Ngũ Lĩnh sơn

Vùng đất đầu tiên của nước Nam trong Thiên Nam ngữ lục như sau:

Cõi xa ngoài Ngũ Lĩnh Sơn
Hiệu Xích Quỷ quốc, tuyệt ngàn Bắc Sơn.

Dị bản chép:

Cõi xa chốn Ngũ Lĩnh Sơn
Nỗi ngoài Nam Hải, tuyệt ngàn Bắc phương.

Những câu này làm người ta hiểu vùng đất đầu tiên của người Việt ở tận núi Ngũ Lĩnh ở Hồ Nam Trung Quốc, phía Bắc. Nhưng những tên Xích Quỷ quốc và Nam Hải cho thấy không hẳn như vậy vì vùng Hồ Nam làm gì có Nam Hải và tên nước ở phương xích đạo như vậy.

Khi xem tiếp xuống phần Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương và được Đế Minh phong làm vua Nam quốc thì vị trí của Ngũ Lĩnh Sơn càng phải xem xét lại:

Đế Minh bèn lập Đế Nghi
Làm vua Bắc quốc thay vì Thần Nông
Lộc Tục phong làm ngôi công
Mở mang quê ngoại, giữ dòng phiên bang
Hiệu xưng là Kinh Dương Vương
Đất vuông nghìn dặm, nước càng lâu xa
Mặc làm thiên tử vệ nghi
Lễ chầu thượng quốc, phẩm y chư hầu
Cõi bờ nam bắc phân nhau
Tây đông chí tự Ải Lào, Hải thanh
Nam thời suốt đến Chiêm Thành
Bắc qua Quế Lĩnh, chân thành Bắc Man
Kinh Dương đến Ngũ Lĩnh Sơn
Xưa lên ngôi báu, được yên lòng người.

Như vậy vùng Ngũ Lĩnh Sơn này nằm ở trong phạm vi lãnh thổ nước Nam của Kinh Dương Vương và ở phía Nam chứ không phải Bắc. Đặc biệt vị trí lãnh thổ nước Nam này được xác định:
– Phía Tây là Ải Lào. Thường ta hiểu Ai Lao là Lào ngày nay. Nay có thể thấy Ai tức là Ải, hay vùng đất. Ai Lao Di còn là tộc người ở Vân Nam, hay là đất Ba Thục trong ĐVSK. Ải Lào là vùng đất phía Tây của nước ta từ Vân Nam, Tây Bắc Việt và đất Lào giáp Thanh Nghệ ngày nay.
– Phía Đông là Hải Thanh. Rõ ràng Hải Thanh là biển Đông. Thanh là màu của phương Đông.
– Phía Nam đến Chiêm Thành, tương ứng với nước Hồ Tôn trong Đại Việt sử ký.
– Phía Bắc tới Quế Lĩnh, chắc là Quế Lâm, ở bắc Quảng Tây, giáp Quí Châu.
Thông tin về cương vực quốc gia này một lần nữa khẳng định những gì ghi trong Đại Việt sử ký cho nước Văn Lang: «đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình, nam giáp Hồ Tôn». Tuy nước Văn Lang như vậy có phần rộng hơn về phía Bắc.

Có thể thấy Ngũ Lĩnh Sơn của Kinh Dương Vương như vậy không phải là ở Hồ Nam mà chính là phần đất trung tâm của người Việt ở Bắc Việt, Quảng Tây. «Ngàn Bắc Sơn» hay «ngàn Bắc phương» của nước Xích Quỷ thực ra là ở phương Nam, chính là đất Nam Giao xưa. Tức là phương Nam Bắc có thể đã bị hoán chuyển, mới làm thông tin địa lý lịch sử trở nên lẫn lộn như vậy.

Hưng quốc

Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lý nói về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn: “Trước đây ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm châu Cổ Pháp, có con chó đẻ con sắc trắng có đốm đen thành hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là người sinh vào năm Tuất sẽ là Thiên tử. Đến đây vua sinh năm Giáp Tuất làm Thiên tử, quả nhiên ứng nghiệm”.
Ở Hà Nội còn từng có cả đền Cẩu Nhi thờ chú cho con này.

Sách Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) ngoài chuyện chú chó con có chữ Thiên tử trên còn nói đến truyền thuyết về cây gạo đầu làng Cổ Pháp bị sét đánh nứt đôi, bên trong có chữ đề:
Góc chùa cây cả trực trời
Lại có chữ bày Hưng Quốc chi niên.

Rồi Lý Khánh Văn nhân đó đoán:

Điềm này nghiệm đến sự trời
Nào ai tuổi Tuất ấy người làm vua
Lên đền một mối tay thu
Chữ Hưng Quốc ấy ắt là thiên nguyên.

Rồi khi Lý Công Uẩn lên ngôi:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng Quốc đề phong trong ngoài
Hoa Lư hiểm địa hẹp hòi
Xa giá bèn dời về ở Thăng Long.

Như vậy sách Thiên Nam ngữ lục cho ta một thông tin rõ ràng: Hưng Quốc từng là tên nước ta thời kỳ đầu triều Lý, gắn liền với Lý Công Uẩn và việc dời đô ra Thăng Long.

Thiên Nam ngữ lục … ngoại kỷ

Thiên Nam ngữ lục là tập sử trường thiên ca ra đời vào cuối thế kỷ 17. TNNL bao gồm 8136 câu thơ lục bát, 31 bài thơ chữ Hán và 2 bài thơ Nôm. Đây là tác phẩm văn vần dài nhất trong kho tàng văn học viết bằng chữ Nôm còn lại cho tới ngày nay.
Sách vốn có tên gọi đầy đủ là “Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ”, diễn ca lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến đời Lê Trung Hưng. Người đời sau xét thấy chỉ có phần đầu chép lịch sử ngoại kỷ dựa vào dã sử, phần còn lại chép lịch sử bản kỷ nên lược bớt hai chữ “ngoại kỷ” trong tên sách. Tuy nhiên, chữ “ngoại kỷ” không chỉ có nghĩa là dã sử, mà còn có thể mang một nghĩa khác. Đó là nghĩa “ngoài chính sử”, tức là những sự kiện, những tư liệu được sử dụng trong tác phẩm có thể được viết không theo đúng như chính sử.
Tác giả của Thiên Nam ngữ lục là một người uyên bác, hiểu biết rất rõ về những bộ chính sử đã được biên soạn thời đó. Khi đó Đại Việt sử ký toàn thư vừa mới được hoàn thành, chỉ trước TNNL có vài chục năm. Lý do gì mà Thiên Nam ngữ lục không theo đúng quyển sử này mà còn cố ý đặt tên tác phẩm của mình là “ngoại kỷ”? Không chỉ là tác giả muốn “phóng tác” theo ý riêng, mà gần sự thật hơn có thể tác giả có những tư liệu khác và không đồng nhất quan điểm với nhiều sự kiện ghi trong chính sử.
Do được sáng tác vào cùng thời kỳ với Đại Việt sử ký toàn thư và lại có tư tưởng “phản biện”, “chỉnh lý” chính sử, thể hiện trong từ “ngoại kỷ” như trên, TNNL phải được coi là một nguồn tư liệu lịch sử có giá trị ngang với Đại Việt sử ký toàn thư.
Câu mở đầu của Thiên Nam ngữ lục:

Trải xem sự kỷ nước Nam
Kính vâng tay mới chép làm nôm na.

Câu này cho thấy sách được viết theo lệnh của bề trên, có thể là của chúa Trịnh, viết về lịch sử nước Nam. Tức là đây là một tác phẩm chính thống về sử chứ không phải một sáng tác văn học đơn thuần.
Một khả năng khác là do tình trạng cầm quyền vua Lê nhưng chúa Trịnh nên chúa Trịnh không thể tự biên soạn quốc sử như thông thường. Do vậy chúa Trịnh đã cho diễn ca lịch sử, tuy gọi là “ngoại kỷ” nhưng thực ra đó là chính sử viết dưới góc độ của nhà chúa. Dù là dưới góc nhìn của vua Lê hay chúa Trịnh thì cũng không ảnh hưởng đến giá trị sử liệu của tác phẩm, nhất là đối với những thời kỳ đầu (trước thời Lê) của đất nước.
Do sử sách nước ta chép về thời kỳ đầu dựng nước còn lại quá ít nên một quyển “ngoại kỷ” như vậy thật vô cùng quí giá, cung cấp những sử liệu khác với độ tin cậy không kém gì chính sử. Những sự kiện khác biệt trong TNNL so với chính sử Việt chính là những điểm cần suy nghĩ làm sáng tỏ vì hoàn toàn có thể đó là sự thật lịch sử.