Hùng Duệ

Vận suy bĩ cuối đời nhà Hiếu
Hùng Duệ lên xưng hiệu triều Tân
Phục cổ cải chế việc công
Muốn hưng nghiệp nước bội phần khó khăn.
Quốc lực cạn loạn dân nổi dậy
Khắp bắc nam chống lại triều đình
Cờ hồng quyết trận nhục vinh
Đệ tử đạo Giáo hợp thành Xích My.
Lũ giặc cỏ ngụy uy Cao Tổ
Núi Lục Lâm thảo khấu được thời
Lỡ làng vận nước cơ trời
Thương thay Vương Mãn đầu rơi ngai vàng.
Trải mười tám triều Hùng đất nước
Lúc hưng suy thời cuộc bể dâu
Vạn năm đào đỏ sắc màu
Cửu trùng thiên điện cúi đầu kính vua.

Thời nô lệ nước Tấn

Thói man rợ quen thân du mục
Lấy đất đai chia tước phong vương
Bóc lột, vơ vét đủ đường
Xa hoa Vương Khải, Thạch Sùng đua nhau.
Vua ngu độn có đâu như thế
Hỏi ếch kêu Huệ Đế tức cười
Bát vương chi loạn khắp nơi
Đô thành tan nát, người người đói ăn.
Loạn Ngũ Hồ chia phân đất nước
Khổ dân Hoa sống kiếp lầm than
Hết Tiên Ty đến Khiết Đan
Hung Nô, Mông, Tạng bầy đàn cắn nhau.
Nửa đế quốc mở đầu Đông Tấn
Hán dùng Hoa để trị người Hoa
Phỉnh dân quên chuyện nước nhà
Phương Nam yên ổn dĩ hoà mươi năm.
Qua Liêu Tống, Tề, Lương tiếp nối
Thế Hán Hoa thay đổi cán cân
Nam triều truyền tới Bá Trần
Người Bách Việt dành lại phần Hoa Nam.
Dòng Thác Bạt trên miền Hoa Bắc
Học theo Hoa, Tiên tộc tiến nhanh
Cải họ Nguyên, chuyển kinh thành
Nước Ngụy hưng vượng phong thanh Bắc triều.

Vong quốc sử

Vong quốc sử hay chưa Hùng tộc?
Đảo đất trời Nam Bắc đổi ngôi
Mưu gian Lu Tối gạt đời
Đắng cay Hoa Việt, than ôi sơn hà!
Ngã Nam Giao can qua nương trú
Đất Lạc Hồng kẻ sỹ nắm quyền
Tinh hoa, nhân kiệt mọi miền
Về chung đất tổ giữ nền văn minh.
Thằng Mặt Ngựa lĩnh binh bình định
Tổng tiến công chiếm đánh phương Nam
Than đen đổ lẫn đá vàng
Trống đồng thu triệt, ngựa mang đúc về.
Thời Linh Đế xa hoa hủ bại
Lũ hoạn quan gà mái gáy trưa
Mua danh, bán tước, hiếp vua
Triều đình man hãn lộ ra rõ rành.
Quận Cự Lạc tài anh nổi dậy
Quấn khăn vàng Trưng Trắc phất cờ
Vì thơ sách, vì cơ đồ
Vì nghiệp Hùng tộc báo thù một phen.
Sáu nhăm thành Lĩnh Nam quyết chiến
Đàn áp dân Hà Tiến, Tào Lao
Thương ôi đất nhuộm máu đào
Voi rơi nước mắt, sông trào lệ thu!

Lịch sử. Hùng Hoa

Nước Nhĩ Hà dòng Thao cuồn cuộn
Mặt biển Đông dậy sóng xuất rồng
Thay cha nối nghiệp Lạc Long
Triều thứ chín đức Hải Lang hào hùng.
Khởi nhà Hạ Khải vương đoạt định
Tránh giao tranh Bá Ích di cư
Thanh Long – Bạch Hổ từ giờ
Hoa – Di cuộc chiến hơn thua không ngừng.
Nên vương quốc đúc đồng dựng đỉnh
Mở biên thùy bờ cõi chín châu
U – Minh đô đóng hai đầu
Bốn trăm năm lẻ đỏ mầu Hồng Bang.
Ham săn bắn Thái Khang lưu lạc
Bắn mặt trời Hậu Nghệ cứu dân
Hạn hán khô cạn ao đầm
Vua u tối để con dân bần hàn.
Hữu Ngu giúp Thiếu Khang phục Hạ
Thời Trung Hưng khai phá Cối Kê
Xăm mình, lội nước đắp đê
Đất thờ vua Vũ thành quê thành nhà.
Bốn ngàn năm dân Hoa dân Việt
Trang sử vàng bước tiếp người xưa
An ấp còn đó Hoa Lư
Bồng Lai quê Mẹ bây giờ Hạ Long.

Dã sử

Hùng Dương

Kể năm đã vạn năm có lẻ
Vừng hồng soi rạng tỏ nơi nơi
Nước non có lúc đầy vơi
Thay nhau trị mười tám đời Hùng Vương.
Triều thứ nhất Hùng Dương – vua Cả
Đức Phục Hy xuân kỷ ứng hành
Sắc hình là chiếm màu xanh
Đất đai làm chủ Động Đình – biển Đông.
Khởi Dịch học kết thừng làm số
Qui chép thư, long mã chép đồ
Biết ăn, biết mặc ấm no
Đồng bào chung sức, cơ đồ dựng xây.

Hùng Hiển

Triều thứ hai Thần Nông Viêm Đế
Hùng Hiển Vương tổ phụ bức phương
Ánh hồng nối tiếp tình thương
Xuân càng đậm sắc, hạ càng sáng tươi
Trên đồng xanh mồ hôi đổ nặng
Tay gieo trồng dẫu nắng dẫu mưa
Dậy dân làm lúa thu mùa
Vạn năm ơn đó, chuyện xưa vẫn còn.

Hùng Nghị. Hùng Diệp

Qua cái thủa ăn hang ở lỗ
Triều thứ ba Hùng Nghị Thái Khang
Trấn Tây xưng đức Bảo Lang
Quần cư sinh sống Mễ Cương một dòng.
Phương gió lạnh mùa đông Thái Tiết
Triều thứ tư Hùng Diệp Quan Lang
Chặt tre buộc ghép thành hàng
Mảng bè vận chuyển dọc ngang sông hồ.
Tiền lập quốc bốn bề hội đủ
Dấu còn đây đất mẹ dưỡng thành
Bao năm truyền mãi sử xanh
Gian nan thủa mới nên hình nước non.

Khởi nghĩa chống Tần

Thủy Hoàng mất nơi nơi nổi dậy
Các chư hầu muốn lấy đất xưa
Quan Phục Trần Thắng xưng vua
Bên đầm Dạ Trạch đôi mùa giao tranh.
Hận nước cũ Hạng Lương, Hạng Tịch
Đất Cối Kê thiết lập quân binh
Dương Châu thành lũy chiếm nhanh
Tôn Sở Vương cờ nghĩa dành về tay.
Chém rắn trắng oai này Xích Đế
Chốn Mường Đăng khởi nghĩa Lý Bôn
Phong Châu cờ đỏ trống dồn
Bái Công vào trước kinh Tần yên dân.
Cậy sức mạnh đốt cung Hạng Vũ
Tiếm xưng vua Từ Sở Bá Vương
Hưng Suy đối kháng đôi đường
Tranh hùng thắng bại, Ô Giang kết hồi.

Hùng Huy

Đời Hạ Kiệt hoang dâm tàn bạo
Dựng lâu đài cung điện nguy nga
Dân chúng khốn khổ thán ca
“Mặt trời hãy tắt, chúng ta chết cùng!”
Dòng Đế Tiết Thành Thang nuôi chí
Tìm minh quân Y Doãn theo hầu
Mệnh trời chẳng phải đợi lâu
Cửu Di bất phục, rơi đầu hôn quân.
Tam Miêu kể từ lần Thuấn đế
Xuất Nam Giao, nay thế ngất trời
Hạ qua Xuân lại tới nơi
Long Tiên Lang triều thứ mười Hùng Huy.
Trùng trùng điệp uy nghi Ngũ Lĩnh
Đất trung tâm châu chính Kinh Dương
Quốc danh xưng hiệu Việt Thường
Xanh bên dòng nước sông Đường thủa xưa.
Qui tàng Dịch lưng rùa khắc chữ
Giáp cốt văn truyền tự mai sau
Thập can con số nhiệm màu
Mười tám vua nối tiếp nhau trị vì.

Hùng Vĩ

Dòng Trường Giang những khi tác quái
Ngập kinh thành nên phải dời đô
Vương tôn, quí tộc chẳng lo
Bàn Canh cùng với nông nô vượt hà.
Âu xiết kể trải qua gian khó
Thủa ban đầu Hùng Vĩ lập Ân
Kinh Man mở đất an dân
Triều thứ mười một, Thương lần thứ hai.
Phương Nam tiến đã ngoài vạn dặm
Từ Đào Đường nay chiếm Hoàng Hà
Đông Di, Nhung Địch đuổi ra
Trụ vương đô đóng Triều Ca, Lộc Đài.

Thần thoại

Lúc sơ khai chưa phân trời đất
Từ hư vô Bản Cả hiện lên
Múa rìu sáng thế mà nên
Hỗn mang bổ vỡ, thủy nguyên khởi đầu.
Chất nặng đục chìm sâu thành Lạc
Khí nhẹ bay tụ tán thành Hà
Cùng trời cùng đất sinh ra
Đội trời đạp đất chúng ta – Con người.
Lấy lửa trời xua màn đêm giá
Biết nghĩ suy dùng đá thay tay
Tiếng nói xuất hiện từ đây
Tựu Nhân hai chữ mà đầy triệu năm.
Danh Vũ Võng tiếp thời thần thoại
Đất có vua thoát cảnh bầy đàn
Cộng đồng đẽo đá, lưới đan
Xuống sông bắt cá, lên ngàn săn muông.
Dựng cọc tre mà trông bóng nắng
Đế họ Sào đã nắm không, thời
Tre to mọc ở mấy nơi?
Cây nêu còn tục, rõ trời phương Nam.

Hùng Hy. Hùng Thuấn

Nam Giao Chỉ một thời mở cõi
Hùng Hy Vương dòng dõi đế Minh
Đế Nghiêu đất nước thanh bình
Triều thứ sáu quốc hiệu danh Hồng Bàng.
Tiếp ngôi báu Lâm Lang, Hùng Thuấn
Triều thứ bảy đô đóng bản Bồ
Lạc Quốc dựng một cơ đồ
Ghi thời thịnh trị Đường Ngu đời đời
Đền Phong Châu ngút trời hương khói
Chữ vàng in Triệu Tổ Nam Bang
Từ sông Thao đến Châu giang
Dấu người Tày cổ bao ngàn đời nay.