Đọc giải những chiếc gương đồng cổ

Gương đồng xuất hiện trong văn hóa Trung Hoa từ khá sớm, bắt đầu gặp nhiều từ thời Chiến Quốc. Tới thời Hán gương đồng rất thịnh hành với nhiều hoa văn, họa tiết và minh văn. Nghệ thuật chế tác gương đồng thịnh nhất vào thời nhà Đường, với những chiếc gương rất đẹp, nhiều chủ đề khác nhau. Trong đó dạng gương “la bàn”, dùng trong thuật phong thủy (đúng hơn là trong Dịch lý) là những hiện vật giúp khám phá quan niệm triết học (Dịch học) của người xưa. Bài viết này dựa trên phân tích các hoa văn và hình vẽ trên mặt một số chiếc gương đồng cổ tiêu biểu qua các thời kỳ và liên hệ với Dịch học người Việt, xin đưa ra một số nhận định mới về ý nghĩa của những chiếc gương đồng.

Những gương la bàn ở thời kỳ muộn hơn thì sẽ dễ đọc giải hơn các gương cổ. Một dạng gương phong thủy khá tiêu biểu của thời nhà Đường (thế kỷ 7-9) là chiếc gương có hình vuông sau. Một chiếc gương như vậy cũng từng được tìm thấy trong di chỉ khảo cổ ở Duy Xuyên, Quảng Nam. 

Chính giữa gương có núm nổi với lỗ xuyên để treo gương. Xung quanh núm là hình Tứ linh: Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ. Lớp tiếp theo là đồ hình Hậu thiên Bát quái. Khung vuông bên ngoài là 12 địa chi.

Gương vuông thời Đường

Vì Tứ linh cũng có ý nghĩa tương thông với Ngũ hành và Ngũ sắc nên phần trung tâm của gương như vậy là thể hiện Thái cực đồ (gồm Tứ tượng), là phần nhân, phần cốt lõi của vũ trụ. Hình Bát quái là bầu trời tròn. 12 con giáp là mặt đất vuông. Trời tròn trên Đất vuông. Tổng hợp những điều trên có thể đọc được chiếc gương này như trong hình sau.

Giải đọc gương vuông thời Đường

Từ cách đọc của gương vuông thời Đường, ta xem xét loại gương cổ hơn của thời đầu Công nguyên. Những chiếc gương đồng thời Tây Hán và đặc biệt là vào thời nhà Tân của Vương Mãng (năm 45 TCN – 23 SCN) thường được gọi là loại gương TLV do đặc điểm có hình gấp khúc như các chữ T – L – V ở các hướng trên mặt gương. Ý nghĩa của các hình này tới nay có nhiều giải thích khác nhau. Sau đây xin đưa ra một cách giải thích mới cho những hình tượng này.

Gương TLV thời nhà Tân

Nhìn loại gương TLV này ta thấy rõ nhất là phần hình vuông có 12 chấm và có chữ ghi 12 Địa chi: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Rõ ràng đây là thể hiện nghĩa “Đất vuông” bằng các địa chi tương tự như trên gương vuông thời Đường. Mặt đất được chia làm 12 phần, gọi tên bằng các chi. Mỗi chi trên gương do đó ứng với một khoảng của hình vuông, chứ không phải ứng với các chấm nổi.

Bên ngoài hình vuông là hình tròn của gương. Nếu hình vuông bên trong đã là “Đất vuông” thì hiển nhiên vòng tròn bên ngoài phải là “Trời tròn”, úp lên trên mặt đất. Trời ở đây được thể hiện bằng 8 chấm nổi. Điểm chú ý nữa là ứng với mỗi chấm nổi có vẽ hình một con linh thú. Nếu 12 địa chi đã dùng để thể hiện mặt đất thì dễ dàng suy ra 8 quẻ của Bát quái sẽ dùng để biểu thị bầu trời. Tương tự như trường hợp dùng Bát quái trên gương vuông ở trên. Đặc biệt ở gương đồng thời này là người ta không dùng vạch quẻ để thể hiện Bát quái mà dùng các chấm nổi và linh thú tương ứng. Bát quái được sử dụng vào thời gian sớm trước Công nguyên thì khả năng lớn là Bát quái tiên khởi hay Tiên thiên Bát quái.

Sau khi đã xác định được trời tròn đất vuông ở bên ngoài thì ta để ý phần ở trung tâm. Ở giữa gương có một chấm nổi lớn, là núm để treo gương. Xung quanh có các cánh như hình mũi tên chỉ vào 4 góc. Đọc theo ngôn ngữ Dịch học thì đây là biểu tượng của Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cách thể hiện này cũng tương ứng với cách thể hiện bằng Tứ linh trong gương vuông. Hành Kim được đặt vào chính giữa vì hành này có màu biểu trưng là màu vàng, tiếng Hán gọi là Kim. Kim cũng nghĩa là nay, bây giờ, tức là thời điểm hiện tại, chính giữa tương lai và quá khứ. Ngũ hành nằm ở trung tâm Trời và Đất, thể hiện phần cốt lõi, “nguyên thần” của vũ trụ.

Vấn đề ý nghĩa 3 hình TLV trên cơ sở đó có thể suy đoán như sau. 4 chữ V ở 4 góc, tương ứng với nơi hình vuông và hình tròn giao nhau, tức là nơi gặp nhau giữa Trời và Đất. Có thể coi đây là tiêu điểm của 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, cũng tương ứng với 4 phương theo mũi tên chỉ của hình Ngũ hành ở bên trong trung tâm.

Các chữ T và L xếp thành cặp đối mặt có cạnh dài vào nhau và sắp xếp ở 4 phía của hình vuông. Như vậy đây không phải để chỉ phương hương, vì phương hướng thì cần chính xác ở một điểm. Cặp T – L này thể hiện một quá trình kéo dài, phải là chỉ thời gian. Như vậy 4 cặp T – L trên gương phù hợp nhất là chỉ Tứ thời: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Phối hợp tất cả những phân tích trên, nay có thể đọc hoa văn trên gương đồng thời Vương Mãng như trong hình sau.

Giải đọc gương TLV

Những chiếc gương đồng cổ đã gói gọn cả Trời tròn Đất vuông qua những hoa văn họa tiết của nó. Gương không chỉ là để soi hình ngắm cảnh, mà là để “soi xét” việc trong nhân gian. Bộ đồ hình trên gương là những tiêu chuẩn về thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa, để qua đó mà quán chiếu việc đời.

TRIỆU ĐÀ, NHỮNG ĐIỀU CÒN ÍT BIẾT

1. Triệu Đà có quê gốc ở đất Phong Châu – Mê Linh, tức là vùng đất gốc tổ của các vua Hùng. Cổ Lôi ngọc phả cũng ghi nhận như vậy. Triệu Đà là dòng “Lạc Hùng chính thống” hay “Nam Thiên chính thống thủy”, không hề có chuyện ông là người Tàu.

Tượng Triệu Vũ Đế ở Châu Sơn

2. Dưới thời Tần, Triệu Đà làm một đình trưởng nhỏ ở Chân Định, nay là đất Thái Bình – Nam Định. Tại đây ông lấy vợ là bà Nhữ Nương Trình Thị (đọc phiên thiết là Lữ – Trĩ). Ông được coi là người khai cơ lập nền cho vùng đất này nên có tên huyện Kiến Xương. Cũng vì là người ở Thái Bình nên ông còn có tên là Bái Công do Thái Bình đọc thiết là Bái. 

3. Trong một lần dẫn dân phu đi lao động về núi Lịch (sử đọc thành Triệu Đà dẫn những người ở rể… đi đánh chiếm…), do dân phu bỏ trốn nhiều nên Triệu Đà đã cùng nhân dân ẩn vào vùng rừng núi Châu Sơn nương náu chống Tần. Sách Hoài Nam Tử gọi Triệu Đà là “người tuấn kiệt” đã lãnh đạo người Việt kháng Tần. Trên núi Châu Sơn nay vẫn còn vật chứng là tượng con “dê đá” có niên đại cổ nhất Việt Nam từ thời Tần Hán, còn đang đứng “sau chùa Triệu Việt Vương”.

Con Phi liêm ở Châu Sơn

4. Tần Thủy Hoàng mất, chư hầu các nơi nổi dậy. Triệu Đà từ vùng núi Châu Sơn dẫn quân vào đánh chiếm Long Biên, quận trị của quận Long Xuyên lúc này. Khi dẫn quân đi qua sông Nhị Hà đã thấy rồng bay lên, nên gọi nơi đây là Thăng Long. Di tích nay còn là Long Hưng điện ở Văn Giang. Con Xích Xà Triệu Đà chém con Bạch Xà nhà Tần bắt đầu từ đây mà dựng nghiệp thiên thu.

Long Hưng điện ở Văn Giang, Hưng Yên

5. Triệu Đà chiếm 3 quận Quế Lâm, Tượng và Nam Hải, tiến quân vào kinh đô nhà Tần, lập nên cơ đồ một triều đại mới của Viêm Việt. Do đó ông được gọi là … Triệu Cao… Tổ. Lập quốc rồi, ông cho các nơi đã từng đóng quân trước đây dựng làm hành cung, sau thành nơi thờ tự. Một trong những hành cung Triệu Đà là khu vực Tri Hối Thần Thiệu ở Gia Viễn Ninh Bình, nay vẫn còn các làng thờ ông.

Đình Thần Thiệu ở Gia Viễn, Ninh Bình

Câu đối về Long Hưng Triệu Vũ Đế ở Hưng Yên:

Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch nghĩa:

Một lệnh sạch không Tần, vạn dặm mở đầu khắp Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, muôn năm dựng nền vững đế vương.

Lão Tử cưỡi… Rùa vàng

Bức tượng Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử, trong Ngọc điện của một làng ở Thanh Miện, Hải Dương có một điểm hết sức đặc biệt. Ở đây Lão Tử không cưỡi trâu như thường gặp, mà chân phải đang kê lên một con Rùa vàng.

Đây là dẫn chứng bổ sung cho nhận định chính Lão Tử chứ không phải ai khác là người đã cử thần Kim Quy tới giúp An Dương Vương trừ yêu quỷ xây thành Cổ Loa. Lão Tử được thờ chính danh ở làng Thổ Hà, nơi tu hành và nơi hóa của ông. Lão Tử thờ ở Cổ Loa với tên Huyền Thiên Trấn Vũ, trên núi Sái Võ Đang (Đông Anh).

Trâu (Thủy ngưu) hay Rùa (Thanh giang sứ giả) đều là hình tượng của Nước, hành Thủy trong Tiên Thiên Bát quái, chỉ tính chất tòng thuận của quẻ Khôn.

Câu “khẩu quyết” của Đạo Đức Kinh là: “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên“. Nên con Rùa hay Trâu nước được dùng làm nền cho học thuyết của Lão Tử.

Lão Tử ở đây cầm cây gậy hình Rắn. Cặp Rắn – Rùa này cũng tương ứng với hình tượng Huyền Thiên Trấn Vũ cầm kiếm Rắn mà dẫm lên Rùa. Câu đối ở đình Thổ Hà nói tới Rùa và Rắn (Long):

Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

Nan giải Sơn Tinh

Sự tích về Sơn Tinh nhiều vô cùng, nhưng chung quy có 2 hướng kể. Một là Sơn Tinh có tên Nguyễn Tuấn, quê ở Lăng Sương, sau khi có được gậy thần sách ước, giành được phần thắng trong lần kén rể ở Việt Trì, cưới công chúa Mị Nương, con vua Hùng Duệ Vương đời cuối, rồi cùng với 2 vị Tả Hữu Kiên Thần đánh tan 2 lần xâm lăng của Thục chúa, khuyên Duệ Vương nhường ngôi mà học phép thần tiên, hóa sinh bất diệt. Những thần tích của vùng Thanh Thủy, Phú Thọ (như ở Lăng Sương) là theo hướng này. Có thể gọi khái quát đây là Thần Vương Nguyễn Tuấn.

Một hướng kể khác hay gặp trong khu vực các làng ở vùng chân núi Tản như làng Ngọc Nhị, trưởng tạo lệ của đền Thượng Tản Viên. Theo hướng này, Sơn Tinh có tên là Hương Lang, là người con đầu trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi. Hương Lang có cây gậy thần có thể xuyên đá, trị thủy thời Đường Nghiêu, đánh bại sự tấn công của Thủy Tinh ở Bể Cạn, đi thăm thú, dạy dân đánh cá, sắn bắn ở các nơi, sau là các hành cung Tản Viên. Có thể gọi tóm lược đây là Thần Sư Hương Lang.

Hoành phi “Phụng Tản Viên Sơn” ở đình Ngọc Nhị, trưởng tạo lệ thờ Hương Lang trên đền Thượng núi Tản.

Việc tồn tại 2 xuất xứ của Tản Viên Sơn Thánh được ghi chép trong Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái cũng như trong thần tích của các làng tạo lệ thờ Tản Viên đã đánh đố nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Giáo sư Đinh Gia Khánh đã vô cùng lúng túng, không biết phải xếp Tản Viên Sơn Thánh vào thời vua Hùng thứ nhất (con của Âu Cơ) hay vua Hùng cuối cùng (Hùng Duệ Vương). Nhận định về Tản Viên Sơn Thánh thực là nan giải, chỉ có thể giải được với cách nhìn mới về lịch sử và phương thức truyền đạt của truyền thuyết Việt.

Cách lưu truyền của truyền thuyết Việt là mỗi một nhân vật, một vị thần thánh được kể, không phải là 1 người, 1 thời điểm trong lịch sử. Mỗi hình tượng truyền thuyết là câu chuyện kể cho cả một triều đại, một dòng tộc cùng chung nguồn gốc, cùng chung người sáng lập khai mở triều đại đó. Khi nhìn nhận như thế thì câu đố về Sơn Tinh hoàn toàn có thể giải được.

Vị Sơn Tinh mang tên Hương Lang vào thời kỳ hồng hoang mở nước, chống nước ngập ngang trời thời Đường Nghiêu, dùng gậy thần đục đá thông dòng sông Hắc Thủy ở Thác Bờ, là vua Đại Vũ trị thủy. Cái tên Hương Lang liên quan đến việc Sơn Tinh giăng lưới sắt ở Thụy Hương (Từ Liêm), chặn đường tiến quân của Thủy Tinh. Sơn Tinh mới là vị thần Hương, đứng đầu trong Tứ linh Việt: Hương Bổng Đổng Đằng. Đình Chèm Từ Liêm thờ Lý Ông Trọng với 2 sự tích ngăn thủy quái và trấn Hồ – Hung Nô thực ra là về 2 nhân vật. 1 là Sơn Tinh Hương Lang quăng võng la trừ thủy quái thời sơ sử. Một là Lý Thân, Tư lệ hiệu úy, phò mã của Tần Thủy Hoàng.

Vị Sơn Tinh Nguyễn Tuấn phù Hùng đánh Thục, phá tan quân Thục ở Quỳnh Nhai dưới thời Hùng Duệ Vương thực ra là dưới thời Lạc Vương theo như thần tích đình Viễn Lãm (La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ). Đây là một trong những hoàng tử con vua Hùng trấn giữ vùng đất Lạc, giao chiến với quân Thục ở miền Tây Bắc. Vị này còn có tên là Tuấn Lương (tương đương với Nguyễn Tuấn), được phong là Tả Thánh, cũng gọi là Tản Viên Sơn Thánh, cùng thờ trên các cung điện của núi Tản. Sự kiện này tương đương với việc Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ nhà Thương giao chiến với quân của Chu Văn Vương. Kết cục, Thục chúa Chu Văn Vương nhờ có mệnh trời lòng dân mà đã chiếm được vùng Lạc Việt, về dựng đô ở Phong Châu, mở nước Văn Lang.

Tượng Nguyễn Tuấn ở Lăng Sương

Dù là trong sự tích nào thì Lăng Sương cũng là quê gốc của Sơn Tinh và bãi Trường Sa – Tang Ma cũng là nơi Sơn – Thủy gặp nhau. Lăng Sương là quê của mẹ Âu Cơ trong thần tích Hương Lang hay của Đinh Phi thánh mẫu Ngọc nương trong chuyện Nguyễn Tuấn. Bãi Trường Sa nay ở La Phù – Thanh Thủy, là nơi Sơn Tinh gặp Thủy Tinh, Lạc Long gặp Âu Cơ, còn là nơi có dấu rồng thiêng xuất thế với sự tích về Tang Ma Động Đình Thủy Tinh Thánh mẫu. Đây là chuyện Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình trong truyền thuyết, cũng là chuyện Đại Vũ lấy người con gái Đồ Sơn thị của cổ sử Trung Hoa.

Tản Viên Tam vị Quốc chúa trong sự tích Hương Lang là 1 vị quốc chúa của núi Ba Vì (Tam Vị) thời Đại Vũ trị thủy, khơi dòng Hắc Thủy ở núi Tam Nguy. Còn Tam Vị Tản Viên trong sự tích Nguyễn Tuấn là cặp 3 vị tướng chống Thục: Tuấn Lương, Cao Sơn và Quý Minh. Trong sự tích Tản Viên Sơn Thánh như vậy đã bao gồm giai đoạn của 2 thời kỳ. 1 là thời đầu nối tiếp Đường Nghiêu Ngu Thuấn, 1 là thời cuối của dòng theo cha Lạc Long chống Thục, tức là Lạc Vương Bắc Bá Hầu họ Sùng của nhà Thương Ân.

Vị Tản Viên Đại Vũ Hương Lang có công khai sáng các nghề nghiệp đánh cá, cày cấy, săn bắn, chăn nuôi, nên được tôn gọi là Thần Sư. Còn vị Tản Viên Sùng Hầu Nguyễn Tuấn thiên hơn về cai trị và chống giặc nên mang danh Thần Vương. Dù thế nào thì 2 vị đều đã hóa thành bất tử, đứng đầu linh thần nước Việt bởi đã đánh dấu mốc 2 giai đoạn phát triển của lịch sử Việt, là:

– Đại Vũ, tiếp theo thời Tam Vương, mở đầu thời kỳ lịch sử cha truyền con nối, 4000 năm trước.

– Sùng Hầu chống Thục Vương, đánh dấu bước chuyển sang thời phong kiến phân quyền, thiên hạ trăm nhà, khoảng 3000 năm trước.

Câu hỏi ngàn năm xưa về nguồn gốc Sơn Tinh nay đã có lời giải đáp thỏa đáng. Lịch sử thời kỳ dựng nước của người Việt cũng ngày càng sáng tỏ.

Câu đối ở đình Văn Khê (Sơn Tây):

南邦顯跡三峰鎮
西土鍾英歷代褒

Nam Bang hiển tích tam phong trấn
Tây Thổ chung anh lịch đại bao.

Dịch nghĩa:

Hiển tích Nam Bang ba núi trấn
Đúc anh Tây Thổ các đời phong.

Chính điện đình Văn Khê

Hiển linh hộ quốc. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Hiển linh hộ quốc

Đình Quang Húc

Năm Giáp Thìn ngày 9 tháng 1, An Dương Vương lên ngôi, đóng đô ở thành Cổ Loa cai quản quốc gia, nối thừa cơ đồ to lớn mà Hùng Duệ Vương giao phó lại. Vua ở ngôi tổng cộng 60 năm. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Tuy nhiên Vua từ khi được nỏ thần linh quang quốc bảo của Hùng Vương thì không chịu khó tu sửa văn, huấn luyện võ, chọn tuyển tướng, luyện tập quân để chế ngự giặc ngoài. Tới khi An Dương Vương tuổi đã 80, có người họ Triệu tên Đà, người Chân Định, thừa cơ khởi binh dẫn lính đến thẳng huyện Quế Lâm, đại chiến với Thục Vương. Lúc ấy Sơn Thánh nghe được tin, liến biến phép thần thông, tự nhiên bay trên không mà tới, cùng với binh mã tiến thẳng đến nơi. Trong vòng 10 lần đấu với quân Triệu đều chiếm được phần thắng. Sơn Thánh nghĩ đến sinh linh và việc hương lửa bèn nói với Thục Vương rằng:
–    50 năm thiên hạ đã được Hoàng thiên định vậy. Ngày nay Triệu Đà có ý muốn thôn tính Nam Bang. Ta phụng mệnh lớn dẫn quân đến chinh chiến, thấy Triệu Đà anh hùng trí dũng. Sang Đông không lấy được cỏ Bồng, ta không đẩy lùi được nạn này. Triệu Đà đến khiêu chiến với Ta tới mức đánh cùng diệt tận. Sinh mệnh đều đang nằm trong tay của Vua. Vì nước tất phải vì dân. Chi bằng thuận theo lòng trời, gọi họ Triệu đến nhường cho ngôi vị.
Vua nghe thấy lời ấy bèn mới nhường lại ngôi vị cho Triệu Đà, còn mình thì đi vào biển lớn mà hóa. Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Thuật Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu sớm bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có người chắt gái của Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh, đương thời nam nhi thao lược cũng không có người như vậy. Nữ tướng dẫn quân, cầu đến thần linh. Trưng nữ mật cáo Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng bách thần ở cửa sông Hát Môn, nay là ở xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc xứ Sơn Tây, lập đàn tế cáo thần linh. Đọc chúc rằng:
–    Trời sinh ra người làm tông chủ vạn vật trời đất, sinh linh cây cỏ, thời gian các mùa. Các đế vương đời trước đều là các bậc thánh minh thiên tử. Triều đình có đạo yêu dân vì nước, có đức hóa rộng lớn. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có người ngoại tộc tên Tô Định tỏ thái ý ngông cuồng khắp nơi, ngược bạo người dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Kẻ hèn tôi vốn là một nữ nhân nhà họ Hùng, nghĩ tới sinh linh, rỏ trăm giọt lệ Hoàng thiên. Ngày hôm nay đau lòng thương dân đỏ, trượng nghĩa trừ bạo tàn. Xin trăm họ các vị tôn thần linh thiêng hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ dẫn quân dẹp giặc, giữ nước giúp dân. Dám mong phục dựng lại cơ đồ cũ của tổ tông, đưa nhân dân khỏi tầng cực khổ, thoát ra khỏi nơi nước lửa binh đao, sau không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa linh thiêng của miếu đền tiên tử, an ủi cha ông dưới nơi chín suối.
Chúc xong bèn hô xuất quân ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp quan lang, phụ đạo các châu quận nước Nam, định ngày giờ dẫn quân 5 vạn, tức chia các đạo tiến đánh, tạo thành kỳ binh, đến thẳng đồn của Tô Định mà đại phá trong một thời. Quân Định bỏ chạy. Thế là Trưng nữ xây 65 thành ở ngoài, chiếm phục lại toàn bộ vùng đất Nam Bang. Trưng nữ lên ngôi Hoàng đế. Trưng nữ ở ngôi ba năm, từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần lên ngự ở triều đình. Trưng nữ một thời xuân mộng, được lập miếu ở cửa sông Hát Môn, các xã ấy phụng thờ hương lửa, tới nay hiện còn di tích. Thời thuộc Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống Tề, Lương cộng là 314 năm đến khi Nam Bang thay nhau bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở hoàng đồ, đều có biến hóa điềm thần, các triều giúp nước. Sự đã được ghi rõ trong sử ký Nam Việt.
Khi ấy có người làm thơ khen nhớ Tản Viên Sơn Thánh rằng: (xem bài thơ này trong bài riêng https://bahviet18.com/2020/10/24/bai-tho-ve-tan-vien-son-thanh-trong-than-tich-lang-tang-ma/)
Hoàng triều niên hiệu Hồng Phúc năm đầu ngày 10 tháng 1, Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn

Chống Thục lần thứ hai và hóa sinh bất diệt. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ.

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chống Thục lần thứ hai và hóa sinh bất diệt

Tản Viên Sơn Thánh và Đinh Phi Thánh Mẫu ở Lăng Sương

Lại nói, được 2 năm Thục chúa nui lòng căm phẫn, tích dưỡng quân mã, cử binh phục thù, cầu viện nước láng giềng, được hơn trăm vạn tinh binh, ba vạn kỵ mã, một vạn chiến thuyền, chia làm 5 đạo thủy bộ cùng tiến vào nước Nam Man ta muốn chiếm Trung Hoa. Các đạo bộ binh nhanh chóng theo các chân núi mà tiến, xuất ra từ Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập, Văn Bàn, Thuỷ Vĩ, qua Thanh Nguyên, Thuận Châu, Mộc Châu, Phù Hoa, Việt Châu, Mai Châu tới Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai châu, Chiêu Tấn, Sùng Lăng châu, Khiêm Châu, Sùng An châu, Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Tụ Long Bảo Lạc, Côn Lôn, Bắc Tạ, qua châu Bố Chính, Lạng Sơn các địa phương. Lại xuất thủy quân, một vạn thuyền bè, từ cửa biến Thần Phù, Hoan Châu, Ái Châu đến đường thủy sông Lục Đầu, sông Bạch Đằng mà tiến. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời.
Biên cương gửi thư báo gấp. Vua vô cùng lo lắng, bèn triệu Tản Viên Sơn Thánh nhanh chóng đem binh mã tới thẳng Loa thành để lập trận. Lại triệu đại hội đình thần bàn bạc. Vua hỏi các đình thần, các quan đều quay mắt nhìn nhau, không có kế sách khả thi. Sơn Thánh bèn tâu rằng:
–    Thần xin khỏi vất vả đến thánh giá mà tự dẫn các tướng sĩ cùng mười vạn hùng binh. Quân Thục chẳng quá vài ngày là bình định được.
Sơn Thánh bái tạ, từ cửa thành mà tiến, chia các bộ binh hai đường thủy bộ cùng tiến, đến thẳng đồn chính của quân Thục mà đại chiến một trận. Thu được dấu ấn của quân Thục, bèn viết một bức thư rồi giả làm theo dấu ấn đó của Thục chúa đóng vào thư, cho người mặc quần áo của quân địch đưa thư cho tướng Thục rằng:
–    Nước Nam có một thần tướng, chớ nên khinh thường xuất chiến. Đợi khi có chiếu lệnh xuống hãy tấn công.
Tướng Thục đọc thư đó bèn kiên trì phòng thủ không ra đánh. Sơn Thánh trong hôm đó bèn xuất quân, không kể ngày đêm, tiến thẳng đến thành Thục, tay cầm gậy, miệng đọc chú mà chỉ vào. Bỗng thấy nước Thục đại loạn. Sơn Thánh mới phá được trận, bắt hết tướng sĩ binh mã nước Thục. Các đồn đóng quân của các đạo không kịp nghe thấy biến, bị chém hơn vạn đầu các quân tướng. Số còn lại đều bị bắt sống hết, đem về kinh đô, dâng biểu tâu lên đế đình. Duệ Vương nghe thấy rất vui mừng. Sơn Thánh bái tạ xin quay về quê nhà. Đế đồng ý, lại phong thêm cho Sơn Thánh, tặng phong Thái bà cùng với Tả Hữu Kiên Thần, cho phép các nhà ở Lăng Sương đều được miễn hết sưu dịch, phong hiển ấp đó làm làng hộ nhi.
–    Phong Tản Viên Sơn Thánh mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ.
–    Phong Tả Kiên Cao Sơn Hiển ứng Đại vương.
–    Phong Tản Viên Sơn Chiêu dung Hiểu ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng Bệ hạ.
–    Phong Hữu Kiên Quý Minh Linh ứng Đại vương.
Động Lăng Sương làm hiển quán hộ nhi phụng thờ. Còn như Đồng Luận, Lương Tuyền, Đan Thê, Thạch Xá đều cho làm làng trung nghĩa, cùng giúp thánh giá. Còn Thủ Pháp, Ma Xá, Mang Bồi đều cho lập các cung ở đó sau làm nơi thờ phụng. Còn các hành cung mà Thánh đã từng qua sau cũng là nơi phụng thờ cùng với ruộng thờ đều có ghi chép các hạn ngạch đầy đủ.
Lại nói, Thánh hôm ấy (ngày 11 tháng 8) dẫn quân sĩ quay về quê nhà Lăng Sương. Nhân dân đón giá bái hạ. Thánh hôm đó (ngày 12 tháng 8) bái yết gia đường thân mẫu, mở tiệc mừng lớn trong 3 ngày (từ ngày 12 đến 15). Sơn Thánh cùng với các quan Tả Hữu ở lại chơi quê nhà (tức động Lăng Sương), được hơn mười ngày bèn triệu các hương lão, chức sắc, nhân dân đến ở sân đình nói rằng:
–    Ta cùng với nhân dân đều là người quê ở chốn này, không có tình cảm khác biệt, cùng là bà con láng giềng. Nay ta vốn tuân mệnh Thiên đình giáng xuống để giúp Vua thời nay. Lòng ta không có ham muốn những báu vật, vàng bạc ở chốn trần gian coi nhẹ như lông hồng, yêu mến nơi Bồng Doanh, Lãng Uyển, thích thuốc trường sinh. Hôm nay có các cung lầu đã lập ở các nơi giao cho nhân dân cùng gìn giữ cùng với lăng mộ của gia tiên thánh mẫu, sau là nơi thờ phụng của nhà ta vạn thế vậy (Các địa phương là dân hộ nhi trung nghĩa thiết lập hành cung phụng thờ, đến các ngày sinh hóa của Thánh mẫu, cùng tới nơi nhà này mà phụ giúp cúng tế, cùng với cung đền ở núi thiêng Tản Viên đều phụng thờ Thánh. Các dân hộ nhi của Thánh mẫu và dân tạo lệ của Sơn Thánh đều có những di tích riêng).
Việc xong, Sơn Thánh qua về đình cung ở núi Tản Viên, làm lễ ở đền dưỡng mẫu. Hôm ấy (ngày 12 tháng 9) nhân dân làm lễ bái hạ. Sơn Thánh ở lại đình cung đó (tức là các vùng đất du hành ở Mang Bồi cùng với sách Thủ Pháp tại núi Tản Viên). Lại thiết lập hành cung cho các địa phương, gia thần nhân dân tạo lệ (ở tại các cung Đông Tây, cùng với hành cung của các nơi đi săn, sau đều thành nơi thờ phụng Thánh, nơi nào cũng có di tích riêng). Qua hơn một tháng tới ngày 10 tháng 11, Thánh quay về với việc nước. Duệ Vương muốn nhường lại ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không được, bèn theo ý của Vua mà giúp việc trị quốc vững mạnh được vài năm. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh khuyên Duệ Vương rằng:
–    Họ Hùng cơ đồ hưởng đất nước trải các đời cũng đã lâu dài. Nên lòng trời tất có hạn mới xếp đặt việc Thục Vương thừa cơ gây hấn để chiếm Trung Hoa. Hơn nữa Thục vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là tôn phái của Tiền Hoàng đế (tức là con trong một bọc trăm trứng của Lạc Long Quân, chia thành 15 bộ, có bộ Ai Lao trong đó). Thế nước tốt xấu đều do tiền định. Vua việc gì phải yêu mến một cảnh trời Nam mà đánh dẹp giặc mạnh, gây hại đến sinh linh. Sao bằng Bệ hạ cùng thần cùng có thuật thần tiên, tiêu dao nơi bất lão Bồng Hồ, Lãng Uyển. Quyết bỏ chốn lầu rồng gác phượng, ám nhiễm bụi trần. Vàng bạc châu báu xem nhẹ như sợi tơ. Tiên đồng ngọc nữ cũng xem quên trong nháy mắt. Chí đó mới thật là cao vậy.
Vua nghe vậy mới đồng ý theo cách đó, bèn gửi thư cho Thục mà nhường lại đất nước. Thục chúa (tức An Dương Vương) sai sứ đến tạ. Vua nhân đó ban nỏ thần cho Thục, rồi về núi Nghĩa Lĩnh hẹn cùng Tản Viên Sơn Thánh và công chúa Mị Nương hôm đó (ngày 5 tháng 5) cùng ngày bay lên trời hóa sinh bất diệt (khi Duệ Vương hóa ở núi Nghĩa Lĩnh có mây bay năm sắc. Đế tọa ở đầu đỉnh núi, mây năm sắc bao phủ, khí lành ngào ngạt, trăm thú đến chầu. Đến giờ Ngọ Đế bay lên trời mà bất diệt. Ngày 4 tháng 6 Tản Viên Sơn Thánh cùng với công chúa Mị Nương dẫn binh mã quay về quê nhà Lăng Sương, làm lễ trước đền Thánh mẫu, giao lại cho nhân dân các nơi cung đền phụng thờ, làm lệ điển cho hậu thế. Đến ngày mồng 5 thì quay về đỉnh núi Tản Viên làm lễ dưỡng mẫu. Tới khắc đầu giờ Ngọ thấy giữa trời sương ráng, ba tiếng động dời đất, bỗng thấy mây trắng từ Nghĩa Lĩnh trải sang đến núi Tản Viên như đường mây. Sơn Thánh cùng Mị Nương ngồi trên bàn đá đến hội đón thánh giá. Vợ chồng ban ngày bay lên trời cùng với Duệ Vương trong cùng một ngày. Bàn đá và cây to này nay vẫn còn).
Lại kể từ khi Thục An Dương Vương được đất nước, cảm tạ trước công đức nhường ngôi của Duệ Vương và Tản Viên Sơn Thánh lớn như trời đất, bèn xây dựng một Dao đài cùng với 2 cột đá ở Nghĩa Lĩnh, rồi làm lễ đọc lời thề, không bao giờ quên công đức của Duệ Vương. Lại rời giá đến núi Tản Viên, tu sửa miếu đền, làm lễ bái tạ, định cộng đức sánh ngang với trời đất không cùng.
Vua bái tạ, việc xong, quay giá về kinh đô Phong Châu. Lại triệu các tông phái của Hùng Vương và Sơn Thánh cùng với quý ấp, bản quán và các nơi thờ phụng, đều ban cho làm làng trung nghĩa trưởng tạo lệ (Hùng Vương đã ghi riêng nơi chính thờ phụng Sơn Thánh là điện Tản Viên, nhân dân tạo lệ Trung Nghĩa, Đồng Luận, Lương Tuyền, Đan Thê, Thạch Xá, sách Thủ Pháp, Ma Xá, huyện Minh Nghĩa, Phúc Lộc, các cung Đông Tây Nam Bắc dân các trang phụng thờ, đều là dân tạo lệ, để lại các di tích riêng cùng với các nơi ruộng thờ đã được ban, cũng có hạn mức được ghi lại), tiếp trong họ tộc được cấp ruộng tại làng, phụng thờ với quốc gia cùng yên lành, muôn năm không dứt, vạn cổ trường tồn, nhật nguyệt mãi rạng, còn mãi với núi sông. Sau có tiên sinh Lê Đức Trọng khen rằng:
Sinh mà không diệt lạ kỳ thay
Vạn cổ lưu danh tại phượng đài
Tản Lĩnh đường đường công đức đó
Rạng cùng nhật nguyệt, đối thiên thai.

Lại nói qua thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề Lương cộng 349 năm, cho đến bốn họ Lê, Lý, Trần, Lê nước Nam khai sáng cơ đồ, đều có nhiều sự linh ứng, giúp nước cứu dân. Nên trải các triều đại đế vương Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý tuân theo như tiền triều khai sáng đều truy phong mỹ tự Kiêm Thượng đẳng phúc thần, vạn năm hương lửa, cúng tế không ngừng.
–    Phong Tản Viên Sơn Thánh Quốc mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ. Phụng thờ chính ở động Lăng Sương (các trang phụ tế ghi tích riêng).
–    Phong Tản Viên Sơn Thánh Chiêu dung Hiển ứng Hộ quốc Tá thánhUy cảm Hoằng hóa Nhân đức Nghĩa võ Anh triết Minh tín Trợ thuận Hiển công Quảng tế Phù vận Trợ hiển Cao minh Phu hưu Hồng liệt Chương nghị Xung tĩnh Uyên mục Nguyên thông Duệ trí Vĩnh dụ Phu dũng Uy ân Phổ trạch Diệu vi Bảo bang Tương hỗ Trợ linh Hiển liệt Hoành hưu Dương võ Tuyên cứ Quảng vận Diệu hoá Phu dũng Phổ ân Uy đức Tuy dân Dực vận Phụ quốc Bảo dân Hậu đức Chí nhân Cương nghị Trấn quốc kiêm Thượng đẳng thần.
Nay sắc.
Các ngày sinh hóa của Thánh mẫu và Sơn Thánh cùng với tên húy, màu quần áo cấm khi cúng lễ được khai như sau:
–    Ngày sinh của Thánh mẫu là ngày 7 tháng 1 (dùng lễ chay ba bàn, tế trâu, lợn đen, rượu ngọt, ca hát một đêm).
–    Ngày hóa của Thánh mẫu là ngày 12 tháng 6 (dùng lễ lợn toàn màu đen, ba bộ gà sống, tế rượu 6 đấu cùng các đồ khác).
–    Ngày sinh của Sơn Thánh là ngày 15 tháng 1 (dùng lễ chay ba bàn, năm con gà trắng, lợn toàn màu đen, rước bởi cặp vợ chồng có đủ trai gái tới nơi lễ mà cúng, xôi trăm đấu, ca hát một ngày đêm)
–    Ngày Sơn Thánh lên trời vào ngày 5 tháng 5 (lễ dùng thịt trâu một màu, xôi trăm đấu, rượu và các đồ khác).
–    Kiêng cấm các chữ Tuấn, Tùng, Ngọc, Mỹ, Hương, Bích, Hằng, Cao, Minh. Trang phục màu vàng trắng, xanh đậm cũng cấm dùng.
Tản Viên Sơn Tam vị Chiêu dung Hiển ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ.
Tả Kiên thần Cao Sơn Hiển ứng Đại vương.
Hữu Kiên thần Quý Minh Linh ứng Đại vương.
Chính bản đến đây là hết. Tuy nhiên, từ chỗ đánh Thục trở xuống so với bản cũ có nhiều sai khác, nhưng vẫn ghi thêm vào đây để tham khảo bổ sung.
Lại nói được 2 năm, quân Thục nuôi lòng căm phẫn, mới cử binh phục thù, cầu trợ giúp từ các nước láng giềng, chỉnh đốn cấp được vạn tinh binh, ngựa tám ngàn, chia làm 5 đạo. Chính binh 30 vạn, ngựa một ngàn, theo đường núi Thập Châu, Hoàng Tùng, Quỳnh Nhai mà xuất vào. Một đạo cánh tả mười vạn quân, ngựa 1.500 con theo đường châu Lạng Sơn, Văn Lan mà tiến vào. Cánh hữu 20 vạn quân, ngựa ngàn con theo đường châu Đại Man mà vào. Một đạo 10 vạn quân, ngựa 500 con theo đường châu Bố Chính Minh Linh mà vào. Một thủy đạo thuyền 3.000 chiếc, quân thạo thủy chiến 30 vạn, theo cửa biển Hoan Châu, Hội Thống Môn. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa cùng đi, thanh thế quân binh chấn động.
Duệ Vương lo lắng mới triệu đình thần đến hỏi. Mọi người đều nhìn nhau mà không có kế sách khả thi. Tản Viên Sơn Thánh mới tâu rằng:
–    Trước đây Thục Vương ngông cuồng, coi thường oai trời, một bầy lẫm liệt, tưởng che được cả trời. Hoàng đế đã độ lượng khoan hồng, miễn cho khỏi rơi tổ vỡ trứng. Nay lại không biết hối cải, muốn tiếp tục mưu đồ vọng tưởng, châu chấu đá xe, thế như lông tơ trên lò lửa. Bệ hạ sao phải lo lắng việc điều quân khiển tướng. Thần xin đảm nhận việc này.
Duệ Vương tươi tỉnh lại hỏi:
–    Còn việc gìn giữ miếu đường thì Khanh định tính như thế nào?
Sơn Thánh tâu rằng:
–    Sự quyền biến không thể dự đoán trước được. Thần xin được lĩnh 50 vạn hùng binh. Thiên hạ của quân vương khắc có ngày được yên định.
Duệ Vương đồng ý. Sơn Thánh mới lấy 10 vạn quân mạnh, voi ngựa trăm con, theo đường chính Thập Châu chiếm giữ những nơi lũy cao hào sâu, không ra giao chiến. Ngầm sai Dũng mãnh Nguyên soái Tổng đốc Đại vương dẫn 3 vạn quân theo bên trái ra châu Văn Lan để ứng chiến cánh tả của quân Thục. Lại sai Quý Minh Long Linh Chi quân Phụ quốc Thượng Đại tướng quân, nay tức là Tả Kiên thần, trấn tại lầu Tây Bắc Động Sơn Thần vị, tên là Tuấn Long, trấn bên sông dưới chân núi, men theo đằng sau châu Đại Man mà ra, giả lập một đồn binh để ứng chiến với hậu quân của Thục. Lại sai Phụ quốc Ma Vương Đại thần Anh linh Nhất bộ Hào kiệt Thượng tướng quân dẫn 6 vạn binh mã mà ra ứng chiến cánh quân bên phải ở châu Bố Chính Minh Linh. Lại sai Tán quốc Tá thánh Đại thần Tuấn Đôi Hào kiệt Đại tướng quân, nay là Tản Viên Sơn Tả kiên Lãng Ma Lộ Sơn Thần vị, tên là Tuấn Đôi, dẫn 3 vạn binh mã cùng với thuyền bè hơn 30 chiếc ứng chiến thủy đạo ở Hoan Châu, cửa biển Hội Thống Môn, cai quản luôn một mặt của Ái Châu. Lại sai Đại tướng Thần cơ Hổ Ma vương Dũng mãnh Anh linh Đô thượng Đại tướng quân đem 3 vạn quân tùy nơi mà ứng chiến.
Sơn Thánh tự dẫn quân theo đường núi Thập Châu, đánh lớn một trận, lấy được ấn tích cờ xí của quân Thục. Sơn Thánh bèn giả viết một bức thư của Thục Vương cho chủ tướng quân Thục rằng:
–    Nước Văn Lang triều Hùng có một thần tướng. Nay nhà ngươi phụng mệnh dẫn quân đến đánh nước lớn. Binh quý ở bí mật, chứ nên khinh động. Đợi khi có chiếu báo, tất sẽ định được.
Viết xong làm giả ấn tín của quân địch mà đóng vào trong thư. Lại khiến một người thạo việc ăn mặc quần áo của quân địch, tự xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến trại lính cánh quân chính của địch đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư, ra sức cố thủ. Cánh quân phải nghe có biến cũng không gửi thư báo gấp đến được.
Sơn Thánh bèn tiến quân, ngày đêm đi gấp hơn 150 dặm, đến thẳng kinh đô nước Thục, chia quân mà đánh. Chủ tướng nước Thục không kịp đến cứu. Sơn Thánh lấy sách và gậy thần chỉ vào, đại phá cánh binh mã bên trái của Thục, bắt sống toàn bộ. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên phải rút chạy. Thế là Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch quân địch, dẫn binh mã về kinh thành tấu cáo chiến thắng. Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ chối không nhận, quỳ xuống tâu lên Duệ Vương rằng:
–    18 đời họ Hùng hưởng nước dài lâu, tất là lòng trời có hạn mà có quân Thục thừa cơ đến chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn cũng là bộ chủ nước Ai Lao, cùng là tông phái của đế vương đời trước. Thế nước khác thường đều do tiền định. Vua sao quyến luyến một cảnh trời Nam mà chống lại ý trời, tất dẫn đến thế cùng cực chém giết mà hại sinh linh vậy.
Duệ Vương ngừng hồi lâu rồi nói:
–    Lời của Khanh nói cũng có lý, ta đã biết rồi. Nhưng lại nghe nói rằng thời bình thì quan trọng trước hết là con trưởng, thời loạn thì đầu tiên là kẻ có công. Thục Vương ngông cuồng, Trẫm đã được Khanh làm vây cánh, binh trời lẫm liệt, chúng địch sạch tan, quốc thái dân an. Công của Khanh không lớn lao hay sao? Khanh lại là rể quý trong nhà, là trung thần của đất nước, là người được Trẫm cầu để nối ngôi trời. Trị quốc chính ngoài Khanh ra thì còn ai nữa? Khanh hãy nhận lấy ngôi này, đừng từ chối mà phụ ý cầu hiền của Trẫm.
Tản Viên Sơn Thánh bất đắc dĩ đành tuân theo mệnh đó. Từ đó tuy giúp Vua trị nước nhưng không dứt được chí dạo chơi nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, vàng bạc châu báu coi nhẹ như sợi lông. Lánh tục tìm nhàn vốn là ý nguyện bình sinh chẳng thể thay đổi được. Được hai ba tháng, Tản Viên Sơn Thánh lại nói với Duệ Vương rằng:
–    Sự nghiệp bá vương thay đổi xưa nay là lẽ thường. Họ Hùng hưởng nước đã hơn hai ngàn năm. Nước Việt từ Thái tổ Hoàng đế khai quốc, đều đã có con hiền cháu thánh, cha truyền con nối, tới nay được18 triều. Bệ hạ sinh hạ được 20 hoàng tử, đều đem thân về chốn Bồng Lãng, thoát khỏi bụi trần, sau không có người để mong kế truyền. Nghiệm đó thì cơ đồ họ Hùng đã đến lúc mạt, vận nước sắp đến hồi kết thúc. Lại như thần, vốn chỉ là con rể trong nước, mà nắm giữ đại quyền, không dám mà không một lần nhận mệnh cho bệ hạ được yên lòng. Đâu dám ở ngôi trời lâu dài mà chống lại thiên cơ. Thần xin Bệ hạ cầu người hiền mà nhường lại ngôi vị cho thuận với lòng trời, gỡ bỏ nỗi lo muôn năm vậy.
Bèn trả lại ngôi vị cho Duệ Vương mà nhận lời đó để lại cai quản đất nước, rồi đợi tìm người hiền nối vị. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh bái tạ từ biệt, khắp nơi dưới trời không đâu là không có dấu chân Thánh, cùng gió mây voi ngựa mà ngắm xem sông núi, sương móc xe kiệu mà lên xuống trời đất. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời, nhạc phượng ca loan, tiếng hình là điều thú vị cõi Bồng Lai. Cỏ bồng dẫn lối, Ngũ hồ gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xe mây vạn hình là bước chân, non xanh nước biếc quấn quít chưa đẫy càn khôn. Thánh Nam thần Bắc, ra vào chốn phong cảnh chín trời. Cứ mỗi năm đúng tháng ngày sóc ngày vọng cùng với những phiên đại lễ của triều đình thì Sơn Thánh hôm đó đều quay giá về triều, chưa lần vắng mặt. Tan chầu lại theo lối cũ ghé bước nhàn du. Cứ thế được hơn 10 năm thì bỏ hết được mối ràng buộc.
Đến đúng năm Mậu Thân ngày 15 tháng 1 bỗng thấy Thục chúa sai sứ giả tới đem theo một trặm hốt vàng cùng với một trăm thước gấm rồng, trước dâng lễ, sau đưa thư cầu tới Duệ Vương. Thư trong đó viết:
–    Bộ chủ Ai Lao, thần, Thục, khâm thừa mệnh trời làm chúa tể một phương, ngày trước dám ngông cuồng không theo đúng lễ làm thần mà dám xúc phạm bền trên, thật là đáng chết, mà quốc gia vẫn còn toàn vẹn, thực là ơn lớn của Thiên hoàng. Nay trộm nghĩ, thần vốn cũng là tông phái của nhà họ Hùng, đã khai cơ sáng nghiệp, nối dài công đức của tổ phụ mà có điều lành cho con cháu nước nhà được một bề phú quý to dày như vậy. Lại nghĩ, người có tổ, vật vốn có tông. Thần được nhiều ơn đức mà không báo đáp tổ phụ ở dưới cửu tuyền, không thỏa linh thiêng của miếu đền phi tử. Mỗi khi nghĩ đến thì lại càng thêm thâm cảm. Nên nay không sợ bị lời quở trách uy nghiêm, xin bề trên niệm tình trước đối với thần Thục đây, cho được kết hòa thân, phụng lễ chầu cống, để được thẫm đẫm ơn vua, sau là không phụ ý nguyện bình sinh của bậc con cháu này vậy.
Hôm ấy, Sơn Thánh đang đứng trong chính điện. Duệ Vương xem xong thư ấy nhân việc đó mà hỏi Sơn Thánh rằng:
–    Thục Vương vốn là tông phái của Tiền Hoàng đế. Trước vì ngông cuồng mà dám đến xâm chiếm nước ta. May mà ý trời còn cho cơ đồ họ Hùng chưa hết. Ngày nay Thục chúa lại xin được cầu hòa. Mong tướng quân xem kỹ rồi nói với Trẫm nên thế nào.
Sơn Thánh đến trước ngự tiền mà tâu riêng rằng:
–    Thục chúa đúng là tông phái của Tiền Hoàng đế, làm chúa tể một phương. Ngày trước muốn đến xâm lăng làm cho Bệ hạ phiền lòng, cũng là bởi trời khiến cơ đồ họ Hùng thứ 18 một phen điêu đứng. Bệ hạ không cần phải oán giận vậy. Ngày nay lại cầu hòa, tức là biết tiến biết lui. Thục chúa đúng là một vị hiền quân, nay biết kế ấy không bằng mở rộng lượng độ đồng ý cầu hòa thân. Đó là sự sáng sốt đem đến sự hòa thuận của Bệ hạ. Vả lại họ Hùng theo ý trời đã định, nhân việc cầu hòa này mà gọi tới nhường ngôi cho. Bệ hạ như thế sẽ là bậc thánh. Việc xong Bệ hạ cùng với thần có thuốc của thần tiên, chi bằng rong ruổi cõi trần, ba sinh nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, mãi cùng với trường xuân tuế nguyệt, lầu rồng gác phượng không dính bụi phàm. Trần gian non xanh nước biếc miên man thưởng ngoạn. Tốt thay Quân tử! Đó chẳng là vui sao? Thần và Bệ hạ đã rõ kế đó thì hãy quyết đoán. Việc không thể chần chừ.  
Thế là Duệ Vương nói:
–    Khanh nói phải thay. Trẫm theo như vậy.
Bèn sai sứ giả theo binh mã về triệu Thục chúa đến nhường ngôi cho. Thục chúa bái tạ. Duệ Vương nhân đó ban cho nỏ thần rồi quay về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh mong hóa sinh bất diệt. Một hôm Duệ Vương ngự bút làm thơ rằng:
Cỏ động tiên bồng đượm xuân xanh
Rêu phủ cung vua mới vẻ lành
Bởi ở thế gian nhiều sự vặt
Gió bụi với trời sao cố ganh.

Ngâm thơ xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa cùng giữa ban ngày mà bay lên trời đi vào cõi hóa sinh bất diệt.
Thục chúa nhận được nhường ngôi, cảm công đức ấy bèn đại giá đến núi Nghĩa Lĩnh, lập nên miếu điện để làm nơi quốc gia thờ phụng. Lại dựng 2 cột đá ở giữa núi, chỉ trời mà thề rằng:
–    Xin được nguyện ước trời xanh chứng giám cho tỏ tường. Thần tiểu tử tôi là Thục An Dương thu nhận cơ đồ họ Hùng, tiếp nối chính thống. Ơn sâu đức lớn sánh cùng trời đất. Nay lập miếu đường họ Hùng để làm nơi muôn vạn năm cúng thần, hương lửa không ngớt, phụng thờ như lễ. Giả sử các vua sau này kế vị mà bội ước nhạt thề thì núi sông trời đất sẽ chứng giám việc phụ lời thề này.
Chúc xong, Thục Vương quay về đô thành, ban chiếu cho các xã Nghĩa Lĩnh, Ma Xá, thôn Cổ Tích làm thôn dân trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Hùng Vương Sơn thánh, xem theo trong sự tích của Hùng Vương. 22 xóm của huyện Bất Bạt, Thủ Pháp, Lăng Sương làm dân thôn trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Sơn Thánh. Cùng với xã Trung Độ cùng huyện làm dân thủ lệ. Chính quán động Lăng Sương, ngoại quán xã Phí Xá, cùng với các ruộng thờ ở các phủ huyện xã sách động trang, cộng 2.700 mẫu để phụng thờ hương lửa cho các điện Thượng, Hạ, Trung, mãi trùm vạn thế. Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần thay vua đổi bá thì Tản Viên Sơn Thánh đều có phép thuật thần tiên. Lúc hoặc biến hiện ra chân thân, lúc hoặc cảm thông linh ứng. Hộ quốc an dân, có công với đời. Các triều đại đều chuẩn y các cung điện cùng với các xã trưởng tạo lệ, dân hộ nhi mà miễn việc binh thuế cùng các việc sai dịch, phụng thờ như trước. Cứ thế mà cùng với mạch nước để tiếng thơm truyền lưu vạn cổ. Tốt đẹp thay!

Chống Thục lần thứ nhất. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ.

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chống Thục lần thứ nhất

Tản Viên Sơn nhìn từ quê hương của Tá Thánh

Khi Hùng Duệ Vương được 115 năm muốn truyền lại ngôi vị cho con rể Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Vương lại nói với Sơn Thánh rằng:
– Cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối nên mới cầu tuyển rể hiền mà kế tục ngôi vị của Trẫm. Khanh lại không muốn nhận. Quốc gia này biết giao cho ai được?
Sơn Thánh nghe vậy còn do dự chưa quyết. Đến 5 năm sau vào năm Kỷ Mùi, Thục Vương (là chúa phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái của Hùng Vương) biết được là Duệ Vương tuổi thọ đã cao mà 20 hoàng tử đều theo nhau về cõi tiên, không có người lập trưởng, muốn nhường lại ngôi cho con rể Tản Viên. Thục mới ngầm khởi việc binh đao tự muốn đến tấn công mà chiếm lấy nước. Biên phương báo gấp. Vương bèn cùng với đình thần bàn bạc. Trong triều có Liêu Công bước lên bàn rằng:
– Bệ hạ vâng theo mệnh trời, vua tôi tướng sĩ đều yên ổn vô sự đã lâu ngày. Quân binh huấn luyện không tinh. Nay có can qua động tới, liên quan đến nhân dân xã tắc, tình thế không thể giữ được như nguyên thì sự linh thiêng của Thái tổ Thái tông trên trời không phải không bị phương hại bởi chúng ta. Vạn nhất xảy ra binh dữ chiến nguy, Thục khó mà phá được, tổ tông dân chúng biết trông vào đâu. Chi bằng nhân đây mà dùng mưu thận trọng, bí mật hối lộ tướng địch, gửi thư cho Thục Vương để xem ý có lui binh không, rồi mới tùy cơ hội về sau.
Vương nghe vậy đã muốn dùng kế ấy, bèn tìm triệu Tản Viên Sơn Thánh để hỏi. Sơn Thánh tâu rằng:
– Hơn hai ngàn năm đến nay, mười bảy đời thánh quân gây dựng, ơn sâu đức dày đến tận cốt tủy của nhân dân. Nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ ban cả ra nước ngoài. Còn quân Thục đã không tự giữ gìn lại dám nổi lên chống lại thì cơ thất bại đã nghiệm rõ. Nếu một ngày Bệ hạ nêu rõ tội ấy rồi dấy thảo phạt, lấy nghĩa mà phục thì dân ta sẽ đều theo Bệ hạ mà không theo giặc. Mối họa của quốc gia lo gì không dẹp được. Thần xin lĩnh 3 vạn hùng binh vượt ra chiến địa, một mình một xe sang đến đất Thục thì có thể bình định được.
Vương nghe vậy rất vui mừng, bèn ngay hôm đó trai giới lập đàn bày lễ, cúng tế trời đất bách thần, lấy nỏ thần linh chú trao cho Thánh mà rằng:
– Binh cơ quý ở thần tốc. Tướng quân dùng thứ này mà bắn thì sẽ được như có thần vậy.
Lại cùng vào tế cáo trong miếu. Vương đứng quay mặt về phía Bắc. Thánh quay mặt hướng Nam. Vương thân lấy cờ việt, cầm cán mà nói:
– Từ đây ra ngoài xa là do tướng quân nắm giữ cả.
Sơn Thánh bái tạ rồi quay về Lăng Sương làm lễ ở mộ thân mẫu. Khi ấy thuộc hạ tay chân người nhà ở động Lăng Sương theo Thánh hơn trăm người, làm thị vệ hai bên tả hữu. Còn sách Thủ Pháp, trại Đồng Luận, Ma Xá, Đan Thê cùng thần tử của các châu trang động sách hơn ba ngàn người làm quân của Tả Hữu Kiên Thần. Hôm ấy (tức ngày 15 tháng 5) tụ hội ở khu lăng quê nhà, mổ trâu khao quân sĩ. Rồi tiến về kinh thành, quân cả nước tới 3 vạn. Sơn Thánh lại bái tạ trước bệ rồng, lĩnh mệnh đường đường mà tiến. Sơn Thánh xuất quân, lại có thơ rằng:
Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ
Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ
Việc công vó ngựa bay trong gió
Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ
Ly biệt một lần chia cách núiRuổi rong ngàn dặm tựa như mơ
Kiếm cung từ cổ anh hùng sự
Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Lại nói, khi ấy quân Thục đã tiến đến châu Quỳnh Nhai (nay là đất phủ An Tây). Sơn Thánh tiến quân đến Mộc Châu, gõ chiêng lớn tiếng, kết trận đóng quân ở đó. Bèn gửi hịch cho các phiên thần lấy phiên binh ở các lộ, tùy nơi mà ứng chiến. Thế rồi Sơn Thánh lệnh sai 2 vạn hùng binh khiêu chiến, giả không thắng chạy lùi hơn 50 dặm, lại đánh trống reo hò khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền điều 30 vạn quân đến đuổi đánh. Quân Hùng giả vờ bỏ chạy, phục nấp ở hai bên núi Thiên Lũng. Thục tướng kéo đến Mộc Châu. Sơn Thánh mới ngồi một mình trên núi, tay cầm sách thần niệm chú mà ước. Bỗng từ trên trời giáng xuống một đại thần tướng, thân cao 5 trượng, chân đi giày lửa vạn nhận, đầu đội mũ trăm sao, tay cầm một chiếc tiêu gỗ dài 30 trượng, hình như vỏ ốc, đứng tại đầu núi ở mé bên trái Sơn Thánh (sau phong là Tả Thánh, cũng phụng thờ ở đền Tản Viên), thổi tiêu lên thì sấm rền gió giật, sương nổi mây bay, mù mịt vạn khoảnh, đổ cây bốc nhà, cát dâng đá chạy.
Quân Thục thua to chạy tán loạn. Sơn Thánh bèn đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn hơn trăm phát. Thế rồi quân mai phục bốn mặt vây lại, còn có thú hổ trăm vòng. Bắt giữ tất tật, một xe không lọt, một ngựa không thoát. Xong thần tướng tự nhiên bay lên không mà đi.
Sơn Thánh tức tốc dâng tấu báo chiến thắng. Vương bèn ban chiếu vời về. Sơn Thánh phụng mệnh quay cờ trở lại tận cửa cung bái tạ. Vương rất vui mừng, lập tức mở tiệc ăn mừng, phong làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần. Tả Hữu Kiên Thần được phong làm Cao Sơn Đại vương, Quý Minh Đại vương. Về sau các công thần dẹp giặc được gia phong các nơi có tích riêng. Kẻ sĩ đời sau có thơ rằng:
Đúng là thước kiếm xua giặc dữ
Liền ngay thành chiếm trả vua ta
Nghìn năm về trước, nghìn năm lại
Nước xứng là thần, đáng con nhà.

(Bản cũ còn viết rằng: Duệ Vương làm thơ thêm 4 câu trên:
Quả nhân chẳng liệu kẻ phương xa
Cử nghĩa lao phiền tướng quốc gia
Vạn dặm trống cờ dồn hết lực
Mịt mùng mưa gió gạt khăn qua.

Từ đây trở xuống bản cũ có nhiều sai khác, nhưng cứ viết đúng đến cuối để lưu giữ vậy).

Sơn Tinh – Thủy Tinh. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Sơn Tinh – Thủy Tinh

Tượng công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung ở Việt Trì

Lại kể, khi đó cơ đồ họ Hùng đến lúc mạt suy, quốc thế cáo chung. Duệ Vương ở ngôi sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt theo nhau về cõi tiên. Sau đó Đế xa giá đến núi Tam Đảo cầu tự, mộng thấy điềm rắn lớn, rồi sinh được 2 con gái, đều có đức tinh hiền, phong tư tuấn nhã như Tề Khương, Tống Nữ, có dáng vẻ cùng cả con vua cốt tiên. Một người tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung. Một người là công chúa Mị Nương Ngọc Hoa. Vua rất yêu quý. Công chúa Tiên Dung về sau gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam, sau vợ chồng cùng bay lên trời giữa ban ngày mà hóa sinh bất diệt, để lại di tích riêng). Còn lại công chúa Mị Nương (tên húy Ngọc Mỹ), cung trăng đang khóa, nhụy ngọc hiện che, nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”, biển đề “Ngắm trăng cầu hiền”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi của Trẫm thì sẽ gả công chúa cho.
Ngày đó thuyền bè tấp nập bên sông, trước lầu nhộn nhịn xe ngựa. Bút văn múa mà hình rồng động, sao đẩu rơi, sông mưa lạnh. Trận võ bày mà hổ báo khiếp, tiếng sấm kinh, góc bể trào. Một mối nước nhà mà bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận là thơ Đào yêu, còn chưa thổi được đàn ngâm vậy. Người đời sau lấy đó mà có thơ làm chứng:
Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào biết
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Lại nói lúc đó có Tản Viên Sơn Tinh (tức là Nguyễn Tuấn Công, hiệu là Thần Vương) với Động Đình Thủy Tinh hai người là bạn học cùng nhau, có nhiều phép thuật thông thiên mà chưa đến ứng tuyển. Hôm sau Sơn Tinh gửi lời đến Thủy Tinh rằng:
– Người xưa nói giai nhân khó được, nam tử đã khó gặp, huống chi lại là việc cưới công chúa làm vợ. Tôi với anh âm dương hai đường khác biệt, mà lại có cùng tình bạn học. Ngày này ở dương thế cung vua đang thật là bậc khuynh thành như trướng Đường buồng Ngu, chưa chọn được ngưới xứng tuyển. Chúng ta chẳng quản ở xa mà tới, để cầu lấy duyên này. Ngoài chúng ta ra thì còn ai xứng nữa.
Thủy Tinh từ khi được tình ý đó, ngay hôm ấy sửa sang quần áo, tu tập quan quân, lập tức đến núi Tản Viên. Sơn Tinh gặp đón đủ lễ khách. Việc xong thì Sơn Tinh với Thủy Tinh cùng đến kinh thành, cung kính trước ngự tiền tâu rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vương rất vui mừng, bèn rời xa giá đến sông Bạch Hạc để thi tài. Sơn Tinh đến đứng ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước. Phút chốc bỗng thấy giữa sông mây mưa, mặt nước sóng dồn, ngã ba sông tràn nước, tiếng sấm nổi đến làm kình côn lạc phách, cuồng phong vạn dặm thổi tung, sóng dựng kinh hồn rùa cá. Trùng trùng trắng đỏ, gieo khắp cõi trần. Xúm xít xanh vàng, mịt mờ trời đất. Thiên hình vạn trạng, quỷ xuất thần chìm, biến hóa u minh. Hễ trông thấy đó là run tim mất mật.
Sơn Tinh ở nơi ấy tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ vào. Tức thì mọi thứ kỳ lạ đều theo đầu trượng mà quét sạch. Bỗng lại có núi Ngũ nhạc di đến ở giữa sông, cao ngàn vạn trượng, đứng sừng sững giữa trời đất. Thú chạy đến chầu, chim bay cùng họp.
Thủy Tinh ở giữa sông lại gọi sóng to gió dữ. Vạn vật mất hình tiêu biến trong nước. Biến biến hóa hóa. Phép đều cùng là huyền diệu.
Vua không biết phải gả công chúa cho người nào. Ngày hôm đó mới xa giá về cung, cử sứ giả gọi hai người lại nói rằng:
– Trẫm chí có một viên ngọc Lam Điền, trước giờ chưa chọn được ai để kết đôi. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, không biết phân định thế nào. Vậy ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả công chúa cho người đó.
Thế là Thủy Tinh về cung Động Đình để cầu tìm vật lạ (nguyên là sách ước đã đem cho Sơn Tinh). Sơn Tinh ra ngay dưới lầu, lấy trong tay áo ra cuốn sách thần, đọc chúc với trời mà ước được đồ sính lễ. Bỗng thấy, voi trắng chín ngà, kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Sơn Thinh thu lấy đó, ban đêm vào giữa giờ Tý đem sính lễ vào đến lầu rồng. Vương bèn gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh. Trong hôm ấy đón về ra khỏi cổng thành. Sơn Tinh lấy gậy chỉ lên trên trời, tay cầm sách ước mở ra mà cầu chúc. Bỗng thấy mây bay năm sắc, rồng vàng, phượng đỏ, lân, rùa hạ thẳng tới đón giá. Cùng với mãnh hổ bách thú bầy hơn vài ngàn con đến chầu sau giá, cùng hội rước về động núi Tản Viên. Vua ở đó thấy mà kinh động.
Đến giờ Mão Vua thấy Thủy Tinh mới đem lễ tới. Binh cá rùa rắn ngoài ngàn con cùng đến. Vua nói:
– Trẫm như đã hẹn. Sơn Tinh đã đem sính lễ đến.
Thủy Tinh ân hận mới về thủy cung, tấu lên triều đình xin dẫn quân đánh Sơn Tinh.
Bản cũ còn thêm một đoạn nên soạn chép ở đây:
Cùng ngày Thủy Tinh chỉnh đốn quân nhu, tụ họp thủy tộc, bày trận ngàn hàng côn sấu, lập binh vạn đội kình nghê, thuyền rồng dốc tiến ra giữa sông, trống rùa gõ vang rung đáy nước, hàng hàng thẳng tiến. Đi được nửa đường thì Sơn Tinh nghe tin, bèn cùng với Duệ Vương giăng lưới võng sắt ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm để ngăn quân thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mở ngang một dải sông nhỏ từ Lị Nhân đến vùng chân núi Quảng Oai, kéo lên bờ trên của cửa sông Hát mà ra sông Cái, vào sông Đà để tập kích núi Tản Viên ở mặt sau. Lại mở một con sông ngang nhỏ gọi là sông Bờ, tấn công núi Tản Viên ở hướng mặt trước. Vì thế Sơn Tinh mới dùng phép thần biến hóa, liền gọi người trong núi lại, lấy tre đan thành rào chắn ở trên núi. Lại bảo cho dân rằng:
–    Các ngươi nếu thấy quân địch tấn công dưới nước ở trước rào thì đều bắn và chém đi.
Nhân dân tin theo lời đó. Trong khoảnh khắc thủy tộc tiến quân đến đánh. Nhân dân cùng nhau chém chết rất nhiều. Khi ấy các loài kình nghê côn miết chết đều dạt vào bên sông. Thủy Tinh căm phẫn oán hận.

Từ đó mỗi năm đến tháng bảy tháng tám Sơn Tinh và Thủy Tinh lại giao chiến ở núi Tản Viên. Nhân dân sống gần nơi đó bị mưa gió lũ lụt gây hại rất nhiều (những nơi mà Sơn Tinh cùng Thủy Tinh giao chiến các trận, người dân địa phương sau lập thành miếu phụng thờ, nên còn có các di tích riêng để lại).
Bản cũ còn thêm một đoạn có cùng phần đầu như đã ghi:
Nguyên là Sơn Tinh được quyển sách thần, có bí thuật phép tiên, nên quân thủy tộc không thể gây hại. Người bấy giờ có thơ rằng:   
Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần
Muốn viết thơ này để hậu nhân
Bể ái gương treo đôi mắt gửi
Ham tình động sóng giữa thu phân
Sách ước đủ rồi đền nợ trước?
Má hồng sao chịu ganh phu quân
Trường Sa ngày ấy mà không gặp
Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?
Lại nói khi ấy Duệ Vương hưởng quốc
(Bản cũ còn thêm một đoạn là: bốn biển thanh bình. Con vua cháu ông đều đã rời xa. Núi sông Thần Phù, Yên Tử cao thấp trời rạng mây bay. Trăng náu Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc. Hoặc lúc dạo sông Tiểu Hoành ngoạn xem thú vui đánh cá, đi đến các nơi Cổ Đằng, Tam Vật Lại của huyện Ma Nghĩa, nhìn ngắm núi sông thanh tú, lập làm hành cung, nay là cung điện Trung Chấn cung. Lại đi qua 8 xã Thụy Phiêu, Tam Sơn, Lễ Tuyền, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, lập lại Nam Chấn cung ở cửa 12 khe nước của Bể Cạn. Lại thường đi săn đến xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung điện Mang Sơn, rồi để lại ruộng thờ 72 mẫu ở xã An Diệu. Còn 200 mẫu nay ở xã Đông Triều, nay là dân tạo lệ cho cung ấy mà hậu thế phụng thờ hương lửa.
Lại quay về động cũ nơi núi Tản Viên, mà xem đất ấy ba ngọn chót vót vạn nhận cao thay, đẹp đẽ sáng lặng, không thể tả được. Chỗ thôn Cốc người ở đông đúc, phong tục thuần hậu, rất lấy làm yêu mến, bèn thiết lập một cung điện ở trên đỉnh núi thuộc đất 22 xóm của Thủ Pháp, nay là Thượng Chấn cung, tọa Cấn hướng Khôn, làm chính điện. Trung Hạ Chấn cung là nơi cầu đảo. Đông Chấn cung là nơi tề tựu bái yết. Nam Chấn cung là nơi nghỉ ngơi. Từ đó khâm phụng mệnh Hoàng thượng, thường cùng với Tứ phủ hội đồng non biển đi xem xét vạn sự trong nhân gian
).
 

Trống đá ở chùa Hoa Lonng bên bến Việt Trì

Chúc thư Ma Thị Cao Sơn Thần nữ. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chúc thư Ma Thị Cao Sơn Thần nữ

Đền Trung Tản Viên

Lại nói Thần Vương trở về động Lăng Sương, dùng gậy đọc chú mà cầu, giở sách thần mà ước, tự nhiên hóa thành đài các đủ muôn vạn vật, đến làm lễ ở lăng mộ thân mẫu và tổ tiên. Thần Vương lại về núi thiêng Ngọc Tản, nói với Lão bà rằng:
– Từ thủa nhỏ con đã ở cùng với mẹ. Công đức của mẹ cao như trời vậy. Mẹ sinh mười tháng mang thai, công đức như núi Thái sông Hoàng. Mẹ nuôi ơn sâu đức dày, đều cùng là tấm lòng đức lớn. Sao có thể quên được tình cảm đó. Ngày nay con về đây xin nguyện thần vận quỷ dẫn cho một chút để báo đáp công đức ấy.
Bèn lấy sách thần mà ngầm cầu trời đất, đọc ước mọi bề. Tự nhiên chốc lát nổi một trận mây bay mưa rơi, sấm đuổi gió xua, khắp trời nổi sấm đùng đùng, mưa rơi như châu ngọc trên mặt đất. Cho tới nửa canh giờ sau thấy tiền đồng khoảng trăm vạn quan. Thần Vương lấy đó mang vào dâng tạ ơn mẹ nuôi. Ma Thái bà thấy tấm lòng thành thật đó, thầm mong vạn sự được đủ đầy, bèn lấy những vật rừng núi của mình đem trao cho Thần Vương lưu giữ để sau khi trăm tuổi có nơi thờ phụng hưởng thần. Nên bèn lập một đạo chúc thư để lưu mãi ngàn vạn đời nơi quản giữ miếu đường hương lửa.
Chúc thư này viết rằng:
Nước Văn Lang, xứ Hưng Hóa phủ Gia Hưng huyện Thanh Xuyên sách Thủ Pháp, thôn Mang Bồi xóm Cốc, thần nữ Ma Thị Cao Sơn, tên húy là Bạch, lập chúc thư. Sự là tôi nguyên sống ở động này, núi sông ruộng vườn, khe ngòi miếu mạo, cỏ cây rừng rú từ trước tới nay đều là của tôi. Song lại nghĩ, mình sau khi trăm tuổi, thân về chốn Bồng Lai, việc hương lửa xuân thu không ai phó thác, không biết lấy ai phụng thờ gia đường. Đương lúc năm Quý Dậu, tôi có người con nuôi quê ở huyện nhà Lăng Sương tên là Nguyễn Tuấn, từ nhỏ đã cùng chung sống, coi như con đẻ. Ma Thị tôi tuổi đã ngoài 90, chỉ sợ mệnh trời chưa biết sớm hay chiều nên mới kê khai các vật, nhất nhất ghi rõ trong chúc thư, giao cho con nuôi gìn giữ, lưu truyền vạn đời không đổi, để phụng thờ hương lửa. Sự người thường xem trong các luật điển xưa nay mà lập một đạo chúc thư, để lại toan tính ấy cho người đời sau mà tuân theo. Núi sông ruộng đất, khe ngòi miếu mạo mà tôi có, cao rộng bao nhiêu trượng thước tấc đều kê khai sau đây, để căn chiếu vào đó mà sử dụng. Kê:
– Núi thiêng Ngọc Tản Thứu Lĩnh ở sách Thủ Pháp, dân thôn các xứ cộng là 22 xóm. Đỉnh núi Ngọc cao 112.300 trượng, chu vi cộng 10.000, dài 10.680 trượng. Cùng các khe ngòi gồm 6 đoạn, cộng là 12.300 trượng.
– Một đoạn từ thượng điện trên đỉnh núi đến hạ điện là khe Lăng Cốc, cửa cuối ngòi Bùi (trước đây là nơi ở của Ma Thị, nhân đó gọi là Bùi Nương) ra tới sông lớn dài một vạn trượng.
– Một đoạn trên từ đỉnh núi Mũi Miêu, tục gọi là ngòi Bô, cửa đổ tới bờ sông dài ba trăm trượng.
– Một đoạn từ Ba Dương, thường gọi là ngòi Lông, tới bờ sông dài năm trăm trượng.
– Một đường dài ngàn dặm từ trang Cẩm Đới xứ Hàm Rồng dài tám ngàn năm trăm trượng.
Đông giáp hai huyện Ma Nghĩa
(sau đổi là Minh Nghĩa), Thạch Thất. Nam giáp hai huyện Mỹ Lương, Phúc Lộc. Tây giáp huyện Thanh Xuyên. Bắc giáp huyện Bất Bạt. Mặt tiền ở hướng chính Tây, tọa Cấn hướng Khôn.
Lại có Đại Giang – Tả Kiên Thần
(tức là cháu của bà Ma Thị, cũng có tên tích riêng), Ma Lãng Sơn – Hữu Kiên Thần (cũng là cháu của bà Ma Thị), Non Sơn Tây Nam Kỹ Động Thần – Trấn Đồng Long Đại Vương, Tây Bắc Hậu Phi Cung – Bạch Y Thần Nữ Đại Vương (cũng đều có các tích riêng).
Cùng với ruộng đất tế tự cộng là 270 mẫu 4 sào 1 thước 1 tấc
(các nơi thờ này cùng với ruộng thờ đều có tên bộ hạn mức riêng), từ sông Đà cho tới sông Bình, lấy ngã ba làm mốc giới, bốn mặt Đông Tây y như ruộng đất trong chúc văn đã lập.
Hùng Duệ Vương năm thứ mười tám ngày 18 tháng 2 lập chúc thư.
Ma Thị Cao Sơn thần nữ đã ký.

Lập chúc thư xong, Thần Vương bái tạ, rồi với mẹ nuôi Ma Thị cùng sống. Được một năm Ma Thị mắc bệnh mới gọi Thần Vương lại mà dặn lại rằng:
–    Sau khi mẹ Ma Thị mất, Vương nên lập một cỗ thọ đường đặt ở miếu đường phụng thờ cho tỏ đạo hiếu.
Thần Vương dập đầu lĩnh mệnh. Hôm ấy bà Ma Thị mất. Thần Vương bày lễ chôn cất, thiết lập miếu đường, lại đặt cỗ thọ đường ở bên trái miếu đường, bốn mùa phụng sự hương lửa như phép tắc, tới nay vẫn còn. Về sau có người  kẻ sĩ khen rằng:
Cơ đồ tạo dựng
Nghiệp đế lâu dài
Mười tám đời dằng dặc
Bao ngàn năm qua lâu
Bấy giờ có Thánh Tản
Chăm Ma Thị mẹ nuôi
Lão bà lâm mệnh mất
Truyền lại bức di thư
Lập miếu thiêng trên núi
Bên trái đặt thọ đường
Nhà cửa đều giao lại
Đạo hiếu cho vạn toàn
Anh hùng trăm đời mãi
Núi sông gom một trời
Đáng yêu thay, thần tiên vạn cổ
Lạ kỳ thay, mẹ con một nhà.

Lăng mộ đó táng ở núi cạn Vực Nham sách Phương Giao, huyện Thanh Xuyên, tới nay hiện vẫn còn.
Lại kể rằng từ sau khi an táng bà Ma Thị, Thần Vương lại trở về nơi động Lăng Sương cùng với Tả Hữu Kiên Thần (Tả Hữu Kiên Thần là cháu chắt của bà Ma Thị) xem như anh em cùng một bọc, phù tá hai vai, không chút sao nhãng giao tình. Khi ấy Thần Vương về nhà ở động Lăng Sương, đi qua một dải sông Đà, đến chợ Lăng Sương xem xét quê ngoại tổ tiên, cảm đức lớn của tiên tổ cùng với ơn sâu của thân mẹ, ngày hôm đó (ngày 12 tháng 1 bắt đầu cho tới ngày 25) bèn truyền nhân dân thiết lập 2 bệ cùng với 2 cột đồng ở tại nơi (đất ấy có dòng suối nhỏ sông Đà phía sau, lại có núi như hình rồng, voi, rùa trùng trùng điệp điệp, hai vai đỡ trái phải phía sau, cùng là nơi cao chân thoáng, tới đất bằng giữa chợ là lăng, trái phải hai bên đối nhau, mặt trước nhìn ra núi Tản Viên, có sông Đà làm nội minh đường như vậy) lăng (tức mộ tổ của Đinh Công và Nguyễn Công – chồng của Thái bà trước đây) mà tuyên biểu công đức của gia tiên, lập làm gốc cho phong hóa, vạn cổ lưu truyền làm kỷ cương. Việc xây sửa đất quê gia phần hoàn thành thì tới ngày giỗ (tức ngày 5 tháng 2), lại rước bài vị của mẹ cùng đến nơi cột đồng làm lế tế. Việc xong Công trở về cung sở, làm lễ tạ ở lăng của thân mẫu. Từ đó các châu động trang sách đều là thần tử (về sau nhân dân các nơi phụng thờ Thánh đều lấy đất này làm nơi riêng thờ bên ngoài). Hàng ngày đi ngắm cảnh săn bắn. Lúc lúc hứng khởi đàn ngâm. Hoặc luyện thuốc trường sinh (đất trang Đan Vân, sau cải là đất trại Túc Luận xã Đa Vân, chính là nơi Thần Vương luyện thuốc, nhân đó gọi là Đan Vân, cũng là đất của Thần Vương), đi du ngoạm non xanh nước biếc, hoặc dạo nơi Bồng Lai Đảo Lĩnh, hoặc quay về bay lên núi thiêng Tản Lĩnh, biến hóa vô cùng, thật là bậc thánh trên đời vậy.

Gậy thần sách ước. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Gậy thần sách ước

Tượng đá cổ ở đền Thượng Tản Viên

Khi đó Tùng Công còn đang lên núi Tản hái củi đem về bán mà nuôi mẹ, nên không có ở nhà. Những người trong động thấy việc như vậy bèn cùng ra nơi ấy (tức là bên góc ruộng nơi nhà Thái bà ở) mà làm lễ. Lúc ấy Tùng Công mới trở về đến nơi, thấy Thái bà còn đang nằm ở nơi đó, gió mưa mù mịt, nổi vù vù bốn mặt tựa như sấm vậy. Tùng Công cùng với người trong động khi đang tìm nơi làm lễ táng thì thấy mối đùn thành mộ (chính ở tại nơi góc ruộng có miệng giếng, có bàn thạch chính nơi dựng nhà, trước đây là chỗ sinh Tùng Công).
Lại kể rằng Tùng Công từ khi Thái bà tạ thế trong trăm ngày đều ở đó, nhà cửa cùng quẫn, tứ cố vô thân, sống trong căn nhà nhỏ ở chỗ xa xôi. Một hôm gần tối, thấy một lão bà từ bên ngoài đi vào, không biết từ đâu tới, là người rất kỳ lạ, đứng ở trước sân mà rằng:
Người con côi! Người con côi!
Quân tử vốn khó khăn
Hồng nhan nhiều gian nan
Con hiếu sẽ được yên
Muốn lập thân thành nên
Hãy về với mẹ nuôi
Dựa vào núi Tản thiêng.

Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn làm một lễ nhỏ, cẩn thận đặt trước mộ nhà rồi đi. Sau cùng về với lão bà Ma Thị mà ở.
Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bồi) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt như nguyên. Nguyễn Tùng lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt khăn đỏ, chân đi giày mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong dong bước đi như hoa gấm đùa phượng, bút ngọc vờn rồng, nếu không là nơi Vườn Kỳ thì cũng thành vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, sắc mây đê mê. Tinh thần hội đồng nơi đỉnh núi biến loạn. Mắt mày trời đất chao đảo quay cuồng. Cái cây lớn hồi sinh.
Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn đứng dậy chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng:
– Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân đói lạnh?
Ông lão rằng:
– Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, lầu phượng dựng nên, chính là trời sinh mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được. Trái lại, ta phải giúp giữ cây này để cầu cho non sông vững mạnh, đất nước bền lâu, vua trị được thấy có ngày thái bình vậy.
Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói:
– Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Lại bàn bụi trần khói bay, kiếp người phù du, có có không không, sinh sinh hóa hóa, cơ diệu khó đoán, sự biến khôn lường. Cả trời đất đều chung lý ấy. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là có thể cầu được phúc vậy. Khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa.
Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng:
– Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn, phép thật linh nghiệm, cơ thật diệu huyền. Nếu chỉ trời thì khắc mây bay mưa tạnh, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi Tản Linh, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng:
– Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu rõ được sinh tử thế gian.
Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần Vương. Mọi người trong động (tức là động Lăng Sương) đều kính phục. Tùng Công sửa sang lại nhà cửa lăng mộ, làm lễ bái yết các tiền nhân, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều làm lễ nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4).
Xong việc Thần Vương (tức Tùng Công) cùng ngày lên đường. Đi qua chỗ đất sách Thủ Pháp (thôn Cốc). Sách Thủ Pháp hay có nạn voi hổ hại, nhân dân rất khổ sở. Thần Vương đến nơi đất ấy, bỗng thấy một đám voi hổ hơn trăm con đang ngậm ba bốn người của sách Thủ Pháp. Lối về bị chắn mất bởi đàn trăm con thú chạy qua lại. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hổ Bắc voi Nam, cùng bỏ người ở nơi đất đầu gậy mà chạy mất. Thần Vương lại chỉ gậy ở đầu sinh. Những người đó đều sống lại. Nhân dân nơi ấy (tức sách Thủ Pháp) đều thấy việc lạ ấy, ngay hôm đó (ngày 5 tháng 5) cùng đến làm lễ bái hạ, xin làm thần tử. Thần Vương đồng ý. Từ đó voi hổ không dám xâm phạm, nhân dân đều được yên ổn nơi ruộng vườn đó. Thần Vương lại đi tiếp đến bên bờ sông, nhìn thấy sông lớn một màu, sương mù bay phủ mờ mịt. Bến sông không một chiếc thuyền. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì nước rẽ mở thông suốt thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy.
Vương đi đến trang Ma Xá châu Trung Độ (còn gọi là Trường Sa). Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen rồi cùng đem mà reo đùa. Thần Vương thấy vậy động lòng thương xót muốn cứu, bèn nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
– Các ngươi sao lại đùa nghịch như vậy. Nay hãy bán lại con rắn này cho ta.
Lũ trẻ chăn trâu cười mà bằng lòng. Thần Vương lấy 36 văn tiền để mua, đem đến phía trên bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú, dùng gậy thiêng chỉ vào. Tức thì như mộng mị chạy dẫn ở đầu gậy, con rắn sống lại. Rắn đen dập đầu bái tạ Thần Vương, trên đầu rắn có chữ Vương. Thần Vương đứng đó xem thì thấy rắn đen trở đi, giữa sông tách thành đường nước, mới biết đó là con của Long Vương (khi đó người ở Ma Xá thấy sự lạ đó đều đến làm lễ bái, xin làm thần tử).
Từ đó Thần Vương lại trở về nhà ở động Lăng Sương (tức là nhà và lăng của mẹ đẻ). Rắn đen trở về đến Động Đình, đem sự việc tâu lên. Đế Quân cảm công đức ấy bèn sai Thái tử (tức là con rắn đen) cùng với đô đốc Giao long đến đón Thần Vương ở động. Thần Vương tạ từ mẹ nuôi Ma Thị rồi theo sứ giả mà đến Thủy cung. Đi qua tường gấm cửa son, thấy gác ngọc lầu châu trùng trùng điệp điệp, tướng côn ngao ba ba lớp lớp hàng hàng, cùng với quân binh tôm, cá, rùa vây quanh hai bên. Đế Quân ngồi ngự ở chính giữa, mời Thần Sư đến ngồi ở long sàng bên phải, phán rằng:
– Gót rồng Đông Cung chính là Thái tử của Trẫm. Hôm trước đi dạo ở Tùng đài Linh điện, chẳng may gặp biến ở châu Trường Sa, may nhờ Ngài cứu khỏi, thật là ơn lớn. Hôm nay mời đến là muốn báo đáp tấm lòng ấy.
Thần Vương tâu rằng:
– Thủy phủ dương gian hai đường khác biệt. Cốt rồng sâu rộng, đâu chạm đến thổ địa. Nhà tôi vốn làm việc thiện đạo âm thầm, lại được thần phép. Buổi trước cũng có đi dạo mà cứu được sự biến, đó là bởi ở lòng người. Đâu ngờ hôm nay được gần dung nghi sáng rỡ. Không dám mong báo đáp vậy.
Cùng ngày khắp trong cung mở tiệc hội lớn, bày trải chiếu hoa rồng, thắp sáng bởi đèn dầu phượng, bình hương trướng ngọc, vàng bạc mã não, kỳ trân dị vật, đều là những thứ trên trần thế không có được. Tất cả bày ra la liệt trước mắt đều là cỗ ngọc đồ ngon. Đế Quân tự tay rót rượu mời. Thần Vương phục tâu rằng:
– Tôi thường vẫn mong gặp được những nơi kỳ khoáng. Nay may mắn đi xa vượt sóng mà tới được cảnh đây. Bình sinh chưa từng mơ thấy sự vui như vậy. Đâu dám không uống rượu cho say hết mình.
Tiệc xong, Đế Quân cảm tạ bằng vàng bạc châu báu. Thần Vương cố từ chối không nhận. Thái tử mới nói riêng rằng:
– Nay đã thấy mặt rồng, đúng là cơ hội ngàn năm có một. Công đức của Thần Sư như biển kình núi ngao, tiền tài đều nhẹ như lông hồng, báo đáp bao nhiêu cũng không đủ được công đức ấy. Nay Đế Quân có một quyển sách thần, truyền đủ phép lạ, nguyên gốc thông đất thấu trời đều ở trong cuốn sách thần ấy. Nếu Thần Sư muốn cầu, tôi sẽ tâu riêng với Đế Quân để xin cho được.
Thần Vương nói: Được. Thế là Thái tử tâu lên. Đế Quân cảm công đức của Thần Vương, liền mới lấy cuốn sách ấy ban cho. Thần Vương xem kỹ sách đó, rồi từ biệt. Long Quân sai Thái tử cùng dẫn quân tiễn tới tận bãi sông mới quay lại. Đời sau có người làm thơ khen làm chứng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.