Trải dâu bể năm ngàn năm trước
Bên dòng Chu xanh mướt ruộng đồng
Đọ Sơn, sông Mã ghi công
Khai quốc Hùng Vũ, tổ dòng họ Cơ.
Nước sông Cả tới giờ vẫn chảy
Núi Hang Bua dấu hãy còn in
Họ Hùng lập quốc khai tên
Triều thứ năm đức Hiên Viên đứng đầu.
Trận Trác Lộc dầu dầu sương khói
Kim chỉ Nam dẫn lối đưa đường
Diệt Xuy Vưu chốn xa trường
Thu Cửu Lê cánh đồng Chum Hạ Lào.
Thắng Viêm Đế Đường Đào một giải
Cùng Vụ Tiên Đan Thủy nên duyên
Nước non mãi mãi kết liền
Hưng Bang Viêm Việt còn truyền đại danh.
Xếp vạch quẻ nên hình bát quái
Gói càn khôn trời biển gió mưa
Rồng bay, hạc múa, nai đùa
Hổ chầu, voi phục, sấu, rùa lội bơi.
Thuật cứu người Nội kinh tố vấn
Thấu đạo trời y thuật diệu minh
Âm dương luân chuyển, ngũ hành
Thông kinh, đả mạch tài tình, cao thâm.
Nhớ Hoàng Đế, nhớ ân Lụy Tổ
Dạy con dân canh cửi tằm tang
Dâu xanh, tằm nhả kén vàng
Kéo tơ, dệt lụa, tơ vương tay người.
Phù Đổng Thiên Vương
Tôi nghe kể chuyện Đức Thiên Vương
Ba tuổi nằm không rời khỏi giường
Bỗng chợt nghe loa tìm tướng giỏi
Bật dậy đòi ra chốn chiến trường.
Từ làng Phù Đổng đất Vũ Ninh
Ngựa sắt vung roi buổi xuất chinh
Theo vua Cơ Phát đi diệt Trụ
Lửa hồng chiếu đỏ ánh bình minh.
Trống đồng trước trận tiếng vang ngân
Ngựa Gióng xông pha phá tướng Ân
Roi gẫy, nhổ tre làm vũ khí
Đầu thù quật xuống, giặc tan thân.
Dựng nước có công diệt giặc thù
Hộ quốc nên nghiệp một nhà Chu
Danh chấn Trung Hoa, lừng bốn cõi
Về trời tiếng để mãi ngàn thu.
Chuyện trầu cau
Tôi nghe kể chuyện miếng trầu cau
Tình cảm gia đình mãi đậm màu
Tân, Lang, Lưu thị đều trọn nghĩa
Anh em, chồng vợ chết vì nhau.
Dưới trời cao vút ngọn cây cau
Quấn quít xanh xanh cánh lá trầu
Đá vôi vị nồng từ lòng đất
Trầu nhai cho nước hóa đỏ màu.
Nước đỏ có phải nước Hồng Bang?
Xích Quỷ – Quẻ Ly, đất của Lang
Câu chuyện trầu cau lưu truyền mãi
Ngàn năm têm đậm nghĩa xóm làng
Hùng Ninh
Tiếp nghiệp cha Ninh Vương Cơ Phát
Hội chư hầu chinh phạt Ác Lai
Lên ba Thánh Gióng anh hài
Tung hoành ngựa sắt, khiếp oai giặc thù
Đốt Lộc Đài ù ù lửa khói
Dứt nhà Ân để nối nhà Chu
Bạch kỳ lồng lộng trời thu
Thừa Văn Lang – vua mười ba triều Hùng
Đây đất nước trùng trùng điệp điệp
Bốn phương trời đẹp tuyệt non sông
Văn Lang, Âu Lạc rạng hồng
Vòng quay Hà Lạc trống đồng ngàn năm
Chu hoàng đế tôn Văn, xưng Vũ
Dời Phong Châu, trấn giữ Cảo Kinh
Phân phong an định dân tình
Tề – Tây, Yên – Bắc, Sở – Kinh, Lỗ – Lào
Ngô cùng Việt tiếp giao bờ biển
Tấn với Tần phương cóng xa xăm
Hiếu sinh mở đức nhà Ân
Vũ Canh được giữ đất phần An Huy.
Tam Thúc giám để nguy xã tắc
Chống mệnh trời nghịch tặc kết binh
Chu Công vâng lệnh triều đình
Dẹp quân phản loạn, đắp thành Cổ Loa
Một thể chế Trung Hoa đất nước
Móng Kinh Qui lại được giao truyền
Cao Lỗ, Thục Phán lưu tên
Chu Dịch, Tông Pháp đặt nền văn minh.
Hùng Việt
Kìa một thuở biển đầy sóng gió
Ngọn triều dâng khắp chốn thành sông
Trắng trời nước ngập mênh mông
Cuốn băng nhà cửa ruộng đồng lúa ngô
Cửa Long Môn đắp bờ khơi suối
Nước càng cao, dựng núi càng cao
Vượt bao vất vả gian lao
Dân theo Hùng Việt quản nào thiên tai
Ba dòng tộc chung vai gắng sức
Nghi, Minh, Long nên bức Ba Vì
Sa Pa bãi đá khắc ghi
Liên Sơn dịch phép diệu kỳ ngàn xưa
Biển Đồ Sơn bao mùa vẫn nhắc
Hội chư hầu đủ khắp bốn phương
Nước non nên lúc thịnh cường
Triều thứ tám đức Tản Viên rạng ngời
Còn đâu đó dấu thời mở nước
Vết Phùng Nguyên, Đại Vũ Sơn Tinh
Quốc gia, dân tộc thành hình
Dứt thời sơ sử, chuyển mình vươn cao.
Hùng Tạo
Loạn Quốc Nhân bỏ kinh trốn chạy
Chu Lệ Vương lưu Trại Hòa Bình
Vua tàn bạo, dân điêu linh
“Cộng hòa hành chính” lập thành thay vua.
Lửa Ly Sơn trò đùa tai quái
Mua nụ cười mà hại đến thân
Bao Tự mê hoặc hôn quân
U Vương thác loạn, Khuyển Nhung phá thành.
Thế nước yếu hoàn kinh Cổ Lũy
Chu Bình Vương về lại Phong Châu
Tấn Tần tranh bá chư hầu
Sở, Tề, Tống đổi thay màu Xuân Thu.
Đông Chu nối Tây Chu thiên tử
Triều mười tư Hùng Tạo Quân Lang
Chiến Quốc máu chảy tràng giang
Xương chất thành núi, tiếng than dậy trời.
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.
Rạng rỡ thay một thời cổ sử
Mấy ngàn năm còn tỏ trời Đông
Văn minh đúc mặt trống đồng
Hướng về tiên tổ, nhận dòng anh em.
Hùng Định
Lặng lặng im mà nghe chuyện cũ
Tráo nỏ thần Trọng Thủy bội ân
Quốc Tây cự tráng Chân Đăng
Nhà Chu dứt, nối nhà Tần lập nên.
Diệt sáu nước Đinh Tiên Hoàng đế
Lấy Lạc Dương chia Quế, Tượng, Tam
Xua quân Ngô Việt qui hàng
Chiếm vùng Hà Sáo, vượt sang Hoàng Hà.
Nước Vỹ Thủy chảy ra biển lớn
Đất nhà Tần khắp bốn phương trời
Phân chia quận huyện rạch ròi
Trung Hoa thống nhất vào thời Chân Lang.
Thứ mười lăm triều Hùng Cồ Việt
Xây Trường Thành làm kiệt sức dân
Xa đồng trục, thư đồng văn
Chôn Nho, đốt sách oán ân để đời.
Thơ Đường
Thơ Đường ai biết có từ đâu
Là của Việt Nam hay của Tàu?
Bằng trắc thanh âm reo tựa nhạc
Ngôn vần câu chữ khéo thay nhau
Hồn thơ Đỗ Phủ như còn mãi
Vận nước Lý Uyên trải dãi dầu
Vạn vật xoay vần trong quá khứ
Chén trà nay bữa ngẫm nông sâu.
Nghe kể chuyện xưa
Tôi nghe kể chuyện mấy ngàn năm
Dân Việt cần cù vượt khó khăn
Đắp đập, ngăn đê khi lũ lụt
Khơi sông, tát suối lúc khô cằn
Ghe thuyền ra biển cá tôm bắt
Cung nỏ lên rừng muông thú săn
Đo nắng, ngắm trăng nên lịch pháp
Muôn đời truyền mãi sách kinh văn.
Ai oán Mỵ Châu
Tôi nghe ai oán chuyện Mỵ Châu
Ngọc quí lầm gieo nước đục ngầu
Thân vàng sánh cùng loài lang sói
Nợ nước, tình nhà nỗi nỗi sầu.
Trọng Thủy – Sở Khanh kẻ bất nhân
Lừa dối Triệu Cơ đoạt nỏ thần
Bỏ vợ, đem con trai Triệu Chính
Phản vua, bội ước, dẫn quân Tần.
Lông ngỗng cô chiêu đánh dấu đường
Tấm lòng nhẹ dạ thật đáng thương
Đầu rơi dưới lưỡi gươm oan nghiệt
Máu chảy thành châu đáy đại dương.
Cổ Luỹ còn đâu hỡi Thục Vương?
Bạo tàn giặc chiếm đất Văn Lang
Ngàn năm nghiệp mất Chu thiên tử
Đớn đau này lúc vượt trùng dương.