dương Vương đã gặp con gái Thần Long ở Động Đình tức là biển Đông. Động Đình, cái nôi của người Việt cổ không hề là hồ nước nông choèn ở Hồ Nam. Động Đình nơi có Thần Long, nơi rồng bay lên, phải là biển Đông, vùng vịnh Bắc Bộ ngày nay.
Dẫn chứng khác là ở Việt Nam có tục thờ thần Bát Hải Động Đình làm Vua cha của Thoải phủ (thủy phủ) trong đạo Mẫu. Vua cha Bát Hải Động Đình được thờ chính là ở đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Cụm từ “Bát Hải Động Đình” chỉ rõ Động Đình là vùng biển (Hải) chứ không phải hồ nước. Bát Hải nghĩa là biển có tên là Bát (số 8), tức là biển Đông vì số 8 là con số chỉ phương Đông trong Hà thư.
Tương tự núi Ngũ Lĩnh nơi Kinh Dương Vương đi tuần là ngọn núi có tên là Ngũ, tức là ngọn núi ở vùng trung tâm vì số 5 là số trung tâm của Hà thư. Ca dao xưa có câu:
Núi thờ cha Tản Viên
Núi thờ mẹ Tây Thiên
Đều hướng về Ngũ Lĩnh
Thờ núi Tổ linh thiêng.
Ngũ Lĩnh trong câu ca dao rõ ràng là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ vua Hùng ngày nay ở xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, Phú Thọ. Ngũ Lĩnh không hề là 5 ngọn núi ở bên Hồ Nam.
Châu Kinh châu Dương thời Đại Vũ chia 9 châu do vậy không phải ở đất Kinh Sở bên sông Dương Tử. Kinh là nơi có người Kinh ngày nay, tức là vùng Bắc Việt. Dương vốn là tên của vùng Quảng Đông (Quảng Châu xưa gọi là Dương thành). Kinh Dương Vương là vị vua cai quản vùng Bắc Việt – Quảng Tây – Quảng Đông, xưa gọi là đất Nam Giao, ứng với chuyện Lộc Tục (Kinh Dương Vương) làm vua phương Nam.
Tóm lại, Kinh Dương Vương là vị vua Việt ở ngay trên đất Việt ngày nay nơi có người Kinh sinh sống, có ngọn núi Nghĩa Lĩnh (Ngũ Lĩnh) ở Phú Thọ, bên cạnh biển Động Đình (biển Đông). Lăng mộ Kinh Dương Vương ở Á Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh hoàn toàn có thể là nơi Kinh Dương Vương qua đời thật sự.

NHÀ ÂN VÀ NƯỚC QUỶ PHƯƠNG Ở ĐÂU?

Hàng loạt những dẫn chứng khảo cổ mà Tạ Đức đưa ra trong cuốn sách về văn hóa đồng thau ở khu vực Giang Tây – Hồ Nam – Hồ Bắc cho thấy khu vực này thuộc văn hóa đồng khí Thương. Những đặc điểm của văn hóa Việt ở đây cũng hiện hữu bởi vì… nhà Thương chính là một triều đại của người Việt. Nhận định “… tầng lớp thống trị ở Bàn Long Thành là người Thương, còn cư dân là người bản địa (người Việt)” cho thấy rõ nước là nước Thương, người là người Việt, hay nói cách khác nhà Thương là một quốc gia của người Việt.
Khi xác định như vậy thì có thể thấy hàng loạt địa điểm khảo cổ văn hóa Thương từ Ngô Thành, Tân Can, tới Bàn Long Thành, Trịnh Châu và An Huy là những thành ấp trên con đường dời đô của vua Bàn Canh nhà Thương lên hướng Bắc (xem bản đồ). Bàn Long thành tức là tòa thành của vua Bàn Canh (long = vua). Hướng thiên đô của nhà Thương hiện rõ qua các di chỉ khảo cổ này, là hướng từ Nam lên Bắc, từ Tân Can tới An Huy. Đô thành thay đổi, nhưng đất đai vẫn là đất của nhà Thương hay của các chư hầu được vua Thương phân phong. Việc nhà Thương dời đô có từ thời Bàn Canh, trước thời Ân Vũ Đinh.

Khao co TQ 3Các khu vực đồ đồng thời Thương Chu

Theo Trúc Thư Kỷ Niên, Ân Cao Tôn “Tam thập nhị niên, phạt Quỷ Phương, thứ vu Kinh” (Năm 32, đánh Quỷ Phương, đóng quân tại đất Kinh). Ân Vũ Đinh đi đánh nước Quỷ Phương đóng ở đất Kinh, tức là đất Kinh thuộc đất của nhà Thương chứ không phải Cao Tông tấn công đất Kinh.
Nước Quỷ phương là nước Cửu phương, nghĩa là nước nằm về phía Tây lãnh thổ nhà Ân Thương. Cửu là số 9, chỉ hướng Tây của Hà thư. Nước Quỷ Phương như vậy phải là khu vực Tứ Xuyên, ứng với nền văn hóa Tam Tinh Đôi của thời kỳ này (xem bản đồ). Chỉ có vùng Tứ Xuyên với nền văn minh Kim Sa rực rỡ giàu có từ 2.000 năm trước công nguyên mới có thể khiến Cao Tông nhà Ân Thương khổ cực suốt 3 năm trời mà chiếm lấy.
Việc xác định nước Quỷ Phương lãnh thổ ở Tứ Xuyên được củng cố thêm bởi truyền thuyết: Hùng Dịch được phong làm vương nước Sở là dòng dõi vua Xuyên Húc. Xuyên Húc là bố Hoan Đâu, mà Hoan Đâu là tổ người Tam Miêu. Người Tam Miêu là thành phần chính của nhà Thương trên đất Kinh Sở.
Truyền thuyết viết trong dòng họ có một người tên Lục Chung. Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương, vợ Lục Chung có thai mười một (11) tháng rồi giở nách bên tả sinh 3 người con, giở nách bên phải sinh 3 người con! Người thứ 6 tên là Quý Liên họ Mỵ. Quý Liên có một người con tên Dục Hùng. Dục Hùng lấy tên làm họ. Từ đó con cháu đều lấy tên Hùng làm họ. Hùng Dịch vua khai sinh ra nước Sở là cháu chắt Dục Hùng …
Truyện Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương cho thấy nước Sở và Quỷ Phương là 2 vùng khác nhau và nằm cạnh nhau. Vì thế địa phận Kinh Sở không thể là nước Quỷ Phương mà là đất thuộc nhà Ân thời Vũ Đinh. Vùng đất cạnh Kinh Sở chính là Tứ Xuyên. Đây mới là địa bàn của nước Quỷ Phương. Nước Sở như vậy là sự kết hợp giữa 2 dòng người nhà Thương và người Quỷ Phương qua cuộc hôn nhân của Lục Chung.

XÍCH QUỶ NGHĨA LÀ GÌ?

Theo cách giải thích của Tạ Đức, Xích Quỷ là “quỷ mặc áo đỏ”, ứng với thần Xuy Vưu. Suy luận này hơi suy diễn quá vì Xuy Vưu là vị thần của phương Tây, đứng đầu bộ tộc Cửu Lê (Cửu là số 9, chỉ phương Tây). Phương Tây trong Ngũ hành có màu trắng. Xuy Vưu là thần chiến tranh, không hề là Viêm Đế Thần Nông, một vị thần của nông nghiệp.
Xích Quỷ hay Xích quẻ là quẻ Ly (La), chỉ phương Nam. Xích là màu đỏ, màu của phương nóng, phương Nam. Nước Xích Quỷ ra đời vào quãng 4.000 năm trước, tức là ứng với thời gian của nhà Hạ trong Hoa sử. Trong cuốn sách Tạ Đức đã đưa ra khá nhiều dẫn chứng cho thấy nhà Hạ là một triều đại của người Việt, ví dụ như chuyện Hạ Vũ hội chư hầu ở Cối Kê, trên đất Việt. Hay người La có nguồn gốc từ nhà Hạ mà La = Việt… Tạ Đức chỉ dẫn những tư liệu như vậy mà không nói thẳng ra: nhà Hạ là triều đại của người Việt.
Nhà Hạ, vương triều đầu tiên của Hoa sử lại là của người Việt. Vậy thì lịch sử Trung Hoa cổ đại chính là Việt sử vì Hạ là Hoa (Hoa Hạ). Thực ra Hạ (hè) hay Hoa (hỏa) đều là chỉ xứ nóng, tương đương với từ Xích trong Xích Quỷ, có màu đỏ trong tên nước Hồng Bàng. Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương không gì khác là nhà Hạ từ Đại Vũ. Đây là một quốc gia, một thời đại lịch sử của người Việt.
Như vậy nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương hay Hồng Bàng của Lạc Long Quân ở vào thời điểm của nhà Hạ, cách nay khoảng 4.000 năm. Xích Quỷ do vậy không thể là nước Quỷ Phương vào thời nhà Ân, cách nay chỉ 3.00 năm.

THÁNH GIÓNG LÀ AI?

Truyền thuyết Việt chép rất rõ, Thánh Gióng giúp Hùng Vương đánh giặc Ân, chiến thắng rồi bay về trời ở núi Sóc Sơn. Vua Ân tử trận, chết ở Vũ Ninh như trong Truyện Giếng Việt cho biết. Sự kiện này cho thấy trận chiến giữa Thánh Gióng và giặc Ân không phải là trận Ân Cao Tông phạt Quỷ Phương vì phần thắng trong trận đánh sau thuộc về nhà Ân. Người đã buộc vua Ân tử trận phải là… Vũ Vương của nhà Chu. Huyền sử Việt chép thành địa danh Vũ Ninh. Trước khi lên ngôi Chu Vũ Vương có tên là Ninh Vương = Vũ Ninh.
Cái tên Phù Đổng của Thánh Gióng giải nghĩa rất đơn giản: Phù Đổng thiết Phổng. Phù Đổng là 2 ký tự để ký một âm chữ Nôm là Phổng, hay Bổng (phụ âm ph và b đổi lẫn cho nhau). Dẫn chứng về cái tên Bổng rõ ràng là câu trong lời tiếm bình Việt điện u linh của Tiến sĩ đời Lê Cao Huy Diệu: “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. Gọi là Phổng vì Thánh Gióng mới 3 tuổi mà ăn cơm cà của cả làng lớn “phổng” nhanh như thổi. Sau khi thắng giặc Thánh Gióng đã bay “bổng” về trời từ núi Sóc…
Phép phiên thiết đã làm lạc hướng không biết bao nhiêu nhà nghiên cứu. Thánh Gióng được gọi là thần Bổng, không phải là ông Đổng. Thần Đổng ở đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội) mà Tạ Đức đã dẫn là một vị thần khác, với thành tích chính là diệt thủy quái, chứ không phải đánh giặc Ân. Thần phả ở đền Bộ Đầu có tên “Bộ Đầu linh từ sự tích Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh, Thành hoàng nhất vị“. Các sách cũ (theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam của Ngô Đức Thọ) đều cho rằng đền này thờ Huyền Thiên Đại Thánh. Huyền Thiên Trấn Vũ là vị thần trấn phương Bắc nay còn thờ ở Quan Thánh cạnh Hồ Tây. Ông Đổng với thân hình khổng lồ là Huyền Thiên, không phải là Thánh Gióng.
Theo Tạ Đức, Thánh Gióng là thần trống đồng, cũng rất có thể. Tuy nhiên, thời Ân Vũ Đinh thì trống đồng dạng Đông Sơn còn chưa ra đời. Do đó Thánh Gióng phải ở vào một thời kỳ khác, sau đó. Nhìn lên bản đồ các nền văn hóa đồ đồng thì thấy rõ khu vực văn hóa trống đồng chính là phạm vi nước Văn Lang của vua Hùng được chép trong truyền thuyết: Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành. Chính nước Văn Lang với văn hóa trống đồng này là nước đã tiến đánh nhà Ân và diệt vua Trụ.
Tạ Đức có dẫn nhận định của TS. Nguyễn Việt rằng cuộc chiến Thánh Gióng đánh giặc Ân là cuộc chiến giữa người Dạ Lang ở Ba Thục với nhà Ân. Thục là từ chỉ phương Tây, phương mặt trời lặn (thụt). Ba Thục hay Bá Thục nghĩa là đất của Tây Bá hầu Cơ Xương nhà Chu. Cơ Xương là Chu Văn Vương, được huyền sử Việt chép thành Văn Lang. Tương tự, vua Tre (Trúc Vương) mà TS. Nguyễn Việt nói tới chính là vua Thục (Trúc = Thục như trong từ nước Thiên Trúc thiết Thục). Thánh Gióng đã giúp vua Thục hay vua Chu diệt nhà Ân, lập nên nước Văn Lang – Âu Lạc.
Truyền thuyết Trung Hoa còn có chuyện Bá Di, Thúc Tề nước Cô Trúc, không theo Chu Vũ Vương đánh Trụ, bỏ vào núi, không ăn thóc nhà Chu. Nước Cô Trúc đọc thành Cả Thục, tức là nước của vua Thục. Thục và Chu là một, chỉ hướng Tây vì nhà Chu nổi lên từ phương Tây (phương Chiêu = Chu).

Câu chuyện của nước Xích Quỷ mà Tạ Đức đã dẫn như vậy đã gộp 3 thời kỳ lịch sử trong sử Việt vào thành một. Đầu tiên là Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ – Hồng Bang là nhà Hạ ở vùng Nam Giao ven vịnh Bắc Bộ – biển Đông (Động Đình) ngày nay. Nhà Thương thay thế nhà Hạ, tiếp bước tiến lên chinh phục phương Bắc theo gót dời đô của vua Bàn Canh. Toàn bộ khu vực từ Kinh Sở tới vùng An Huy ở Bắc Hoàng Hà đều là đất nhà Ân Thương, với hiện hữu các di vật đồ đồng đặc trưng văn hóa Thương. Cơ Xương mở nước Văn Lang, rồi Cơ Phát (Thục Phán) cùng Thánh Gióng đánh Trụ diệt Ân, lập nên cơ đồ thiên tử thiên thu của nhà Chu ở trên vùng đất trống đồng Đông Sơn. Tam Đại Hạ Thương Chu của Trung Hoa đều là lịch sử Việt. Người Việt không cần phải “thiên di”, mà cần có một cách nhìn rộng hơn về không gian lịch sử nguồn gốc của mình.

Đồ đồng thời Thương Chu ở Việt Nam

Đồ đồng ở Việt Nam thường được nhắc đến là đồ đồng văn hóa Đông Sơn với những chiếc trống đồng “không lẫn đi đâu” được. Ở trung tâm của các vòng tròn trên mặt trống đồng có hình sao nhiều cánh. Nhiều nhà khảo cổ bảo đó là hình ngôi sao. Nhưng ngôi sao gì mà người Việt lại để nó ở ví trí trung tâm như vậy? Chính xác thì đó phải là hình ảnh của mặt trời, nguồn sống của muôn loài. Một chiếc trống đồng mới đây được trưng bày tại triển lãm Mỹ thuật cổ ngoạn 2014 tại Hà Nội cho thấy rõ điều này.

Trong dongMặt trống đồng bày trong triển lãm Cổ ngoạn 2014 ở Hà Nội

Hình ở giữa mặt trống vẽ rõ ràng là mặt trời tròn với những tia sáng nhỏ thẳng xung quanh. Các trống đồng khác vẽ mặt trời cách điệu hơn, với các tia sáng to rộng hơn nhưng không thể mặt trời biến thành ngôi sao được.
Bên cạnh đồ đồng Đông Sơn, ở Việt Nam còn có những hiện vật của một dòng đồ đồng khác. Các nhà khảo cổ quen gọi đó là đồ đồng “Hán – Việt”, ý nói là đồ văn hóa “Hán” nhưng sản xuất tại “Việt”. Có điều những đồ đồng này có niên đại còn trước cả thời Hán nhiều, tức là trước khi nước “Việt” ta bị đô hộ bởi người phương Bắc. Vậy người Việt lấy đâu ra những thứ đồ “Hán” này?

Lich

Một vài ví dụ về những đồ đồng phong cách “Hán Việt” tìm thấy ở Việt Nam. Một chiếc lịch đồng, dạng vật đựng giống như đỉnh 3 chân nhưng nhỏ hơn, được thấy ở Hà Nội. So sánh với đồ đồng Trung Hoa thì thấy ngay chiếc lịch này không khác chiếc lịch Bá Củ thời Tây Chu tìm thấy ở tận Bắc Kinh là bao. Hoa văn hoàn toàn giống. Chỉ khác biệt ở vài chi tiết như phần nắp.

Lich Ba Cu Lịch đồng ở Hà Nội

Lịch Bá Củ có chữ được coi là một trong những bằng chứng về thời Tây Chu ở Bắc Kinh (trích sách Đồ đồng Trung Quốc). Làm thế nào mà chiếc lịch như vậy lại có ở Việt Nam? Nhà Tây Chu nằm ở “Bắc Kinh” hay Việt Nam?

Nghien

Một đồ vật khác là loại nghiễn, đồ đựng nấu thức ăn ba chân với 2 phần trên dưới tách biệt. Chiếc nghiễn tìm thấy ở Giang Tây (Tân Can) có niên đại tới tận thời Thương (cách đây trên 3000 năm) đã là lạ vì đồ đồng Thương lại gặp ở Nam Dương Tử. Nhưng những chiếc nghiễn tương tự lại cũng có ở Việt Nam. Bảo tàng cổ vật Hoàng Long ở Thanh Hóa có sưu tầm một chiếc nghiễn ba chân thời kỳ này. Khác biệt là phần chân nghiễn thay vì các mặt thú “thao thiết” thì chiếc nghiễn ở Thanh Hóa lại thay bằng đầu voi, có ngà có tai đầy đủ.

0Nghien Chiếc nghiễn ở Bảo tàng Hoàng Long

Niên đại xác định trên hình cho chiếc nghiễn này cần lùi lại thêm 1000 năm nữa, tức là vào thời cuối Thương đầu Chu. Cho dù đây là đồ “Hán Việt”, nhưng không có nghĩa là phải đợi tới thời Hán (sau Công nguyên) thì mới có đồ đồng ở Việt Nam.

Giam Tang At HauMuộn hơn, đồ đồng thời Chiến Quốc như chiếc giám của Tăng Ất Hầu tìm thấy ở Hồ Bắc lại có một hiện vật giống y hệt gặp ở Việt Nam. Giám là đồ đựng nước hay đựng rượu lạnh kích thước tương đối lớn, đôi khi có thể dùng để soi gương. Giám Tăng Ất Hầu được trang trí vô cùng cầu kỳ, tinh xảo, thể hiện trình độ đúc đồng rất cao của thời kỳ này.

GiamChiếc giám đồng ở Hà Nội

Trong những đồ vật thời Thương Chu bắt gặp ở Việt Nam thì có thể nói tới bộ sưu tầm của ông Dương Phú Hiến, với chiếc ấm hình con vẹt, ấm vuông hình rồng, bộ chuông đồng … Ông Dương Phú Hiến hơi quá lời khi nói những đồ này có niên đại 5.000 năm tuổi (?!). Nhưng rất có thể chúng cũng trên 2000 năm tuổi rồi.
Tản mát trong dân gian, trong các hàng đồ cũ đôi khi cũng có thể thấy những đồ đồng của văn hóa “Hán Việt” tương tự. Như đôi bình đồng cổ này niên đại hẳn cũng vào thời Tây Chu được bày bán ở Hà Nội.

BinhThực ra chẳng có văn hóa “Hán Việt” nào cả. Đúng thì phải gọi là văn hóa Hoa Việt. Nhà Chu tiếp nối nhà Thương, Tây Chu đóng kinh đô ở Vân Nam, Đông Chu ở Hà Nội ngày nay nên những hiện vật thời Thương Chu có thể tìm thấy rải rác khắp nơi tại khu vực Lào – Việt. Đất của thiên tử Chu thì hiển nhiên phải có đồ vật của văn hóa Trung Hoa thời kỳ này ở đây. Chơi đồ đồng Thương Chu không cần phải sang Trung Quốc làm gì, cứ sang Lào và đến Việt Nam, cái gì cũng có…

Đồ đồng thời Thương Chu ở Lào

Sang Lào để xem cổ vật thời Thương Chu của Trung Hoa, nghe vậy ai cũng bảo là chỉ có mà đồ rởm, đồ nhái từ Tàu mang về. Thật giả khó phân, nhưng cầm sách Đồ đồng thau Trung Quốc (tác giả Lý Tùng, Phó viện trưởng Viện mỹ thuật Viêm Hoàng) sang Lào thì gặp rất nhiều cổ vật được kể trong các bảo tàng của Trung Quốc lại thấy bán ngoài chợ của Lào.

Đồ thời Thương Chu là đỉnh cao của nghệ thuật đồng thau phương Đông. Ở thời kỳ này những đồ đồng đều là những đồ vật thuộc về tầng lớp quí tộc, vua chúa, thể hiện thần quyền và quân quyền nên thường là những đồ to, nặng, tạo hình và hoa văn mang vẻ nghiêm trang, kỳ bí.

Một trong những đồ đồng Thương Chu có thể gặp ở Lào là những chiếc hủy quang đựng rượu. Quang là dạng cốc đựng rượu lớn, có 3 hay 4 chân, được trang trí bằng các hình chim thú. Trong Kinh Thi và những tài liệu cổ đại khác đều có nhắc đến dụng cụ đựng rượu hủy quang này. Những chiếc quang chỉ làm vào thời Thương và Tây Chu. Từ cuối Tây Chu trở đi hủy quang không còn được đúc nữa.
Quang
Điền hình gặp ở Lào là chiếc quang hình chim thú đời nhà Thương. Một chiếc quang giống như thế này được bảo quản ở Bảo tàng mỹ thuật Freer Hòa Kỳ, nhưng ở Lào lại có thể thấy có vài chiếc. Chiếc quang này được trang trí bằng hơn 30 hoa văn lập thể hình động vật. Phần nắp đậy phía trước là hình con quỳ long có sừng cong đang nhe răng. Phần sau lại là một quái thú mõm cá có sừng nhọn. Phần lưng hai bên là cảnh hổ và cá rượt đuổi nhau. Trên lưng là một loài bò sát có chân như thằn lằn nhưng có 2 râu dài tròn như ốc sên.

Trên phần cốc đầu trước là một con chim mỏ nhọn. Phần quai cầm là một con chim khổng lồ đang đứng, có mào lớn rộng, mỏ tù. Hai bên cốc có một loạt những hình động vật kỳ lạ như một con rắn đầu có tai, một con dạng như nòng nọc, nhưng cũng có đầu như đầu hổ, con tôm cong, con ốc. Với những hoa văn động vật lập thể, kỳ dị toàn chiếc quang toát ra một vẻ thần bí, nghiêm trang, có phần dữ tợn.

Trên chiếc quang có đủ các con vật trên trời (chim), dưới đất (thú, bò sát) và dưới nước (cá tôm). Sự có mặt của con người cũng không thiếu. Ở phần chân đế, 2 chân sau là 2 người thân rắn. Người có thân rắn trong truyền thuyết Trung Hoa là Nữ Oa và Phục Hy. Phục Hy và Nữ Oa được coi là những vị thần sáng tạo ra loài người. Hình Nữ Oa và Phục Hy trên chiếc quang như vậy сó lẽ là hình ảnh cổ nhất về hai vị này còn lưu lại được tới ngày nay. Chiếc quang là cả một thế giới sinh vật và con người thu nhỏ rất đầy đủ.

Dạng quang đựng rượu khác gặp ở Lào là hình các động vật bốn chân có sừng. Những loài vật này gần gũi, thực hơn, nhưng cũng không kém phần nghiêm trang, tinh tế. Trước hết phải nói đến chiếc quang hình con tê giác bằng đồng độc đáo. Con tê giác này có phần đầu rất lớn, một sừng to, cong, vươn ra phía trước. Sừng khác nhỏ hơn ở trên trán. Tai tê giác nhọn. Phần sau của nắp quang là hình mặt lợn, mõm rộng, tai cong.
Te giac 3
Con mắt của chú tê giác này to tròn, rất sống động. Cổ vật sau khi cạo phủi lớp đất gỉ bề mặt, lộ ra màu đồng thau óng ánh, như bước ra từ quá khứ 3000 năm trước.

Phần thân chiếc quang tê giác được trang trí bằng những hoa văn nổi. Dài theo thân quang ở mỗi bên là hình một con chim lớn, cách điệu, mỏ tù, đuôi dài, mào cong như con chim phượng trên chiếc quang chim thú ở trên. Phần ngực tê giác hai bên có hình con quì long nhỏ, có sừng, đang há miệng, quay đầu về phía con chim phượng.

Dạng quang hình động vật tương tự ở Lào còn gặp như hình con trâu, đuôi hình chim. Hay ở Thanh Hóa trong Bảo tàng cổ vật Hoàng Long cũng có chiếc quang hình con lợn có sừng tương tự.

Như vậy trên các chiếc quang đồng thời Thương Chu luôn bắt gắp họa tiết trang trí rồng – phượng đi đôi với nhau. Đây chẳng phải là hình ảnh Cha rồng Mẹ tiên trong truyền thuyết người Việt hay sao?

Điều lạ nữa là hình ảnh con tê lại gặp trong các cổ vật thời Thương Chu. Ví dụ như chiếc đôn đựng rượu Tiểu Thẩn Du đời Thương hiện bảo quản tại Bảo tàng nghệ thuật châu Á San Francisco mang hình con tê giác. Loài tê giác được thể hiện là loài tê giác một sừng Java rất rõ, với một sừng lớn ở phía trước và sừng nhỏ phía sau. Loài tê giác này này chỉ có phân bố hạn chế ở vùng phía Nam, không thể nào có ở khu vực Hoàng Hà (xem bản đồ). Vậy tại sao đồ đồng thời Thương lại biết thể hiện hình tê giác?

434px-Javan_Rhino_Range.svg
Bản đồ phân bố Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus) hiện tại và trong quá khứ (theo Foose và Van Strien, 1997)

Như đã nói trong bài trước, con Tê trong sử sách còn gọi là con Tây. Đây là con vật tượng trưng cho phía Tây của Trung Hoa, là thần thú của nước Tề. Nước Tề nằm ở vùng có nhiều Tê giác và Tê tê là khu vực trung và hạ lưu sông Mê Kông. Sông Mê Kông trong Hoa ngữ là Khung giang, hay con sông Khương chảy qua nước Tề, đất phong của Khương Thái Công nhà Chu. Con tê cuối cùng của khu vực này ở Nam Cát Tiên mới bị chết nhưng hình ảnh tê giác trong văn hóa Việt – Lào – Căm pu chia thì không thể xóa được.

Tương tự như Tê giác, con Voi là con vật không hề có trong tự nhiên ở khu vực “Trung Nguyên” quanh Hoàng Hà. Thế nhưng đồ đồng thời Thương lại thể hiện hình voi như chiếc đôn Lễ Lăng, hiện được giữ ở bảo tàng tỉnh Hồ Nam. Những con vật đồ đồng này là những “bằng chứng sống” rằng văn hóa Thương không chỉ nằm ở vùng Hoàng Hà mà ở xa hơn nhiều về phía Nam nơi có hàng triệu con voi (Lào) hàng ngàn con Tê (Căm pu chia).

Năm 1989 ở Đại Dương Châu, huyện Tân Can, tỉnh Giang Tây đã phát hiện một lăng mộ lớn thời Thương với 880 món đồ, trong đó có 480 đồ đồng. Trong số đồ đồng này có cả đỉnh đồng vuông hình hổ cao tới 95cm. Các nhà khoa học Trung Quốc chẳng biết giải thích thế nào về hàng loạt đồ đồng với trình độ đúc điêu luyện xuất hiện ở Nam sông Dương Tử, đành suy đoán đây là khu mộ của một thủ lĩnh nào đó ở miền Nam (!?), có ý cho rằng phương Nam còn đang ở thời kỳ bộ lạc, văn hóa đồ đồng chỉ là chịu ảnh hưởng của nhà Thương…

Sự phong phú và quí giá của đồ đồng tại di chỉ Đại Dương Châu với niên đại Thương sớm, sớm hơn di chỉ ở Trịnh Châu hay An Huy cho thấy đây chính là khu vực đóng đô ban đầu của nhà Thương, trước khi Bàn Canh dời đô lên phía Bắc. Lăng mộ ở Tân Can rất có thể là lăng mộ của Thành Thang (vị vua Thương đầu tiên) hay một vị vua Thương khác trước thời Bàn Canh.

Am chan voi
Những đồ đồng đựng rượu thời Thương Chu ở Lào còn thấy như những chiếc hòa (ấm), đôn, tước … đồng. Như chiếc ấm bốn chân voi sau, có phần thân hai mặt là hình Thao thiết tai hổ, có mõm như mõm lợn. Nắp ấm cũng là hình Thao thiết nhưng miệng rộng như đang cười. Tay cầm của ấm là hình rồng 2 đầu. Trang trí bằng hình Thao thiết (con vật có đầu mà không có thân) là nét đặc trưng của đồ đồng thời Thương.

Phải giải thích thế nào về sự hiện diện của những cổ vật thời Thương Chu ở Lào? Đất Lào chưa hề bao giờ bị Trung Quốc đánh chiếm, sao lại có những cổ vật Trung Hoa từ thời Tam Đại vậy? Liệu có phải là do dòng người di cư từ Trung Quốc sang mang đến hay không? Di cư từ Trung Quốc vào Lào thì chủ yếu là người Thái và người Mông. Nhưng xét kỹ, người Thái di cư sang Lào cỡ khoảng đầu công nguyên dưới thời Tây Hán. Còn người Mông chạy giặc sang Lào thì còn muộn hơn nhiều, dưới thời nhà Thanh sau này. Thời Thương Chu trước thời điểm di cư của người Thái vào Lào cả ngàn năm có lẻ. Người Thái và người Mông thì lấy đâu ra các đồ tế tự của nhà Thương nhà Chu vậy?

Sự có mặt một cách phong phú các cổ vật đồ đồng Thương Chu ở Lào không chỉ cho thấy một trình độ đúc đồng và văn hóa cao ở vùng này vào 2.000 – 3.000 năm trước mà còn chứng tỏ nơi đây chính là một trong những trung tâm của thiên hạ thời Thương Chu. Điều này hoàn toàn ủng hộ sử thuyết Hùng Việt cho rằng đất Lào là nước Lỗ, là vùng đất phong của Chu Công, nằm cạnh đất của thiên tử Chu.

Giếng Việt

Trong Lĩnh Nam chích quái có câu chuyện thần tiên khá kỳ lạ là Truyện Giếng Việt. Truyện mở đầu như sau:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Nhà Ân của Trung Hoa ở tận Hoàng Hà. “Nước ta” ở đâu mà Thánh Gióng lại có thể đánh giặc Ân? Các sử gia đành phải suy đoán, giặc Ân đây là một giặc Ân khác… Nhưng Truyện Giếng Việt viết tiếp:
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…
Ở đây truyện đã tính rất đấy đủ: “… Qua đời Chu tới đời Tần”, rõ ràng coi thời Ân là thời kỳ trước đời Chu của Trung Hoa.
Cũng trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Đổng Thiên Vương cho biết Ân Vương đã chết trong cuộc chiến ở Trâu Sơn. Ít người để ý đến chi tiết này nhưng Truyện Giếng Việt một lần nữa khẳng định: Vua Ân đã bỏ mạng trong trận đánh với Thánh Gióng. Người đã đánh đổ nhà Ân, buộc vua Ân bỏ mạng thì không ai khác phải là Ninh Vương Cơ Phát của nhà Chu. Truyền thuyết Việt chép thành nơi mất của vua Ân là Vũ Ninh. Thánh Gióng đã theo lời hiệu triệu của Ninh Vương diệt Trụ, lập nên cơ nghiệp thiên tử ngàn năm của triều Chu ở chính trên đất Việt.
Bài thơ do Thôi Lượng đề ở miếu Ân Vương:
Cổ nhân truyền đạo thị Ân Vương
Tuần thú đương niên đáo thử phương
Sơn tú thủy lưu không kiến miếu
Tinh thăng tích tại thượng văn hương
Nhất chiêu thắng bại vô Ân đức
Vạn tải linh thanh trấn Việt Thường
Bách tính lòng từ giai phụng sự
Mặc phù quốc tộ vĩnh vô cương.

Xin dịch:
Người xưa kể chuyện thủa Ân Vương
Tuần thú năm nay tới chốn đường
Nước chảy non xanh trơ miếu đó
Hóa thần lưu dấu tại văn hương
Thắng thua một cuộc không Ân đức
Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường
Trăm họ một lòng cùng thờ phụng
Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Thế nào mà vua Ân lại phù hộ cho nước “Việt Thường”? Vua Ân là “giặc” cơ mà? Bởi vì nước Việt Thường cũng chính là nước của nhà Ân Thương. Ân Vương là vua Việt, ở Giếng Việt là vậy.

P1130929 (2)Một chiếc quang hình chim thú thời Thương.

Một điều thu lượm nữa từ Truyện Giếng Việt là Thôi Lượng, “người nước ta”, nhưng lại làm quan cho nhà Tần đến chức “ngự sử đại phu”. Cũng tương tự như chuyện Lý Ông Trọng làm phò mã của nhà Tần, chuyện này cho thấy nhà Tần đã chiếm “nước Nam ta” và trọng dụng những người nước Nam làm những chức vụ quan trọng nhất trong triều Tần. Tần như vậy cũng là một triều đại Việt mà thôi.
Tiếp truyện Giếng Việt đề cập đến sự kiện: Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam (đời An Dương Vương) trú quân ở dưới núi, sai tu sửa lại miếu mạo, nghiêm cẩn khấn thờ.
Hóa ra ngay khi Nhâm Hiêu còn sống, Triệu Đà đã từng sang vùng núi Vũ Ninh ở Bắc Ninh ngày nay. Theo chính sử lúc đó Nhâm Hiêu là quan quận Nam Hải, Triệu Đà đang là huyện lệnh Long Xuyên, sao lại có mặt ở Vũ Ninh là thế nào? Thôi Lượng đã là ngự sử đại phu nhà Tần, sao lúc này lại còn An Dương Vương nào ở đây trên đất Việt?
Nhâm Hiêu theo như truyện này thì đóng ngay tại Vũ Ninh. Đoạn trên chỉ có thể hiểu khi Long Xuyên nơi Nhâm Hiêu làm quan lệnh hoặc quan úy, rồi nối tiếp Triệu Đà đảm nhận chức vụ này chính là vùng Long Biên – Bắc Ninh ngày nay. “Đời An Dương Vương” có Nhâm Hiêu, Triệu Đà lúc này phải là đời Tần. An Dương Vương là một cách gọi khác của nhà Tần khi dẹp yên Dương Việt.
Truyện Giếng Việt kể con Thôi Lượng là Thôi Vỹ đã chữa bệnh bướu cho Nhâm Hiêu và được Nhâm Hiêu trọng dụng. Thôi Vỹ gặp nạn ngã xuống hang sâu, gặp Ân hậu và được khoản đãi. Vừa kíp thì có người báo:
Ngày 13 tháng Giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”.
Sự kiện Nhâm Hiêu bị chết lại được Ân hậu rất quan tâm. Bởi vì sự kiện này đánh dấu sự suy vong của nhà Tần, khởi đầu của một triều đại mới của Trung Hoa. Ngày 13 tháng Giêng có lẽ là ngày mà Nhâm Hiêu đã bị nhân dân đất Bái nổi dậy giết chết để tôn Lưu Bang – Triệu Đà lên làm thủ lĩnh đất Long Xuyên, mở đầu cuộc khởi nghĩa của Bái công Lưu Bang chống Tần.
Ân hậu cho quan dê (Dương quan) đưa Thôi Vỹ về, rồi lại gả tiên nữ, tặng ngọc Long Tụy cho Thôi Vỹ. Viên ngọc Long Tụy này “suốt từ đời Hoàng Đế tới triều Ân vẫn được lưu truyền là vật quí ở đời. Trong cuộc chiến trận ở Trâu Sơn, Ân Vương đeo ngọc đó mà chết, ngọc bị vùi xuống đất mà hào quang của nó vẫn chiếu tỏa tới tận trời. Thời binh hỏa đời Tần, báu ngọc đều cháy hết, người ta xem linh khí mà biết rằng viên ngọc quý Long Tụy vẫn còn ở nước Nam.”
Ân Vương chết ở đất Việt Thường, ngọc báu từ đời Hoàng Đế Trung Hoa ngàn năm sau còn tỏa sáng là minh chứng cho gốc tích của Ân Vương. Một mối liên hệ xuyên suốt qua các triều đại Ân – Chu – Tần tới Nam Việt Triệu Đà được thể hiện trong tuyệt phẩm Truyện Giếng Việt. Tất cả những thời Tam – Tứ đại này đều là của người Việt cả, đều từ cùng một khơi nguồn Giếng Việt mà ra. Thần thánh luôn dõi theo những gì đang diễn ra trên trần thế. Vải thưa không thể che nổi mắt thánh. Những người có tâm đức như Thôi Lượng, Thôi Vỹ sẽ thấy được chân tướng lịch sử và gặp được thần tiên.

Đồ ngọc Lương Chử – tiền thân văn hoá Thương?

Trong khảo cổ học ngoài văn hoá đồ đá, đồ đồng, … người ta thường hay không chú ý tới văn hoá khảo cổ đồ ngọc. Văn hoá đồ ngọc Lương Chử ở Triết Giang rất nên quan tâm vì có thể có liên hệ với Văn Lang (cũng như các khuyên tai ngọc thời Đông Sơn). Ở đây có hình tượng “Ngọc tông” thao thiết vuông tròn theo quan niệm trời tròn đất vuông (trong sự tích bánh chưng, bánh dầy). Văn hoá thờ đồ ngọc sau này còn ghi dấu nhiều trong các tín ngưỡng của đạo Giáo như Ngọc Hoàng, Ngọc Nữ…

Địa điểm khảo cổ Lương Chử gần Hàng Châu – Triết Giang được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp với những hình thao thiết (taotie) độc đáo.

048_030

Một ngọc khí có thao thiết của văn hoá Lương Chử

Hình thao thiết này ở giai đoạn sau trở thành một đặc điểm của đồ đồng nhà Thương và Chu.

800px-Liu_Ding

Thao thiết trên đỉnh đồng đời Thương

Với vai trò quan trọng của ngọc khí ở Lương Chử và đỉnh đồng trong văn hoá Thương (đồ tế tự, đồ dùng của tầng lớp khanh sĩ, vua chúa) thì có thể thấy văn hoá Thương phải bắt đầu từ vùng Nam Dương Tử chứ không phải ở Hoàng Hà. Điều này cũng trùng với cách giải thích sự có mặt của các địa điểm khảo cổ thời Tiền và Trung Thương ở Tân Can, Ngô Thành và Bàn Long Thành ven sông Dương Tử.

Cùng thời với Lương Chử ở hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông có văn hoá Long Sơn, được coi
là một trong những nền văn hoá khởi thủy của Trung Nguyên cùng với Ngưỡng Thiều ở trung lưu Hoàng Hà. Văn hoá Long Sơn còn gọi là văn hoá “gốm đen”, còn Ngưỡng Thiều là văn hoá “gốm đỏ” (gốm vẽ).

neo

Các khu vực hậu kỳ đồ đá mới Trung Quốc: Liangshu – Lương Chử, Lungshan – Long Sơn, Yangshao – Ngưỡng Thiều, Hongshan – Hồng Sơn.

Tuy nhiên khu vực hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông ngay trong giai đoạn đồ đồng tiếp theo lại được xác định là của tộc người Đông Di, với đặc trưng là các mộ đá, và có quan hệ trực tiếp với văn hoá đồ đồng ở bán đảo Triều Tiên (theo phân bố của dao găm đồng Liêu Ninh). Như vậy văn hoá Long Sơn không phải là của người Hoa Hạ. Chính văn hoá Lương Chử mới là tiền thân của nhà Ân Thương ở Hoàng Hà.

Lương Chử có thể coi là giai đoạn tiếp theo của nền văn hoá lúa nước từ Hà Mẫu Độ, rồi Mã Gia Bang ở Nam Dương Tử. Đây rõ ràng là những địa điểm khảo cổ của người Mongon Nam (Bách Việt). Với trình độ ngọc khí cao như vậy (hơn cả Ngưỡng Thiều lẫn Long Sơn) người ta đã nói đến một “vương quốc Lương Chử” dọc theo bờ Nam sông Dương Tử. Nhưng vương quốc này sau đó biến đi đâu, không còn vết tích gì, là câu hỏi khó cho các nhà khảo cổ Trung Quốc.

“Vương quốc Lương Chử” đã không “biến mất” do “lũ cuốn trôi” hay do chiến tranh như quan niệm khảo cổ ngày nay, mà nó đã phát triển thành văn hoá Ân Thương ở giai đoạn đồ đồng tiếp theo và tiến lên phương Bắc theo bước dời đô của Bàn Canh. Chỉ vì không muốn nhìn nhận nhà Thương có nguồn gốc từ Nam Dương Tử nên nền văn hoá Lương Chử mới phải “đột ngột biến mất” như vậy. Và như vậy “vương quốc Lương Chử” không phải gì khác mà chính là nhà Hạ (trung hưng), triều đại trước của nhà Thương.