Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi

Cây có cội, người có tông. Những gì của ngày hôm nay bắt đầu từ ngày hôm qua. Con cháu được no ấm là nhờ phúc đức của tổ tiên. Việc tìm hiểu, nhìn nhận lại cội gốc của mình là việc mà mỗi người không thể không làm.

Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An nổi tiếng bởi đã sản sinh ra 3 thế hệ lãnh tụ của đất nước. Từ Hồ Quí Ly, Hồ Thơm đến Hồ Chí Minh đều là những nhà cải cách, nhà chính trị quân sự kiệt xuất. Tính cách và nhân cách đó còn truyền tới thế hệ con cháu sau này.

Cái gốc của họ Hồ Quỳnh Đôi bắt đầu từ nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Theo Hồ tông thế phả thì vào “thời ngũ đại, triều Hậu Hán (947 – 951) đời Hán Ẩn Đế (948 – 951) Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, dòng dõi nhà nho thuộc dân Bách Việt ở Chiết Giang, nhận chức thái thú Châu Diễn”.

Thông tin trên về nguyên tổ Hồ Hưng Dật có nhiều điều khó hiểu.
–    Hồ Hưng Dật người Chiết Giang (hoặc Phúc Kiến) vào thời Ngũ đại thập quốc. Khu vực này khi đó thuộc đất Ngô Việt, là một quốc gia riêng. Người Ngô Việt thì rõ ràng là dân Bách Việt. Vậy làm sao ông Hồ Hưng Dật có thể đi thi đậu Trạng nguyên nhà Hậu Hán của người Sa Đà được? Nhà Hậu Hán kéo dài chỉ có 4 năm tất cả, gồm 2 đời vua đều ngắn ngủi, lúc đó còn đang mải đánh nhau, ổn định vương vị chưa xong, nói gì đến chuyện tổ chức thi cử qui mô quốc gia, có cả người nước khác đến dự thi.
–    Chuyện lạ thứ hai là Trạng nguyên nhà Hậu Hán sao lại sang nước Nam làm thái thú một châu lớn? Theo chính sử Việt thì nước ta đã dành độc lập từ thời Ngô Vương Quyền năm 938, sao tới tận những năm 950 vẫn có người nhà Hán sang làm thái thú nước ta?

Tiếp đến lại có một số tài liệu chép rằng Hồ Hưng Dật đã giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (khoảng năm 965 – 967). Điều này lại càng khó hiểu vì loạn 12 sứ quân theo sử sách chỉ xảy ra ở miền Bắc, tới Ái Châu (Thanh Hóa) là cùng, làm sao lại vào tới tận Châu Diễn?

Xin đưa ra một giả thuyết khác về nguồn gốc và sự nghiệp của nguyên tổ Hồ Hưng Dật trên cơ sở những nhìn nhận mới đối với giai đoạn lịch sử bản lề này của nước ta.

Chuông cổ Nhật Tảo, quả chuông đồng cổ nhất còn lưu giữ được ở nước ta, có bài minh chép:
Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn, thời Càn Hòa lục niên Mậu Thân tuế, tứ nguyệt, nhị thập cửu nhật (thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ, ngày 29/4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ sáu).
Tìm hiểu trong sử liệu các triều đại Việt Nam thì không hề có niên hiệu Càn Hòa. Niên hiệu Càn Hòa là thuộc về vua nước Nam Hán Lưu Thịnh, đóng đô ở Quảng Châu trong thời Ngũ đại thập quốc ở Trung Quốc. Càn Hòa thứ sáu là năm 948.

Theo thông tin trên thì cùng thời gian Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thì nước ta còn đang thuộc về Nam Hán Lưu Thịnh. Giao Chỉ vẫn còn đang là huyện chứ không phải thủ đô. Như vậy có thể thấy việc Hồ Hưng Dật đỗ Trạng nguyên và làm Thái thú Châu Diễn là xảy ra dưới triều Hán ở Quảng Châu, chứ không phải Hậu Hán Sa Đà.

Nam Hán thành lập từ Lưu Cung, lúc đầu lập quốc gọi là Đại Việt, sau đó mới đổi sang thành Hán. Tên Nam Hán chỉ là cách gọi của các sử gia sau này để phân biệt với Bắc Hán. Tên chính xác của nước này là Đại Hưng, như trong đồng tiền Đại Hưng bình bảo tìm thấy ở nước ta. Đây là quốc gia của người Việt chính cống.

Năm 924 Nam Hán đế ban đầu cải danh thành Trắc (陟). Nhưng chỉ một năm sau, nhân “rồng trắng hiện lên” nên đổi niên hiệu thành Bạch Long và cải danh lại thành Cung (龔).

Chi tiết này khá giống với việc Lý Công Uẩn khi dời đô thấy rồng bay lên. Một số tài liệu chép Lý Công Uẩn người gốc Mân. Rất có thể người gốc Mân ở đây chính là Lưu (Lý) Cung, người lập nước Đại Việt dưới thời Ngũ đại. Vì Lý Cung người gốc Mân nên Hồ Hưng Dật, người Phúc Kiến – Chiết Giang hoàn toàn có thể đi thi ở nước Đại Việt – Đại Hưng.

Nước Đại Việt – Đại Hưng tồn tại từ thời Lưu Cung tới Lưu Sưởng kéo dài 54 năm. Trong thời gian này chắc chắn đã có tổ chức thi cử theo chế độ của nhà Đường trước đó. Một trong những Trạng nguyên của nước Đại Hưng này là Tống Trân huyện Phù Hoa. Vì thế Hồ Hưng Dật, người gốc Mân hoàn toàn có thể là một Trạng nguyên khác của nước Nam Hán – Đại Hưng. Không biết có sự trùng hợp hay không nhưng trang Bào Đột ở Quỳnh Lưu nơi Hồ Hưng Dật lui về lập ấp thuộc giáp cũng tên là Phù Hoa.

Câu chuyện Hồ Hưng Dật dưới thời Càn Hòa đỗ Trạng nguyên nhà Nam Hán (Đại Hưng) và sang làm Thái thú Châu Diễn cho thấy mãi tới năm 950 nước ta vẫn đang thuộc Nam Hán (Đại Hưng). Cuộc chiến dành độc lập của Ngô Quyền như vậy không phải xảy ra năm 938 như sử vẫn chép.

Tới đây thì chuyện Hồ Hưng Dật giúp Đinh Bộ Lĩnh cũng được sáng tỏ. Đinh Bộ Lĩnh nghĩa là Thủ lĩnh của Đinh Bộ hay Tĩnh Hải tiết độ sứ, chính là vị vua Lý đầu tiên – Lý Công Uẩn. Khi triều đình Lưu (Lý) Sưởng ở Quảng Châu suy đồi, ông Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh đã đưa thủ lĩnh phần Tĩnh Hải (phần phía Tây của nước Đại Hưng) là Lý Công Uẩn lên ngôi. Hồ Hưng Dật là Thái thú Châu Diễn, thuộc Đinh Bộ nên việc ông giúp Đinh Bộ Lĩnh – Lý Công Uẩn “dẹp loạn” là hiển nhiên. Họ Hồ hẳn là một công thần lập quốc nên sau đó mới có chuyện một “tuấn kiệt” nhà họ Hồ đã lấy công chúa Lý Nguyệt Đích sinh ra công chúa Hồ Nguyệt Đoan như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại.

Thanh nha Ho
Một góc cổng thành nhà Hồ

Khảo cổ Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa phát hiện một số viên gạch có chữ Giang Tây quân, cho thấy khu vực này đã từng lại một căn cứ quân sự – chính trị từ thời Tĩnh Hải (Giang Tây = Tĩnh Hải), tức là giai đoạn Cao Vương Biền dẹp Nam Chiếu ở Thanh Nghệ tới khi Đại Việt của Lý Thánh Tông ra đời.

Đền thờ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi do Hồ Hán Thương vâng lệnh Thái thượng hoàng Hồ Quí Lý xây cất có câu đối:
Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích
Bào Sảo giang sơn vạn đại từ.

Chữ “Trần Ngu” ở đây có thể không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Đại Ngu). Đền vua Hồ thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ?
Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quí Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thư gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt.

Dịch lại câu đối trên:
Tích nghìn năm Ngu Hồ trải lịch
Đền vạn thế Bào Sảo non sông.

Câu đối khác ở Đền vua Hồ ở Quỳnh Lưu:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.

Cổ 古 nguyệt 月 là chiết tự của họ Hồ 胡 .

Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

Vế trên nói đến dòng máu lãnh tụ của họ Hồ từ Ngu Thuấn, Hồ Quí Ly… Vế dưới nói đến truyền thống thơ văn, lễ nghĩa của dòng tộc có học, có chữ. Con cháu họ Hồ mang trong mình dòng máu của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, khai quốc công thần thời Đinh – Lý nên nhớ 2 vế đối trên ở đền thờ nguyên tổ.

Viết tặng Hồ Vĩnh Phú.

 

Tam phủ công đồng

Tam phủ công đồng là tín ngưỡng phổ biến của người Việt. Điện thờ Tam tòa thánh mẫu có thể gặp ở bất cứ đâu, trong các phủ, các đền, các đình, các chùa… Cùng với tín ngưỡng này là những tục lên đồng, hát chầu văn, đã thành những di sản văn hóa đặc sắc của người Việt. Có thể nói Tam phủ công đồng là Đạo thứ tư của người Việt, sánh cùng Tam giáo Nho Lão Phật. Một tín ngưỡng quan trọng như vậy nhưng tới nay vẫn không rõ nguồn gốc, mọi thứ vẫn còn nằm trong màn sương thần tích thần phả. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ tục tôn thờ nữ thần hay từ “nguyên lý mẹ” người Việt đã nâng tín ngưỡng này lên thành Đạo Mẫu. Nhưng Tam phủ và nhất là Công đồng đâu phải chỉ có các nữ thần thánh mẫu. Nay xin xem xét từng “phủ” trong Tam phủ để tìm về cái gốc của tín ngưỡng này.
Trước hết rõ ràng nhất là Thoải phủ hay Thủy phủ. Người đứng đầu Thủy phủ không ai khác là vua cha Bát Hải Động Đình. Trong bài “Rồng bay biển Bát” đã xác định vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng là Lạc Long Quân ở đất Đào Động – Đào Hoa Trang bên bờ biển Đông.
Vị Mẫu cai quản Thoải phủ là Mẫu Thoải mà theo các thần tích là con vua Động Đình, lấy Kinh Dương Vương hay Kinh Xuyên. Mẫu Thoải là con gái Thần Long Động Đình, trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, tức là mẹ của đức Lạc Long Quân.
Đền Dầm thờ Mẫu Thoải ở thôn Xâm Dương – Ninh Sở (Thường Tín – Hà Nội) chép Mẫu Thoải là “nàng Tiên thứ ba đến chầu Thượng Đế, chẳng may làm vỡ chén ngọc. Thiên triều nghị tội, giáng nàng xuống Thủy cung làm con gái Long Vương. Nàng được gả cho tướng quân Kinh Xuyên…”.
Xâm Dương đổi lại là Dương Xâm, phiên thiết là Dầm. Như vậy tên Xâm Dương chỉ là tên chữ của làng Dầm mà thôi.

Den Dam
Đền Dầm ở Xâm Dương

Đình làng Xâm Dương thờ một vị thần có mỹ hiệu Kiến Quốc Hùng Cơ vào thời Hùng Vương, có công giúp Sơn Tinh đánh Thục. Thần có 4 người con, đều sinh ra từ một bọc trứng. Người con đầu có tên Nhất Vĩnh Đông Hải, người con cuối là Tứ Vĩnh Ninh Giang…
Có thể thấy thần tích đình Xâm Dương cũng giống như thần tích của đền Đồng Bằng hay đền Lảnh Giang, đền Ninh Giang về sự xuất hiện của anh em Vĩnh Công từ một trứng đã giúp vua Hùng đánh Thục. Nhất Vĩnh Đông Hải là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình. Tứ Vĩnh Ninh Giang, Ninh Giang là tên sông Tranh, nơi có đền thờ Quan đệ ngũ tuần Tranh…
Người mẹ của Vĩnh Công trong truyền thuyết đền Đồng Bằng hay đền Lảnh là nàng Quý. Thực ra nàng Quý nghĩa là nàng Ba (trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). “Nàng tiên thứ Ba” chính là Mẫu Thoải, người cai quản phủ Tam (Thủy phủ) như thần tích đền Dầm đã chép. Thôn Xâm Dương có cả đền thờ Mẫu Thoải và thần tích về Vĩnh Công xuất thế, có thể chính là nơi Mẫu Thoải đã sinh ra Lạc Long Quân, vị vua của Động Đình sau này.
Câu đối ở đền Lảnh Giang (Duy Tiên – Hà Nội) nơi thờ Quan lớn đệ Tam:
Tam phủ hiển anh linh do truyền Hồng lĩnh Bắc
Tứ dân triêm huệ trạch viễn chấn Phượng thành Đông.

Dịch:
Tam phủ rõ linh thiêng, còn truyền đất Hồng Bắc
Tứ dân ngấm ân đức, xa vang thành Phượng Đông.

Tam phủ ở đây là Thoải phủ của Quan lớn đệ tam và Mẫu Thoải. Tam hay số Ba (nàng Ba hay nàng Quý) là con số chỉ phương Đông của Hà Thư. Thoải phủ ở phương Đông vì Lạc Long Quân và Mẫu Thoải đều gắn với thủy phủ Bát Hải Động Đình, tức biển Đông.
Hồng Lĩnh Bắc” rõ ràng không phải vùng đất phía Bắc núi Hồng Lĩnh của Nghệ An. Hồng Lĩnh Bắc là đất Đào – Hoa Hạ của Lạc Long Quân mà thôi.
Phượng thành Đông” ở đây chỉ thành Thăng Long. Rất có thể “Phượng thành Đông” là chỉ Đông Đô của dòng tiên phượng Âu Cơ.
Lần tìm tiếp theo thì Nhạc phủ chắc chắn là do Sơn Tinh hay Tản Viên quốc chúa cai quản. Mẫu Thượng Ngàn cũng có liên quan trực tiếp tới Tản Viên. Nếu theo truyền thuyết vùng xứ Đoài thì bà Ma Thị Cao Sơn, mẹ nuôi của ba anh em Nguyễn Tuấn, là Bà chúa thượng ngàn. Ngay cái tên Ma Thị Cao Sơn đã có nghĩa là “Mẹ núi cao”. Bà mẹ nuôi của Tam vị thánh Tản này cũng được thờ là Mẫu Thượng Ngàn ở đền Đợi, nằm gần quần thể đền Đồng Bằng ở Thái Bình.
Theo một số truyền thuyết khác như ở đền Bắc Lệ thì Mẫu Thượng Ngàn là công chúa La Bình, con của Tản Viên Sơn Thánh. Dù là truyền thuyết nào thì rõ ràng Nhạc phủ do dòng Tản Viên Sơn Thánh cai quản.
Nhạc phủ có thể ở phía Nam (xưa) vì núi là quẻ Cấn, chỉ hướng Nam xưa. Tản Viên Sơn Thánh là Kinh Dương Vương, người đã làm vua phương Nam trong truyền thuyết họ Hồng Bàng. Truyền thuyết đền Đồng Bằng cũng bắt đầu với địa danh “trấn Sơn Nam”, thật là đủ cả núi và nom.
Dòng phương Nam của Kinh Dương Vương đã kết hợp với dòng Thần Long Động Đình (Mẫu Thoải) ở phía Đông sinh ra Lạc Long Quân. Rất có thể chuyện Kinh Xuyên bị Thảo Mai dèm pha đuổi Mẫu Thoải ra khỏi nhà ám chỉ một cuộc phân ly nào đó giữa 2 dòng Nam và Đông này của người Việt thủa xưa.
Các vị thần của Thiên phủ khó xác định hơn vì Trời thì ở xa. Xa về thời gian. Thần chủ của Trời thì không ai ngoài Ngọc Hoàng thượng đế. Ngọc Hoàng thượng đế thì như đã biết là Hoàng Đế Hiên Viên của Hoa sử. Ngọc Hoàng không phải là vị thần của Đạo Lão đã chen chân vào tín ngưỡng Tam phủ, mà Ngọc Hoàng là vốn đã là thần chủ chính của Tam phủ.
Ở thôn Bằng Sở (Ninh Sở – Thường Tín – Hà Nội) có là đền thờ đức vua cha, tức Ngọc Hoàng thượng đế.

Ngoc Hoang dai dien

 Hoành phi Ngọc Hoàng đại điện ở Bằng Sở.

Còn vị Mẫu của Thiên phủ là Mẫu Cửu Trùng. Đền thờ Mẫu Cửu Trùng ở ngay cạnh đền Ngọc Hoàng ở Bằng Sở.
Câu đối ở đền Bằng Sở thờ Mẫu Cửu trùng:
Tứ phủ linh thanh, hộ quốc bảo dân thiên hạ mẫu
Cửu trùng trắc giáng, đằng vân giá vũ địa trung tiên.

Dịch:
Tứ phủ linh thiêng, giúp nước cứu dân mẫu nghi thiên hạ
Cửu trùng lên xuống, đi mây về gió vị tiên thế gian.

Mẫu Cửu Trùng (gọi tắt là Mẫu Cửu) cũng là Cửu Thiên Huyền Nữ trong truyền thuyết Trung Hoa, tức là người đã giúp đỡ Hiên Viên Hoàng Đế trong cuộc chiến với Xuy Vưu.
Cửu Thiên cũng giống như Bát Hải, không phải là chín trời tám biển. Cửu là số 9 chỉ hướng Tây trong Hà Thư. Cửu thiên nghĩa  là trời Tây. Cửu Thiên Huyền Nữ là bà Tây Vương Mẫu, vị chúa cai quản các tiên trên trời, vợ của Ngọc Hoàng thượng đế. Trong truyền thuyết Trung Hoa thì Tây Vương Mẫu là tiên chủ vườn Đào ở Diêu Trì. Nay có thể hiểu Tây Vương Mẫu hay Mẫu Cửu là bà Vụ Tiên ở đất Đào tại Giao Trì (Giao Chỉ?).
Bà Vụ Tiên theo Thiên Nam ngữ lục còn có tên là Khương Tiên:

Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.

Khương là tính chất của phương Tây trong Dịch lý. Khương Tiên – Tây Vương Mẫu – Cửu Thiên Huyền Nữ – Mẫu Cửu Trùng rõ ràng là một. Thiên phủ như vậy ở hướng Tây.

Den Mau Cuu

Đền Mẫu Cửu ở Bằng Sở

Còn “công đồng” nghĩa là gì? Công đồng không phải là cùng chung. “Công” ở đây nghĩa là quan, là công. “Công đồng” nghĩa là “tập thể” các quan của Tam phủ. Ban công đồng trong các đền được thờ như một triều đình có vua quan thực sự. Công đồng đọc tắt là “đồng”, trong các từ “lên đồng” hay “chầu đồng”. “Chầu đồng” nghĩa là triều phục các quan chứ không phải là “chầu nhi đồng” (?!) như vẫn giải thích.
Trên nền tảng Dịch học đã cho phép khớp nối các thần chủ trong hệ thống Tam phủ với các nhân vật của thần thoại Trung Hoa và truyền thuyết Việt. Điều này cũng chứng tỏ thêm cội nguồn của Trung Hoa chính là ở Việt Nam. Lịch sử người Hoa Việt thời quốc sơ chính là nguồn gốc làm nên tín ngưỡng Tam phủ dân gian ngày nay.
Truyền thuyết Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái:
Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.
Nay viết lại dưới ngôn ngữ của Tam phủ:
Đế Minh, tức Ngọc Hoàng thượng đế, cháu ba đời Thái Viêm Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên, tức Mẫu Cửu Trùng, rồi trở về, sinh ra Lộc Tục, tức Tản Viên Sơn Thánh. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Ngọc Hoàng thượng đế rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Tản Viên làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở biển Đông, sinh ra Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước, tức vua cha Bát Hải Động Đình, …

Đoạn sử khởi đầu của dân tộc thật đã chép đầy đủ các thần chủ của Tam phủ. Nguồn gốc Tam phủ công đồng nay đã rõ ràng. Lịch sử dân tộc từ xa xưa vẫn còn đang sống trong đức tin của người Việt.

Bốn ngàn năm

Tôi kể chuyện xưa bốn ngàn năm
Biển Đông dậy sóng bước thăng trầm
Cha Rồng xuất thế nơi Đào Động
Tổ quốc từ đây một khúc ngâm.

Nối bước Kinh Dương thủa Lạc Hồng
Rồng bay bể Bát đức Lạc Long
Đồng Bằng gò lớn ghi tang hải
Đào Giang sóng nhớ ngũ tôn ông.

Mây phủ Động Đình biết bao lần
Cha Hùng mẹ Thục cuộc chia phân
Cha về biển lớn khai Hoa Hạ
Mẹ trở sang Tây hóa Chu quân.

Một bọc thần tiên tiếng đồng bào
Trăm trai Bách Việt sáng trời sao
Mười tám vương triều Hùng bất diệt
Tứ phủ công đồng vạn thế cao.

Đôi lời tâm sự

Từ độ ngộ ra chân tướng Hoa là Việt, Việt là Hoa, để bỏ nước người, về nước ta, tự biến mình thành “kẻ sĩ đời nay”, một mình “một chổi”, cố phủi lớp bụi mờ lấp đầy trên lịch sử mấy ngàn năm, tìm về tổ tiên nguồn cội. Lội ngược dòng thật khó, nhất là lại lội một mình. Không ít người bảo dở hơi, đầy kẻ cười rỗi việc. Điều đó cũng không sợ bằng chẳng ai hiểu những gì đã bày ra.
Có nhà nọ có tinh thần học hỏi, chồng đọc kêu đau đầu, vợ thức tới 2 giờ sáng để nghiền ngẫm, nhưng cũng không thấu được bao nhiêu. Trên con đường “đội đá vá trời”, “Ngu công dời núi” này thật vô cùng cô đơn. Thiên mệnh chiếu vào ai thì đành lĩnh mệnh mà làm theo mệnh. Vốn biết mình văn dốt võ dát, chữ tác chữ tộ chưa phân, nhưng cũng cố lần mò trong dân gian, tiếp nối những dòng xưa của Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, dùng cái linh cái quái mà mở đường về với cha ông. Những mong tổ tiên phù hộ, đồng bào đồng cảm đồng tâm.
Đa tạ anh Văn nhân đã đưa đường chỉ lối, dẫn dắt và đánh giá cao những gì đã làm. Được nối bút cùng anh thật lấy làm vinh dự, chỉ sợ tài hèn sức mọn mà việc không nên. Gánh nặng này cùng ghé vai chia sẻ. Một người gánh, gánh không đặng, nhưng nhiều người góp sức chắc chắn sẽ hất được ngọn “ngũ hành giả” đang đè lên hồn Việt.
Những gì là thật thì không thể giả, những gì là giả thì không thể thật. Cái kim trong bọc sớm muộn cũng phải lòi ra. Nòng nọc rồi cũng đứt đuôi thành cóc nhảy lên bờ. Tiên trượng ước thư của Tản Viên Sơn Thánh vẫn linh thiêng từ thủa hồng hoa. Cha Rồng bay biển Bát, Mẹ Âu Cơ hóa Chu quân. Lão Tử xuất Cổ Loa. Tam phủ công đồng vạn thế mãi còn là đạo của người Việt … Những câu chuyện thật chẳng bao giờ dứt, sinh động hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết hay bộ phim nào.
Con người làm nên lịch sử, nhưng có lúc lịch sử làm nên những con người. Những dòng họ Cao, họ Hồ, họ Chu, họ Phan, họ Đỗ … con cháu ngày nay vẫn đang tỏa sáng. Trí giả gặp trí, nhân giả gặp nhân. Tôi mong mình sẽ gặp tri âm tri kỷ. Tự dưng thấy cô đơn mà có đôi lời tâm sự. Thể văn phú tạm dùng, dẫu biết chẳng hay cũng đành múa búa qua cửa nhà Lỗ Ban…

Chu lân chỉ

Trên vùng đất tỉnh Hà Giang hiện nay còn lưu lại 2 hiện vật thời Trần, còn tồn tại qua thời gian tàn phá tứ đại khí và đập bia của giặc Minh. Đó là bia đá chùa Sùng Khánh và chiếc chuông đồng chùa Bình Lâm. Cả hai hiện vật này đều nằm ở huyện Vị Xuyên, cách không xa thành phố Hà Giang.

Chuong
Chuông chùa Bình Lâm

Trích phần dịch bài minh trên chuông chùa Bình Lâm:
Nước Đại Việt, châu Thượng Bà Động ở giáp giới Bắc trường Phú Linh. Vua thứ 5 nhà Trần kế theo các bậc hoàng đế anh minh cao quí lập họ Nguyễn ở Cổ Nhất từng có công làm sáng đức sáng hơn người; vậy báo rõ cho được vâng nhận các mỹ tự: Thọ kiên kiên trinh trinh phúc.
Nay để báo đáp, kẻ nối sau là thủ lĩnh Nguyễn Anh, vợ Nguyễn Thị Ninh cùng các ông già bà cả, thiện nam tín nữ, chứng minh đại sa môn sư chịu gánh việc khó, phát tâm đúc một quả chuông lớn vào giờ Ngọ, ngày Rằm tháng Ba năm Ất Mùi (1295) ở mái hiên Tiểu Thượng Niên, Viện Đại Bi trong thành; để lưu giữ mãi mãi ở chùa Bình Lâm, tiện cho việc cúng đường tam bảo…
Cốt sao làm rõ vết dấu dài lâu. Họ tộc vốn là gót lân nhà Chu, đã được phong lãnh địa ở địa giới phía Bắc, theo đó mà cháu con thừa hưởng đến muôn đời không dứt để nối tiếp mãi với trời đất, vậy nên mới làm bài văn này ghi lại…
Thiền tăng Mật Vân ở Lịch Sơn soạn vào ngày mùng Một, tháng Năm, năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ tư (1296).

(Người dịch: Lại Văn Hùng – Viện Văn học, theo Bảo tàng Hà Giang)

Bài minh trên có một số thông tin đáng chú ý. Minh văn cho biết chuông chùa được đúc bởi sự phát tâm của vị thủ lĩnh họ Nguyễn là Nguyễn Anh, dòng dõi “Cổ Nhất Nguyễn”. Cổ Nhất có thể không phải là tên địa danh như dịch ở trên. Rất có thể “Cổ Nhất” nghĩa là vị “Cả một”, tức là người mở đầu dòng họ Nguyễn, là người có công lớn đã được nhà Trần phong mỹ tự “Thọ kiên kiên trinh trinh”.

Điều lạ nhất trong bài minh về dòng họ Nguyễn này là cụm từ “Chu lân chỉ”, tức là gót lân nhà Chu. Chữ này lấy từ Kinh Thi, Chu Nam, bài Lân chi chỉ. Nghĩa vẫn hay được chú giải là “chân con lân không đạp lên cỏ tưới, không dẫm lên côn trùng còn sống, là loài vật rất hiền lành…”. Có điều, giải thích vậy thì “trán lân” và “sừng lân” (2 bài thi Lân chi đính Lân chi giác trong Chu Nam) nghĩa là gì? Là con lân không húc sừng vào cây cỏ sao?!

Thực ra con lân chẳng hề hiền lành đến mức không dẫm lên côn trùng cây cỏ. Kỳ lân  là loài thần thú được pha trộn giữa hổ (con ly) và … tê giác. Cả hổ và tê giác đều là những con vật của phương Nam chính gốc. Loài tê giác Java một sừng ở Việt Nam vừa mới bị tuyệt chủng cách đâu không lâu. Thời xưa thì đất Việt Nam nổi tiếng là nơi có nhiều sừng tê.

Kỳ lân là thần vật, là biểu tượng của nhà Chu. Điều này chỉ ra nguồn gốc phương Nam của nhà Chu. Chu Nam là phong dao vùng đất của Chu Công, chú của thiên tử Chu, tức cũng là dòng dõi nhà Chu. “Gót lân” (“Lân chỉ”) nghĩa là nói đến dòng dõi đế vương thiên tử.

Hiểu chữ “lân chỉ” trong Kinh Thi thì mới giải nghĩa được đoạn minh văn trên của chuông chùa Bình Lâm. Họ Nguyễn phụ đạo châu Thượng Bà Động, vốn là dòng dõi đế vương (Chu lân chỉ). Không rõ dòng họ này có liên hệ tới tận thiên tử Chu không, nhưng có thể ở đây ám chỉ họ Nguyễn chính là họ Lý đã bị nhà Trần đổi họ và đẩy lên vùng biên giới phía Bắc này. Nguyễn Cổ Nhất có thể là một hoàng tộc nhà Lý đã thay họ, được phong đất ở vùng Hà Giang.

Tên gọi Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến là trên minh văn của quả chuông chùa Sùng Khánh khắc vào thời Lê Dụ Tông (năm 1705). Nhưng một số tài liệu còn nói đến tên Hà Dương. Ví dụ, trong câu đối tại đền Đôi Cô tại Cầu Má – Vị Xuyên:
Hà Dương Bắc Lệ Hòa Bình tam vị chủ
Thiên tiên thần nữ anh linh Đôi Cô từ.

Tên khác của vùng đất này trong lịch sử là châu Vị Xuyên. Rất có thể Giang = Dương = Xuyên, không phải nghĩa là sông, mà là tượng Nước, hay số 1 (Giêng), chỉ hướng Bắc. Hà Giang có nghĩa tương tự như Hà Bắc, vùng đất nằm phía Bắc của sông Lô. Điều này cũng ứng với từ “Bắc giới” được nhắc lại vài lần trong bài minh trên chuông chùa Bình Lâm.

Câu cuối cùng trên bài minh chuông chùa Bình Lâm nói đến “Lịch Sơn Thiền tăng Mật Vân”. Địa danh Lịch Sơn là ở Hà Giang. Đây có phải là nơi vua Thuấn đi cày thời cổ theo truyền tích không? Vùng biên cương phía Bắc này là một phần đất Nam Giao của vua Thuấn xưa.

Văn Nhân góp ý:
Tôi tán thành việc Bách Việt 18 dịch cụm từ “Chu lân chỉ” là “gót lân nhà Chu”.
Con Lân người Việt thường gọi đủ là Kỳ lân nghĩa là lân đất Kỳ. Đất Kỳ nơi có Kỳ sơn là đất gốc tổ nhà Châu thời Thái vương – Cổ công đản phủ dừng chân lập nghiệp. Như thế Chu lân và Kỳ lân là một.

Kỳ sơn thuộc Kỳ châu, Kỳ châu = Cùi chu = Quý  châu ngày nay.
Lân là con thú thần được con người tạo ra dựa trên hình tượng gốc là con Hổ.
Hổ ↔hỏa = lửa↔Ly.

Tứ linh của 4 phương Trung hoa là: long – ly – quy – phụng … không có con lân. Phương tây là Bạch hổ đối với phương đông là Thanh long (không phải rồng xanh hổ trắng).
Vậy Lân ở đâu nhảy ra mà trở thành thú linh thay cho Ly của nhà Châu phía Tây Trung hoa?
Phải chăng lại là thủ thuật ‘chữ nghĩa’, xóa thông tin mang trong bản thân từ ngữ?

Theo phép phiên thiết: Lân tri thiết ly.
Người ta đã thay tên Ly bằng phiên thiết ‘lân tri’. Lâu dần về sau rụng mất chữ tri chỉ còn lại mỗi chữ ‘lân’???
Ở vùng Côn Minh ngày nay người ta vẫn tôn sùng Hổ. Phải chăng đất ấy có liên quan căn cơ với Chu lân – Kỳ lân?

Bách Việt trùng cửu:
Nguyên gốc ba bài thơ trong Chu Nam, Kinh Thi là: Lân chi chỉ, Lân chi đính và Lân chi giác (gót Lân, trán Lân và sừng Lân). Nếu tên con vật này là Lân thì chữ “chi” 之 trong ba bài thơ trên là thừa và thậm chí có khi còn sai về ngữ pháp. Hoàn toàn có thể nói Lân chỉ, Lân đính hay Lân giác như trong quả chuông chùa Bình Lâm (Chu lân chỉ), mà không cần tới chữ “chi”.
Nay với giải thích của anh Văn Nhân thì phải đọc chính xác là”Lân chi” thiết Ly. Tên của 3 bài thơ trong Kinh Thi cần đọc là Ly chỉ, Ly đính và Ly giác. Tên con thần thú của nhà Chu này như vậy gốc là con Ly.

Lão Tử Cổ Loa

IMG_2233

Tôi nghe kể chuyện Cổ Loa Thành
Tam Xuyên động đất buổi giao thanh
U Lệ Chu suy vì luân lý
Lão Tử gom về Đạo Đức Kinh.

Thất Diệu còn đây như thủa nào
Bạch Kê hiển hiện Hạ Thương đâu?
Vũ Đương luyện đá khai Đạo giáo
Huyền Thiên xương hạp chốn thâm sâu.

Như Nguyệt dòng sông tự Kinh Thi
“Tại hà chi sĩ” khắc bia ghi
Mây rồng ngũ sắc lên tiên giới
Thổ Hà lưu dấu thánh một thì.

Trải buổi Lý Đường với nước non
Khai Nguyên đạo quán mất hay còn?
Uy nghi Trấn Vũ Tây Hồ cảnh
Thăng Long nét cũ chẳng hề mòn.

Rồng bay biển Bát

Đạo Mẫu được biết là một tín ngưỡng rất cổ xưa, nay đã thành di sản văn hóa ở Việt Nam. Hệ thống thờ mẫu Tứ phủ phổ biến ở mọi nơi với tục hầu đồng và hát chầu văn khá độc đáo. Tuy nhiên có một câu hỏi rất đơn giản mà khó trả lời đối với tín ngưỡng này: tại sao lại gọi là Đạo Mẫu khi mà trong đó thờ rất nhiều nam thần? Vị thần lớn nhất của Tứ phủ là vua cha Bát Hải Động Đình, người sinh ra một số Mẫu, Quan lớn và các ông Hoàng. Chỉ có 4 mẫu cai quản 4 phủ: Trời Đất Núi Sông, nhưng lại có tới 10 ông Quan lớn và 10 ông Hoàng.
Lần tìm về gốc của Đạo Mẫu và hệ thống Tứ phủ thì không thể không ghé đền Đồng Bằng, nay thuộc xã An Lễ – Quỳnh Phụ – Thái Bình. Nơi đây là đền thờ vua cha Bát Hải Động Đình cùng quần thể một loạt đền thờ các Quan lớn khác ở vùng lân cận. Tóm tắt thần tích đền Đồng Bằng như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thuỵ Anh – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Một lần Quý Nương ra cửa sông tắm, thì có một con Hoàng Long hiện lên quấn chặt lấy người. Một thời gian sau, Quý Nương có thai. Bà trở về quê Hoa  Đào trang sinh sống. Bà mang thai đúng 13 tháng, vào đúng đêm ngày mồng 10 tháng giêng bà sinh ra một cái bọc giữa ánh hào quang phát sáng rực. Quý Nương sợ  hãi, ôm bọc thai thả xuống sông Vĩnh. Cũng đêm ấy có một người cất vó bên sông tên là Nguyễn Minh vớt được cái bọc đó. Ông rạch bọc ra thì thấy có ánh sáng phát chói loà, từ trong bọc chui ra 3 con Hoàng Xà, đầu rồng mình rắn. Con lớn nhất vượt sông lên bờ, chui vào náu thân trong một giếng nước. Đó chính là giếng thiêng trong cấm cung đền Đồng Bằng bây giờ. Còn 2 Hoàng Xà nhỏ, bơi xuôi theo dòng nước chảy dọc sông Vĩnh, một con dạt vào Thanh Do Trang (thuộc Thái Ninh bây giờ), con nhỏ nhất bơi đến tận An Cố trang (Mai Diêm – Thuỵ Anh).
Lại nói vua Hùng ngày ấy đã già, lại không con trai nối dõi. Giặc Thục nhân cơ hội liên kết với Ai Lao, Vạn Tượng, Chiêm Thành đem quân sang tấn công Văn Lang.  Vua Hùng lập đàn cầu Trời được Thanh Y Tiên Ông mách cho về Hoa Đào trang mà triệu, sẽ có dị nhân đánh tan giặc biển.
Vua Hùng sai sứ giả về Hoa Đào trang (tức đất An Lễ bây giờ) để truyền chỉ dụ triệu kỳ nhân dẹp giặc. Sứ giả đến bên giếng xướng truyền sắc chỉ thì thấy Hoàng Xà hiện ra rồi bỗng hoá thành một chàng trai lực lưỡng, tuấn tú hơn người. Ngài  nhận chỉ dụ, nhờ sứ giả báo với Vua Hùng là sẽ triệu 2 em, tuyển 10 tướng, chiêu mộ binh sĩ trong 10 ngày, rồi xuất quân đánh giặc trên cả 8 cửa biển nước Nam, hứa sau 3 ngày là giặc tan. Từ đó, ngài có tên là Vĩnh Công …

Sắc phong đời vua Lý Thánh Tông cho thần là Tam kỳ linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình. Lễ hội đền Đồng Bằng tổ chức hàng năm vào tháng 8 âm lịch hàng năm (Tháng Tám giỗ cha…).
Theo thần tích trên thì Vua cha Bát Hải Động Đình là một nhân thần (nhân vật lịch sử có thật đã được thần thánh hóa) ở thời Hùng Vương, có công dẹp yên giặc Thục. Nhưng tại sao Bát Hải Động Đình lại là người bắt đầu đạo Mẫu ở Việt Nam? Và đã là ở thời Hùng Vương thì Vua cha Bát Hải chẳng nhẽ không phải là vua Hùng?
Câu đối ở đền Sinh, tương truyền là nơi Quý Nương sinh Hoàng Xà:
Đào Giang Động Khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.

Dịch:
Sinh hóa thần tiên truyền vạn thế
Sông Đào cửa Động tích kỳ nghìn.

Chữ Động 洞 trong Động Đình hay Đào Động ở đây không phải chỉ khu vực hay đơn vị hành chính. “Động khẩu” – cửa Động cho thấy đây là tên riêng. Động là tính chất của phương Đông. Động khẩu là cửa biển phía Đông. Động Đình hồ là cái hồ lớn phía Đông hay chính là biển Đông. Vua cha Bát Hải Động Đình không hề ở hồ Động Đình bên Vân Nam, có 8 cửa thông ra biển như kiểu giải thích nguyên nghĩa thông thường. Hồ Vân Mộng ở Vân Nam ở xa biển đi máy bay chẳng tới, nói gì đến có 8 cửa biển.

Tamquan-2Tam quan đền Bát Hải Động Đình

Câu đối ở cổng tam quan đền Đồng Bằng:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Dịch:
Bậc thượng thần bốn nghìn năm đất nước, rồng bay biển Bát truyền tích lạ
Xuất thế gian mười tám hiệu triều Hùng, hổ chầu sông Đào nổi linh thiêng.

Căn cứ vào việc Bát Hải Động Đình đánh Thục giúp Hùng Vương thứ 18 mà các tác giả trước đây cho rằng chuyện này xảy ra vào cuối thời Hùng, cách đây chỉ có 2000 năm. Câu đối trên đọc kỹ cho thấy thông tin hoàn toàn khác. Bát Hải Động Đình đã là thần từ 4000 năm nay và xuất thế vào thời 18 đời Hùng Vương.
Trong câu đối trên Bát Hải là địa danh chứ không phải tên người. “Rồng bay biển Bát” chỉ tích Hoàng Xà xuất hiện ở vùng biển. Đối lại, “hổ chầu sông Đào” chỉ các vị Quan lớn dưới trướng Vĩnh Công. Bát không phải là số 8 (trong 8 cửa biển) mà là con số chỉ phương Đông của Hà Thư. Bát Hải là chỉ biển Đông ngày nay. Bát Hải Động Đình là vua biển Đông.
Truyền thuyết về nguồn gốc Mẫu Thoải, người cai quản Thủy phủ trong đạo Mẫu, cho thông tin về Long vương Động Đình:
– Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở Ðộng Ðình hồ, gặp Kinh Dương Vương đi tuần thú phương nam, hai người kết hôn, sinh ra Lạc Long Quân, thuỷ tổ của tộc Việt.
– Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở hồ Ðộng Ðình, lấy Kinh Xuyên, sau bị vợ hai của Kinh Xuyên là Thảo Mai đố kỵ, vu oan, nên bị chồng nhốt cũi bỏ vào rừng cho thú ăn thịt nhưng Bà được cứu thoát, đới sau kính phục đức độ của Bà, suy tôn là Mẫu Thoải.
Hai truyền thuyết trên chỉ là một vì Xuyên = Giang = Dương. Kinh Xuyên = Kinh Dương Vương.
Mẫu Thoải là người đã kết hôn với Kinh Dương Vương, sinh ra Lạc Long Quân. Tới đây thì thấy rõ Vua cha Bát Hải Động Đình chính là Thần Long Động Đình trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, là ông ngoại của Lạc Long Quân. Câu hỏi về đạo Mẫu được giải đáp. Đạo Mẫu không phải chỉ là đạo thờ các bà mẹ với nguyên lý của thời mẫu hệ, mà là đạo khai mở từ đức Lạc Long ở biển Đông, tôn thờ dòng tộc Động Đình bên ngoại của mình.
Cũng vì thế mà quốc mẫu Âu Cơ không được xếp thành thánh Mẫu nào cả trong hệ thống Tứ phủ vì Âu Cơ là cháu Đế Nghi, Đế Nghi là cha của Lộc Tục – Kinh Dương Vương. Âu Cơ là bên họ nội của Lạc Long Quân.
Câu đối ở cột đá trên đền Hùng – Phú Thọ:
Vân ám Động Đình long đồ giáng
Nguyệt khoa Lĩnh biểu hạc qui lai.

Dịch:
Mây phủ Động Đình Rồng xuất thế
Trăng soi Nghĩa Lĩnh Hạc bay về.

Câu trên mỗi chỗ chép một khác nhưng chắc chắn bắt đầu bằng “Vân ám Động Đình”, là nơi cha Rồng xuất hiện. Trong truyền thuyết Lạc Long Quân luôn gắn liền với quê mẹ ở Động Đình. 50 người con theo cha xuống biển tức là về quê ngoại ở biển Đông. Có thể Vua cha Bát Hải Động Đình cũng chính là Lạc Long Quân, người cha của dân Việt. Điều này giải thích vì sao tín ngưỡng Tứ phủ và vua cha Bát Hải lại được người Việt coi trọng như vậy.
Câu đối ở điện thờ vua cha Bát Hải tại đền Đồng Bằng:
Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch:
Trải triều đại thịnh dày năm xưa, đúng đây hội tục Á Âu, màn uy còn tại tiết thu cửa biển
Dẹp quân Thục công đầu tiếng nổi, đẹp thay Lạc Hồng sông núi, bia đá mãi sáng nơi miếu Động Đào.

Đào Động – Hoa Đào trang là đất của vua cha Bát Hải Động Đình. Cũng ngay gần đền Đồng Bằng, bên huyện Thái Thụy của Thái Bình, trong thần tích đền Bà Chúa thờ Vương Chiêu Quân thời Tây Hán cho biết vùng này xưa được gọi là “Phủ Hạ bát đụn tang”. Chữ “bát” ở đây cũng tương tự như trong Bát Hải, là con số chỉ phương Đông. “Phủ Hạ bát đụn tang” phải hiểu là Gò đất lớn ở phía Đông của nhà Hạ.
Đào – Hoa – Hạ chỉ là một, chỉ vùng đất xứ nóng. Lạc Long Quân ở đất Đào hay Hoa Hạ, thật quá chính xác. Nếu Tản Viên – Kinh Dương Vương là Hạ Vũ trị thủy thì Lạc Long Quân chính là Hạ Khải của Hoa sử. Sau thời kỳ biển tiến, gây cơn đại hồng thủy thời Hạ Vũ, nước biển rút xuống, hình thành “Đồng Bằng” châu thổ sông Hồng (Đào giang). Lạc Long Quân cùng 50 người con tiến xuống chinh phục vùng Đồng Bằng ven biển Động Đình, khai mở nhà Hạ của Hoa sử.
Tới đây ta chợt hiểu bài ca dao:

Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường thức đủ năm canh
Tiết trời thu lảnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bổng bồng bông, bổng bồng bông
Võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.

Nếu lấy 2 câu đầu và cuối:
Gió Động Đình mẹ ru con ngủ…
Võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.

Thì thật rõ ràng đạo Mẫu của Việt Nam bắt đầu từ Động Đình thời Đào – Hoa – Hạ của Lạc Long Quân.
Câu đối ở chính điện đền Đồng Bằng:
Phù dực Hùng triều, Đào lãng ân lưu giang dĩ Bắc
Thái bình Thục lỗ, Động thiên uy chấn hải chi Nam.

Dịch:
Phò giúp triều Hùng, sóng Đào lưu ơn nơi sông Bắc
Dẹp yên giặc Thục, trời Động oai nổi chốn biển Nam.

Động thiên” thêm một lần nữa cho thấy “Động” không phải là từ chỉ đơn vị hành chính mà là tên riêng, chỉ phương Đông.
Vấn đề hóc búa nhất khi giải mã truyền thuyết này: Vĩnh Công Bát Hải Động Đình đã giúp vua Hùng đánh giặc Thục, tuyển mộ các vị quan lớn từ Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan đệ tam,… đều là của thời Hùng đánh Thục. Bát Hải Động Đình đã xác định là thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân cách đây 4000 năm. Vậy làm sao có thể là thời Hùng Vương 18 đánh Thục? Thời Thục An Dương Vương chỉ mới cách đây hơn 2000 năm. Cũng tương tự nhiều thần tích chép Tản Viên Sơn Thánh trị thủy từ thủa hồng hoa lại giúp vua Hùng đánh Thục ở cuối triều Hùng, thật vô cùng kỳ bí.
Chỉ khi nhận ra Tản Viên là Hạ Vũ, Lạc Long Quân là Hạ Khải thì vấn đề trên trở nên sáng tỏ. Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất mà phần thắng thuộc về Hùng vương không phải ở thời Thục Phán An Dương Vương mà là cuộc tranh giành vương vị của Hạ Khải với con cháu của dòng Đế Nghiêu (Đế Nghi) cách đây 4000 năm. Kết quả ông Bá Ích phải dẫn dòng họ Cơ của Hùng Vũ chạy lên đất Kỳ Sơn. Con cháu họ Cơ sau này là Chu Văn Vương – Chu Vũ Vương làm nên cuộc chiến Hùng – Thục thứ hai, với phần thắng thuộc về nhà Chu Thục trước Ân Trụ Vương cách đây 3000 năm.
Mọi việc trở nên thật rõ ràng. Tản Viên Sơn Thánh là Hạ Vũ, tổ của nhà Hạ nên truyền thuyết mới chép thánh Tản giúp vua Hùng đánh Thục. Thực ra người đánh Thục là con của Hạ Vũ, là ông Khải – Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình. Nhưng vì Tản Viên – Hạ Vũ là ông tổ đầu tiên của nhà Hạ nên truyền thuyết vẫn chép vào thành Sơn Tinh đánh Thục.
Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất này còn thể hiện ngay trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng khi Lạc Long Quân và Âu Cơ “thủy hỏa xung khắc”, chia đàn con Bách Việt thành 2 nhánh. Nhánh theo mẹ Âu Cơ lên rừng lập nước Văn Lang, đô ở Phong Châu là nhánh Thục. Nhánh theo cha Lạc Long xuống biển Động Đình, xây dựng Hoa Đào trang.
Lạc Long Quân nhờ sự giúp đỡ của bên ngoại ở Động Đình phía Đông đã làm cuộc “đảo chính”, đánh nhóm dòng tộc phía Tây (Thục), lập nên nhà Hạ. 10 vị Quan lớn của Tứ phủ hẳn là các quan trấn giữ các vùng dưới triều Hạ. Bên ngoại Lạc Long Quân do đó đã được tôn thờ trong Đạo Mẫu. Dấu vết nhà Hạ để lại chính là cả một hệ thống đạo Mẫu cổ xưa với đầy đủ nghi lễ, thứ bậc và chỉ có ở Việt Nam. Đạo Mẫu xuất hiện từ thời Lạc Long Quân, tức là còn có trước Đạo Giáo của Lão Tử hình thành thời Chu Thục sau này. Đạo Mẫu không phải là tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Đạo Giáo như vẫn nghĩ. Tuy nhiên cả 2 đều coi Ngọc Hoàng thượng đế, tức là Hoàng Đế Hiên Viên ở ngôi cao nhất. Đây là 2 tín ngưỡng của nhà Hạ và nhà Chu khác nhau nhưng có chung một nguồn gốc dân tộc từ thời Hùng Vũ (vua Hùng).
Câu đối ở đền Đồng Bằng:
Bát Hải linh từ, đại đế phong thần lưu thiên cổ
Động Đào cố địa, phù Hùng hiển thánh chấn Tam Giang.

Dịch:
Đền linh Bát Hải, đế vương phong thần lưu nghìn thủa
Đất cũ Động Đào, giúp Hùng hóa thánh nổi Tam Giang.

Tam Giang là tên cũ chỉ nước Việt, nơi có 3 con sông Đà Lô Thao gặp nhau ở ngã ba Bạch Hạc.
Thật kỳ lạ, trong truyền thuyết Việt có đầy đủ mọi thứ của Hoa sử, khớp tới từng chi tiết. Nhà Hạ, thời kỳ đầu lịch sử của người Hoa, bắt đầu chính từ vùng Đồng Bằng ven biển Động Đình. Nay năm Nhâm Thìn 2012, cha Rồng lại xuất hiện trên biển Bát. Lịch sử 4000 năm của người Việt sẽ được trả về đúng chủ nhân của nó.
Văn nhân góp ý:
…Đào Động – Hoa Đào trang là đất của vua cha Bát Hải Động Đình… đọc bài viết rồi mới nhận ra … chữ Hoa và chữ Hải đã nằm sẵn trong danh xưng: Hùng Hoa vương – Hải lang.
Bài viết thực quan trọng đối với Sử Thuyết Hùng Việt … xin cảm ơn Bách Việt 18.

Khun Borom

Người Thái ở Việt Nam, người Lào và người Thái Lan đều coi Khun Borom là vị vua đầu tiên của mình. Khun Borom là tên đọc theo tiếng Thái Lan và Lào. Người dân tộc Thái Tây Bắc Việt Nam gọi là Khun Bó Dôm. Dôm cũng là tên của con sông Nậm Rốm (chính xác là Nặm Dôm), chảy qua Điện Biên sang Lào đổ vào sông Mê Kong. Theo truyền tích của người Thái Lào thì Khun Borom đầu tiên đã xây dựng Mường Then thành trung tâm của hoàng gia. Mường Then được ký âm chữ Nho là Mãnh Thiên, thời Nguyễn là trấn Ninh Biên, nay là Điện Biên Phủ.
Borom không phải là tên riêng mà là danh xưng. Bằng chứng là danh xưng này còn được hậu duệ của Khun Borom cai trị vương quốc Ayutthaya sau này sử dụng như: Borom Maratcha hay Borom Trailokanat.
Không rõ Dôm tiếng Thái nghĩa là gì, nhưng rất có thể con sông Dôm chảy qua kinh đô của vương quốc thì gọi là con sông Cả hay sông Cái. Bó Dôm tiếng Thái có thể tương đương với Bố Cái của tiếng Việt, trong đó một từ là ghi âm, một từ dịch nghĩa.

Khun Borom được các sử gia Thái Lào xác định là vua Bì La Các (Piloko), người khởi đầu nước Nam Chiếu vào đầu thế kỷ 8 dưới triều Đường. Bì La (Pilo) thiết Bố. Bì Lô Các cũng là Bố Cái. Như vậy có thể thấy Khun Borom của người Lào Thái chính là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng của Việt Nam, người đã khởi nghĩa chống nhà Đường vào thế kỷ 8:
Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang.

Niên hiệu của Khun Borom – Bố Cái được câu đối trên chép là Thuận Đức, đóng đô tại Phong Thành, lập nước là Nam Bang. Có thể thấy Phong thành đây chính là Mường Then – Điện Biên, nằm ngay cạnh tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào. Nam Bang là nước phía Nam hay Nan Chao (theo tiếng Thái nghĩa là nước của người phương Nam). Nan Chao là Nam Chiếu.
Sách Lịch sử Thái Lan chép (Wyatt, David K.):
Năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Bì La Các cầu Đường trợ giúp đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lãng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lãng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Hề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Nhà Đường phong cho Bì La Các làm Vân Nam Vương, ban danh là Mông Quy Nghĩa. Bì La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Hòa (tức thành cổ Đại Lý ngày nay).
Đoạn trên cho một thông tin: đất Nam Chiếu của Bì La Các ban đầu nằm ở “tây Nhị Hà”, tức là phía Tây sông Hồng ngày nay. Chú dẫn thành “hồ Nhĩ Hải” ở Vân Nam là sai hoàn toàn. Thành Thái Hòa như vậy có thể chính là Mường Then ở Điện Biên, là Đại Lỵ Phủ (Talifu) như trong câu đối, chứ không phải ở Đại Lý – Vân Nam sau này. Tây Nhị Hà cũng là đất của Bố Cái Phùng Hưng chiếm đóng trước khi tấn công Tống Bình.
Theo cuốn Lịch sử Lào của Viravong M.S.  (1964) thì vào năm 50 sau CN (thời Hán Quang Vũ?) người Lào ở Nam Trung Hoa dưới áp lực của người Hán đã chia thành 2 nhóm. Nhóm ở lại gọi là Ai Lao. Nhóm di chuyển xuống phương Nam gọi là Ngai Lao. Thời kỳ tiếp theo nhóm Ngai Lào đã hình thành 6 thành phố mới. Nếu đối chiếu với 6 chiếu của Nam Chiếu thì trùng khớp:
1.    Mong-Sui là Mông Huề
2.    Lang-Kong là Lãng Khung
3.    Theng-Tsieng là Đằng Đạm
4.    Tse-Lang là Thi Lãng
5.    Mong-Tse là Mông Xá.
6.    Ia-Tse còn lại có thể Việt Tích.
Còn theo sử Lào – Thái (Manich, 1967) thì Khun Borom đã cử 7 hoàng tử đi chiếm 7 khu vực khác nhau thuộc đất Lào, Việt Nam, Thái Lan, Burma và Vân Nam. Ngoại trừ khu vực Kammuon trên đất Burma được chiếm vào thời gian muộn hơn, còn 6 khu vực trước đó có thể so trùng khớp với 6 chiếu trên :
1.    Khun Lo chiếm Mường Xoa, nay là Luong Phra Bang. Mường Xoa ứng với chiếu Mông Xá. Khun Lo được coi là tổ tiên của nước Lang Xang (Triệu Voi) sau này.
2.    Khun Khamphong chiếm Chiengsen (Chiềng Sen?), vùng đông bắc Thái Lan, quãng Chiềng Mai. Chieng Sen ứng với chiếu Đằng Đạm.
3.    Khun Chet Chang chiếm Xieng Khouang (Chiềng Khoảng?), là đất Bồn Man hay Bồn Thác, sau này qui về Việt Nam dưới triều Lê. Bồn Thác là chiếu Việt Thác.
4.    Khun In chiếm Lan-Pya sau là vùng Ayutthaya trên đất Thái Lan. Có thể đây là chiếu Lãng Khung (Lang-Kong như ở trên) vì vùng này nằm ở trung lưu sông Mê Kong – Khung giang.
5.    Khun Pha Lan chiếm Mường Teh-Hoh, được xác định là Sipsong Panna ở Vân Nam. Có thể đây là chiếu Thi Lãng.
6.    Khun Chusang chiếm Mường Chulni, được cho là vùng Hứa Phần và một phần Bắc Việt, có thể tương ứng với chiếu Mông Huề (hay Mong Sui ở trên).
Như vậy 6 chiếu khởi đầu của Bì La Các hoàn toàn khớp với vùng đất mà 6 hoàng tử của Khun Borom đã chinh phục. Rõ ràng 6 chiếu này không phải nằm chỉ ở Vân Nam mà là một khu vực rộng lớn từ Tây Bắc Việt, Lào, tới Thái Lan.

oS7CpqZF.HNsjN4DR34N2Q

 6 Chiếu người Thái

Tổng hợp các thông tin có thể tóm tắt lịch sử người Thái tới thời Khun Borom như sau:
–    Người Thái ban đầu nằm trong tộc Mi, là tộc người theo Lạc Long quân tiến lên hướng ”Đông Nam”, là thành phần chính của nhà Hạ ở vùng Quảng Đông Quảng Tây.
–    Thời Chu một phần tộc Mi di chuyển sang hướng Tây về vùng Vân Nam, thành nước Điền vào cuối thời Chiến Quốc.
–    Thời Hiếu Vũ Đế khi Lộ Bác Đức đánh nhà Triệu. Con cháu nhà Triệu chạy xuống phía Tây (Vân Nam – Điện Biên) và Nam về tận cửa Thần Phù như ghi trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Nam Chiếu.
–    Cuối triều Tân của Vương Mãng, tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng cầm đầu quân Xích Mi chống lại quân Lục Lâm của Hán tặc. Xích Mi nghĩa là tộc người Mi ở phương Nam. Tộc Mi là nhóm Tày Thái. Tiếp theo Hán Quang Vũ cử Mã Viện tấn công phương Nam, dẫn đến việc chia tách Ai Lao và Ngai Lao ở trên.
–    Thời Tam Quốc, Gia Cát Vũ Hầu của Thục thu phục Nam Man Mạnh Hoạch (Mạnh = Mãnh = Mường), có thể một phần người Thái đã di cư tiếp xuống phía Nam lúc này. Mạnh Hoạch có lẽ là thủ lĩnh của cả người Thái lẫn người Môn-Khmer (Mường, Xá) ở vùng Tây Bắc.
–    Khi nhà Tấn diệt nhà Thục của Lưu Bị, đất phương Nam của Thục thuộc Mạnh Hoạch bị chia tách, một phần theo về cùng con cháu bên ngoại của Lưu Bị – Khu Liên làm nên nước Lâm Ấp.
–    Khi Lâm Ấp bị nhà Tùy diệt thì tiếp theo Mai Hắc Đế khởi nghĩa chống nhà Đường ở vùng Nghệ An. Mai Hắc Đế là đế của tộc người Mi – Mai, hay người Thái. Khởi nghĩa thất bại, nghĩa quân rút về vùng Bồn Man. Vùng Bồn Man này có lẽ không trùng với vương quốc Bồn Man sau này ở Xiêng Khoảng, mà nằm ở Tây Nghệ An – Thanh Hóa, tức là đất Hứa Phần.
–    Bố Cái Phùng Hưng – Khun Borom nối vận Mai Hoàng và tiền nhân họ Phùng từ châu Đường Lâm (vùng Hứa Phần) đã làm nên Nam Chiếu, vương quốc của người Thái huy hoàng trong lịch sử.
Theo thông tin về Bì La Các thì Phùng Hưng khởi nghĩa ban đầu không phải chống lại triều Đường, trái lại còn được sự ủng hộ của Đường Huyền Tông để thu phục 6 chiếu từ tay người Lawa – Xá, nói chung là người Môn – Khmer hay tộc Cơ của các châu Cơ Mi (Kimi), sống ở vùng này trước đó. Nam Chiếu chống lại triều Đường bắt đầu từ đời con của Bì La Các là Cáp Lỗ Phong hay Khun Lo trong sử Lào.
Tên Khun Lo và Cáp Lỗ Phong cho thấy vùng đất Lào xưa có tên là nước Lỗ. Vào thời trước công nguyên thì đây là khu vực của người nhóm Môn-Khmer, tiền thân người Cămpuchia bây giờ. Vì thế mới có chuyện mộ ông Lỗ Ban, tổ sư nghề mộc của nước Lỗ thời Chiến Quốc lại thấy ở Angkor Wat như được mô tả trong Chân Lạp phong thổ ký. Khổng Tử người nước Lỗ dậy học trò bên sông Thù, sông Tứ, có thể chính là sông Mê Kong vì Tứ là chỉ phương Tây, tương đương với Khung giang.
Một số từ Thái và họ người Thái có thể hiểu như sau:
– Bồn Man là ký âm chữ Nho của từ Bản Mường, nghĩa là đất nước theo tiếng Thái. Ví dụ người Thái nói Mường Lào, Mường Việt nghĩa là nước Lào, nước Việt.
– Tạo (trong tiếng dân tộc Thái) = Thao (trong tiếng Thái Lào), nghĩa là Thiêu, chỉ ngọn lửa, là biểu trưng của người lãnh đạo.
– Họ Lư (Lư Cầm), hay người Lự, họ Lò có lẽ cũng là từ Lỗ hay La mà ra, là quẻ Ly chỉ phương Tây trong Hậu thiên bát quái.
– Họ Cầm có thể từ chuỗi Điểu – Cầm – Chim.
– Điểu còn có thể biến thành Điêu, rồi thành họ Đèo, như Đèo Văn Trí ở Lai Châu thời Pháp còn gọi là Điêu Văn Trí, là con của Đèo Văn Sinh hay Cầm Sinh. Điêu = Cầm.

Tản mạn chuyện xưa

Trải khắp chốn mà xem chuyện cũ
Từ Vĩnh Tường nhớ thủa Tản Viên
Bắc cung đền Thính linh thiêng
Bà đồng cất tiếng cầu tiên độ trì.

Phà Vĩnh Thịnh vượt qua Mông Phụ
Này đền Và nơi chúa Sơn Tinh
Văn quan võ tướng tranh nghênh
Triều đình tứ trụ rõ hình đế vương.

Bạch Phiên Tân con đường thiên cổ
Thẳng như tơ nối ngọn Ba Vì
Gậy ngũ hành lập thần uy
Trấn dòng sông Nhị một khi nước về.

Ghé Hát Môn bên đê ngàn tuổi
Tiếng âm vang từ buổi Trưng Vương
Lời thề chí khí can trường
Sống linh, thác hóa sông Tương nữ thần.

Huyện Hoài Đức tuy gần mà khó
Gặp Lý Bôn Giang Xá linh từ
Vạn Xuân ngẫm chuyện Thục Ngô
Khắc ghi Đinh Triệu đền tô chữ đào.

Dấu thánh tích chẳng bao giờ mất
Trong một thân là phật, là thần
Thổ Hà trang hạ ngũ vân
Hiển hình Thái Thượng Lão Quân nơi này.

Vũ Đương Sơn bao ngày luyện đá
Mặc hình dung thân cả ở cao
Mây bay Huyền quán năm nào
Uy nghi Trấn Vũ đường vào Thăng Long.

Về Kinh Bắc Kinh Dương thủy tổ
Chốn Viêm Giao Bàn Cổ xa xưa
Vi vu thân trúc gió đưa
Lặng nghe chuyện cũ nắng mưa bao chầy.

Chuông chùa vọng mang đầy tiếng cổ
Ghé Luy Lâu tưởng nhớ Sĩ Vương
Giữa khi loạn lạc tứ phương
Nho khai mở lối, tạo đường dân Nam.

Cảnh Dục Tú mà quan ngư thủy
Cõi Đường Ngu thịnh trị hay không
Văn minh Thù Tứ lưu dòng
Quy về tiên tổ bên sông Vị Hoàng.

Bầu trời rộng rõ ràng Bích Hán
Phất đăng tiên Dạ Trạch một đêm
Sóng xô bờ cát Tự Nhiên
Chuyện xưa công chúa kết duyên Chử Đổng.

Bên sông rộng Hàm Rồng vết cũ
Gạch Giang Tây này của Cao Vương
Vẻ vang Tĩnh Hải Lý Đường
Thành kia ai đắp, bóng dương chưa tà.

Xuôi dòng nước Phù Hoa ghé tới
Đất An Đô chẳng đợi lâu đâu
Lừng danh lưỡng quốc Trạng Gầu
Lưu truyền tiết nghĩa thâm sâu gia đình.

Trong dân gian muôn hình vạn vẻ
Những chuyện xưa như kể chuyện nay
Lang thang khắp chốn quê này
Đôi dòng ghi lại sự hay nước nhà.

Nước Lào cũng giống nước ta

Tới thăm bảo tàng lịch sử Lào ở Viên Chăn, khi bước những bước đầu tiên vào gian thời kỳ cổ sử không khỏi giật mình vì… các hiện vật ở đây quá giống Việt Nam. Cũng những chiếc trồng đồng đủ các loại hình như chiếc trống Heger loại I tìm thấy ở Savannakhet, to chẳng kém gì trống đồng Ngọc Lũ. Hình thù trên trống cũng là cảnh thuyền, cảnh người đội lông chim, cảnh cá sấu,… không khác gì những chiếc trống điển hình của văn hóa Đông Sơn.

TrongHegerI

Trống Heger loại I ở Bảo tàng lịch sử quốc gia Lào

Ở Lào tới giờ ra ngoài chợ trung tâm vẫn có thể mua được trống đồng cổ. Tuy không phải là đồ cổ từ thời Đông Sơn, nhưng cũng không phải là thứ trống đồng mới đúc vàng chóe như ở Việt Nam ngày nay. Có trống có cả hình đàn trâu, giống như cảnh trâu cò trên trống đồng Kim Động của Hưng Yên.

Văn hóa cồng chiêng cũng khá phổ biến ở Lào cho tới giờ. Cồng chiêng cổ vài trăm năm ở Lào còn dễ mua được hơn ở xứ Mường Việt Nam. Tại thủ đô Viên Chăn cồng đã được dùng làm biểu tượng của hòa bình và đoàn kết hữu nghị.

Trautrentrongdong

Trống đồng bày bán ở chợ sáng Mali, Viên Chăn

TrautrentrongKimDong

Hình trâu trên trống đồng Kim Động ở Bảo tàng Hưng Yên

Cảnh những cây cột đá dựng đứng từ vùng cánh đồng Chum của Lào cũng chẳng khác gì khu mộ cổ Đồng Thếnh của Hòa Bình. Cũng như người Mường ở Hòa Bình, người chết càng có quyền thế thì bên cạnh mộ càng dựng nhiều cột đá, đá to. Các cột đá ở đây như một dạng bia mộ hay đài tưởng niệm người đã mất.

Trong một dự án khảo cổ tiền sử ở Nam Lào đã phát hiện hình vẽ cổ trên đá. Dạng nham họa này tương tự như hình vẽ tìm thấy ở khu Vân Long – Ninh Bình. Độ tuổi của những hình vẽ này được ước đoán cỡ thời kỳ Hai Bà Trưng khởi nghĩa (đầu Công nguyên).

Hinhtrenda

Hình vẽ trên đá ở Nam Lào

Nhamhoa
Nham họa trên vách đá ở Vân Long – Ninh Bình

Khó có thể nói trống đồng, cồng chiêng, nham họa, cột đá mộ táng là những thứ mà đất Lào đã “nhập khẩu” từ Việt Nam. Rõ ràng đó đều là những vết tích của một nền văn hóa bản địa. Nền văn hóa cổ này của Lào tương đồng với những gì tìm thấy ở Bắc Việt Nam. Phải nói Việt và Lào từng cùng chung một nền văn hóa, cùng một dân tộc từ thời đồ đồng.

Người bản địa trên đất Lào trước khi người Tày-Thái di cư đến là nhóm người nói tiếng Môn – Khmer. Các tài liệu chép là người Lava, hay Lawa, Lwa. Có thể người Khơ mú (Khamu, Kha), sắc tộc “thiểu số” lớn nhất ở Bắc Lào, là một nhánh còn lại chưa bị lai với người Thái của nhóm Lawa cổ.

– Lawa=Lwa=La hay Lào
– Tên quốc gia vùng Luông Phra Bang thời Lê được gọi là Lão Qua, phiên thiết có Lão Qua = La.
– Rất có thể tên tiểu vương quốc Lan Na một thời ở Bắc Thái Lan, cũng là tên phiên thiết: Lan Na = La. Giải thích Lan = triệu, Na = nương lúa, không thích hợp vì Na chính xác phải là Ruộng lúa nước, chứ không phải nương lúa trên đồi núi. Tiểu vương quốc Lan Na ở Bắc Thái Lan thì lại chủ yếu có lúa nương chứ không có nhiều lúa nước như vùng thấp.

Có thể thấy tên các quốc gia từng xuất hiện ở vùng này đều xoay quanh chữ La. La hay Ly chỉ phương Tây trong Hậu thiên bát quái. Phương Tây là phương của lý trí, đối lại với phương Đông là phương của tình cảm.

Bản thân tên nước Lan Xang do vua Fà Ngừm lập nên sau khi thống nhất Lào ở thế kỷ 14 không hẳn chỉ nghĩa là Triệu Voi. Có thể:
– Lan = Lang, chỉ vua trong tiếng Việt. Triệu = Chiêu = Chúa, cũng có nghĩa như vậy.
– Xang = Tượng = Tịnh, là tính chất tĩnh của phương Tây.
Lang Xang hay Triệu Voi có nghĩa là đất nước của chúa phương Tây.

Theo sử Lào, năm 1478, một viên tướng của vua Lan Xang bắt được một con voi trắng và dâng lên vua. Được tin, vua Đại Việt sai sứ sang xin lông voi trắng. Chao Chienglaw, thái tử Lan Xang, luôn ghét Đại Việt vì lý do này khác, liền thay vì tặng lông voi, lại sai nhét phân voi vào một chiếc rương và gửi cho vua Đại Việt. Vua Đại Việt nổi giận cất binh đánh Lan Xang…

Đại Việt “xin lông voi”, không phải vì Đại Việt không có voi. Thái tử Lan Xang phản ứng với việc xin lông voi này mạnh như thế bởi vì voi hay Tượng là hình ảnh của chính là nước Lan Xang. Đại Việt xin lông voi nghĩa là Đại Việt có ý thôn tính nước Triệu Voi này.

Trong tiếng Lào từ Chao là chỉ vua. Các vua Lào được sử Việt chép thành ra họ Chiêu hết. Như vậy nước Nan Chao chính xác phải là Nam Chiêu với nghĩa là vua phương Nam, chứ không phải Nam Chiếu với nghĩa là “chiếu” (vùng đất) phía Nam như sử Tàu vẫn chép.

Theo cuốn Lịch sử Lào của M.L. Manich thì: vua Piloko của Nan Chao lên ngôi năm 729. Vua Piloko gọi theo người Lào là Khun Borom, một vị vua nổi tiếng đã:
–    Cử con trai là Khun Lo (Kolofeng hay Cáp Lỗ Phong) đi chiếm Luong Phra Bang từ tay người Kha (Khơ mú), lập nên thành phố này, gọi tên là Swa. Khun Lo về sau tiếp tục ngôi vị của Nam Chao ở Luong Phra Bang.
–    Cử một con trai khác chiếm Chiengsen từ tay người Lawa (Khmer), lập nên thành phố Chiengsen, nay ở Bắc Thái Lan.
–    Dựng nên Mường Then, sau là Điện Biên Phủ ở Tây Bắc Việt Nam.
–    Cử hoàng tử Chet Chuang đi cai quản Xiêm Khoảng, sau thành nước Bồn Man.
Đoạn sử Lào trên tương tự như Hoa sử viết về giai đoạn hình thành nước Nam Chiếu, nhưng khác ở định vị 6 “chiếu” quanh hồ Nhĩ hải ở Vân Nam: Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá. Chiếu Mông Xá là đất lập quốc của Nam Chiếu lại trùng tên với Mường Xoa (Swa) là cố đô Luông Phra Bang của Lào, nơi Cáp Lỗ Phong trị vì Nam Chiếu. Chiếu Lãng Khung có thể là phiên âm của… Lan Xang, là đất Chiengsen hay La Na ở Bắc Thái Lan.

Theo sử Việt, đất Bồn Man (Lào gọi là Muang Phuan) đã xin nội thuộc Đại Việt dưới triều Hoàng đế Lê Nhân Tông, được vua Nhân Tông nhập vào Đại Việt thành châu Quy Hợp thuộc xứ Nghệ An và cử quan quân sang, nhưng vẫn cho họ Lư Cầm đời đời làm Phụ đạo.

Cái tên Quy Hợp cho thấy … thực ra Bồn Man vốn là một phần của Việt, dưới triều Lê lại quay về hợp nhất lại với Đại Việt mà thôi. Lĩnh Nam chích quái cho biết Bồn Man là nơi nghĩa quân của Mai Thúc Loan rút về sau khi khởi nghĩa thất bại dưới thời nhà Đường.

Tù trưởng họ Cầm ở Quy Hợp không biết có phải là một mắt xích trong chuỗi Điểu – Cầm – Chim không? Điểu là tộc người ở Vân Nam – Quảng Tây. Chim hay Chăm ở miền Nam Trung Bộ. Cầm ở đây là người vùng Bồn Man – Đường Lâm.

Những mảnh hiện vật và thông tin lịch sử của Lào thật ăn khớp với lịch sử và văn hóa của Việt Nam. Việt – Lào là hai dân tộc anh em, cùng gốc từ thời xưa. Không nhìn nhận điều này thì nước Lào ngày nay tự cắt đi gốc gác của mình, làm cho quốc gia cổ có từ thời trống đồng Đông Sơn mà nay chỉ có chưa được 600 năm lịch sử …

Văn nhân góp ý:
Theo tôi là Phong Hưng chứ không phải Phùng Hưng. Sử Việt thì Phong châu đã có từ thời Hùng vương lập quốc.
Sử Trung hoa thì Phong chính là đất ban đầu lập quốc của nhà Chu, qua thời Ninh vương hay Chu vũ vương mới dời qua đất Cảo hay Kiểu.
Trên nền địa lí hiện tại còn dấu tích là tỉnh Phongsalỳ của Lào. Xa lỳ hay xa lý là tên 1 tộc người.
Hưng còn dấu vết là xứ Hưng hóa tức các tỉnh tây bắc Việt như Lào cai yên bái Sơn la .v.v.
Lào Cai là Mường – Lễ mà nước Nam Chiếu lúc cực thịnh xưng là Mông – Mường sau là Lễ – Lỗ.
Những chứng tích này hoàn toàn phù hợp với điều bạn nói, bạn có thể bỏ công đào sâu hơn nữa vì Nam Chiếu là giai đoạn lịch sử rất vinh quang của người Việt- Lào- Ai lao – Âu.