Bà Triệu

Sau khởi nghĩa của Trưng Vương: “Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.”

Chỉ một thời gian ngắn sau cũng tại Cư Phong – Cửu Chân nổ ra khởi nghĩa của Chu Đạt chống lại chính quyền Đông Hán. Chu Đạt chiêu mộ dân binh vây giết chết huyện lệnh, giải phóng toàn bộ quận Cửu Chân rồi tấn công quận trị Tư Phố giết chết thái thú Nghê Thức nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa tập hợp lực lượng có tới 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm.

Điều lạ là cuộc khởi nghĩa Chu Đạt chỉ được sử Trung Quốc ghi lại mà sử Việt không hề nói tới. Ở Cửu Chân, sử Việt chỉ nói tới khởi nghĩa của … Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu.
– Chu hay Châu = Chúa
– Triệu = Chúa.
Chu Đạt chỉ là tên khác của Triệu Quốc Đạt. Đạt hay Đoạt là quẻ Đoài chỉ hướng Tây. Cư Phong là Cả Phong, cũng là vua hướng Tây.

Vua Đông Hán cử đô úy Ngụy Lãng đem quân đàn áp, buộc Chu Đạt phải lui vào Nhật Nam. Tại đây thanh thế nghĩa quân mạnh lên, lực lượng lên tới hàng vạn người.
Như vậy Chu Đạt hay Chúa Đạt cũng chính là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây (Nhật Nam).

Việc xác định Chu Đạt là Triệu Quốc Đạt cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu chống lại giặc Ngô là giặc phương Bắc – Đông Hán chứ không phải nước Đông Ngô của Tôn Quyền. Với sự rút lui của Đô Dương về Cư Phong – Cửu Chân thì có thể thấy khởi nghĩa Chu Đạt – Triệu Quốc Đạt là phần nối tiếp khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Bà Triệu cưỡi voi trắng ra trận là nối tiếp ngai vàng của nước Tượng – Đinh – Tây của Trưng Vương chống lại giặc Ngô – Hán.

DenBaTrieu

Đền thờ Bà Triệu ở Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa

Theo truyền thuyết Việt thì Bà Triệu hy sinh ở núi Tùng (Tượng), Phú Điền – Hậu Lộc – Thanh Hóa. Tại đây có lăng và đền thờ Bà Triệu. Thần tích còn chép Lý Nam Đế khi hành quân qua đây đi dẹp giặc Lâm Ấp được Bà Triệu hiển linh phù trợ. Điều này khá kỳ lạ vì theo sử Việt Lý Nam Đế không hề thân chinh xuống phương Nam mà sai Lý Phục Man / Phạm Tu đi dẹp giặc. Vậy mối liên hệ giữa Bà Triệu là Lý Nam Đế là gì?

Câu đối ở đền thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa:
Phấn tích đương niên, chính khí phôi thai Tiền Lý Đế
Triệu nhân tư thổ, thần cao đối trĩ Nhị Trưng Vương.

Dịch:
Hùng tích năm nào, chính khí dẫn sinh triều Lý Đế
Kính chúa đất nọ, linh thần tương sánh vị Trưng Vương.

Theo sử hiện tại thì khởi nghĩa của Lý Bí nổ ra sau khởi nghĩa Bà Triệu hơn 300 năm, ở Giao Chỉ. Vậy mà khởi nghĩa Bà Triệu ở Cửu Chân lại là “phôi thai Tiền Lý Đế”. Câu đối này cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lý Bí – Lý Phật Tử.

Ở đền Bà Triệu tại Thanh Hóa còn nhắc đến “ba anh em họ Lý” người Bồ Điền, quê ngoại của Bà Triệu (mẹ Bà Triệu họ Lý). Ba anh em Lý Hoằng (Lý Hoàng?), Lý Mỹ, Lý Thành là những người đã tham gia khởi nghĩa với Bà Triệu từ ngày đầu, giúp Bà Triệu lập bảy đồn lũy ở Bồ Điền, chiến đấu cho tới phút cuối cùng. Ba anh em họ Lý được thờ cùng Bà Triệu tại đền ở Hậu Lộc.

Câu đối:
Nhất thốc sùng từ, Na Lĩnh căn cơ kim Tượng Lĩnh
Thiên thu thắng tích, Phú Điền phong cảnh cổ Bồ Điền.
Dịch:
Một nóc đền cao, nền Na Lĩnh nay là Tượng Lĩnh
Nghìn thu dấu tích, cảnh Phú Điền xưa chính Bồ Điền.
Ba anh em họ Lý như vậy là những tướng lĩnh quan trọng trong cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu. Có thế đây chính là anh em Lý Thiên Bảo – Lý Phật Tử, những người làm nên nhà Thục sau này.

Vào thời gian cuối nhà Đông Hán, sử Việt còn nói đến một cuộc khởi nghĩa khá lớn của Lương Long (178-181). Lương Long “lãnh đạo nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán. Lực lượng nghĩa quân lên tới hàng vạn người, liên kết với người Ô Hử (tổ tiên người Tày) ở biên giới Việt-Trung, người Choang ở Quảng Tây, thái thú quận Nam Hải là Khổng Chi nên thanh thế rất mạnh, nổi dậy đánh chiếm được các quận huyện và nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam. Thứ sử Giao Châu là Chu Ngung phải đóng cổng thành cố thủ và xin viện binh. Mùa hè năm 181 Đông Hán vương cử huyện lệnh Lan Lăng là Chu Tuấn mang 5000 quân sang đánh dẹp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.”

Lương Long có lẽ là Lang Lương, tức là vua của người Tày – Nùng (Ô Hử – Choang) ở phía Đông.

Khởi nghĩa Lương Long nổ ra trên một địa bàn rất rộng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Quảng Tây, Nam Hải, không kém gì khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa làm chủ đất nước cũng 4 năm. Khởi nghĩa lớn như vậy mà nhà Hán chỉ cử “huyện lệnh Lan Lăng” Chu Tuấn mang có 5000 nghìn quân thì đánh dẹp làm sao được? Phải chăng Chu Tuấn đây chính “Hữu trung lang tướng Chu Tuấn”, người được cử đi đánh dẹp khởi nghĩa Khăn Vàng? Khởi nghĩa Lương Long là một phần của khởi nghĩa Khăn Vàng?

Phải chăng Lương Long là Dương Đình Nghệ trong sử Việt, người theo sử chép có hàng nghìn con nuôi. Một trong số con nuôi đó là Ngô Quyền. Dương là chỉ phương Đông. Đình Nghệ hay Diên Nghệ có lẽ là một danh hiệu tôn xưng. Dương Diên Nghệ và Lương Long rất cận nghĩa.

Nếu khởi nghĩa của Chu Đạt – Bà Triệu mở đầu cho nhà Thục của Lưu Bị – Lý Phật Tử ở phía Tây thì khởi nghĩa Lương Long ở phía Đông có thể là nguồn gốc nhà Đông Ngô của Tôn Quyền.

Văn nhân góp ý:

Cuộc khởi nghĩa Khăn vàng do bà Trưng bà Triệu lãnh đạo không hề chết yểu mà ngược lại phải nói là Thành công rực rỡ. Sử Tàu có bẻ cong bẻ quẹo cắt đoạn thế nào chăng nữa  người ngày nay vẫn thấy … chí ít thì dòng Bách Việt cũng làm chủ được phương nam (ngày nay) với 2 quốc gia Tây Thục và Đông Ngô. Cái gọi là Thời Tam quốc thực ra chỉ là tập 2 … của cuộc khởi nghĩa Trưng vương mà thôi . Than ôi ! oanh liệt 1 thời nhưng tiếc thay … cơ trời vận nước nên … anh hùng đành ôm hận nghìn thu mà thác xuống tuyền đài. Mãi đến 300 năm sau thì Vũ văn Giác vua nhà Bắc Châu mới lai … học theo Hán – Trung hoa (?Nguyên văn của sách sử Tàu) mà chế triều nghi ???

Trưng Triệu

Tôi viết bài thơ kể chuyện xưa
Đất nước lầm than dưới ách thù
Rên xiết dân đen đời nô lệ
Điêu tàn non nước biết bao thu.

Đầu voi Trưng nữ phất cờ vàng
Chị em khí phách thật hiên ngang
Một tiếng hô vang cùng bảy quận
Quyết dẹp giặc thù, phục giang san.

Dư sáu mươi thành thắng thu về
Áo mũ lên ngôi trọn câu thề
Sơn hà một dải không Hán tướng
Trời đất yên bình khắp chốn quê.

Xót thương hai vị lúc yên hà
Nghiệp lớn chưa tròn đã đi xa
Vó ngựa giặc Mông ầm kéo đến
Đất bằng lại nổi trận can qua.

Đồng trụ chia phân chốn Cửu Chân
Sống nên lương tướng, tử nên thần
Đô Dương ngăn Mã phương Nam tiến
Để tiếp Triệu Trinh dựng Tây quân.

Nối nghiệp anh hùng các nữ vương
Đông Ngô, Tây Thục vững phong cương
Hợp sức phá Tào nên chiến thắng
Máu thù nhuốm đỏ nước sông Đường.

Buồn cho con cháu giống Lạc Hồng,
Cha ông bất khuất giữ non sông
Thác xuống tuyền đài còn ôm hận
Bởi sử nghìn năm có biến không.

Sĩ Nhiếp và Lâm Ấp

Tóm tắt về Sĩ Nhiếp:

“(Vương) Họ Sĩ, tên húy là Nhiếp, tự là Ngạn Uy, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên người Vấn Dương nước Lỗ, hồi loạn Vương Mãng ở Bắc triều, tránh sang ở đất Việt ta, đến vương là sáu đời. Cha là Tứ, thời Hán Hoàn Đế làm Thái thú Nhật Nam. Khi còn ít tuổi, vương du học ở kinh đô nhà Hán, theo học Lưu Tử Kỳ người Dĩnh Xuyên, chuyên trị sách Tả thị Xuân Thu, có làm chú giải: được cử hiếu liêm, bổ làm Thượng thư lang, vì việc công bị miễn chức; hết tang cha, lại được cử mậu tài, bổ làm Huyện lệnh Vu Dương, đổi làm Thái thú Giao Châu, được tước Long Độ Đình hầu, đóng đô ở Liên Lâu (tức là Long Biên). Sau nhà Trần truy phong làm Thiên Cảm Gia Ứng Vũ Đại Vương.”

Nam Giao hoc to

Câu đối ở cổng đền Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á – Thuận Thành – Bắc Ninh:
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì / bỉ hà thì thử hà thì / an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích / trị diệc tiến loạn diệc tiến / tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.

Tạm dịch:
Với tấm lòng trung nghĩa công thần, lúc này cũng như lúc khác, sáu trăm năm đức khoan dung để lại giúp dựng cơ đồ Lâm Ấp.
Nhờ sự nghiệp văn hóa khoa cử cũ, thời bình cũng như thời loạn, bốn mươi thu qui củ chính sách làm rạng tỏ Giao Châu.

Câu đối này có một thông tin rất lạ: đức độ để lại của Sĩ Nhiếp đã giúp cai quản nước Lâm Ấp 600 năm. Phải hiểu việc này thế nào đây? Thái thú Giao Châu Sĩ Nhiếp thì có liên quan gì đến người Lâm Ấp?

Xem lại sử chỉ thấy có Toàn thư, Ngô Sĩ Liên bình về Sĩ Nhiếp:
“Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là “Tiên Sĩ Vương”. Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy”.
Chuyện này thật rối rắm. Người Lâm Ấp vào đào mộ Sĩ Nhiếp, sau đó đền thờ lập tại đó lại ghi “lòng khoan dung của Sĩ Nhiếp giúp Lâm Ấp tồn tại 600 năm”.

Theo chính sử Lâm Ấp lập quốc từ Khu Liên vào khoảng năm 137-138 (hoặc 187-190). Sau đó họ bên ngoại của Khu Liên là họ Phạm kế nghiệp. Họ Phạm trị vì Lâm Ấp tới năm 757, tiếp theo là thời gian của Hoàn Vương. Như vậy Lâm Ấp là quốc gia đã tồn tại khoảng 600 năm, cai trị bởi Khu Liên và họ Phạm.

Vài dòng từ thông tin của gia tộc họ Phạm:
“Theo “Lộ Sử” và “Nguyên Hà Tính Toản”, Lưu Ly thuộc dòng họ Đường Đế Nghiêu lập ra nước Đường Đỗ Thị (nay ở tỉnh Sơn Tây,TQ). Vào cuối đời Tây Chu,TQ. Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo bị Tuyên Vương giết. Con là Đỗ Thấp Thúc trốn sang nước Tấn. Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung lập miếu thờ gọi là “Miếu Đỗ Chủ” cũng gọi là “Hữu Tướng Quân Miếu”.
Thấp Thúc trốn sang nước Tấn làm quan Sĩ Sư nên đổi từ họ Đỗ ra họ Sĩ (đó là vào thời vua Chu U Vương 781-771 TCN).
Đến đời chắt của Thấp Thúc là Sĩ Hội (Sĩ Hội là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn). Ông có công dẹp những nước thuộc giống Xích Địch nên được vua nhà Chu phẩm phục chức Thượng đại khanh lại kiêm chức Thái phó và được phong ở đất Phạm, nên lại đổi ra họ Phạm. Sĩ Hội là ông tổ của họ Phạm ở Trung Quốc người đời thường gọi ông là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang cháu là Phạm Phường (đó là vào thời vua Chu Định Vương 607-571 TCN).
Vào những thời gian sau đó quyền lực nước Tấn rơi vào tay một số họ, các họ tiêu diệt lẫn nhau để tranh dành quyền lực cuối cùng nước Tấn bị ba họ Hàn-Triệu-Ngụy chia làm ba nước, các sử gia gọi là Tam Tấn.
Khi đó, họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Ngụy và họ Hàn đánh họ Phạm và họ Trung. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải chạy đến Triều Ca (kinh đô nhà Thương) cố thủ. Triều Ca vỡ những người con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề. Từ đó con cháu họ Phạm lưu lạc khắp mọi nơi.

Tức là Sĩ Nhiếp có thể mang họ Phạm. Đây là thông tin mang tính quyết định cho phép suy đoán:
–    Chữ “nhiếp” trong câu đối trên cho thấy thực ra tên Sĩ Nhiếp chỉ là một danh hiệu với nghĩa kẻ sĩ nhiếp chính, rất phù hợp với ghi chép về công trạng của Sĩ Nhiếp gồm góp phần giáo hóa Nho học và an trị Giao Châu trong 40 năm đầu thời Tam Quốc. Sĩ Nhiếp không phải là họ Sĩ.
–    Sĩ Nhiếp mang họ Phạm, chính là tiền nhân của các vị vua Lâm Ấp họ Phạm sau này. Việc người Lâm Ấp ra Luy Lâu đào mồ Sĩ Nhiếp 160 năm sau thực ra là họ đi tìm mồ mả tổ tiên, “bốc mộ” cha ông và lập đền thờ. Người ngoài không hiểu chuyện nên “tục truyền” là người Lâm Ấp thấy sợ mà lấp mộ lại.

Xem lại con đường sự nghiệp của Sĩ Nhiếp được chép trong Toàn thư:
“Đinh Mão, năm thứ 1 [187], (Hán Trung Bình năm thứ 4). Vương có ba em trai tên là Nhất, Vĩ và Vũ. Bấy giờ Thứ sử Chu Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương bèn dâng biểu cử Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vĩ làm Thái thú Cửu Chân, Vũ làm Thái thú Nam Hải. Vương độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người.”

Thời điểm anh em Sĩ Nhiếp làm thái thú các châu cũng chính năm “giặc Di” Lâm Ấp giết thứ sử Chu Phù và là năm Khu Liên lập nước Lâm Ấp. Nước Lâm Ấp theo cách hiểu ngày nay là vốn là huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, nổi dậy giết thứ sử Giao Chỉ bộ. Ấy vậy mà trong lúc thứ sử Giao Chỉ bộ bị giết thì thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp lại vẫn sống đoàng hoàng, thậm chí còn đang lo dạy học và được người địa phương kính trọng.

Giải thích làm sao đây khi cả bộ Giao Chỉ bị người Lâm Ấp tấn công, giết thứ sử mà anh em nhà họ Sĩ lại “an trị” được vùng này? Thậm chí danh sĩ các nơi còn kéo về tụ họp như chưa hề có chuyện Lâm Ấp đánh giết thứ sử. Chỉ có thể hiểu được nếu anh em nhà họ Sĩ đã “thông đồng” với người Lâm Ấp, hoặc chính anh em Sĩ Nhiếp là người Lâm Ấp đã nổi dậy chiếm các quận ở Giao Chỉ năm 187.

Câu đối khác ở cổng đền Sĩ Nhiếp:
Huynh đệ liệt quận hùng phong trì Ngụy Ngô khởi uy trị gia dĩ đặc sắc
Thi thư giáo nhân hóa lý bổ Nhâm Tích dẫn văn minh phái ư tiên hà.
Tạm dịch:
Hùng khí anh em trị yên các quận vang xa tới Tào Ngụy Đông Ngô, đặc sắc uy nghiêm cai quản
Giáo hóa nhân lý bởi sách văn bổ sung cho Nhâm Diên Tích Quang, dẫn đầu văn minh chính phái.

Anh em Sĩ Nhiếp đã “dàn xếp các quận” của Giao Chỉ bộ một cách ổn thỏa, tiếng tốt bay xa tới tận Ngụy, Ngô. Thời Tam quốc có 3 nước Ngụy, Ngô và Thục. Nước Thục nằm ngay sát Giao Chỉ bộ. Vậy mà tiếng lành của anh em Sĩ Nhiếp chỉ bay tới Ngô và Ngụy thôi là làm sao? Tất cả sử sách ghi về giai đoạn này của Sĩ Nhiếp chẳng có tí nào nói đến nước Thục cả.

Lâm Ấp hiện nay cho là được chép là từ tên “huyện” Tượng Lâm mà ra. Làm gì có chuyện khởi nghĩa cấp huyện ở miền Trung mà đánh ra tận ngoài Bắc giết được thứ sử. Tượng Lâm phải là cấp quận, chắc trong đó có phần “Tượng” là quận lập ra dưới thời nhà Tần. Tượng Quận thì không thể ở miền Trung được mà chí ít cũng phải ở miền Bắc Việt hoặc ở vùng Quí Châu (tức Cửu Chân xưa).

Huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam… Có lẽ Lâm=Nam. Tượng Lâm là Tượng Quận và Nhật Nam, hay Cửu Chân và Nhật Nam là 2 quận lớn trong Giao Chỉ bộ. Nếu Cửu Chân ở Quí Châu thì Nhật Nam chắc phải là Quảng Tây ngày nay. Nhật Nam là nơi Sĩ Tứ, cha Sĩ Nhiếp làm thái thú.

Với cái nhìn như vậy có thể thấy:
– Anh em họ Sĩ thực ra là những người tham gia khởi nghĩa của Khu Liên ở Tượng Lâm = Cửu Chân + Nhật Nam. Sau khi Khu Liên mất họ bên ngoại Khu Liên là họ Phạm, tức là họ hàng nhà Sĩ Nhiếp, lên thay, duy trì Lâm Ấp trong 600 năm.
– Khởi nghĩa Khu Liên ở Quí Châu (Cửu Chân), Quảng Tây (Nhật Nam), sau đó là cả Ích Châu (nơi Sĩ Nhiếp đã thuyết phục bọn Ung Khải hàng nhà Ngô) là phạm vi của … nhà Thục Hán Lưu Bị. Như vậy Sĩ Nhiếp thực ra đã là thuộc nước Thục. Như trên, câu đối cho thấy Sĩ Nhiếp là tổ tiên họ Phạm của Lâm Ấp. Anh em ông ta đã tham gia vào khởi nghĩa của Khu Liên khi lập quốc Lâm Ấp và đóng một vai trò không nhỏ trong khởi nghĩa này ở Giao Châu. Chính vì Sĩ Nhiếp đã thuộc nhà Thục nên ” liệt quận hùng phong” của anh em Sĩ Nhiếp mới chỉ bay xa đến “Ngụy Ngô” mà thôi.

Huu cong nho giao

Lại một lần nữa xem lại thông tin từ gia phả họ Phạm:
“Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm
ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay.

Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ
Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An, diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương,
tức Mai Hắc đế (766).

Thấy xứ Lâm ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội của Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) , còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh.”

Như vậy Lâm Ấp thành lập bắt đầu từ họ Lý: Khu Liên = Lý Khu Kiên = Lưu Bị. Lưu Bị sau khi tiến lên phía Bắc đã lập nên nhà Tây Thục. Anh em Sĩ Nhiếp là những người đã tham gia khởi nghĩa của
Lưu Bị trên khu vực các quận của Giao Chỉ bộ và sau khi giết thứ sử Chu Phù đã cai quản các vùng này. Khi Ngụy diệt nhà Thục của họ Lý, chỉ thâu tóm được phần phía Bắc. Phần phía Tây Nam (vùng Tây Bắc và Lào ngày nay) vẫn do Man Vương Mạnh Hoạch “tự trị” và phần Nam (Giao Châu) do họ Phạm của Sĩ Vương “nhiếp chính” vẫn tồn tại độc lập. “Lâm Ấp sử” ghi lại sự kiện này là cuộc tấn công của nhà Ngô đánh dẹp khởi nghĩa của Bà Triệu và “nhân thể” chiếm phần phía Bắc của Lâm Ấp. Nhà Ngô không phải là Đông Ngô của Tôn Quyền mà là giặc Ngô hay giặc phương Bắc nói
chung. Ở đây chính là giặc Ngụy – Tấn chiếm phần phía Bắc của Khu Liên.

Nhà Thục của họ Lý mất, họ Phạm lên ngôi ở phần Nam – Lâm Ấp này. Nước Lâm Ấp tiếp tục tồn tại thêm 500 năm nữa. Không ít lần họ Phạm đã tấn công ra Bắc, đòi lại vùng đất của tổ tiên mình (Sĩ Nhiếp). Điển hình là chuyện Phạm Dương Mại đề nghị vua Nam Tống cho cai quản Giao Châu:

“Nhâm Thân, [432], (Tống Nguyên Gia năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 5, vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống, xin lĩnh Giao Châu. Vua Tống xuống chiếu trả lời vì đường xa không cho.”

Nếu không phải tổ tiên họ Phạm đã từng cai quản Giao Châu thì đề nghị trên của Phạm Dương Mại là quá vô lý. Cái lý ở đây chính là Sĩ Nhiếp, thái thú Giao Châu, là người họ Phạm, nên Lâm Ấp mới thường xuyên muốn lập lại quyền lực của mình ở Giao Châu.

Năm 605 nhà Tùy đột kích tiêu diệt Lâm Ấp của họ Phạm, buộc họ Phạm phải lui sâu hơn về phía Nam. Sử ta ghi lại cuộc chiến chống Tùy này là của Lý Phật Tử và con trai là Nhã Lang đã đụng độ với quân Tùy giữ thành Ô Diên.

Cho đến tận cuối thời kỳ Lâm Ấp, họ Phạm vẫn tiếp tục đấu tranh cùng với Mai Thúc Loan và Phùng Hưng để “Bắc tiến”. Phạm Thị Uyển là hoàng hậu của Mai Thúc Loan đã cầu đầu cánh quân chống giữ với nhà Đường ở La Thành và mất bên sông Tô Lịch. Mấy người em của bà là Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng (thần tích đình Hòa Mục). Điều này cho thấy vai trò của họ Phạm xuyên suốt từ thời Sĩ Nhiếp sang Lâm Ấp tới Nam Chiếu (Phùng Hưng).

Có thể nước Lâm Ấp của họ Phạm và nước của Hoàn Vương, rồi Chiêm Thành sau này là hai nước khác nhau. Lâm Ấp là quốc gia của người Kinh (họ Phạm) rất rõ ràng. Hoàn Vương, Chiêm Thành là người Chăm, có từ thời Sa Huỳnh. Lâm Ấp là một phần của nước Thục thời Tam quốc. Biên giới phía Nam quãng khoảng dãy Hoành Sơn (Quảng Bình). Còn Chiêm Thành thì ở xa hơn nhiều về phía Nam, qua đèo Hải Vân.

Lang Si Nhiep

Chữ trên Lăng Sĩ Nhiếp

Chữ trên lăng ghi rõ “Lăng Sĩ Nhiếp”. Vậy mà các sách ngày nay đều chép là Sĩ Tiếp.

Vị “Nam giao học tổ” Sĩ Nhiếp như vậy thực sự là một người Việt, có công lao rất lớn đối với lịch sử Giao Châu nói riêng và Việt Nam nói chung. Thật đáng buồn là với cách nhìn nhận như hiện nay, Triệu Vũ Đế, rồi Sĩ Nhiếp, Cao Biền đều bị gán mác “Tàu” vào. Đền miếu của họ bị bỏ trơ trọi. Người Việt lúc nào mới biết nhìn lại đúng gốc gác tổ tiên của mình?

Năm rồng đọc về thủy tổ Kinh Dương Vương

Tục truyền rằng: “Họ Hồng Bàng làm vua nước ta đầu tiên. Tương truyền Đế Minh là con vua Thần Nông, gọi vua Phục Hy là bác, cháu nội Toại Nhân, chắt bốn đời ông Bàn Cổ. Đế Minh đã có vợ và sinh ra Đế Nghi, song khi đi tuần thú miền Ngũ Lĩnh lại lấy công chúa Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Rục. Lớn lên Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục thành lập bộ tộc Dâu, đóng lỵ sở ở Liên Lâu (Luy Lâu), đặt quốc hiệu là Việt Thường, xưng là Kinh Dương Vương, lấy con gái Động Đình Quân mà sinh ra Sùng Lãm…”
“Đó là nội dung học vẹt thầy giáo hương sư lúc còn bé của người làm sách…”
(Theo sách Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương, Trần Quốc Thịnh).

Những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác, từ thầy giáo làng cho đám trẻ học chữ Nho xưa đều nói tới Thần Nông, Phục Hy, Toại Nhân, Bàn Cổ là những vị tổ tiên của người Việt. Những vị thần thời thái cổ của Trung Hoa có thể là tiền nhân người Việt được không?

DenALu

Đền Á Lữ

Tại làng Á Lữ, huyện Thuận Thành – Bắc Ninh nay vẫn còn lăng mộ và đền thờ vị thủy tổ Kinh Dương Vương. Tương truyền lăng và đền này đã có từ rất lâu, tới thời vua Minh Mạng được sắc phong thêm và phục dựng lại với nhiều hoành phi câu đối cổ. Minh Mạng quả là một vị vua có tâm chí lớn, có ý khẳng định lại nguồn gốc “Hồng Lạc đế quốc” của người Việt.

Câu đối ở chính điện thờ Kinh Dương Vương:

Thái cực nhất nguyên thiên địa thủy
Viêm Giao Bàn Cổ đế vương tiên.
Liên hệ với câu mở đầu trong Thiên Nam ngữ lục:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời dưới đất giữa hòa nhân gian.

Câu đối này nói lên quan niệm của người Việt, trời đất sinh ra từ thái cực cùng một lúc với con người (Bàn Cổ). Lịch sử người Việt bắt đầu cùng thiên địa.
Dịch nghĩa:
Bàn Cổ Viêm Giao vị tiên vương đế
Một khối Thái Cực khởi mở đất trời.

Tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” thật lạ. Thì ra ông Bàn Cổ, thủy tổ Trung Hoa, là người Việt, sinh ra cùng trời đất tại vùng Viêm Giao hay Viêm Bang Giao Chỉ. Vùng đất khai thiên lập địa của Trung Hoa chính là ở Giao Chỉ.

Một câu đối ở bàn thờ Âu Cơ trong đền Á Lữ:
Lưỡng nghi khai sơn hậu quân Viêm Giao Bàn Cổ
Bách đại lai tư cung đồng bản ấp phúc thần.
Cụm tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” như vậy là một cụm từ ổn định, chỉ rõ ông Bàn Cổ là người đất Viêm Giao. Cụm từ “Lưỡng nghi khai sơn” muốn nói tới việc Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Từ một “Thái Cực” của Viêm Giao Bàn Cổ người Việt chia làm 2 ngả Bắc và Nam, từ đó mở ra trăm mối Bách Việt, lập ấp, lập thần.
Dịch nghĩa câu trên:
Hai ngôi mở nước, bậc quân vương con cháu Bàn Cổ Viêm Giao
Trăm trai phân tách, những phúc thần tôn kính chung của bản làng.

Hoành phi “Thần truyền thánh kế” được thấy ở cả nơi thờ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân trong đền Á Lữ. Để hiểu hoàng phi này cần liên hệ với câu đối sau ở đền Hùng – Phú Thọ:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương thần truyền thánh kế
Đĩnh Bách Nam khai Bách Việt tổ thiện tôn bồi.
Phải
chăng “Tam Vương” ở đây là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng
Vương? Thần Kinh Dương đã truyền ngôi cho thánh Lạc Long. Thánh Lạc Long
lại truyền tiếp cho Hùng Vương.

LangKinhDuongVuong

Lăng Kinh Dương Vương

Câu đối ở Lăng Kinh Dương Vương bên bờ sông Đuống:
Lập thạch kỷ công Nam thánh tổ
Phong phần tố phẫn Bắc thần tôn.
Câu này tương tự như câu đối ở đền Hùng – Phú Thọ:
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn.
Bắc thần tôn” với nghĩa theo mặt chữ là “con cháu thần phương Bắc”. “Thần phương Bắc” ở đây phải chăng là Viêm Đế Thần Nông?
Dịch nghĩa:
Lập bia ghi công thánh tổ phương Nam
Phong đất cho con cháu thần phương Bắc.

Theo Ngọc phả đền Bình Ngô (An Bình – Thuận Thành – Bắc Ninh): “Kinh
Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất, hiệu là Hùng Lộc Tục, lên ngôi năm
2879 trước công nguyên. Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ hai, hiệu là
Hùng Hiền Vương. Hùng Vương thứ 18 hiệu là Hùng Duệ Vương, mất ngôi năm
259 trước công nguyên. Mỗi hiệu Hùng Vương lại truyền ngôi vài đời, có
khi dài mấy trăm năm
.”

Ngày giỗ Kinh Dương Vương tại Á Lữ là ngày 18/1 âm lịch, là lúc ngài đi vào cõi Vĩnh Thiên (Vĩnh hằng thiên thu). Số 18 cũng như 18 đời Hùng Vương có nghĩa là trùng cửu, trường cửu hay Vĩnh cửu. Tháng 1 là tháng Giêng = Dương. 18/1 là lúc Kinh Dương Vương đi vào cõi Vĩnh Thiên.

Amtunguyen

Ở cổng đền Á Lữ đề:
Ẩm tư nguyên
Câu này cũng gặp ở hoành phi tại đền Hùng – Phú Thọ.

Liên hệ với câu đối ở bên cổng đền:
Quốc triệu hòa bình tư thủy tổ
Dân di? mỹ tục niệm Hồng nguyên.

Thông thường thành ngữ dùng “âm thủy tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn). Ở đây hoành phi đã bỏ đi chữ “thủy” có lẽ muốn nói cái gốc phải nhớ đây không phải là “hà” hay “thủy” mà là “Hồng nguyên”, là cái khởi đầu thủa Hồng hoa Viêm Giao Bàn Cổ.
Dịch nghĩa:
Vận nước bình yên nhớ thủy tổ
Mỹ tục nhân dân tự Lạc Hồng.

Cũng ở chính giữa cổng đền Á Lữ có câu:
Khải ngã Nam Bang Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển đinh Phúc Khang Nguyệt ? nhất đái thọ tân từ
Câu này gần với câu ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây Thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ.
Trong vế thứ hai ở đền Á Lữ dùng chữ “đinh”, còn ở đền Hùng nhiều người đọc là “vu”, tuy nhiên trên thực tế ở đền Hùng có lẽ cũng là chữ “đinh” (theo sách 5000 hoành phi câu đối  Việt Nam). “Đinh” với nghĩa là chắc chắn, rõ ràng.
Dịch nghĩa:
Mở đầu từ ngả Nam Bang, Hồng Lạc nghìn năm là nước lớn
Hiển hiện ở Phúc Khang, sông Nguyệt một dải vững đền nay.
“Phúc Khang”, sông Nguyệt có lẽ là chỉ vùng đất quanh Á Lữ và sông Đuống.

Những câu đối này thật mang một hào khí Lạc Hồng, từ nghìn năm xưa đã là “đế quốc”. Có lẽ những câu này được viết dưới thời Minh Mạng, khi nước Đại Nam lúc đó thực sự là một đế quốc sau khi thống nhất Bắc Nam Đông Tây gồm cả Chiêm, Lào, Chân Lạp, đúc cửu đỉnh ở Huế.

Trên ban thờ mẹ Âu Cơ có hoành phi cổ (từ thời Minh Mạng): “Bách Việt tổ”. Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nên là tổ của Bách Việt.

Câu đối hai bên ban thờ Âu Cơ:
Tương truyền Lĩnh động tiên sinh thánh
Tòng thử Viêm phương quốc hữu quân.
Dịch nghĩa:
Động Lĩnh tương truyền mẹ tiên sinh con thánh
Phương Viêm từ đó nước nhà có đế vương.

Câu đối khác ở ban thờ Âu Cơ:
Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
Câu này gần với câu ở ban thờ Kinh Dương Vương:
Nam cực hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Bắc phương đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
“Hà Lạc” ở đây chính là chỉ “trời đất”, chứ không phải dịch “vui vẻ”, “hòa khí”.

Các
câu đối thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ dùng cùng một hình thức vì vốn dĩ ba vị này được thờ ở 2 đền khác nhau tại Á Lữ. Sau đó đền Lạc Long Quân – Âu Cơ bị phá, mới di rời thờ chung trong đền Kinh Dương Vương thành đền Tam vị thánh tổ.

Dịch nghĩa câu ở ban thờ Âu Cơ:
Vương đồ Việt Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền Hồng Bàng, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.
Dịch nghĩa câu ở ban thờ Kinh Dương Vương
Vương đồ miền Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền phương Bắc, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.

Kinh Dương Vương là vị thủy tổ khai sử của người Việt. Mối liên hệ Viêm Giao Bàn Cổ – Kinh Dương Vương – Bách Việt cho thấy thực chất Trung Hoa cổ đại chính là lịch sử của người Việt.

Cửu đỉnh Huế

Themieu

Cao đỉnh và Thế miếu

Cửu đỉnh Huế là 9 cái đỉnh đồng lớn được đặt trước sân Thế miếu nhà Nguyễn trong Hoàng thành Huế. Theo lệnh của vua Minh Mạng việc đúc Cửu đỉnh được khởi công từ mùa đông 1835 và khánh thành năm 1837. Dụ chỉ đúc đỉnh ghi:
Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc”.
Vị vua thứ hai của triều Nguyễn công khai gọi “các minh vương đời Tam đại” (Hạ, Thương, Chu) của bên Tàu kể cũng lạ. Lại còn nói rõ “Trẫm kính nối nghiệp trước“, tức là coi các vị minh vương thời Hạ Thương Chu là tiền triều của mình.
Cũng chính Minh Mạng là tác giả của bài thơ ở chính điện Thái Hòa:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

ThaiHoa

Là một vị vua từ nhỏ được giáo dục truyền thống Nho học, Minh Mạng rất giỏi văn thơ, thuộc sử sách. Trong các bài văn thơ của mình Minh Mạng rất thường nhắc tới đời Đường Ngu. Vị vua này muốn noi theo gương trị nước an dân của Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, mở nước vạn dặm, đúc đỉnh như thời Hạ Thương Chu. Rõ ràng triều Nguyễn vẫn coi Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa là lịch sử của mình.
Trong số 162 họa tiết chạm nổi trên Cửu đỉnh của nhà Nguyễn ở Huế có tới 90 hình ảnh là nói về các loài động thực vật đặc trưng của Việt Nam. Các hình trên Cửu đỉnh được sắp xếp theo một thứ tự nhất định và được chia thành các nhóm cảnh, vật. Nếu như việc xếp nhóm các họa tiết núi sông, thuyền bè, súng đạn, tinh tú tương đối rõ ràng thì việc phân nhóm những loại động thực vật trên Cửu đỉnh hiện nay không thống nhất. Tuy nhiên, việc phân nhóm các hình ảnh đều phải tuân theo nguyên tắc chính là đảm bảo mỗi nhóm vật có 9 hình, mỗi hình phải nằm trên mỗi đỉnh khác nhau. Bởi vì con số 9 là con số tượng trưng cho sự trường tồn về thời gian (9 chữ Nho là Cửu, đồng âm với chữ Cửu trong từ Vĩnh cửu), cũng như thể hiện toàn bộ không gian (9 châu, bao gồm 8 phương và 1 trung tâm).
Để hiểu được sự phong phú và độc đáo của loài động thực vật Việt Nam thể hiện trên Cửu đỉnh bài viết này xin đề xuất một cách phân nhóm các hình ảnh động thực vật trên Cửu đỉnh mà giữ đúng được nguyên tắc đã nêu (mỗi nhóm vật được xếp đều có đại diện trên từng đỉnh).

HoaSen-1

Hoa Sen trên Nhân đỉnh

Thực vật
54 họa tiết các loài thực vật có thể chia thành 6 nhóm. Tên chữ Nho của loài cây này ghi trên đỉnh được nêu trong ngoặc. Các loài được liệt kê theo thứ tự gặp trên các đỉnh lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh:
1. Cây lương thực và cây lấy sợi: Lúa tẻ (canh), Lúa nếp (nhu), Đậu xanh (lục đậu), Dâu (tang), Đậu ván (biển đậu), Đậu tương (hoàng đậu), Lạc (địa đậu), Đậu trắng (bạch đậu), Bông (miên).
2. Rau và cây gia vị: Hành (thông), Hẹ (cửu), Kiệu (giới), Nghệ (uất kim), Cải (giới), Hương nhu (hương nhu), Gừng (khương), Tía tô (tử tô), Tỏi (toán).
3. Cây lấy quả: Mít (ba la mật), Bòn bon (nam trân), Xoài (yêm la), Cau (tân lang), Mơ (mai), Đào (đào), Nhãn (long nhãn), Lê (lê), Vải (lệ chi).
4. Các loài hoa: Hoa tử vi (tử vi hoa), Hoa sen (liên hoa), Hoa nhài (mạt lỵ), Hoa hồng (mai khôi hoa), Hoa hải đường (hải đường hoa), Hoa dã quỳ (quỳ hoa), Hoa sói (trân châu hoa), Hoa dâm bụt (thuấn hoa), Hoa ngọc lan (ngũ diệp lan).
5. Các loại gỗ: Lim (thiết mộc), Ngô đồng (ngô đồng), Huống (thuận mộc), Kiền kiền (tử mộc), Hoàng đàn (hoàng đàn), Sao (nam mộc), Bách (trắc bách), Thông (tùng), Sơn ta (tất mộc).
6. Dược liệu và hương liệu: Trầm hương (trầm hương), Kỳ nam (kỳ nam), Đậu khấu (đậu khấu), Tô hạp (tô hợp), Quế (quế), Sa nhân (súc sa mật), Tổ yến (yến oa), Trầu không (phù lưu), Sâm ta (nam sâm).

Khoihac
Hạc trên Anh đỉnh

Động vật
Trong 36 họa tiết các loài động vật thì việc phân nhóm rõ ràng nhất là 2 nhóm Thú và Chim, mỗi nhóm gồm 9 loài:
Thú: Hổ (hổ), Báo (báo), Tê giác (tê), Ngựa (mã), Voi (tượng), Bò tót (ly ngưu), Lợn (thỉ), Dê (dương), Con hươu (sơn mã).
Chim: Trĩ (trĩ), Công (khổng tước), Gà (kê), Hạc (khôi hạc), Uyên ương (uyên ương), Vàng anh (hoàng oanh), Vẹt (anh vũ), Yểng (tần cát liễu), Chim ông già (thốc thu).
Còn lại 18 loài động vật khác không phân định được nhóm cho từng đỉnh. Tốt nhất là xếp chung chúng thành một nhóm lớn riêng biệt. Con số 18 cũng có nghĩa là 9×2 hay trùng cửu, trường cửu, vẫn là nghĩa trường tồn như số 9 của Cửu đỉnh.
18 loài này gồm các loài cá, rắn, rùa, ốc, côn trùng. Cứ 2 loài được liệt kê cạnh nhau là nằm trên cùng một đỉnh. Thứ tự các đỉnh như trên (phần về thực vật):
Rồng (long)/ Trạnh (miết); Đồi mồi (đại mại)/ Cá voi (nhân ngư); Rùa thiêng (linh quy)/ Cá sấu (ngạc ngư); Ve sầu (thiền)/ Trăn (nhiêm xà); Sâu dừa (hồ gia tử)/ Cá quả (lục hoa ngư); Trai (bạng)/ Cá rô (đăng sơn ngư); Vích (ngoan)/ Sam (hấu); Cá thủ (thạch thủ ngư)/ Sò (cáp); Cà cuống (quế đố)/ Rắn lớn (mãng xà).
Có 3 loài trong số này được chạm ở tầng trên của đỉnh, là những loài sống ở “trên không”: Rồng, Ve sầu và Sâu dừa. Các loài khác đều được chạm ở tầng dưới, là những loài bò sát hoặc ở dưới nước.

Linhqui

Linh qui trên Chương đỉnh

Một số loài là linh vật: Rồng, Cá voi và Rùa.
–  Rồng (long) được chạm trên Cao đỉnh, ứng với thụy hiệu Cao Hoàng đế của vua Gia Long. Đặc biệt chính trên Cao đỉnh có thể hiện đủ cả Tứ linh: Long (Rồng), Ly (Hổ), Qui (Giải), Phượng (Trĩ).
–  Cá voi ở đây được ghi là Nhân ngư. Hình Nhân ngư được chạm trên Nhân đỉnh, ứng với thụy hiệu Nhân Hoàng đế của vua Minh Mạng.
–  Rùa thiêng, với hình Bát quái trên lưng, được chạm trên Chương đỉnh, ứng với Chương Hoàng đế Thiệu Trị. Có thể chữ Chương ở đây với nghĩa là Văn chương. Người xưa dùng mai rùa để viết chữ (giáp cốt văn) và con rùa được cho đội bia ở các văn miếu, đình đền. Vì thế con rùa là tượng trưng cho văn chương.
Cũng trên Chương đỉnh còn có hình loài Tê giác. Phải chăng “sừng văn tê” cũng là một biểu tượng của văn chương?

TeTê giác trên Chương đỉnh

Đại lễ khánh thành và đặt Cửu Đỉnh diễn ra vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 tức ngày quý mão tháng giêng âm lịch năm Đinh Dậu, niên hiệu Minh Mạng thứ 18. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng :
“Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và thành Trấn Tây đều được biết.”
Chính năm bắt đầu khởi đúc Cửu đỉnh (1835) là năm Chân Lạp (Cam – pu – chia) thần phục nhà Nguyễn, đổi tên là Trấn Tây Thành. Nghĩa là sau hàng nghìn năm người Việt lại hưng quốc, đất đai rộng lớn như thời Chu thiên tử, với 4 vùng lãnh thổ lớn: Giao Chỉ (Bắc bộ), Chăm pa (Trung bộ), Lào (Tây Bắc), Chân Lạp (Tây Nam). Thống nhất được giang sơn chính là lý do mà Minh Mạng cho dựng Cửu đỉnh như Hạ vũ cai quản 9 châu xưa và đổi tên nước thành Đại Nam, bắt đầu đế nghiệp mấy trăm năm.

Cuudinh2

Cửu đỉnh, vật tương trưng cho vương quyền và quốc gia của Trung Hoa, nay chỉ còn duy nhất có ở Việt Nam. Đó là một bằng chứng xác thực về lịch sử và văn hóa Hoa – Việt. Nước Việt sẽ mãi “cửu vĩnh” như những gì được thể hiện trên Cửu đỉnh.

Văn nhân góp ý:

Theo truyền thuyết thì Hạ Vũ sau khi trị thủy thành công đã chia “thiên hạ” thành chín (cửu) châu và đúc 9 cái đỉnh tượng trưng cho 9 châu… Chia thiên hạ thành 9 châu có nghĩa là xác lập chủ quyền trên vùng đất đã phân giới hành chánh để quản lý … Hơn 4000 năm trước đoạn văn vài chữ này đã nói đến 2 yếu tố… nền: lãnh thổ và chính quyền trong khái niệm ‘quốc gia’ hiện đại. Trên 9 cái đỉnh có hình ảnh cảnh quan thiên nhiên và cây – con tiêu biểu của 9 châu… nên 9 đỉnh không chỉ là 9 cái đỉnh đồng mà đúc cửu đỉnh chính là sự khẳng định vị thế chủ nhân của thiên hạ – cửu châu.
Cửu Đỉnh là biểu trưng cho quyền uy của thiên tử nên trong ‘thế giới’ Trung hỏa thì có Cửu Đỉnh tức là chủ thiên hạ. Truyền thống này khởi đầu từ thời Đại Vũ kiến lập vương quốc Trung – Hỏa; Nhà Nguyễn nước Đại Nam đúc 9 đỉnh tức khẳng định sự nối tiếp quốc thống truyền từ hàng mấy ngàn năm trước và quan trọng hơn … đây là sự công khai tuyên bố: Mãn Thanh chỉ là 1 Hãn quốc của đám Nam man không dính dáng gì đến lịch sử Trung hỏa (Nước Mãn Thanh không có Cửu đỉnh).

Hoành phi câu đối ở điện Long Hưng

Tiente

Đình làng Xuân Quang (Văn Giang, Hưng Yên) là một di tích hiếm hoi thờ Triệu Đà trên đất Việt. Trong đình có nhiều những hoành phi câu đối cổ.
Câu đối ở phía trước 2 cột vào đền:
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên vũ trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.

Dịch là:
Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời khắp chốn, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Ở đây khẳng định Triệu Vũ Đế nối tiếp truyền thống Lạc Hùng xưa.

Câu đối ở mặt sau 2 cột vào đền:
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch:

Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.

Có thể thấy rõ những câu đối này dành cho một đế vương khởi thủy của nước Việt, với công nghiệp đồ sộ, xung thiên bạt địa, bất khuất không phục tùng nhà Tần nhà Hán, dựng nước vạn dặm từ Mân Việt đến Lạc Việt. Và

Cổng đình đề: Long Hưng Điện

LongHungDien2

Hoành phi ở nhà tiền tế:

ThienNamdethuy

Thiên Nam đế thủy

và ở gian thờ Triệu Vũ Đế: Chiêu vu thiên

Trước đền còn có gác chuông và gác trống. Trong sân có  4 bức tường tranh đắp nghê điểu, đề Lộc – Thọ, Vị – Danh. Trong đền có một số tượng thờ các “vị” quan lang, nữ lưu.  Đặc biệt ở nhà tiền tế còn có một số bài thơ ghi trên xà ngang với các họa tiết đẹp, như:

Baitho

Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội vừa qua, nhưng cũng như chính Triệu Vũ Đế, ngồi đền này nay đã gần như bị lãng quên, bỏ hoang phế, cho dù đây có thể là nơi đã khai sinh tên thành Thăng Long, là nền cung điện Long Hưng cổ 2000 năm trước. Ngày nay tới điện Long Hưng chỉ thấy cỏ mọc um tùm, đường vào ngập bùn đất, gỗ lạt ngổn ngang. Một bên sân đình là … UBND xã, bên kia là … sân hợp tác xã Xuân Quan. Thật không khỏi đau xót cho sử Việt.

Tamquan-1

Các câu đối ở lăng mộ Phùng Hưng

Lăng mộ Phùng Hưng hiện tại nằm ở Kim Mã Hà Nội, được trùng tu năm 2010. Trong khu lăng mộ có khá nhiều câu đối ca ngợi công đức, uy nghiệp của Phùng Hưng. Ngoài ra khu Kim Mã cũng là nơi thờ Linh Lang đại vương người đã lập ra 13 trại phía Tây thành Thăng Long đời Lý nên một số vế đối cũng nói tới việc này.

Câu đối ở chính đường:
Khứ bộc phong công nhất thống sơn hà quang Việt sử
Trừ hung thịnh đức vạn dân phụ mẫu hiển Cam Lâm
Dịch:
Ngăn giặc lũ, công cao dày thống nhất non sông sáng sử Việt
Trừ hung bạo, nêu nhân đức cha mẹ vạn dân từ Cam Lâm
Cam Lâm là tên làng Đường Lâm ở Sơn Tây.

Thiên dư niên đức trạch uông hàm ngưỡng như phụ mẫu
Thập tam trại nhân yên phồn tăng trường thử giang sơn
Dịch:
Nghìn năm lẻ công đức cao dầy như cha mẹ
Mười ba trại dân mãi bình yên với nước non.
13 trại đây nói tới khu phía Tây Thăng Long (trong đó có Kim Mã) do Linh Lang đại vương lập nên. Câu đối này cũng gặp ở đình Kim Mã.

Vạn cổ anh linh chiêu nhật nguyệt
Nhất thiên chính khí tráng sơn hà
Dịch:
Vạn năm anh linh tỏa trời đất
Một trời chính khí vững non sông.

Uy đức anh hùng oanh vũ trụ
Thanh linh hào kiệt lẫm thiên thu
Dịch:
Uy đức anh hùng vang vũ trụ
Thanh linh hào kiệt vọng nghìn năm.

Bác hổ uy dương trừ Bắc khấu
Thùy long nhân nghiễm hộ Nam thiên
Dịch:
Đánh hổ ra uy trừ giặc Bắc
Nhốt rồng trải đức giúp trời Nam.
Câu này nói tới tích Phùng Hưng là người có sức khỏe, từng tay không đánh chết hổ. Còn “nhốt rồng” là nói tới cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng chống nhà Đường đã thắng lợi.

Hữu gia đức trạch lưu hương ấp
Bất mẫn tinh thần tại mộ lăng
Dịch:
Ân đức nêu cao lưu quê quán
Tinh thần vững vàng ở mộ lăng.

Hãn hoạn trừ tai triêm thánh đức
An dân hộ quốc hiển thần công
Dịch:
Ngăn hoạn nạn, trừ tai ương, dầy thánh đức
Yên dân tình, giúp nước nhà, tỏ thần công

Một số câu đối khác đã giới thiệu ở bài Khởi nghĩa Phùng Hưng qua các di tích ở Hà Nội.

Cuối cùng là cấu đối hay nhất, khó đọc nhất và không dễ hiểu là đôi vế đối được khắc chìm trên đá cạnh mộ Phùng Hưng.

Đường nhân kỳ hữu tàm/ hoa ngạc liên huy/ thân hậu thiên vô Huyền Vũ giáp

Hán tặc hà túc sỉ/ thảo mao(?) xướng nghĩa/ sinh tiền bất sổ Lục Lâm binh.

Câu đối này để hiểu cần chú ý chỗ ngắt đoạn. Đối với những câu đối dài vế đối kết thúc bởi vần bằng thì âm ở các chỗ ngắt đoạn phải là vần trắc. Và ngược lại nếu vế đối kết thúc bởi vần trắc thì ở các chỗ ngắt đoạn phải là vần bằng.
Tạm dịch:
Người Đường có biết xấu, đài hoa liền sáng, hậu thế không nấp giáp Huyền Vũ
Giặc Hán bao hổ thẹn, thảo mãng dấy nghĩa, tiền nhân sá gì lũ Lục Lâm.
Tiền nhân” ở đây chính là Phàn Sùng, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Xích My chống lại lũ giặc cỏ núi Lục Lâm hay “Hán tặc“. Phàn Sùng phiên thiết cho họ… Phùng, chính là tiền nhân của Phùng Hưng. “Hậu thế” ở đây là chỉ Phùng Hưng, người đã không theo chế độ, khuôn khổ của nhà Đường (“giáp Huyền Vũ” – cửa Huyền Vũ là nơi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi), lập nên quốc gia riêng, tỏa sáng trong lịch sử.
Giải nghĩa cặn kẽ câu đối này xin xem bài Đường nhân – Hán tặc của anh Văn nhân.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua các câu đối ở đền Hát Môn

Trong số các câu đối ở đền thờ Hai Bà Trưng tại Hát Môn (nguồn Phạm Hy Sơn:
http://www.giaomua.freehomepage.com/GM89Unicode.html#V1) có một số câu đáng chú ý:

Cung kiếm thất tu mi, nữ chủ uy thanh lưu thất quận
Bình mông phổ bào dư, thần vương phúc tỉ vĩnh thiên thu.

Phạm Hy Sơn dịch:
Cung kiếm vượt nam nhi, Nữ Vương uy danh lưu bảy quận
Vì đồng bào diệt Mông, Thần linh công đức mãi muôn năm.

Trong vế đối đầu cho thấy khởi nghĩa Trưng Vương đã nổ ra trên một diện rộng gồm 7 quận. Như vậy khởi nghĩa này không chỉ bó hẹp trên đất Việt ngày nay vì vùng Bắc và Trung Việt cùng lắm chỉ chứa được 3 quận (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam).
Trong vế đối thứ hai dịch giả đã đọc nhầm. Chữ “mông” ở đây nghĩa là cái màn trướng, chứ không phải giặc Mông.

Một câu đối khác ở Hát Môn:
Cửu Chân cương lý dư, địa thượng Bắc Nam công bán tại
Tam chiến can qua hậu, nữ trung hào kiệt cổ lai vô.

Phạm Hy Sơn dịch:
Cửu Chân biên cương vạch rõ Bắc Nam hai nước riêng hai
Sau mấy cuộc chiến chinh nữ anh hùng trước sau có một.

Vế đầu nói đến Cửu Chân là biên cương nước của Hai Bà Trưng. Điều này thật khó hiểu vì theo cách nghĩ ngày nay, Cửu Chân là vùng Thanh Hóa, không thể nào là biên cương nước của Trưng Vương với nhà Đông Hán. Phía Nam Cửu Chân (Thanh Hóa) còn có Nhật Nam, nằm trong “bảy quận” của Hai Bà, nên Cửu Chân cũng không là biên giới phía Nam.
Cách hiểu khác chính xác hơn: Cửu Chân = Quí Châu. Vùng Quí Châu mới là ranh giới phía Bắc nước của Trưng Vương. Đất của Trưng Vương trải khắp Bắc Nam (địa thượng Bắc Nam) từ Giao Châu đến Quí Châu. Nếu chỉ bó hẹp ở Việt Nam ngày nay thì làm sao đất của Trưng Vương có thể gồm 7 quận và 65 thành?
Vế đối thứ hai có nhắc đến “Tam chiến”, cho biết trong khởi nghĩa Trưng Vương đã có 3 cuộc chiến lớn. Ba trận chiến này cũng được nhắc đến trong một câu đối khác tại đây:

Mã chừng nhất nhung chinh, tử liễu tham tàn do hổ phách
Tượng bành tam tiệp chiến, sinh hoàn quắc thước thượng kinh hồn.

Phạm Hy Sơn dịch:
Ngựa chứng một lần lâm chiến, tham tàn chết gặp hồn run vía cọp
Voi bành ba trận thắng oai hùng tái sinh tướng Mã sợ kinh hồn.

Như vậy những “mảnh thông tin” còn lại đã kể về một thời kỳ lịch sử oai hùng, về một cuộc khởi nghĩa của hai nữ tướng nổ ra trên 7 quận của Hoa Nam từ Giao Châu đến Quí Châu, với nhiều trận đánh lớn, chống lại lũ người “Mông muội” phương Bắc.

Một câu khác:
Lập đồng trụ cố Nam thiên chi cảnh
Vọng môn ? hàn Bắc địch chi tâm

Pham Hy Sơn dịch:
Cửa bắc lạnh Ðịch nhòm vượt ải
Trời Nam lo mê mải cột đồng!
và giải thích Ðịch – 1 bộ tộc hùng mạnh ở phía bắc nước Tàu thời xưa.

Thực ra câu này hiểu đúng là:
Dựng cột đồng trời Nam cảnh cũ
Nhìn cửa ải giặc Bắc lạnh tâm.

(Chữ bị chép thiếu có thể là chữ “quan”, nghĩa là quan ải).
Theo ý câu này thì Bắc địch (quân Đông Hán) còn chưa chiếm được đất của Trưng Vương, phải dựng cột đồng làm mốc, nhìn cửa ải mà khiếp sợ.

Long Hưng, Long Châu

Đình làng Xuân Quan cũng là đền thờ Triệu Vũ Đế, có tên là Long Hưng Điện, nằm ở xã Xuân Quan, Hưng Yên, sát với làng Bát Tràng Hà Nội, cạnh bờ sông Hồng.

LongHungDien

Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dựa vào các tư liệu cũ (Bắc Ninh tự miếu bi văn, Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí, Bắc Thành địa dư chí lục, Đại Nam nhất thống chí) chép sự tích đền như sau:
Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy. Đến đời Hán được phong làm Nam Việt Vương. Triệu Đà cho con cầu hôn nhà Thục để lấy bí mật nỏ thần, nhân đó diệt nhà Thục lập ra nhà Triệu. Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ.”

Đọc thần tích trên ta chợt liên hệ với thông tin trong Thiên Nam ngữ lục:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Có thể thấy khả năng tên thành Thăng Long là do Triệu Đà đã đặt cho vùng đất quanh Hà Nội ngày nay, với trung tâm ở khu vực ven sông Hồng thuộc Gia Lâm – Văn Giang. Tại đây hiện vẫn còn xã Long Hưng của huyện Văn Giang, trùng tên với hành cung xưa của Triệu Vũ Đế.

Khi so sánh 2 tư liệu trên có thể thấy Long Hưng là tên gọi tương ứng với Thăng Long. Đây cũng là giải thích tại sao lại có sự lẫn lộn về truyền thuyết đặt tên thành Thăng Long giữa Triệu Đà và Lý Công Uẩn. Cả 2 vị vua đều xuất phát từ Phiên Ngung – Quảng Đông, tiến đánh lấy Giao Chỉ. Và quan trọng hơn, Lý Công Uẩn (Lưu Cung) là một “Long Hưng”, hay Lang Hưng, là vua của nước Đại Hưng như tên nước ghi trên đồng tiền Đại Hưng bình bảo hay trong Thiên Nam ngữ lục:

“Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng quốc đề phong trong ngoài”

Cũng trong thần tích trên cho biết Triệu Đà ban đầu là quan lệnh huyện Long Châu. Long Châu chứ không phải Long Xuyên như chính sử hiện nay đang chép. Một số tư liệu khác cũng ghi như vậy. Sách Thất tộc thổ ty ở Lạng Sơn, tác giả Lã Văn Lô có phần về gia phả họ Vi, liên quan tới Triệu Đà:
Xét gia phả họ Vi, nguyên tổ tiên là họ Hàn tên là Nhân, dòng dõi của Hoài Âm hầu Hàn Tín. Lã Hậu nghi Hàn Tín mật thông với Trần Hy làm phản, nên cùng lập mưu với Tiêu Hà diệt trừ Hàn Tín (Khoảng năm 110 trước CN ). Lúc bấy giờ một người thiếp của Hàn Tín có thai, Tiêu Hà mật gửi cho Triệu úy Đà ở Lĩnh Nam nhận nuôi. Đà làm Long châu lệnh (Long châu nguyên là đất Việt ta, thời Tần Vua sai Triệu Đà theo Nhâm Thao sang chia cai trị , đất ấy đến bây giờ thuộc Hán), nuôi nhận (tức là con người thiếp của Hàn Tín) rất chu đáo. Khi Nhân trưởng thành, giúp Đà làm việc, Đà chia đất cho từ Thượng Thạch trở đi, lấy phía Đông làm giới hạn. Đà sai Nhân bỏ nửa chữ Hàn đi trở thành họ Vi từ đó (để tránh chu di Tam tộc). Từ khi Nhân ở đất Long châu, từ Thượng Thạch về phía Đông, Cổ Lân, Tư lãng về phía Bắc đều giao cho Nhân quản trị. Đến lúc họ Triệu suy, Nhân chiếm ức đất Long châu, sai con thứ chín là VI TIẾT NGHIÊM, giúp cai trị. Sau Nghiêm kiêu ngạo làm bậy bị Hồ giết chết (Hồ là cháu Triệu Đà, con Trọng Thủy lấy Mỵ nương nước Việt sinh ra). Họ hàng con cháu lánh nạn về đất Nhật Nam, trở thành một dòng họ quý tộc ở đất này.
(Nguồn Diễn đàn lý học phương đông)

Triệu Đà theo như tất cả những sự kiện ghi lại rõ ràng là một viên quan lớn, có quan hệ trực tiếp với các đại thần triều đình của Lưu Bang (Tiêu Hà, Hàn Tín). Vì thế ông ta không thể là một huyện lệnh nhỏ nhoi mà phải là quan úy đất Long Châu. Long Châu là một quận lớn, nơi Hàn Nhân, con của Hoài Âm hầu Hàn Tín, còn được Triệu Đà chia đất mà cai trị.

Các tư liệu trên đều nhấn mạnh đất Long Châu của Triệu Đà thuộc đất Việt xưa. Long Châu ngày nay là tên một huyện của Quảng Tây, nằm giáp với Cao Bằng và Lạng Sơn của Việt Nam. Với chuỗi liên hệ Long Châu – Long Xuyên – Long Xoang – Long Choang, rất có khả năng Long Châu xưa là cả vùng Quảng Tây, vùng đất của người Choang. Thêm nữa, nếu Quí Châu hay Kỳ Chu chỉ đất gốc của nhà Tây Châu thì Long Châu có thể chính là đất của Đông Châu xưa, là quận Tam Xuyên thời Tần như Tư Mã Thiên đã chép. Vết tích của 2 nhà Châu rất rõ ràng ở vùng Tây Nam Trung Hoa này.

Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái chép về thần Xương Cuồng: “… biên giới tây nam giáp liền với nước Mi Hầu, vua Hùng Vương sai dân man Bà Lô (nay là phủ Diễn Châu) hàng năm bắt giống người lão tử sống ở khe núi tới tiến, không thể thay đổi được lệ ấy. Kíp tới khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh ở Long Xuyên, muốn bỏ tệ ấy đi. Thần Xương Cuồng tức giận vật chết Hiêu, vì thế về sau lại phải phụng thờ cẩn thận.

Truyện này một lần nữa khẳng định Long Xuyên nằm trên đất Việt cổ, nơi mà thần Xương Cuồng của nước Việt có thể “vật chết” Nhâm Hiêu. Điều lạ nữa là truyện trên nói Nhâm Hiêu, chứ không phải Triệu Đà, là quan ở Long Xuyên. Liệu Nhâm Hiêu và Triệu Đà có phải là một không?

Một liên hệ khác:
Triệu Đà -> Triệu Đầu (trong từ “đầu đà”?) -> Triệu Một -> Triệu Mạt (tên trên lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Đông).
Triệu Đà như vậy có thể là danh xưng của vị vua đầu tiên của triều Nam Việt.

TrieuVuDe-1

Tượng Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng

Lịch sử về Triệu Vũ Đế có thể nhìn nhận lại như sau. Nhâm Hiêu là quan úy của quận Long Châu  hay quận Tam Xuyên, là đất của nhà Đông Châu (gồm Quảng Tây, Giao Chỉ) dưới thời Tây Hán. Sau khi Lữ Hậu mất đã chiếm thêm quận Nam Hải và một số quận khác ở Hoa Nam, lập nước Nam Việt, xưng là Triệu Đà hay Triệu Đầu, Triệu Mạt. Cũng chính Triệu Vũ Đế là người đã đặt tên Thăng Long / Long Hưng cho vùng đất ven sông Hồng Hà Nội cách đây trên 2000 năm.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư Lý Thái Tổ năm 1014 đã đổi phủ Ứng Thiên thành Nam Kinh, tức là đã đổi tên Thăng Long chỉ ven vẹn có 4 năm sau khi đặt tên này cho thành Đại La. Thật khó hiểu hành động này vì như vậy thì là đã thay đổi cả ý nghĩa của việc đặt tên Thăng Long khi mở đầu triều Lý, cũng như tên Nam Kinh tạo ra câu hỏi vậy “Bắc Kinh” là nơi nào?
Có khả năng Thăng Long là tên do Triệu Đà đặt cho vùng đất ven sông Hồng (Long Biên) từ trước đó. Sử Việt đã lẫn lộn khi chép việc đổi tên Nam Kinh của Lý Thái Tổ với việc đặt tên Thăng Long của Triệu Đà. Lý Thái Tổ đặt tên Nam Kinh bởi vì kinh đô phía Bắc trước đó chính là Phiên Ngung. Tên Nam Kinh là muốn khẳng định sự tự chủ của phần Việt Nam trong Đại Việt (gồm Việt Đông, Việt Tây và Việt Nam) sau khi triều đình Phiên Ngung đầu hàng Tống.

Ai đã đặt tên thành Thăng Long?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì tên gọi thành Thăng Long là do Lý Công Uẩn đặt khi dời đô từ Hoa Lư về Đại La:
«Mùa thu, tháng 7, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long».

Nhưng theo Thiên Nam ngữ lục, một quyển sử khác viết không lâu sau Toàn thư, thì tên gọi Thăng Long là do … Triệu Đà đặt. Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông:

Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Tư liệu này nghe qua thật là quá hoang đường. Hóa ra như vậy thì tên Thăng Long đã có từ trước khi Lý Công Uẩn dời đô cả nghìn năm. Nhưng suy ngẫm thêm thì có thể sự kiện này có phần nào sự thật:
–    Người đặt tên thành Thăng Long không phải là Lý Thái Tổ, vị vua đầu tiên của nhà Lý.
–    Người đặt tên thành Thăng Long là người từ Quảng Đông, đã đánh chiếm vùng Bắc Việt và lập quốc xưng vương.
Trong lịch sử Việt thì ngoài Triệu Đà chỉ còn có một người nữa từ Quảng Đông đánh chiếm Bắc Việt là … Lưu Cung, vua Nam Hán, diệt Khúc Thừa Mỹ vào thời hậu Đường. Gộp những sự kiện này lại thì có thể thấy Lưu Cung cũng chính là Lý Công Uẩn, người mở đầu nước Đại Việt gồm 3 miền Việt Đông, Việt Tây và Việt Nam…
Ngoài ra còn có thể suy đoán Triệu Đà (Đào) không nhất thiết là tên riêng, mà có nghĩa là Chúa đất Đào, là vùng đất gồm 3 miền Việt ở trên. Lưu Cung xưng vương Đại Việt ở vùng này nên cũng có thể được gọi là Triệu Đà.

Văn nhân góp ý:
Quá khứ từ thời cha ông người Việt dựng nướcnay còn lại những mảng tin như muôn ngàn mảnh vỡ của cái bình, làm sao có thể ráp ghép muôn ngàn mảnh vỡ đó, phục hồi nguyên vẹn hình dạng kích cỡ màu sắc đúng y như cái bình vốn là… Thực vô vàn khó khăn … chưa kể bản thân từng mảnh vỡ đã phong hoá trong thời gian ngàn năm… cong vênh phai màu… thậm chí có mảnhđã bị ai đó cố tình sơn lên màu khác …
Lịch sử Hùng Việt …Ôi… thiên nan vạn nan …