Mục lục BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, phiên bản 4

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI cập nhật tháng 11/2015. Tổng số 492 trang.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

Bia BRTHT

MỤC LỤC

LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN

ÔNG TRỜI BÀ TRỜI

Viêm Giao Bàn Cổ
Ngọc Hoàng thượng đế
Quốc mẫu Tây Thiên
Núi Côn Lôn

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG

Mở sử Hoa Việt
Kinh Dương Vương
Lên núi xuống biển
Thần châu Xích huyện

TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Gậy thần sách ước
Ngũ hành cung
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT

Mẫu Thoải
Bát Hải Động Đình
Bạch Hạc Tam Giang
Đầm Nhất dạ
Giếng Việt

NON SÔNG BÁCH VIỆT

Mẹ Âu Cơ
Sinh Bách Việt
Thần Bổng
Chim bạch trĩ
Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH

Lão Tử làng Thổ Hà
Xây thành Cổ Loa
Huyền Thiên Trấn Vũ
Ông Đổng
Nam thiên Tứ bất tử

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT

Mỵ Châu – Trọng Thủy
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
Họ Chu Việt Nam
Tần An Dương Vương

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG

Đức thánh Chiêm
Bến Vĩnh Khang
Vua Mây họ Phạm
Luận về tứ linh

THIÊN NAM ĐẾ THỦY

Người Tuấn kiệt
Nhâm Ngao
Long Hưng
Nam Việt Đế

NAM QUỐC SƠN HÀ

Mũ đâu mâu
Chân Định linh thần
Thừa tướng Lữ Gia
Tam Giang nhị thánh
Bảy quận nước Nam

LỜI THỀ SÔNG HÁT

Tây Lý Vương
Ả Lã Nàng Đê
Mẫu vì Dương Vương
Nợ nước thù nhà
Hống Hát họ Trương

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN

Tiền nhân họ Phùng
Nam Giao học tổ
Giao Châu Đặng cư sĩ
Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG

Tiếp Lạc khai Đinh
Đô Dương Mã bất tiến
Thì chi Đông Hán dám hung hăng
Khu Linh người nước Nam ta
Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP

Mạnh Hoạch
Nam Triệu
Đào liệt hầu
Bia cổ nói
Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG

Tây Hưng đại vương
Khun Borom
Tộc người Thái
Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN

Bột Hải triều Nam
Dẹp Lâm Ấp
Gạch Giang Tây

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG

Khúc tam vị chủ
Hạt Lý nảy năm cây
Đại Hưng bình bảo
Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ

Thời 12 sứ quân
Thủ lĩnh Đinh Bộ
Diễn Châu thái thú
Qua cửa Thần Phù

LỜI BẠT

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ

PHỤ LỤC

Đối chiếu truyền thuyết và lịch sử
Dịch tượng và ngôn ngữ
Thơ Sử thuyết họ Hùng
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo

 

 

BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI xuất bản trên Alezaa

Phiên bản số hóa của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian đã được phát hành trên kho sách điện tử Alezaa. Sách có thể tải về và xem trên các thiết bị điện thoại thông minh và máy tính bảng.

cover_l

GIỚI THIỆU SÁCH

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi những sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các danh nhân địa phương…

Lượm lặt, sắp xếp lại những thông tin từ văn thơ cổ, những truyền thuyết từ nơi đền miếu, chốn dân dã, cuốn sách nhỏ này có tham vọng lớn đi tìm sự thật cho giai đoạn lịch sử nước Nam từ thời khai thiên lập địa tới khi nước Đại Việt xứng tên độc lập. 18 bài viết về huyền thoại lịch sử, đúng hơn là về những con người đã làm nên huyền thoại muốn góp phần nào chút ánh sáng soi tìm lịch sử chân xác của dân tộc đã chìm đắm sau hàng ngàn năm tăm tối.

Những huyền thoại của dân tộc từ thủa Hùng Vương dựng nước như Lạc Long – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Phù Đổng Thiên Vương, Trọng Thủy – Mỵ Châu,… cho tới những truyền thuyết của những vị anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Lý Công Uẩn… được trình bày, khám phá từ góc độ văn hóa lịch sử. Cuốn sách còn dành nhiều trang phân tích nguồn gốc và sự hình thành của Đạo Mẫu Tứ phủ, Đạo Giáo và bàn luận về một số sự kiện trong Đạo Phật, Đạo Nho ở Việt Nam.

Sách được viết dưới dạng chuyện kể hấp dẫn, trích dẫn các minh văn trên cổ vật và văn bia, hoành phi, câu đối Hán Nôm và ảnh minh họa phong phú từ thực tế điền dã ở các địa phương. Sách hướng tới đối tượng bạn đọc rộng rãi, là những người có quan tâm tới văn hóa và lịch sử cổ truyền của dân tộc, với một tấm lòng thành kính đối với các bậc tiền nhân đã để lại những di sản văn hóa tinh thần vô giá của người Việt.

Lời cảm ơn độc giả sách BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI

rong tron

Tuyển tập các bài viết lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian với tựa đề BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI ra mắt bạn đọc tới nay đã được hơn một năm. Cho dù cuốn sách đã không thể bày bán trên các tiệm sách, nhà sách, nhưng một năm qua đã có nhiều bạn đọc tìm và mua cuốn sách chưa xuất bản này. Những gì bạn đọc dành cho cuốn sách thực sự là một nguồn động viên to lớn đối với tác giả. Xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn bạn đọc gần xa đã quan tâm và ủng hộ cho cuốn sách.

Trước hết xin cảm ơn tới 2 nhà văn Hồ Trung Tú và Nguyễn Xuân Hưng, những người đã góp nhiều ý kiến và đánh giá đối với cuốn sách. Anh Hồ Trung Tú trong bài viết trên báo Người lao động về “Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba” đã rất công tâm khi xếp cuốn sách này vào chung với các tác phẩm của tác gia nổi danh đương thời khác. Quả là một đánh giá đáng giá. Anh Nguyễn Xuân Hưng thì có riêng một bài phát biểu cảm tưởng về cuốn sách, lời văn nhẹ nhàng nhưng rất hấp dẫn và đúng vấn đề, đúng với phong cách của một nhà văn.

Lời cảm ơn thứ hai dành cho các thành viên Diễn đàn Lý học phương Đông đã rất quan tâm tới cuốn sách. Đàn chủ Thiên Sứ đã ngỏ lời mua sách ngay từ đầu khi sách mới trình làng. Tiếc là do hoàn cảnh nên chưa được gặp anh để trao tặng sách. Tuy nhiên, sự nhiệt tình của đàn chủ đã là gương cho những thành viên có tiếng khác như anh Thiên Bồng ở miền Nam, tìm đặt mua sách. Đặc biệt là bác Lãn Miên, tuổi tuy đã cao mà đã 2 lần hạ cố tới “thảo lư” mua sách, tuy cả 2 lần “thảo dân” đều vắng nhà. Có lẽ duyên số… phải đợi đến lần thứ ba mới có dịp hội ngộ chăng?

Một bác có tuổi khác ở TP Hồ Chí Minh ngay trong lần ra sách đầu đã đặt mua ngay 10 cuốn. Sách này chắc không phải thứ ăn được để mua số lượng nhiều mà dùng dần khi đói. 10 cuốn sách mua về hẳn là để tặng bạn tặng bè, giúp tác giả đưa được nội dung tới nhiều người đọc hơn. Chân tình này đối với cuốn sách thật đáng quý.

Kỷ lục về số lượng mua sách thuộc về một độc giả đặt mua tới 3 lần, tổng cộng 21 cuốn sách. Độc giả này là Tổng giám đốc một Công ty cổ phần chứng khoán có tiếng. Một doanh nhân lại có hứng thú, tâm huyết đến vậy thật hiếm có. Cách suy nghĩ thực tế, chín chắn của một doanh nhân đối với vấn đề được nêu ra còn có tinh thần khoa học hơn nhiều so với các giáo sư tiến sĩ mà từng được lấy ý kiến tham khảo khi soạn sách.

Còn nhiều độc giả khác, người đến tận nơi, người gửi qua bưu điện,… đã nhận được cuốn sách. Hy vọng những gì cuốn sách đem lại cho độc giả không chỉ là sự giải trí trong đôi chốc, mà là sự giải phóng tư duy để tìm về chân lý đúng đắn hơn cho lịch sử và văn hóa nước nhà. Tìm hiểu nguồn gốc tổ tiên của mình là việc không ai không cần làm. Có lẽ vì vậy mà cuốn sách đã nhận được sự quan tâm đến vậy của bạn đọc.

Có nhiều người có những ý tưởng hay, muốn viết thành sách, nhưng lại không đủ kiên trì mà viết ra. Nhưng đáng trách hơn, có những người thấy sách hay nhưng lại không đủ nhiệt tình bỏ công ra đặt sách. Nếu bạn muốn có cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI xin đừng ngại liên hệ theo địa chỉ bachviet18@yahoo.com.

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử…“. Một lần nữa xin cảm ơn những người dân Việt đã gìn giữ những tư liệu lịch sử quý báu trong dân gian, trong thần tích, trong tín ngưỡng. Đó cũng gìn giữ để là hồn Việt còn sống mãi và tỏa sáng.

Hồn sông núi nước Nam còn mãi
Để hôm nay ta lại là ta
Hé mây trời sáng bao la
Anh linh tiên tổ Hùng ca đời đời.

Bia tap 1

Tóm tắt 18 bài viết trong cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI

1. Ông trời Bà trời
Ông Trời là Hoàng Đế Hiên Viên, cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt. Bà Trời hay Mẫu Thượng thiên là Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, cầm đầu bộ tộc Cao Sơn ở núi Côn Lôn – Tam Đảo.
2. Đế quốc Lạc Hồng
Lạc Hồng là hai vùng đất Đào – Đường thời Đế Nghiêu – Đế Nghi. Đế Nghi làm vua phương Bắc (Hồng), Lộc Tục làm vua phương Nam (Lạc), là thời kỳ Nam Giao mở nước của người Việt.
3. Tản Viên Sơn Thánh
Vị thần đứng đầu trong các thần linh Việt là Sơn Tinh – Đại Vũ, người đã phát huy ứng dụng Hà Lạc trong công cuộc trị thủy và tập hợp các bộ tộc ở bốn phương, dựng nên nước Việt thời sơ sử.
4. Rồng bay biển Bát
Cha rồng Lạc Long Quân xuất thế nơi biển Động Đình – biển Đông là vua cha của Thoải phủ, là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ của 4.000 năm trước.
5. Non sông Bách Việt
Mẹ Âu Cơ dựng nước Văn Lang ở đất Phong là Văn Vương Cơ Xương. Người sinh Bách Việt là Chu Vũ Vương sau khi diệt Ân Trụ Vương với sự phò tá của thần Phù Đổng. Những cổ vật đồ đồng thời Thương Chu hiện hữu ở vùng Đông Dương minh chứng cho những sự kiện này.
6. Lão Tử hóa Việt kinh
Vị giáo chủ Đạo Giáo Lão Tử không ai khác là Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần đã sai khiến Rùa Vàng giúp vua Chu An Dương Vương dời đô từ Tây sang Đông, xây thành ở Cổ Loa.
7. Nhân duyên Tần Việt
Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là mối lương duyên Chu – Tần, sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng, thống nhất Trung Hoa thời cổ đại.
8. Hương Bổng Đổng Đằng
Hương là đức thánh Chiêm Lý Ông Trọng trấn Hoa Di. Bổng là Phù Đổng Thiên vương đánh giặc Ân. Đổng là Huyền Thiên Đại Thánh khiển quy xà. Đằng là vua Mây họ Phạm trấn giữ miền duyên hải.
9. Thiên Nam đế thủy
Người khởi đầu nước Nam Việt là Triệu Vũ Đế, cũng là Cao Tổ Lưu Bang và là Long Hưng Lý Bôn, xuất Thái Bình, khởi nghĩa ở Long Biên mà nên nghiệp đế vương.
10. Nam quốc sơn hà
Nước Nam Việt của nhà Triệu là chuyện Triệu Quang Phục trong truyền thuyết. 4 đời vua Triệu gắn liền với tên họ của Lữ Gia, hay Lữ tộc từ Lữ Hậu.
11. Lời thề sông Hát
Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương hay Trương Hống Trương Hát nối tiếp ý chí Phục Man của Lữ Gia, lấy sông Hát làm nơi dựng cờ đền nợ nước Nam Việt, trả thù nhà cho Triệu Việt Vương.
12. Những anh hùng thời loạn
Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đánh đuổi Lục Lâm Hán quân xâm lược. Huynh đệ Sĩ Vương 40 năm tự quản Giao Châu, chống giặc giữ là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang. Sĩ Nhiếp thứ hai là Đô Hồ Phạm Tu, cũng là thần Long Đỗ, thành hoàng Thăng Long.
13. Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Ngọn cờ của khởi nghĩa Khăn Vàng trên đất Tượng Lâm của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh đã chặn đứng bước tiến của Hán quân Mã Viện xuống phương Nam, làm tiền đề cho Lý Bí dựng nên nước Tây Đồ Di – Tây Thục.
14. Sáu trăm năm Lâm Ấp
Thục Ngô mất nhưng Lâm Ấp của Mạnh Hoạch vẫn còn. 600 năm độc lập của con cháu Triệu Vũ Đế tính đến khi Lý Phật Tử về với nhà Tùy. Tấm bia cổ phát hiện ở Bắc Ninh xác nhận chùa Dâu là chùa Thiền Chúng, nơi Tùy Văn Đế xây tháp xá lợi ngay trên kinh đô của Lý Phật Tử.
15. Bố Cái đại vương
Lâm Ấp – Nam Chiếu lại phục hưng từ Bố Cái đại vương họ Phùng, là Khun Borom, tổ của người Thái ở Tây Bắc, Lào, Thái Lan và Vân Nam.
16. Giang Tây sứ quân
Cao Vương Biền người Bột Hải – biển Đông đã dẹp được quân Lâm Ấp khỏi miền Đông Giao Chỉ, trở thành Tiết độ sứ Giang Tây – Tĩnh Hải đầu tiên. Những viên gạch Giang Tây xây La Thành là gạch của Tĩnh Hải quân.
17. Đại Việt Đại Hưng
Tam vị chủ họ Khúc kiến lập nước Đại Việt đầu tiên, từ Long Thành chiếm Nghiễm Châu, đóng đô ở Hưng Vương phủ, thống nhất 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo là vật chứng rõ ràng của thời đại này.
18. Truyền thuyết Đinh Lê
12 sứ quân là các tiết độ sứ thời Mạt Đường, là Thập quốc thời Ngũ quý. Họ Lý ẩn họ Lê, âm thầm phục quốc trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, tới Lý Thánh Tông dời đô về Thăng Long và xưng Đại Việt ngàn năm độc lập.

BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, cập nhật nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI cập nhật tháng 4/2015 nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương. Tổng số 468 trang.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

Bia BRTHT

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ÔNG TRỜI BÀ TRỜI

Viêm Giao Bàn Cổ
Ngọc Hoàng thượng đế
Quốc mẫu Tây Thiên
Núi Côn Lôn

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG

Mở sử Hoa Việt
Kinh Dương Vương
Lên núi xuống biển
Thần châu Xích huyện

TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Gậy thần sách ước
Ngũ hành cung
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT

Mẫu Thoải
Bát Hải Động Đình
Cuộc chiến Hùng – Thục
Đầm Nhất dạ
Giếng Việt

NON SÔNG BÁCH VIỆT

Mẹ Âu Cơ
Sinh Bách Việt
Thần Bổng
Chim bạch trĩ
Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH

Lão Tử làng Thổ Hà
Xây thành Cổ Loa
Huyền Thiên Trấn Vũ
Ông Đổng
Nam thiên Tứ bất tử

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT

Mỵ Châu – Trọng Thủy
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
Họ Chu Việt Nam
Tần An Dương Vương

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG

Đức thánh Chiêm
Bến Vĩnh Khang
Vua Mây họ Phạm
Luận về tứ linh

THIÊN NAM ĐẾ THỦY

Người Tuấn kiệt
Nhâm Ngao
Long Hưng
Nam Việt Đế

NAM QUỐC SƠN HÀ

Mũ đâu mâu
Chân Định linh thần
Thừa tướng Lữ Gia
Tam Giang nhị thánh
Bảy quận nước Nam

LỜI THỀ SÔNG HÁT

Tây Lý Vương
Ả Lã Nàng Đê
Mẫu vì Dương Vương
Hống Hát họ Trương

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN

Tiền nhân họ Phùng
Nam Giao học tổ
Giao Châu Đặng cư sĩ
Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG

Tiếp Lạc khai Đinh
Đô Dương Mã bất tiến
Thì chi Đông Hán dám hung hăng
Khu Linh người nước Nam ta
Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP

Mạnh Hoạch
Nam Triệu
Bia cổ nói
Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG

Tây Hưng đại vương
Khun Borom
Tộc người Thái
Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN

Bột Hải triều Nam
Dẹp Lâm Ấp
Gạch Giang Tây

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG

Khúc tam vị chủ
Hạt Lý nảy năm cây
Đại Hưng bình bảo
Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ

Thời 12 sứ quân
Thủ lĩnh Đinh Bộ
Diễn Châu thái thú
Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ
PHỤ LỤC

Đối chiếu truyền thuyết và lịch sử
Dịch tượng và ngôn ngữ
Thơ Sử thuyết họ Hùng
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo

 

 

Bước ra từ huyền thoại

Bia sach 3

Xin liên hệ bachviet18@yahoo.com để đặt sách.

MỤC LỤC

LỜI BẠT
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN

ÔNG TRỜI BÀ TRỜI

Viêm Giao Bàn Cổ
Ngọc Hoàng thượng đế
Quốc mẫu Tây Thiên
Núi Côn Lôn

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG

Mở sử Hoa Việt
Kinh Dương Vương
Lên núi xuống biển
Thần châu Xích huyện

TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Gậy thần sách ước
Ngũ hành cung
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT

Mẫu Thoải
Bát Hải Động Đình
Cuộc chiến Hùng – Thục
Đầm Nhất dạ
Giếng Việt

NON SÔNG BÁCH VIỆT

Mẹ Âu Cơ
Sinh Bách Việt
Thần Bổng
Chim bạch trĩ
Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH

Lão Tử làng Thổ Hà
Xây thành Cổ Loa
Huyền Thiên Trấn Vũ
Ông Đổng
Nam thiên Tứ bất tử

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT

Mỵ Châu – Trọng Thủy
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
Họ Chu Việt Nam
Tần An Dương Vương

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG

Đức thánh Chiêm
Bến Vĩnh Khang
Vua Mây họ Phạm
Luận về tứ linh

THIÊN NAM ĐẾ THỦY

Người Tuấn kiệt
Nhâm Ngao
Long Hưng
Nam Việt Đế

NAM QUỐC SƠN HÀ

Mũ đâu mâu
Chân Định linh thần
Thừa tướng Lữ Gia
Tam Giang nhị thánh
Bảy quận nước Nam

LỜI THỀ SÔNG HÁT

Tây Lý Vương
Ả Lã Nàng Đê
Mẫu vì Dương Vương
Hống Hát họ Trương

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN

Tiền nhân họ Phùng
Nam Giao học tổ
Giao Châu Đặng cư sĩ

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG

Tiếp Lạc khai Đinh
Đô Dương Mã bất tiến
Thì chi Đông Hán dám hung hăng
Khu Linh người nước Nam ta
Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP

Mạnh Hoạch
Nam Triệu
Bia cổ nói
Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG

Tây Hưng đại vương
Khun Borom
Tộc người Thái
Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN

Bột Hải triều Nam
Dẹp Lâm Ấp
Gạch Giang Tây

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG

Khúc tam vị chủ
Hạt Lý nảy năm cây
Đại Hưng bình bảo
Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ

Thời 12 sứ quân
Thủ lĩnh Đinh Bộ
Diễn Châu thái thú
Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ
PHỤ LỤC

Đối chiếu truyền thuyết và lịch sử
Dịch tượng và ngôn ngữ
Thơ Sử thuyết họ Hùng
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo

Bia sau 2

Đọc sách chưa xuất bản của Minh Xuân

 (Vấn đề lịch sử dân tộc cần được thảo luận nghiêm túc)

Bài viết của nhà văn Nguyễn Xuân Hưng

Bia sach 3Tác giả Minh Xuân có một cuốn sách, giải mã các vấn đề lịch sử thông qua các truyền thuyết, huyền thoại dân gian. Căn cứ vào kết quả điền dã, khảo cứu các thần phả của các đền miếu cổ, Minh Xuân đã lý giải lại toàn bộ quá trình cổ sử của Việt Nam. Tôi tạm coi đó là những giả thuyết, mà khi đọc các giả thuyết này, tôi tin rằng đại đa số bạn đọc sẽ như bị ong đốt, nếu như bấy lâu nay chúng ta được dạy sử một cách một chiều, tiếp nhận văn bản kiểu tuyên truyền.

Tôi không bất ngờ vì những lập luận của tác giả. Bởi vì bấy lâu nay, tuy không phải người nghiên cứu lịch sử, mà chỉ là người đọc sử để hiểu tinh thần lịch sử, nhằm dựng ra các tiểu thuyết lịch sử, thì dần dần, tôi cũng cảm thấy nhiều điều vô lý trong chính sử nước nhà. Ví dụ, vấn đề nhà Triệu với lịch sử dân tộc; vấn đề truyền thuyết Hùng vương, An Dương vương, hay vấn đề bà Trưng, bà Triệu…

Dù cho có nhiều vô lý, nhưng nếu có người bảo với bạn: Lưu Bang chính là Triệu Đà, là Lý Bôn, bạn có chịu được không? Lại bảo rằng: Lý Ông Trọng chả đi làm quan ở đâu xa, mà làm quan chính tại đất đai ngày nay là nước Việt Nam, bạn thấy thế nào? Lại bảo: Lưu Bang chính là Nam Việt đế, khởi nghĩa tại Thái Bình ở nước ta, thì bạn có cười không?

Theo tôi, Minh Xuân đã cố gắng giải mã các sự kiện lịch sử, dựng lại một thời kỳ mà theo tác giả là u tối, lờ mờ, bị các nhà sử học Hán tộc (Đông Hán) làm cho nhòa nhoẹt đi. Đó là một cố gắng rất lớn. Dù cho có một phần nhỏ trong các giả thuyết của tác giả thành công, thì cũng là một tác phẩm vĩ đại.

Tôi nhớ lại, một thời cách đây nhiều năm, có ông Lê Mạnh Thát đã đưa ra một số giả thuyết sử học, mà nhà báo Hoàng Hải Vân đăng nhiều kỳ trên báo Thanh Niên, sau đó rộ lên khen chê một dạo. Tôi đã tiếp xúc với một Thượng tọa có học hàm, học vị Thiền học, vị này cũng khéo léo chê ông Lê Mạnh Thát, nghĩa là không tiêu hóa nổi các giả thuyết ấy. Đại khái, bằng tư liệu cổ sử ông Thát sưu tầm, ông Thát lập luận rằng: Không có An Dương vương, từ đó mà không có Triệu Đà; trước năm 43 khi Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là chế độ của Hùng vương, ông Thát cũng cho rằng, truyền thuyết bọc trăm trứng có thể đã mượn của Ấn Độ trong sử thi Mahabharata, khi sử thi này truyền vào Việt Nam cùng với đạo Phật. Tôi nhớ là ông Lê Mạnh Thát đã bị đánh hội đồng như thế nào, từ các nhà sử học đến một ông viết bình luận văn học cũng viết bài đầy chất kẻ cả.

Nay, tôi nghĩ ông Minh Xuân nên cố gắng cho in cuốn sách này, hoặc tóm tắt lại những luận điểm cơ bản nhất để đăng vài kỳ trên một báo có số lượng bạn đọc lớn, thì vấn đề sẽ được đặt ra nghiêm túc hơn, sau đó, các nhà sử học sẽ phải vào cuộc, tranh luận với tác giả, từ đó mà các giả thuyết của Minh Xuân sẽ đến với nhiều bạn đọc quan tâm hơn. Tôi tin rằng, phản bác ông Minh Xuân khó khăn hơn phản bác Thiền sư Lê Mạnh Thát. Bởi vì phương pháp của ông Thát là căn cứ vào tài liệu cổ sử để suy đoán, còn theo ông Minh Xuân, ông căn cứ vào tín ngưỡng và truyền thuyết dân gian. Hai phương pháp này đối ngược nhau. Lê Mạnh Thát căn cứ vào tư liệu thành văn của các nguồn khác, để bác bỏ truyền thuyết, đó là một con đường có vẻ sai lầm. Còn Minh Xuân căn cứ vào truyền thuyết, bóc tách lớp vỏ ngôn từ để đối chiếu với văn sách, đó có thể là con đường đúng.

Có một việc tôi cảm thấy lập luận của Minh Xuân là đúng, nhưng không biết chứng minh. Đó là tập quán phân chia Nam Bắc trong sinh hoạt xã hội Trung Quốc đương đại. Người Hán gọi ngôn ngữ vùng Quảng Đông, kinh đô nước Nam Việt cũ, là Việt ngữ. Họ giữ lại yếu tố Việt trong phần lớn tập quán văn hóa của họ. Còn chúng ta, người Việt Nam lại coi họ là người Hán. Ở đây, lòng tự hào dân tộc cũng cần một chút phân tích. Nếu như thuyết của Minh Xuân là đúng, cũng tức là cha ông ta đã đúng, rằng Triệu Đà là vua tổ nước ta, sau thời đại Hùng vương, thì lãnh thổ của chúng ta là gồm toàn bộ phía nam Trung Quốc. Như vậy, giống như vua Quang Trung đòi đất lưỡng QUảng, vua Gia Long đặt tên nước là Nam Việt, có ý muốn thu hồi lãnh thổ cha ông. Nếu công nhận điều đó, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào rằng mình là hậu duệ của một thời đại rực rỡ, mà người Hán đã cướp đất của tổ tiên ta. Người Trung Quốc hiện nay chắc chắn rất sợ lý thuyết này…

Từ xưa đến nay, chân lý không phải lúc nào cũng ở phía số đông, mà trong khoa học, chân lý bao giờ cũng xuất phát ở phía cô đơn. Tôi không nhất nhất coi giả thuyết của Minh Xuân là đúng, nhưng tôi thành thực thán phục cách làm việc của Minh Xuân. Nếu ông Minh Xuân có thể đưa vấn đề ra rộng rãi, thì rất cần thiết cho việc nghiên cứu, dạy và học lịch sử dân tộc.

Bạn đọc quan tâm tìm đọc sách xin liên hệ: bachviet18@yahoo.com

Bước ra từ huyền thoại. Tập 2

Buoc ra tu Huyen thoai Cover part 2 outfilm

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ

Cuốn sách Bước ra từ huyền thoại (Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian) thật hấp dẫn, dễ hiểu. Sách được viết theo lối vừa kể chuyện, vừa dẫn giải như ru ta vào thế giới tâm linh nơi cửa võng đình làng, nơi uy nghiêm điện thờ vàng son rực rỡ câu đối, lung linh ngọn nến mờ tỏa hương trầm, chốn thần thánh uy quyền mà thân thiện, từ bi. Cái gì vượt lên đời thường hóa thành huyền thoại? Đó là những vĩ nhân, những anh hùng có công với dân với nước, những người bảo vệ cho sự bình yên, no ấm và hạnh phúc cho dân. Lịch sử đấy! Rực rỡ ánh hào quang non sông nước Việt.

Chốn Việt điện u linh nhuộm màu huyền bí. Tuy vậy cái cốt lõi vẫn là bóng hình lịch sử. Nhiều ngôi đền đã trở thành di tích lịch sử quốc gia, thậm chí di tích quốc gia đặc biệt như đền Phù Đổng (Bắc Ninh). Những ngôi đền với những câu đối thờ thể hiện tài năng của các bậc danh sĩ, các bậc Nho gia đã gửi cả cái tâm một lòng thờ thánh. Đấy là nơi nhuộm đầy hồn Việt. Đó cũng là chứng cứ có sức thuyết phục được gây dựng từ huyền thoại mà cuốn sách muốn gửi tới bạn đọc. Thật là một cách tiếp cận rất mới, không hàn lâm, bác học, nhưng chân thật, súc tích, rõ ràng.

Người dân Việt ai cũng có chung một nguồn gốc con Rồng cháu Tiên, cùng có chung một đạo thờ cúng tiên tổ. Đạo thờ cúng tổ tiên có quy ước chặt chẽ. Ai ai cũng thờ cúng tổ tiên. Gia đình có ban thờ gia tiên. Họ tộc có đền thờ họ. Xóm làng có điện thờ thành hoàng nơi cửa võng đình làng hay nơi điện thờ đền miếu. Đất nước có đền thờ các anh hùng, các danh nhân văn hóa như Đền Hùng thờ quốc tổ Hùng Vương. Đạo thờ tổ tiên ai ai cũng biết nên dù ở đâu, xa hay gần ngày giỗ tổ, giỗ thánh, giỗ ông bà, cha mẹ tất cả đều nhớ như in trong tâm niệm. Vì thế chốn Việt điện u linh là chốn linh thiêng in bóng hình lịch sử của gia tộc, của dòng họ, là quốc lễ của muôn dân.

Mấy lời sẻ chia cùng tác giả đầy tâm huyết và đồng cảm. Cuốn sách viết ra trong niềm đam mê và học hỏi, chẳng ham một chút danh nào để lại trong tâm. Tất nhiên, người trao chút tâm tình này thấy cần giải bày. Không rõ độ chính xác những nhận định của tác giả trong cuốn sách này là bao nhiêu. Chắc chắn khó lòng trọn vẹn. Người chia sẻ tâm tình chỉ có ước nguyện độ chính xác một phần trăm cho cả chặng đường lịch sử kéo dài hàng ngàn năm nước Việt thì đã thỏa nỗi ước mong cho một cuốn sách rất hay, có tính chất khai sơn phá thạch, động đất động trời, làm lung lay những cách nhìn về Việt sử vốn bị khô cứng đã nhiều năm. Trong khoa học, không có gì là chân lý tuyệt đối, đặc biệt là với khoa học lịch sử. Với cuốn sách này chắc chắn sẽ cần nhiều khám phá lâu dài để trở về với cõi nguyên sơ cách đây hàng ngàn năm khi mà tác giả cuốn sách chưa tồn tại trên thế gian. Nghiên cứu Việt sử, nhất là cổ sử còn nhiều câu trả lời chưa được giải tỏa. Tác giả tuổi đời còn xuân, quỹ thời gian còn dài, hy vọng sẽ còn nhiều khám phá đang chờ ở phía trước.

Nhà nghiên cứu văn hóa và phê bình lịch sử mỹ thuật Khương Huân.

Buoc ra tu Huyen thoai Cover part 2 back

Sách dày 248 trang.

Liên hệ đặt sách theo địa chỉ: bachviet18@yahoo.com

MỤC LỤC

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ
THIÊN NAM ĐẾ THỦY

Người Tuấn kiệt
Nhâm Ngao
Long Hưng
Nam Việt Đế

NAM QUỐC SƠN HÀ

Mũ đâu mâu
Chân Định linh thần
Thừa tướng Lữ Gia
Tam Giang nhị thánh
Bảy quận nước Nam

LỜI THỀ SÔNG HÁT

Tây Lý Vương
Dương Thi Sách
Mẫu vì Dương Vương
Hống Hát họ Trương

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN

Tiền nhân họ Phùng
Nam Giao học tổ
Giao Châu Đặng cư sĩ

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG

Tiếp Lạc khai Đinh
Đô Dương Mã bất tiến
Thì chi Đông Hán dám hung hăng
Khu Linh người nước Nam ta
Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP

Mạnh Hoạch
Nam Triệu
Bia cổ nói
Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG

Tây Hưng đại vương
Khun Borom
Tộc người Thái
Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN

Bột Hải triều Nam
Dẹp Lâm Ấp
Gạch Giang Tây

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG

Khúc tam vị chủ
Hạt Lý nảy năm cây
Đại Hưng bình bảo
Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT  ĐINH LÊ

Thời 12 sứ quân
Thủ lĩnh Đinh Bộ
Diễn Châu thái thú
Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ
PHỤ LỤC

Đối chiếu truyền thuyết và lịch sử
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo

LỜI BẠT cho cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Tập 1

Bia 1

Cây có cội, nước có nguồn. Một người mồ côi đã bị coi là bất hạnh, huống hồ gì là cả một dân tộc bị “làm cho” thành mồ côi. Mơ hồ về quá khứ dòng giống tổ tiên mình, hàng giờ hàng phút hít thở trong bầu không khí văn hóa tâm linh chính cha ông để lại mà ngỡ mình là cây không rễ, sống nhờ sống bám như thân chùm gửi…
Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới.
Mặc cảm, tự ti vì thân phận chư hầu xưa, tiểu nhược quốc nay là lực cản hết sức lớn lao nằm ngay trong não bộ người Việt, không dễ gì vượt qua để có thể nhìn xa trông rộng. Thế cho nên cứ mãi loanh quanh kiểu “gà què ăn quẩn cối xay”… Nghèo nàn và dốt nát cứ tác động qua lại mãi khiến đất nước ngày càng lún sâu hơn trong cái vòng xoáy chậm phát triển, ngày càng tụt lại đàng sau trong cuộc Maraton toàn cầu hướng tới tương lai.
Mồ côi đã là điều bất hạnh. Biết mà biết sai về quá khứ dòng giống còn tệ hại hơn bội phần. Sai ngay về cái ta và cái ta có là cái sai hết cỡ. Lộn lạo luôn cả về “ta” và “giặc”. Đến tổ tiên mà còn bị giặc đoạt mất thì “ta” còn cái gì, biết cái gì nữa?
Sách sử chép, Đế Minh cao tổ nòi giống “ta” là cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông… Rõ rành rành như thế nhưng trong tư tưởng “ta” bao lâu nay lại coi “Viêm Hoàng tử tôn”, tức người Trung Hoa, là giặc là thù mãi… Lẫn lộn Hán – Tàu với Trung Hoa, không nhìn thấy Hoa là Việt, Việt cũng là Hoa, chẳng qua là tộc danh ở 2 thời kỳ, thời Hùng Việt Vương – Tuấn Lang và tiếp nối bởi Hùng Hoa Vương – Hải Lang. Ở đây sự cảm nhận sai lầm vì thông tin bị gây nhiễu đã lấn át hoàn toàn lý trí. Sai lâu ngày quá hoá ra đúng sao? Sự thể đến nỗi thế kỷ 15 – 16 có bậc trí giả thu thập ghi chép lại những truyền tụng trong dân gian về điều xảy ra trong quá khứ dân tộc Việt cũng không dám tin là thật. Sự bán tín bán nghi lộ ra ngay trong tên gọi tác phẩm. Lĩnh Nam chích quái, chuyện quái lạ ở cõi trời Nam, và Việt Điện u linh, u linh không là mờ mờ ảo ảo sao?
Cuốn sử Việt đầu tiên là Việt sử lược, tác giả khuyết danh và soạn ở bên Tàu thời Mông Cổ… Kẻ đã 3 lần toan xoá sổ dân tộc Việt mà lại viết sử nước Việt thì có gì đáng tin? Khuyết danh phải chăng vì đấy là cuốn sử viết theo đơn đặt hàng? Người Tàu để nó trong 4 cái kho hàng Tứ khố toàn thư cốt đánh bẫy những ai nghiên cứu tìm hiểu quá khứ người Việt, nước Việt? Muốn tìm điều chân thực mà lại tham khảo đống “hàng gian hàng giả” hỏi thu được cái gì, viết ra cái gì?
Muốn hay không cũng phải thừa nhận Việt sử lược là cái nền của dòng Việt sử chính thống hiện lưu hành. Chính vì thông tin mang trong những trang sử hàn lâm này mà những điều thu thập được trong dân gian trở thành không đáng tin hay không dám tin. Người can đảm lắm cũng phải thốt lên “chích quái”, “u linh”, vì so ra thì thấy khác xa một trời một vực với những điều giới sử quan “bác học” đã viết…
Có thể nói tiến bộ khoa học kỹ thuật vận động nghịch chiều với độ xác tín của dòng sử Việt chính thống hiện nay. Hay nói trắng ra, càng ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào nghiên cứu quá khứ nước Việt, người Việt lại càng tìm thấy nhiều hơn những điều không đúng như sách sử đã viết. Mặt cái trống đồng nói khác, quả chuông, viên gạch nói khác. Từ bộ xương tới cán dao đồng cũng chỉ ra điều khác. Ca dao tục ngữ nói khác, thần tích thần phả càng nói khác… Sự việc này cũng dễ lý giải thôi. Làm gì có sự chân xác trong cái đống hàng gian hàng giả “made in China” mà dựa vào nó để viết sử?
Không theo vết xe cũ mà nhiều người trước đã đi trong việc tìm hiểu quá khứ Việt, nhà nghiên cứu Bách Việt trùng cửu mở ra hướng khảo cứu mới, tìm thông tin lịch sử Việt trong dân gian như: ngôn từ, ca dao tục ngữ, thần tích thần phả… Dòng sử dân gian này do không hay rất ít ảnh hưởng bởi tư liệu lịch sử Tàu nên chắc chắn là chân thực. Có chăng chỉ là một chút sai lạc do thời gian uốn nắn.
Những khám phá, những điều mới nhận ra bước đầu được tập hợp và trình bày trong tác phẩm Bước ra từ huyền thoại. Quyển sách được gửi đến người đọc như là sự gợi mở để mọi người cùng nhau xem xét, cùng nhau suy ngẫm, hy vọng rằng “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”…
Quá khứ là quá khứ của chúng ta, tổ tiên là tổ tiên của chúng ta, gia sản cha ông để lại là gia sản của chúng ta. Tác giả khi cho xuất bản cuốn sách chắc hẳn mong được mọi người đón nhận và rồi tác phẩm không còn là của riêng tác giả mà trở thành quyển sách của chúng ta.
Liệu xưa nay nước Việt vẫn là tiểu nhược quốc?
Liệu người Việt xưa nay vẫn là giống lạc hậu?
Bước ra từ huyền thoại sẽ dẫn ta đi tìm câu trả lời để từ đấy giải phóng tư tưởng, dứt điểm hoàn toàn căn bệnh tâm lý “tiểu nhược – lạc hậu”, mở ra một trời mới, đất mới cho mọi người Việt chúng ta.
Ngày 17/4/2014
Văn Nhân Nguyễn Quang Nhật cẩn bút.


Bia sau
Bạn đọc có thể đặt sách bằng cách liên hệ theo địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

MỤC LỤC

LỜI BẠT
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ÔNG TRỜI BÀ TRỜI

Viêm Giao Bàn Cổ
Ngọc Hoàng thượng đế
Quốc mẫu Tây Thiên
Núi Côn Lôn

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG

Mở sử Hoa Việt
Kinh Dương Vương
Lên núi xuống biển
Thần châu Xích huyện

TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Gậy thần sách ước
Ngũ hành cung
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT

Mẫu Thoải
Bát Hải Động Đình
Cuộc chiến Hùng – Thục

NON SÔNG BÁCH VIỆT

Mẹ Âu Cơ
Sinh Bách Việt
Thần Bổng
Giếng Việt
Chim bạch trĩ
Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH

Lão Tử làng Thổ Hà
Xây thành Cổ Loa
Huyền Thiên Trấn Vũ
Ông Đổng

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT

Mỵ Châu – Trọng Thủy
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
Họ Chu Việt Nam
Tần An Dương Vương

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG

Đức thánh Chiêm
Bến Vĩnh Khang
Vua Mây họ Phạm
Luận về tứ linh

PHỤ LỤC

Dịch tượng và ngôn ngữ
Thơ Sử thuyết họ Hùng
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo

Đối chiếu truyền thuyết Việt và lịch sử Trung Hoa

Truyền thuyết Việt là “lịch sử” dân tộc Việt dưới góc nhìn của người Việt ở Giao Chỉ. Lịch sử được ghi chép trong các sách sử Trung Hoa là những chuyện kể của người Hoa về quá khứ của mình. Hoa sử và truyền thuyết Việt thực chất đều là về cùng một lịch sử. Những nét “đại đồng” với những “tiểu dị” trong các nhân vật và sự kiện có thể thấy rõ trong suốt chiều dài lịch sử từ thời thượng cổ cho tới khi nước Đại Việt xưng danh độc lập.

Doi chieu

 

Bách Việt trùng cửu dẫn luận

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các sự tích của các danh nhân địa phương…

Truyền thuyết họ Hồng Bàng của người Việt kể rằng Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là tổ của Bách Việt. Cha Lạc Long dẫn 50 người con xuống khai phá vùng biển Đông. Mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên rừng, về đất Phong Châu, lập con cả làm vua, gọi là Hùng Vương. Người Việt ngày nay là con cháu của trăm người con trai đó, tức là một phần của cả dòng họ, đồng bào Bách Việt xưa, cùng chung một nguồn cội họ Hùng.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ…”.

Cương vực 15 bộ mênh mông của nước Văn Lang thời Hùng Vương, với Tây giáp Tứ Xuyên (Ba Thục), Bắc tới Hồ Nam (hồ Động Đình?), làm các sử gia nghi ngờ rằng đó là lãnh thổ của cả dòng Bách Việt chứ không chỉ của “nước Việt” ngày nay. Lãnh thổ Bách Việt đã trải khắp vùng Hoa Nam, rộng lớn không thể ngờ.

Bach Viet 1

Phạm vi nước Văn Lang thời Hùng Vương theo truyền thuyết

Truyền thuyết từ thời cha sinh mẹ đẻ không sai. Chính sử Việt chép cũng không sai. Bởi vì đó là những thông tin, những ghi chép lịch sử của cả cộng đồng người Bách Việt còn lưu lại chứ không phải chỉ của nước Đại Việt vào thời Lê sau này. Nếu nhìn nhận các truyền thuyết lịch sử Việt tách rời khỏi không gian và thời gian mà nó hình thành sẽ dẫn đến những lệch lạc vô cùng lớn, làm cho những câu truyện truyền thuyết trở nên không thể hiểu nổi. Với “tầm nhìn thời đại” của các chuyên gia sử học ngày nay thì những chuyện “trâu ma rắn thần” của thời cổ sử bị biến thành không “chích quái” thì cũng là “u linh”, mờ ảo. Thế nhưng, quá khứ xa xôi của người Việt lại nằm chính ở những dòng huyền sử lắng đọng đó. Chối bỏ huyền sử tức là quay mặt lại với quá khứ, với tổ tiên nòi giống.

Người Việt là một phần của đại tộc Bách Việt là điều thật rõ, rõ ngay từ cái tên gọi. Vì thế lịch sử Bách Việt cũng là lịch sử của người Việt. Sách Hán thư viết: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình.” Bách Việt là một cộng đồng các dân tộc cùng nguồn gốc sinh sống ở phía Nam sông Dương Tử cho tới bán đảo Đông Dương từ thời trước Công nguyên. Về nhân chủng học thì Bách Việt là những cư dân thuộc loại hình Nam Mongoloid (Nam Á), trong đó bao gồm những nhóm dân tộc Tày Thái, Việt Mường, Môn – Khmer và cả Miêu Dao, phân bố ở Hoa Nam và Đông Nam Á ngày nay.

Trung Quốc thời nay là một tập hợp các vùng lãnh thổ nơi mà trong quá khứ đã được sinh sống bởi những tộc người khác nhau. Con sông Dương Tử chia đại lục Trung Quốc thành 2 phần gần bằng nhau. Một nửa lãnh thổ Trung Quốc là đất người Bách Việt vào thời trước Công nguyên nên lịch sử Trung Hoa không thể không có những khoảng thời gian là lịch sử Bách Việt. Hơn thế nữa, một nửa phương Nam mới là nơi đã làm nên nền văn hóa Trung Hoa cổ đại rực rỡ. Những công trình xác nhận vai trò của văn hóa Bách Việt đối với nền văn minh Trung Hoa cổ xuất hiện ngày càng nhiều. Bắt đầu từ những bước lội ngược dòng của giáo sư Kim Định vào những năm 1970 chỉ ra những đóng góp to lớn của văn hóa Việt trong văn hóa Trung Hoa cổ. Hay gần đây hơn như công bố của giáo sư người Nga Dega Deopik, Viện các nước Á – Phi thuộc trường Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcơva, cho rằng chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa là người Môn – Khmer, tức là người Bách Việt. Cho tới nay, chính nghiên cứu của những nhà khoa học Trung Quốc tại vùng Lĩnh Nam cũng đang khẳng định điều này.

Xem lại lịch sử Trung Hoa thời trung đại. Thế kỷ thứ 13 khi vó ngựa Mông Cổ tung hoành khắp đại lục Trung Hoa, nước Đại Lý, rồi Nam Tống của người Hoa lần lượt bị quân Nguyên thôn tính. Chỉ có nhà Trần trên đất Đại Việt – Giao Chỉ là kiên cường chống quân xâm lược. 3 lần đại thắng quân Nguyên của vua tôi nhà Trần không chỉ là chiến thắng của người Việt trước quân giặc phương Bắc mà còn là chiến thắng của cộng đồng Bách Việt trước sự bành trướng của ngoại tộc Thát Mông. Nhà Trần vốn xuất xứ từ vùng đất Mân Việt ở Phúc Kiến – Chiết Giang, là đất Trung Hoa, cũng là đất Bách Việt xưa. Xét vậy thì giữa nhà Trần và nhà Nguyên rõ ràng nhà Trần mới là Trung Hoa đích thực. Nhà Nguyên là triều đại của người Mông Cổ, không liên quan gì tới Trung Hoa cổ đại. Các vua Trần rồi vua Lê sau đó trong không ít thư tịch, văn bia để lại đã gọi quốc gia của mình là cõi Trung Hạ, Trung Quốc, thậm chí Hoa Hạ (xin xem các trích dẫn trong phần Quan niệm Hoa Di trong sách Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức).

Gần hơn nữa, có Nguyễn Huệ, tên thật là Hồ Thơm, người họ Hồ từ tổ tiên dòng Đế Thuấn nước Ngu của Trung Hoa cổ đại. Trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa Càn Long nhà Thanh và vua Quang Trung ở thành Thăng Long thì rõ ràng triều đại của Quang Trung mới là người Trung Hoa chính gốc. Nhà Thanh là người Mãn Kim, không hề có dây mơ rễ má gì với Trung Hoa cả.

Sang đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng lên ngôi, đoàng hoàng, công khai cho đúc Cửu đỉnh, là 9 chiếc đỉnh lớn tượng trưng cho vương quyền của Trung Hoa, đặt ở kinh thành Huế. Chiếu chỉ đúc đỉnh ghi rõ: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu…”.

Những chiếc đỉnh được đúc theo gương “các minh vương thời Tam đại” (Hạ, Thương, Chu) này là minh chứng rõ ràng, triều Nguyễn mới là “thiên tử” chính truyền của Trung Hoa thời kỳ này.

Truyền thuyết lịch sử Việt được chép trong Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái là những thu nhặt chuyện kể trong dân gian từ thời Trần. Những câu đối, hoành phi trong các đền miếu ngày nay còn giữ lại được phần lớn là từ thời Nguyễn. Có vẻ niên đại của những minh văn này không đủ xa, đủ lâu so với những thư tịch chính sử… được mang từ bên Tàu về. Nhưng giá trị của những tư liệu dân gian này là ở chỗ nó không bị chỉnh lý bởi quan niệm sử chính thống hay bị bóp nặn theo ý đồ của ai đó. Những thần phả, thần tích địa phương ở nước ta được chép với quan điểm Trung Hoa – Bách Việt rõ ràng, bởi vì vào thời kỳ đó chỉ có Việt mới là Hoa thực thụ.

“Trung Hoa” trong quá khứ là từ chung chỉ “thiên hạ” của các tộc người vùng Đông và Đông Nam Á. Trung Hoa xưa và Trung Quốc nay không phải là một. Trong số các dân tộc của Trung Quốc ngày nay thậm chí còn không có dân tộc “Hoa”, chỉ có Hán tộc mà thôi. Hoa không hề là Hán như vẫn người Tàu vẫn chú thích một cách vô căn cứ vì người Hoa là người Bách Việt, còn Hán là người Bắc Mongonloid, cùng dòng giống với người Liêu, người Kim, người Thát (Mông Cổ).

Nhận định lịch sử Trung Hoa cổ đại là lịch sử Bách Việt mà người Việt ở nước Nam ngày nay là một bộ phận độc lập còn tồn tại cho phép giải mã được phần lớn các truyền thuyết lịch sử Việt. Đây không phải là “lấy sử Tàu làm  ta”, bởi vì “sử Tàu” hay “sử ta” ngày nay chỉ là những cách chép sử với góc nhìn mang hạn chế của vùng lãnh thổ hiện tại vào thời điểm hiện tại. Nước Nam của thời đầu Công nguyên có lãnh thổ hoàn toàn không giống với nước Đại Việt thời Lê hay với nước Việt Nam thế kỷ 21 này. Những sự kiện, những nhân vật lịch sử nước Nam thời cổ và trung đại có tầm vóc, phạm vi vượt ra ngoài khuôn khổ lãnh thổ quốc gia ngày nay bởi đó là lịch sử ghi chép theo quan điểm dân tộc Bách Việt trên địa bàn của Trung Hoa rộng lớn.

Lĩnh Nam chích quái là truyền thuyết của vùng Lĩnh Nam, tức là của cả vùng đất Bách Việt. Giải mã, đối chiếu truyền thuyết và lịch sử của nước Nam không thể chỉ hạn chế ở ranh giới Việt – Trung mới được định lại vào sau thời “Trung Hoa dân Quốc” của Tôn Trung Sơn (năm 1911). Từ đầu Công nguyên cột đồng phân giới giữa Trưng Vương và Mã Viện hoàn toàn có thể nằm ở tận Bắc Quảng Tây. Bảy quận nước Nam của Giao Châu thời Sĩ Nhiếp chẳng chừa vùng Lưỡng Quảng. Lưu Cung lập nước Đại Việt năm 917 không phải là trên vùng đất Nam Việt nhà Triệu xưa? Đó đều là lịch sử Việt cả.

Thiên Nam ngữ lục, trường ca thơ sử bằng chữ Nôm cuối thế kỷ 17 là một kho tàng sử liệu cực kỳ quý giá đối với nghiên cứu lịch sử Việt. Tác phẩm có niên đại cùng thời Ngô Sĩ Liên chỉnh lý Đại Việt sử ký toàn thư. Bộ ngữ lục này được sáng tác bằng thơ, bằng chữ Nôm, nhưng không có nghĩa là “tùy tác”. Đây là một tác phẩm được soạn để dâng lên chúa Trịnh, là một cuốn chính sử hoàn toàn nghiêm túc như trong câu mở đầu tác phẩm đã nói:

Trải xem sự kỷ nước Nam
Kính vâng tay mới chép làm nôm na.

Truyền thuyết, thơ sử lưu truyền ngày nay bị cho là có tính “thảng thốt” về lịch sử, bởi vì những gì được chép lại không giống với dòng sử bác học đang lưu hành. Không giống không có nghĩa là không đáng tin, đáng nghĩ. Những chỗ mà dòng sử dân gian vênh lệch so với sử hàn lâm chính là những chỗ lịch sử nước Nam cần phải xem xét lại, phải diễn giải lại cho đúng với không gian thời gian của lịch sử.

Bên cạnh phạm vi lãnh thổ và thời gian, để hiểu đúng truyền thuyết còn cần lùi cách nhìn nhận lại vào đúng không gian ngôn ngữ văn hóa của thời kỳ mà truyền thuyết được hình thành. Ví dụ từ “cửu trùng” hiểu như ngày nay là “9 tầng” thì sẽ dẫn đến những điều vô lý, chẳng đâu vào đâu. Xưa lên ngôi vua gọi là lên “ngôi cửu trùng”. Đền Thượng thờ vua Hùng ở Phú Thọ gọi là Cửu trùng thiên điện, không phải nghĩa là điện thờ ở 9 tầng trời mà là điện thờ Vua, thờ ông Trời. Thành Cổ Loa không phải có 9 vòng thành, mà là tòa thành từng được gọi là “Cửu trùng thành”, nghĩa là thành nơi có Vua. Cửu trùng hay trùng cửu – trường cửu là từ mượn âm, dùng để xưng tụng, tung hô với nghĩa như từ “vạn tuế”. Đời vua Hùng Vương 18 không phải là đời vua Hùng cuối cùng, mà ngược lại, 18 là trùng cửu (9×2), là con số chỉ sự trường tồn của thời đại Hùng Vương.

Những cái bẫy của ngôn ngữ do sự khác biệt xưa – nay đã làm lạc hướng các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Việt, dẫn đến “sai một ly đi một dặm”. Do chữ Nho là thứ văn tự bản chất tượng hình nên để ký âm, nhất là âm của ngôn ngữ khác, các nho sĩ xưa phải dùng phép phiên thiết. Phiên thiết một âm là dùng 2 “ký tự” (2 chữ), một tự ký phụ âm, một tự ký vần, ghép lại để ghi âm. Một âm Nôm khi chép vào sử sách do vậy biến thành 2 chữ Nho, lâu ngày người ta quên đi rằng đây là các “ký tự” để ghi âm chứ không phải ghi nghĩa. Mê Linh là 2 ký tự ghi âm Minh – Minh đô của vua Hùng, chẳng phải loài chim M’linh, M’lang nào cả. Tên làng Vân Già thiết , chứ không phải đám mây có tuổi mà “già”…

Truyền thuyết không phải là lịch sử, nhưng nếu truyền thuyết được quy chiếu vào đúng hệ tọa độ không gian – thời gian – ngôn ngữ  – văn hóa sẽ trở thành lịch sử thật sự. Một trong những tọa độ căn bản của văn hóa phương Đông xưa là Dịch học, là Hà thư Lạc đồ, là Âm Dương Ngũ Hành. Hà là trời, Lạc là đất. Hà thư là những cặp số sắp xếp theo phương vị để chỉ 4 phương trời và một phương trung tâm. Do đó Ngũ Lĩnh là 1 ngọn núi tên là Ngũ, tức là ngọn núi ở trung tâm. Kinh Dương Vương đi tuần ở Ngũ Lĩnh, không phải là nơi có 5 ngọn núi ở bên Tàu. Bát Hải không phải là có 8 cửa biển mà là biển nằm ở phương Tám, tức là phương Đông. Vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ trong đạo Mẫu do vậy không hề xuất xứ từ đầm nước ở Hồ Nam mà là vị vua của biển Đông, là cha Lạc Long đã dẫn 50 người con xuống biển.

Khi các con số chỉ phương hướng của Hà thư lại phối chồng lên với các tính chất của Ngũ hành hay các quẻ của Bát quái thì sự thể còn đi xa hơn nữa. Từ Lạc – Nác – Nước, cũng là Lục, là số 6, con số chỉ phương Bắc ngày nay. Hùng Vương thứ sáu là Lạc Vương, nghĩa là vua vùng đất phía Bắc, đồng nghĩa với Kinh Dương Vương (Canh Giêng Vương). Tên nước Xích Quỷ hay Xích Quẻ là quẻ chỉ hướng Nam, hướng Xích đạo. Hiểu nước Xích Quỷ của Lạc Long Quân thành “quỷ mặc áo đỏ” thì chẳng ra ngọn ngành gì cả…

Những ví dụ về ngôn ngữ như vậy trong cổ sử Hoa Việt vô cùng nhiều. Không vận dụng Dịch lý thì không thể hiểu được những nhân danh, địa danh trong quá khứ, tức là không thể hiểu được những “mật mã” mà tiền nhân người Việt đã nhắn gửi trong những câu truyền thuyết.

Ngôn ngữ, văn hóa không chỉ đọng lại trong thư tịch, trong truyền thuyết, trong hoành phi câu đối điện thờ. Những hiện vật khảo cổ của từng thời kỳ lịch sử, có minh văn hay không có minh văn, đều tự kể chuyện mình, kể những câu chuyện hoàn toàn không như cách “giải đoán” của các sử gia ngày nay. Tấm bia Xá lợi tháp minh phát hiện ở Bắc Ninh ghi rõ năm 601 Giao Châu là đất “thuộc bản đồ đế quốc Tùy”, do thứ sử Lưu Phương cai quản. Tức là Lý Phật Tử – Triệu Việt Vương không hề đóng đô ở Long Biên vào những năm này. Đồng tiền cổ với chữ Đinh ở mặt sau thời Ngũ đại thập quốc lại có tên được đúc trăm đồng như một là “Đại Hưng bình bảo”, xứng tên nước Đại Hưng rõ ràng. Chuông cổ Thanh Mai ở Hà Nội đúc năm Càn Hòa thứ 6 cho biết năm 948 Giao Châu đang là một huyện dưới thời vua Lưu Thịnh ở Quảng Đông. Trận đại thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng do đó không thể xảy ra vào năm 938 được…

Ngày càng có nhiều những phương pháp, những dẫn chứng thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau soi thấy chính sử nước Nam đã được chép… đúng mà không đúng. Lịch sử bị biến thành huyền thoại vì đã không được đặt đúng, hiểu đúng trong tọa độ vốn dĩ của các sự kiện từng xảy ra. Giải mã những huyền thoại, truyền thuyết Việt không phủ nhận, mà trái lại, giúp làm rõ thêm lịch sử. Lịch sử nước Nam là lịch sử của cả đại tộc Bách Việt trên phạm vi thiên hạ Trung Hoa rộng lớn thời cổ trung đại. Lịch sử Hoa Việt thật sự càng lộ rõ thì tộc danh Bách Việt càng rực rỡ, rực rỡ như đã từng tỏa chiếu trong quá khứ.

trongd10Hình ảnh trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

Những thông điệp từ quá khứ được nhắn gửi rõ ràng ngay trên mặt trống đồng, linh khí của người Việt cổ. Ở chính giữa mặt trống đồng là hình ảnh của mặt trời, nguồn sống muôn loài. Ngọn lửa ánh sáng ở trung tâm tức là Trung Hỏa – Trung Hạ hay Trung Hoa. Trung Hoa là cõi thiên hạ của người Bách Việt. Vòng ngoài cùng của mặt trống đồng Ngọc Lũ khắc 18 cặp chim, 1 non và 1 trưởng thành đang tung bay. 18 là trùng cửu, là trường cửu. Ý nghĩa của vòng ngoài mặt trống đồng là đời sau con cháu nối tiếp ông cha đời trước mà trường tồn. Thông điệp của trống đồng gửi từ ngàn xưa về là Bách Việt trùng cửu, một sự khẳng định: Bách Việt trường tồn với thời gian.

Viết tại Kota Kinabalu, Malaysia