Viết tiếp về Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi

Tóm tắt lại những phát hiện lịch sử mới về thời mở đầu độc lập của nước Đại Việt, cũng là thời gian nguyên tổ họ Hồ – Hồ Hưng Dật sang làm thái thú ở Châu Diễn:
– Năm 907 Lưu Ẩn tiếp nối sự nghiệp của cha là Lưu Khiêm nhận chức Tĩnh Hải Thanh Hải tiết độ sứ, được nhà Lương phong là Nam Hải Vương. Lưu Ẩn chính là Trung chủ Khúc Thừa Hạo. Khúc Thừa Hạo theo sử sách chép cũng nhận chức Tĩnh Hải tiết độ sứ thay cha Khúc Thừa Dụ vào năm 907.
– Năm 917 Lưu Cung, tiếp nghiệp anh Lưu Ẩn, xưng đế ở Phiên Ngung, lập nước Đại Việt. Lưu Cung là Hậu chủ Khúc Thừa Mỹ, người cũng thay anh Khúc Thừa Hạo nhận chức Tĩnh Hải tiết độ sứ năm 917. Lưu Cung, chính xác phải là Lý Cung, là người Việt ở đất Hồng Châu, đã lập nên nước Đại Việt đầu tiên trong lịch sử.
– Nước Đại Việt từ khi Lưu Cung thành lập ở Quảng Đông, sau này đổi thành Đại Hưng, bị sử Tàu chép thành Đại Hán hay Nam Hán, tồn tại tới Lưu Sưởng (958 – 971) thì bị nhà Tống chiếm. Trong các văn thư của nhà Tống với các triều Đinh Lê việc này được gọi là “thống nhất Lĩnh Nam”.
– Nhưng Lĩnh Nam chưa “thống nhất”. Khoảng năm 968, trước khi triều đình Lưu Sưởng hàng Tống, thủ lĩnh phần Tĩnh Hải quân là Đinh Bộ Lĩnh, con của thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, lập một chính quyền riêng ở Hoa Lư. Chức thứ sử (không phải thái thú) của Đinh Công Trứ cho thấy ông ta không phải nắm quyền một châu nhỏ mà là cả vùng đất phía Tây (Đinh Bộ) của nước Đại Hưng. Đinh Bộ Lĩnh chính là Lý Thái Tổ, người khởi đầu nhà Lý ở nước ta.
– Năm 980 Lê Hoàn hay vua Lê, thay Đinh Bộ Lĩnh – Lý Công Uẩn lên ngôi. Lê Hoàn là vị vua Lý thứ hai Lý Thái Tông, ẩn họ Lê. Hai vị vua Lý đầu tiên hay hai nhà Đinh Lê đóng đô ở Hoa Lư.
– Năm 1010 vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông vứt hết tước phong của nhà Tống, chính thức lấy lại họ Lý của Đại Hưng Lý Cung, công khai đặt tên nước là Đại Việt, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, truy phong cho cha và ông mình là Thái Tổ và Thái Tông. Triều Lý bát đế thực sự bắt đầu từ đây.

Hồ Nguyên Trừng người Phúc Kiến – Chiết Giang, đỗ trạng nguyên dưới thời Hán, không phải là Bắc Hán mà là Nam Hán, hay là nước Đại Hưng của họ Lý. Là trạng nguyên của nước Đại Hưng nên Hồ Nguyên Trừng đã được giao một trọng trách, làm quan thái thú Châu Diễn, điều này hoàn toàn hợp lý.

Căn cứ việc Hồ Nguyên Trừng sau đó có tham gia vào thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh thì có thể đoán định Hồ Nguyên Trừng đỗ trạng nguyên dưới triều vua Đại Hưng cuối cùng là Lưu Sưởng, tức là khoảng những năm 960.

Theo Hồ Tông thế phả thì không rõ vì lý do gì thái thú Hồ Nguyên Trừng lại chán ngán cảnh quan trường, từ quan, về lập hương ở Bào Đột, nay là Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An. Mặc dù đã từ quan nhưng “uy tín và thế lực của ông ngày càng mở rộng ra các hương chung quanh, được nhân dân quý trọng và tôn làm trại chủ”.

Lý do Hồ Nguyên Trừng từ quan có thể là do sự thối nát của chính quyền Lưu Sưởng, mà việc mất nước vào tay nhà Tống đã được nhìn thấy trước.

Tiếp theo vào thời Đinh Bộ Lĩnh nổi lên có Hào trưởng trong châu đến gặp ông Hồ Hưng Dật thăm dò ý kiến: “Trong châu Diễn ta, tôi nhận thấy tôn ông được mọi người kính yêu và mến phục, sao dịp này tôn ông không đứng ra cứu dân giúp đời một phen?”
Hồ Hưng Dật chân thành nói rõ chính kiến của mình “Người xưa có câu: Một tướng thành công hàng vạn xương cốt người khác phải khô héo. Kinh thư còn ghi: Lửa bốc cháy núi Côn Cương, ngọc đá đều bị đốt cháy hết cả. Tôi luôn luôn nhận rõ dân là gốc của mọi thời đại. Vạn đại vi dân, đó là điều tôi mong muốn dặn lại con cháu”.

“Chính kiến” của Hồ Hưng Dật xem ra … không hiểu thế nào: theo hay chống Đinh Bộ Lĩnh? Phả tộc khác nhau chép cũng không rõ, Hồ Hưng Dật có theo Đinh Bộ Lĩnh hay không. Có lẽ Hồ Hưng Dật đã không theo nhưng cũng không chống, không cùng Đinh Bộ Lĩnh lập triều đình mới, nhưng cũng không tự làm một “sứ quân”, mà ở riêng một vùng Châu Diễn, không động tới ai để tránh “ngọc đá đều bị đốt cháy”. Nhưng sự việc xảy ra tiếp theo lại không như mong muốn, “đá” không cháy nhưng “ngọc” thì có lẽ là có.

Xem lại lịch sử thời Lý Thái Tổ (nay đã biết chính là Đinh Bộ Lĩnh) thì có chuyện năm thứ 3 sau khi lên ngôi Lý Thái Tổ đã thân chinh đi dẹp loạn ở Châu Diễn (Đại Việt sử ký toàn thư):
Khi về đến Vũng Biện gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”. Khấn xong, gió sấm đều yên lặng.

Chuyện đánh dẹp này cũng chẳng thấy ghi rõ được thua thế nào. Thay vào đó vua Lý lại có vẻ phải hối lỗi, vì đã “giết oan kẻ trung hiếu, hại lầm kẻ hiền lương”, khiến trời đất nổi giận. “Kẻ trung hiếu, hiền lương” ở Diễn Châu khi đó còn ai khác ngoài trạng nguyên thái thú Hồ Hưng Dật? Vào thời điểm đó thế lực mạnh nhất ở Diễn Châu có thể chống lại triều đình còn ai ngoài nhà họ Hồ?

Vũng Biện nơi Đinh Bộ Lĩnh – Lý Thái Tổ gặp bão nằm ngay cạnh làng Quỳnh Đôi, là biên giới phía Bắc của Châu Diễn, giáp Châu Ái (Thanh Hóa).
Cua ConBãi biển ở cửa Cờn – Quỳnh Lưu. Phía Bắc là Biện Sơn. Phía Nam là Quỳnh Bảng
Đại Nam quốc sử diễn ca cũng nói tới chuyện Lý Thái Tổ đánh dẹp châu Ái và châu Diễn:
Cử Long sấm dậy binh uy
Diễn Châu gió động tinh kỳ thân chinh
Biện loan gặp lúc hối minh
Hương nguyền cảm cách, sóng kình cũng êm.

Cử Long là đất Man ở Thanh Hóa (Cẩm Thủy), nổi loạn từ đời Tiền Lê, Lê Hoàn cũng từng thân chinh đi dẹp mà không xong.
Biện loan là vũng Biện, gần Quỳnh Đôi.

Có thể thấy khi Lý Thái Tổ nổi lên lập triều đình ở Đinh Bộ Tĩnh Hải quân thì vùng Thanh Nghệ đã tỏ ra không phục tùng. Khi kiến quốc Đinh Bộ Lĩnh – Lý Thái Tổ đã không dễ dàng gì để có thể thu phục được lòng dân những vùng này.

Câu đối ở đền thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.

Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

Vế đối đầu nói về dòng dõi Ngu Thuấn của họ Hồ đã bàn trong bài trước. Vế đối sau có địa danh “Bảng Sơn”, là “địa thắng” của họ Hồ nhưng ngay chính người họ Hồ ngày nay cũng chưa xác định được núi Bảng này nằm ở đâu.

“Bảng Sơn” hay Vũng Bảng là vùng biển Quỳnh Bảng, nằm giáp với đảo Biện Sơn. Tên gọi khác của Biện Sơn ở Thanh Hóa là Bạng Sơn. Điều này cho thấy Bạng Sơn hay Bảng Sơn là một, chỉ là Thanh Hóa và Nghệ An gọi lệch giọng mà thôi. Hòn đảo Biện Sơn, nơi Lý Thái Tổ phải dừng thuyền khi đánh Diễn Châu, chính là núi Bảng – thắng địa của dòng họ Hồ Quỳnh Đôi.
Quynh Doi 2Bản đồ khu vực Quỳnh Đôi – Biện Sơn
Sự lưỡng lự trong phát biểu của Hồ Hưng Dật đối với sự nổi lên của Đinh Bộ Lĩnh cũng như sự tạ lỗi với trời biển của Lý Thái Tổ tại Bảng Sơn – Biện Sơn sau khi đánh Diễn Châu cho thấy 2 sự kiện này có liên quan trực tiếp tới nhau. Có thể Hồ Hưng Dật chính là người “trung hiếu hiền lương” đã bị Lý Thái Tổ đánh dẹp trong cuộc chinh phạt Diễn Châu năm thứ 3 sau khi lên ngôi. Không rõ diễn biến cụ thể ra sao nhưng sau đó họ Hồ ở Châu Diễn đã thần phục nhà Lý và được hậu đãi với việc một Tuấn kiệt họ Hồ lấy công chúa Lý Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Kết cục không rõ “thắng bại” trong cuộc chinh phạt châu Diễn của Lý Thái Tổ phần nào cho thấy vùng này đã được thuần phục nhiều hơn là bị đánh dẹp hoàn toàn. Việc gả công chúa cho hào trưởng vùng biên viễn thường để thắt chặt thâm tình với triều đình trung ương. Điều này cho thấy họ Hồ dưới triều Lý vẫn nắm vai trò quan trọng ở châu Diễn. Tiếc là tộc phả họ Hồ bị thất truyền 11 đời, gần 300 năm nên không có thông tin cụ thể gì về con cháu Hồ Hưng Dật dưới triều Lý.

Sự qui thuận của vùng Châu Diễn, mà chắc chắn con cháu thái thú Hồ Hưng Dật đóng vai trò chủ đạo, có vai trò khá quan trọng đối với nhà Lý vì nó giúp ổn định biên cương phía Nam Đại Việt trong buổi đầu lập quốc. Châu Diễn là nơi tiếp giáp với người … Hồ hay người Hời. Chiến tranh Đại Việt – Chiêm Thành trong giai đoạn tiếp theo luôn là vấn đề nhức nhối của triều Lý, cho thấy tầm quan trọng của vùng đất Hoan Diễn trong sử Đại Việt.

Không rõ việc Hồ Quý Ly lấy lại họ Hồ liệu có ý muốn nói mình là nguồn gốc từ vùng người Hời không. Câu thơ của danh thần Nguyễn Trãi ở Thần Phù có vẻ muốn ám chỉ điều này (Quá Thần Phù hải khẩu):
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch:
Giang sơn còn đó, đâu anh kiệt
Trời đất vô tình, biến đổi qua
Hồ – Việt một nhà nay lại thấy
Từ đây bốn bể lặng kình ba.

Họ Hồ ở Quỳnh Đôi là đất người Hời, cũng không quá lạ. Ngay Lê Thái Tổ (Lê Lợi) ở Thanh Hóa còn sinh ra ở làng Chăm. “Hồ Việt một nhà”, “Hồ Việt một thuyền” là mong ước bao đời của hai dân tộc anh em, đôi cành chung gốc, nay đã thành hiện thực từ dưới triều Nguyễn.

Theo Lãn Miên (Diễn đàn Lý học phương Đông):
“Câu “Dài mãi ra đến Biển” các cụ nhà nho ám chỉ “mạch nước ngầm” vì mạch nước ngầm thì cuối cùng nó cũng “Dài mãi ra đến Biển”, các cụ đã lướt “Dài mãi ra đến Biển”= “Dài…Biển” = Diễn 衍, đúng QT Thanh điệu: Dài+Biển=Diễn = 1+1=0 ( đúng như toán học nhị phân) và chỉ viết bằng một chữ Diễn 衍 gồm bộ Hành 行 là Đi có kẹp bộ Thủy 氵ở giữa, biểu ý là “nước nó đi”, nước đi thì cuối cùng cũng ra đến biển, chữ Diễn 衍 chẳng có tá âm “iên” nào mà lại đọc là Diễn, vậy nó chính là do lướt “Dài mãi ra đến Biển” = “Dài…Biển” = Diễn 衍. Chữ Diễn 衍 này còn mang nghĩa là “lấn biển”, trong khi một chữ Diễn khác thì không mang ý đó. Đó là cái địa danh Diễn Châu 衍 州. Về sau người ta viết chỉ chú cái âm “Diễn” nên cũng có văn bản viết Diễn Châu 演 州 bằng chữ Diễn 演 là biểu diễn, sai hết cả biểu ý “lấn biển” của một vùng đất từng một thời “Dài mãi ra đến Biển”, nên trong vùng đồng bằng của nó nhiều nơi cách bờ biển ngày nay mấy chục cây số vẫn là “đất sò”, cứ đào lên là thấy từng lớp từng lớp dày vỏ nghêu sò ốc hến vỡ vụn, dùng đúc gạch không nung rất tốt gọi là gạch sò.”

Họ Chu Việt Nam

Người Việt có truyền thống coi trọng tính cộng đồng nên họ của người Việt luôn luôn đứng ở vị trí thứ nhất trong họ tên. Trong khi đó người Âu Mỹ coi trọng cá thể nên tên đứng trước họ đứng sau.
Trong Bách gia tính thì họ Chu là một trong những họ phổ biến nhất tại Trung Quốc. Còn gia phả các dòng tộc họ Chu ở Việt Nam thì đều chỉ chép đến các vị tổ từ thời Lý Trần đổ lại. Truy nguyên nguồn gốc tộc tính họ Chu ở Việt Nam nay có thể làm được khi so sánh các phát hiện lịch sử mới với cổ sử Trung Hoa.
Về nguồn gốc của họ Chu Trung Hoa, sử sách có ghi lại như sau:
Họ Chu nguyên là họ Cơ của nhà Chu, vương triều cai trị Trung Hoa 874 năm. Khi Tần Trang Tương Vương chiếm Lạc Ấp diệt Chu năm 256; vương tử Cơ Tống (dòng dõi của Chu Bình Vương) mới dẫn con cháu rời khỏi Lạc Ấp và đổi sang họ Chu.
Sau này con cháu của Chu Noãn Vương di cư xuống phía nam, cũng đổi họ của mình thành Chu để nhớ về tổ tiên. Một nhánh nhỏ của họ Cơ tại nước Lỗ cũng di cư xuống phía Nam, sau này là tổ tiên của Chu Nguyên Chương, Thái tổ nhà Minh. Nhánh họ Chu này là dòng dõi của Chu Công Cơ Đán – người có công ổn định nhà Chu.
Như vậy họ Chu có một số dòng nhánh khác nhau, nhưng đều là xuất phát của họ Cơ của thiên tử Chu, đều là Chu lân chỉ, Chu lân giác, Chu lân đính cả. Muốn hiểu được ngọn nguồn của dòng họ này phải hiểu được nguồn gốc nhà Chu và định vị được vương triều này trong cổ sử.
Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng.
Dịch là:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang
Kiểu ngoài Bách Man về Cổ Lũy
Quốc Tây chống cự tráng Chân Đăng.
Châu Chân Đăng thời Trần sau đổi thành phủ Lâm Thao, nay là huyện Lâm Thao – Phú Thọ. Phú Thọ chính là lộ Tam Giang, nơi ba con sông lớn Đà, Lô, Thao gặp nhau. Phạm Sư Mạnh đã đi tuần ở vùng Phú Thọ nên mới làm bài thơ bắt đầu cảm hứng về vùng đất tổ linh thiêng này của Chu thiên tử: Trời khai đất mở lộ Tam Giang
Trong bài trước đã bàn việc Âu Cơ – Chu Văn Vương lập nước Văn Lang – Âu Lạc, đô đóng ở lộ Tam Giang, vùng hợp lưu ba con sông Đà, Lô, Thao tại Phong Châu – Vĩnh Phú. Tiếp đó Vũ Ninh – Chu Vũ Vương cùng Thánh Gióng diệt Ân Trụ, phân phong chư hầu Bách Việt rồi dời đô về Cảo Kinh (Kiểu Kinh). Tới thời Chu Bình Vương lại dời đô từ Kiểu Kinh quay về Lạc Ấp – Đông Đô, mở đầu thời kỳ Đông Chu trong lịch sử.
Lạc Ấp hay Đại ấp Lạc… Việt, chính là vùng Cổ Loa, còn gọi là Đông Đô, tên cũ của Hà Nội vẫn được ghi nhận tới nay. Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy là “hoàn” về Cổ Loa. Đây cũng là vùng mà cổ sử gọi là Tam Xuyên – Tam Giang, nơi cơn địa chấn lúc giao thời Đông và Tây Chu đã làm nên truyền thuyết Lão Tử – Huyền Thiên giúp An Dương Vương diệt Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Cuối thời Đông Chu, cháu của Tần Chiêu Tương Vương là Doanh Tử Sở tấn công diệt nhà Đông Chu. Đây là lúc “Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng” trong câu thơ trên. Tần Chiêu Tương Vương mới chính là … Triệu Đà người Chân Định – Chân Đăng, cha của Trọng Thủy – Doanh Tử Sở, người đã ở rể nhà Chu – An Dương Vương tại Cổ Loa Thành.
Khi Lạc Ấp – Cổ Lũy mất về tay nhà Tần, vương tử nhà Chu là Cơ Tống đã đổi họ sang họ Chu để tưởng nhớ tiên tổ của mình. Rất có thể những người Việt mang họ Chu ở vùng miền Bắc Việt ngày nay giáp Cổ Loa (Mê Linh, Sóc Sơn, Bắc Ninh,…) là thuộc về nhánh Chu Bình Vương từ Lạc Ấp này.
Rất có thể vì mối lương duyên Mỵ Châu – Trọng Thủy hay giữa Doanh Tử Sở và con gái vua Chu mà Tần Trang Tương Vương khi diệt Chu đã rất “nhẹ tay” với con cháu hoàng tộc Chu. Con cháu nhà Chu chỉ đổi họ từ họ Cơ sang họ Chu, mà hầu như vẫn được sống ở nguyên tại chỗ. Họ Chu vì vậy vẫn tồn tại quanh vùng Cổ Loa xưa. Tương tự khi nhà Trần đoạt ngôi nhà Lý, hoàng tộc nhà Lý chỉ bị đổi sang họ Nguyễn chứ không bị tận diệt.
Nhánh thứ hai của họ Chu là con cháu Chu Noãn Vương di cư về phía Nam. Chu Noãn Vương Cơ Duyên là vị vua cuối cùng của nhà Chu khi bị Tần đánh diệt. Sau khi “cự trấn tráng Chân Đăng”, Chu Noãn Vương đã chạy về vùng … Nghệ An và lên thuyền đi ra biển … Mộ Dạ ở Diễn Châu – Nghệ An còn ghi lại truyền tích An Dương Vương chém Mỵ Châu rồi cầm sừng văn tê bảy tấc theo thần Kim Qui ra biển Đông… Đền Cuông ở Mộ Dạ là thờ Chu Noãn Vương vậy.
Nhánh thứ ba của họ Chu là con cháu Chu Công Đán, nước Lỗ, di cư xuống phía Nam. Chu Công Đán hay Chu Công là em của Chu Vũ Vương, người đã xây dựng Lạc Ấp – thành Cổ Loa. Chu Công là chúa nước Lỗ nên có tên Việt là Cao Lỗ. Cạnh Mộ Dạ hiện còn nhà thờ họ Cao ở Nho Lâm – Diễn Thọ, lấy Cao Lỗ là Tiền đại viễn tổ. Nước Lỗ hay Lão chính là nước Lào, giáp Nghệ An ngày nay.
Như vậy có thể những người họ Chu ở vùng Thanh Nghệ ngày nay là dòng nhánh của Chu Noãn Vương hay Chu Công, sau khi Loa Thành thất thủ đã theo thiên tử Chu di cư chạy xuống phía Nam.
Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương là con cháu nhánh họ Chu từ Chu Công. Như vậy nước Ngô do Chu Nguyên Chương ban đầu lập nên là một quốc gia người Hoa Việt. Chỉ khi Yên Vương Chu Đệ soán ngôi, dời kinh đô về Bắc Kinh thì triều Minh mới đổi lại dòng “máu trắng”, thành một nước do người Mông – Hán làm chủ. Chu Đệ Minh Thành Tổ tấn công nhà Hồ của nước Đại Ngu, bắt Hồ Quí Ly và Hồ Hán Thương ở Thiên Cầm – Hà Tĩnh, rồi tiến hành cuộc tàn phá qui mô, xóa sạch các vết tích về nguồn gốc Bách Việt của Trung Hoa ở nước ta. Đến đài Trang Vương ở tận Hương Sơn – Hà Tĩnh, chứng tích của vương triều Chu (Chu Trang Vương) ở Việt Nam cũng bị đập tan tành, chỉ còn trơ nền tới giờ.
Cuốc chiến Chu – Tần cách đây trên 2000 năm quả là đã quá lâu và bị màu thời gian cùng bàn tay ai đó bóp nặn đến nỗi các dòng tộc chân truyền của nhà Chu ở Việt Nam ngày nay không còn biết mình từ đâu mà ra. May thay, trời xanh có mắt. Họ Chu nay lại có thể nối nguồn với tiên tổ từ đất tổ sông Cả (sông Cơ) núi Hồng, với Đông Đô – Hà Nội.

 

Chuyện Sĩ Nhiếp – Lâm Ấp

Tôi nghe kể chuyện sáu trăm năm
Sĩ Vương trung nghĩa sáng trăng rằm
Khoan dung để lại phù Lâm Ấp
Một gốc đôi cành mối Việt Chăm.

Những năm bi tráng với bi hài
Thảo khấu Lục Lâm đánh Xích Mai
Giao Châu giữ ải còn Nhâm Tích
Bốn mươi thu ấy thật là dài.

Hào hùng tiếng trống nữ Trưng Vương
Tiếp Lạc khai Đinh phá mở đường
Khu Liên cờ nghĩa xua quân Hán
Nam ấp bừng lên nổi xứ Mường.

Anh hùng lại tiếp anh hùng đây
Mãnh Hoàng riêng một mảnh trời Tây
Mặt ngựa giặc tràn nơi Ngô Thục
Nam Hà kiên dũng đất Chiêm này.

Kể từ Kẻ Sĩ nhiếp Luy Lâu
Tới buổi Cao Tùy sự biến mau
Xá lị nhập tháp, lòng hướng Phật
Lý phục, Phạm lùi, nối trước sau.

Nước Nam kìa hỡi, nước Nam ơi!
Đau xót ngàn năm với đất trời
Hồ Việt một nhà nay dẫu thấy
Nỗi lòng phục sử bao giờ nguôi?

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Có một vùng đất nặng phù sa cổ tích là vùng cửa Thần Phù, nằm giáp giữa Ninh Bình, Thanh Hóa và Nam Định.
Chuyện về thần Áp Lãng Chân Nhân ở Thần Phù được Hồ Nguyên Trừng ghi lại trong sách Nam ông mộng lục, tóm tắt như sau:
Đời Tống Nhân Tông, nhà Lý nước An Nam đem binh thuyền đi đánh Chiêm Thành. Tới cửa Thần Đầu thì bỗng có sóng gió nổi lên liên tục mấy ngày liền, không sao qua được. Hoàng Đế phải nhờ một Đạo Sĩ ở trong núi gần đó giúp yên sóng. Ngày trở về Hoàng Đế liền phong cho đạo sĩ hiệu là Áp Lãng Chân Nhân.
Chân Nhân người họ La, còn tên thì chưa rõ, chỉ gọi theo đạo hiệu là Áp Lãng Chân Nhân. Trong số các con cháu của Chân Nhân, có La Tu đỗ Tiến Sĩ, làm quan thời Trần Nghệ Vương, được phong tới chức Thẩm Hình Viện Sứ.
Nam Ông mộng lục
của Hồ Nguyên Trừng là tài liệu sớm nhất ghi về Áp Lãng Chân Nhân, xác định vị đạo sĩ này xuất hiện vào thời Tống Nhân Tông, nhà Lý nước ta. Tống Nhân Tông trị vì từ năm 1022 đến năm 1063. So với sử Việt thì trong thời gian này chỉ có một lần vua Lý đi đánh Chiêm Thành là năm 1044 Lý Thái Tông ngự giá thân chinh, chiếm được quốc đô Phật Thệ của Chiêm Thành, chém Sạ Đẩu. Còn trận Lý Thánh Tông bắt vua Chiêm Thành là Chế Củ xảy ra năm 1069, không còn là thời Tống Nhân Tông nữa.

Den Nhan Pham
Ban thờ Áp Lãng Chân Nhân  ở đền Nhân Phẩm, Yên Mô, Ninh Bình

Câu đối ở chính điện Thần Phủ hải môn từ ở thôn Nhân Phẩm – Yên Mô – Ninh Bình:
Diên lĩnh quan binh, tiên Đinh Hoàng chính thống
Càn môn tức lãng, đang Hồng Đức tam niên.
Dịch:
Núi Diều xem quân, trước thời Đinh Hoàng chính thống
Cửa Càn yên sóng, vào năm Hồng Đức thứ ba.
Càn môn
hay cửa Càn Phù là cửa sông Càn đổ ra biển, cũng là cửa Thần Phù.
Diên lĩnh là núi Cánh Diều, nay ở thành phố Ninh Bình. Thần Áp Lãng như vậy đã xem quân của vua Đinh “duyệt binh” ở Hoa Lư, trước khi vua Đinh lên ngôi chính thống (?).
Thật là không biết vị Áp Lãng Chân Nhân này cuối cùng xuất hiện ban đầu vào thời nào: Lý, Tiền Lê hay thời Đinh? Thần tích đền Nhân Phẩm thôi thì cho hết thành thời “Hùng Vương”. Hùng Vương là lúc nào mà vua Hùng có thể cưỡi thuyền đánh phương Nam được?
Những câu chuyện thời Đinh – Tiền Lê – Hậu Lý ở vùng Hoa Lư – Ninh Bình cứ lẫn lộn vào nhau, cùng một chuyện mà lúc chép vào người này, lúc chép vào người kia. Quanh khu vực Thần Phù có rất nhiều đền thờ vua Lê Đại Hành phối thờ cùng Lý Thái Tông vì … công nghiệp 2 vị này như nhau. Lê Đại Hành – Lý Thái Tông là người đã cho xây dựng hệ thống phòng thủ ở khu vực cửa Thần Phù. Thành Thiên Phúc của Lê Đại Hành được cho là ở vùng núi Yên Thắng – Ninh Bình này. Có thể vì thế mà Lê Đại Hành đã tôn thờ một vị thủy thần ở đây làm Áp Lãng Chân Nhân để phù hộ cho công trình phòng thủ biển của kinh đô.
Lý Thái Tông chắc cũng còn đang đóng đô ở Hoa Lư. Nếu triều Lý đã về Thăng Long từ đời Lý Công Uẩn thì Lý Thái Tông đã không quan tâm đến công trình phòng thủ cho Hoa Lư này nhiều như vậy.
Tiền Đinh Hoàng chính thống” trong câu đối trên như vậy phải hiểu là vào thời trước khi Đinh Hoàng (hay Đinh Triệu, Đinh Lý) tuyên bố triều đại chính thức trên đất Tĩnh Hải, tức là thời kỳ 2 vị vua Lý đầu tiên ẩn họ Lê. Như vậy mọi thông tin về Áp Lãng Chân Nhân sẽ khớp hoàn toàn với nhau. Đây là vị đạo sĩ ở triều Lê Đại Hành – Lý Thái Tông đã cầu đảo giúp yên sóng cho đoàn thuyền đi bình Chiêm của vị vua Lê – Lý này qua cửa Thần Phù.
Cửa Thần Phù là vị trí chiến lược quan trọng vì là cửa sông đổ ra biển, thuyền bè miền Bắc có thể để tiến xuống phía Nam, là ranh giới tự nhiên giữa Nam và Bắc do dãy núi đá vôi chạy từ Hòa Bình xuống Ninh Bình rồi đâm ra biển. Trên đường bộ thì quan ải là đèo Ba Dội (Tam Điệp), còn đường thủy thì chính là Cửa Thần Phù. Cũng vì thế mà thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly để chống quân Minh đã sai lấy đá lấp ngã thông từ sông Hổ (hạ lưu của sông Vân Sàng – TP Ninh Bình ngày nay) sang đến cửa biển Thần Phù. Nhà Hồ đóng đô ở Tây Đô (Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa) nên cửa Thần Phù là hải khẩu trọng yếu chặn thuyền giặc tiến xuống kinh thành.
Danh thần Nguyễn Trãi khi đi qua đây đã có bài Quá Thần Phủ hải khẩu, nói tới việc này:
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch:
Giang sơn còn đó, đâu anh kiệt
Trời đất vô tình, biến đổi qua
Hồ – Việt một nhà nay lại thấy
Từ đây bốn bể lặng kình ba.

Anh hùng thệ” rõ ràng là chỉ chuyện Hồ Quí Ly lấy đá ngăn sông. Bài thơ nói, lịch sử từ nhà Hồ tới thời Hậu Lê đã thay đổi. Nước nhà đã thống nhất, Hồ Việt một nhà. Hồ Việt một nhà tức là Nam Bắc một nhà, Tây Đô – Đông Đô thống nhất. Người Hồ hay người Hời (người Chăm) lại cùng một nhà với người Việt ở miền Bắc. Bởi vì Lê Thái Tổ là người Chăm (người Hồ) nên cuộc kháng chiến của Lê Lợi từ vùng Lam Sơn – Thanh Hóa, giải phóng Thanh Nghệ rồi Đông Đô, đúng là đã thống nhất Hồ Việt một nhà như Nguyễn Trãi viết.
Bài thơ của Trần Minh Tông ngự chế về Bạch Đằng Giang có câu:
Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.

Phần lớn các dịch giả đều cho rằng “song khai nhãn” là nói tới 2 lần nhà Trần đánh quân Nguyên; còn “Hồ Việt” là chỉ Đại Việt và nhà Nguyên. Tuy nhiên có thể hiểu khác chính xác hơn. Hai lần “mở mắt” ở sông Bạch Đằng là 2 “bài học” cho kẻ thù phương Bắc. Lần thứ nhất dưới thời Lê Đại Hành phá Tống. Lần thứ hai là triều Trần đánh quân Nguyên. Thế mới là
tính chuyện “kim cổ” – trước nay. Còn lần đầu tiên, trận thắng của Ngô Vương Quyền thì không kể tới (vì trận đó đâu có ở sông Bạch Đằng này). Nhà Trần và nhà Nguyên, 2 bên vừa đánh nhau trối chết 2-3 bận, thì không thể viết là Nguyên Trần (Hồ Việt) “cùng” dựa lan can (“nhất ỷ lan”) được. Tương tự như trong bài Quá Thần Phù hải khẩu của Nguyễn Trãi, không thể nói nhà Hậu Lê và nhà Minh, 2 nước vừa giao tranh lại là “Hồ Việt một nhà” được. Hồ là người Hời. Người Hời hay người Chăm đã cùng phối hợp với nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Vì thế mới có thể nói là “Hồ Việt cùng dựa lan can” ngắm sông được.
Hiểu lại như vậy thì 2 câu trên rất rõ ý. Câu thứ nhất nói về kẻ thù phương Bắc 2 lần thất bại trên sông Bạch Đằng. Câu thứ hai nói tới sự đoàn kết thành công của người Chăm và người Việt trong cuộc kháng chiến.
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan” rõ ràng là nói người Hồ và người Việt dù lúc thắng hay lúc bại cũng vẫn cùng một thuyền (nhất ỷ lan).
Dịch lại 2 câu thơ trên:
Núi sông sau trước hai bài học
Hời Việt được thua cùng một thuyền.

Hồ và Việt đã từ lâu cùng “một nhà”, “một thuyền”. Nay sự kiện Đại Việt và Chiêm Thành thống nhất dưới thời Nguyễn cũng cần nhìn lại, đây cũng là “Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ” mà thôi, không phải ai thôn tính xâm chiếm ai cả.
Lê Hồng Đức (Lê Thánh Tông) đi đánh Chiêm Thành qua cửa Thần Phù cũng đã viết thơ, có câu:
Hồ Vương uổng tải điền hà thạch,
La Viện khinh thừa áp lãng chu.

Dịch:
Hồ Quí Ly hoài đá chắn sông
Tiên La Viện lướt thuyền yên sóng.

Dinh Phu Sa
Đình Phù Sa, Yên Mô, Ninh Bình

Núi Thần Phù, nơi còn chữ Thần của Lê Thánh Tông khắc trên vách đá, ngày nay nằm cách biển khoảng 10km. Ngược dòng thời gian xa nữa thì từ thời Tiền Lý có chuyện Triệu Việt Vương bại trận, cùng đường tới cửa Đại Nha (Đại Ác). Đại Nha nay là nơi có chùa Độc Bộ, thuộc Ý Yên – Nam Định, trên sông Đáy. Khu vực tổng Thần Phù xưa cũng có nhiều nơi thờ Triệu Việt Vương. Như đình làng Phù Sa (Yên Mô – Ninh Bình) có câu đối:
Phi lai độc mộc Lương vô địa
Tập khứ đâu mâu Lý hữu thiên.

Dịch:
Thuyền độc mộc tới lui, quân Lương sạch đất
Mũ đâu mâu đánh tráo, họ Lý lên ngôi.

Triệu Việt Vương ở đầm Dạ Trạch dùng thuyền độc mộc nhỏ mà đuổi quân Lương. Rồi Lý Phật Tử đánh Triệu Việt Vương không thắng, giảng hòa, phân đất Đông Tây. Sau đó Lý Phật Tử cho con trai là Nhã Lang cầu hôn với con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương, nhân cơ hội đánh cắp mũ đâu mâu thần của vua. Triệu Việt Vương mất mũ thần, bại trận, chạy đến cửa Đại Nha thì được thần rồng xuất hiện, đã chém con gái, rồi rẽ sóng xuống biển theo thần mà đi mất.
Xem chuyện trên và chuyện Triệu Đà đánh Thục An Dương Vương không thắng, lấy núi Trâu Sơn – Vũ Ninh làm ranh giới phân đất, Trọng Thủy lừa Mỵ Châu lấy móng rùa thần, An Dương Vương thua chạy ra biển… 2 chuyện này có thể chỉ là một truyền thuyết.
Triệu Việt Vương tương ứng với An Dương Vương. An Dương Vương cũng được gọi là Việt Vương. An Dương Vương có họ Triệu, hay nước Âu Lạc của An Dương Vương có thể là nước Triệu, nơi Doanh Tử Sở nhà Tần đã ở rể. Tử Sở là Trọng Thủy.
Triệu Đà trong chuyện trên tương ứng với Lý Phật Tử, hay Hậu Lý Nam Đế. Triệu Đà có thể có họ Lý, là dòng dõi của Lý Nam Đế, tức là con cháu của Lý Bôn – Lưu Bang.
Nhà Hán do người họ Lưu – Hán (Hiếu) Cao Tổ dựng nên. Nhà Triệu do Triệu Vũ Đế dựng nên. Vậy Triệu Vũ Đế không phải họ Triệu. Các triều đại phong kiến Trung Hoa không như Việt Nam, không lấy họ vua làm tên nước. Ví dụ nhà Chu họ Cơ, nhà Tần họ Doanh, nhà Tùy họ Dương, nhà Đường họ Lý, …
Triệu Vũ Đế không phải họ Triệu mà có thể là họ Lý. Đình Long Hưng ở Xuân Quan – Văn Giang cho thấy Triệu Vũ Đế còn gọi là Hưng Vương như Lý Bôn. Nước của Triệu Vũ Đế là Nam Việt. Nếu Triệu Vũ Đế họ Lý thì hẳn phải gọi là … Lý Nam Đế, vua của nước Nam Việt không phải Nam Đế thì là gì. Chính vì vậy mà một số chuyện của Triệu Vũ Đế lẫn lộn với chuyện của Lý Nam Đế như Nhã Lang con Hậu Lý Nam Đế so với Trọng Thủy con Triệu Vũ Đế.
Xa hơn nữa, có thể người được nói tới ở điện Long Hưng – Xuân Quan và lấy vợ là Trình Thị ở Đồng Xâm – Thái Bình không phải Triệu Đà, mà chính là Hưng Vương Lý Bôn khởi nghiệp đất Phong, lấy vợ là Lữ Hậu ở đất Bái (Thái Bình thiết Bái). Đình Bát Tràng ngay cạnh Xuân Quan thờ … Lưu thiên tử (Lưu Bang) và Lữ Hậu, phần nào cũng cho thấy Triệu Vũ Đế ở đình Xuân Quan là Hưng Vương Lý Bôn (Lý Nam Đế).
Truyền thuyết Việt chép “đủ thứ” vào trong 1, rối như bòng bong, gỡ rối thật là gian nan. Cùng một họ Triệu có thể là chuyện của Triệu-Chúa Chu-Thục An Dương Vương, của Triệu Chính (Tần Thủy Hoàng), của Triệu Đà rồi đến của Triệu Việt Vương. Cùng một họ Lý nhưng lúc là chuyện của Hưng Vương Lý Bôn (Lưu Bang), lúc là của Triệu Ông Lý (Triệu Đà), lúc là của Lý Phật Tử…
Cuối cùng khu vực cửa biển Đại Ác – Thần Phù này còn một dấu tích nữa thời cổ sử là di tích của tể tướng Lữ Gia. Tương truyền tể tướng ba đời nhà Triệu là Lữ Gia khi thất thủ ở Sài Sơn, bị quân Hán đuổi đã chạy về đến núi Côi ở đất Thiên Bản Nam Định và chết ở đó. Chuyện Lữ Gia là một trong 6 chuyện lạ đất Thiên Bản (Thiên bản lục kỳ). Đền thờ Lữ Gia ở làng Vân Côi (Vụ Bản – Nam Định) có câu đối:
Huy thiên sự nghiệp phiên châu đỉnh
Chấn địa linh thanh hải khẩu từ.

Dịch:
Sự nghiệp rạng trời, giúp nước xa
Linh thiêng phủ đất, đền cửa biển.

Câu đối cho thấy vùng núi Côi này trước đây là cửa biển. Khu vực Vụ Bản trước đây thuộc phủ Nghĩa Hưng. Nay xã Nghĩa Hưng nằm ở vùng đất lấn ra biển ở cửa sông Đáy, cách núi Côi, cách cửa Đại Nha xưa hàng chục km. Bãi bể đã thành ruộng lúa, nhưng sự linh thiêng, lạ kỳ của vùng núi và biển gặp nhau này vẫn còn mãi, với từng cái tên anh hùng, từng vị thần bất tử. Trời đất vô tình, vạn vật biến đổi. Vùng đất này đã chứng kiến bao thăng trầm, chìm nổi của lịch sử.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Lại thấy Hán uy nghi

Câu đối ở trước cửa đình Gia Phương, quê Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn – Ninh Bình:
Bất di Đường xã tắc
Phục đổ Hán uy nghi.

Dịch:

Không sai Đường xã tắc
Lại thấy
Hán uy nghi.

Sự uy nghi của triều Hán, sự cường thịnh của nhà Đường vẫn được người Việt lấy làm chuẩn mực. Sự uy nghi của triều Hán khởi đầu từ Hiếu Cao Tổ Lưu Bang, tức là nhà Tây Hán. Có thể thấy quan niệm của người Việt xưa vẫn coi nhà Tây Hán và nhà Đường là những triều đại của mình.

Thơ Nguyễn Trãi cũng có bài Hạ quy Lam Sơn – kỳ  I:
Quyền mưu bổn thị dụng trừ gian
Nhân nghĩa duy trì quốc thế an
Đài các hữu nhân nho tịch noãn
Biên thùy vô sự liễu doanh nhàn
Viễn phương ngọc bạch đồ vương hột
Trung Quốc uy nghi đổ Hán quan
Sóc tẩm dĩ thanh kình lãng tức
Nam châu vạn cổ cựu giang san.

Dịch (nhóm Đào Duy Anh):

Mừng về Lam Sơn kỳ 1
Quyền mưu vốn dĩ để trừ gian,
Nhân nghĩa giữ gìn thế nước an.
Ấm chiếu nhà nho nơi quán các,
Nhàn gươm ông tướng chốn biên quan.
Phương xa ngọc lụa, tranh vương hội,
Nước cũ uy nghi, dạng Hán quan.
Quái Bắc đã tiêu, kình ngạc lặng,
Nam châu muôn thuở vẹn giang san.

Trong bài trên Nguyễn Trãi gọi rõ đất nước mình sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi là “Trung Quốc“. Từ Trung Quốc như vậy ít nhất có từ thời Lê và là chỉ nước Đại Việt. Thời Lê coi nước Đại Việt là Trung Quốc, nối tiếp hào khí từ thời Tây Hán và Đại Đường của Trung Hoa xưa.

Danh thần Nguyễn Trãi còn bài thơ Quá Thần Phù hải khẩu:
Thần Phù hải khẩu dạ trung qua
Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà
Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn
Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch (Hoàng Khôi)
Qua cửa biển Thần Phù
Thần Phù qua bến ánh giăng lồng
Gió mát canh khuya cảnh vĩ hùng
Nghìn ngọn theo bờ, hình lá trúc
Một chiều giữa bể uốn thân rồng
Nước non như cũ người đâu vắng
Giời đất vô tình việc rối bồng
Hồ Việt một nhà may được thấy
Từ nay kình ngạc sạch giòng sông.

Hồ Việt một nhà“, tại sao khởi nghĩa Lam Sơn lại mang đến việc thống nhất “Hồ” và “Việt”?
“Hồ” ở đây không phải là người Hồ của phương Bắc. Hồ ở đây là người Hời, tức là người Chăm. “Hồ Việt một nhà” cho thấy tính chất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa kết hợp giữa các dân tộc Hời và Việt.

Khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi thực ra đã không chỉ giải phóng vùng đất của người Lạc Việt trước đây ở Bắc Bộ. Khởi nghĩa này đã mở rộng biên cương xuống phía Nam, đất của người Hời mà chính bản thân Lê Lợi có nguồn gốc người Chăm. Về phía Tây với cuộc viễn chinh của Lê Thái Tổ, chinh phạt Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, là tận đất Vân Nam của Nam Chiếu – Đại Lý trước kia. Đây là vùng đất của người Thái.

Bài thơ của Lê Thái Tổ khắc trên đá ở Sìn Hồ sau khi đánh dẹp Đèo Cát Hãn về có lời dẫn:
Di địch là nỗi lo nơi biên giới, từ xưa đã có chuyện này rồi. Đời nhà Hán thì bọn Hung Nô, đời nhà Đường thì rợ Đột Quyết, các rợ mán ở vùng Mường Lễ nước Việt ta cũng kiểu như vậy…
Rõ ràng triều Lê từ Lê Lợi đến Nguyễn Trãi đều vẫn coi triều đại Tây Hán và nhà Đường là tiền triều của mình. Xem thêm bài viết của Văn Nhân về bài thơ này.

Việt – Hời – Thái, 3 thành phần dân tộc chính đã quy tụ dưới triều Lê. Cũng vì thế Đại Việt thời Lê có thể xưng là Trung Quốc, như một đế quốc thật sự của người Trung Hoa như sự uy nghi của thời Tây Hán hay sự thịnh trị của Đại Đường.

Văn Nhân thêm ý :
Nói triều Tây Hán và triều Đường là tiền triều nước Việt …xem ra dễ gây dị ứng …

Sử thuyết Hùng Việt gọi nhà Tây Hán là Triều Hiếu đúng theo quy tắc sử học Trung hoa, gọi là triều Hiếu vì tất cả các vua đều mang miếu hiệu là Hiếu.
Triều Đường chính xác là triều Việt Thường, Việt Thường kế tiếp triều Việt Tủy; sử Trung quốc biến thành nhà Tùy.
Thoòng ↔Thường↔Đường;
Thường nghĩa là bình thường, thường thường đối phản với cao siêu, chữ Thường trong nền địa Dịch lý chỉ có nghĩa là phía nam, phương Nam (Xưa ≠ nay) đối phản với Cao – Sùng chỉ phía Bắc – bức tức phía Xích đạo.

Lý Bôn – Lưu Bang là Hiếu Cao, Vua có công thu giang sơn về 1 mối là Hiếu Vũ …, người ta đã thay chữ Hiếu thành Tây Hán nhằm tráo đổi lịch sử; lấy đầu rồng gắn lên mình ngựa mập mờ đánh lừa thiên hạ cứ như là 1 dòng sử liên tục từ ngàn xưa khiến ai cũng lầm tưởng tưởng Hán tộc là chủ nhân nền văn minh Dịch học kỳ vĩ rực rỡ trời Đông… ngay từ buổi bình minh của nhân loại.

Lưu Bang bị Hạng vũ ghét cay ghét đắng đày vào vùng đất hiểm trở nghèo nàn lạc hậu nhất ở tây – bắc Trung hoa ( Kinh đô 2 nhà Chu , cả lính và …‘sĩ quan’ ngày nào cũng có người đào ngũ ???), cổ sử viết:
… ông kéo quân về đóng ở phía Nam đất Trịnh … chính vì thế mà Hùng phả gọi ông là Hùng Trịnh vương;

Trong cuộc Hán – Sở tranh hùng ông là Hán vương … cặp từ Hán – Sở chẳng nghĩa ngọn gì thực ra là cặp đối đẳng: hên – sui, hơn – thua, hưng suy; Hùng phả gọi ông là Hưng đức lang … nôm na là chúa hên, chúa hơn, chúa Hưng vì ông đã thắng Sở vương Hạng vũ trong Hán – Sở tranh hùng, tức cuộc đối đầu bắc – nam để trở thành vua Trung hoa.

Bia cổ nói … tiếp (tập 3)

Báo Thanh Niên tháng 10/2012 đưa tin “Tấm bia đá khắc minh văn ở Bắc Ninh đã “đốt cháy” diễn đàn của hội nghị thông báo khảo cổ học năm nay”. Đúng hơn có lẽ phải nói tấm bia mới phát hiện này còn “đốt cháy” cả sách sử hiện tại vì những thông tin ngược sử chéo ngoe của nó về thời nhà Tùy ở Việt Nam.
Nhân Thọ xá lợi tháp
Tấm bia “Xá lợi tháp minh” mới phát hiện ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, được xác nhận là thuộc nhóm minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” của nhà Tùy, liên quan đến sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu. Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại các châu thuộc bản đồ đế quốc. Do cùng được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ, hệ thống tháp xá lợi này thường được biết đến dưới tên gọi “Nhân Thọ xá lợi tháp”.
Lần phát xá lợi thứ nhất vào năm Nhân Thọ nguyên niên, trên phạm vi 30 châu. Chiếu thư của Tùy Văn Đế về việc này được chép trong Quảng hoằng minh tập nói rõ lý do của việc phát xá lợi:
Trẫm nay qui y tam bảo, trùng hưng thánh giáo, muốn cùng tất thảy nhân dân trong bốn bể, cùng phát nguyện bồ đề, cúng tu phúc nghiệp, để cho đương kim hiện tại, cùng với vị lai, vĩnh tạo thiện nhân, cùng lên diệu quả. Nên mời 30 vị sa môn thông tuệ Pháp tướng [tức Phật pháp], kiêm kham truyền đạo, mỗi vị dẫn theo tùy tùng 2 người, tản quan 1 người, đem theo huân lục hương 120 cân, ngựa 5 con, chia ra các đạo hộ tống xá lợi đến các châu trên đây dựng tháp”.
Nghĩa là năm 601 Tùy Văn Đế đã qui y Phật giáo, đổi niên hiệu từ Khai Hoàng sang Nhân Thọ và tổ chức xây tháp phát xá lợi trên toàn lãnh thổ nhà Tùy.
Theo Quảng hoằng minh tập thì trong số các châu nhận xá lợi đợt đầu có cả Giao Châu, tuy không chỉ định ở chùa nào cụ thể, tức là Giao Châu tự lựa chọn nơi dựng tháp.
Tấm bia mới phát hiện ở Bắc Ninh cho biết “Giao Châu Long Biên huyện” là nơi đã xây tháp nhập xá lợi trong đợt đầu tiên vào năm Nhân Thọ nguyên niên, tức là 601. Câu hỏi lớn đặt ra là năm 601 Giao Châu còn đang là quốc gia độc lập do Hậu Lý Nam Đế làm chủ. Đại Việt sử ký toàn thư ghi “Vua sai con của anh là [Lý] Đại Quyền giữ thành Long Biên, Biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên (bấy giờ vua đóng đô ở Phong Châu)”. Năm 601 Lý Đại Quyền còn đang ở Long Biên, làm thế nào mà Tùy Văn Đế lại xuống chiếu cho xây tháp nhập xá lợi vào Long Biên như là một nơi “thuộc bản đồ đế quốc” Tùy được?
Chùa Thiền Chúng
Vấn đề làm các nhà sử học, khảo cổ học trong Hội thảo đau đầu là chẳng biết chùa Thiền Chúng được nhắc tới trong tấm bia cổ nằm ở chỗ nào. Chùa Huệ Trạch ở Trí Quả, nơi tìm thấy tấm bia và hộp xá lợi, là chùa mới có từ thời Trần và văn bia ở đây chẳng hề đả động gì đến chuyện xây xá lợi tháp dưới thời Tùy cả.
Chùa Thiền Chúng là một ngôi chùa được nhắc đến nhiều lần trong Thiền uyển tập anh, một tập hợp các ghi chép cổ về các vị thiền sư Phật giáo Việt Nam. Theo sách này thì vị trụ trì của chùa những năm này là Pháp Hiền (?- 626), học trò của Tì Ni Đa Lưu Chi.
Nguyên văn bản dịch theo Thiền uyển tập anh về sư Pháp Hiền:
Sau khi Tì Ni Đa Lưu Chi tịch diệt, sư bèn đến núi Thiên Phúc tu tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân mình, chim rừng bay đến vây quanh, dã thú tới đùa rỡn. Người đương thời hâm mộ danh tiếng đến học đạo với sư đông không kể xiết. Nhân đó, sư dựng chùa Chúng Thiện nhận tuyển dạy học trò. Tăng đồ đến lưu học tại chùa có khi đông đến hơn ba trăm người. Dòng thiền Nam phương hưng thịnh từ đó. Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu về triều. Tùy Cao tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này sùng chuộng đạo phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn sai sứ đem xá lỵ Phật và năm hòm sắc điệp sang ban cho sư để xây tháp cúng dàng. Sư bèn chia xá lỵ cho chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa có tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái để dựng pháp thờ.
Truyện trên chép Pháp Hiền nhận xá lỵ và năm hòm sắc diệp rồi chia cho các nơi, trong đó có chùa Pháp Vân ở Luy Lâu, tức là chùa Dâu. Xem ra thì việc này là vô lý. Xá lợi do vua xuống chiếu ban ra, có pháp sư cùng tản quan hộ tống, mỗi châu chỉ được 1 hòm, lấy đâu ra tới 5 hòm và làm gì có chuyện sư địa phương tự tiện chia xá lợi cho các nơi. Chùa Thiền Chúng và chùa Pháp Vân nằm cùng trong một huyện Long Biên. Như vậy thành ra riêng Giao Châu có tới 2 tháp xá lợi?!
Thực ra chẳng có chùa Thiền Chúng nào cả. Chùa này tên gọi như trong đoạn trên thì là Chúng Thiện. Chúng Thiện thiết Chiền. Thì ra đây chỉ là tên phiên thiết của một ngôi “chiền”, tức là ngôi chùa gọi theo tiếng Nôm mà thôi.
Ngôi “Chiền” nơi Pháp Hiền trụ trì và nhập xá lợi chính là chùa Dâu hay chùa Pháp Vân ở Thuận Thành – Bắc Ninh. Chùa Dâu là ngôi chùa cổ từ thời Sĩ Nhiếp, nằm cách Trí Quả, nơi đào được văn bia chưa đầy 1km. Chẳng có chuyện chia xá lợi nào cả vì chỉ có 1 ngôi chùa ở đây. Cũng chỉ có một hòm xá lợi năm sắc chứ không phải 5 hòm mà chia đi các nơi.
Văn bia Hòa Phong tháp bi ký tại chùa Dâu khẳng định đây chính là nơi sư Pháp Hiền trụ trì và nhập xá lợi:
“Nước Việt ta từ thời Tùy Cao đế, đã dốc tâm nơi Phật đạo, sùng mộ người áo nâu, sai sứ giả đem hòm xá lỵ ủy cho Lệnh sử họ Lưu kén đất Giao Châu xây cất. Khi đó có đại sư Pháp Hiền nói rằng: đây thực là chốn đại thắng danh lam. Bèn xây tháp ở bên trong phụng thờ một hòm xá lỵ để truyền mãi mãi, khiến muôn vạn năm sau, xuân thu bất diệt.
Cổ Châu Phật bản hạnh, văn bản khắc Nôm hiện còn lưu tại chùa Dâu, cũng ghi rõ sự kiện này:

Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao đế niên gian
Năm hòm xá lỵ Bụt quan
Giữa huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ
Cao dự nghìn trượng khỏe phò thánh cung.

Chiền Cổ Châu” chính là chùa Thiền Chúng được khắc trong tấm bia cổ “Xá lợi tháp minh” mới tìm được.
Chùa Dâu ở Long Biên (Luy Lâu) trước đó do Tì Ni Đa Lưu Chi trụ trì. Đây có lẽ là “ông Lưu Chi” được nhắc đến ở trên. Vị sư này lưu lạc từ Tràng An, Hồ Nam từ lúc còn thời Trần của Trần Bá Tiên rồi sang Giao Châu vào thời Bắc Chu (năm 580). Thời đó Giao Châu còn đang là thủ đô của nhà Tiền Lý, thật khó hiểu vị sư này làm sao có thể đi lại dễ dàng giữa các nước và nhanh chóng được thành một trụ trì chùa lớn nhất nước ta như vậy?
Càng khó hiểu hơn khi xá lợi được nhập vào chùa Dâu ngay khi Lý Phật Tử còn đang xưng đế ở đất Giao Châu? Các nhà sử học nước ta … sẽ có cách giải thích, thời gian này triều đình của Lý Phật Tử chắc “có quan hệ đặc biệt” với nhà Tùy nên mới có chuyện xây tháp nhập xá lợi như vậy… (?!) “Quan hệ” gì đến mức có thể xây tháp thờ xá lợi Phật, cúng Thái Tổ Vũ Nguyên hoàng đếNguyên Minh hoàng hậu (bố và mẹ của Tùy Văn Đế), nếu không phải Giao Châu đã là đất của nhà Tùy?
Tùy tướng Lưu Phương
Thiền uyển tập anh cho biết “Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu về triều” cho nhập xá lợi ở Giao Châu. Bia Hòa Phong tháp bi ký tại chùa Dâu thì chép vua Tùy “sai sứ giả đem hòm xá lỵ ủy cho Lệnh sử họ Lưu kén đất Giao Châu xây cất”. Rõ ràng “Lệnh sử họ Lưu” ở đây chính là thứ sử Giao Châu Lưu Phương.
Nghĩa là trước khi xá lợi được nhập về Giao Châu năm 601 thì Lưu Phương đã là thứ sử Giao Châu. Chuyện này cũng thật kỳ vì Lý Phật Tử đang là vua ở đây, sao lại còn có thứ sử Giao Châu của nhà Tùy? Chức thứ sử Giao Châu của Lưu Phương cho thấy Giao Châu đã là “châu” của nhà Tùy từ năm nảo năm nào rồi.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Nhâm Tuất, năm thứ 32 [602]… Dương Tố nhà Tùy tiến cử Thứ sử Qua Châu là Lưu Phương người Trường An, có tài lược làm tướng. Vua Tùy xuống chiếu lấy Tố làm Giao Châu đạo hành quân tổng quản, thống lĩnh 27 doanh quân sang xâm chiếm. Quân lệnh của Phương rất nghiêm, ai phạm tất chém. Nhưng Phương tính nhân ái, binh sĩ người nào ốm đau đều thân đến thăm viếng nuôi dưỡng, quân lính ai nấy đều mến đức và sợ uy. Đến núi Đô Long gặp giặc cỏ, Phương đánh tan hết, rồi tiến quân sang đến cạnh dinh của vua, trước lấy họa phúc mà dụ. Vua sợ xin hàng, bị đưa về Bắc rồi chết.
Đoạn trên có lẽ hơi lẫn lộn. Người được vua Tùy phong làm tổng quản quân đội Giao Châu là Lưu Phương chứ không phải Dương Tố. Chức “Giao Châu đạo hành quân tổng quản” cho thấy… Giao Châu đã là đất của nhà Tùy. Có vậy mới có đạo quân Giao Châu. Cũng tương tự sau đó Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp ở phía Nam được phong chức “Hoan Châu đạo hành quân tổng quản” thì Hoan Châu là đất nhà Tùy chứ không phải đất Lâm Ấp.
Giao Châu đã là đất của nhà Tùy từ lâu, năm 601 Tùy Văn Đế đã cho dựng tháp nhập xá lợi ở chùa Pháp Vân. Vậy Giao Châu đạo hành quân tổng quản Lưu Phương “hành quân” đi đánh Hậu Lý Nam Đế ở đâu? Chắc hẳn là ở Phong Châu, nơi Hậu Lý Nam Đế đóng đô như Đại Việt sử ký toàn thư chú.
Có thể thấy thời đó miền Bắc Việt được chia làm 2 vùng. Giao Châu là phần phía Đông, trị sở ở Long Biên, do thứ sử Lưu Phương cai quản, thuộc đất nhà Tùy. Còn Phong Châu không chỉ là vùng Phú Thọ mà là cả vùng đất Tây Bắc ngày nay. Đây là đất của con cháu nhà họ Lý, được truyền thuyết gọi là Lý Bát Lang (vua đời thứ tám?), người đã chống cự với quân Tùy, cùng với Lý Phổ Đỉnh ở thành Ô Diên Hạ Mụ. Ranh giới giữa Giao Châu và Phong Châu lúc đó là bãi Quân Thần, ở Từ Liêm – Hà Nội ngày nay, nơi Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương đặt mốc giới Tây Đông theo truyền thuyết.
Di tích về Lý Bát Lang nay còn gặp ở một số nơi thuộc xứ Đoài như ở Chu Quyến (Ba Vì), Hạ Mỗ, hay Ngọc Mạch (Từ Liêm).

cong-den
Đền thờ Lý Bát Lang ở Chu Quyến (Ba Vì)

Ở phía Nam Lưu Phương được Tùy Văn Đế phong làm Hoan Châu đạo hành quân tổng quản, tấn công Lâm Ấp năm 605. Khi dẫn quân đến Tỷ Cảnh (Hoan Châu) thì Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi… (Tùy thư, Liệt truyện 18 Lưu Phương).
Như vậy đất Tùy Văn Đế phía Nam đã đến dãy Hoành Sơn, tới châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hai Âm).
Vị tướng tài Lưu Phương, thứ sử Giao Châu, người đã dụ hàng con cháu Lý Nam Đế ở Phong Châu và tiến đánh Phạm Phạn Chí của Lâm Ấp thắng lợi, sau đó bị bệnh mất trên đường trở về.
Dưới thời Tùy Văn Đế ở Giao Châu có đủ cả nhân chứng (thứ sử Lưu Phương, sư Pháp Hiền), vật chứng (bia Xá lợi tháp minh, chùa Dâu) để chứng tỏ vùng đất này đã nằm trong nhà Tùy từ thời trước. Sử sách về nhà Tiền Lý, rồi Lâm Ấp rõ ràng cần phải xem xét lại hoàn toàn trước những minh chứng lịch sử mới được “khai quật” như vậy.

Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ

Theo chính sử thì vị vua xưng đế đầu tiên của nước ta là Lý Nam Đế, có tên thật là Lý Bôn, người phủ Long Hưng – Thái Bình. Năm 541 Lý Bôn khởi nghĩa đánh đuổi thứ sử Giao Châu của nhà Lương là Tiêu Tư, giải phóng nước ta sau mấy trăm năm Bắc thuộc. Năm 544 Lý Bôn xưng là Nam Việt Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Biên…

Một cuộc khởi nghĩa toàn thắng, mạnh mẽ như rồng bay lên (Long Hưng). Một triều đại mang tên thật hùng tráng – Vạn Xuân. Nhưng những câu hỏi về triều đại này đặt ra lại thật quá nhiều…

Quê Lý Bôn là ở đâu?
Người bảo Thái Bình là tỉnh Thái Bình ngày nay. Người bảo đó là ở Hà Tây nơi có nhiều đền thờ Lý Nam Đế. Sau một số nghiên cứu và hội thảo các nhà sử học nước ta nay xác định … quê của Tiền Lý Nam Đế là ở thôn Cổ Pháp tận Thái Nguyên. Lý Bôn hồi nhỏ có theo Phổ Tổ thiền sư đi tu …

Đọc những thông tin trên thật không hiểu đang nói đến Lý Bôn hay … Lý Công Uẩn nữa. Cũng là ở sinh ở Cổ Pháp, đi tu ở chùa. Cũng là rồng bay lên (Long Biên – Long Hưng – Thăng Long)…

Lý Nam Đế, rồi Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử là ở thời nào? Bia cổ thời Tùy Cao Đế mới phát hiện ở Luy Lâu (Bắc Ninh) cho thấy, vào thời gian cuối thế kỷ VI chẳng có triều đại Lý nào đóng đô ở Long Biên hết…

Lần theo những dấu tích trong dân gian để giải mã “truyền thuyết” nhà Tiền Lý.

Den Vua Cha
Đền thờ Lý Nam Đế ở Vân Cát – Kim Thái – Vụ Bản – Nam Định

Một trong những nơi thờ Lý Nam Đế là ở khu vực Phủ Giầy – Nam Định. Đền Lý Nam Đế gọi là đền Đức Vua Cha, nằm cạnh Phủ Vân Cát (nơi sinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh). Có lẽ cũng may mắn nhờ vì nằm ở khu vực tín ngưỡng dân gian sâu sắc như Phủ Giầy mà ngôi đền này còn lưu được một số tư liệu quí về Lý Bôn tới nay.

Đôi câu đối thứ nhất ở đền Lý Bôn tại Vân Cát:
Hưng Vương vĩ lược cao* thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân.

(* Một số tài liệu chép vế đầu là “lưu thiên cổ”, nhưng không đúng với thực tế câu đối treo ở đền này, cũng như nếu dùng chữ “lưu” sẽ bị lặp ý với chữ “ký” ở dưới).

Câu đối có dòng lạc khoản ghi “Kiến Phúc nguyên niên”, tức là làm vào năm 1883 dưới triều vua Nguyễn Phúc Ưng Đăng.

Cái tên Hưng Vương của Lý Bôn không phải chỉ nhắc đến một lần. Một câu đối khác cũng ở Vân Cát:
Tiền Phật Tử nhi hưng sơn hà nhất thống
Tự Vạn Xuân dĩ hậu hương hỏa ức niên.

Dịch:
Từ Vạn Xuân về sau, vạn năm hương khói
Trước Phật Tử hưng nghiệp, thống nhất núi sông.

Khu vực Phủ Giầy trước đây thuộc phủ Nghĩa Hưng. Cũng như các nơi thờ Lý Bôn ở Thái Bình nằm trên đất Hưng Hà, giáp Hưng Yên. Đại Nam quốc sử diễn ca thì ghi:

Cỏ cây chan chứa bụi trần
Thái Bình mới có Lý Phần Hưng vương.

Đoạn khác:

Vạn Xuân mới đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên
Lịch đồ vừa mới kỷ niên
Hưng Vương khí tượng cũng nên một đời

Lại một lần nữa gọi danh hiệu của Lý Nam Đế là Hưng Vương.

Thần tích Quán Giang ở Hoài Đức thì gọi thẳng luôn tên chữ của Lý Bôn là Cử Long Hưng. Với từng đó bằng chứng thì không còn nghi ngờ gì nữa, Lý Bôn đã từng được gọi là Hưng Vương hay Lang Hưng.

Chữ “Hưng” này là điểm quan trọng khi xác nhận Lý Bôn chính là Hùng Trịnh Hưng Đức Lang trong Hùng triều ngọc phả ở Đền Hùng Phú Thọ. Hưng Vương Lý Bôn cũng là Lưu Bang Hán Cao, người mở đầu triều Hiếu của Trung Hoa. Hưng = Hơn, đổi thành Hớn, Hán. Lưu Bang là người thắng Hạng Vũ trong cuộc chiến Hán – Sở, Hưng – Suy tranh hùng nên được gọi là Hưng Vương.

Lưu Bang – Lý Bôn theo Hoa sử là người đất Phong, khởi nghĩa chống Tần những năm trước Công nguyên ở đất Bái, có tên là Bái Công. Đối chiếu với địa danh Việt thì đất Phong là vùng Phong Châu, là xứ Đoài, nơi nay có nhiều đền thờ Lý Bôn (từ Hà Tây sang Vĩnh Phúc, Thái Nguyên). Còn đất Bái nơi Lưu Bang “hưng” nghiệp là vùng Nghĩa Hưng – Long Hưng – Hưng Hà – Hưng Yên, tức là vùng Thái Bình – Nam Định – Hưng Yên ngày nay.

Theo sử Việt thì Lý Bôn là người Thái Bình. Thái Bình viết lại là Bình Thái, thiết Bái. Như vậy quê Thái Bình trong sử sách của Lý Bôn chính là
đất Bái nơi Lưu Bang khởi nghĩa. Lý Bôn người Thái Bình là Bái Công khởi nghĩa chống Tần.
Phạm Sư Mạnh trong bài Hành quận có xưng: “Lũng lại tranh nghênh sứ Bái qua”. Phạm Sư Mạnh là người Kinh Môn – Hải Dương. Đất Thái Bình – Bái này là vùng đồng bằng sông Hồng ven biển thì đúng hơn là ở Vân Nam.
Xứ Bái cũng có thể là quê của Lữ Hậu, nơi có Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm (Thái Bình) và Lữ Gia tể tướng lui về chết ở Thiên Bản (Nam Định).
Thái Bình đọc lái là Bái đình. Lưu Bang là Đình trưởng đất Bái khi khởi nghĩa chống Tần.
—-

Cổ sử Việt có nhiều chuyện chép lẫn lộn những sự kiện cách nhau cả ngàn năm vào trong một. Như trong truyền thuyết họ Hồng Bàng thì Cha Lạc Long ra biển khai mở Hoa Hạ vào 4000 năm trước lại chép cùng chuyện Mẹ Âu Cơ Lang Xương đánh Sùng Lãm lập nước Văn Lang ở Phong Châu của 1000 năm sau đó. Rồi chuyện Thục Phán thay Hùng Vương lập nước Âu Lạc vào đầu thời Chu, cách thời điểm Tần Triệu diệt nhà Chu – Thục của An Dương Vương cũng có trên 800 năm. Nay tới chuyện Lý Bôn – Lý Công Uẩn, cách nhau tới hơn 1200 năm. Thế mới biết sự nhiễu loạn, nhầm lẫn trong sử Việt tới mức nào.

Câu đối ở làng Vân Cát về Lý Nam Đế:
Hiệu kiến Vạn Xuân khai chính thống
Tử thành thập bát ứng đồ thư.

Dịch:
Lập nước Vạn Xuân mở ra nền chính thống
Thành người họ Lý ứng nghiệm địa đồ thư.

Tử thành thập bát” là chiết tự của chữ Lý 李 , họ của Lý Nam Đế. Chiết tự dạng này được biết nhiều trong bài sấm trên cây gạo về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn ở Cổ Pháp:
Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung kiến nhật…

Bài trước đã cho biết Lý Nam Đế còn được gọi là Hưng Vương hay Lang Hưng. Còn Thiên Nam ngữ lục thì chép Lý Công Uẩn khi lên ngôi đã đổi tên nước thành Hưng Quốc:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng quốc, đề phong trong ngoài.

Lý Bôn và Lý Công Uẩn có gì quan hệ với nhau mà truyền thuyết nhà Tiền và Hậu Lý lại lẫn lộn đến như vậy?

Vào thời Ngũ đại thập quốc năm 930 Lưu Cung đánh Khúc Thừa Mỹ ở Giao Châu, thống nhất 2 miền Tĩnh Hải và Thanh Hải vào nước Đại Việt gồm Việt Đông, Việt Tây và … Việt Nam (Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt ngày nay).
Sau đó năm 947 (theo Trần Trọng Kim) Lưu Cung nhận mình là dòng dõi của Lưu Bang nên đổi tên nước thành Đại Hán, sử Tàu chép là Nam Hán để phân biệt với Bắc Hán của Lưu Sùng. Sự thực thì Hán Cao Tổ Lưu Bang là Hưng Vương Lý Bôn nên Lưu Cung phải mang họ Lý – Lý Cung và tên nước phải là Đại Hưng, chứ không phải Đại Hán. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo cũng như Hưng Vương phủ ở Quảng Đông đã xác nhận tên nước Đại Hưng ở thời kỳ này.

Chính vì sự kiện “cải nguyên Hưng quốc”, nối tiếp quốc thống của Hưng Vương Lý Bôn, mà truyền thuyết thời Tiền Lý đã có những chi tiết chép lẫn lộn giữa Lý Bôn và Lý Cung.

Câu đối tiếp theo ở đền Vân Cát – Nam Định:

Phá Lâm Ấp trục Tiêu Tư, phục viễn linh thanh, Đinh Lý ngật kim hô hách trạc
Hiệu Vạn Xuân tự Thiên Đức, hưng vương chế độ, Lạc Hồng tự cổ dĩ văn minh.

Dịch:
Phá Lâm Ấp đuổi Tiêu Tư, tiếng linh truyền xa, Đinh Lý tới nay ngời rạng tỏ
Hiệu Vạn Xuân năm Thiên Đức, chế độ hưng vương, Lạc Hồng từ cổ vốn văn minh.

Câu đối này một lần nữa nói tới tên Hưng Vương của Lý Nam Đế, gọi là Hưng vương chế độ.
Đặc biệt trong câu đối trên chỉ thấy nói: từ thời Đinh Lý tới nay tiếng oai linh của Lý Nam Đế còn rạng tỏ. Sau nhà Tiền Lý là nhà Đinh, rồi tới Hậu Lý. Chẳng thấy nhà Tiền Lê của Lê Hoàn ở đâu cả?

Ở vế đối sau cụm từ Lạc Hồng chỉ một thời đại (thời Hùng Vương), nên đối lại cụm từ Đinh Lý ở vế trước cũng là chỉ một thời đại. Đinh Lý không phải là 2 triều đại Đinh và triều Hậu Lý, mà là chỉ một triều đại. Câu đối đã gọi rất chính xác. Đinh Lý nghĩa là triều Lý ở trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, phân biệt với triều Lý của Lưu Cung (Lý Cung) ở Quảng Đông, gồm cả 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải.

Câu đối ở Vân Cát cũng tương tự như câu đối ở Quán Giang – Hoài Đức:
Hồng duy Nam Việt triệu cơ, Lạc Hùng Ngô Thục dĩ tiền, hách trạc tuấn linh, Thiên Đức kỷ nguyên sơ nhất thống
Lịch khảo đế vương thế tự, Đinh Triệu Trần Lê nhi hậu, hỗn hoàng di điển, Vạn Xuân kiến quốc kháng thiên thu.

Đinh Triệu ở đây với nghĩa là Chúa Đinh bộ (Triệu = Chúa), tức là triều đại bắt đầu từ … Đinh Bộ Lĩnh – thủ lĩnh của Đinh bộ.

Hai cụm từ Đinh Triệu Đinh Lý ở 2 câu đối về Lý Nam Đế đã một lần nữa xác nhận giả thuyết về thời Hậu Lý trên đất Tĩnh Hải (Giao Châu). Không có những triều đại Đinh, Lê, Lý riêng biệt ở thời kỳ này mà chỉ có một triều vua Lý duy nhất trên vùng đất Đinh bộ, gọi là Đinh Triệu hay Đinh Lý.

Lý Công Uẩn mở đầu triều Lý chính là Đinh Bộ Lĩnh. Tiếp tới Lê Đại Hành là vua Lý Thái Tông ẩn họ Lê. Hai vị vua Lý đầu tiên đã lấy họ Lê, nhận tước phong Tĩnh Hải tiết độ sứ, Giao Chỉ  quận vương để che mắt nhà Tống. Phải đến vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông mới công khai lấy lại họ Lý chính thức của Hưng Vương Lý Bôn, lấy tên nước riêng là Đại Việt.

Sự lắt léo của thời kỳ lập quốc Đại Việt này đã dẫn đến trong truyền thuyết Việt có chuyện Lý Bôn chép lẫn các sự kiện của nhiều thời đại khác nhau, từ Lưu Bang khởi nghĩa chống Tần ở Phong Bái, tới Lưu Cung lập nước Đại Hưng thời Mạt Đường, sang Lý Công Uẩn làm vua trên đất Tĩnh Hải. Dấu vết của các thời đại này tuy đã bị nhòa theo thời gian và bởi sự tô trát của con người, nhưng đâu đó trong dân gian, chốn đền miếu, cổ tích vẫn còn lưu được những mảnh vỡ của lịch sử. Những mảnh vỡ này chỉ có thể ghép lại được nếu có một nền tảng sử thuyết xuyên suốt thời gian, giúp khôi phục lại hình ảnh lịch sử chân thực ban đầu.

Tranh Ly Bon
Tranh thờ Lý Bôn và hoàng hậu ở Vũ Thư – Thái Bình

Hưng Vương, Hưng Quốc là những danh hiệu, danh quốc huy hoàng trong sử Việt, nay đã bị lãng quên. Nhắc lại những cái tên này có khi lại bị quy là “phản động”, đòi “phục hưng” chế độ. Nhưng chuyện Cha, chuyện Mẹ, chuyện tổ tiên nòi giống, thấy mà không nói thì cũng  chẳng thể nào ăn ngon ngủ yên được.
Đúng là:

Nước còn sử mất ngẩn ngơ
Con Hồng cháu Lạc bao giờ lại Hưng?