Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Có một vùng đất nặng phù sa cổ tích là vùng cửa Thần Phù, nằm giáp giữa Ninh Bình, Thanh Hóa và Nam Định.
Chuyện về thần Áp Lãng Chân Nhân ở Thần Phù được Hồ Nguyên Trừng ghi lại trong sách Nam ông mộng lục, tóm tắt như sau:
Đời Tống Nhân Tông, nhà Lý nước An Nam đem binh thuyền đi đánh Chiêm Thành. Tới cửa Thần Đầu thì bỗng có sóng gió nổi lên liên tục mấy ngày liền, không sao qua được. Hoàng Đế phải nhờ một Đạo Sĩ ở trong núi gần đó giúp yên sóng. Ngày trở về Hoàng Đế liền phong cho đạo sĩ hiệu là Áp Lãng Chân Nhân.
Chân Nhân người họ La, còn tên thì chưa rõ, chỉ gọi theo đạo hiệu là Áp Lãng Chân Nhân. Trong số các con cháu của Chân Nhân, có La Tu đỗ Tiến Sĩ, làm quan thời Trần Nghệ Vương, được phong tới chức Thẩm Hình Viện Sứ.
Nam Ông mộng lục
của Hồ Nguyên Trừng là tài liệu sớm nhất ghi về Áp Lãng Chân Nhân, xác định vị đạo sĩ này xuất hiện vào thời Tống Nhân Tông, nhà Lý nước ta. Tống Nhân Tông trị vì từ năm 1022 đến năm 1063. So với sử Việt thì trong thời gian này chỉ có một lần vua Lý đi đánh Chiêm Thành là năm 1044 Lý Thái Tông ngự giá thân chinh, chiếm được quốc đô Phật Thệ của Chiêm Thành, chém Sạ Đẩu. Còn trận Lý Thánh Tông bắt vua Chiêm Thành là Chế Củ xảy ra năm 1069, không còn là thời Tống Nhân Tông nữa.

Den Nhan Pham
Ban thờ Áp Lãng Chân Nhân  ở đền Nhân Phẩm, Yên Mô, Ninh Bình

Câu đối ở chính điện Thần Phủ hải môn từ ở thôn Nhân Phẩm – Yên Mô – Ninh Bình:
Diên lĩnh quan binh, tiên Đinh Hoàng chính thống
Càn môn tức lãng, đang Hồng Đức tam niên.
Dịch:
Núi Diều xem quân, trước thời Đinh Hoàng chính thống
Cửa Càn yên sóng, vào năm Hồng Đức thứ ba.
Càn môn
hay cửa Càn Phù là cửa sông Càn đổ ra biển, cũng là cửa Thần Phù.
Diên lĩnh là núi Cánh Diều, nay ở thành phố Ninh Bình. Thần Áp Lãng như vậy đã xem quân của vua Đinh “duyệt binh” ở Hoa Lư, trước khi vua Đinh lên ngôi chính thống (?).
Thật là không biết vị Áp Lãng Chân Nhân này cuối cùng xuất hiện ban đầu vào thời nào: Lý, Tiền Lê hay thời Đinh? Thần tích đền Nhân Phẩm thôi thì cho hết thành thời “Hùng Vương”. Hùng Vương là lúc nào mà vua Hùng có thể cưỡi thuyền đánh phương Nam được?
Những câu chuyện thời Đinh – Tiền Lê – Hậu Lý ở vùng Hoa Lư – Ninh Bình cứ lẫn lộn vào nhau, cùng một chuyện mà lúc chép vào người này, lúc chép vào người kia. Quanh khu vực Thần Phù có rất nhiều đền thờ vua Lê Đại Hành phối thờ cùng Lý Thái Tông vì … công nghiệp 2 vị này như nhau. Lê Đại Hành – Lý Thái Tông là người đã cho xây dựng hệ thống phòng thủ ở khu vực cửa Thần Phù. Thành Thiên Phúc của Lê Đại Hành được cho là ở vùng núi Yên Thắng – Ninh Bình này. Có thể vì thế mà Lê Đại Hành đã tôn thờ một vị thủy thần ở đây làm Áp Lãng Chân Nhân để phù hộ cho công trình phòng thủ biển của kinh đô.
Lý Thái Tông chắc cũng còn đang đóng đô ở Hoa Lư. Nếu triều Lý đã về Thăng Long từ đời Lý Công Uẩn thì Lý Thái Tông đã không quan tâm đến công trình phòng thủ cho Hoa Lư này nhiều như vậy.
Tiền Đinh Hoàng chính thống” trong câu đối trên như vậy phải hiểu là vào thời trước khi Đinh Hoàng (hay Đinh Triệu, Đinh Lý) tuyên bố triều đại chính thức trên đất Tĩnh Hải, tức là thời kỳ 2 vị vua Lý đầu tiên ẩn họ Lê. Như vậy mọi thông tin về Áp Lãng Chân Nhân sẽ khớp hoàn toàn với nhau. Đây là vị đạo sĩ ở triều Lê Đại Hành – Lý Thái Tông đã cầu đảo giúp yên sóng cho đoàn thuyền đi bình Chiêm của vị vua Lê – Lý này qua cửa Thần Phù.
Cửa Thần Phù là vị trí chiến lược quan trọng vì là cửa sông đổ ra biển, thuyền bè miền Bắc có thể để tiến xuống phía Nam, là ranh giới tự nhiên giữa Nam và Bắc do dãy núi đá vôi chạy từ Hòa Bình xuống Ninh Bình rồi đâm ra biển. Trên đường bộ thì quan ải là đèo Ba Dội (Tam Điệp), còn đường thủy thì chính là Cửa Thần Phù. Cũng vì thế mà thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly để chống quân Minh đã sai lấy đá lấp ngã thông từ sông Hổ (hạ lưu của sông Vân Sàng – TP Ninh Bình ngày nay) sang đến cửa biển Thần Phù. Nhà Hồ đóng đô ở Tây Đô (Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa) nên cửa Thần Phù là hải khẩu trọng yếu chặn thuyền giặc tiến xuống kinh thành.
Danh thần Nguyễn Trãi khi đi qua đây đã có bài Quá Thần Phủ hải khẩu, nói tới việc này:
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch:
Giang sơn còn đó, đâu anh kiệt
Trời đất vô tình, biến đổi qua
Hồ – Việt một nhà nay lại thấy
Từ đây bốn bể lặng kình ba.

Anh hùng thệ” rõ ràng là chỉ chuyện Hồ Quí Ly lấy đá ngăn sông. Bài thơ nói, lịch sử từ nhà Hồ tới thời Hậu Lê đã thay đổi. Nước nhà đã thống nhất, Hồ Việt một nhà. Hồ Việt một nhà tức là Nam Bắc một nhà, Tây Đô – Đông Đô thống nhất. Người Hồ hay người Hời (người Chăm) lại cùng một nhà với người Việt ở miền Bắc. Bởi vì Lê Thái Tổ là người Chăm (người Hồ) nên cuộc kháng chiến của Lê Lợi từ vùng Lam Sơn – Thanh Hóa, giải phóng Thanh Nghệ rồi Đông Đô, đúng là đã thống nhất Hồ Việt một nhà như Nguyễn Trãi viết.
Bài thơ của Trần Minh Tông ngự chế về Bạch Đằng Giang có câu:
Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.

Phần lớn các dịch giả đều cho rằng “song khai nhãn” là nói tới 2 lần nhà Trần đánh quân Nguyên; còn “Hồ Việt” là chỉ Đại Việt và nhà Nguyên. Tuy nhiên có thể hiểu khác chính xác hơn. Hai lần “mở mắt” ở sông Bạch Đằng là 2 “bài học” cho kẻ thù phương Bắc. Lần thứ nhất dưới thời Lê Đại Hành phá Tống. Lần thứ hai là triều Trần đánh quân Nguyên. Thế mới là
tính chuyện “kim cổ” – trước nay. Còn lần đầu tiên, trận thắng của Ngô Vương Quyền thì không kể tới (vì trận đó đâu có ở sông Bạch Đằng này). Nhà Trần và nhà Nguyên, 2 bên vừa đánh nhau trối chết 2-3 bận, thì không thể viết là Nguyên Trần (Hồ Việt) “cùng” dựa lan can (“nhất ỷ lan”) được. Tương tự như trong bài Quá Thần Phù hải khẩu của Nguyễn Trãi, không thể nói nhà Hậu Lê và nhà Minh, 2 nước vừa giao tranh lại là “Hồ Việt một nhà” được. Hồ là người Hời. Người Hời hay người Chăm đã cùng phối hợp với nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Vì thế mới có thể nói là “Hồ Việt cùng dựa lan can” ngắm sông được.
Hiểu lại như vậy thì 2 câu trên rất rõ ý. Câu thứ nhất nói về kẻ thù phương Bắc 2 lần thất bại trên sông Bạch Đằng. Câu thứ hai nói tới sự đoàn kết thành công của người Chăm và người Việt trong cuộc kháng chiến.
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan” rõ ràng là nói người Hồ và người Việt dù lúc thắng hay lúc bại cũng vẫn cùng một thuyền (nhất ỷ lan).
Dịch lại 2 câu thơ trên:
Núi sông sau trước hai bài học
Hời Việt được thua cùng một thuyền.

Hồ và Việt đã từ lâu cùng “một nhà”, “một thuyền”. Nay sự kiện Đại Việt và Chiêm Thành thống nhất dưới thời Nguyễn cũng cần nhìn lại, đây cũng là “Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ” mà thôi, không phải ai thôn tính xâm chiếm ai cả.
Lê Hồng Đức (Lê Thánh Tông) đi đánh Chiêm Thành qua cửa Thần Phù cũng đã viết thơ, có câu:
Hồ Vương uổng tải điền hà thạch,
La Viện khinh thừa áp lãng chu.

Dịch:
Hồ Quí Ly hoài đá chắn sông
Tiên La Viện lướt thuyền yên sóng.

Dinh Phu Sa
Đình Phù Sa, Yên Mô, Ninh Bình

Núi Thần Phù, nơi còn chữ Thần của Lê Thánh Tông khắc trên vách đá, ngày nay nằm cách biển khoảng 10km. Ngược dòng thời gian xa nữa thì từ thời Tiền Lý có chuyện Triệu Việt Vương bại trận, cùng đường tới cửa Đại Nha (Đại Ác). Đại Nha nay là nơi có chùa Độc Bộ, thuộc Ý Yên – Nam Định, trên sông Đáy. Khu vực tổng Thần Phù xưa cũng có nhiều nơi thờ Triệu Việt Vương. Như đình làng Phù Sa (Yên Mô – Ninh Bình) có câu đối:
Phi lai độc mộc Lương vô địa
Tập khứ đâu mâu Lý hữu thiên.

Dịch:
Thuyền độc mộc tới lui, quân Lương sạch đất
Mũ đâu mâu đánh tráo, họ Lý lên ngôi.

Triệu Việt Vương ở đầm Dạ Trạch dùng thuyền độc mộc nhỏ mà đuổi quân Lương. Rồi Lý Phật Tử đánh Triệu Việt Vương không thắng, giảng hòa, phân đất Đông Tây. Sau đó Lý Phật Tử cho con trai là Nhã Lang cầu hôn với con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương, nhân cơ hội đánh cắp mũ đâu mâu thần của vua. Triệu Việt Vương mất mũ thần, bại trận, chạy đến cửa Đại Nha thì được thần rồng xuất hiện, đã chém con gái, rồi rẽ sóng xuống biển theo thần mà đi mất.
Xem chuyện trên và chuyện Triệu Đà đánh Thục An Dương Vương không thắng, lấy núi Trâu Sơn – Vũ Ninh làm ranh giới phân đất, Trọng Thủy lừa Mỵ Châu lấy móng rùa thần, An Dương Vương thua chạy ra biển… 2 chuyện này có thể chỉ là một truyền thuyết.
Triệu Việt Vương tương ứng với An Dương Vương. An Dương Vương cũng được gọi là Việt Vương. An Dương Vương có họ Triệu, hay nước Âu Lạc của An Dương Vương có thể là nước Triệu, nơi Doanh Tử Sở nhà Tần đã ở rể. Tử Sở là Trọng Thủy.
Triệu Đà trong chuyện trên tương ứng với Lý Phật Tử, hay Hậu Lý Nam Đế. Triệu Đà có thể có họ Lý, là dòng dõi của Lý Nam Đế, tức là con cháu của Lý Bôn – Lưu Bang.
Nhà Hán do người họ Lưu – Hán (Hiếu) Cao Tổ dựng nên. Nhà Triệu do Triệu Vũ Đế dựng nên. Vậy Triệu Vũ Đế không phải họ Triệu. Các triều đại phong kiến Trung Hoa không như Việt Nam, không lấy họ vua làm tên nước. Ví dụ nhà Chu họ Cơ, nhà Tần họ Doanh, nhà Tùy họ Dương, nhà Đường họ Lý, …
Triệu Vũ Đế không phải họ Triệu mà có thể là họ Lý. Đình Long Hưng ở Xuân Quan – Văn Giang cho thấy Triệu Vũ Đế còn gọi là Hưng Vương như Lý Bôn. Nước của Triệu Vũ Đế là Nam Việt. Nếu Triệu Vũ Đế họ Lý thì hẳn phải gọi là … Lý Nam Đế, vua của nước Nam Việt không phải Nam Đế thì là gì. Chính vì vậy mà một số chuyện của Triệu Vũ Đế lẫn lộn với chuyện của Lý Nam Đế như Nhã Lang con Hậu Lý Nam Đế so với Trọng Thủy con Triệu Vũ Đế.
Xa hơn nữa, có thể người được nói tới ở điện Long Hưng – Xuân Quan và lấy vợ là Trình Thị ở Đồng Xâm – Thái Bình không phải Triệu Đà, mà chính là Hưng Vương Lý Bôn khởi nghiệp đất Phong, lấy vợ là Lữ Hậu ở đất Bái (Thái Bình thiết Bái). Đình Bát Tràng ngay cạnh Xuân Quan thờ … Lưu thiên tử (Lưu Bang) và Lữ Hậu, phần nào cũng cho thấy Triệu Vũ Đế ở đình Xuân Quan là Hưng Vương Lý Bôn (Lý Nam Đế).
Truyền thuyết Việt chép “đủ thứ” vào trong 1, rối như bòng bong, gỡ rối thật là gian nan. Cùng một họ Triệu có thể là chuyện của Triệu-Chúa Chu-Thục An Dương Vương, của Triệu Chính (Tần Thủy Hoàng), của Triệu Đà rồi đến của Triệu Việt Vương. Cùng một họ Lý nhưng lúc là chuyện của Hưng Vương Lý Bôn (Lưu Bang), lúc là của Triệu Ông Lý (Triệu Đà), lúc là của Lý Phật Tử…
Cuối cùng khu vực cửa biển Đại Ác – Thần Phù này còn một dấu tích nữa thời cổ sử là di tích của tể tướng Lữ Gia. Tương truyền tể tướng ba đời nhà Triệu là Lữ Gia khi thất thủ ở Sài Sơn, bị quân Hán đuổi đã chạy về đến núi Côi ở đất Thiên Bản Nam Định và chết ở đó. Chuyện Lữ Gia là một trong 6 chuyện lạ đất Thiên Bản (Thiên bản lục kỳ). Đền thờ Lữ Gia ở làng Vân Côi (Vụ Bản – Nam Định) có câu đối:
Huy thiên sự nghiệp phiên châu đỉnh
Chấn địa linh thanh hải khẩu từ.

Dịch:
Sự nghiệp rạng trời, giúp nước xa
Linh thiêng phủ đất, đền cửa biển.

Câu đối cho thấy vùng núi Côi này trước đây là cửa biển. Khu vực Vụ Bản trước đây thuộc phủ Nghĩa Hưng. Nay xã Nghĩa Hưng nằm ở vùng đất lấn ra biển ở cửa sông Đáy, cách núi Côi, cách cửa Đại Nha xưa hàng chục km. Bãi bể đã thành ruộng lúa, nhưng sự linh thiêng, lạ kỳ của vùng núi và biển gặp nhau này vẫn còn mãi, với từng cái tên anh hùng, từng vị thần bất tử. Trời đất vô tình, vạn vật biến đổi. Vùng đất này đã chứng kiến bao thăng trầm, chìm nổi của lịch sử.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Lại thấy Hán uy nghi

Câu đối ở trước cửa đình Gia Phương, quê Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn – Ninh Bình:
Bất di Đường xã tắc
Phục đổ Hán uy nghi.

Dịch:

Không sai Đường xã tắc
Lại thấy
Hán uy nghi.

Sự uy nghi của triều Hán, sự cường thịnh của nhà Đường vẫn được người Việt lấy làm chuẩn mực. Sự uy nghi của triều Hán khởi đầu từ Hiếu Cao Tổ Lưu Bang, tức là nhà Tây Hán. Có thể thấy quan niệm của người Việt xưa vẫn coi nhà Tây Hán và nhà Đường là những triều đại của mình.

Thơ Nguyễn Trãi cũng có bài Hạ quy Lam Sơn – kỳ  I:
Quyền mưu bổn thị dụng trừ gian
Nhân nghĩa duy trì quốc thế an
Đài các hữu nhân nho tịch noãn
Biên thùy vô sự liễu doanh nhàn
Viễn phương ngọc bạch đồ vương hột
Trung Quốc uy nghi đổ Hán quan
Sóc tẩm dĩ thanh kình lãng tức
Nam châu vạn cổ cựu giang san.

Dịch (nhóm Đào Duy Anh):

Mừng về Lam Sơn kỳ 1
Quyền mưu vốn dĩ để trừ gian,
Nhân nghĩa giữ gìn thế nước an.
Ấm chiếu nhà nho nơi quán các,
Nhàn gươm ông tướng chốn biên quan.
Phương xa ngọc lụa, tranh vương hội,
Nước cũ uy nghi, dạng Hán quan.
Quái Bắc đã tiêu, kình ngạc lặng,
Nam châu muôn thuở vẹn giang san.

Trong bài trên Nguyễn Trãi gọi rõ đất nước mình sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi là “Trung Quốc“. Từ Trung Quốc như vậy ít nhất có từ thời Lê và là chỉ nước Đại Việt. Thời Lê coi nước Đại Việt là Trung Quốc, nối tiếp hào khí từ thời Tây Hán và Đại Đường của Trung Hoa xưa.

Danh thần Nguyễn Trãi còn bài thơ Quá Thần Phù hải khẩu:
Thần Phù hải khẩu dạ trung qua
Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà
Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn
Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch (Hoàng Khôi)
Qua cửa biển Thần Phù
Thần Phù qua bến ánh giăng lồng
Gió mát canh khuya cảnh vĩ hùng
Nghìn ngọn theo bờ, hình lá trúc
Một chiều giữa bể uốn thân rồng
Nước non như cũ người đâu vắng
Giời đất vô tình việc rối bồng
Hồ Việt một nhà may được thấy
Từ nay kình ngạc sạch giòng sông.

Hồ Việt một nhà“, tại sao khởi nghĩa Lam Sơn lại mang đến việc thống nhất “Hồ” và “Việt”?
“Hồ” ở đây không phải là người Hồ của phương Bắc. Hồ ở đây là người Hời, tức là người Chăm. “Hồ Việt một nhà” cho thấy tính chất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa kết hợp giữa các dân tộc Hời và Việt.

Khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi thực ra đã không chỉ giải phóng vùng đất của người Lạc Việt trước đây ở Bắc Bộ. Khởi nghĩa này đã mở rộng biên cương xuống phía Nam, đất của người Hời mà chính bản thân Lê Lợi có nguồn gốc người Chăm. Về phía Tây với cuộc viễn chinh của Lê Thái Tổ, chinh phạt Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, là tận đất Vân Nam của Nam Chiếu – Đại Lý trước kia. Đây là vùng đất của người Thái.

Bài thơ của Lê Thái Tổ khắc trên đá ở Sìn Hồ sau khi đánh dẹp Đèo Cát Hãn về có lời dẫn:
Di địch là nỗi lo nơi biên giới, từ xưa đã có chuyện này rồi. Đời nhà Hán thì bọn Hung Nô, đời nhà Đường thì rợ Đột Quyết, các rợ mán ở vùng Mường Lễ nước Việt ta cũng kiểu như vậy…
Rõ ràng triều Lê từ Lê Lợi đến Nguyễn Trãi đều vẫn coi triều đại Tây Hán và nhà Đường là tiền triều của mình. Xem thêm bài viết của Văn Nhân về bài thơ này.

Việt – Hời – Thái, 3 thành phần dân tộc chính đã quy tụ dưới triều Lê. Cũng vì thế Đại Việt thời Lê có thể xưng là Trung Quốc, như một đế quốc thật sự của người Trung Hoa như sự uy nghi của thời Tây Hán hay sự thịnh trị của Đại Đường.

Văn Nhân thêm ý :
Nói triều Tây Hán và triều Đường là tiền triều nước Việt …xem ra dễ gây dị ứng …

Sử thuyết Hùng Việt gọi nhà Tây Hán là Triều Hiếu đúng theo quy tắc sử học Trung hoa, gọi là triều Hiếu vì tất cả các vua đều mang miếu hiệu là Hiếu.
Triều Đường chính xác là triều Việt Thường, Việt Thường kế tiếp triều Việt Tủy; sử Trung quốc biến thành nhà Tùy.
Thoòng ↔Thường↔Đường;
Thường nghĩa là bình thường, thường thường đối phản với cao siêu, chữ Thường trong nền địa Dịch lý chỉ có nghĩa là phía nam, phương Nam (Xưa ≠ nay) đối phản với Cao – Sùng chỉ phía Bắc – bức tức phía Xích đạo.

Lý Bôn – Lưu Bang là Hiếu Cao, Vua có công thu giang sơn về 1 mối là Hiếu Vũ …, người ta đã thay chữ Hiếu thành Tây Hán nhằm tráo đổi lịch sử; lấy đầu rồng gắn lên mình ngựa mập mờ đánh lừa thiên hạ cứ như là 1 dòng sử liên tục từ ngàn xưa khiến ai cũng lầm tưởng tưởng Hán tộc là chủ nhân nền văn minh Dịch học kỳ vĩ rực rỡ trời Đông… ngay từ buổi bình minh của nhân loại.

Lưu Bang bị Hạng vũ ghét cay ghét đắng đày vào vùng đất hiểm trở nghèo nàn lạc hậu nhất ở tây – bắc Trung hoa ( Kinh đô 2 nhà Chu , cả lính và …‘sĩ quan’ ngày nào cũng có người đào ngũ ???), cổ sử viết:
… ông kéo quân về đóng ở phía Nam đất Trịnh … chính vì thế mà Hùng phả gọi ông là Hùng Trịnh vương;

Trong cuộc Hán – Sở tranh hùng ông là Hán vương … cặp từ Hán – Sở chẳng nghĩa ngọn gì thực ra là cặp đối đẳng: hên – sui, hơn – thua, hưng suy; Hùng phả gọi ông là Hưng đức lang … nôm na là chúa hên, chúa hơn, chúa Hưng vì ông đã thắng Sở vương Hạng vũ trong Hán – Sở tranh hùng, tức cuộc đối đầu bắc – nam để trở thành vua Trung hoa.

Bia cổ nói … tiếp (tập 3)

Báo Thanh Niên tháng 10/2012 đưa tin “Tấm bia đá khắc minh văn ở Bắc Ninh đã “đốt cháy” diễn đàn của hội nghị thông báo khảo cổ học năm nay”. Đúng hơn có lẽ phải nói tấm bia mới phát hiện này còn “đốt cháy” cả sách sử hiện tại vì những thông tin ngược sử chéo ngoe của nó về thời nhà Tùy ở Việt Nam.
Nhân Thọ xá lợi tháp
Tấm bia “Xá lợi tháp minh” mới phát hiện ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, được xác nhận là thuộc nhóm minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” của nhà Tùy, liên quan đến sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu. Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại các châu thuộc bản đồ đế quốc. Do cùng được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ, hệ thống tháp xá lợi này thường được biết đến dưới tên gọi “Nhân Thọ xá lợi tháp”.
Lần phát xá lợi thứ nhất vào năm Nhân Thọ nguyên niên, trên phạm vi 30 châu. Chiếu thư của Tùy Văn Đế về việc này được chép trong Quảng hoằng minh tập nói rõ lý do của việc phát xá lợi:
Trẫm nay qui y tam bảo, trùng hưng thánh giáo, muốn cùng tất thảy nhân dân trong bốn bể, cùng phát nguyện bồ đề, cúng tu phúc nghiệp, để cho đương kim hiện tại, cùng với vị lai, vĩnh tạo thiện nhân, cùng lên diệu quả. Nên mời 30 vị sa môn thông tuệ Pháp tướng [tức Phật pháp], kiêm kham truyền đạo, mỗi vị dẫn theo tùy tùng 2 người, tản quan 1 người, đem theo huân lục hương 120 cân, ngựa 5 con, chia ra các đạo hộ tống xá lợi đến các châu trên đây dựng tháp”.
Nghĩa là năm 601 Tùy Văn Đế đã qui y Phật giáo, đổi niên hiệu từ Khai Hoàng sang Nhân Thọ và tổ chức xây tháp phát xá lợi trên toàn lãnh thổ nhà Tùy.
Theo Quảng hoằng minh tập thì trong số các châu nhận xá lợi đợt đầu có cả Giao Châu, tuy không chỉ định ở chùa nào cụ thể, tức là Giao Châu tự lựa chọn nơi dựng tháp.
Tấm bia mới phát hiện ở Bắc Ninh cho biết “Giao Châu Long Biên huyện” là nơi đã xây tháp nhập xá lợi trong đợt đầu tiên vào năm Nhân Thọ nguyên niên, tức là 601. Câu hỏi lớn đặt ra là năm 601 Giao Châu còn đang là quốc gia độc lập do Hậu Lý Nam Đế làm chủ. Đại Việt sử ký toàn thư ghi “Vua sai con của anh là [Lý] Đại Quyền giữ thành Long Biên, Biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên (bấy giờ vua đóng đô ở Phong Châu)”. Năm 601 Lý Đại Quyền còn đang ở Long Biên, làm thế nào mà Tùy Văn Đế lại xuống chiếu cho xây tháp nhập xá lợi vào Long Biên như là một nơi “thuộc bản đồ đế quốc” Tùy được?
Chùa Thiền Chúng
Vấn đề làm các nhà sử học, khảo cổ học trong Hội thảo đau đầu là chẳng biết chùa Thiền Chúng được nhắc tới trong tấm bia cổ nằm ở chỗ nào. Chùa Huệ Trạch ở Trí Quả, nơi tìm thấy tấm bia và hộp xá lợi, là chùa mới có từ thời Trần và văn bia ở đây chẳng hề đả động gì đến chuyện xây xá lợi tháp dưới thời Tùy cả.
Chùa Thiền Chúng là một ngôi chùa được nhắc đến nhiều lần trong Thiền uyển tập anh, một tập hợp các ghi chép cổ về các vị thiền sư Phật giáo Việt Nam. Theo sách này thì vị trụ trì của chùa những năm này là Pháp Hiền (?- 626), học trò của Tì Ni Đa Lưu Chi.
Nguyên văn bản dịch theo Thiền uyển tập anh về sư Pháp Hiền:
Sau khi Tì Ni Đa Lưu Chi tịch diệt, sư bèn đến núi Thiên Phúc tu tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân mình, chim rừng bay đến vây quanh, dã thú tới đùa rỡn. Người đương thời hâm mộ danh tiếng đến học đạo với sư đông không kể xiết. Nhân đó, sư dựng chùa Chúng Thiện nhận tuyển dạy học trò. Tăng đồ đến lưu học tại chùa có khi đông đến hơn ba trăm người. Dòng thiền Nam phương hưng thịnh từ đó. Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu về triều. Tùy Cao tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này sùng chuộng đạo phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn sai sứ đem xá lỵ Phật và năm hòm sắc điệp sang ban cho sư để xây tháp cúng dàng. Sư bèn chia xá lỵ cho chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa có tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái để dựng pháp thờ.
Truyện trên chép Pháp Hiền nhận xá lỵ và năm hòm sắc diệp rồi chia cho các nơi, trong đó có chùa Pháp Vân ở Luy Lâu, tức là chùa Dâu. Xem ra thì việc này là vô lý. Xá lợi do vua xuống chiếu ban ra, có pháp sư cùng tản quan hộ tống, mỗi châu chỉ được 1 hòm, lấy đâu ra tới 5 hòm và làm gì có chuyện sư địa phương tự tiện chia xá lợi cho các nơi. Chùa Thiền Chúng và chùa Pháp Vân nằm cùng trong một huyện Long Biên. Như vậy thành ra riêng Giao Châu có tới 2 tháp xá lợi?!
Thực ra chẳng có chùa Thiền Chúng nào cả. Chùa này tên gọi như trong đoạn trên thì là Chúng Thiện. Chúng Thiện thiết Chiền. Thì ra đây chỉ là tên phiên thiết của một ngôi “chiền”, tức là ngôi chùa gọi theo tiếng Nôm mà thôi.
Ngôi “Chiền” nơi Pháp Hiền trụ trì và nhập xá lợi chính là chùa Dâu hay chùa Pháp Vân ở Thuận Thành – Bắc Ninh. Chùa Dâu là ngôi chùa cổ từ thời Sĩ Nhiếp, nằm cách Trí Quả, nơi đào được văn bia chưa đầy 1km. Chẳng có chuyện chia xá lợi nào cả vì chỉ có 1 ngôi chùa ở đây. Cũng chỉ có một hòm xá lợi năm sắc chứ không phải 5 hòm mà chia đi các nơi.
Văn bia Hòa Phong tháp bi ký tại chùa Dâu khẳng định đây chính là nơi sư Pháp Hiền trụ trì và nhập xá lợi:
“Nước Việt ta từ thời Tùy Cao đế, đã dốc tâm nơi Phật đạo, sùng mộ người áo nâu, sai sứ giả đem hòm xá lỵ ủy cho Lệnh sử họ Lưu kén đất Giao Châu xây cất. Khi đó có đại sư Pháp Hiền nói rằng: đây thực là chốn đại thắng danh lam. Bèn xây tháp ở bên trong phụng thờ một hòm xá lỵ để truyền mãi mãi, khiến muôn vạn năm sau, xuân thu bất diệt.
Cổ Châu Phật bản hạnh, văn bản khắc Nôm hiện còn lưu tại chùa Dâu, cũng ghi rõ sự kiện này:

Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao đế niên gian
Năm hòm xá lỵ Bụt quan
Giữa huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ
Cao dự nghìn trượng khỏe phò thánh cung.

Chiền Cổ Châu” chính là chùa Thiền Chúng được khắc trong tấm bia cổ “Xá lợi tháp minh” mới tìm được.
Chùa Dâu ở Long Biên (Luy Lâu) trước đó do Tì Ni Đa Lưu Chi trụ trì. Đây có lẽ là “ông Lưu Chi” được nhắc đến ở trên. Vị sư này lưu lạc từ Tràng An, Hồ Nam từ lúc còn thời Trần của Trần Bá Tiên rồi sang Giao Châu vào thời Bắc Chu (năm 580). Thời đó Giao Châu còn đang là thủ đô của nhà Tiền Lý, thật khó hiểu vị sư này làm sao có thể đi lại dễ dàng giữa các nước và nhanh chóng được thành một trụ trì chùa lớn nhất nước ta như vậy?
Càng khó hiểu hơn khi xá lợi được nhập vào chùa Dâu ngay khi Lý Phật Tử còn đang xưng đế ở đất Giao Châu? Các nhà sử học nước ta … sẽ có cách giải thích, thời gian này triều đình của Lý Phật Tử chắc “có quan hệ đặc biệt” với nhà Tùy nên mới có chuyện xây tháp nhập xá lợi như vậy… (?!) “Quan hệ” gì đến mức có thể xây tháp thờ xá lợi Phật, cúng Thái Tổ Vũ Nguyên hoàng đếNguyên Minh hoàng hậu (bố và mẹ của Tùy Văn Đế), nếu không phải Giao Châu đã là đất của nhà Tùy?
Tùy tướng Lưu Phương
Thiền uyển tập anh cho biết “Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu về triều” cho nhập xá lợi ở Giao Châu. Bia Hòa Phong tháp bi ký tại chùa Dâu thì chép vua Tùy “sai sứ giả đem hòm xá lỵ ủy cho Lệnh sử họ Lưu kén đất Giao Châu xây cất”. Rõ ràng “Lệnh sử họ Lưu” ở đây chính là thứ sử Giao Châu Lưu Phương.
Nghĩa là trước khi xá lợi được nhập về Giao Châu năm 601 thì Lưu Phương đã là thứ sử Giao Châu. Chuyện này cũng thật kỳ vì Lý Phật Tử đang là vua ở đây, sao lại còn có thứ sử Giao Châu của nhà Tùy? Chức thứ sử Giao Châu của Lưu Phương cho thấy Giao Châu đã là “châu” của nhà Tùy từ năm nảo năm nào rồi.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Nhâm Tuất, năm thứ 32 [602]… Dương Tố nhà Tùy tiến cử Thứ sử Qua Châu là Lưu Phương người Trường An, có tài lược làm tướng. Vua Tùy xuống chiếu lấy Tố làm Giao Châu đạo hành quân tổng quản, thống lĩnh 27 doanh quân sang xâm chiếm. Quân lệnh của Phương rất nghiêm, ai phạm tất chém. Nhưng Phương tính nhân ái, binh sĩ người nào ốm đau đều thân đến thăm viếng nuôi dưỡng, quân lính ai nấy đều mến đức và sợ uy. Đến núi Đô Long gặp giặc cỏ, Phương đánh tan hết, rồi tiến quân sang đến cạnh dinh của vua, trước lấy họa phúc mà dụ. Vua sợ xin hàng, bị đưa về Bắc rồi chết.
Đoạn trên có lẽ hơi lẫn lộn. Người được vua Tùy phong làm tổng quản quân đội Giao Châu là Lưu Phương chứ không phải Dương Tố. Chức “Giao Châu đạo hành quân tổng quản” cho thấy… Giao Châu đã là đất của nhà Tùy. Có vậy mới có đạo quân Giao Châu. Cũng tương tự sau đó Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp ở phía Nam được phong chức “Hoan Châu đạo hành quân tổng quản” thì Hoan Châu là đất nhà Tùy chứ không phải đất Lâm Ấp.
Giao Châu đã là đất của nhà Tùy từ lâu, năm 601 Tùy Văn Đế đã cho dựng tháp nhập xá lợi ở chùa Pháp Vân. Vậy Giao Châu đạo hành quân tổng quản Lưu Phương “hành quân” đi đánh Hậu Lý Nam Đế ở đâu? Chắc hẳn là ở Phong Châu, nơi Hậu Lý Nam Đế đóng đô như Đại Việt sử ký toàn thư chú.
Có thể thấy thời đó miền Bắc Việt được chia làm 2 vùng. Giao Châu là phần phía Đông, trị sở ở Long Biên, do thứ sử Lưu Phương cai quản, thuộc đất nhà Tùy. Còn Phong Châu không chỉ là vùng Phú Thọ mà là cả vùng đất Tây Bắc ngày nay. Đây là đất của con cháu nhà họ Lý, được truyền thuyết gọi là Lý Bát Lang (vua đời thứ tám?), người đã chống cự với quân Tùy, cùng với Lý Phổ Đỉnh ở thành Ô Diên Hạ Mụ. Ranh giới giữa Giao Châu và Phong Châu lúc đó là bãi Quân Thần, ở Từ Liêm – Hà Nội ngày nay, nơi Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương đặt mốc giới Tây Đông theo truyền thuyết.
Di tích về Lý Bát Lang nay còn gặp ở một số nơi thuộc xứ Đoài như ở Chu Quyến (Ba Vì), Hạ Mỗ, hay Ngọc Mạch (Từ Liêm).

cong-den
Đền thờ Lý Bát Lang ở Chu Quyến (Ba Vì)

Ở phía Nam Lưu Phương được Tùy Văn Đế phong làm Hoan Châu đạo hành quân tổng quản, tấn công Lâm Ấp năm 605. Khi dẫn quân đến Tỷ Cảnh (Hoan Châu) thì Cao Tổ băng hà, Dạng Đế lên ngôi… (Tùy thư, Liệt truyện 18 Lưu Phương).
Như vậy đất Tùy Văn Đế phía Nam đã đến dãy Hoành Sơn, tới châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hai Âm).
Vị tướng tài Lưu Phương, thứ sử Giao Châu, người đã dụ hàng con cháu Lý Nam Đế ở Phong Châu và tiến đánh Phạm Phạn Chí của Lâm Ấp thắng lợi, sau đó bị bệnh mất trên đường trở về.
Dưới thời Tùy Văn Đế ở Giao Châu có đủ cả nhân chứng (thứ sử Lưu Phương, sư Pháp Hiền), vật chứng (bia Xá lợi tháp minh, chùa Dâu) để chứng tỏ vùng đất này đã nằm trong nhà Tùy từ thời trước. Sử sách về nhà Tiền Lý, rồi Lâm Ấp rõ ràng cần phải xem xét lại hoàn toàn trước những minh chứng lịch sử mới được “khai quật” như vậy.

Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ

Theo chính sử thì vị vua xưng đế đầu tiên của nước ta là Lý Nam Đế, có tên thật là Lý Bôn, người phủ Long Hưng – Thái Bình. Năm 541 Lý Bôn khởi nghĩa đánh đuổi thứ sử Giao Châu của nhà Lương là Tiêu Tư, giải phóng nước ta sau mấy trăm năm Bắc thuộc. Năm 544 Lý Bôn xưng là Nam Việt Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Biên…

Một cuộc khởi nghĩa toàn thắng, mạnh mẽ như rồng bay lên (Long Hưng). Một triều đại mang tên thật hùng tráng – Vạn Xuân. Nhưng những câu hỏi về triều đại này đặt ra lại thật quá nhiều…

Quê Lý Bôn là ở đâu?
Người bảo Thái Bình là tỉnh Thái Bình ngày nay. Người bảo đó là ở Hà Tây nơi có nhiều đền thờ Lý Nam Đế. Sau một số nghiên cứu và hội thảo các nhà sử học nước ta nay xác định … quê của Tiền Lý Nam Đế là ở thôn Cổ Pháp tận Thái Nguyên. Lý Bôn hồi nhỏ có theo Phổ Tổ thiền sư đi tu …

Đọc những thông tin trên thật không hiểu đang nói đến Lý Bôn hay … Lý Công Uẩn nữa. Cũng là ở sinh ở Cổ Pháp, đi tu ở chùa. Cũng là rồng bay lên (Long Biên – Long Hưng – Thăng Long)…

Lý Nam Đế, rồi Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử là ở thời nào? Bia cổ thời Tùy Cao Đế mới phát hiện ở Luy Lâu (Bắc Ninh) cho thấy, vào thời gian cuối thế kỷ VI chẳng có triều đại Lý nào đóng đô ở Long Biên hết…

Lần theo những dấu tích trong dân gian để giải mã “truyền thuyết” nhà Tiền Lý.

Den Vua Cha
Đền thờ Lý Nam Đế ở Vân Cát – Kim Thái – Vụ Bản – Nam Định

Một trong những nơi thờ Lý Nam Đế là ở khu vực Phủ Giầy – Nam Định. Đền Lý Nam Đế gọi là đền Đức Vua Cha, nằm cạnh Phủ Vân Cát (nơi sinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh). Có lẽ cũng may mắn nhờ vì nằm ở khu vực tín ngưỡng dân gian sâu sắc như Phủ Giầy mà ngôi đền này còn lưu được một số tư liệu quí về Lý Bôn tới nay.

Đôi câu đối thứ nhất ở đền Lý Bôn tại Vân Cát:
Hưng Vương vĩ lược cao* thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân.

(* Một số tài liệu chép vế đầu là “lưu thiên cổ”, nhưng không đúng với thực tế câu đối treo ở đền này, cũng như nếu dùng chữ “lưu” sẽ bị lặp ý với chữ “ký” ở dưới).

Câu đối có dòng lạc khoản ghi “Kiến Phúc nguyên niên”, tức là làm vào năm 1883 dưới triều vua Nguyễn Phúc Ưng Đăng.

Cái tên Hưng Vương của Lý Bôn không phải chỉ nhắc đến một lần. Một câu đối khác cũng ở Vân Cát:
Tiền Phật Tử nhi hưng sơn hà nhất thống
Tự Vạn Xuân dĩ hậu hương hỏa ức niên.

Dịch:
Từ Vạn Xuân về sau, vạn năm hương khói
Trước Phật Tử hưng nghiệp, thống nhất núi sông.

Khu vực Phủ Giầy trước đây thuộc phủ Nghĩa Hưng. Cũng như các nơi thờ Lý Bôn ở Thái Bình nằm trên đất Hưng Hà, giáp Hưng Yên. Đại Nam quốc sử diễn ca thì ghi:

Cỏ cây chan chứa bụi trần
Thái Bình mới có Lý Phần Hưng vương.

Đoạn khác:

Vạn Xuân mới đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên
Lịch đồ vừa mới kỷ niên
Hưng Vương khí tượng cũng nên một đời

Lại một lần nữa gọi danh hiệu của Lý Nam Đế là Hưng Vương.

Thần tích Quán Giang ở Hoài Đức thì gọi thẳng luôn tên chữ của Lý Bôn là Cử Long Hưng. Với từng đó bằng chứng thì không còn nghi ngờ gì nữa, Lý Bôn đã từng được gọi là Hưng Vương hay Lang Hưng.

Chữ “Hưng” này là điểm quan trọng khi xác nhận Lý Bôn chính là Hùng Trịnh Hưng Đức Lang trong Hùng triều ngọc phả ở Đền Hùng Phú Thọ. Hưng Vương Lý Bôn cũng là Lưu Bang Hán Cao, người mở đầu triều Hiếu của Trung Hoa. Hưng = Hơn, đổi thành Hớn, Hán. Lưu Bang là người thắng Hạng Vũ trong cuộc chiến Hán – Sở, Hưng – Suy tranh hùng nên được gọi là Hưng Vương.

Lưu Bang – Lý Bôn theo Hoa sử là người đất Phong, khởi nghĩa chống Tần những năm trước Công nguyên ở đất Bái, có tên là Bái Công. Đối chiếu với địa danh Việt thì đất Phong là vùng Phong Châu, là xứ Đoài, nơi nay có nhiều đền thờ Lý Bôn (từ Hà Tây sang Vĩnh Phúc, Thái Nguyên). Còn đất Bái nơi Lưu Bang “hưng” nghiệp là vùng Nghĩa Hưng – Long Hưng – Hưng Hà – Hưng Yên, tức là vùng Thái Bình – Nam Định – Hưng Yên ngày nay.

Theo sử Việt thì Lý Bôn là người Thái Bình. Thái Bình viết lại là Bình Thái, thiết Bái. Như vậy quê Thái Bình trong sử sách của Lý Bôn chính là
đất Bái nơi Lưu Bang khởi nghĩa. Lý Bôn người Thái Bình là Bái Công khởi nghĩa chống Tần.
Phạm Sư Mạnh trong bài Hành quận có xưng: “Lũng lại tranh nghênh sứ Bái qua”. Phạm Sư Mạnh là người Kinh Môn – Hải Dương. Đất Thái Bình – Bái này là vùng đồng bằng sông Hồng ven biển thì đúng hơn là ở Vân Nam.
Xứ Bái cũng có thể là quê của Lữ Hậu, nơi có Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm (Thái Bình) và Lữ Gia tể tướng lui về chết ở Thiên Bản (Nam Định).
Thái Bình đọc lái là Bái đình. Lưu Bang là Đình trưởng đất Bái khi khởi nghĩa chống Tần.
—-

Cổ sử Việt có nhiều chuyện chép lẫn lộn những sự kiện cách nhau cả ngàn năm vào trong một. Như trong truyền thuyết họ Hồng Bàng thì Cha Lạc Long ra biển khai mở Hoa Hạ vào 4000 năm trước lại chép cùng chuyện Mẹ Âu Cơ Lang Xương đánh Sùng Lãm lập nước Văn Lang ở Phong Châu của 1000 năm sau đó. Rồi chuyện Thục Phán thay Hùng Vương lập nước Âu Lạc vào đầu thời Chu, cách thời điểm Tần Triệu diệt nhà Chu – Thục của An Dương Vương cũng có trên 800 năm. Nay tới chuyện Lý Bôn – Lý Công Uẩn, cách nhau tới hơn 1200 năm. Thế mới biết sự nhiễu loạn, nhầm lẫn trong sử Việt tới mức nào.

Câu đối ở làng Vân Cát về Lý Nam Đế:
Hiệu kiến Vạn Xuân khai chính thống
Tử thành thập bát ứng đồ thư.

Dịch:
Lập nước Vạn Xuân mở ra nền chính thống
Thành người họ Lý ứng nghiệm địa đồ thư.

Tử thành thập bát” là chiết tự của chữ Lý 李 , họ của Lý Nam Đế. Chiết tự dạng này được biết nhiều trong bài sấm trên cây gạo về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn ở Cổ Pháp:
Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung kiến nhật…

Bài trước đã cho biết Lý Nam Đế còn được gọi là Hưng Vương hay Lang Hưng. Còn Thiên Nam ngữ lục thì chép Lý Công Uẩn khi lên ngôi đã đổi tên nước thành Hưng Quốc:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng quốc, đề phong trong ngoài.

Lý Bôn và Lý Công Uẩn có gì quan hệ với nhau mà truyền thuyết nhà Tiền và Hậu Lý lại lẫn lộn đến như vậy?

Vào thời Ngũ đại thập quốc năm 930 Lưu Cung đánh Khúc Thừa Mỹ ở Giao Châu, thống nhất 2 miền Tĩnh Hải và Thanh Hải vào nước Đại Việt gồm Việt Đông, Việt Tây và … Việt Nam (Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt ngày nay).
Sau đó năm 947 (theo Trần Trọng Kim) Lưu Cung nhận mình là dòng dõi của Lưu Bang nên đổi tên nước thành Đại Hán, sử Tàu chép là Nam Hán để phân biệt với Bắc Hán của Lưu Sùng. Sự thực thì Hán Cao Tổ Lưu Bang là Hưng Vương Lý Bôn nên Lưu Cung phải mang họ Lý – Lý Cung và tên nước phải là Đại Hưng, chứ không phải Đại Hán. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo cũng như Hưng Vương phủ ở Quảng Đông đã xác nhận tên nước Đại Hưng ở thời kỳ này.

Chính vì sự kiện “cải nguyên Hưng quốc”, nối tiếp quốc thống của Hưng Vương Lý Bôn, mà truyền thuyết thời Tiền Lý đã có những chi tiết chép lẫn lộn giữa Lý Bôn và Lý Cung.

Câu đối tiếp theo ở đền Vân Cát – Nam Định:

Phá Lâm Ấp trục Tiêu Tư, phục viễn linh thanh, Đinh Lý ngật kim hô hách trạc
Hiệu Vạn Xuân tự Thiên Đức, hưng vương chế độ, Lạc Hồng tự cổ dĩ văn minh.

Dịch:
Phá Lâm Ấp đuổi Tiêu Tư, tiếng linh truyền xa, Đinh Lý tới nay ngời rạng tỏ
Hiệu Vạn Xuân năm Thiên Đức, chế độ hưng vương, Lạc Hồng từ cổ vốn văn minh.

Câu đối này một lần nữa nói tới tên Hưng Vương của Lý Nam Đế, gọi là Hưng vương chế độ.
Đặc biệt trong câu đối trên chỉ thấy nói: từ thời Đinh Lý tới nay tiếng oai linh của Lý Nam Đế còn rạng tỏ. Sau nhà Tiền Lý là nhà Đinh, rồi tới Hậu Lý. Chẳng thấy nhà Tiền Lê của Lê Hoàn ở đâu cả?

Ở vế đối sau cụm từ Lạc Hồng chỉ một thời đại (thời Hùng Vương), nên đối lại cụm từ Đinh Lý ở vế trước cũng là chỉ một thời đại. Đinh Lý không phải là 2 triều đại Đinh và triều Hậu Lý, mà là chỉ một triều đại. Câu đối đã gọi rất chính xác. Đinh Lý nghĩa là triều Lý ở trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, phân biệt với triều Lý của Lưu Cung (Lý Cung) ở Quảng Đông, gồm cả 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải.

Câu đối ở Vân Cát cũng tương tự như câu đối ở Quán Giang – Hoài Đức:
Hồng duy Nam Việt triệu cơ, Lạc Hùng Ngô Thục dĩ tiền, hách trạc tuấn linh, Thiên Đức kỷ nguyên sơ nhất thống
Lịch khảo đế vương thế tự, Đinh Triệu Trần Lê nhi hậu, hỗn hoàng di điển, Vạn Xuân kiến quốc kháng thiên thu.

Đinh Triệu ở đây với nghĩa là Chúa Đinh bộ (Triệu = Chúa), tức là triều đại bắt đầu từ … Đinh Bộ Lĩnh – thủ lĩnh của Đinh bộ.

Hai cụm từ Đinh Triệu Đinh Lý ở 2 câu đối về Lý Nam Đế đã một lần nữa xác nhận giả thuyết về thời Hậu Lý trên đất Tĩnh Hải (Giao Châu). Không có những triều đại Đinh, Lê, Lý riêng biệt ở thời kỳ này mà chỉ có một triều vua Lý duy nhất trên vùng đất Đinh bộ, gọi là Đinh Triệu hay Đinh Lý.

Lý Công Uẩn mở đầu triều Lý chính là Đinh Bộ Lĩnh. Tiếp tới Lê Đại Hành là vua Lý Thái Tông ẩn họ Lê. Hai vị vua Lý đầu tiên đã lấy họ Lê, nhận tước phong Tĩnh Hải tiết độ sứ, Giao Chỉ  quận vương để che mắt nhà Tống. Phải đến vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông mới công khai lấy lại họ Lý chính thức của Hưng Vương Lý Bôn, lấy tên nước riêng là Đại Việt.

Sự lắt léo của thời kỳ lập quốc Đại Việt này đã dẫn đến trong truyền thuyết Việt có chuyện Lý Bôn chép lẫn các sự kiện của nhiều thời đại khác nhau, từ Lưu Bang khởi nghĩa chống Tần ở Phong Bái, tới Lưu Cung lập nước Đại Hưng thời Mạt Đường, sang Lý Công Uẩn làm vua trên đất Tĩnh Hải. Dấu vết của các thời đại này tuy đã bị nhòa theo thời gian và bởi sự tô trát của con người, nhưng đâu đó trong dân gian, chốn đền miếu, cổ tích vẫn còn lưu được những mảnh vỡ của lịch sử. Những mảnh vỡ này chỉ có thể ghép lại được nếu có một nền tảng sử thuyết xuyên suốt thời gian, giúp khôi phục lại hình ảnh lịch sử chân thực ban đầu.

Tranh Ly Bon
Tranh thờ Lý Bôn và hoàng hậu ở Vũ Thư – Thái Bình

Hưng Vương, Hưng Quốc là những danh hiệu, danh quốc huy hoàng trong sử Việt, nay đã bị lãng quên. Nhắc lại những cái tên này có khi lại bị quy là “phản động”, đòi “phục hưng” chế độ. Nhưng chuyện Cha, chuyện Mẹ, chuyện tổ tiên nòi giống, thấy mà không nói thì cũng  chẳng thể nào ăn ngon ngủ yên được.
Đúng là:

Nước còn sử mất ngẩn ngơ
Con Hồng cháu Lạc bao giờ lại Hưng?

Lan man chuyện quả bầu và mẹ Âu Cơ

Đi qua vùng Suối Giàng ở Yên Bái bắt gặp các cửa hàng chế tác đá tự nhiên. Khu vực Yên Bái có tiếng nhiều đá vân đẹp nguyên gốc lấy từ núi Hoàng Liên về. Trong số các đồ làm ở đây có loại quả bầu đá phong thủy, rất ít gặp ở các nơi khác. Không giống như bầu hồ lô mang nặng mùi Đạo Lão, quả bầu đá ở Nghĩa Lộ được làm đơn giản, rất dân dã, trông giống như quả bí ngô mọc trên nóc nhà của người dân tộc ở khu vực này.

Chẳng thấy sách nào cho biết quả bầu bí dạng này thì có nghĩa phong thủy là gì nên đành tự nhận xét. Với hình dạng đầy đặn, lại có màu xanh ngả vàng thì có thể hiểu quả “bầu bĩnh” này có thể giúp mang lại sự giàu sang, phú quí, nhiều vàng bạc cho chủ nhà.

Một cách hiểu khác quả bầu hay “bào” là hình tượng của người mẹ. Người Việt ai mà không biết chuyện mẹ Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra trăm trai Bách Việt. Vì thế người Việt gọi nhau là “đồng bào”, tức là cùng một bầu mà ra. Còn có từ “bầu đoàn” có lẽ cũng với nghĩa những người sinh từ cùng một mẹ, một bầu, một bào hay một bọc mà ra.

Về thăm đền thờ quốc mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương – Hạ Hòa – Phú Thọ gặp câu đối tại chính điện thờ:
溯鴻厖締結以來仙種永傳留國祖
歷家郡肇修而後人群緬墓播炎邦
Tố hồng mang/ đế kết dĩ lai/ tiên chủng vĩnh truyền lưu Quốc tổ
Lịch cô quận/ triệu tu nhi hậu/ nhân quần miễn mộ bá Viêm bang.

Diễn dịch lại nghĩa:
Nhớ thủa hồng mang gắn bó tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ
Trải đất cô quận dựng sửa sau này, bầu dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.

Theo thần tích đền Hiền Lương thì nàng Âu Cơ là con của Ngọc Nương phu nhân quê ở động Lăng Xương… Lăng Xương đọc khác là Lang Xương, hay vua Xương. Âu Cơ ở Lang Xương tức là… Cơ Xương. Cơ Xương chính là tên của Chu Văn Vương, người khởi đầu nhà Chu trong Hoa sử.

Âu Cơ lấy Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm … Cơ Xương đánh Sùng Hầu Hổ của nước Sùng, khởi đầu cơ nghiệp nhà Chu… Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi dựng nước Văn Lang ở đất Phong Châu… Cơ Xương lập đô ở đất Phong, được gọi là Chu Văn Vương… So sánh 2 dòng sử Hoa – Việt thì thấy rõ mẹ Âu Cơ chính là Cơ Xương Chu Văn Vương, dân gian gọi là Lang Văn hay Lang Xương.

Âu Cơ nòi tiên bởi vì tiên là số 1, con số chỉ phương Bắc và màu đen. Màu đen hay màu ô = Âu. Gọi là Âu bởi vì Cơ Xương là Tây Bá hầu của nhà Thương ở đất Quảng Tây, nằm ở hướng Bắc của Lạc Việt. Mẹ Âu Cơ lấy cha Lạc Long lập ra nước Văn Lang. Đây cũng là truyền thuyết An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu – Lạc, thống nhất 2 tộc người Âu ở Quảng Tây – Vân Nam và người Lạc ở Giao Chỉ. Văn Lang và Âu Lạc là 2 tên của cùng một nước, gọi theo tên vị vua khai sáng hoặc theo các tộc người mà thôi.

Xã Hiền Lương ở Hạ Hòa – Phú Thọ, tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ bay về trời, rất có thể là nơi mất của Chu Văn Vương. Hạ Hòa tên cũ là Hạ Hoa, không biết có phải chỉ thiên tử của Trung Hoa xưa không.

Den mau
Đền mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương – Hạ Hòa – Phú Thọ

Mẹ Âu Cơ sinh bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, là tổ tiên của Bách Việt. Người “sinh” Bách Việt này là Cơ Phát, con của Cơ Xương. Sau khi Cơ Xương mất Cơ Phát kêu gọi các chư hầu nổi lên diệt Ân Trụ Vương. Trong truyền tích Việt còn ghi lại cuộc chiến này cuộc chiến chống giặc Ân của Hùng Vương với sự trợ giúp của Thánh Gióng:

Nhớ xưa đang thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài…

Vũ Ninh hay vua Ninh, Ninh Vương là tên của Cơ Phát trước khi lên ngôi.

Cơ Phát sau khi thắng giặc Ân về núi Nghĩa Lĩnh đất Phong Châu, nơi Lang Văn Cơ Xương định đô trước đó, lập cột đá thề với tổ tiên, rồi lên ngôi thiên tử của Trung Hoa, xưng là Chu Vũ Vương, truy phong cho cha mình là Chu Văn Vương, bắt đầu vương triều Chu của Trung Hoa kéo dài gần 1000 năm.

Cũng ở núi Nghĩa Lĩnh, Vũ Vương đã phân phong cho các công thần đất đai ở các nơi. Các đất phong này về sau thành các nước chư hầu của nhà Chu, là các chi Việt khác nhau trong đại tộc Việt ban đầu. Đây chính là sự kiện sinh bọc đồng bào trăm trứng của mẹ Âu Cơ, được truyền là tại đền Hạ của khu di tích đền Hùng.

Hai đại công thần khai quốc của Chu Vũ Vương là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích. Chu Công Đán là em của Chu Vũ Vương, được phong ở đất Lỗ. Thiệu Công Thích cũng là người cùng họ Cơ, được phong ở đất Yên. Thực ấp của hai vị này là Lào Cai (Lão Cai – Lỗ Cai) và Yên Bái (Yên Bá). Đây là 2 vùng đất trong Quốc phong của Kinh Thi gọi là Chu Nam và Thiệu Nam.

Đất Phong Châu – Vĩnh Phú xưa thuộc lộ Tam Giang, là nơi ba con sông lớn gặp nhau. Sông Đà chảy qua Hòa Bình. Sông Thao chạy dọc Lào Cai, Yên Bái. Sông Lô đổ vào nước ta ở Hà Giang. Cảnh đẹp sông núi trời đất dọc 3 con sông này đúng như câu thơ của Phạm Sư Mạnh:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng

Dịch là:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang


Hà Giang, Hòa Bình, Yên Bái tụ về linh địa Vĩnh Phú. Lô Giang, Thao Giang, Đà Giang hợp lưu ở Việt Trì. Việt Trì nghĩa là Bách Việt mãi vững bền…

Bảo tồn và bảo tàng

Bảo tồn là bảo vệ, gìn giữ và phát huy nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của tự nhiên. Bảo tàng là công việc tương tự nhưng là gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, vật chất đã được con người tạo ra. Hai công việc này rất giống nhau và đòi hỏi người làm cũng phải có những tư chất giống nhau.

“Tư chất” đầu tiên đối với những người làm bảo tồn cũng như bảo tàng là … phải hơi “không bình thường” một chút. Người “bình thường” chẳng ai bỏ công bỏ sức bỏ thời gian để lặn lội vào chốn rừng sâu núi thẳm chỉ vì mấy con khỉ, con nai hay mấy bông hoa lan, mấy cây thông ở đâu đó trên đỉnh núi. Người bình thường cũng không ai lần mò về các di tích, phế tích, tìm kiếm cổ vật, học những thứ tưởng như vô bổ như chữ Nho, chữ Nôm, làm việc toàn với … người chết, với thần với thánh. Ở cái thời đại kinh tế thị trường, đúng là chỉ có những người “bất thường” mới đi làm công tác bảo tồn, bảo tàng.

Thế nhưng, “phải có cái bất thường thì mới tìm ra được điều mới” – theo phó giám đốc bảo tàng Thái Bình, một người “trong nghề” bảo tàng lâu năm và chắc hẳn cũng là người “không bình thường”. Những người “bất thường” biết tin ở những điều “bất thường”, vì thế mới có thể làm nên những điều lạ thường, những phép màu mà người bình thường không thể làm được.

Có câu chuyện của nhà thơ Bút Tre Đặng Văn Đăng người quê Vĩnh Phú. Ông từng là Trưởng ty văn hóa của tỉnh Vĩnh Phú những năm còn chiến tranh. Cái biệt danh Bút Tre cũng đủ cho thấy ông là một người “kỳ quặc”. Câu thơ sau của ông tặng cho một cán bộ khi chuyển công tác về làm bảo tàng, viết đúng chất Bút Tre:
Chú về công tác bảo tàng
Cũng là công việc cách màng (mạng) giao cho.
Thể loại thơ Bút Tre “nổi tiếng” đã lâu nhưng ít ai biết chính nhà thơ Bút Tre ấy là người đã đóng góp to lớn trong việc khởi đầu các phát hiện và xác nhận sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương qua các nền văn hóa khảo cổ Sơn Vi rồi Phùng Nguyên, Gò Mun trên quê hương Vĩnh Phú. Về việc thờ các vua Hùng ông viết: “Cần phải xây dựng sự sùng bái tổ tiên bằng một khoa học (dịch lý) một thời đại (tính chất) với những con người hiện thực…”. Một phát biểu quá chính xác và còn đầy ý nghĩa đối với ngày nay. Cần nhìn tín ngưỡng dân gian dưới góc độ của khoa học phương Đông với tính chất thời đại ngày nay.

Tôi đã và đang làm công tác bảo tồn thiên nhiên, tính ra thâm niên đã gần hai chục năm. Nhớ hồi trước đây tuy chỉ là một người mới vào nghề nhưng nhờ cái “chẳng giống ai” của mình mà đã đứng tên nối danh với các cây đa cây đề của ngành thực vật khi viết sách về các loài tùng loài bách Việt Nam. Cái tên Bách Việt cũng nảy sinh từ đó.

Nay lại lần mò trong cổ sử để làm công tác “bảo tàng”. Đây không phải là sự hoài cổ, giữ cổ, mà là tìm vốn cổ để soi sáng cho đời nay. Để nối nguồn với tiên tổ, dựa vào phúc ấm của cha ông mà có thể vươn mình lớn nhanh như Phù Đổng, không chỉ cho mình mà cho cả đồng bào.

Sự “bất thường” tất nhiên chưa phải là tư chất duy nhất cần thiết cho những người làm bảo tồn – bảo tàng. Sử học thật sự cần có một “sử quan” rộng lớn, một “sử pháp” hiệu quả và cần nguồn “sử liệu” phong phú thì mới có thể nhìn nhận lại quá khứ một cách đúng đắn. Người biết sử có thể thấy chuyện cả ngàn năm trước một cách rõ ràng, gạt được bức màn hư ảo của thời gian và nhân gian, thì đó là lúc đã hóa thành “thần tiên”.

Những người làm bảo tồn, bảo tàng tiên phong như đi trên con đường “độc đạo”. “Độc đạo” không phải nghĩa là chỉ có một con đường, mà là con đường chưa ai từng đi. Con đường đó tất nhiên rất “độc địa”, người đi trên đó cũng rất “cô độc”.

Nhưng có lẽ không hẳn vậy. Trên con đường mình đi tôi vẫn gặp rất nhiều người có tâm huyết. Một thủ từ đền Đồng Xâm ở tận Kiến Xương – Thái Bình mà luôn sẵn sàng tự lần mò đến tất cả các di tích liên quan tới kỷ nhà Triệu và Lữ Gia ở tận Hà Nội, Sơn Tây hay Vĩnh Phú. Một phó giám đốc bảo tàng Thái Bình tuy mới gặp nhưng thấy cảnh “một người một xe máy” đi mấy trăm cây số chỉ để xem di tích thì đã nhiệt tình đề tặng sách và tỏ lòng giúp đỡ hết mức. Đó chẳng phải là do tổ tiên phù trợ trên con đường về với cội nguồn hay sao? Nghĩ mình ở tận thủ đô, vốn gì cũng là dòng chân truyền của “Có một nền văn hóa Việt Nam” mà lại không bằng những người ở tỉnh lẻ hay sao?

Làm bảo tồn – bảo tàng cần sự bền bỉ. Mang chữ “trùng cửu”, trường cửu trong tên mà không có sự bền bỉ thì sao xứng danh? Và làm bảo tồn – bảo tàng cũng cần một cái tâm luôn sáng. Một khi đã vụ lợi, vụ danh thì không thể nào mà có kết quả chân thực. Cái tên Minh Xuân thật hợp mà không dễ giữ.

Người làm bảo tồn – bảo tàng cần có “cơ” (có nền tảng kiến thức) và có “duyên”. Xem như truyện Kim Dung vậy, không phải cứ “danh môn chính phái” thì là đúng là tốt. Không phải cứ “chính sử” là thật sử. “Võ công cái thế” nhiều khi lại ở những người bản tính chân thực như tờ giấy trắng. Giấy có trắng thì mới có thể ghi được những điều mới lạ mà không bị vẩn đục.

Mỗi khi thấy mệt mỏi trên con đường bảo tồn – bảo tàng này thì lại đọc câu “thần chú” của đình Thổ Hà:
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.
Đông Chu Lão Tử khai Đạo ở Cổ Loa. Truyền nhân Nam Việt biết “ảo hóa” thì sẽ gặp được “thần tiên”. Nguồn khí chất của tiên tổ người Việt thật lớn lao.

Bia cổ nói… tập 2

Trích văn bia “Hòa Phong tháp bi ký” tại chùa Dâu (Thuận Thành – Bắc Ninh), bản dịch in trong cuốn Chùa Dâu – Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng tự của Nguyễn Quang Khải (NXB Tôn giáo, 2011):
Nước Việt ta từ thời Tùy Cao đế, đã dốc tâm nơi Phật đạo, sùng mộ người áo nâu, sai sứ giả đem hòm xá lỵ ủy cho Lệnh sử họ Lưu kén đất Giao Châu xây cất. Khi đó có đại sư Pháp Hiền nói rằng: đây thực là chốn đại thắng danh lam. Bèn xây tháp ở bên trong phụng thờ một hòm xá lỵ để truyền mãi mãi, khiến muôn vạn năm sau, xuân thu bất diệt. Ngày tháng trôi đi, mưa dập gió dồi, rêu phong ngói vỡ, dẫu cũ ít còn.
May gặp ngài Vũ Hà Đoan, tự Huệ tiến, làm quan đến chức Nội trù tiểu thủy các đội Tri đội nhất phiên Thị Nội giám, tước Kiên Thọ hầu, …., xem “Cổ Châu thực lục” mà khâm sùng Tam bảo; xem nền cũ tháp xưa mà cảm khái hoài vọng. Vì thế bèn tu hạnh Bồ đề, phát tâm công đức, bỏ công đón thợ, đổi vàng mua gạch mong cầu phúc quả về sau…
May nhờ chư Phật ban cho trăm phúc, được tiết trời đẹp trời tháng 8 năm Đinh Tỵ (1737) bắt đầu khởi công trùng tu tháp cổ như cũ. Đến ngày tốt tháng 5 năm Mậu Ngọ (1738) thì công trình hoàn thành. Tầng tháp vòi vọi, trên có biển đề “Hòa Phong tháp”, chính là tên tháp vậy…

Thap Hoa Phong

Tháp Hòa Phong và bia tứ diện ở chân tháp

Tấm bia trên lập vào năm 1738 thời vua Lê Ý Tông, cho những thông tin thật lạ. Mở đầu bia ghi rõ ràng: “Nước Việt ta từ thời Tùy Cao Đế…“. Tùy Cao Đế tức là Tùy Văn Đế Dương Kiên, hiệu Cao Tổ, người lập nên nhà Tùy ở Trung Hoa năm 581. Văn bia đã gọi Tùy Cao Đế là vua của nước Việt ta. Triều Tùy của nước Việt ta, gọi chính xác là Việt Tủy, là một triều đại của người Việt.
Thông tin ghi trên tấm bia cổ mới tìm thấy ở Thuận Thành – Bắc Ninh “ghi lại việc Tùy Dạng Đế cho người đưa xá lợi vào bảo tháp được xây dựng trong chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng) thuộc huyện Long Biên đất Giao Châu xưa“. Tác giả bài báo trên đã lẫn giữa Tùy Dạng Đế và Tùy Văn Đế. Bia lập vào thời gian “Đại Tuỳ nhân thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu” là năm 601, là năm dưới triều Tùy Văn Đế Cao Tổ, chứ không phải Tùy Dạng Đế. Tùy Dạng Đế giết cha chiếm ngôi năm 605, sau sự kiện trên vài năm.
Đối chiếu 2 tấm bia thì có thể xác nhận chùa Thiền Chúng nơi Tùy Văn Đế cho nhập xá lỵ và xây tháp chính là chùa Dâu ngày nay. Tháp Hòa Phong cuối thời Lê đã được xây trên “nền cũ tháp xưa” của thời Tùy. Trong Cổ Châu Phật bản hạnh, văn bản khắc Nôm năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752) hiện còn lưu tại chùa Dâu cũng ghi rõ sự kiện này:

Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao đế niên gian
Năm hòm xá lỵ Bụt quan
Giữa huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ
Cao dự nghìn trượng khỏe phò thánh cung.

Chùa Dâu – Luy Lâu là trung tâm Phật giáo cổ nhất của phương Đông, còn trước cả các trung tâm ở Kiến Nghiệp hay Lạc Dương. Trong Thiền uyển tập anh có dẫn lời pháp sư Đàm Thiên khi vị pháp sư này đàm đạo với vua Tùy Cao Tổ:
Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới 20 ngôi bảo tháp, độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 quyển kinh rồi“.
Hẳn là cuộc đàm đạo trên với pháp sư Đàm Thiên đã dẫn đến việc vua Tùy Cao Tổ cho nhập xá lỵ Phật vào Giao Châu và xây bảo tháp ở Luy Lâu. Năm 601 cũng là năm Tùy Văn Đế đổi niên hiệu từ Khai Hoàng thành Nhân Thọ, từ tên là người sáng lập triều đại sang quan tâm đến nhân mệnh của mình, chắc hẳn lòng đã hướng về Phật, cho nhập xá lỵ về đất tổ người Việt ở Giao Châu cũng hợp lý.
Vấn đề rắc rối là theo Việt sử thì từ khi Lý Bôn khởi nghĩa, đánh đuổi Tiêu Tư, lập nước Vạn Xuân năm 544 tới năm 602 Lý Phật Tử bị Tùy quân Lưu Phương thu phục, nước ta gần 60 năm độc lập, đô đóng ở Long Biên, tức là Luy Lâu. Vậy làm thế nào mà Tùy Cao Tổ có thể “đàm thiên luận địa” về Phật pháp ở vùng Giao Châu, lại còn cho nhập xá lỵ vào chùa Dâu, là nơi kinh đô của nhà nước Vạn Xuân năm 601???
Những tấm bia cổ đã cho một sự thật sáng tỏ. Giao Châu thời Tùy Cao Tổ đã từ lâu nằm trong đất của nhà Tùy hay triều Việt Tủy. Những cuộc đụng độ giữa nhà Lương, Trần Bá Tiên với Tiền Lý Nam Đế, rồi Tùy quân Lưu Phương với Hậu Lý Nam Đế thực ra là đụng độ với… quân Lâm Ấp. Hoa sử vốn chẳng có sách nào ghi nhận sự có mặt của Tiền, Hậu Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương ở thời kỳ này cả. Còn sử Lâm Ấp ghi “Dưới thời Phạm Phạn Chi, năm 598, nhà Tùy chiếm đóng Lâm Ấp và phân chia thành ba châu: châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hai Âm) và châu Trong (Khương)“. Năm 598 ở Giao Châu theo chính sử đang là nước của Lý Phật Tử, nhà Tùy đi đằng nào mà chiếm đóng 3 châu của Lâm Ấp ở miền Trung Việt?
Luy Lâu – Long Biên là đất kinh đô từ thời Sĩ Vương. Câu đối ở đền Sĩ Vương tại Tam Á:
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì / bỉ hà thì thử hà thì / an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích / trị diệc tiến loạn diệc tiến / tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Tạm dịch:
Với tấm lòng trung nghĩa công thần, lúc này cũng như lúc khác, sáu trăm năm đức khoan dung để lại giúp dựng cơ đồ Lâm Ấp.
Nhờ sự nghiệp văn hóa khoa cử cũ, thời bình cũng như thời loạn, bốn mươi thu qui củ chính sách làm rạng tỏ Giao Châu.
Từ thời Sĩ Vương tới Tùy Văn Đế khu vực chùa Dâu – Luy Lâu này luôn có sự kết nối với Lâm Ấp. Thời “Tiền Lý” nước ta thực ra bắt đầu từ Khu Liên – Lưu Bị khởi dựng nước Nam – Lâm Ấp, truyền tới tận 600 năm sau mới khép lại dưới thời nhà Tùy.

Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi

Cây có cội, người có tông. Những gì của ngày hôm nay bắt đầu từ ngày hôm qua. Con cháu được no ấm là nhờ phúc đức của tổ tiên. Việc tìm hiểu, nhìn nhận lại cội gốc của mình là việc mà mỗi người không thể không làm.

Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An nổi tiếng bởi đã sản sinh ra 3 thế hệ lãnh tụ của đất nước. Từ Hồ Quí Ly, Hồ Thơm đến Hồ Chí Minh đều là những nhà cải cách, nhà chính trị quân sự kiệt xuất. Tính cách và nhân cách đó còn truyền tới thế hệ con cháu sau này.

Cái gốc của họ Hồ Quỳnh Đôi bắt đầu từ nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Theo Hồ tông thế phả thì vào “thời ngũ đại, triều Hậu Hán (947 – 951) đời Hán Ẩn Đế (948 – 951) Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, dòng dõi nhà nho thuộc dân Bách Việt ở Chiết Giang, nhận chức thái thú Châu Diễn”.

Thông tin trên về nguyên tổ Hồ Hưng Dật có nhiều điều khó hiểu.
–    Hồ Hưng Dật người Chiết Giang (hoặc Phúc Kiến) vào thời Ngũ đại thập quốc. Khu vực này khi đó thuộc đất Ngô Việt, là một quốc gia riêng. Người Ngô Việt thì rõ ràng là dân Bách Việt. Vậy làm sao ông Hồ Hưng Dật có thể đi thi đậu Trạng nguyên nhà Hậu Hán của người Sa Đà được? Nhà Hậu Hán kéo dài chỉ có 4 năm tất cả, gồm 2 đời vua đều ngắn ngủi, lúc đó còn đang mải đánh nhau, ổn định vương vị chưa xong, nói gì đến chuyện tổ chức thi cử qui mô quốc gia, có cả người nước khác đến dự thi.
–    Chuyện lạ thứ hai là Trạng nguyên nhà Hậu Hán sao lại sang nước Nam làm thái thú một châu lớn? Theo chính sử Việt thì nước ta đã dành độc lập từ thời Ngô Vương Quyền năm 938, sao tới tận những năm 950 vẫn có người nhà Hán sang làm thái thú nước ta?

Tiếp đến lại có một số tài liệu chép rằng Hồ Hưng Dật đã giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (khoảng năm 965 – 967). Điều này lại càng khó hiểu vì loạn 12 sứ quân theo sử sách chỉ xảy ra ở miền Bắc, tới Ái Châu (Thanh Hóa) là cùng, làm sao lại vào tới tận Châu Diễn?

Xin đưa ra một giả thuyết khác về nguồn gốc và sự nghiệp của nguyên tổ Hồ Hưng Dật trên cơ sở những nhìn nhận mới đối với giai đoạn lịch sử bản lề này của nước ta.

Chuông cổ Nhật Tảo, quả chuông đồng cổ nhất còn lưu giữ được ở nước ta, có bài minh chép:
Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn, thời Càn Hòa lục niên Mậu Thân tuế, tứ nguyệt, nhị thập cửu nhật (thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ, ngày 29/4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ sáu).
Tìm hiểu trong sử liệu các triều đại Việt Nam thì không hề có niên hiệu Càn Hòa. Niên hiệu Càn Hòa là thuộc về vua nước Nam Hán Lưu Thịnh, đóng đô ở Quảng Châu trong thời Ngũ đại thập quốc ở Trung Quốc. Càn Hòa thứ sáu là năm 948.

Theo thông tin trên thì cùng thời gian Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thì nước ta còn đang thuộc về Nam Hán Lưu Thịnh. Giao Chỉ vẫn còn đang là huyện chứ không phải thủ đô. Như vậy có thể thấy việc Hồ Hưng Dật đỗ Trạng nguyên và làm Thái thú Châu Diễn là xảy ra dưới triều Hán ở Quảng Châu, chứ không phải Hậu Hán Sa Đà.

Nam Hán thành lập từ Lưu Cung, lúc đầu lập quốc gọi là Đại Việt, sau đó mới đổi sang thành Hán. Tên Nam Hán chỉ là cách gọi của các sử gia sau này để phân biệt với Bắc Hán. Tên chính xác của nước này là Đại Hưng, như trong đồng tiền Đại Hưng bình bảo tìm thấy ở nước ta. Đây là quốc gia của người Việt chính cống.

Năm 924 Nam Hán đế ban đầu cải danh thành Trắc (陟). Nhưng chỉ một năm sau, nhân “rồng trắng hiện lên” nên đổi niên hiệu thành Bạch Long và cải danh lại thành Cung (龔).

Chi tiết này khá giống với việc Lý Công Uẩn khi dời đô thấy rồng bay lên. Một số tài liệu chép Lý Công Uẩn người gốc Mân. Rất có thể người gốc Mân ở đây chính là Lưu (Lý) Cung, người lập nước Đại Việt dưới thời Ngũ đại. Vì Lý Cung người gốc Mân nên Hồ Hưng Dật, người Phúc Kiến – Chiết Giang hoàn toàn có thể đi thi ở nước Đại Việt – Đại Hưng.

Nước Đại Việt – Đại Hưng tồn tại từ thời Lưu Cung tới Lưu Sưởng kéo dài 54 năm. Trong thời gian này chắc chắn đã có tổ chức thi cử theo chế độ của nhà Đường trước đó. Một trong những Trạng nguyên của nước Đại Hưng này là Tống Trân huyện Phù Hoa. Vì thế Hồ Hưng Dật, người gốc Mân hoàn toàn có thể là một Trạng nguyên khác của nước Nam Hán – Đại Hưng. Không biết có sự trùng hợp hay không nhưng trang Bào Đột ở Quỳnh Lưu nơi Hồ Hưng Dật lui về lập ấp thuộc giáp cũng tên là Phù Hoa.

Câu chuyện Hồ Hưng Dật dưới thời Càn Hòa đỗ Trạng nguyên nhà Nam Hán (Đại Hưng) và sang làm Thái thú Châu Diễn cho thấy mãi tới năm 950 nước ta vẫn đang thuộc Nam Hán (Đại Hưng). Cuộc chiến dành độc lập của Ngô Quyền như vậy không phải xảy ra năm 938 như sử vẫn chép.

Tới đây thì chuyện Hồ Hưng Dật giúp Đinh Bộ Lĩnh cũng được sáng tỏ. Đinh Bộ Lĩnh nghĩa là Thủ lĩnh của Đinh Bộ hay Tĩnh Hải tiết độ sứ, chính là vị vua Lý đầu tiên – Lý Công Uẩn. Khi triều đình Lưu (Lý) Sưởng ở Quảng Châu suy đồi, ông Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh đã đưa thủ lĩnh phần Tĩnh Hải (phần phía Tây của nước Đại Hưng) là Lý Công Uẩn lên ngôi. Hồ Hưng Dật là Thái thú Châu Diễn, thuộc Đinh Bộ nên việc ông giúp Đinh Bộ Lĩnh – Lý Công Uẩn “dẹp loạn” là hiển nhiên. Họ Hồ hẳn là một công thần lập quốc nên sau đó mới có chuyện một “tuấn kiệt” nhà họ Hồ đã lấy công chúa Lý Nguyệt Đích sinh ra công chúa Hồ Nguyệt Đoan như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại.

Thanh nha Ho
Một góc cổng thành nhà Hồ

Khảo cổ Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa phát hiện một số viên gạch có chữ Giang Tây quân, cho thấy khu vực này đã từng lại một căn cứ quân sự – chính trị từ thời Tĩnh Hải (Giang Tây = Tĩnh Hải), tức là giai đoạn Cao Vương Biền dẹp Nam Chiếu ở Thanh Nghệ tới khi Đại Việt của Lý Thánh Tông ra đời.

Đền thờ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi do Hồ Hán Thương vâng lệnh Thái thượng hoàng Hồ Quí Lý xây cất có câu đối:
Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích
Bào Sảo giang sơn vạn đại từ.

Chữ “Trần Ngu” ở đây có thể không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Đại Ngu). Đền vua Hồ thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ?
Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quí Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thư gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt.

Dịch lại câu đối trên:
Tích nghìn năm Ngu Hồ trải lịch
Đền vạn thế Bào Sảo non sông.

Câu đối khác ở Đền vua Hồ ở Quỳnh Lưu:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.

Cổ 古 nguyệt 月 là chiết tự của họ Hồ 胡 .

Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

Vế trên nói đến dòng máu lãnh tụ của họ Hồ từ Ngu Thuấn, Hồ Quí Ly… Vế dưới nói đến truyền thống thơ văn, lễ nghĩa của dòng tộc có học, có chữ. Con cháu họ Hồ mang trong mình dòng máu của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, khai quốc công thần thời Đinh – Lý nên nhớ 2 vế đối trên ở đền thờ nguyên tổ.

Viết tặng Hồ Vĩnh Phú.

 

Tam phủ công đồng

Tam phủ công đồng là tín ngưỡng phổ biến của người Việt. Điện thờ Tam tòa thánh mẫu có thể gặp ở bất cứ đâu, trong các phủ, các đền, các đình, các chùa… Cùng với tín ngưỡng này là những tục lên đồng, hát chầu văn, đã thành những di sản văn hóa đặc sắc của người Việt. Có thể nói Tam phủ công đồng là Đạo thứ tư của người Việt, sánh cùng Tam giáo Nho Lão Phật. Một tín ngưỡng quan trọng như vậy nhưng tới nay vẫn không rõ nguồn gốc, mọi thứ vẫn còn nằm trong màn sương thần tích thần phả. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ tục tôn thờ nữ thần hay từ “nguyên lý mẹ” người Việt đã nâng tín ngưỡng này lên thành Đạo Mẫu. Nhưng Tam phủ và nhất là Công đồng đâu phải chỉ có các nữ thần thánh mẫu. Nay xin xem xét từng “phủ” trong Tam phủ để tìm về cái gốc của tín ngưỡng này.
Trước hết rõ ràng nhất là Thoải phủ hay Thủy phủ. Người đứng đầu Thủy phủ không ai khác là vua cha Bát Hải Động Đình. Trong bài “Rồng bay biển Bát” đã xác định vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng là Lạc Long Quân ở đất Đào Động – Đào Hoa Trang bên bờ biển Đông.
Vị Mẫu cai quản Thoải phủ là Mẫu Thoải mà theo các thần tích là con vua Động Đình, lấy Kinh Dương Vương hay Kinh Xuyên. Mẫu Thoải là con gái Thần Long Động Đình, trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, tức là mẹ của đức Lạc Long Quân.
Đền Dầm thờ Mẫu Thoải ở thôn Xâm Dương – Ninh Sở (Thường Tín – Hà Nội) chép Mẫu Thoải là “nàng Tiên thứ ba đến chầu Thượng Đế, chẳng may làm vỡ chén ngọc. Thiên triều nghị tội, giáng nàng xuống Thủy cung làm con gái Long Vương. Nàng được gả cho tướng quân Kinh Xuyên…”.
Xâm Dương đổi lại là Dương Xâm, phiên thiết là Dầm. Như vậy tên Xâm Dương chỉ là tên chữ của làng Dầm mà thôi.

Den Dam
Đền Dầm ở Xâm Dương

Đình làng Xâm Dương thờ một vị thần có mỹ hiệu Kiến Quốc Hùng Cơ vào thời Hùng Vương, có công giúp Sơn Tinh đánh Thục. Thần có 4 người con, đều sinh ra từ một bọc trứng. Người con đầu có tên Nhất Vĩnh Đông Hải, người con cuối là Tứ Vĩnh Ninh Giang…
Có thể thấy thần tích đình Xâm Dương cũng giống như thần tích của đền Đồng Bằng hay đền Lảnh Giang, đền Ninh Giang về sự xuất hiện của anh em Vĩnh Công từ một trứng đã giúp vua Hùng đánh Thục. Nhất Vĩnh Đông Hải là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình. Tứ Vĩnh Ninh Giang, Ninh Giang là tên sông Tranh, nơi có đền thờ Quan đệ ngũ tuần Tranh…
Người mẹ của Vĩnh Công trong truyền thuyết đền Đồng Bằng hay đền Lảnh là nàng Quý. Thực ra nàng Quý nghĩa là nàng Ba (trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). “Nàng tiên thứ Ba” chính là Mẫu Thoải, người cai quản phủ Tam (Thủy phủ) như thần tích đền Dầm đã chép. Thôn Xâm Dương có cả đền thờ Mẫu Thoải và thần tích về Vĩnh Công xuất thế, có thể chính là nơi Mẫu Thoải đã sinh ra Lạc Long Quân, vị vua của Động Đình sau này.
Câu đối ở đền Lảnh Giang (Duy Tiên – Hà Nội) nơi thờ Quan lớn đệ Tam:
Tam phủ hiển anh linh do truyền Hồng lĩnh Bắc
Tứ dân triêm huệ trạch viễn chấn Phượng thành Đông.

Dịch:
Tam phủ rõ linh thiêng, còn truyền đất Hồng Bắc
Tứ dân ngấm ân đức, xa vang thành Phượng Đông.

Tam phủ ở đây là Thoải phủ của Quan lớn đệ tam và Mẫu Thoải. Tam hay số Ba (nàng Ba hay nàng Quý) là con số chỉ phương Đông của Hà Thư. Thoải phủ ở phương Đông vì Lạc Long Quân và Mẫu Thoải đều gắn với thủy phủ Bát Hải Động Đình, tức biển Đông.
Hồng Lĩnh Bắc” rõ ràng không phải vùng đất phía Bắc núi Hồng Lĩnh của Nghệ An. Hồng Lĩnh Bắc là đất Đào – Hoa Hạ của Lạc Long Quân mà thôi.
Phượng thành Đông” ở đây chỉ thành Thăng Long. Rất có thể “Phượng thành Đông” là chỉ Đông Đô của dòng tiên phượng Âu Cơ.
Lần tìm tiếp theo thì Nhạc phủ chắc chắn là do Sơn Tinh hay Tản Viên quốc chúa cai quản. Mẫu Thượng Ngàn cũng có liên quan trực tiếp tới Tản Viên. Nếu theo truyền thuyết vùng xứ Đoài thì bà Ma Thị Cao Sơn, mẹ nuôi của ba anh em Nguyễn Tuấn, là Bà chúa thượng ngàn. Ngay cái tên Ma Thị Cao Sơn đã có nghĩa là “Mẹ núi cao”. Bà mẹ nuôi của Tam vị thánh Tản này cũng được thờ là Mẫu Thượng Ngàn ở đền Đợi, nằm gần quần thể đền Đồng Bằng ở Thái Bình.
Theo một số truyền thuyết khác như ở đền Bắc Lệ thì Mẫu Thượng Ngàn là công chúa La Bình, con của Tản Viên Sơn Thánh. Dù là truyền thuyết nào thì rõ ràng Nhạc phủ do dòng Tản Viên Sơn Thánh cai quản.
Nhạc phủ có thể ở phía Nam (xưa) vì núi là quẻ Cấn, chỉ hướng Nam xưa. Tản Viên Sơn Thánh là Kinh Dương Vương, người đã làm vua phương Nam trong truyền thuyết họ Hồng Bàng. Truyền thuyết đền Đồng Bằng cũng bắt đầu với địa danh “trấn Sơn Nam”, thật là đủ cả núi và nom.
Dòng phương Nam của Kinh Dương Vương đã kết hợp với dòng Thần Long Động Đình (Mẫu Thoải) ở phía Đông sinh ra Lạc Long Quân. Rất có thể chuyện Kinh Xuyên bị Thảo Mai dèm pha đuổi Mẫu Thoải ra khỏi nhà ám chỉ một cuộc phân ly nào đó giữa 2 dòng Nam và Đông này của người Việt thủa xưa.
Các vị thần của Thiên phủ khó xác định hơn vì Trời thì ở xa. Xa về thời gian. Thần chủ của Trời thì không ai ngoài Ngọc Hoàng thượng đế. Ngọc Hoàng thượng đế thì như đã biết là Hoàng Đế Hiên Viên của Hoa sử. Ngọc Hoàng không phải là vị thần của Đạo Lão đã chen chân vào tín ngưỡng Tam phủ, mà Ngọc Hoàng là vốn đã là thần chủ chính của Tam phủ.
Ở thôn Bằng Sở (Ninh Sở – Thường Tín – Hà Nội) có là đền thờ đức vua cha, tức Ngọc Hoàng thượng đế.

Ngoc Hoang dai dien

 Hoành phi Ngọc Hoàng đại điện ở Bằng Sở.

Còn vị Mẫu của Thiên phủ là Mẫu Cửu Trùng. Đền thờ Mẫu Cửu Trùng ở ngay cạnh đền Ngọc Hoàng ở Bằng Sở.
Câu đối ở đền Bằng Sở thờ Mẫu Cửu trùng:
Tứ phủ linh thanh, hộ quốc bảo dân thiên hạ mẫu
Cửu trùng trắc giáng, đằng vân giá vũ địa trung tiên.

Dịch:
Tứ phủ linh thiêng, giúp nước cứu dân mẫu nghi thiên hạ
Cửu trùng lên xuống, đi mây về gió vị tiên thế gian.

Mẫu Cửu Trùng (gọi tắt là Mẫu Cửu) cũng là Cửu Thiên Huyền Nữ trong truyền thuyết Trung Hoa, tức là người đã giúp đỡ Hiên Viên Hoàng Đế trong cuộc chiến với Xuy Vưu.
Cửu Thiên cũng giống như Bát Hải, không phải là chín trời tám biển. Cửu là số 9 chỉ hướng Tây trong Hà Thư. Cửu thiên nghĩa  là trời Tây. Cửu Thiên Huyền Nữ là bà Tây Vương Mẫu, vị chúa cai quản các tiên trên trời, vợ của Ngọc Hoàng thượng đế. Trong truyền thuyết Trung Hoa thì Tây Vương Mẫu là tiên chủ vườn Đào ở Diêu Trì. Nay có thể hiểu Tây Vương Mẫu hay Mẫu Cửu là bà Vụ Tiên ở đất Đào tại Giao Trì (Giao Chỉ?).
Bà Vụ Tiên theo Thiên Nam ngữ lục còn có tên là Khương Tiên:

Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.

Khương là tính chất của phương Tây trong Dịch lý. Khương Tiên – Tây Vương Mẫu – Cửu Thiên Huyền Nữ – Mẫu Cửu Trùng rõ ràng là một. Thiên phủ như vậy ở hướng Tây.

Den Mau Cuu

Đền Mẫu Cửu ở Bằng Sở

Còn “công đồng” nghĩa là gì? Công đồng không phải là cùng chung. “Công” ở đây nghĩa là quan, là công. “Công đồng” nghĩa là “tập thể” các quan của Tam phủ. Ban công đồng trong các đền được thờ như một triều đình có vua quan thực sự. Công đồng đọc tắt là “đồng”, trong các từ “lên đồng” hay “chầu đồng”. “Chầu đồng” nghĩa là triều phục các quan chứ không phải là “chầu nhi đồng” (?!) như vẫn giải thích.
Trên nền tảng Dịch học đã cho phép khớp nối các thần chủ trong hệ thống Tam phủ với các nhân vật của thần thoại Trung Hoa và truyền thuyết Việt. Điều này cũng chứng tỏ thêm cội nguồn của Trung Hoa chính là ở Việt Nam. Lịch sử người Hoa Việt thời quốc sơ chính là nguồn gốc làm nên tín ngưỡng Tam phủ dân gian ngày nay.
Truyền thuyết Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái:
Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.
Nay viết lại dưới ngôn ngữ của Tam phủ:
Đế Minh, tức Ngọc Hoàng thượng đế, cháu ba đời Thái Viêm Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên, tức Mẫu Cửu Trùng, rồi trở về, sinh ra Lộc Tục, tức Tản Viên Sơn Thánh. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Ngọc Hoàng thượng đế rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Tản Viên làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở biển Đông, sinh ra Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước, tức vua cha Bát Hải Động Đình, …

Đoạn sử khởi đầu của dân tộc thật đã chép đầy đủ các thần chủ của Tam phủ. Nguồn gốc Tam phủ công đồng nay đã rõ ràng. Lịch sử dân tộc từ xa xưa vẫn còn đang sống trong đức tin của người Việt.

Bốn ngàn năm

Tôi kể chuyện xưa bốn ngàn năm
Biển Đông dậy sóng bước thăng trầm
Cha Rồng xuất thế nơi Đào Động
Tổ quốc từ đây một khúc ngâm.

Nối bước Kinh Dương thủa Lạc Hồng
Rồng bay bể Bát đức Lạc Long
Đồng Bằng gò lớn ghi tang hải
Đào Giang sóng nhớ ngũ tôn ông.

Mây phủ Động Đình biết bao lần
Cha Hùng mẹ Thục cuộc chia phân
Cha về biển lớn khai Hoa Hạ
Mẹ trở sang Tây hóa Chu quân.

Một bọc thần tiên tiếng đồng bào
Trăm trai Bách Việt sáng trời sao
Mười tám vương triều Hùng bất diệt
Tứ phủ công đồng vạn thế cao.