Về Quỳnh Đôi

P1120168Tôi kể sự xưa chuyện họ Hồ
Đồng quê Châu Diễn núi lô nhô
Trạng nguyên nổi ánh từ Giang Chiết
Nghìn thu Bào Sảng dựng cơ đồ.

Cửa cao trăng rọi những anh tài
Tuấn kiệt trung lương khí bất mai
Thần minh hệ xuất ba vương đế
Giai nhân thi lễ một không hai.

Nước cả bởi chưng rộng mạch nguồn
Cháu con phúc tổ nhớ luôn luôn
Tháng Giêng về với nơi Quỳnh Diễn
Ngẫm sự xưa nay, thắp nén hương…

Chuyện Nam Việt

Kể chuyện cũ Mỵ Châu Trọng Thủy
Tráo móng rùa Chu mạt sang Tần
Thu tàn đông lại nghênh tân
Đức Thủy xưng đế muôn dân phục tùng.

Người Tuấn kiệt nẻo rừng Phong Bái
Chém bạch xà sức trải thu đông
Viêm Lưu một sắc cờ hồng
Long Xuyên nổi vận, Long Hưng dựng đài.

Mở nhà Triệu tỏ oai Vũ Đế
Chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, Trường Sa
Dương Thành định đỉnh nguy nga
Nam Việt từ đó trải đà bao phen.

Cuộc Hơn – Thua lập nên nhà Hiếu
Tiếp ngôi trời đài miếu thiên thu
Bắc Nam thu một cơ đồ
Hiếu Cao mất để ấn phù cho ai?

Nhà họ Lữ từ nơi Chân Định
Cùng Lý Bôn khởi nghĩa gian truân
Rồi khi nước mở Vạn Xuân
Lữ Hậu chấp chính thay phần Hiếu tôn.

Đầm Dạ Trạch vuốt rồng gắn mũ
Triệu Văn Vương cùng Lữ tướng gia
Nam Việt nối gót ông cha
Bãi Quân Thần rạch sơn hà làm hai.

Hậu Lý Đế bày bài ở rể
Triệu Anh Tề chuyện kể Nhã Lang
Ai Vương, Cù Hậu qui hàng
Xưng thần, nộp ấn, phiên bang vào chầu.

Âu còn có Lữ Gia trung nghĩa
Phế Ai Vương Kiến Đức lên ngôi
Khó thay chống được mệnh trời
Phiên Ngung kết lại bốn đời Việt Vương.

Đánh Nam Việt cờ dương Bác Đức
Xuất lâu thuyền chạy lúc cùng đường
Hiếu Vũ bắt Vệ Dương Vương
Cửa Đại Nha tạc đoạn trường diệt vong.

Trên đất tổ châu Phong họ Lý
Tây Vu Vương Nam Triệu lại hưng
Sáu trăm năm khí anh hùng
Kiên cường chống lại Hán cùng Tấn quân.

Xem dã sử xoay vần tang hải
Chép tỏ tường trái phải trước sau
Triệu là đâu, Lý là đâu
Nam Việt non nước thủa đầu còn đây.

Sử thuyết họ Hùng

Chong đèn xem sử nước nhà,
Đường về nguồn cội thật là xa xăm.
Họ Hùng khai quốc vạn năm,
Núi Đọ, sông Mã, Quỳnh Văn thủa nào.
Phải đời Nghiêu đế xứ Đào,
Ruộng đồng xanh dải sông Thao bốn mùa?
Nam bang triệu tổ xa xưa.
Ân đức vua Thuấn như mưa ruộng cày.
Sơn Tinh – Hạ Vũ đâu đây?
Sông Đà trị thủy, núi này Tản Viên.
Lạc Long chiến thắng thiên nhiên,
Mở rộng bờ cõi khắp miền biển Đông.
Việt Thường lắm trĩ nhiều công,
Phải nhà Thương cũ bên dòng Trường Giang?
Lang Liêu lập nước Văn Lang,
Kinh đô Cổ Thục Vân Nam một vùng?
Nhà Chu với chín đỉnh đồng,
Phải thời Thục Phán trống đồng nước ta?
Đông Chu đô đóng Cổ Loa?
Xuân Thu, Chiến Quốc cũng là sử Nam?
Tiên Hoàng trùng nghĩa Thủy Hoàng,
Đinh – Tần thống nhất con đàn Hùng Vương?
Lý Bôn người gốc xứ Mường,
Tranh hùng Hạng Vũ, Trương Lương cùng thời?
Nam Việt riêng một cõi trời,
Triệu Đà chính lẽ vua người nước Nam.
Hiểm sâu Lưu Tú mưu gian,
Nhập nhèm Hoa – Hán, Bắc – Nam đánh quàng.
Bà Trưng khởi nghĩa Khăn Vàng?
Thân dù tử tiết, tiếng vang muôn đời.
Thục Ngô liên kết răng môi,
Ngô Quyền, Lý Bí hai nơi chống Tào?
Tùy, Đường triều đại thế nào,
Tiền Lê, Tiền Lý so vào khớp chăng?
Đại Việt từ thủa Thăng Long,
Ngàn năm độc lập, núi sông vẫn còn.
Ngẫm suy thấu đạo vuông tròn,
Dân Hoa, dân Việt cháu con vua Hùng.

Văn nhân tiếp vần:
Khiết đan Liêu Hán một dòng
Chiếm dân cướp nước xóa đi giống nòi
Để nay ai đó sụt sùi
Quỳ ôm đống mối ngỡ là mộ cha…

 

Chuyện Sĩ Nhiếp – Lâm Ấp

Tôi nghe kể chuyện sáu trăm năm
Sĩ Vương trung nghĩa sáng trăng rằm
Khoan dung để lại phù Lâm Ấp
Một gốc đôi cành mối Việt Chăm.

Những năm bi tráng với bi hài
Thảo khấu Lục Lâm đánh Xích Mai
Giao Châu giữ ải còn Nhâm Tích
Bốn mươi thu ấy thật là dài.

Hào hùng tiếng trống nữ Trưng Vương
Tiếp Lạc khai Đinh phá mở đường
Khu Liên cờ nghĩa xua quân Hán
Nam ấp bừng lên nổi xứ Mường.

Anh hùng lại tiếp anh hùng đây
Mãnh Hoàng riêng một mảnh trời Tây
Mặt ngựa giặc tràn nơi Ngô Thục
Nam Hà kiên dũng đất Chiêm này.

Kể từ Kẻ Sĩ nhiếp Luy Lâu
Tới buổi Cao Tùy sự biến mau
Xá lị nhập tháp, lòng hướng Phật
Lý phục, Phạm lùi, nối trước sau.

Nước Nam kìa hỡi, nước Nam ơi!
Đau xót ngàn năm với đất trời
Hồ Việt một nhà nay dẫu thấy
Nỗi lòng phục sử bao giờ nguôi?

Bốn ngàn năm

Tôi kể chuyện xưa bốn ngàn năm
Biển Đông dậy sóng bước thăng trầm
Cha Rồng xuất thế nơi Đào Động
Tổ quốc từ đây một khúc ngâm.

Nối bước Kinh Dương thủa Lạc Hồng
Rồng bay bể Bát đức Lạc Long
Đồng Bằng gò lớn ghi tang hải
Đào Giang sóng nhớ ngũ tôn ông.

Mây phủ Động Đình biết bao lần
Cha Hùng mẹ Thục cuộc chia phân
Cha về biển lớn khai Hoa Hạ
Mẹ trở sang Tây hóa Chu quân.

Một bọc thần tiên tiếng đồng bào
Trăm trai Bách Việt sáng trời sao
Mười tám vương triều Hùng bất diệt
Tứ phủ công đồng vạn thế cao.

Lão Tử Cổ Loa

IMG_2233

Tôi nghe kể chuyện Cổ Loa Thành
Tam Xuyên động đất buổi giao thanh
U Lệ Chu suy vì luân lý
Lão Tử gom về Đạo Đức Kinh.

Thất Diệu còn đây như thủa nào
Bạch Kê hiển hiện Hạ Thương đâu?
Vũ Đương luyện đá khai Đạo giáo
Huyền Thiên xương hạp chốn thâm sâu.

Như Nguyệt dòng sông tự Kinh Thi
“Tại hà chi sĩ” khắc bia ghi
Mây rồng ngũ sắc lên tiên giới
Thổ Hà lưu dấu thánh một thì.

Trải buổi Lý Đường với nước non
Khai Nguyên đạo quán mất hay còn?
Uy nghi Trấn Vũ Tây Hồ cảnh
Thăng Long nét cũ chẳng hề mòn.

Tản mạn chuyện xưa

Trải khắp chốn mà xem chuyện cũ
Từ Vĩnh Tường nhớ thủa Tản Viên
Bắc cung đền Thính linh thiêng
Bà đồng cất tiếng cầu tiên độ trì.

Phà Vĩnh Thịnh vượt qua Mông Phụ
Này đền Và nơi chúa Sơn Tinh
Văn quan võ tướng tranh nghênh
Triều đình tứ trụ rõ hình đế vương.

Bạch Phiên Tân con đường thiên cổ
Thẳng như tơ nối ngọn Ba Vì
Gậy ngũ hành lập thần uy
Trấn dòng sông Nhị một khi nước về.

Ghé Hát Môn bên đê ngàn tuổi
Tiếng âm vang từ buổi Trưng Vương
Lời thề chí khí can trường
Sống linh, thác hóa sông Tương nữ thần.

Huyện Hoài Đức tuy gần mà khó
Gặp Lý Bôn Giang Xá linh từ
Vạn Xuân ngẫm chuyện Thục Ngô
Khắc ghi Đinh Triệu đền tô chữ đào.

Dấu thánh tích chẳng bao giờ mất
Trong một thân là phật, là thần
Thổ Hà trang hạ ngũ vân
Hiển hình Thái Thượng Lão Quân nơi này.

Vũ Đương Sơn bao ngày luyện đá
Mặc hình dung thân cả ở cao
Mây bay Huyền quán năm nào
Uy nghi Trấn Vũ đường vào Thăng Long.

Về Kinh Bắc Kinh Dương thủy tổ
Chốn Viêm Giao Bàn Cổ xa xưa
Vi vu thân trúc gió đưa
Lặng nghe chuyện cũ nắng mưa bao chầy.

Chuông chùa vọng mang đầy tiếng cổ
Ghé Luy Lâu tưởng nhớ Sĩ Vương
Giữa khi loạn lạc tứ phương
Nho khai mở lối, tạo đường dân Nam.

Cảnh Dục Tú mà quan ngư thủy
Cõi Đường Ngu thịnh trị hay không
Văn minh Thù Tứ lưu dòng
Quy về tiên tổ bên sông Vị Hoàng.

Bầu trời rộng rõ ràng Bích Hán
Phất đăng tiên Dạ Trạch một đêm
Sóng xô bờ cát Tự Nhiên
Chuyện xưa công chúa kết duyên Chử Đổng.

Bên sông rộng Hàm Rồng vết cũ
Gạch Giang Tây này của Cao Vương
Vẻ vang Tĩnh Hải Lý Đường
Thành kia ai đắp, bóng dương chưa tà.

Xuôi dòng nước Phù Hoa ghé tới
Đất An Đô chẳng đợi lâu đâu
Lừng danh lưỡng quốc Trạng Gầu
Lưu truyền tiết nghĩa thâm sâu gia đình.

Trong dân gian muôn hình vạn vẻ
Những chuyện xưa như kể chuyện nay
Lang thang khắp chốn quê này
Đôi dòng ghi lại sự hay nước nhà.

Tản Viên

Tôi nghe kể chuyện thánh Tản Viên
Lang Xương quê mẹ chốn thần tiên
Mười tháng sinh con bao khó nhọc
Nghìn năm vết đá dấu lưu truyền.

Ngọc Lĩnh mây bay tự bao đời
Thần truyền gậy trúc phép nơi nơi
Hiển hiện diệu kỳ trang sách ước
Bao trùm Hà Lạc khắp đất trời.

Ngũ hành bày trận chắn ngang sông
Thắng thủy Sơn Tinh thủa Lạc Hồng
Xuất Chấn đế vương trong chín cõi
Nguy nga Tây trấn chốn Đông cung.

Núi cao, sông rộng, đất xanh mầu
Công ơn vua Vũ biết bao sâu
Thống nhất Ba Vì, khai sử Việt
Linh thần bất tử mãi mai sau.