

Hồn sông núi nước Nam còn mãi. Để hôm nay ta lại là ta. Xé mây trời sáng bao la. Anh linh tiên tổ Hùng ca đời đời.



Chùa An Lịch ở chân núi Lịch.
Bia chùa An Lịch.


Tứ đại Thiên vương ở chùa Láng, Hà Nội.
Trong đạo Bà La Môn, Tứ đại Thiên Vương hộ trì ở 4 châu quanh núi Tu Di, nơi có cõi trời 33 của Đế Thích nên có sự sắp xếp sau:
Trung tâm: Núi Tu Di với Vua Trời Đế Thích. Trong chuyện Tứ Pháp là Thạch Quang Phật, phần cốt lõi của cây Dung thụ, nơi Khâu Đà La đã gửi đứa con của Man Nương. Tên chùa thờ là Kim Ngưu.


Bản đồ khu vực Thăng Long thời Hồng Đức cho thấy phía Bắc hoàng thành có quán Chân Vũ bên hồ Tây, phía Đông là đền Bạch Mã, phía Tây là đền Linh Lang. Tuy nhiên, ở phía Nam hoàng thành lúc đó còn rất xa đàn Nam Giao, không hề có đền Kim Liên – trấn Nam Thăng Long theo quan niệm hiện nay. Thay vào đó ngay gần Nam môn là ngọn tháp Bảo Thiên cao lớn.
(Tên thường gọi là tháp Báo Thiên là theo tên ngôi chùa. Còn tên đầy đủ của tháp là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp (大勝資天寳塔). Do đó bản đồ Hồng Đức gọi là tháp Bảo Thiên)
Từ bản đồ này có thể thấy, trong Tứ trấn của kinh thành Thăng Long thì vị trí trấn Nam thời Lê sơ không phải là đền Kim Liên với thần Cao Sơn, mà là chùa Báo Thiên. Chùa Báo Thiên là ngôi chùa đóng vai trò trấn Nam của Thăng Long khi đó.

Bài thơ của Đề Báo Thiên tháp của Phạm Sư Mạnh thời Trần góp phần khẳng định thêm nhận định này:
Trấn áp Đông Tây giữ đế kỳ
Một mình cao ngất tháp uy nghi
Chống trời cột trụ non sông vững
Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy
Chuông khánh gió đưa vang đối đáp
Đèn sao đêm đến rực quang huy
Đến đây những muốn lưu danh tính
Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.
Câu đầu tiên của bài thơ “Trấn áp Đông Tây củng đế kỳ“ đã cho thấy tháp Báo Thiên chính là vật trấn cho kinh đô (đế kỳ).
Hướng Nam kinh thành là hướng quan trọng nhất vì quan niệm xưa vua quay mặt về phương Nam mà trị vì. Tháp Báo Thiên được dựng ở chính đối diện Nam Môn càng cho thấy ý nghĩa của nó đối với tâm linh của kinh thành. Nhưng chùa/tháp Báo Thiên thờ vị thần nào, hay vị thần nào là thần trấn Nam Thăng Long lúc này?
Quan niệm cho rằng đã là “chùa” thì thờ Phật, không hẳn luôn đúng. Thờ Phật thì đã không gọi là Báo Thiên – báo ơn Trời. Hơn nữa người xưa không dùng Phật để làm thần trấn giữ kinh thành.
Chùa – tháp Báo Thiên là nơi từng nhiều lần dưới thời Lý dùng để cầu mưa. Cổ Châu Phật bản hạnh ngữ lục ở chùa Dâu (Bắc Ninh) chép:
Bằng đời vua Lý Nhân Tông
Ba năm mưa gió đùng đùng đã rân
Vua phán rước Bụt Pháp Vân
Ra Báo Thiên tự minh quân chúc kỳ.
Đại Việt sử ký toàn thư chép dưới thời Lý Thần Tông: Vua ngự đến chùa Bảo Thiên, làm lễ phật Pháp Vân để cầu mưa. Đêm hôm ấy mưa to.
Chùa Báo Thiên hay Bảo Thiên tháp lễ phật Pháp Vân mà cầu mưa. Chùa này như thế nằm trong hệ thống thờ Tứ pháp.
Ở khu vực tháp Báo Thiên xưa từng tìm thấy bức tượng đá, gọi là Bà Đá và được lập thành chùa. Chùa Bà Đá nay vẫn còn. Cách gọi “Bà” là cách gọi tương tự đối với Tứ pháp. Rất có thế pho tượng Bà Đá này là tượng Pháp Vân (Bà Dâu).
Các chùa thờ Tứ pháp thực ra thờ chính là Thạch Quang Phật hay hình tượng Linga, biểu trưng của thần Shiva/Indra. Trong văn hóa Việt ở miền Bắc xưa thần Shiva/Indra được gọi dưới tên Vua Trời Đế Thích. Đây là lý giải cho chữ Thiên trong tên của tháp Báo Thiên.
Tranh vẽ tháp Báo Thiên trong chùa Lý Quốc Sư.
Dưới thời Lý, vị thần được tôn thờ trong các chùa thường không phải Phật Thích Ca, mà lại là Đế Thích. Ví dụ, thời Lý Thánh Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Mùa đông tháng 12 làm hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đúc hai pho tượng Phạn Vương và Đế Thích bằng vàng để phụng thờ.
Còn thờ Lý Thần Tông: Dựng hai chùa Thiên Ninh, Thiên Thành và tô tượng Đế Thích. Vua ngự đến xem.
Các chùa có thờ Đế Thích này đều có chữ Thiên.
Như thế, chùa Báo Thiên thực ra là thờ Vua Trời Đế Thích, nằm trấn ở hướng Nam của Thăng Long. Vua là thiên tử, quay mặt về phương Nam mà trị vì, nên ở hướng Nam đặt Vua Trời làm trấn là hợp lý.
Tháp Báo Thiên còn liên quan đến vị thiền sư nổi tiếng thời Lý là Nguyễn Minh Không, mà nay còn chùa Lý Quốc Sư, vốn là đền thờ Nguyễn Minh Không ở khu vực phường Báo Thiên xưa. Đại Việt sử ký toàn thư chép vào thời Lý Thần Tông:
Tháng 5, đại hạn, cầu đảo được mưa to. Chủ đô Nhiễm hoàng là Hà Nhi dâng chim sẻ trắng. Dựng nhà cho đại sư Minh Không.Đọc đoạn này ta có thể hiển đại sư Minh Không đã được Lý Thần Tông cho dựng nhà vì đã cầu đảo được mưa to khi đại hạn. Nguyễn Minh Không được biết là được vua ban cho khu ấp gần tháp Báo Thiên làm Tịnh xá, trước kia gọi là làng Tiên Thị, nay là nơi có chùa Lý Quốc Sư. Như thế, đại sư Minh Không đã lập công cầu mưa ở chùa Báo Thiên nên được ban nhà ban đất ở vùng này.
Sau đó, khi Lý Thần Tông mắc bệnh, nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm quốc sư. Tha phú dịch cho vài trăm hộ.
Việc tha phú dịch cho vài trăm hộ này là liên quan đến sư Minh Không, tức là các hộ dân ở vùng đất ban trước đó được miễn phú dịch do ơn đức của sư Minh Không và để phục dịch cho nhà chùa nơi sư ngụ.
Tháp Báo Thiên xây gạch nhưng chóp tháp lại bằng đồng. Đỉnh tháp này tương truyền là một trong An Nam tứ đại khí. Các tháp thời Lý Trần thường ở trên đỉnh có hình hoa sen, có chức năng để đốt đèn (dùng dầu lạc). Như thế chức năng của cái chóp đồng trên đỉnh tháp Báo Thiên khả năng cũng là một hình Sen Đăng, biểu tượng của ánh sáng hay mặt trời.
Cây Thiên hương ở chùa Lý Quốc Sư.
Hiện ở chùa Lý Quốc Sư còn một cây Thiên hương cổ dựng trước cửa chùa. Khả năng Thiên hương là hình tượng phát triển lên từ những cây cột đèn đá hoặc tháp gạch trước đây.
Chùa Lý Quốc Sư vốn là đền Tiên Thị thờ thiền sư Nguyễn Minh Không. Tên làng Tiên Thị, đất tịnh xã của Nguyễn Minh Không, nghĩa là chợ Tiên. Chữ Tiên này hẳn là chỉ thiền sư Minh Không.
Câu đối ở chùa Lý Quốc Sư nói tới tháp cổ và chợ Tiên ở nơi am của thiền sư:
古寺塔流餘苨址
真僊市在闢師庵
Cổ Tự Tháp lưu dư nễ chỉ
Chân Tiên Thị tại tịch sư am.
Dịch:
Chùa tháp xưa còn nơi rậm rạp
Chợ tiên thực ở cửa am sư.
Tự Tháp và Tiên Thị là đều tên của làng ở chân tháp Báo Thiên xưa.
Trong chùa Lý Quốc Sư còn có tượng các vị Từ Đạo Hạnh và Giác Hải làm bằng đá ở dạng phù điêu, giống phong cách các tượng đá ở miều Trung dùng cho các đền thờ thần Hindu. Cùng với việc thờ Đế Thích – Tứ Pháp ở chùa Báo Thiên, thì các phù điêu đá này cũng là dẫn chứng khác cho mối liên hệ giữa đạo Phật thời Lý của thiền sư Nguyễn Minh Không với Hindu giáo.

Ban thờ chính ba vị thiền sư với các tượng phù điêu chùa Lý Quốc Sư.



Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái có một dị bản mở đầu như sau:
Nước ta có người họ Tô tên Lịch xưa ở Long Đỗ, nay là mé ven sông, ba đời sống nhân nhượng với nhau. Đời Tấn được cử làm chức hiếu liêm, cắm cờ ở trước cổng xóm, vì vậy người đời bèn gọi xóm ấy là xóm Tô Lịch.
Sau đó truyện nói: Thần chính là vị đại vương của cả quốc gia vậy.
Thử xem trong lịch sử nước ta, vị nào ở Long Đỗ, sống đức độ, khoảng đời Tấn làm chức hiếu liêm và được coi là “đại vương” của cả quốc gia. Vị quan chủ quản có đức độ thời Tấn là Đào Hoàng. Tuy nhiên, khả năng cao hơn thần Tô Lịch ở đây là Sĩ Nhiếp, người đã nhiều đời (từ thời cha là Sĩ Tứ đã là thái thú quận Nhật Nam) sống có đức, lại giỏi về văn (chức hiếu liêm). Đặc biệt Sĩ Nhiếp từng được nhà Ngô phong là Long Độ đình hầu, Long Độ sau đổi thành Long Đỗ (do kỵ húy). Vị “hầu tước” này được sử Việt gọi là Sĩ Vương, đúng là bậc “đại vương của cả quốc gia” vậy.
Truyện sông Tô Lịch chép tiếp:
Đời Đường Mục Tông Lý Nguyên Gia làm quan đô hộ, giữ đất Long Biên. Lý cho rằng phía Bắc thành có dòng nước chảy ngược, sợ dân hay sinh lòng phản nghịch nên chọn đất khác định chuyển La Thành sang vời sông Tô Lịch, bèn khấn mời Tô Lịch làm thần chủ giữ thành rồi xin lập đền thờ cúng.
Nửa đêm, Lý Nguyên Gia nằm mộng thấy thần tới nói rằng: “Ta vâng mệnh sứ quân làm chủ thành này, nếu như ta có thể giáo hóa được dân chúng trong thành trở nên có trung hiếu thì xin hãy lập đền thờ”. Nguyên Gia xin vâng.
Từ đó dân không có lòng phản nghịch. Lý bèn xây thành nhỏ để ở lại lập đền thờ phụng.
Đoạn truyện trên cung cấp một thông tin rất quan trọng: La Thành vốn ban đầu không ở vị trí sông Tô Lịch ngày nay. Tới thời Đường Mục Tông thành mới được chuyển về và xây một thành nhỏ bên sông Tô Lịch. Vậy La Thành trước đó nằm ở đâu?
Thông tin trong chính sử về La Thành thời Sơ Đường rất rối rắm. Đại Việt sử ký toàn thư lúc thì chép năm 767 thời Đường Túc Tông Kinh lược sứ Trương Bá Nghi đánh tan quân Chà Và và Côn Lôn đến cướp châu thành, rồi đắp lại La Thành. Nhưng lại chú là theo sách Nguyên Hòa quận huyện chí thì năm này Trương Bá Nghi bỏ thành cũ mà xây lại thành ở chỗ mới ở phía Bắc cách sông Tô Lịch 200 thước. Nhưng đúng hơn thì việc La Thành được chuyển về sông Tô Lịch xảy ra vào thời Lý Nguyên Gia sau đó.
Đoạn sau Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Nguyên Gia:
Đường Nguyên Hòa năm thứ 4 (819) mùa đông tháng 10 đô hộ là Lý Tượng Cổ vì tham bạo mà mất lòng dân chúng. Tướng của Tượng Cổ là Dương Thanh đời đời làm tù trưởng Man ở Hoàng Động. Thanh nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ ban đêm quay về đánh úp lấy châu, giết Tượng Cổ (Thanh là người Giao Châu, Tượng Cổ là người tôn thất nhà Đường). Đường Đế chiếu cho Quế Trọng đánh Thanh không được. Thanh vào trong người Man Lão để làm loạn, cướp phá phủ thành. Đô hộ là Lý Nguyên Gia đánh không được, dụ không đến. Do đấy người Man Hoàng Động dẫn người Hoàn Vương vào cướp.
Hoàng Động nơi người Man nổi loạn, giết quan độ hộ nhà Đường là ở đâu không rõ, nhưng rõ ràng rằng nơi này không xa châu thành (La Thành) vì Dương Thanh “ban đêm quay về đánh úp” Lý Tượng Cổ. Rất có thể Hoàng Động là ở vùng Sơn Tây ngày nay.
Người Man Lão ở Sơn Tây đã liên kết với người nước Hoàn Vương, tức là với người ở phía Nam (Hoàn Vương là tên nước của vùng phía Nam sau khi Lâm Ấp bị nhà Tùy tiêu diệt). Nhà Đường cử một vị tôn thất khác là Lý Nguyên Gia (Lý là họ của vua Đường) sang làm đô hộ, nhưng cũng không dẹp được.
Việc nổi loạn của người Man và sự tấn công của Hoàng Vương chính là lý do mà Lý Nguyên Gia buộc phải rời bỏ trị sở cũ Tống Bình – La Thành sang nơi mới gần sông Tô Lịch. Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay.

Mộ gạch cổ dưới đình Quán La.
Dòng “nước chảy ngược” này không phải là sông Tô Lịch, mà là sông Thiên Phù, xưa là một nhánh sông Hồng chảy từ quãng khu vực Phú Thượng qua vùng phía Tây Bắc hồ Tây. “Nước chảy ngược” là ý chỉ việc ngập lụt, nước dâng cao. 2 sự việc ngập lụt và loạn dân được “thần thoại hóa” thành chuyện Long Quân dâng nước tiêu diệt con cáo chín đuôi ở Hồ Tây trong Truyện Hồ Tinh của Lĩnh Nam chích quái. Di tích của truyện này nằm ở khu vực Xuân La, Nhật Tảo bên Hồ Tây là đình Quán La (nơi có “hang cáo” – mộ cổ thời Lục triều), chùa Khai Nguyên (nơi thờ Đường Huyền Tông) và chùa Thiên Niên (nơi Huyền Thiên Trấn Vũ lập đàn diệt Cửu vĩ hồ). Như vậy, rõ ràng là châu thành trị sở thời Sơ Đường của An Nam nằm chính ở đây, bên dòng sông Thiên Phù (sông Già La), phía Tây Bắc của Hồ Tây. Tới Lý Nguyên Gia do nạn lụt lội và loạn người Man nên mới dời về vị trí mới ở phía Nam Hồ Tây bên sông Tô Lịch.
Khi Lý Nguyên Gia dời thành đã lấy Tô Lịch làm vị thần phù trợ cho La Thành. Ban đầu La Thành vốn mới là một thành nhỏ. Tới năm Hàm Thông đời Đường Ý Tông, quân Nam Chiếu làm loạn. Vua Đường sai Cao Biền sang dẹp, đặt ra quân Tĩnh Hải, sai Biền làm Đô hộ sứ. Biền xưng vương, đóng quân trong phủ.
Thần Tô Lịch sau đó hiển linh khi Cao Biền xây thành lớn hơn ở đây. Lý do xây thành lớn, gọi là Đại La là vì Cao Biền đã thắng lợi trong việc đánh dẹp người Man – Nam Chiếu, việc mà các tôn thất nhà Đường như Lý Nguyên Gia, Lý Trác không làm được. Cao Biền khi đó đã tôn thần Tô Lịch – Long Đỗ làm đô phủ thành hoàng của thành mới Đại La.

Đình Trích Sài.
Như thế tên thần Tô Lịch là vị thần do Lý Nguyên Gia tôn thờ khi dời thành. Còn thần Long Đỗ là tên thời Cao Biền. Sau đó tới thời Lý xuất hiện thêm một tên gọi nữa là thần Bạch Mã:
Đến đời Lý Thái Tổ, khi vua dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, muốn mở rộng phủ thành nhưng đắp thành xong đều bị lở, bèn cử người tới cầu thần. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến chúc mừng rồi dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp. Có con ngựa trắng từ đền đi ra, đi theo hướng Tây, vòng về hướng Đông, trở về điểm xuất phát rồi biến vào đền. Nhà vua y lời thần, bèn cho đắp thành xây lũy theo vết chân ngựa để lại, xây đến đâu chắc đến đấy. Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng của cả thành Thăng Long. Ngôi đền này vì thế cũng được gọi là đền Bạch Mã.
Đền Bạch Mã nay nằm ở trong khu phố cổ Hà Nội trên phố Hàng Buồn, là ngôi đền trấn Đông của Thăng Long. Việt Điện u linh chép:
Đến đời Lý Thái Tông, cho mở phố chợ về Cửa Đông, dân cư buôn bán tấp nập, chen chúc huyên náo sát tới tận bên đền. Vua muốn dời đền đến chỗ thanh tịnh khác, nhưng rồi lại bảo: “Xưa lập ở đây, nay không nên dời đi chỗ khác”; mới đem sửa sang lại đền, liền với các nhà ngoài phố, nhưng vẫn để một khoảng làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió bấc rất to, cả dãy phố đều đổ, duy chỉ có đền thờ thần vẫn nguyên vẹn. Vua lấy làm lạ hỏi, có người biết, tâu lại chuyện hiển linh của thần từ trước. Vua mừng nói: “Đó thật là vị thần coi việc nhân gian”, xuống chiếu cho sửa lễ tế đền, cho thần hưởng lộc cứ đến mùa xuân lại đến làm lễ cầu phúc. Vua lại sắc phong thần làm Quảng Lợi vương. Ở phố chợ Cửa Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố đều bị cháy, duy chỉ có chỗ đền thờ thần, lửa không bao giờ lấn tới.

Tiền tế đền Bạch Mã.
Câu đối đền Bạch Mã:
Hiển hách thần uy, nhất trận linh phong đằng bảo mã
Huy hoàng hỏa đức, thiên thu vượng khí trấn Thăng Long.
Khu vực này còn có nhiều nơi khác thờ thần Tô Lịch, Long Đỗ, Bạch Mã như đình Thái Cam ở phố Hàng Vải. Đình này còn có tên là đền Tân Khai thờ 3 vị thần của Thăng Long là Tô Lịch, Bạch Mã và Thiết Lâm. Hai vị thần Tô Lịch và Bạch Mã và Tô Lịch đã bàn ở trên. Còn thần Thiết Lâm tương truyền là thần của vùng rừng lim bên Hồ Tây.
Đối chiếu với câu chuyện về Hồ Tây ghi về đình Trích Sài:
Vùng Hồ Tây là một rừng lim rậm rạp, có nhiều gò núi, có con cáo 9 đuôi đã tu luyện thành tinh, luôn thay hình đổi dạng hại dân quanh vùng… Sau nhờ thần tiên giúp sức trừ được yêu quái, rừng lim bỗng sụp xuống thành hồ, gọi là hồ Xác Cáo.
Tên Trích Sài cũng có nghĩa là lấy củi, cho thấy vùng này vốn là khu rừng. Như thế thần Thiết Lâm (rừng lim) là vị thần của phía Tây Bắc hồ Tây, gắn với chuyện diệt con Cửu vĩ Hồ. Vùng này xưa gọi còn gọi là bến Lâm Ấp. Vị thần diệt Cáo là Huyền Thiên Trấn Vũ nên khả năng thần Thiết Lâm cũng là thần Huyền Thiên.
Hoành phi ở đình Tân Khai: Long Đỗ Chung Linh.
Câu đối ở đình Tân Khai:
Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích
Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.
Dịch:
Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích
Thờ Tứ trấn các triều hương lửa, Lạc Đô từ cổ nổi tiếng thiêng.
Tóm lại, La Thành ban đầu ở phía Tây Bắc hồ Tây với vị thần Thiết Lâm là thần Huyền Thiên đã diệt trừ con cáo chín đuôi. Tới thời Đường Mục Tông, Lý Nguyên Gia sợ lụt lội và loạn dân đã chuyển La Thành về gần sông Tô Lịch, lập Tô Lịch làm thần. Cao Biền thắng được quân Nam Chiếu cho xây thành lớn hơn gọi là thành Đại La, lấy thần Long Đỗ là chính khí của thành. Thời Lý dời đô về đây xây thành được thần hiện lên giúp đỡ, phong thần Bạch Mã làm đô thành hoàng.

Con Trâu đá ở núi Tiên Du (Phật Tích).
Truyện sự tích Trâu vàng ở Tiên Du (Tiên Du Kim Ngưu tích truyện) trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: “Cán rìu của người nát rồi”. Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. Ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ.
Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ. Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang, vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm. Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới.
Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn (nay là Tây Hồ) rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh, lạch.

Bảng giới thiệu của chùa Phật Tích về Khâu Đà La từng tu hành và cầu mưa gió ở đây.
Núi Lạn Kha là núi Phật Tích ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh ngày nay. Vị tiên đánh cờ trên núi Phật Tích thì hẳn là Đế Thích, vì Thiên Đế nổi tiếng là cao cờ. Cờ là biểu tượng của Dịch học, của phép thuật trong trời đất.
Nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán Trâu ở núi Phật Tích thì rõ ràng là Khâu Đà La trong truyện Man Nương vì núi Phật Tích chính là nơi tu hành của Khâu Đà La. Khâu Đà La có thể là tên phiên âm khác của Đế Thích vì tên phiên âm của Đế Thích hiện là Nhân Đà La.
Hình tượng cụ thể của Kim Ngưu ở vùng Bắc Ninh là tượng con Cừu đá ở Thuận Thành, một con ở cạnh tháp chùa Dâu, một con ở lăng mộ Sĩ Nhiếp. Tên gọi Cừu xuất phát từ phép phiên thiết chữ Kim Ngưu, chỉ con Bò thần. Trâu Vàng là con Bò thần Nandin, vật cưỡi của thần Shiva hay hiện thân của thần Indra trong đạo Bà La Môn. 2 vị thần này được người Việt gọi chung là Đế Thích.

Con Cừu đá (Kim Ngưu) ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Con bò Nandin hay Trâu vàng như vậy tượng trưng cho sự truyền đạo của Đế Thích, tức là đạo Bà La Môn. Đạo này du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, gắn với tục thờ Tứ pháp vì Tứ pháp là Tứ đại thiên vương, 4 vị thần phụ trách mây mưa sấm chớp (Phong Điều Vũ Thuận) và trấn ở chân núi Tu Di, ngọn núi nơi Đế Thích ngự trị.
Bước chân của Trâu Vàng là bước truyền bá phát triển của đạo Bà La Môn ở miền Bắc Việt. Trâu chạy từ Tiên Du, nơi Khâu Đà La khởi đầu truyền đạo, qua vùng Thuận Thành Bắc Ninh, tới vùng Văn Giang. Văn Giang hiện vẫn còn là nơi có tục thờ Tứ pháp rất phổ biển với nhiều ngôi chùa, ngôi đình, ngôi đền đến nay vẫn thờ Tứ pháp như ở các xã Lạc Hồng, Lạc Đạo của huyện Văn Lâm, Hưng Yên. Văn Giang cũng là nơi có sự tích về Đế Thích cưỡi Trâu ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc) bên dòng sông Nghĩa Trụ, hay Ngưu giang xưa.

Thiên Đế cưỡi Bò ở đền Cầu Váu.
Trâu Vàng tiếp tục từ Văn Giang chạy sang vùng Phố Hiến Hưng Yên. Chặng đường này cũng đánh dấu những nơi có sự tích về Đế Thích là ở Liêu Hạ (Mỹ Hào) với chuyện Đế Thích đánh cờ với Trương Ba, ở Cẩm La (Ân Thi) với sự tích Đế Thích giáng trần trừ yêu quỷ từ thời Hùng Vương. Vùng này cũng là nơi mà tục thờ Tứ pháp rất phổ biến.
Trâu Vàng chạy tới ven sông Ninh Giang, tức là quãng huyện Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên. Ở đây không có sự tích về Đế Thích nhưng lại là nơi tập trung các đền thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, được gọi là các Đậu. Riêng ở Phù Cừ có 5 ngôi Đậu thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Còn ở huyện Tiên Lữ có Đậu An rất nổi tiếng thờ Ngọc Hoàng.

Tháp Đậu An ở Tiên Lữ, Hưng Yên.
Theo Ngọc Hoàng kinh chép của Đậu Từa: Ngọc Hoàng đại đế chính là Hoàng tử của quốc vương nước Quang Nghiêm Diệu Lạc, thời thượng cổ ngài sinh ra năm Bính Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 giờ Tý (tức 12 giờ đêm). Mẫu thân của ngài là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu mơ thấy đức Thái Thượng Lão Quân tặng cho một hình nhân con trai …
Còn trong tư liệu ở đền Cầu Váu về Đế Thích thì ghi: Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế (Bảo Kính Đăng Tâm, tập thượng).
Ở đây tên gọi bà mẹ của Vua là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu và ngày thánh đản 9 tháng Giêng là trùng nhau. Có thể thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế ở Hưng Yên là một cách gọi khác của Thiên Đế – Đế Thích.
Đế Thích (hoặc Lão Tử) cưỡi Trâu ở chùa Chuông, Hưng Yên.
Ở Phố Hiến – Hưng Yên còn có ngôi chùa Chuông, tương truyền khi đánh quả chuông ở đây thì Trâu Vàng chạy đến… Có thể chùa Chuông cũng từng nằm trong hệ thống đền Bà La Môn như các Đậu ở Hưng Yên.
Trâu Vàng tiếp tục đi men phủ Lý Nhân sang đất Hà Nam. Tới đây câu chuyện liên quan tới vị tướng của nhà Đường là Cao Biền.
Sách Thăng Long cổ tích khảo chép rằng: Tương truyền đời Đường, Cao Biền làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ, đi các nơi có núi sông danh thắng của ta để yếm diệt long mạch. Khi Biền đào sông yểm mạch núi Long Đội, Sơn Thần núi ấy biến thành hình con trâu toả ánh vàng bơi theo sông Đường Giang lên phía Bắc, ẩn ở vùng Hồ Tây thành Đại La.
Sách Tây Hồ chí dẫn lời của Phạm Đình Hổ: Cuối đời Đường, An Quận công Cao Biền ngàn dặm qua Nam đến châu Duy Tân (nay là Duy Tiên) khai sông chặn long mạch núi Phục Tượng nay thuộc xã Đọi Sơn: Thần núi hoá thành trâu phóng ánh sáng vàng, ngược Đường Giang lên ẩn náu tại Hồ Tây, người quanh vùng dựng miếu thờ, thực là dấu thiêng vậy.

Nhà bia Sùng Thiện Diên Linh thời Lý ở chùa Long Đọi, Duy Tiên, Hà Nam.
Ở Duy Tiên, vùng Đọi Sơn có núi Điệp cũng có tên là Kim Ngưu, nay trên núi còn ngôi chùa cùng tên. Ngay tên sông Châu giang chảy qua đây cũng có thể là sông Trâu, liên quan đến con Trâu vàng.
Đặc biệt hơn, toàn bộ khu vực quanh núi Đọi đều thờ Cao Sơn quốc chủ. Vị thần này đã được xác định là Cao Biền, vị thần trấn Nam của thành Thăng Long. Đoạn kể về việc Trâu Vàng bị Cao Biền đuổi chạy ngược về thành Đại La rồi ẩn trong hồ Tây có thể có ý nghĩa khác so với khi Trâu chạy từ Tiên Du xuống Hưng Yên. Trâu Vàng là biểu tượng của đạo Bà La Môn, cũng là đạo của người Nam Chiếu lúc này. Người Nam Chiếu thời Đường có thể từng được gọi là Ai Lao 哀牢 hay Ngưu Hống 牛吼. Cả 2 tên này đều có chữ Ngưu 牛 ở trong.
Cao Biền là tướng nhà Đường được cử sang dẹp quân Nam Chiếu ở Bắc Việt. Nam Chiếu theo đạo Bà La Môn và được hình tượng hóa bằng hình ảnh Trâu Vàng – Kim Ngưu. Khu vực Đọi Sơn có lẽ từng là một căn cứ quan trọng của Nam Chiếu. Cao Biền dẫn quân đổ bộ bằng đường biển từ vùng Thái Bình – Nam Định tiến đánh Nam Chiếu, trước hết là đánh vùng Lý Nhân này, sau đó mới đánh thành Đại La.
Dấu vết của Cao Biền ở vùng Thường Tín cũng còn lưu qua các di tích thờ Cao Sơn đại vương ở đây như các làng Hà Hồi, Khê Hồi. Đây cũng là nơi có vết tích Trâu vàng với dòng sông Kim Ngưu.

Cổng đình Hà Hồi, Thường Tín, nơi thờ Cao Sơn đại vương.
Khu vực từ Hà Nam trở về cũng là vùng ảnh hưởng của tục thờ Tứ pháp, với các di tích như chùa Bà Đanh ở Kim Bảng, chùa Đậu ở Thường Tín, chùa Pháp Vân ở Thanh Trì. Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp có câu đối nói tới con sông Ngưu này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

Vế đối Ngưu giang hoàn nhiễu… ở chùa Đậu.
Cao Biền đánh quân Nam Chiếu, giải phóng được thành Đại La nên con Trâu Vàng đến đây thì đi vào hồ Tây mà ẩn náu. Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Kim ngưu do ẩn tại hồ trung
Thủy hạt nan tầm bất kiến tung
Đại Việt Nam an tồn thánh chủ
Cao Biền hạ bút hận vô cùng.
Dịch:
Trâu vàng còn ẩn mãi trong hồ
Dấu vết khó tìm dẫu nước khô
Đại Việt Nam yên nhờ thánh chúa
Cao Biền hạ bút hận không bờ.

Dấu chân Kim Ngưu.
Bài thơ này có câu “Đại Việt Nam an tồn thánh chúa“, ý chỉ nước Việt Nam vẫn còn vua, Cao Biền không làm gì được. Rõ ràng ở đây hình tượng con Trâu vàng là biểu tượng của thủ lĩnh nước Nam (Nam Chiếu). Tinh thần của nước Nam hóa con Trâu vàng ẩn sâu trong hồ Tây bất diệt. Tinh thần đó xuất phát từ ông Tiên đánh cờ trên núi Phật Tích (Khâu Đà La – Đế Thích) đã truyền bá rộng khắp nơi, trở thành tín ngưỡng của người Nam. Dấu chân Kim Ngưu từ Bắc Ninh – Hưng Yên – Hà Nam – Hà Nội đánh dấu khu vực phổ biến của tục thờ Tứ pháp – Đế Thích – Ngọc Hoàng hay đạo Bà La Môn.
Câu chuyện Trâu Vàng chạy đi và về thể hiện sự giao thoa giữa 2 dòng văn hóa Ấn giáo (Bà La Môn) và Đạo Giáo Trung Hoa. Biểu tượng của Đạo Giáo là đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần tổ của nhà Đường (thời Cao Biền) ở 2 bên bờ hồ Tây, phía Bắc thành Đại La.

Sắc phong Kim Ngưu tôn thần ở đền Kim Ngưu, hồ Tây.
Câu đối ở đền Kim Ngưu bên hồ Tây:
牛渚表奇觀四顧江山依舊
龍城標勝景十方大眾望新
Ngưu chử biểu kỳ quan, tứ cố giang sơn y cựu
Long thành tiêu thắng cảnh, thập phương đại chúng vọng tân.
Trong Nam Việt Hùng Vương sử ký (Ngọc phả Hùng Vương viết thời Lê Hồng Đức) có sự hiện diện không phải chỉ của một tín ngưỡng hay tôn giáo, mà có ít nhất tới 3 tôn giáo. Trước hết là khi nàng Âu Cơ sinh được một bào ngọc thì:
… Bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ … cùng cầm long bài, tâu rằng: … Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ Nam Miên. Vậy ban sắc này!… Thiên sứ báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng.
Hiền Vương tuân theo. Tứ đại thần vương lập tức lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.

Tứ đại thiên vương, khắc gỗ chùa Khải Đoan (Buôn Mê Thuật, Đăk Lăk).
Bốn vị Thiên vương đã giáng xuống để hộ giúp thai ngọc nở ra trăm trai. Đây là hình ảnh của Tứ đại Thiên vương, là bốn Thiên thần trong đạo Bà Là Môn.
Trong văn hóa Trung Hoa Tứ đại Thiên vương được gọi là “Phong Điều Vũ Thuận”. Ở nước ta, Tứ đại Thiên vương được thờ dưới tên gọi là Tứ pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, những vị thần chuyên làm “mây mưa sấm chớp”, đúng như trong Ngọc phả Hùng Vương kể ở trên.
Hình ảnh bào ngọc cũng có thể là xuất phát từ đạo Bà La Môn. Đó là hình ảnh của Linga, vật tượng trưng cho Shiva, là vị thần tối cao trong Tam thần Tạo hóa – Bảo hộ – Hủy diệt của đạo Bà La Môn. Hình ảnh này trong chuyện Tứ pháp là Thạch Quang Phật, được thờ cùng với bộ Tứ pháp.
Tiếp theo trong Ngọc phả Hùng Vương, khi các hoàng tử lớn lên thì: … thấy tám vị thần tướng nhà trời… xưng là Bát bộ Kim Cương, vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp. Trăm vị vương tử nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.
Hình ảnh bồ tát Kim Cương là của Phật giáo nhưng “Bát bộ” lại có thể là tượng trưng cho Bát quái, tức là triết lý Đạo giáo.

Các vị Kim Cương ở đền Bộ Đầu (Thường Tín, Hà Nội).
Sự xuất hiện của đạo Phật được kể rõ ràng hơn trong Ngọc phả ở đời Hùng Huy Vương:
Một ngày tốt có hương trời, Vua đang ngự ở trong điện, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây.
Vua mừng thầm: Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho Vua. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi. Vua mới biết đó là đức Phật trên trời giáng ngự. Vua bèn quỳ vọng bái.
Với những dữ kiện “Tây Vực”, “Giác Hải”, “Bát Nhã”, “Niết Bàn” thì có thể thấy Lão ông gặp Hùng Huy Vương là đức Phật Thích Ca. Phật tổ ban cho Vua một khối ngọc và một chiếc móng rồng, sau đó được dùng để làm ấn và kiếm, là hai bảo vật trấn quốc của triều Hùng, truyền cho nhiều đời sau.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng.
Đây là cách kể của sự kiện đạo Phật được truyền vào nước ta dưới thời Hùng Vương, đã được sùng chuộng và có tác dụng rõ rệt với xã tắc, triều đình.
Một khám phá bất ngờ khác từ Ngọc phả Hùng Vương là sự khai sinh của đạo Giáo tại nước ta qua việc vua Hùng xây thành Cổ Loa. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng vào thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) nhờ sự giúp đỡ của thần Kim Quy:
Duệ Vương cùng với triều thần trăm quan dời xe vạn thặng đến ở xứ Kinh Bắc, xây thành tên là Cổ Loa. Đô thành rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, nay ở tại xã Cổ Loa, huyện Đông Ngạn, nên gọi là thành Cổ Loa. Mới đầu thành xây toàn bị đổ. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía Đông bơi đến, xưng là Kim Quy giang sứ.
Ngọc phả cung cấp thông tin là Hùng Duệ Vương bị nhà Thục đánh nên đã rời đô về Đông Ngạn. Như thế thời kỳ này đã có sự rời kinh đô, cho dù triều đại không thay đổi. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng dưới thời Hùng Vương chứ không phải thời Thục An Dương Vương.
Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái cung cấp thêm chi tiết:
… Đắp thành ở đất Việt Thường, thành đắp xong lại sập. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo ba tháng. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một ông già từ phương Tây mà đến thẳng trước cửa thành, vừa đi vừa than rằng:
– Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong!
Vua rước vào trong điện, lạy và khóc rằng:
– Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tổn công sức rồi mà không thành, thế là tại làm sao?
Ông già thưa:
– Ngày nào có sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vua thì thành ấy mới xong.
Như thế Thanh Giang sứ giả Kim Quy được một Lão ông cử đến giúp vua Hùng. Lão ông này là ai?
Di tích ở chính thành Cổ Loa cho biết đó là Huyền Thiên Trấn Vũ (đền Sái, Đông Anh, Hà Nội). Còn ở đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang), cách đền Sái không xa, thì cho biết chính Lão Tử – Thái Thượng Lão Quân là người đã cử thần Kim Quy đến giúp xây thành Cổ Loa.

Tượng thờ Lão Tử ở chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang).
Câu đối ở đình Thổ Hà:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Từ đó có thể thấy, theo Ngọc phả dưới thời Hùng Vương Trị Bình Kiến Phu (đọc lướt là Tru – Chu), khi dời từ Tây sang Đông thì vùng đất xây kinh đô là Tam Xuyên bị động đất, làm cho thành Đông Đô cứ xây là đổ. Lão Tử lúc đó đã đăng đàn cúng tế, lấy lẽ trời đất mà khuyên nhủ vua Chu – Hùng Vương. Sự xuất hiện của Lão Tử thời này đánh dấu sự hình thành của đạo Giáo dưới thời Hùng Vương.
Tam Giáo – ba tôn giáo lớn đều được xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương là đạo Bà La Môn, đạo Phật và đạo Lão.