Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ bất tử và Tứ linh

TỨ BẤT TỬ
Bộ tứ tiếp theo thường được nhắc đến là Tứ bất tử. Quan niệm rằng tứ bất tử là biểu trưng hóa các giá trị tinh thần trong các lĩnh vực đời sống xã hội của dân gian là không chính xác. Hầu hết các thần linh Việt đều là biểu trưng của các giá trị này như đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tình yêu đôi lứa, lao động sản xuất,… Nhưng tại sao lại chỉ có 4 vị được gọi là bất tử?
Bất tử là khái niệm và mục tiêu tu hành của đạo Giáo hay đạo Thần tiên. Các đạo sĩ tu hành nhằm hóa thành tiên, tức là thành những người bất tử, bất diệt. Vì thế các vị thánh bất tử đầu tiên phải là những đạo sĩ hay tu sĩ, có khả năng làm cho mình trở nên “bất tử” dưới các hình thức khác nhau.
Đứng đầu các vị thần bất tử là Tản Viên Sơn Thánh. Khác với việc là vua cha cai quản Nhạc phủ, Tản Viên Sơn Thánh được gọi là bất tử vì ông có phép thần là cây gậy thần do Thái  Bạch Tử Vi thần tướng trao tặng trên núi Ba Vì. Cây gậy thần này có khả năng làm cho người chết sống lại, Tản Viên đã từng dùng nó để cứu sống con rắn thần, là con của Long Vương, nên Tản Viên lại được nhận thêm cuốn sách ước khi đi xuống thăm thủy cung Động Đình.
Gậy thần sách ước của Tản Viên là Hà thư Lạc đồ, là 2 bảo vật mà Đại Vũ đã nhận được từ Phục Hy trong truyền thuyết Trung Hoa. Tản Viên Sơn Thánh không ai khác chính là vua Đại Vũ trị thủy nổi tiếng, nhờ biết vận dụng những kiến thức khoa học về trời đất (Hà Lạc) của thời hồng hoang, chinh phục thắng lợi cơn hồng thủy, khởi dựng nên nước Việt. Nơi Đại Vũ khơi thông dòng Hắc Thủy là cửa Long Môn, tức là khu vực Thác Bờ trên dòng sông Đà (sông Đen) ở Hòa Bình. Công nghiệp của Đại Vũ – Tản Viên gắn với ngọn núi Ba Vì và dòng sông Đà.
Đứng thứ hai trong các thần bất tử không phải là Phù Đổng Thiên Vương mà là Chử Đồng Tử hay còn gọi là Chử Đạo Tổ. Thứ bậc trong tứ bất tử xác định bởi năng lực “bất tử” của các vị thần này và thời gian xuất hiện của họ. Những vị thần có năng lực càng cao thì sẽ xuất hiện càng sớm trong dòng lịch sử dân gian. Chử Đồng Tử là người đi tu tiên, cho dù truyền thuyết kể là đi thụ giáo lão Phật Quang ở Quỳnh Lâm. Phật ở đây chỉ có nghĩa là người tu hành đắc đạo, không có nghĩa là đạo Phật như ta hiểu ngày nay, vì thời Chử Đồng Tử đã làm gì có ông Thích Ca Mầu Ni ra đời mà có Phật giáo.
Phép bất tử của Chử Đạo Tổ (cái tên Đạo Tổ chỉ rõ đây là một Đạo sĩ) nằm ở cây gậy và chiếc nón (trượng lạp). Cùng với sự hỗ trợ của công chúa Tây Sa (thực ra là Tây Vương Mẫu) Chử Đồng Tử đã dùng cây gậy đầu sinh đầu tử này đi cứu chữa cho nhân dân. Chử Đồng Tử và Tiên Dung là cách kể khác của các vị thần bất tử Hậu Nghệ và Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa. Hậu Nghệ là người đã làm gián đoạn nhà Hạ thời Hạ Thái Khang (tranh ngôi theo kiểu lấy con gái vua mà không được sự đồng ý), rồi sau đó cùng Hằng Nga bay lên cung trăng. Truyền thuyết Việt kể thành truyện Đầm Nhất Dạ, trong một đêm Chử Đồng Tử và Tiên Dung cùng lâu đài thành quách phút chốc bay về trời.
Vị trí thứ ba của thần bất tử được gọi là Phù Đổng Thiên Vương. Tuy nhiên, đức Thánh Dóng làng Phù Đổng mà gọi là bất tử rõ ràng là không phù hợp, vì Thánh Dóng không hề đi tu ngày nào và không hề có phép bất tử. Ở đây các nhà bác học đã nhầm. Vị thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên Vương hay Huyền Thiên đại thánh. Chứng thực điều này là đền Bộ Đầu ở bên sông Hồng (thuộc xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội), nơi thờ Đổng Thiên Vương Huyền Thiên đại thánh. Huyền Thiên là vị thánh đã giúp An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ ở núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa. Huyền Thiên Trấn Vũ không phải ai khác chính là vị Lão Tử nổi tiếng, vị đạo tổ của đạo Giáo Trung Hoa. Gốc tích thành nghiệp của Lão Tử là ở Cổ Loa, nơi đền Sái trên núi Thất Diệu thờ Huyền Thiên và làng Thổ Hà nơi thờ Thái Thượng Lão Quân.
Lão Tử được gọi là bất tử thì khá dễ hiểu vì ông là Thái Thượng Lão Quân, chuyên nghề luyện kim đan giúp con người sống trường sinh bất lão. Hiểu nôm na thì Huyền Thiên Lão Tử vốn là một đạo sĩ bác sĩ, đã giúp nhân dân phòng chống đại dịch Xích Tị hay dịch hạch vào thời giao kỳ giữa Tây Chu và Đông Chu. Xét về thời gian và năng lực như vậy thì rõ ràng Lão Tử đứng thấp hơn Đại Vũ Tản Viên và Hậu Nghệ Chử Đạo Tổ vì không có phép cải tử hoàn sinh mà chỉ có thuật trẻ mãi không già.

P1230442Gác chuông đền thánh Nguyễn ở Gia Viễn (Ninh Bình).

Riêng vị trí thứ tư của Tứ bất tử lại có tới 3 người từng được xếp ở đây. Đó là Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và thánh mẫu Liễu Hạnh. Đặc điểm rõ ràng là cả 3 vị này đều là những đạo sĩ. Nguyễn Minh Không theo bia ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định) còn được gọi là “Đại pháp sư”. Khả năng của các vị này khá hạn chế, còn chưa được trường sinh bất lão như Huyền Thiên Lão Tử. Các vị vẫn phải “hóa”, rồi tái sinh chuyển thế. Như Từ Đạo Hạnh hóa sinh thành Lý Thần Tông hay nhất là thánh mẫu Liễu Hạnh có tới 3 lần sinh hóa. Ở vị trí này ảnh hưởng của đạo Phật thấy cũng khá rõ vì Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều là các nhà sư, còn Liễu Hạnh công chúa đã quy y Phật sau trận chiến ở Sòng Sơn. Bản thân khái niệm “hóa sinh” hay luân hồi là khái niệm của Phật giáo, không phải gốc của đạo Giáo.

Song SonChính điện Sòng Sơn (Thanh Hóa).

TỨ LINH
Tứ linh là khái niệm ngày nay ít được nhắc tới, nhưng đó từng là khái niệm được ghi nhận đối với thần điện Việt. Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. Vậy Hương Bổng Đổng Đằng là những ai?

Ninh SonĐình Ninh Sơn (Chương Mỹ, Hà Nội) nơi thờ Lý Ông Trọng.

Thần Hương: khá rõ là Thụy Hương Lý Ông Trọng. Lý Thân là một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, trấn giữ giặc Hung Nô hay người Hồ (Hung Nô thiết Hồ), tức là người Chiêm ở vùng Tây Nam nhà Tần. Vì thế Lý Thân còn gọi là đức thánh Chèm (chính xác là Chiêm vì Từ Liêm thiết Chiêm). Lý Thân mất, Tần Thủy Hoàng vô cùng thương tiếc cho đặt làm tượng đồng và để ở Hàm Dương, đe dọa Hung Nô. Hàm Dương thiết Hương, tức là tượng đồng Ông Trọng đặt ở ngay làng Thụy Hương chứ chẳng phải ở tận Thiểm Tây ở phía Bắc.
Đặc biệt là khái niệm Tứ linh được sắp xếp theo đúng Ngũ hành. Thần Hương chiếm phương vị ở phía Tây, dùng màu trắng (vợ của Lý Thân là Bạch Tĩnh Cung công chúa), tượng là Chim (Chiêm).
Thần Bổng: tìm khắp thần điện Việt không thấy vị nào có tên là Bổng cả. Nhưng lại có Phù Đổng thiết PhổngBổng. Thần Bổng chính là Phù Đổng Thiên Vương Thánh Dóng, người đã ăn cơm cà mà lớn nhanh như thổi, phi ngựa sắt làm nên cuộc chiến thần thánh, đánh Trụ diệt Ân, khai quốc Văn Lang ngàn năm bay bổng. Thánh Dóng sau trận chiến đã về nơi núi Sóc mà bay bổng về trời. Xét về phương vị thần Bổng chiếm hướng Nam hay hướng Sóc, dùng lửa (ngựa phun lửa).
Thần Đổng: như đã biết Đổng Thiên Vương chính là Huyền Thiên Trấn Vũ hay Lão Tử, vị tổ của đạo Giáo. Phương vị của Đổng Thiên Vương rõ ràng là hướng Bắc, màu đen (Huyền). Linh vật là Rắn và Rùa. Huyền Thiên trong các tượng thờ thường được thể hiện là vị thần có khả năng khiển quy xà, với hình thanh xà kiếm, chống lên lưng rùa.
Thần Đằng: thần Đằng Châu hay vua Mây họ Phạm ở Hưng yên, được nói tới với khả năng hô mưa gọi gió, hiển linh làm nửa phần sông tạnh, nửa phần mưa. Truy nguyên nguồn gốc thì đây chính là Sĩ Nhiếp hay Phạm Tu, người đã duy trì nền tự trị của Giao Châu trong vòng 40 năm thời loạn cuối thời Đông Hán và Tam Quốc. Sĩ Nhiếp là một tu sĩ Bà La Môn, theo thầy Khâu Đà La trong truyện Man Nương, thờ thần dông tố Indra, được biến tướng trong tín ngưỡng dân gian thành Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Vua Mây cũng là có nghĩa như vậy. Vua của mây cũng là Rồng nên thần Đằng chiếm phương Đông (Đằng), có tượng là rồng.
Như thế Tứ linh là những nhân thần có công lớn, rất được tôn sùng, trở nên linh thiêng ở 4 hướng Đông Tây Nam Bắc. Biểu tượng Tứ linh còn gắn với bộ 4 linh vật là Long Ly Quy Phượng, tuy ở vị trí Tây và Nam ở đây có sự hoán đổi: chim Phượng lại gắn với Lý Ông Trọng ở hướng Tây, còn loài động vật lông mao (Ly ở đây thay bằng Ngựa phun lửa) của hướng Tây lại gắn với thần Bổng của Sóc phương.

Long và Ly

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Kiều Thu Hoạch đã so sánh quan niệm về con Rồng và hình tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Trong Tứ linh của người Việt 4 con vật thiêng được biết là Long, Ly, Quy, Phượng với loài Rồng (Long) đứng đầu. Nhưng sách Lễ ký của Khổng Tử, tài liệu sớm nhất nói về Tứ linh, lại cho một trật tự khác: Lân, Phụng, Quy, Long. Từ đó tác giả đi đến nhận định là người Trung Quốc không coi trọng con Rồng (xếp nó vào cuối cùng trong Tứ linh) mà đề cao con Lân…
Tại sao có sự khác biệt trong quan niệm về Tứ linh giữa Việt Nam và Trung Quốc? Các “linh vật” nghĩa là gì? Con Rồng – Long có mặt trong văn hóa phương Đông từ khi nào? Con Ly hay Lân là con gì? Những câu hỏi này thực sự chưa bao giờ được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, trong khi hình tượng Rồng và Kỳ Lân lại là hình ảnh thường gặp trong các vật phẩm kiến trúc, trang trí điêu khắc cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc.
Trước hết cần xác định Tứ linh là 4 loài vật biểu trưng trong văn hóa phương Đông từ rất lâu. Tứ linh là 4 loài đứng đầu 4 giới sinh vật. Khái niệm này bắt nguồn từ học thuyết Ngũ hành. Bảng kê đầy đủ về Ngũ hành được thấy trong sách Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi đời Tần, có thể tóm tắt như sau (4 mùa hay Tứ thời dùng 4 hành hay 4 đức để biểu hiện):
– Mộc đức: mùa Xuân, phương Đông, màu Xanh. Động vật tiêu biểu là loài có vảy.
– Hỏa đức: mùa Hè, phương Nam, màu Đỏ. Động vật tiêu biểu là loài chim có lông vũ.
– Kim đức: mùa Thu , phương Tây, màu Trắng. Động vật tiêu biểu là loài thú có lông mao.
– Thủy đức: mùa Đông, phương Bắc, màu Đen. Động vật tiêu biểu là loài giáp giới.
Phương vị về các loài vật và màu sắc tương tự cũng thấy trong quan niệm: “Hành tiền chu điểu nhi hậu huyền vũ, Tả thanh long nhi hữu bạch hổ” (Lễ ký). Chu – Huyền – Thanh – Bạch là 4 màu Đỏ – Đen – Xanh – Trắng, giống như trong Lã Thị xuân thu. Điểu – Vũ – Long – Hổ tương ứng là 4 loài vật đại diện cho 4 giới có lông vũ – giáp giới – vảy – lông mao (vũ, giáp, lân, mao). Các vị trí Tiền – Hậu – Tả – Hữu tương đương với các hướng Nam – Bắc – Đông – Tây (khi đứng quay mặt về phương Nam).
Bộ tứ Chu tước – Huyền vũ – Thanh long – Bạch hổ được xác thực bằng hiện vật trên các gương đồng Bát quái của thời Chiến Quốc. Ở Việt Nam cũng có những chiếc gương như vậy đã được phát hiện, trong khu vực khảo cổ miền Trung.

guong-bat-quaiGương Bát quái thời Chiến quốc (ảnh Hồ Xuân Em).

Về con Rồng Thuyết văn giải tự của Hứa Thận từ thời đầu Công nguyên ghi: Long, lân trùng chi trưởng. Rồng đứng đầu loài có vẩy. Hình ảnh con rồng xuất hiện rất sớm trên các đồ đồng từ thời Ân Thương dưới dạng Quỳ long (rồng 1 chân). Thường cặp đôi với rồng thời kỳ này là hình con Phượng (quỳ phượng). Như trên, Rồng là con vật biểu trưng của hướng Đông, màu xanh. Xanh hay Thanh – Thang, cũng là Thương, là màu biểu tượng của nhà Thương. Rồng còn là “Long vương”, gắn liền với biển. Ở cả Trung Quốc và Việt Nam thì chỉ có hướng Đông mới có biển.

lien-rongChiếc liễn đồng thời Đông Chu trang trí toàn bằng hình rồng.

Nguyên mẫu của rồng hẳn là loài Rắn. Chỉ cần “vẽ rắn thêm chân” là ra con rồng. Rồng là hình tượng kết hợp giữa loài rắn và cá sấu, dùng biểu tượng cho phương Đông.
Rồng đứng đầu các loài có vảy, Phượng là vua các loài chim. Còn Lân là loài vật đứng đầu các loài có lông mao, theo ngôn ngữ ngày nay nghĩa là động vật có vú. Ví dụ, Chu Hy (thế kỷ 12) trong chú thích cho bài Lân chi chỉ của Kinh Thi đã viết về con Lân như sau:
Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống… Con Lân có một sừng, đầu sừng có thịt, cho nên không thể húc cụng, ấy là nhân.
Bản thân chữ Lân 麟 trong dùng bộ Lộc 鹿, tức là một dạng như con hươu.
Mô tả của các thư tịch về con Lân rõ như vậy nhưng không hiểu sao ngày nay con Lân bị biến thành một con vật đầu rồng, mình ngựa, thân toàn vảy là vảy, chẳng thấy lông mao đâu. Con thần thú đứng đầu các loài lông mao mà mình lại mang toàn vẩy là thế nào? Rõ ràng đã có sự nhầm lẫn giữa Kỳ Lân và con Long mã. Kỳ Lân không thể nào là loài thú đầu rồng mình ngựa, thân toàn vảy được.
Sự lầm lẫn của Trung Quốc về con Lân xuất phát từ việc… ở Trung Quốc không hề có con Lân này. Mãi đến thời nhà Minh đoàn thuyền của Trịnh Hòa đi sang châu Phi mang về một con hươu cao cổ dâng vua Minh, cho rằng là con Lân… Đúng là “kỳ” Lân… Một loài linh vật đứng đầu Tứ linh Trung Hoa mà lại phải đi mượn ở tận châu Phi… Chả nhẽ Khổng Tử ngồi ở châu Phi để viết Lân kinh?
Kinh Xuân Thu do Khổng Tử soạn còn gọi là Lân kinh vì tương truyền Khổng Tử lúc sinh ra có Kỳ Lân xuất hiện nhả ngọc và khi soạn kinh đến đời Chu Kính Vương thì nước Lỗ săn được con Lân bị què chân trái phía trước. Khổng Tử thấy đó nghĩ đạo của mình đã cạn, liền dừng soạn kinh.
Vậy con Lân là con gì và vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh?
Xét bài Lân chi chỉ, một bài thơ trong chính phong của Kinh Thi. Đây là bài thơ ca ngợi dòng dõi Văn Vương nhà Chu:
Lân chi chỉ. Chân chân công tử. Hu ta lân hề.
Lân chí đính. Chân chân công tính. Hu ta lân hề.
Lân chi giác. Chân chân công tộc. Hu ta lân hề.
Dịch thơ (Tản Đà):
Chân con lân
Trán con lân
Sừng con lân
Công tử có nhân
Công tôn, công tộc có nhân.
Con lân chừ con lân!
Bài này nằm trong phần Chu Nam, tức là thơ phong dao của vùng đất phong của Chu Công. Chu Công là em trai của Chu Vũ Vương, người đã có công lớn trong việc diệt nhà Ân Thương, khởi lập nên vương triều Chu. Chu Công được phong ở nước Lỗ, chính là đất quê của Khổng Tử.
Bài thơ trên cho thấy rõ con Lân là biểu tượng của nhà Chu, là vương triều nối tiếp thời Ân Thương. Đây chính là lý do vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh. Lân là hình ảnh của thiên tử Chu, của thời Chu. Con Rồng ở thời Chu được xếp dưới cùng cũng dễ hiểu vì Long là biểu tượng của nhà Ân Thương như đã nói ở trên. Nhà Chu diệt Ân thì hiển nhiên con Lân sẽ phải đứng đầu Tứ linh và con Rồng xếp xuống hàng cuối.
Con Lân tượng trưng cho nhà Chu vì là con thần thú của hướng Tây (xem Lã Thị xuân thu ở trên). Nhà Chu cũng là triều đại xuất phát từ hướng Tây. Chu = Châu = Chiêu, hướng buổi chiều hay phía Tây. Như thế con Lân ở hướng Tây, chỉ nhà Chu, đối lập với con Rồng ở hướng Đông, chỉ nhà Thương.
Tiếng Việt gọi Lân là con Ly. Chữ Kỳ Lân đọc phản thiết cho âm Ly. Như thế Kỳ Lân hay Ly chỉ là một. Đặc biệt, chữ mang âm Ly (酈) còn là tên khác của nước Lỗ. Đây là chỉ dẫn vì sao các sự tích của con Lân – Ly lại liên quan đến nước Lỗ.
Ly thực ra là tên quẻ Ly, trong Hậu thiên bát quái dùng để chỉ hướng Tây. Nước Lỗ của Chu Công được biểu trưng bởi con Ly thì phải là nằm ở phía Tây của Trung Hoa, vì con Ly – Lân không thể là phía Đông được. Định vị nước Lỗ lại nằm ở bán đảo Sơn Đông là hoàn toàn không phù hợp với thư tịch, cũng như thực tế không hề có loài vật nào phù hợp ở đó để gọi là Lân – Ly cả.
Loài vật đứng đầu các loài thú lông mao tuy có thể là con Hổ hay Voi. Nhưng với mô tả là loài vật dạng như con hươu, có 1 sừng, không ăn các con vật khác, hiếm khi xuất hiện (sống đơn lẻ) thì Lân phải là con… Tê giác. Loài Voi thường sống thành bầy đàn, khá dễ gặp thời cổ, không khớp với mô tả về con Lân. Loài Hổ thì không có sừng và là loài hung dữ, ăn thịt.
Con Tê giác còn được gọi là con Tây (bản thân chữ Tây 西 còn âm đọc là Tê), hoàn toàn khớp với phương vị của con Lân – Ly.
Cũng trong Kinh Thi phần Chu Nam có bài Quyển nhĩ nói tới một loại cốc đựng rượu hình con Tê:
Trắc bỉ cao cương
Ngã mã huyền hoàng
Ngã cô chước bỉ tự quang
Duy dĩ bất vĩnh thương.
Dịch:
Muốn lên trên sống núi cao
Ngựa em quá bệnh, thế nào lên đây?
Chén sừng tự rót vơi đầy
Khỏi đau thương mãi uống say, say vùi.
Bà hậu phi nhà Chu lên núi, nhớ chồng đi xa nên rót rượu vào “tự quang” uống mà say.
Tự quang 兕觥, còn đọc là Hủy quang, thực ra không phải là chén rượu bằng sừng con Tê. Đây là một loại đồ vật bằng đồng mô phỏng hình Tê giác, dùng để đựng rượu, từng phổ biến ở thời Tây Chu. Một chiếc Hủy quang như vậy cũng được thấy ở Lào (xem hình).

huy-quangHủy quang thời Tây Chu ở Lào.

Loài Tê giác chỉ sinh sống ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Không thể có con Tê giác nào lại sống được ở vùng giá tuyết như đất Sơn Đông. Nước Lỗ nơi có nhiều con Tê – con Ly ở phía Tây thì chỉ có thể là khu vực nước Lào ngày nay. Và khi nước Lỗ ở đất Lào thì trung tâm của thiên hạ Trung Hoa thời Chu chỉ có thể là vùng Bắc Việt – Vân Nam – Quảng Tây.
Con Tê đúng là con thần thú một sừng, hình dáng như con hươu, đứng đầu các loài có lông mao, biểu trưng cho hướng Tây. Nhà Chu (thời Chu) lấy con Lân làm biểu tượng, xếp lên hàng đầu của Tứ linh. Cặp đối lập Long – Ly thực chất là sự đối lập của 2 dòng tộc trong lịch sử Trung Hoa theo trục Đông – Tây, giữa nhà Thương và nhà Chu, giữa dân Hoa và Di. Trong truyền thuyết Việt đó là cặp Âu (Âu Cơ) – Lạc (Lạc Long Quân), Sơn Tinh – Thủy Tinh và Hùng – Thục. Hiện vật của thời kỳ này là 2 dòng đồ đồng hiện hữu tại Việt Nam và Trung Quốc. Một là dòng đồ đồng Đông Sơn (trống đồng nói chung, ở vùng Vân Nam, Quảng Tây và Bắc Việt). Một dòng thứ hai là đồ đồng “Hán” hay đồ đồng Thương Chu của phía Đông Bắc Trung Hoa. Trong dòng đồng khí Tây Nam (Đông Sơn) rất ít khi gặp hình tượng con rồng, mà chủ yếu là hình ảnh hươu nai, bò mộng, hổ. Trong khi hình ảnh rồng gặp ở hầu hết các đồ vật của dòng đồ đồng Thương Chu phía Đông.

ngoc-ky-lanKỳ Lân ngọc tại Căm pu chia.

Người Việt ngày nay quan niệm cha Lạc Long Quân là tổ, theo dòng Lạc Long đi về phía Đông nên đặt con rồng lên đầu Tứ linh. Tuy nhiên, lịch sử và truyền thuyết ghi chép rằng nước Văn Lang bắt đầu bằng dòng những người con lên núi theo mẹ Âu Cơ, đặc trưng bởi trống đồng. Mà lên núi thì làm gì có Rồng, nên lấy con Lân làm chủ đạo mới là đúng.
Với việc phục hồi nguyên mẫu của con Lân – Ly là loài Tê – Tây thì định vị Trung Nguyên của Trung Hoa thời Chu chắc chắn phải dời xa về phương Nam, nơi có loài vật này sinh sống. Con Tê như thế đúng là một “linh vật Việt”, thậm chí còn là linh vật đứng đầu trong Tứ linh. Việc đúc, khắc con Lân thành ra con Long mã vừa làm nghèo nàn đi hình ảnh Tứ linh (bị trùng lặp giữa Long và Long mã), vừa có phần bất kính với tổ tiên, chạy theo “đồ Tàu” mà quên đi loài vật đặc trưng vốn có của văn hóa Việt là con Tê. Đã đến lúc cần phát động phong trào thay Long mã bằng Tê, di dời mấy con “sư tử ngựa” Tàu ra khỏi Tứ linh Việt, trả lại sự linh thiêng của lịch sử và văn hóa Việt cho người Việt.

te-chuong-dinh

Hình Tê giác trên Chương đỉnh ở Huế.

Giải nghĩa một số địa danh trong cổ sử Việt qua phép phiên thiết Hán Nôm

Chữ Hán cũng như chữ Nôm là những loại chữ biểu ý, không phải biểu âm, nên để ghi chú cách đọc của các chữ này từ thời Đông Hán người ta đã dùng phép phiên thiết. Phiên thiết (反切) là dùng hai chữ riêng rẽ để ghi chú một âm của chữ khác, lấy thanh (phụ âm) của chữ đầu ghép với vận (vần) của chữ sau để tạo thành một âm. Phép phiên thiết được áp dụng không chỉ trong việc xây dựng các từ điển chữ Hán ở Trung Quốc, mà ở nước ta thời xưa đây là cách để ghi các địa danh, nhân danh trong tiếng Nôm vào văn bản. Tìm hiểu các tên chữ tạo nên bởi phép phiên thiết từ âm Nôm cho phép giải mã được ý nghĩa thật sự vốn có của các tên gọi này trong lịch sử cổ đại nước ta.

Một âm Nôm thường không có chữ Hán với âm tương ứng nên thời xưa cách để ghi các âm Nôm này trong văn viết là dùng phép phiên thiết, sử dụng 2 ký tự chữ Hán để ký 1 âm Nôm. Lâu ngày, do chỉ thông qua các thư tịch lưu lại, 2 ký tự này trở thành tên gọi của địa điểm hay nhân vật thay cho âm Nôm ban đầu. Người đời sau dễ nhận nhầm rằng 2 chữ này có ý nghĩa nhất định về đối tượng được gọi đến mà quên đi rằng đó vốn chỉ là 2 ký tự ghi âm, không hề mang nghĩa liên quan.
Có thể kể một loạt các làng Việt cổ có “tên chữ” là tên phiên thiết từ tên Nôm như làng Và ở xã Trung Hưng, Sơn Tây có tên chữ là Vân Già (Vân Già đọc thiết cho âm ). Làng Dầm là thôn Xâm Dương ở xã Ninh Sở, Thường Tín (Xâm Dương đọc phản thiết Dầm). Làng Cổ Hiền, còn gọi là trại Quyền hay thành Quèn, ở xã Tuyết Nghĩa, Quốc Oai (Cổ Hiền thiết Quyền – Quèn).
Nhiều tên địa danh, nhân danh của người Việt đã được giải thích là do tiếng Nôm cổ có các tổ hợp phụ âm kép nên khi chép bằng chữ Hán được phiên âm thành 2 chữ. Ví dụ, tên huyện Câu Lậu được cho là phiên âm từ klâu – trâu. Hay tên huyện Luy Lâu (Doanh Lâu) là phiên âm của cổ âm blâu/ tlâu – dâu. Nay, nếu áp dụng phép phiên thiết cho những tên gọi này sẽ cho các liên hệ đơn giản và rõ ràng, không cần vận dụng cổ âm. Câu Lậu thiết Câu – Châu – Trâu. Doanh Lâu thiết Dâu.
Vận dụng phép phiên thiết kết hợp với các tư liệu dân gian cho phép giải nghĩa một số tên gọi trong cổ sử Việt.

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Địa danh Mê Linh là nơi Hai Bà Trưng đóng đô sau khi khởi nghĩa chống giặc Hán thành công. Địa danh này được GS. Trần Quốc Vượng giải thích là tên ghi cổ âm Mling hay Mlang, mà theo tiếng các dân tộc ở Tây Nguyên có nghĩa là “một loài chim”, từ đó đi đến kết luận Hai Bà Trưng thuộc bộ tộc thờ chim làm vật tổ. Nay áp dụng phép thiết cho tên gọi này có Mê Linh thiết Minh, tức là tên Nôm của địa danh Mê Linh thực ra là Minh. Đô kỳ Mê Linh hay Minh đô của Hai Bà Trưng là nơi nào?
Ở đền Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh (xã Huy Cương, Việt Trì, Phú Thọ) nay còn câu đối:
天書定分正統肇明都百粵山河惟有祖
光岳協靈故宮成萃廟三江襟帶尚朝尊
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt duy có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.
Câu đối này chỉ ra rằng Minh đô của các vua Hùng là đất Phong Châu, nơi có ba con sông Đà, Lô, Thao (Tam Giang) hội tụ ở ngã ba Việt Trì. Vị vua đầu tiên của người Việt được Lĩnh Nam chích quái nhắc đến trong Truyện họ Hồng Bàng là Đế Minh, là người đã lập Minh đô ở Phong Châu. Đế Minh được thờ phụng ở vùng Phú Thọ dưới tên Hùng triều Thánh tổ Cao Sơn Minh Vương trong các thần tích tại đây.
Bà Trưng “quê ở Châu Phong”, thuộc dòng dõi “Lạc Hùng chính thống”, phất cờ khởi nghĩa chống giặc, dựng nước đóng ở Minh đô – Phong Châu, hoàn toàn hợp lý. Mê Linh thời Trưng Vương là cả vùng đất Tây Thổ – Phong Châu rộng lớn, không chỉ là một huyện ngoại thành Hà Nội như bây giờ.Den Hung

Nghi môn đền Thượng trong khu di tích đền Hùng ở Phú Thọ.

Bổng và Đổng, hai vị tối linh thần nước Nam
Tên gọi Phù Đổng của người anh hùng làng Dóng đã được các học giả quan tâm bàn luận khá nhiều. Cao Huy Đỉnh liên hệ tên Đổng với các tên Đùng, Tùng, Dông, với tính cách khổng lồ, dông tố, sấm sét . Còn GS. Trần Quốc Vượng cho rằng Phù Đổng là ghi âm Nôm cổ blỏng hay blổng.
Áp dụng phép phiên thiết có Phù Đổng thiết Phổng hay Bổng (các phụ âm ph- và b- chuyển đổi cho nhau trong cổ âm). Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. Thần Bổng, một trong 4 vị tối linh thần của nước Nam, chính là Thánh Dóng. Thánh Dóng được gọi là Phổng – Bổng bởi vì mới lên 3 tuổi ăn cơm cà của làng mà lớn “phổng”, nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân. Thắng giặc ngài bỏ mũ áo lên núi Sóc Sơn rồi bay “bổng” về trời.
Vậy còn vị linh thần có tên Đổng được nhắc đến là ai? Vị thần này được biết thông qua thần tích đền Bộ Đầu thuộc xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội. Nơi đây thờ Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh. Trong đền có bức tượng Đổng Thiên Vương bằng đất nung lớn, cao tới 5,5 m, đang ra tay diệt trừ thủy quái. Thần Đổng hay ông Đùng, như vậy là vị thần khổng lồ Huyền Thiên Trấn Vũ, tức là vị thần được thờ ở Quán Thánh tại Hồ Tây, Hà Nội. Sự trùng hợp giữa tên phiên âm (Đổng – Đùng) và tên phiên thiết (Phù Đổng – Bổng) đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa 2 nhân vật này trong các sự tích, cũng như trong quan niệm về Tứ bất tử nước Nam.

Bo DauTượng ông Đổng ở đền Bộ Đầu.

Đức thánh Chiêm Lý Ông Trọng
Trong số tứ linh thần được kể đến thì thần Hương là Lý Ông Trọng ở làng Thụy Hương hay làng Chèm, nay là đất quận Từ Liêm, Hà Nội. Trong đình Chèm còn lưu bức chạm phượng hàm thư với bài thơ Tứ linh thi, tương truyền được làm từ thời Cao Biền. Cái tên Từ Liêm được GS. Trần Quốc Vượng nhận định là tên phiên âm của âm Nôm cổ tlem – trèm. Chính xác hơn, áp dụng phép phiên thiết có Từ Liêm thiết Tiêm – Chiêm – Chèm. Từ Liêm là tên phiên thiết của làng Chèm, không phải phiên âm Nôm cổ.
Tên Chèm hay Chiêm ở đây có nghĩa gì? Xem lại truyện Lý Ông Trọng, người được Tần Thủy Hoàng trọng dụng, phong làm tướng trấn giữ đất Lâm Thao. Đại Nam quốc sử diễn ca kể:

Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân
Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ
Uy danh đã khiếp Hung Nô
Người về Nam quốc hình đồ Bắc phương.

Phuong ham thu

Bức Phượng hàm thư với bài Tứ linh thi ở đình Chèm.

Hung Nô đọc thiết là Hồ, 2 từ này cùng dùng chỉ quân giặc mà Lý Ông Trọng đã ngăn giữ như trong đoạn thơ trên. Khu vực liên quan tới “Chiêm” và “Hồ” thời Tần thì phải là vùng phía Nam nước ta vì truyền thuyết Việt cho biết phía Nam nước Văn Lang là nước Hồ Tôn, tiền thân của quốc gia người Chiêm sau này.
Thần tích đình Chèm ghi: Lý Ông Trọng được Hùng Vương phong chức Chỉ huy sứ. Ngài giúp vua dẹp yên các loại giặc hay quấy nhiễu biên giới phía Tây và phía Nam khiến chúng sợ không dám xâm phạm bờ cõi nước Văn Lang. Thần tích đình Trạo Thôn (Đa Lộc, Ân Thi, Hải Dương, quê mẹ Lý Ông Trọng) còn viết Lý Ông Trọng đánh giặc “Ai Lao và Chiêm Thành”. Những tư liệu này cho thấy Lý Ông Trọng làm tướng nhà Tần trấn giữ vùng đất phía Tây Nam, là khu vực người Chiêm hay người Chăm. Lý Ông Trọng là người Việt, lập công nghiệp trên đất Việt, chứ không phải sang tận tỉnh Cam Túc bên Trung Quốc để chống giặc phương Bắc cho nhà Tần. Do sự lẫn lộn về chữ nghĩa tạo nên bởi phép phiên thiết (Hung Nô thiết Hồ) dẫn đến công tích và sự nghiệp của Lý Ông Trọng đã bị đặt ngược chiều Nam – Bắc.
Sử dụng phép phiên thiết để đọc các tên gọi địa điểm và nhân vật trong cổ sử, kết hợp với những dữ liệu của văn hóa dân gian tại các di tích và trong các thần tích còn lưu lại cho phép hiểu đúng hơn về lịch sử nước ta thời cổ đại.

TÀI LIỆU DẪN
1. Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Trần Quốc Vượng. NXB Văn học, 2003.
2. Giới thiệu khu di tích tích lịch sử đền Hùng. Vũ Kim Biên. Sở VH-TT Phú Thọ, 2008.
3. Lĩnh Nam chích quái. Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú nhuận chính. Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San phiên dịch. NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2011.
4. Đại Nam quốc sử diễn ca. Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái. Bản phiên âm, hiệu đính và chú giải của Nguyễn Khắc Thuần. NXB Giáo dục, 2007.
5. Người anh hùng làng Dóng. Cao Huy Đỉnh. NXB Trẻ, 2015.
6. Từ điển di tích văn hóa Việt Nam. Ngô Đức Thọ chủ biên. NXB Văn học, 2003.
7. Danh nhân Lý Ông Trọng với di tích và lễ hội đình Chèm. UBND xã thụy Phương. NXB Văn học, 2011.

Chân Định tứ linh thần

Nếu ở Nam Định có Thiên Bản lục kỳ kể về 6 sự lạ đất Thiên Bản thì ở Thái Bình cũng có Chân Định tứ linh từ, hay 4 ngôi đền thiêng của đất Chân Định. Chân Định là tên cũ của khu vực Kiến Xương. Tứ linh từ của Chân Định là nơi thờ “tứ linh thần”, 4 vị thần thiêng trên đất Thái Bình.
Ngôi đền thiêng đầu tiên được nhắc đến là đền Vua Rộc tại thôn An Điềm,  xã Vũ An của huyện Kiến Xương. Trước kia, đền nằm trong khu rừng nguyên sinh hiếm hoi của đất Thái Bình, được bao quanh bởi cây cối tươi tốt và hồ nước mát lạnh, quang cảnh rất bình yên. Theo thần tích của đền thì đây là nơi thờ 2 vị Đông Hải đại vương và Tây Hải đại vương. Tuy nhiên, thần tích không cho biết những “đại vương” này là ai, ở thời kỳ nào. Những nghiên cứu trước đây “đoán” Đông Hải đại vương là Đoàn Thượng, còn Tây Hải đại vương thì… không biết…

Den Vua Roc

Đền Vua Rộc ở Vũ An, Kiến Xương.

Câu đối cổ trong đền Vua Rộc chép:
不記何年跡扥南交雙顯聖
相傳此地名髙真定四靈神
Bất ký hà niên, tích thác Nam Giao song hiển thánh
Tương truyền thử địa, danh cao Chân Định tứ linh thần.
Dịch:
Không biết tự năm nào, dấu thác Nam Giao hai hiển thánh
Lưu truyền nơi đất nọ, danh cao Chân Định bốn linh thần.
Vế đối đầu cho biết đền Vua Rộc thờ 2 vị thần đã “hiển thánh” ở Nam Giao từ thời lâu lắm rồi, không biết năm nào nữa. Vế đối sau cho biết hai vị thần đó được xếp vào bộ “Tứ linh thần” của Chân Định. Với thông tin này thì người được thờ ở đây không thể là tướng quân Đoàn Thượng, một nhân vật khá rõ ràng vào cuối thời nhà Lý ở thế kỷ 13.
Một số tác giả cho biết chữ Lạc có thể phục nguyên âm là Rộc, chỉ ruộng lúa. Tới nay người Mường vẫn gọi ruộng là rộc. Vua Rộc như vậy có thể là Vua Lạc hay Lạc Vương, phù hợp với thời Nam Giao mở nước.
Vết tích của 2 vị thần Nam Giao ở đền Vua Rộc có thể được xác định trong một câu đối khác tại đây:
瑞應金龜神爪依依留井上
威揚木馬健蹄隠隠仰橋邊
Thụy ứng Kim Quy, thần trảo y y lưu tỉnh thượng
Uy dương mộc mã, kiện đề ẩn ẩn ngưỡng kiều biên.
Dịch:
Linh ứng Rùa Vàng, móng thần y nhiên nơi giếng cũ
Oai dương Ngựa Gỗ, vó hùng thấp thoáng chốn cầu biên.
2 vế đối của câu đối này nói tới 2 sự kiện của 2 nhân vật. Vế đối đầu khá rõ, chỉ chuyện chiếc móng mà vua An Dương Vương nhận từ thần Kim Quy và chiếc giếng nơi Trọng Thủy trẫm mình. Vế đối thứ hai nói về một con chiến mã bằng gỗ xuất chinh nơi biên ải.
Tại Thái Bình, vua An Dương Vương được thờ ở khá nhiều nơi với tên xưng phong Nam Hải đại vương. Ở làng Thao Bồi (nay thuộc xã Phương Công, huyện Tiền Hải) thần tích kể về người vợ của An Dương Vương là bà Trần Thị Chân, còn gọi là Châu Nương hay Thục Nương. Châu Nương sinh ra công chúa Mỵ Châu. Sau khi Mỵ Châu chết làng Thao Bồi lập miếu “Nhị vị mẫu tử” thờ mẹ con Châu Nương, Mỵ Châu…
Nam Hải đại vương An Dương Vương còn thờ ở nhiều nơi khác tại Thái Bình như ở làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải), làng Cọi (Vũ Hội, Vũ Thư). Ở đây An Dương Vương được kể như một vị vua từng có công giúp an định và phát triển đời sống dân tình vùng ven biển. Như vậy, có thể thấy An Dương Vương là vị linh thần thứ nhất được thờ tại đền Vua Rộc. Nam Hải đại vương đã hiển thánh ở Nam Giao cũng hoàn toàn hợp lý.
Ngôi đền thiêng thứ hai của đất Chân Định là đền Sóc Lang ở xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư. Đền này thờ Mộc đức tinh quân, rất thiêng nhưng cũng không rõ sự tích ra sao. Chỉ biết có một cây gỗ trôi từ thượng nguồn về, nhân dân vớt đục thành tượng mà thờ. Nay nếu so sánh với câu đối trong đền Vua Rộc thì Mộc đức tinh quân phải là Thánh Gióng với con “ngựa gỗ” xuất chinh chốn “kiều biên”. Cái tên đền “Sóc Lang” hay Sóc Vương cũng cho thấy vị linh thần ở đây là Thánh Gióng đã bay về trời nơi núi Sóc. Nhị vị đại vương ở đền Vua Rộc như thế là An Dương Vương và Sóc Vương Thánh Gióng, rất phù hợp về không gian (Nam Giao) và thời gian.

Chua Keo

Phương đình trước Chùa Keo Thái Bình.

Ngôi đền thiêng thứ ba của đất Chân Định là đền Lại Trì ở xã Vũ Tây, huyện Kiến Xương. Theo thần tích và văn bia lưu tại di tích, đây là nơi thờ Đại pháp thiền sư Không Lộ, họ Dương, húy là Minh Nghiêm, là người làng Giao Thuỷ, phủ Thanh Hà (tỉnh Nam Định), nối đời làm nghề đánh cá. Thân mẫu họ Nguyễn, người ở ấp Hán Lý, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang (tỉnh Hải Dương). Năm 1060 Không Lộ cùng Đạo Hạnh và Giác Hải đã sang Tây Trúc để tu luyện về đạo Phật. Năm 1061 thời vua Lý Thánh Tông, sư về nước và dựng chùa Nghiêm Quang (sau đổi tên là Thần Quang Tự) ở làng Dũng Nghĩa (xã Duy Nhât, Vũ Thư, Thái Bình) để truyền bá đạo Phật, hoằng dương Phật pháp. Chùa này được biết đến với tên chùa Keo Thái Bình.
Thời đó đạo Phật được nhà Lý coi là quốc giáo. Đức Dương Không Lộ là người hiểu về đạo Phật sâu sắc, là giáo chủ của cả vùng, ngoài việc truyền bá đạo phật, nhà sư còn có công lớn trong việc mở mang các công trình trị thuỷ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đưa nhân dân lao động thoát khỏi đói khổ. Ông còn là người am hiểu về y thuật có công chữa bệnh cho vua Lý Thánh Tông được phong làm quốc sư. Sau Dương Không Lộ sang Trung Quốc chữa bệnh cho thái tử nhà Tống rồi xin đồng về đúc chuông, tạc tượng.
Đền Lại Trì là nơi bà Nguyễn Thị, mẹ của Không Lộ đã tu hành và hóa. Còn Chùa Keo Thái Bình là nơi Không Lộ trụ trì. Câu đối ở khu thờ thiền sư Không Lộ tại chùa Keo:
法手濟群方李代特生之聖
靈丹扶九鼎南邦不死之神
Pháp thủ tế quần phương, Lý đại đặc sinh chi thánh
Linh đan phù cửu đỉnh, Nam bang bất tử chi thần.
Dịch:
Làm phép cứu chúng phương, đời Lý riêng sinh là thánh
Thuốc thiêng chữa cửu đỉnh, bang Nam bất tử là thần.
Cửu đỉnh là 9 chiếc đỉnh, hình tượng chỉ vương quyền, chỉ Vua. Câu đối nhắc đến chuyện thiền sư Không Lộ đã chữa bệnh cho vua Lý và cứu giúp nhân dân trong vùng. Thiền sư Không Lộ do đó đã được phong làm quốc sư thời Lý (Lý triều quốc sư).
Câu đối trên cũng xác định Không Lộ là một trong những thần bất tử nước Nam. Khái niệm thần bất tử không giống với linh thần. Ngoài việc là một linh thần (thần thiêng), thần bất tử phải là người có phép thuật, có khả năng “bất tử”, tức là khả năng cải tử hoàn sinh, trường sinh bất lão hay đầu thai chuyển thế. Thường thì đó phải là những người tu hành đắc đạo thần tiên.
Trước khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được xếp là một trong Nam thiên Tứ bất tử thì Không Lộ thiền sư và Từ Đạo Hạnh đã được coi là các thần bất tử. Tuy nhiên, tư liệu ở đền Lại Trì trên chép Không Lộ làm Quốc sư và chữa bệnh cho vua dưới triều Lý Thánh Tông. Trong khi chuyện Từ Đạo Hạnh đầu thai lại vào thời Lý Thần Tông. Đồng thời thiền sư Không Lộ ở đây mang họ Dương, không phải họ Nguyễn (Nguyễn Minh Không) như trong những truyện của Từ Đạo Hạnh. Những chi tiết này cho thấy truyền thuyết về việc hóa thân đầu thai của Từ Đạo Hạnh thành vua Lý Thần Tông cần được xem xét thêm cho đúng với sự việc thật sự đã xảy ra.
Ngôi đền thiêng thứ tư của đất Chân Định là đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương. Đền này thờ đức Khai Cơ Triệu Vũ Đế, người đã lập nên nước Nam Việt thời trước Công nguyên. Đền Đồng Xâm là chứng tích rành rành về “những nỗi oan” của vua Triệu Đà. Sử sách chép Triệu Đà người Chân Định… Chân Định đây là đất Kiến Xương, Thái Bình ở Việt Nam, hoàn toàn không phải ở đâu xa lắc xa lơ tận Hà Bắc, Trung Quốc. Bản thân tên huyện Kiến Xương cũng có thể liên quan tới công nghiệp của Triệu Vũ Đế vì Kiến Xương nghĩa là kiến thiết nên nền tảng ban đầu, tương ứng với danh hiệu Khai Cơ của Triệu Vũ Đế tại đây.
Về thời nhà Triệu, ở Kiến Xương còn có nhiều chuyện lạ. Ở đình Luật Nội và Luật Ngoại (xã Quang Lịch, Kiến Xương) thờ 2 mẹ con bà Phương Dung và Thạch Công đã tận trung báo quốc, giúp Triệu Việt Vương đánh giặc Lương và hy sinh ở quãng sông Lịch Bài tại Kiến Xương. Điều lạ là cha của Thạch Công lại là ông Hùng Tuệ Công, dòng dõi vua Hùng, từng làm phủ doãn Chân Định. Câu đối ở đình Luật Ngoại:
壹門義烈雄母子
萬古山河趙越王
Nhất môn nghĩa liệt Hùng mẫu tử
Vạn cổ sơn hà Triệu Việt vương.
Dịch:
Một nhà nghĩa liệt mẹ con họ Hùng
Vạn năm sông núi đức vua Triệu Việt.
Từ thời Hùng Vương trước Công nguyên tới thời của Triệu Việt Vương chống giặc Lương theo sử sách ngày nay có dư 500 năm. Làm sao bố làm quan thời Hùng mà con lại có thể giúp vua Triệu đánh giặc? Truyền thuyết nhầm lẫn hay chính sử đã sai?

Luat NgoaiNghi môn đình Luật Ngoại.

Câu đối khác ở đình Luật Ngoại:
浩氣塞滄溟節烈一門皇趙日
芳名傳國母頡頏天古二徵間
Hạo khí tắc thương minh, tiết liệt nhất môn Hoàng Triệu nhật
Phương danh truyền quốc mẫu, hiệt hàng thiên cổ Nhị Trưng gian.
Dịch:
Khí lớn chất biển khơi, một nhà tiết nghĩa khi Vua Triệu
Danh thơm truyền quốc mẫu, ngàn năm bay bổng đất Hai Trưng.
Sử sách đã có sự nhầm lẫn. Triệu Việt Vương không phải vị vua ở thế kỷ thứ 6. Triệu Việt Vương gần thời Hùng Vương và thời Hai Bà Trưng phải là vua Triệu của nước Nam Việt. Nước Nam Việt được Triệu Vũ Đế lập từ những năm 200 trước Công nguyên. Có vậy thì những quan lại, công tướng của Triệu Việt Vương mới có thể mang họ Hùng.
Những cái tên Chân Định, Kiến Xương hay cả Thái Bình đều liên quan đến vị khai cơ Triệu Vũ Đế. “Ai đặt tên cho đất Thái Bình” thì không rõ, nhưng tên này chí ít đã có từ thời Triệu Vũ Đế vì Thái Bình là từ phản thiết của chữ Bái. Triệu Vũ Đế ở Chân Định là Bái Công đã lãnh đạo nhân dân Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi, lập ra quốc gia Nam Việt độc lập, xưng đế, là một thiên tử thực sự của thiên hạ.

Luat Noi

Gác mái đình Luật Nội.

Thử sắp xếp Chân Định Tứ linh thần theo các phương vị (Tứ trấn):
– Thục An Dương Vương nên xếp ở hướng Tây, vì Thục nghĩa là hướng Tây. Thục Phán đến từ hướng Tây. An Dương Vương có danh Tây Hải đại vương trong đền Vua Rộc.
– Sóc Vương Thánh Gióng ở đền Sóc Lang với tên Mộc đức tinh quân xếp ở hướng Đông vì hành Mộc là hành của phương Đông, ứng với tên Đông Hải đại vương ở đền Vua Rộc.
– Đồng Xâm Triệu Vũ Đế hợp lý nhất xếp ở hướng Bắc vì công nghiệp “Bắc tiến” của vị vua này. Xâm hay Thâm đều là màu xám, tối của hướng Bắc.
– Không Lộ thiền sư ở đền Lại Trì và chùa Keo có thể xếp ở trấn Nam vì vị thiền sư này gốc Nam Định.
Tứ linh từ, Tứ linh thần, Tứ trấn của đất Chân Định như vậy đã hội tụ đầy đủ cả.

Những biểu tượng trong bài ca dao “Anh là thợ mộc Thanh Hoa”

Anh là thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà… khéo thay!
Lựa cột anh dựng đòn tay
Bào trơn đóng bén nó ngay một bề.

Phần mở đầu bài ca dao tỏ ra đơn giản và tả thực. Một người thợ mộc Thanh Hoa khéo léo, làm được đủ mọi thứ. Phần mở đầu này không cho biết tiếp theo là nói về anh thợ mộc đang đục chạm cho công trình nào. Làm cầu, làm quán hay đang làm nhà?
Phần tiếp theo không phải là làm nhà mấy gian, mấy chái, mà lại chỉ dùng “bốn cửa” để định khung cảnh. Ý nghĩa biểu tượng của bài ca dao bắt đầu từ đây. Bốn cửa ở đây là bốn phương, bốn lĩnh vực của đời sống xã hội, của nhân sinh quan đương thời. Do đó bài ca dao được tiếp bởi 4 đoạn thơ lục bát, mỗi đoạn có 4 câu. Mỗi đoạn thơ nói về một lĩnh vực.

Bốn cửa anh chạm bốn dê
Bốn con dê đực chầu về tổ tông.
Bốn cửa anh chạm bồn rồng
Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo.

Đối với người Việt thì việc đầu tiên là việc thờ cúng tổ tông. Trong bài được biểu hiện bằng hình ảnh con dê. Dê đực là loài vật được dùng để tế lễ từ thời xa xưa. Cùng với đó là hình ảnh Rồng, con thì ấp, con thì leo. Rồng là nói đến vua, đến người lãnh đạo. Đoạn thơ này như vậy dành cho tổ tiên và vua, đúng theo đạo lý của Nho giáo.

IMG_5109

Đôn Tứ dương.

Đặc biệt hình ảnh diễn tả trong đoạn thơ thứ hai trùng khớp với hình trên chiếc đôn Tứ dương, một đồ đồng đặc trưng của thời Thương. Đôn Tứ dương có từ 3000 năm trước, dùng trong việc tế lễ thần linh. Trên chiếc đôn vuông này bốn góc là hình đầu 4 con dê lớn, sừng uốn cong, râu dài. Còn ở giữa 4 cạnh có hình đầu con vật nhỏ hơn với 2 sừng thẳng. Rất có thể đó là những con rồng con (rồng ấp). Hoa văn trên thân có hình “rồng leo” và chim phượng.
Chiếc đôn Tứ dương cũng cho hiểu thêm ý nghĩa của “bốn cửa” trong bài ca dao. Mỗi cửa là một hướng, một phương vị. Đôn có bố cục vuông nhưng có 8 hướng (4 dê và 4 rồng). Dê tiếng Hoa là dương, đồng âm với Dương trong Âm – Dương. Sừng dê cong vì Trời tròn (Trời là Dương). Còn 4 con rồng nhỏ là Âm. Âm thì ẩn, ém đi nên hình rồng nhỏ. Đất vuông (Đất là Âm) nên sừng rồng thẳng. Âm Dương được phối hợp thể hiện thành 8 hướng (Bát quái) trên chiếc đôn này.

IMG_5067Dê và Rồng trên đôn Tứ dương.

Bốn cửa anh chạm bốn mèo
Con thì bắt chuột, con leo xà nhà.
Bốn cửa anh chạm bốn gà
Đêm thì nó gáy, ngày ra ăn vườn.

Đoạn ca dao tiếp theo dùng 2 con vật Mèo và Gà. Mèo bắt chuột và leo xà. Đây là thể hiện không gian trên – dưới. Gà đêm gáy, ngày đi kiếm ăn. Hình ảnh biểu tượng của thời gian ngày – đêm. Như vậy trên bốn cửa của anh thợ mộc đã thể hiện đủ không gian và thời gian.

Bốn cửa anh chạm bốn lươn
Con thì thắt khúc, con trườn bò ra.
Bốn cửa anh chạm bốn hoa
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.

Đoạn về Lươn và Hoa cũng mang tính biểu tượng. Sau không gian và thời gian đã khắc ra ở đoạn trên, đoạn này hẳn là nói về “nhân gian”. “Thân lươn bao quản lấm đầu”, Lươn là biểu tượng của giới bình dân. Con thắt khúc, con trườn ra. Còn Hoa là biểu tượng của tầng lớp cao hơn, “tinh hoa”, với dáng vẻ và kích cỡ khác nhau. Có hoa nhỏ như hoa sói, có hoa lớn như hoa sen. Đoạn ca dao nói đầy đủ về các loại người trong xã hội.

Bốn cửa anh chạm bốn đèn,
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ.
Một đèn đọc sách ngâm thơ,
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.

Đoạn kết nói về Đèn. Đèn là biểu tượng của trí tuệ, của khoa học công nghệ, của lý trí. Do đó có đèn dùng để lao động sản xuất (dệt cửi, quay tơ). Có đèn để sinh hoạt văn hóa (đọc sách, ngâm thơ). Và cuối cùng là đèn để đợi chờ, tìm bạn.
Anh thợ mộc Thanh Hoa làm bài thơ dài dòng như vậy không phải khéo nói để “tán gái” (như căn cứ theo câu kết). Làm thợ, anh có tầm hiểu biết sâu sắc về thế giới và xã hội nên anh đã chạm khắc cả một thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt vào trong bài ca dao.

Nước Lỗ của Khổng Tử nằm ở đâu?

Nhân thể chuyện xây văn miếu và thờ Khổng Tử ở Việt Nam đang được dư luận bàn tán rôm rả xin góp vui vài ý về sự thật nước Lỗ và quê hương của Khổng Tử.
Khổng Tử người nước Lỗ thì ai cũng biết, nhưng nước Lỗ này nằm ở đâu? Sử ký Tư Mã Thiên chép về quê hương của Khổng Tử  như sau: Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ. Tổ tiên trước kia là người nước Tống…
Thông tin gốc như vậy mà không biết căn cứ vào đâu cho rằng quê của Khổng Tử “nay là” huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc? Khổng Miếu ở Sơn Đông cho dù có là di sản văn hóa thế giới nhưng niên đại của cái miếu đó chắc không quá được thời Đường Tống đổ về, tức là xây cách thời Khổng Tử cỡ trên 1.500 năm.

Nước Lỗ vốn là đất phong của Chu Công Đán, vị đại công thần lập  quốc lớn nhất của nhà Chu. Nước Lỗ của Chu Công không hề nằm ở vùng Sơn Đông vì thời Ân Thương khu vực Sơn Đông là đất của dân Di, không phải của người Hoa. Chu Công còn phải vất vả đi đánh dẹp cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh liên kết với đám Hoài Di, Từ Nhung thời Chu Thành Vương. Như vậy làm gì có chuyện đất phong của Chu Công trước đó lại nằm trên đất của Di Địch được.
Trà kinh của Lục Vũ (học giả thời Đường) chép: Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị, truyền bởi Lỗ Chu Công, Tề có Án Anh… Vậy là 3.000 năm trước Chu Công nước Lỗ đã thích uống trà. Nhưng vùng Sơn Đông (hay vùng Hoàng Hà nói chung) làm gì có cây trà mà uống? Trà (chè) là loài cây gốc tự nhiên ở khu vực dãy Hymalaya, như ở Vân Nam và Bắc Việt. Làm gì có trà mọc ở bán đảo Sơn Đông băng giá.
Chuyện khác, Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng”.
Thì ra Khổng Tử chép Ngũ kinh bằng chữ Khoa đẩu. Chữ Khoa đẩu được biết là chữ của người Việt cổ. Khổng Tử soạn kinh bằng chữ Việt, hỏi Khổng Tử là người Việt hay người Tàu?
Chân lạp phong thổ ký do Chu Đạt Quan thời Nguyên đi sứ sang đất Chân Lạp (Cămpuchia) thì ghi nhận: Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angko Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Lỗ Ban, vị tổ nghề mộc và xây dựng người nước Lỗ cùng thời với Khổng Tử mà lại đi xây tháp ở Cămpuchia và mộ nằm ở Angko Wat. Hỏi nước Lỗ của Lỗ Ban và Khổng Tử phải nằm ở đâu?
Khổng Tử làm Kinh Xuân thu đến năm Lỗ Ai Công săn được con Lân thì dừng bút. Vì thế Kinh Xuân thu còn gọi là Lân kinh. Thế nhưng, Chu Hy (thế kỷ 12 thời Nam Tống) chú giải về con Lân như sau: Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống.
Loài thú đứng đầu các loài có lông mao (động vật có vú), trông giống hươu, đuôi bò, móng ngựa, có một sừng thì phải là con Tê giác. Con Lân là con Tê hay con Tây. Vấn đề là con Tê giác thì không thể nào có ở khu vực Sơn Đông được. Tê giác là loài vật của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, gặp ở Lào – Việt Nam – Cămpuchia. Nước Lỗ nơi Lỗ Ai Công săn được con Lân chắc chắn nằm ở khu vực bán đảo Đông Dương, chứ không phải bán đảo Sơn Đông của vùng ôn đới.

NhathohoCao

Nhà thờ họ Cao tại Nho Lâm, Diễn Thọ.

Thông tin từ văn hóa dân gian Việt cũng cho một số chỉ dẫn về vị trí nước Lỗ. Nhà thờ họ Cao ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An thờ tổ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí, sống vào quãng năm 1360. Gia phả họ Cao nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải. Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Thực ra Bột Hải hay Bát Hải nghĩa là biển ở phương số Tám (8), tức là phương Đông trong Hà thư. Bột Hải của họ Cao là vùng biển Đông ngày nay.
Ông Cao Thiện Trí còn được gia phả họ Cao ghi lấy vợ là bà Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An. Nước Lỗ ở gần Nghệ An và Bột Hải – biển Đông thì phải là khu vực nước Lào ngày nay. Đây mới là vị trí thực sự quê của Khổng Tử, nơi có những con Lân – Tê sinh sống, có những cây trà cổ thụ mọc trong tự nhiên, nơi người dân vốn dùng chữ Khoa đẩu mà chép sách truyền kinh.
Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Diễn Châu, Nghệ An thì có câu đối:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.
Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.
Họ Hồ, dòng họ của những vĩ nhân Hồ Quý Ly, Quang Trung và Hồ Chí Minh, là có nguồn gốc từ Đế Ngu Thuấn, theo lễ nghĩa của Khổng Tử. Người Việt thực sự đã bị lạc hướng và hiểu sai về nguồn gốc và văn hóa của mình. Những đóng góp to lớn của Khổng Tử cho nền văn hóa Trung Hoa chính đã tạo nên nền tảng của văn hóa Việt.
Có thơ:
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.

Phạm Tô – Sĩ Nhiếp

Vấn đề Lý Phục Man và Phạm Tu là 1 hay 2 người nay đã có lời giải rõ ràng. Thánh Giá Lý Phục Man ở Lã Xá – Yên Sở không ai khác là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt, đã tử tiết ở núi Gôi đất Vụ Bản – Nam Định, được con cháu là Nhị Trưng Vương (Trương Hống, Trương Hát) đưa về an táng tại khu vực núi Sài sông Hát. Còn để nhận rõ về Thượng thủy tổ họ Phạm là Phạm Tu, quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, thì câu chuyện cần bắt đầu bằng những dấu tích về … Mã Viện và Bà Triệu.
Sơ học kí – Châu quận bộ (thời Đường do Từ Kiên soạn) có truyện Đê đá guốc vàng:
Nam Việt chí chép: “Mã Viện mở thông núi Cửu Chân, lại chất đá làm đê để ngăn sóng biển, do đó không còn bị (hại) bởi biển dâng nữa.” Lại chép: “Có người con gái huyện Quân An tên là Triệu Ẩu thường ở trong núi tụ họp bè đảng đánh cướp quận huyện, mặc áo giáp vàng đi guốc răng vàng, thường cưỡi đầu voi mà chiến đấu”.
Đoạn truyện này nói tới sự kiện Mã Viện sau khi đánh thắng quân của Hai Bà Trưng, tiếp tục tấn công Đô Dương ở Cửu Chân và cho … đắp đê đá để ngăn sóng biển dâng… Mã Viện đánh Cửu Chân chỉ vẹn vẹn có 1 năm (năm 44) sau đó đã bị triệu hồi về nước. Thế mà trong thời gian đó lại kịp đắp đê biển ngăn mặn, giúp người Cửu Chân làm nông nghiệp?! Sự thật chắc chắn không phải vậy.
Nguyên văn phiên âm đoạn Mã Viện làm đê đá là: Mã Viện tạc thông Cửu Chân sơn. Hựu tích thạch vi để, dĩ át hải ba, do thị bất phục quá trướng hải.
“Tướng danh” của Mã Viện là Phục Ba tướng quân, ý nói là tướng đã áp phục cơn sóng khởi nghĩa của nhân dân ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Đoạn phiên âm trên vừa có “Hải Ba” vừa có “Phục”, chính là thông tin giải nghĩa danh hiệu Phục Ba của Mã Viện. Như vậy Mã Viện làm đê đá không phải để ngăn sóng biển, mà là đắp lũy để ngăn cơn “Hải Ba” của hậu quân Hai Bà Trưng tại Cửu Chân. Cửu Chân là nơi Mã Viện đã phải dừng bước, cắm mốc phân giới (cột đồng) sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Lũy đá ở đây là một dạng mốc biên giới như cột đồng Mã Viện, được dựng lên để ngăn sự tấn công của của hậu quân Trưng Vương.
Mã Viện đã phải cắm mốc cột đồng và đắp lũy phòng thủ chống lại ai ở Cửu Chân? Phần dưới của đoạn trích trên trong truyện Đê đá guốc vàng cho biết, đó chính là với Triệu Ẩu, tức là Mã Viện đã phải cắm mốc phân biên với Bà Triệu. Bà Triệu còn có tên là Lệ Hải bà vương, là cơn “Hải Ba” được nói đến trong truyện. Bà Triệu chính là hậu quận của Hai Bà Trưng đã chặn Mã Viện ở Cửu Chân.
Theo nhà nghiên cứu Văn Nhân thì Đô Dương – người chặn Mã Viện ở Cửu Chân là Khu Đạt hay Khu Liên, người đã khởi lập nước Lâm Ấp. Khu Đạt cũng là Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu. Còn tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì cho biết người xưng vương xứ Lâm Ấp là Lý Khu Kiên. Lâm Ấp tức là nước Nam. Lý Khu Kiên – Khu Đạt là vua Lâm Ấp, tức là Lý Nam Đế trong chuyện này là Triệu Quốc Đạt.
Trong cuộc chiến chống quân Đông Hán anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh đã hy sinh nhưng Mã Viện và Hán quân đã bị cầm chân, buộc phải cắm trụ đồng và đắp lũy đá phân ranh đất Hán và Giao Chỉ ở Khâm Châu – Quảng Tây. Lúc này phía Đông Giao Chỉ độc lập, do một kẻ sĩ nắm giữ quyền hành, không xưng vương, nên sử gọi là Sĩ Nhiếp.
Như trên, vì Lý Nam Đế là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên nên Sĩ Nhiếp là một đại tướng của Lý Nam Đế, đã chống Hán quân giữ yên Giao Châu. Năm Canh Dần (210) Sĩ Nhiếp theo về với Ngô Vương Quyền, được Ngô Vương phong làm Tả tướng quân. Sau đó Sĩ Nhiếp lại chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu về phụ thuộc nước Ngô nên Tôn Quyền càng khen, thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu.
Câu đối ở đình Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội)
骨氣不埋呉鼎國
文風初啟越儒邦
Cốt khí bất mai Ngô đỉnh quốc
Văn phong sơ khải Việt nho bang.
Dịch:
Cốt cách không phai đỉnh nước Ngô
Văn phong khởi lập Nho đất Việt.

IMG_9726 (2)Đình Dục Tú ở Đông Anh, Hà Nội

Nhờ có sự thần phục của Sĩ Nhiếp Ngô Vương đã có được một khu vực đất đai rộng lớn mà Mã Viện đã không thể chiếm được trước đó, gồm toàn bộ Giao Châu, lại thêm cả Ích Châu. Do vậy Sĩ Nhiếp được coi là một đại tướng quân trụ cột của Đông Ngô. Long Biên hầu tức là vị hầu tước của vùng Long Biên. Long Biên ở đây là Long Xuyên hay quận Tam Xuyên dưới thời Tần, gồm phần lớn vùng Giao Chỉ và Quảng Tây.
Những danh hiệu, chức vụ và hành động của Sĩ Nhiếp hoàn toàn trùng với lão tướng Phạm Tu. Phạm Tu nhờ có công đánh dẹp Lâm Ấp và tham gia khởi nghĩa nên được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả Tướng, đứng đầu Ban Võ. Theo thần tích đình Ngoại ở Thanh Liệt thì sau khi mất Phạm Tu được phong là Long Biên hầu. Đặc biệt Phạm Tu còn được sắc phong là Cảm ứng cư sĩ. Câu đối ở đình Lý Nhân tại Thanh Liệt, nơi thờ Phạm Tu:
廟宇香燈神感應
亭村奉祀德靈長
Miếu vũ hương đăng thần cảm ứng
Đình thôn phụng tự đức linh trường.
Dịch:
Hiên miếu hương đèn thần cảm ứng
Thôn đình cúng tế đức thiêng dài.

P1110017Đình Lý ở Lý Nhân, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Còn Sĩ Nhiếp được nhà Trần sắc phong là Gia ứng Thiện cảm Linh vũ Đại vương. Có thể thấy Tả tướng quân Long Biên hầu Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu là vị Sĩ Nhiếp, người đã giữ yên và cai quản Giao Châu sau khi Lý Nam Đế – Triệu Quốc Đạt hy sinh.
Sau khi Sĩ Nhiếp mất con là Sĩ Huy đã chống cự lại nhà Ngô. Còn theo tư liệu của họ Phạm thì Phạm Tu có con là Phạm Tĩnh theo giúp Hậu Lý Nam Đế. Con Phạm Tĩnh là Phạm Hiển, sau khi Lý Phật Tử bị quân nhà Tuỳ bắt về Bắc đã chiêu binh chống Tùy trong 3 năm và bị thất bại. Phạm Hiển như vậy là Sĩ Huy.
Sĩ Nhiếp – Phạm Tu còn được người Việt thành kính tôn thờ dưới tên một vị thần nữa. Tên Phạm Tu đúng ra phải là Phạm Tô, là vị thần của dòng sông Tô Lịch. Phạm Tu sinh ra ở làng Thanh Liệt bên sông Tô. Theo truyền thuyết thì ông chống giặc giữ cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đó.
Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái kể Cao Biền đã gặp một cụ già ở giữa dòng sông, cho biết họ Tô tên Lịch. Biền biết là thần nhân nên đặt tên sông là sông Tô Lịch.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng nhìn ở bờ sông Lô Giang, phía đông nam thành La, thấy giữa sông có gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng, rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên không… Đêm đến Biền nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là thần Long Đỗ, đứng đầu các vị thần đất. Nhà ngươi đến xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?”…
Bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành – Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: “… bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu”. Sĩ Nhiếp có tước phong là Long Độ đình hầu. Long Độ = Long Đỗ. Thần Long Đỗ, vị thành hoàng của thành Đại La – Thăng Long thì ra chính là Sĩ Nhiếp – Phạm Tô (Tu).
Sĩ Nhiếp được biết thọ tới 90 tuổi mới mất. Còn Phạm Tu là lão tướng 66 tuổi mới tham gia khởi nghĩa cùng Lý Nam Đế. Vị thần sông Tô Lịch hiện linh trước Cao Biền cũng dưới hình dạng một cụ già.
Còn một liên hệ nữa về lão tướng Phạm Tu. Sử sách cho biết người đã nối nghiệp ở Lâm Ấp sau khi Khu Liên mất là họ Phạm, họ bên ngoại của Khu Liên. Như vậy Phạm Tu là họ bên ngoại của Triệu Quốc Đạt.
Tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì viết: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 TCN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà…
Đằng Châu Phạm Duy Minh do vậy có thể cũng là Phạm Tu. Thần Long Đỗ, Long Biên hầu và Vua Mây họ Phạm là một người vì vua của Mây tức là rồng (Long). Sĩ Nhiếp – Phạm Tu như vậy là một trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng của tín ngưỡng Việt.

Phạm Tu có thụy hiệu là Đô Hồ đại vương. Đô Hồ nghĩa là thủ lĩnh của người Hồ. Người Hồ hay Hời là người Lâm Ấp – Chiêm Thành sau này. Vì Phạm Tu là người kế tục sự nghiệp của Khu Liên và con cháu họ Phạm nối tiếp cai quản Lâm Ấp nên Phạm Tu được gọi là Đô Hồ. Thông tin này cũng tương tự như câu đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh):

豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.

Truyền tích về Sĩ Nhiếp và Tứ pháp ở chùa Dâu (Truyện Man Nương) cho thấy Sĩ Nhiếp được dân gian gắn với các thần mây mưa sấm chớp. Còn Phạm Tu ở đình Ngoại Thanh Liệt vốn được coi là Thủy thần phán quan, hay ở đình Ngọc Than (Quốc Oai, Hà Nội) là Đông Hải đại vương.
Vị thủy thần sông Tô, vua Mây ở Đằng Châu, Long Biền hầu Sĩ Nhiếp và Tả tướng Phạm Tu cùng là một, là vị anh hùng có công chặn quân Đông Hán, gìn giữ Giao Châu trong 40 năm, đức độ và dòng dõi để lại tiếp tục phù trợ cho họ Phạm ở Lâm Ấp tồn tại hàng trăm năm tiếp theo.

Nghê và Lân

Một câu hỏi khá đơn giản nhưng không dễ trả lời: Trong 4 con vật thuộc tứ linh Long Ly Quy Phụng thì con Ly là con Kỳ lân hay con Nghê?
Trước hết xin bàn về con Nghê. Tác giả Trần Hậu Yên Thế cho biết ở Việt Nam hình tượng Nghê có nhiều dạng: sư tử nghê, long nghê, kỳ lân, khuyển nghê… Vậy cuối cùng thì Nghê là con gì? Câu hỏi này thách thức các nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt từ thời Pháp tới nay chưa có lời giải. Các chuyên gia đành kết luận: “Nghê là nghê thôi”. Giải thích vậy thì chẳng cho thông tin gì cả. Nói thế thì biết công dụng của con Nghê là gì, ý nghĩa ra sao?
Ca dao về con nghê:

Mỗi người đều có một nghề
Con phượng thì múa, con nghê thì chầu.

Nghê thì chầu”, đó là nghề của con Nghê. Ý của câu ca dao này cho biết nghĩa của từ “nghê” là “chầu”.
Câu ca dao khác:

Bốn cửa anh chạm bốn nghê
Bốn con nghê đực chầu về tổ tông.

Đã là “chầu về tổ tông” thì hiển nhiên phải là “nghê đực”. Có ai cho đàn bà con gái đứng chầu bao giờ…
Với nghĩa như vậy thì có thể nhận ra: Nghê = Ngô = Ngay trong các từ kép “ngô nghê” và “ngây ngô”. Tất nhiên con Nghê không phải với nghĩa là… ngu… Chữ Ngô hay Ngay ở đây có nghĩa là ngay thẳng, ngay ngắn, nghiêm trang. Nghề chuyên môn của con Nghê là “chầu tổ tông” nên nó phải đứng ngay ngắn, nghiêm trang. Cũng vì thế mà nó được gọi là Nghê, cho dù đó là hình sư tử, rồng, kỳ lân hay hình con chó. Cứ con vật nào dùng làm “lính chầu”, “lính gác” ở cổng đình, nóc điện, thềm lăng… thì gọi là Nghê. Nghê là một dạng “kiêu binh” đứng hành lễ ở nơi thờ cúng.
Trong thư tịch Nghê được nhắc đến từ thời Lý ở tấm bia Minh Tịnh tự bi văn tại nghè thôn Tế Độ, xã Hoằng Phúc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Bia có câu:
阿 逸 多 純 金 色 相 加 敷 座 獅 子 猊 臺.
A Di Đà thuần kim sắc tướng gia phụ tọa sư tử nghê đài.
Các chuyên gia cho rằng “sư tử nghê đài” ở đây nghĩa là đài nghê sử tử. Vậy thì phải phân biệt giữa “sư tử nghê” và sư tử đứng ở cổng đền cổng chùa phổ biến hiện nay như thế nào?
Đoạn minh văn “sư tử nghê đài” đơn giản có thể hiểu là “đài sư tử chầu”, chứ không phải là “đài con nghê sư tử”. Nghê là một hình tượng con vật đứng chầu nghiêm trang ở nơi thờ cúng, không phải chỉ một loài vật cụ thể nào. Vì thế mới có đủ các loại nghê sử tử, nghê rồng, nghê kỳ lân, nghê chó…
Để phân biệt giữa Nghê và Lân nhiều người hiện nay cho rằng con Nghê là loài có móng vuốt, còn Lân là loài móng guốc… Nhưng nếu vậy thử hỏi “kỳ lân nghê” sẽ có móng gì?!
Vì con Nghê thì phải đứng chầu ngay ngắn, nghiêm trang nên tượng mấy con sư tử nhe nanh, mua vuốt, giẫm cầu hiện nay thì không thể gọi là “sư tử nghê” được cho dù cũng là đứng ở cổng đình cổng chùa, cũng là sư tử. Tiêu chí để xác định con Nghê không phải ở chỗ đó là loài gì, chân tay thế nào, mà là ở chức năng đứng chầu và sự nghiêm trang của nó.

IMG_7023

“Ngư nghê” ở đền Đa Hòa.

Ở đền thờ Chử Đồng Tử tại Đa Hòa, chố góc mái thay cho hình con nghê thông thường lại là một con cá quay vào trong. Với quan điểm Nghê chỉ có nghĩa là con vật đứng chầu thì con cá này hoàn toàn có thể gọi là “Ngư nghê”. Như vậy tùy theo người được thờ, hình con Nghê chầu hoàn toàn có thể khác nhau. Đối với những vị tướng thì thường dùng khuyển nghê hay sư tử nghê. Đối với văn quan thì dùng kỳ lân nghê (thực ra là Long mã nghê vì Long mã là con vật biểu tượng của văn chương, cõng ấn nghiên). Đối với các vị vua thì phải dùng Rồng nghê.

IMG_6508Tứ linh ở đình Chèm.

Quay lại với câu hỏi ban đầu về Tứ linh. Khi đã hiểu Nghê nghĩa là con vật đứng chầu thì thấy rõ con Nghê không hề thuộc Tứ linh. Tứ linh là những thần vật, là đối tượng được thờ, chứ không phải đứng chầu như con Nghê.
Trong Tứ linh thì có Ly hay Lân? Phép phiên thiết Hoa văn giải đáp câu hỏi này. Kỳ Lân phản Ly. Tức là “Kỳ lân” chỉ là ghi âm của chữ Ly mà thôi. Gọi là Lân hay Ly đều là về một con vật, một hình tượng cả.
Nếu đã là một con vật thì chắc chắn con Lân phải có nguyên mẫu là một sinh vật sống thực sự. Quy là con rùa, Phượng là loài chim công hay chim trĩ, Rồng có nguyên mẫu là loài bò sát có chân (cá sấu). Nguyên mẫu của con Lân – Ly là loài vật gì?
Ngày nay cả ta và Tàu đều thể hiện Kỳ lân ở dạng loài động vật bốn chân móng guốc, đầu rồng, thân có vảy (xem bức chạm ở đình Chèm). Nhưng như vậy hóa ra Kỳ lân là con Long mã (đầu rồng chân ngựa). Điều này hoàn toàn không phù hợp vì trong Tứ linh thì đã có riêng Long là loài có vảy. Ở vị trí con Ly phải là loài có lông mao.

IMG_6486Cá vượt vũ môn và Long mã ở đình Chèm.

Bài Tứ linh thi, tương truyền là bài thơ làm từ thời Cao Biền, được khắc trên mái đình Chèm (Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội):
Thụy vật tương toàn hữu tứ linh
Hiếu bằng khắc họa kiến văn minh
Vũ mao lân giáp tề xưng trưởng
Kim bích đan thanh các tiếu hình
Bính nhĩ thần cung phương tích tại
Hoảng nhiên thánh thế mỹ tường trình
Phù trì thượng ngưỡng vô cùng đức
Tái tục phù ê vịnh thái bình.
Dịch:
Vật đẹp trong đời có tứ linh
Hãy xem khắc họa thấy văn minh
Cánh lông mai vảy cùng khoe đẹp
Vàng biếc son xanh đủ mọi hình
Rực rỡ cung thần lưu dấu tốt
Nguy nga đất thánh rạng điềm lành
Chở che ngưỡng vọng bền ân đức
Lại thấy chim ca khúc thái bình!
Bộ tứ “vũ mao lân giáp” cho thấy rõ Kỳ Lân là loài có lông mao vì Phượng có lông vũ, Rồng có vảy cá, Rùa có mai giáp.
Bàn về nguyên mẫu và ý nghĩa của con Lân phải tham khảo bài phong dao Lân chi chỉ (Chân con Lân) trong Kinh Thi (Chu Nam):
Lân chi chỉ
Chân chân công tử
Hu ta lân hề.
Lân chí đính
Chân chân công tính
Hu ta lân hề.
Lân chi giác
Chân chân công tộc
Hu ta lân hề.
Dịch thơ:
Kìa là chân của kỳ lân
Con Văn Vương cũng hậu nhân rõ là
Ôi, như kỳ lân thật mà!
Kìa là trán của kỳ lân
Cháu Văn Vương cũng hậu nhân vô cùng
Ôi, như kỳ lân, một lòng!
Kìa là sừng của kỳ lân
Họ Văn Vương cũng hậu nhân xiết nào
Ôi, như kỳ lân làm sao!
Về con Lân trong bài Lân chi chỉ Chu Hy (thế kỷ 12 thời Nam Tống) chú giải như sau:
Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống.
Lân là “thú đứng đầu trong các loài có lông”. Rõ ràng việc thể hiện con Lân ra con Long mã mang vảy cá là sai với nguyên mẫu ban đầu, chỉ là quan niệm mới xuất hiện trong khoảng vài trăm năm trở lại đây.
Bài Lân chi chỉ trong Kinh Thi ca ngợi dòng dõi Văn Vương, có lòng nhân hậu, có thánh đức (con lân không dẫm lên côn trùng, không ăn sinh vật…). Con Lân hay Ly như vậy là con thần thú biểu tượng của nhà Chu.
Theo Lã thị Xuân Thu:
–    Mạnh xuân kỷ (mùa xuân): mặt trời ở phương Giáp Ất (phương Đông)… Động vật tiêu biểu là loài có vảy (Long).
–    Mạnh hạ kỷ (mùa hè): mặt trời ở phương Bính Đinh (phương Nam)… Động vật tiêu biểu là loài chim có lông vũ (Phượng).
–    Mạnh thu kỷ (mùa thu): mặt trời ở phương Canh Tân (phương Tây)… Động vật tiêu biểu là loài thú có lông mao (Ly).
–    Mạnh đông kỷ (mùa đông): mặt trời ở phương Nhâm Quý (phương Bắc)… Động vật tiêu biểu là loài giáp giới (Quy).
Như vậy con Ly – Lân, loài thú có lông mao là động vật tiêu biểu của phương Tây. Bản thân Ly là quẻ trong Hậu thiên bát quái dùng chỉ hướng Tây. Hướng Tây cũng là hướng dựng nghiệp của Văn Vương nên nhà Chu lấy con Lân làm con thần thú, biểu trưng cho nòi giống của mình. Kỳ Sơn là đất gốc tổ của nhà Chu, rất có thể đây là chữ Kỳ trong Kỳ Lân.

Te giacTê giác ở đảo Borneo – Malaysia.

Con vật có lông mao, hình dáng như con hươu (con chương) lớn, có móng guốc như ngựa, đuôi như đuôi bò, không ăn sinh vật (không ăn thịt), có 1 sừng lại biểu tượng cho hướng Tây thì chắc chắn là con… Tê giác. Tê giác trong ngôn ngữ xưa gọi là con Tây, hoàn toàn trùng khớp với định phương vị của con Lân.
Hình tượng con Tây (Tê) đã bắt gặp trong các hiện vật đồ đồng từ thời Thương như chiếc đôn đựng rượu Tiểu Thẩn Du hiện bảo quản tại Bảo tàng nghệ thuật châu Á San Francisco. Đây chính là hình ảnh con Ly – Lân trong Tứ linh xưa.
Vấn đề đáng chú ý là loài Tê giác một sừng chỉ có ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bản đồ phân bố của Tê giác một sừng cho thấy rõ điều này. Đó cũng là lý do vì sao người ở phương Bắc (Trung Quốc) không biết nguyên mẫu con Lân là con Tê giác nên đã biến nó thành một con vật hoàn toàn tưởng tượng (Long mã).

434px-Javan_Rhino_Range.svgPhân bố Tê giác một sừng Rhinoceros sondaicus (Foose và Van Strien, 1997 http://vi.wikipedia.org/wiki/ Tê_giác_Java).

Vì loài Lân – Tê chỉ có ở vùng nóng ẩm (cận nhiệt đới và nhiệt đới) nên… nhà Chu, triều đại dùng biểu tượng con Lân, không thể nào nằm ở tận vùng sa mạc Thiểm Tây ở Hoàng Hà được. Điều này bổ chứng thêm cho nhận định khu vực đất đai của thiên tử Chu phải là vùng Vân Nam – Bắc Việt ngày nay, nơi loài Tê giác trong quá khứ đã từng sinh sống.

Khu vực nước Lỗ, quê hương của Khổng Tử, cũng là nơi có nhiều con Tê vì theo ghi chép trong đời của Khổng Tử có tới 2 lần con Lân xuất hiện. Nước Lỗ như vậy phải nằm ở quãng … nước Lào ngày nay.

Quang Te giac

Quang đựng rượu thời Thương tìm thấy ở Lào.

Theo truyền thống chép sử Trung Hoa, Khổng Tử viết Kinh Thư (Kinh Xuân Thu) đến năm Lỗ Ai Công săn được con Lân thì dừng bút. Tư Mã Thiên chép Sử ký cũng dừng lại khi Hiếu Vũ Đế bắt được con thú một sừng, chân có 5 móng, cho là con Lân. Năm nay, 2014, con Kỳ Lân – Tê – Tây lại hiện nguyên mẫu, nguyên hình. Lịch sử thành văn Hoa Việt hẳn sẽ sang trang mới…

Ba câu chuyện của nước Âu Lạc

Thời kỳ An Dương Vương trong lịch sử nước ta hiện nay đang được xem là “nửa thật, nửa hư”. “Thật” vì An Dương Vương đánh Hùng Vương, lập ra nước Âu Lạc, chấm dứt các “huyền thoại thời Hùng”. Lại còn có cả chứng tích là thành Cổ Loa do An Dương Vương xây dựng vẫn còn. “Hư” vì Thục An Dương Vương không hề được thư tịch cổ nào ghi chép ngoài các truyền thuyết Việt. Và hơn nữa, những câu chuyện về An Dương Vương có nhiều chi tiết thật khó hiểu khi so với chính sử hiện tại.

Thời kỳ An Dương Vương và nước Âu Lạc có 3 câu chuyện hay được kể đến. Thứ nhất là chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa sau khi thắng Hùng Vương. Thứ hai là mối tình ngang trái của Mỵ Châu – Trọng Thủy. Cuối cùng là chuyện Lý Ông Trọng được cử làm tướng Tần chống Hung Nô. Xem xét thời kỳ nước Âu Lạc của An Dương Vương không thể không đi tìm sự thật lịch sử của 3 câu chuyện này.

XÂY THÀNH CỔ LOA

Ai đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa? Có lẽ đến đứa trẻ học cấp 1 cũng biết đó là thần Kim Quy. Có ý kiến còn cho rằng thành Cổ Loa là thành Rùa, theo mô hình của Quy Thành xây bên nước Thục… Do đó Thục An Dương Vương là con cháu dòng Thục Khai Minh “thiên di” tới nước Văn Lang… Nhưng không hẳn vậy…

Điểm tất cả các di tích tín ngưỡng còn lại trong dân gian thì thần Kim Quy không được thờ ở đâu cả. Thay vào đó, người được thờ trong chuyện này là Huyền Thiên Trấn Vũ. Vị thần này không xa lạ gì vì đây là một trong Thăng Long tứ trấn mà Trấn Vũ quán là Quán Thánh ở đầu đường Thụy Khuê cạnh Hồ Tây bây giờ.

Nơi thờ gốc của Huyền Thiên là ở đền Sái tại làng Thụy Lôi, Đông Anh, gần thành Cổ Loa. Núi Sái tương truyền là có lối thông với núi Thất Diệu, nơi quỷ tinh Gà Trắng quấy nhiễu việc xây thành đã bị chém chết. Thậm chí cách đó không xa ở Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh còn có cả đền thờ Bạch Kê. Huyền Thiên đại thánh mới là người đã giúp An Dương Vương xây thành bằng cách cử thần Kim Quy đến giúp trừ yêu diệt quỷ.

Từ núi Thất Diệu đi thêm một đoạn, qua đò ngang dòng sông Cầu là tới làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang). Người được thờ làm thành hoàng ở Thổ Hà là Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử. Tương truyền Lão Tử đã tu hành, đắc đạo và “hóa” ở trang Thổ Hà. Nhưng kỳ lạ hơn thần tích Thổ Hà cho biết Lão Tử mới là người đã điều thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa.

Câu đối ở đình Thổ Hà:

Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Dịch:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

Như vậy Lão Tử là Huyền Thiên đại thánh, người đã giúp An Dương Vương xây thành ở núi Sái. Vào thời Đường, Lão Tử được tôn phong là Thái Thượng Lão Quân Huyền Nguyên hoàng đế. Do vậy Lão Tử được gọi là Huyền Nguyên hay Huyền Thiên ở các đạo quán.

Lão Tử, vị giáo chủ Đạo giáo của Trung Hoa sao lại có mặt ở nước Nam, lại còn giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa nữa. Chuyện này phải hiểu như thế nào?

Sách Lão Tử minh cho biết: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.

Vùng ba sông – Tam Xuyên là đất của nhà Chu vì khi Tần diệt Chu đã lấy đất nhà Chu lập quận Tam Xuyên. U Vương là vị vua cuối cùng của nhà Tây Chu. Sau đó tới Chu Bình Vương, nhà Chu chuyển về Lạc Dương, bắt đầu thời kỳ Đông Chu.

Cơn địa chấn lúc giao thời Tây và Đông Chu trên chính là cái nền thật của chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa ở Việt Nam. Nhà Chu khi dời đô từ Tây sang Đông đã gặp một trận động đất lớn, Đông Đô Lạc Dương bị rung chuyển. Lão Tử nhân cơ hội đó bày đàn thờ ở núi Sái giả chuyện trừ yêu diệt quỷ của đời trước để răn dạy vua Chu. Câu đối ở đình Thổ Hà:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Dịch:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng nắm chốn thanh hư, mở đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo thần tiên.

Thời là thời Đông Chu, còn đất là đất Nam Việt. An Dương Vương xây thành ở Đông Đô (tên cũ của Hà Nội) chính là thiên tử Chu của Trung Hoa. Đạo Giáo của Trung Hoa khởi đầu bởi Lão Tử – Huyền Thiên ở núi Vũ Đương (Võ Đang), là tên của núi Sái ở Thụy Lôi, Đông Anh. Sự thần kỳ của Đạo Giáo chính là bắt đầu từ chuyện trừ quỷ tinh để xây thành cho Đông Đô.

MỴ CHÂU – TRỌNG THỦY

Một câu chuyện cười: Thầy giáo hỏi học sinh: “Ai đã đánh cắp nỏ thần của An Dương Vương”. Học sinh sợ hãi đáp: “Dạ, không phải em ạ!”…

Lẫy nỏ thần, vũ khí lợi hại mà thần  Kim Quy trao cho Thục An Dương Vương đã bị Trọng Thủy đánh cắp. Tuy nhiên, nếu hỏi Trọng Thủy là ai thì có lẽ cả các giáo sư ngày nay cũng phải lúng túng chứ nói gì đến các em học sinh.

Truyền thuyết kể Trọng Thủy là con trai của Triệu Đà đã cầu hôn con gái An Dương Vương là Mỵ Châu và xin ở rể. Họ Triệu đây là Triệu nào?

Ở thành Cổ Loa trong am thờ Mỵ Châu nay có bài thơ đề trên bảng gỗ:

Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài
Quyên kêu nước cũ trời sương muộn
Trai nở dòng băng biển biếc hay
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lầm lỡ tới ai đây.

Cụm từ “Nhân duyên Tần Việt” cho thấy Mỵ Châu là Việt, còn Trọng Thủy là Tần. Nhà Tần có họ Triệu, như Tần Thủy Hoàng tên Triệu Chính. Chuyện nhà Tần cho con trai đi ở rể trên đất Việt này là thế nào?

Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn lời bình của Ngô Sĩ Liên khi nói tới chuyện Nhã Lang – Cảo Nương thời Triệu Quang Phục: Đàn bà gọi việc lấy chồng là “quy” thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?

Trong lịch sử nhà Tần thì chỉ có một chuyện “gửi rể” duy nhất là việc công tử Dị Nhân làm con tin ở đất Triệu, lấy nàng Triệu Cơ, thiếp của Lã Bất Vi… Câu chuyện Lã Bất Vi “buôn vua” nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa này chỉ là sự bịa đặt bóp méo sự thực về nhân duyên Tần Việt của chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy ở Việt Nam.

Nàng Triệu Cơ trong ngôn ngữ xưa được gọi là Châu Cơ. Như Đại Nam quốc sử diễn ca kể:

Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc, toan lần cành Nam
Châu Cơ muốn nặng túi tham
Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chi.

Châu Cơ chính là nàng Mỵ Châu họ Cơ. Họ Cơ là họ của các vua Chu. Mỵ Châu là con gái vua Châu (Chu), rất rõ ràng.

Trọng Thủy là công tử Dị Nhân – Doanh Tử Sở, cháu của Tần Chiêu Tương Vương, đi ở rể ở nước Chu, bị tráo đổi thành ở nước Triệu. Tần Chiêu Tương Vương, người đã diệt nhà Chu năm 256 TCN, mới là Triệu Đà trong Truyện Rùa Vàng. Năm này cũng là thời điểm được xem là Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương. Sử Việt đã chép gộp hai sự kiện: việc Thục Phán – Cơ Phát phát động chư hầu diệt Ân Trụ Vương và việc Tần Chiêu Tương Vương đánh Chu Noãn Vương, vị vua cuối cùng của nhà Chu. Sự kiện đầu mở màn cho cơ nghiệp thiên tử của nhà Chu. Sự kiện sau kết thúc vương triều này của Trung Hoa, kéo dài gần 1000 năm.

LÝ ÔNG TRỌNG

Dựa vào chuyện Lý Ông Trọng là tướng của An Dương Vương nhưng lại giúp Tần Thủy Hoàng trấn giữ Hung Nô mà các sử gia ngày nay cho rằng đã có một sự “hòa hoãn” giữa Thục Phán và Tần, để sau đó Thục Phán lãnh đạo nhân dân Việt trường kỳ kháng chiến, đã dành lại được nước Âu Lạc sau khi Thủy Hoàng mất…

Về cuộc tấn công của nhà Tần vào đất Việt sách Hoài Nam tử chép: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.

Quân trưởng Tây Âu Dịch Hu Tống là ai? Có người đoán đó là bố của Thục Phán (Thục Vương), để Thục Phán thành người Tuấn kiệt làm thủ lĩnh kháng Tần những năm này…

An Dương Vương hay Âm Dương Vương, chỉ vị vua đã làm nên Dịch học (Âm dương). Người tác dịch của Trung Hoa là Chu Văn Vương. Truyền thuyết Việt kể là Lang Liêu nghĩ ra bánh chưng bánh dày. “Bánh chưng báy dày” hay “bánh trăng bánh giời” là hình ảnh của trời tròn đất vuông, âm dương mà thôi.

Các vị vua Chu do vậy được gọi là An Dương Vương (Âm Dương Vương), là những người đã nắm bắt được Kinh Dịch (do thần Kinh Quy – Kim Quy trao tặng) mà cai quản cả thiên hạ Trung Hoa. Khi xác định vậy thì cái tên Dịch Hu Tống có thể được giải nghĩa như sau:

–          Hu = Hậu
–          Tống = Tông.

Dịch Hu Tống = Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi cuối cùng của Dịch Vương. Quân Tần đã đánh diệt hậu duệ của Dịch Vương, tức là đánh Chu Noãn Vương, vị vua Chu cuối cùng ở thành Cổ Loa, “quân trưởng” của nước Âu Lạc.

Trở lại chuyện Lý Ông Trọng. Như đã trình bày ở trên, nhà Tần xuất phát từ hướng Tây (Thục) đánh nhà Chu ở hướng Đông (Đông Chu) nên sự kiện Tần diệt Chu còn được chép là An Dương Vương đánh Hùng Vương của nước Văn Lang (Lang Văn Cơ Xương). An Dương còn có nghĩa là “dẹp yên phương Đông” nên An Dương Vương ở đây chỉ nhà Tần. Lý Ông Trọng làm tướng của An Dương Vương, không phải là làm tướng cho nhà Thục (Chu) mà là cho nhà Tần, đúng như truyền thuyết đã kể. Ông Trọng đỗ Hiếu Liêm, được Tần Thủy Hoàng phong làm chức Tư lệ hiệu úy và gả con gái cho.

Sách Từ Nguyên viết: Nguyễn Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải, thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan dũng, khác với người thường. Vua Thủy Hoàng sai cầm quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động Hung Nô. Ông Trọng chết. Vua sai đúc tượng đồng để ở của Tư Mã, coi giữ cung Hàm Dương.

Sách này không hề đả động gì tới Thục Phán hay Hùng Vương mà nói rõ Ông Trọng người Nam Hải làm tướng Tần ở đất Lâm Thao.

Đại Nam quốc sử diễn ca kể về Lý Ông Trọng:

Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân
Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ
Uy danh đã khiếp Hung Nô
Người về Nam quốc hình đồ Bắc phương.

Hung Nô trong khổ thơ này là từ tương đương với quân Hồ. Thực vậy, bởi vì khi dùng phép thiết thì Hung Nô thiết Hồ. Lý Ông Trọng trấn giữ quần Hồ, Hồ là người ở phía Nam nước Văn Lang (nước Hồ Tôn), tức là người Chiêm Thành sau này.

Ông Trọng sinh ra ở Từ Liêm. Từ Liêm thiết Tiêm hay Chiêm, đọc sai thành Chèm. Đức thánh Chèm (Lý Ông Trọng) như vậy là đức thánh Chiêm, chỉ rõ thành tích trấn giữ Chiêm – Hồ của Ông Trọng. Lâm Thao là Lâm Ấp, tức là miền Tây Bắc và Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay, chứ không phải ở tận Cam Túc.

Nơi đặt tượng Lý Ông Trọng là Hàm Dương. Hàm Dương thiết Hương. Làng Thụy Hương là quê của Lý Ông Trọng. Tượng của Lý Ông Trọng không đặt ở kinh đô của Tần mà ở làng Hương, tức là ở Chèm – Từ Liêm, bên bờ sông Hồng ngày nay. Phải đặt tượng ở đó thì uy danh mới khiếp quần Hồ – người Chiêm được.

Ba câu chuyện cổ của nước Âu Lạc đã ghi lại những sự kiện chính của thời kỳ Chu – Tần với những địa danh trên đất Việt. Có 2 An Dương Vương. Một là Thục An Dương Vương, hay Âm Dương Vương là vua Dịch học, tức là vua Chu. Vua Dịch học đầu tiên là Chu Văn Vương hay Lang Văn (Văn Lang). Chu U Vương – Chu Bình Vương xây thành Cổ Loa ở Đông Đô được sự trợ giúp của Lão Tử, bắt đầu thời kỳ Đông Chu. Dòng dõi Dịch vương cuối cùng bị Tần diệt là Dịch Hu Tống hay Dịch Hậu Tông là Chu Noãn Vương.

An Dương Vương thứ hai với nghĩa là vị vua đã dẹp yên phương Đông, chỉ nhà Tần. Trọng Thủy là con của vua Tần lấy nàng Châu Cơ – Mỵ Châu và ở rể trên đất của nhà Chu. Tần Chiêu Tương Vương diệt Chu, tới Tần Thủy Hoàng dời kinh đô về quãng giữa hai nhà Chu, ở gần biển hơn. Đó cũng là nơi giáp với người Chiêm Hồ (Hung Nô), nơi mà đại tướng nhà Tần là Lý Ông Trọng trấn giữ.

Họ Phạm ở miền núi Ấn sông Trà

Lịch sử cổ đại và trung đại Việt Nam có những vấn đề mà nếu chỉ dựa vào hệ thống thư tịch chính thống thì không thể làm rõ được. Thế nhưng những vấn đề này lại được ghi được kể rất đầy đủ trong dòng sử dân gian truyền từ đời này qua đời khác. Trường hợp lịch sử nước Lâm Ấp là một điển hình.
Tìm hiểu về nước Lâm Ấp hãy xem Gia phả Phạm Công tộc tại Mộ Đức – Quảng Ngãi. Thông tin được chép trong tộc phả họ Phạm chỉ bao gồm 3 khổ chữ ngắn ngủi nhưng đã cung cấp những dữ liệu cực kỳ quan trọng, là chìa khóa mở cánh cửa tìm lại lịch sử cả ngàn năm của quốc gia Lâm Ấp – Nam Chiếu. Xin dẫn nguyên văn phần lịch sử họ Phạm Đằng Trong trong bản gia phả này:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 TCN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 T CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải, châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An, diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).
Thấy xứ Lâm ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm Ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội của Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn , còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh.

Những dòng gia phả họ Phạm ở trên đã chịu không ít chỉ trích về tính xác thực của nó do những thông tin đưa ra về xứ Lâm Ấp hoàn toàn không giống với chính sử hiện này về quốc gia gọi là tiền thân nước Chiêm Thành này. Họ Phạm ở Quảng Ngãi đã “nhận vơ” nguồn gốc của mình, hay đã chép nhầm do thiếu hiểu biết? Tất cả đều không phải. Thông tin của gia phả họ Phạm cực kỳ chính xác, chính xác đến bất ngờ. Xin lần theo câu chuyện họ Phạm bắt đầu từ đất Đằng Châu, Hưng Yên.

VỊ THẦN Ở ĐẰNG CHÂU
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh…
Truyền thuyết xứ Đằng Châu được nhắc đến trong Việt điện u linh kể về một vị thần đã hiển linh trước Lê Long Đĩnh làm nửa sông mưa, nửa sông tạnh, rồi lại báo mộng đế vương… Long Đĩnh sau khi lên ngôi mới thăng Đằng Châu làm Thái Bình Phủ, phong thần làm Khai Thiên Thành Hoàng Đại Vương. Đền Đằng Châu ở Kim Động (nay thuộc phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên) còn gọi là đền Vua Mây, thờ sứ quân Phạm Phòng Ất (Phạm Bạch Hổ), tương truyền là một trong 12 sứ quân thời Đinh Tiên Hoàng.

Dang ChauĐền thờ vua Mây ở Kim Động, Hưng Yên.

Lĩnh Nam chích quái thay cho Lê Long Đĩnh đã ghi là Lý Công Uẩn lúc chưa lên ngôi có thực ấp ở Đằng Châu và thần Đằng đã hiển linh trước vua Lý. Sự khác biệt nhân vật với Việt điện u linh này có lẽ là do nếu tính từ loạn 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh tới Lê Long Đĩnh thì mới chỉ có hơn chục năm, khó có thể một sứ quân, tướng của Đinh Bộ Lĩnh lại kịp “hóa thần” hiển linh cả một vùng như vậy.
Trong đền vua Mây ở Hưng Yên có câu đối:
伯主雄圖十二山河輿古壘
神髙靈氣半分星雨此前江
Bá chủ hùng đồ, thập nhị sơn hà dư cổ lũy
Thần cao linh khí, bán phân tinh vũ thử tiền giang.

Dịch:
Xưng bá đất anh hùng, mười hai non nước nơi thành cũ
Danh thần hiện linh khí, nửa phần mưa nắng chốn sông này.

Đối chiếu gia phả họ Phạm: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay…
Việc Lý Thành, con Lý Thân cùng với Phạm Duy Hinh, con Phạm Duy Minh trấn thủ đất Nam Hà cho thấy vị thần xứ Đằng Châu không phải xuất phát vào thời Đinh – Lê – Lý sau này, mà có nguồn gốc từ tận thời Tần, thời của Lý Ông Trọng làm phò mã nhà Tần. Phạm Duy Minh ở Đằng Châu như vậy chính là vị thần Đằng hay vua Mây được kể đến trong Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái.
Lý Thành thay Lý Ông Trọng cai quản vùng rừng núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, trong tộc phả họ Phạm gọi là “Ái Châu”. Phạm Duy Hinh tiếp nghiệp cha, cai quản vùng duyên hải ven biển miền Trung, gọi là xứ Lâm Ấp.
Nam Tề thư, Man – Đông Nam Di chép: Nam Di – nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu, đi đường biển 3.000 dặm. Phía bắc liền với Cửu Đức. Đó là huyện Lâm Ấp cũ thời Tần…
Các nhà nghiên cứu đặt dấu hỏi, thế nào mà nước Lâm Ấp lại là “huyện Lâm Ấp cũ thời Tần” được?
Ghi chép này của Nam Tề thư hoàn toàn đúng. Biên giới phía Nam của nhà Tần khi thống nhất lục quốc đã tới miền Bắc Hộ (miền nhà cửa quay về phía Bắc). Khu vực Nam Trung Bộ ngày nay nằm trong quận Lang Gia thời Tần, đã được gọi là đất Lâm Ấp.

THÀNH CHÂU SA
Tộc phả họ Phạm tiếp: Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).
Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm,
Thông tin vị vua lập nước Lâm Ấp đầu tiên vào thời Đông Hán là Lý Khu Kiên = Khu Liên đã cho thấy Khu Liên mang họ Lý, chính là Lý Bí, người đã “quay về phương Nam mà xưng cô, khởi mở đất Lâm Ấp” (“Nam diện ung dung, thác thủy tương truyền Lâm Ấp địa”) như trong câu đối ở đình Giang (Viên Nội, Ứng Hòa, Hà Nội).
Khu Liên mất, họ Phạm kế vị tại xứ Lâm Ấp và đóng đô tại thành Châu Sa, nay là huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một thông tin rất giá trị. Các chuyên gia văn hóa lịch sử Chăm hiện không xác định được kinh đô của Lâm Ấp nằm ở đâu. Chỉ biết dưới thời Phạm Dương Mại thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi và Chấn Vũ tướng quân Tông Xác của nhà Tiền Tống đã đánh được thành Khu Túc, tiền đồn phía bắc của Lâm Ấp, rồi tiến vào Tượng Phố, phá cung thất của vua Lâm Ấp. Người thì cho rằng quốc đô Sư tử của Lâm Ấp là thành Trà Kiệu ở Quảng Nam. Nhưng ở Trà Kiệu chỉ có các vết tích của thời kỳ muộn hơn của vương quốc Chiêm Thành, chứ không có vết tích rõ ràng các thành trì của thời Lâm Ấp.
Theo Tùy thư, Liệt truyện 18, Lưu Phương thì từ Khu Túc tới kinh đô Lâm Ấp phải đi mất 8 ngày. Các học giả ước tính khoảng cách từ Khu Túc tới quốc đô Lâm Ấp như vậy ở vào quãng 300km. Dựa trên tính toán bóng nắng ghi trong thư tịch thành Khu Túc được xác định nằm ở khoảng giữa Quảng Trị. Từ giữa đất Quảng trị thêm 300km nữa về phía Nam chính là vị trí của thành Châu Sa ở Quảng Ngãi, chứ không phải Trà Kiệu ở Quảng Nam. Châu Sa ở trên đất Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, rõ ràng là Tượng Phố thời trước vì Tịnh = Tượng.
Chau SaDi tích thành Châu Sa tới nay vẫn còn, được mô tả theo tư liệu của Bảo tàng Quảng Ngãi như sau.
Thành Châu Sa (còn có tên là thành Hời) nằm về phía bắc hạ lưu sông Trà Khúc, thuộc xã Tịnh Châu (huyện Sơn Tịnh), phía đông thành giáp xã Tịnh Thiện, phía bắc giáp núi Đồng Dinh, phía nam giáp sông Trà Khúc và phía tây nam giáp núi bàn cờ.
Thành gồm có hai vòng thành chạy theo trục chính Bắc – Nam. Thành nội có bình đồ chữ nhật nối liền với thành ngoại có bình đồ hình càng cua không khép kín. Thành nội có cạnh dài là đoạn chạy theo hướng Đông Tây dài 550m, cạnh ngắn chạy theo trục Bắc Nam dài 540m.
Quanh thành có hào nước rộng 20-25m. Thành nội mở 5 cửa đông, bắc, tây, nam và tây nam. Các cửa đông, nam và tây nam đều có công trình kiến trúc bằng gạch nhô lên cao, có thể là những vọng lâu. Quan sát cửa nam, nơi được đào đắp, gia cố công phu hơn các cổng thành còn lại, trong tổng thể khu thành và địa hình chung quanh, cho phép đoán định đây là cửa chính của thành Châu Sa.

Thành ngoại, kết hợp giữa các đoạn đào đắp với địa hình tự nhiên, khéo léo tận dụng các đồi núi thấp và các sông con, rạch nước, ao đầm vốn chằng chịt trong vùng. Thành ngoại chỉ đắp ba cạnh ở các phía tây, đông và bắc, trong đó cạnh thành tây và đông đắp kiên cố, cạnh thành bắc chủ yếu dựa vào núi non. Phía nam, nhìn ra sông Trà Khúc, không có bờ thành.
Điểm đặc biệt của thành Châu Sa là khoảng giữa thành nội và thành ngoại, về mạn nam, có hai gọng thành hình càng cua đối xứng qua trục nam bắc. Gọng thành phía tây, bắt đầu từ góc tây nam thành nội, dài gần 700m, còn phía đông, bắt đầu từ góc đông nam, dài chừng 500m.
Thành Châu Sa hiện là một tòa thành bằng đất, độ nguyên vẹn vẫn còn tới 80%. Điều này cũng hoàn toàn khớp với các sử liệu cho biết quân Tùy vào thành (không công phá thành), phá hủy cung thất (bằng tre gỗ), thu tượng miếu chủ bằng vàng (Tùy thư), “thành vua nước đó dùng gỗ làm rào” (Cựu Đường thư), “đường hiểm trở không thông được” (Tân Đường thư). Nói một cách khác cho đến đầu thế kỷ VII dường như ở quốc đô Lâm Ấp chưa có kiến trúc gạch.
Như vậy thì sau thành Cổ Loa ở miền Bắc Việt thành Châu Sa là một tòa thành cổ đắp bằng đất được hình thành từ thời Tần. Thành Châu Sa không phải được bắt đầu xây dựng dưới thời các vua Chiêm Thành từ thế kỷ 9 như vẫn nghĩ. Đây quả là một cổ thành độc đáo, còn khá nguyên vẹn của Việt Nam.
Bản thân địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vốn có tên là Chiêm Lũy động hoặc Cổ Lũy động. Trước cửa thành cổ Châu Sa nay vẫn còn địa danh thôn Cổ Lũy bên bờ sông Trà Khúc. “Cổ Lũy” của vị thần Đằng Châu họ Phạm hóa ra lại là nằm ở Quảng Ngãi. Những cái tên Chiêm Lũy, Cổ Lũy càng cho phép khẳng định Châu Sa và tỉnh Quảng Ngãi chính là thành đô, là trung tâm của nước Lâm Ấp trong 500 năm tồn tại với 19 đời vua họ Phạm.

Ngoi mat he

Đầu ngói mặt hề ở Cổ Lũy (Tư Nghĩa). Hiện vật chứng tỏ mối liên hệ giữa khu vực này với thành Luy Lâu ở miền Bắc.

Có thể Châu Sa thiết Chà, tức là chỉ kinh đô của người Chà, người Chiêm hay người Hời. Hoặc Chà = Cha, cũng giống như ở Cổ Loa là thành của vua Chủ, Cổ Lũy của người Hời là thành của vua “Cha”.
Thành Châu Sa là quốc đô của Lâm Ấp, nơi mà Tùy quân Lưu Phương đã chiếm, phá cung thất, thu 18 pho tượng vàng. Vì thế sẽ rất rõ ràng rằng các hiện vật thời kỳ sơ sử ở Quảng Ngãi sẽ rất phong phú, thể hiện đúng một trung tâm văn hóa chính trị ở phương Nam. Trước hết ở đây phải nói đến là khu vực khảo cổ Sa Huỳnh, nền văn hóa đồng đại với văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc Việt. Địa điểm Sa Huỳnh nằm ngay ở phía Nam tỉnh Quảng Ngãi. Cùng niên đại này, ở đây còn phát hiện những chiếc trống đồng Đông Sơn loại Heger I, tức là loại trống to đẹp nhất. Trống đồng phát hiện ở chính Quảng Ngãi chứ không phải ở Quảng Nam, nơi có thành Trà Kiệu. Liên hệ trực tiếp giữa quốc gia thời sơ sử ở đây với miền Bắc Việt rất rõ ràng. Rất có thể chính Sa Huỳnh – Quảng Ngãi là trung tâm của nước Hồ Tôn phía Nam nước Văn Lang trong truyền thuyết.

VUA NAM CHIẾU
Tộc phả họ Phạm tiếp: … Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An, diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).
Theo chính sử thì khởi nghĩa của Phùng Hưng phải sau khởi nghĩa của Mai Thúc Loan tới hơn 60 năm. Nhưng thông tin trong dân gian lại cho biết bố Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh theo Mai Thúc Loan khởi nghĩa. Cháu Phùng Hưng là Phạm Thị Uyển là Mai Hoàng Hậu, đã tử tiết trên sông Tô Lịch khi giữ thành Tống Bình (Hà Nội). Việc tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi cho biết Mai Thúc Loan cùng cha con Phùng Hưng và họ Phạm chống lại quan quân nhà Đường là hoàn toàn có khả năng.
Quan trọng hơn dòng tộc phả ở trên cho biết chính họ Phạm vua Lâm Ấp với kinh đô tại Châu Sa là những người đã theo Mai Thúc Loan và Phùng Hưng chống nhà Đường.
Ở Quảng Ngãi còn có di tích gọi là “Long đầu hý thủy” (đầu rồng giỡn nước). Núi Long Đầu hiện tọa lạc tại xã Sơn Long, Sơn Tịnh (tức là ngay gần thành Châu Sa). Đây là danh thắng thứ 2 của Quảng Ngãi sau “Thiên Ấn niêm hà” (dấu ấn trời đóng), là núi Thiên Ấn bên sông Trà Khúc. Khu vực này do vậy được gọi là miền Ấn – Trà. Ca dao xứ Quảng:

Sông Trà sát núi Long Đầu
Nước kia chảy mãi rồng chầu ngày xưa.

Thắng cảnh núi Long Đầu và Thiên Ấn càng cho thấy nơi đây là nơi “rồng chầu”, “trời giáng ấn”, là quốc đô cổ ở phương Nam.

Long dau

Núi Long Đầu ở cạnh cầu Trà Khúc 1 với miếu thờ thần.

Liên quan đến núi Long Đầu là truyền thuyết về vua Nam Chiếu. Sách Đại Nam nhất thống chí, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, phần viết về núi sông tỉnh Quảng Ngãi, có đoạn: “Núi Đầu Rồng: Tức Long Đầu, ở cách huyện Bình Sơn 31 dặm về phía Nam, hình thế khuất khúc, sống núi từ núi Sâm Hội chạy về nam, đến vực sông Trà Khúc thì dừng, hình như rồng thần hút nước nên gọi tên thế. Trên núi có miếu cổ thờ Long Vân tướng quân; sườn núi có 3 đường đi lên, sâu như giếng. Tương truyền hồi Cao Biền nhà Đường cưỡi diều giấy đến đây yểm đoạn long mạch, hoang đường không tin được. Trong tập “Mười cảnh Quảng Ngãi” có một đề là Long Đầu hý thủy (Đầu rồng vờn nước), tức là núi này”.
Long Vân tướng quân hẳn là Vua Mây họ Phạm và Long chỉ vua, Vân nghĩa là Mây.
Tóm tắt truyền thuyết vua Nam Chiếu trên sông Trà như sau:
Tương truyền vua Nam Chiếu xuất thân từ một gia đình nghèo khó trên bờ sông Trà dưới chân núi Long Đầu. Bà mẹ là nàng Thiệu Khôi đi tắm sông bị một con rái cá lớn hãm hiếp, sinh ra Chiếu. Chiếu ngày thường tụ tập trẻ con chia phe đánh trận. Lũ trẻ chăn trâu tôn Chiếu làm vua. Tiếng đồn vang khắp cả miền Ấn – Trà (núi Ấn – sông Trà)….
Cao Biền sang phương Nam, phát hiện núi Long Đầu có “cửu phúc hồi hoàn” và “hàm rồng sâu thẳm” đã tìm cậu bé Chiếu nhờ bỏ hài cốt của cha mình vào miệng rồng. Nhưng Chiếu đã lặn xuống và thay bằng xương con rái cá, là cha của mình… Từ đó Chiếu mỗi ngày một thông minh vượt bực, tụ họp anh hùng hào kiệt bốn phương, đuổi quân Đường ra khỏi Giao Chỉ…
Cao Biền sau đó biết việc, liền trở về Giao Chỉ, mượn tay nàng Thiệu Khôi trảm long sông Trà Khúc rồi tiến quân đánh Nam Chiếu. Vua Nam Chiếu từ lúc đó không còn chống đỡ quân giặc được nữa, cuối cùng bị Cao Biền bắt và hành hình…

Câu chuyện trên mang đầy màu sắc “phong thủy”, lại ná ná giống sự tích của Đinh Bộ Lĩnh cũng vào thời Đường. Thêm vào đó các sử gia không thể hiểu nổi vì sao ở tận xứ Quảng lại có chuyện về vua Nam Chiếu. Nam Chiếu được cho là bắt nguồn từ vùng Vân Nam dưới thời Đường, cách sông Trà Khúc mấy ngàn cây số… Truyền thuyết liệu chỉ có là truyền thuyết?…
Truyền thuyết Cao Biền trảm long sông Trà Khúc khi liên hệ với tộc phả họ Phạm lại chỉ ra một sự thật: khởi nguồn của Nam Chiếu chính là ở vùng Quảng Ngãi, hay Chiêm Lũy động. Nam Chiếu là thời kỳ phục hưng của nước Lâm Ấp dưới thời Đường. Trước đó khu vực Tây và Nam Giao Chỉ gọi chung là vùng đất Lâm Ấp, xứ Nam Hà gồm 2 châu, hay nước Nam Triệu như trong Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái đã kể.
Mặt khác so sánh 2 câu chuyện cũng cho thấy vua Nam Chiếu ở Trà Khúc là khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng. Chính 2 cuộc khởi nghĩa nối tiếp nhau bắt đầu từ miền Trung Việt này mới làm nên quốc gia Nam Chiếu hùng mạnh thời nhà Đường.
Đoạn cuối của tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi: Thấy xứ Lâm Ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm Ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội của Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn, còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh.

Nha tho ho PhamNhà thờ họ Phạm tại Bình Chương, Bình Sơn, Quảng Ngãi.

Đoạn tộc phả trên cho biết nước Chiêm Thành trong giai đoạn tiếp theo được lập nên do các bộ tộc Dừa và Cau xâm chiếm vùng đất của Lâm Ấp. Như vậy lịch sử miền Trung Bộ đã đổi dòng từ đây, từ một quốc qua của người Nam Á (họ Phạm từ miền Bắc Việt) đã chuyển thành một quốc gia của người nói tiếng Nam Đảo (người Chăm).
Nhà thờ triệu tổ họ Phạm Đàng Trong là Đại thiên lang Phạm Duy Hinh nay vẫn còn tại An Điềm, Bình Chương, Bình Sơn, Quảng Ngãi, cách thành cổ Châu Sa không xa. Câu đối ở nhà thờ họ Phạm khẳng định họ Phạm ở đây có nguồn gốc từ phía Bắc.
萬古矜基源北地
一方立業在南天
Vạn cổ căng cơ nguyên Bắc địa
Nhất phương lập nghiệp tại Nam thiên.

Lịch sử Lâm Ấp – Nam Chiếu khép lại và lắng đọng trong những dòng tộc phả và di tích thành cổ ở đây. Dòng máu rồng từ núi Long Đầu và dấu Thiên Ấn của Ngọc Hoàng trên sông Trà vẫn mãi là những tượng đài thiên nhiên của lịch sử mảnh đất phương Nam này.