Bia cổ nói… tập 2

Trích văn bia “Hòa Phong tháp bi ký” tại chùa Dâu (Thuận Thành – Bắc Ninh), bản dịch in trong cuốn Chùa Dâu – Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng tự của Nguyễn Quang Khải (NXB Tôn giáo, 2011):
Nước Việt ta từ thời Tùy Cao đế, đã dốc tâm nơi Phật đạo, sùng mộ người áo nâu, sai sứ giả đem hòm xá lỵ ủy cho Lệnh sử họ Lưu kén đất Giao Châu xây cất. Khi đó có đại sư Pháp Hiền nói rằng: đây thực là chốn đại thắng danh lam. Bèn xây tháp ở bên trong phụng thờ một hòm xá lỵ để truyền mãi mãi, khiến muôn vạn năm sau, xuân thu bất diệt. Ngày tháng trôi đi, mưa dập gió dồi, rêu phong ngói vỡ, dẫu cũ ít còn.
May gặp ngài Vũ Hà Đoan, tự Huệ tiến, làm quan đến chức Nội trù tiểu thủy các đội Tri đội nhất phiên Thị Nội giám, tước Kiên Thọ hầu, …., xem “Cổ Châu thực lục” mà khâm sùng Tam bảo; xem nền cũ tháp xưa mà cảm khái hoài vọng. Vì thế bèn tu hạnh Bồ đề, phát tâm công đức, bỏ công đón thợ, đổi vàng mua gạch mong cầu phúc quả về sau…
May nhờ chư Phật ban cho trăm phúc, được tiết trời đẹp trời tháng 8 năm Đinh Tỵ (1737) bắt đầu khởi công trùng tu tháp cổ như cũ. Đến ngày tốt tháng 5 năm Mậu Ngọ (1738) thì công trình hoàn thành. Tầng tháp vòi vọi, trên có biển đề “Hòa Phong tháp”, chính là tên tháp vậy…

Thap Hoa Phong

Tháp Hòa Phong và bia tứ diện ở chân tháp

Tấm bia trên lập vào năm 1738 thời vua Lê Ý Tông, cho những thông tin thật lạ. Mở đầu bia ghi rõ ràng: “Nước Việt ta từ thời Tùy Cao Đế…“. Tùy Cao Đế tức là Tùy Văn Đế Dương Kiên, hiệu Cao Tổ, người lập nên nhà Tùy ở Trung Hoa năm 581. Văn bia đã gọi Tùy Cao Đế là vua của nước Việt ta. Triều Tùy của nước Việt ta, gọi chính xác là Việt Tủy, là một triều đại của người Việt.
Thông tin ghi trên tấm bia cổ mới tìm thấy ở Thuận Thành – Bắc Ninh “ghi lại việc Tùy Dạng Đế cho người đưa xá lợi vào bảo tháp được xây dựng trong chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng) thuộc huyện Long Biên đất Giao Châu xưa“. Tác giả bài báo trên đã lẫn giữa Tùy Dạng Đế và Tùy Văn Đế. Bia lập vào thời gian “Đại Tuỳ nhân thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt Tân Hợi sóc
thập ngũ nhật Ất Sửu
” là năm 601, là năm dưới triều Tùy Văn Đế Cao Tổ, chứ không phải Tùy Dạng Đế. Tùy Dạng Đế giết cha chiếm ngôi năm 605, sau sự kiện trên vài năm.
Đối chiếu 2 tấm bia thì có thể xác nhận chùa Thiền Chúng nơi Tùy Văn Đế cho nhập xá lỵ và xây tháp chính là chùa Dâu ngày nay. Tháp Hòa Phong cuối thời Lê đã được xây trên “nền cũ tháp xưa” của thời Tùy. Trong Cổ Châu Phật bản hạnh, văn bản khắc Nôm năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752) hiện còn lưu tại chùa Dâu cũng ghi rõ sự kiện này:

Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao đế niên gian
Năm hòm xá lỵ Bụt quan
Giữa huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ
Cao dự nghìn trượng khỏe phò thánh cung.

Chùa Dâu – Luy Lâu là trung tâm Phật giáo cổ nhất của phương Đông, còn trước cả các trung tâm ở Kiến Nghiệp hay Lạc Dương. Trong Thiền uyển tập anh có dẫn lời pháp sư Đàm Thiên khi vị pháp sư này đàm đạo với vua Tùy Cao Tổ:
Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới 20 ngôi bảo tháp, độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 quyển kinh rồi“.
Hẳn là cuộc đàm đạo trên với pháp sư Đàm Thiên đã dẫn đến việc vua Tùy Cao Tổ cho nhập xá lỵ Phật vào Giao Châu và xây bảo tháp ở Luy Lâu. Năm 601 cũng là năm Tùy Văn Đế đổi niên hiệu từ Khai Hoàng thành Nhân Thọ, từ tên là người sáng lập triều đại sang quan tâm đến nhân mệnh của mình, chắc hẳn lòng đã hướng về Phật, cho nhập xá lỵ về đất tổ người Việt ở Giao Châu cũng hợp lý.
Vấn đề rắc rối là theo Việt sử thì từ khi Lý Bôn khởi nghĩa, đánh đuổi Tiêu Tư, lập nước Vạn Xuân năm 544 tới năm 602 Lý Phật Tử bị Tùy quân Lưu Phương thu phục, nước ta gần 60 năm độc lập, đô đóng ở Long Biên, tức là Luy Lâu. Vậy làm thế nào mà Tùy Cao Tổ có thể “đàm thiên luận địa” về Phật pháp ở vùng Giao Châu, lại còn cho nhập xá lỵ vào chùa Dâu, là nơi kinh đô của nhà nước Vạn Xuân năm 601???
Những tấm bia cổ đã cho một sự thật sáng tỏ. Giao Châu thời Tùy Cao Tổ đã từ lâu nằm trong đất của nhà Tùy hay triều Việt Tủy. Những cuộc đụng độ giữa nhà Lương, Trần Bá Tiên với Tiền Lý Nam Đế, rồi Tùy quân Lưu Phương với Hậu Lý Nam Đế thực ra là đụng độ với… quân Lâm Ấp. Hoa sử vốn chẳng có sách nào ghi nhận sự có mặt của Tiền, Hậu Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương ở thời kỳ này cả. Còn sử Lâm Ấp ghi “Dưới thời Phạm Phạn Chi, năm 598, nhà Tùy chiếm đóng Lâm Ấp và phân chia thành ba châu: châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hai Âm) và châu Trong (Khương)“. Năm 598 ở Giao Châu theo chính sử đang là nước của Lý Phật Tử, nhà Tùy đi đằng nào mà chiếm đóng 3 châu của Lâm Ấp ở miền Trung Việt?
Luy Lâu – Long Biên là đất kinh đô từ thời Sĩ Vương. Câu đối ở đền Sĩ Vương tại Tam Á:
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì / bỉ hà thì thử hà thì / an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích / trị diệc tiến loạn diệc tiến / tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Tạm dịch:
Với tấm lòng trung nghĩa công thần, lúc này cũng như lúc khác, sáu trăm năm đức khoan dung để lại giúp dựng cơ đồ Lâm Ấp.
Nhờ sự nghiệp văn hóa khoa cử cũ, thời bình cũng như thời loạn, bốn mươi thu qui củ chính sách làm rạng tỏ Giao Châu.
Từ thời Sĩ Vương tới Tùy Văn Đế khu vực chùa Dâu – Luy Lâu này luôn có sự kết nối với Lâm Ấp. Thời “Tiền Lý” nước ta thực ra bắt đầu từ Khu Liên – Lưu Bị khởi dựng nước Nam – Lâm Ấp, truyền tới tận 600 năm sau mới khép lại dưới thời nhà Tùy.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s