Tiến sĩ Nguyễn Việt (Trung tâm tiền sử Đông Nam Á) từng khảo sát các chữ viết trên các trống đồng, thạp đồng, bình đồng thời Đông Sơn và có đưa ra nhận định như sau:
“Logic thông thường thì chữ Hán được coi như đã theo chân đoàn quân xâm lược Tần xuống vùng đất phía bắc Giao Châu từ khoảng cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên. Với sự ra đời và tồn tại hơn một thế kỷ của nhà nước Nam Việt, chữ Hán đã chính thức trở thành văn tự chính thống của vùng này, mặc dầu trong một phạm vi rất hạn hẹp của triều đình Nam Việt mà thôi.
Bằng chứng khảo cổ cho thấy ba loại văn tự chữ Hán cùng tồn tại trong phạm vi nước Nam Việt:
1- Minh văn phương hình chuẩn thường thấy ở những đồ lễ khí chính thức của nhà nước Nam Việt hoặc trên những đồ được dâng tặng có nguồn gốc phía bắc,
2- Văn tự thẻ tre mang phong cách văn tự Hán Sở,
3- Minh văn Nam Việt thường thấy trên đồ đồng Đông Sơn bản địa với lối khắc dài, phương hình không chuẩn và sai hoặc thiếu nét.”
Chữ trên trống đồng Trạch Bái (ảnh theo TS Nguyễn Việt)
Chữ viết trên trống đồng thì hiển nhiên người dùng là người Việt bản địa, cho nên đầu tiên phải khẳng định rằng thời Tần người Việt đã có chữ viết.
TS Nguyễn Việt còn phát biểu rằng, theo nghiên cứu khảo cổ thì người Việt khi đó “chưa có nhu cầu dùng chữ viết”. Ở phía Bắc như vùng Lưỡng Quảng thì có thể “đã có nhu cầu” này (???)
Không rõ dựa vào khảo cổ nào mà lại nghĩ ra như vậy? Trong khi ngay sau đó TS. Nguyễn Việt cho biết, Giao Chỉ và Cửu Chân là nơi đông đúc dân cư nhất thời đó với dân số vượt xa ở các quận khác trên đất Lưỡng Quảng sau này. Nơi mật độ dân số lớn thì “không cần chữ viết”, còn nơi vắng người hơn thì lại có? Đây gọi là kết luận của “khảo cổ học thật” hay sao?
Điều lạ là loại chữ này được TS. Nguyễn Việt gọi là chữ “Nam Việt” với hình thức thô sơ hơn thể chữ Triện thời Tần Hán. Thậm chí trong số các chữ đó còn có những chữ ghi theo “lối cổ”:
– “chữ “lục” (sáu) vẫn giữ lối viết cổ”
– “chữ Cửu Chân trên trống Trạch Bái cho thấy một kiểu chữ cổ hơn”.
Tới đây nảy sinh ra vấn đề. Nếu theo quan niệm của TS Nguyễn Việt, loại chữ này mới theo chân quân Tần mà xâm nhập vào đất Việt, thì tại sao lại có những chữ cổ như trên? Cần nhớ rằng Tần Thủy Hoàng đã cho thống nhất văn tự trên toàn quốc, lấy chữ Tiểu triện do Lý Tư tu chỉnh làm “quốc tự”. “Thư đồng văn” được thực hiện trên toàn cõi Trung Hoa. Vậy nếu đội quân Tần đến dạy chữ cho người Nam Việt thì họ phải dạy chữ Tiểu triện, chứ sao lại dùng những chữ cổ hơn của Đại triện Kim văn?
Điều này cho thấy thứ chữ mà TS Nguyễn Việt gọi là chữ Nam Việt ấy thực ra đã tồn tại ở đất Nam Việt từ trước khi Tần xâm lược rất lâu. Người Nam Việt đã dùng thứ chữ này một cách thành thạo và phổ biến trên các đồ vật của họ như trống đồng, thạp đồng. Còn chữ mới mang vào là chữ Tiểu triện như dùng để khắc trên các văn bản bằng thẻ tre và trên ấn tín.
Chữ viết của người Việt thực không cần tìm đâu xa. Nó vốn được ghi rất rõ trên các hiện vật. Chẳng qua chúng ta không chịu nhìn nhận nó là chữ mà người Việt đã dùng trước thời Tần mà thôi. Trước thời Tần trên đất Nam Việt là thời Hùng Vương. Nói cách khác loại chữ Nam Việt ấy là chữ mà các vua Hùng nước Văn Lang đã dùng.
Ai là người Việt đều biết câu chuyện hoàng tử Lang Liêu có hiếu với vua Hùng đã nghĩ ra bánh chưng bánh dày mà được truyền ngôi báu. Cũng là Lang Liêu, vị vua Hùng thứ 7, còn được kể là vị vua đã lên núi Tây Thiên ở dãy Tam Đảo để cầu trời cho gặp tiên và đã gặp được nàng tiên Lăng Thị Tiêu ở đây. Nhưng truyền thuyết này là có thật không, có chứng tích gì để lại tới ngày nay không? Khảo cổ ở nước ta đã từng tìm thấy vết lá bánh chưng trên một chiếc nồi đồng thời Đông Sơn, chứng thực cho chuyện bánh chưng bánh dày. Còn câu chuyện về Lang Liêu gặp tiên nay lại được xác thực bởi một hiện vật khác cùng thời.
Một chiếc mâm đồng 4 chân thời Tây Chu (quãng thế kỷ 10 – 9 TCN) được thấy ở miền Bắc Việt. Dạng mâm này là đồ tế tự, dùng để đựng các vật phẩm hiến tế trong các dịp lễ quan trọng của triều đình. Trong lòng chiếc mâm có đúc chìm một bài minh bằng chữ Kim văn. Nội dung bài minh này có thể được đọc như sau:
Vương vu trẫm Hoàng tổ hầu dĩ thiên mệnh quyết Vạn niên vô quốc dân phối hoàng cao tổ công Thất trung tức u tứ lệnh phương bất dụng điện Vương vĩnh tân ai Mục Vương quyết chính tứ mệnh Tổ tịch khảo, Vương vu trẫm Hoàng á chính Dụng điện hoanh ư hựu thành ư dụng đan vu Khảo giáp khảo ân giao tịch thoát doãn hữu tôn Vương vu hưu thiên tử kỳ vạn niên lặc nãi Hựu thành công tắc duy nãi tiền khảo giáp trường Thiên tử vạn niên nãi các quan thần tử phương.
(Các chữ in nghiêng là chữ đọc còn nghi vấn)
Tạm dịch:
Vua tế cầu cho Hoàng Tổ hầu của ta được mệnh trời vạn năm. Không quốc dân nào phối tế với Hoàng Cao tổ. Công thất là U ban lệnh tế, làm lễ dâng Vua, mãi nhớ tới Mục Vương trị chính, theo mệnh của các vị vua tổ khảo. Vua cầu cho chính sự của Hoàng Á của ta. Dùng lễ tế lớn để được thành, dùng riêng tế các vị tổ khảo Giáp, khảo Ân. Có người cháu Vua làm lễ tế trăng, cầu cho Thiên tử vạn năm thống lĩnh thành công, được lâu dài như vị khảo Giáp trước đây. Thiên tử vạn năm, cùng các quan thần tử vậy./.
Chữ “Mục Vương” trong lòng chiếc mâm đồng thời Tây Chu
Bài minh văn nói về việc vị vua đương thời làm lễ cầu tế các vị vua tổ, các vị tiền vương đời trước (tổ khảo) và cầu chúc cho Thiên tử (vua đương thời) vạn năm với cùng các quan thần. Điểm đặc biệt trong bài văn này là nhắc tới Mục Vương, một vị vua thời Tây Chu.
Chu Mục Vương (chữ Nho: 周穆王; 1027 TCN – 922 TCN) là vị vua thứ 5 của nhà Tây Chu, trị vì từ năm 976 TCN đến năm 922 TCN. Mục Vương từ nhỏ đã rất thích tu luyện phép thuật thành tiên. Lớn lên ông học theo Hoàng Đế ngồi xe ngựa đi thăm thú các danh lam thắng cảnh trên khắp thiên hạ. Vì vậy ông ngồi xe do 8 con ngựa kéo thẳng tới vùng đất của người Nhung ở Tây Bắc (thực ra thì đây là chuyện kể về sự kiện Chu Mục Vương đã Tây chinh đánh dẹp Khuyển Nhung).
Tương truyền, Mục Vương đã đến núi Côn Lôn, phát hiện ra cung điện bằng ngọc của Hoàng Đế. Cũng tại đây, truyền thuyết kể rằng ông đã gặp Tây Vương Mẫu ở Dao Trì, được đãi yến tiệc. Mục Vương uống nước tuyết ngọt trên núi Côn Lôn, ăn cao tương chế từ ngọc thạch, còn có tố liên, táo đen, ngó sen ngọc và rất nhiều tiên quả… Sau đó Chu Mục Vương đã thành tiên thuật, cưỡi mây mà bay về trời.
Chu Mục Vương gặp Tây Vương Mẫu trên núi Côn Lôn (hình lấy từ internet)
Trong truyền thuyết Việt cũng có một câu chuyện tương tự cùng thời. Hung Vương Thánh Tổ ngọc phả đã cho biết núi Côn Lôn, nơi vua tổ Hùng Vương khởi dựng là dải núi ở miền Bắc Việt. Triều Hùng sau thời Thánh Dóng đánh giặc Ân, truyền tới vua Hùng thứ bảy là Hùng Huy Vương. Huy Vương bình sinh ưa thích tiên thuật, trọng chuyện quỷ thần. Bởi ngưỡng mộ thần tiên mà Vua đã đến lên Tam Đảo:
… Liền truyền cho xa giá đi ngắm xem phong cảnh. Xe loan đến nơi, mừng thấy đồi vóc núi gấm, lâu đài lớp lớp toả sáng ngàn tầm, động biếc khe xanh, vạn dòng lặng tung bọt sóng. Cảnh vật tranh sắc, hoa cỏ đua thơm. Đầu ngọn núi nhỏ có ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên dựng trên khoảnh núi địa thế như con rồng trắng bay sà xuống. Vua bèn cho dựng đàn tràng, sửa dọn lễ chay, sai quần thần dâng tiến đứng chầu.
Vua lại đến bên khe Thạch Bàn để xem tiên cảnh. Bỗng thấy trên lầu điện nguy nga khói sương lấp lánh, bốn phía quần hội rồng mây, mông lung đài sen đất Phật hiện lên. Một bầu núi non, đúng là cảnh chốn Bồng Lai. Vua bèn vào chùa Phù Nghi, lập đàn Vọng Tiên, khấn lời cầu nguyện Hoàng Thiên. Rồi Vua truyền gọi triều thần văn võ đến hội chầu, áo mũ nghiêm trang. Vua làm lễ khấn:
– Nguyện Trời cho các vị thần tiên giáng xuống cho được có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong ước ba sinh.
Khấn xong vua lạy tạ. Nhưng sau ba ngày vẫn không thấy bóng dáng của các vị tiên đến. Vua hồi hộp lo lắng, nhưng không biết phải làm thế nào. Vua bèn đến chỗ núi đầu rồng, lập đài Vọng Tiên mà lòng kiên trì cầu khấn. Đêm ấy vua chiêm bao thấy thần linh hiện lên bảo rằng:
Trên Tây Thiên tiên đó/ Không thấy điều mong chờ/ Gặp người nơi Đông Lộ/ Vua sẽ được như mơ.
Bìa cuốn ngọc phả Tây Thiên quốc mẫu được tìm thấy ở đền Hóa Tây Thiên.
Vua nhận được bài thơ thần bốn câu đó xong liền quay giá về. Đến dưới núi thấy một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao đang đứng bên điện Cẩm Miếu xem xa giá nhà vua. Vua thích nhan sắc cô gái ấy, muốn lấy làm vợ. Đến khi về cung, Vua hỏi: – Nhà nàng ở đâu?
Cô gái đáp: – Thiếp là tiên nhân giáng sinh xuống trần ở Đông Lộ làm con của một gia đình trưởng lão. Thiếp đã mấy mùa hoa vịnh sử ngâm kinh, che châu giấu ngọc để đợi bậc anh hùng. Gần đây trộm nghe bệ hạ, dựng đàn tràng muốn cầu tiên tử. Thiếp vì thế dẫu chẳng phải xa xôi cũng đến xem, may duyên trời tiền định cho thiếp được gặp quân vương, xin nguyện phụng hầu nơi màn trướng không phụ nguyện ước ba sinh.
Vua nghe lời kể mới biết là thần tiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Thế là Vua sai quần thần sắm sửa sính lễ, rồi ngự xa giá đến nhà Trưởng ông ở Đông Lộ xin nạp sính lễ. Rồi đó Vua đón hôn trở về thành Phong Đô, lập tiên nương làm hoàng phi chính nhất.
Chưa đầy năm Ngọc Tiêu mang thai, rồi sinh một con trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt. Đến tuổi trưởng thành Vua lập làm Thái tử nối quốc thống, hiệu là Hùng Vĩ Vương.
Về sau, Vua cùng hoàng phi học được tiên thuật, hưởng nước được 200 năm. Vua truyền cho con lên ngôi trị vì. Vua thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt.
Các sự tích ở vùng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) kể chuyện này là Lang Liêu hay Hùng Chiêu Vương đã lên đỉnh Phù Nghi lập Vọng Tiên Đàn cầu trời, rồi gặp và kết duyên với nàng tiên nữ Lăng Thị Tiêu ở chân núi Tây Thiên. Tây Thiên cũng là nơi mà sau này nhiều triều đại đã lên đây tế cáo trời đất, cầu mưa như trong tấm bia ma nhai bên dòng suối Bát Nhã vẫn còn lưu lại.
Bia ma nhai Bát Nhã tuyền ở đỉnh Phù Nghi của khu Tây Thiên
Có thể thấy cốt truyện của chuyện vua Hùng lên núi tế trời gặp Tiên ở Tây Thiên cũng chính là sự kiện về Chu Mục Vương lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu. Mọi chi tiết đều trùng khớp trong 2 chuyện, từ việc một vị vua thời Chu – Lang Liêu lên núi Côn Lôn – Tam Đảo, tế Hoàng Thiên – Hoàng Đế, đến việc gặp Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, rồi vua cùng với tiên phi học thành tiên thuật, hóa sinh bất diệt.
Chiếc mâm đồng dùng đựng đồ hiến tế với bài minh văn cũng có nội dung tương tự về việc một vị vua tế Hoàng thiên và các vị tổ khảo, nhắc tới chuyện của Chu Mục Vương xưa. Đây là một vật chứng cực kỳ quý giá, hiển thực và rất cổ cho mối liên hệ giữa truyền thuyết Việt về Lang Liêu ở Tây Thiên với Chu Mục Vương gặp tiên trong lịch sử.
Bản phụng chép thần tích đền An Trì của xã Yên Phụ
(Dịch từ bản khai năm 1938 của làng Yên Phụ, tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông)
Xưa cháu bốn đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Kinh Dương Vương, tên nước là Xích Quỷ, truyền nước đến đời sau gọi là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thường ở Thủy phủ, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh một bầu trăm trứng, nở ra thành trăm trai. Sau những người con trai này được phân chia ra làm đôi. 50 người con theo cha về biển, chia trị các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ về núi, chia trị trên đồi trong núi. Đại vương vốn là chính phái Hồng Bàng, tông thứ trong Bách Việt. Vương theo cha là trưởng Xích giáp của tộc rồng, tên là Uy Linh Lang. Những người em chia thành 7 bộ, chia thành 7 màu khác nhau. 7 bộ này là Xích giáp (đỏ), Bạch giáp (trắng), Hoàng giáp (vàng), Hắc giáp (đen), Thanh giáp (xanh), Chu giáp (son), Tử giáp (tím).
Vị vương thứ hai tên là Vương Đôi Đại vương. Vị vương thứ ba tên là Vương Ba Đại vương, cũng là trong bộ Xích giáp, cùng theo Đại vương trấn trị hồ Tây, hiển linh ở đất này. Vùng đất này có cảnh trí thanh u, có cây cổ thụ, có sóng hồ, có ao thiêng (xưa có bia tranh chấp ao ở đền cũ phường Yên Hoa, tên là An Trì), có bến sông (tục gọi là ghềnh Bà Hoa). Về sau càng có anh linh to lớn, cứu vật giúp dân, nhiều lần hiển ứng, tôn tăng thêm cấp trật. Trải các triều Đinh, Lê, Lý đến triều Trần Thánh Tông, có hoàng hậu chính cung là Minh Đức, tuổi hoa ngoài 30. Hoàng hậu thường đi cầu đảo ở đền để cầu sinh con, lại rất yêu thích phong cảnh vùng vực Trâu này nên hay đến du ngoạn ở nơi đây.
Bỗng một ngày, khi bà đang ở đó ngủ thiếp đi, nằm mơ thấy một người mặt như ngọc chiếu, môi son đầu vàng, đội mũ mây, thân khoác cẩm bào, tiến lại trước mặt và nói rằng:
– Tôi là Uy Linh Lang, là Vương ở đất này. Nay thấy thánh giá vất vả tới đây, ngày ngày ban ơn sủng, không biết lấy gì báo đáp. Hôm qua nhân lúc tấu lên cung Trời, xin được sắc chỉ của Thượng đế cho xuống cửa trần.
Hoàng hậu chợt tỉnh giấc, bỗng thấy mình có mang thai. Từ đó Hoàng hậu thường đến du ngoạn ở nơi này, lệnh cho hàng năm tổ chức cúng quốc tế, tên gốc là Bắc cung. Qua 14 tháng thì Hoàng hậu sinh ra một bọc trứng. Đó là ngày 2 tháng 2 năm Tân Sửu vào giờ Tỵ. Hoàng hậu cho là điều không lành bèn sai cung nữ âm thầm giấu trong sọt đem vứt ở bên sông dưới 7 cây cổ thụ ở tại địa phận của Nhật Chiêu. Những người qua lại thấy vậy lấy làm lạ nhưng chỉ đứng xa ghé nhìn, không dám lại gần. Sau đó đến khi mặt trời lên được 3 cây sào bỗng nghe thấy tiếng bọc trứng vỡ ra như sấm. Người dân trong làng vội đến xem thì bọc trứng đã nở, để lộ ra một người con trai vương giả nằm ở bên trong sọt, tiếng khóc vang như chuông. Thế là xa gần đều huyên náo, tiếng ồn truyền đến trong cung. Hoàng hậu lấy làm lạ bèn lại sai cung nữ âm thầm ra xem, thấy diện mạo lẫm liệt, khác thường. Cung nữ quay về tuân mệnh tâu lên. Vua cười rằng:
– Xưa nguyên phi họ Cao Tân là Khương Nguyên sinh con là Hậu Tắc mà được chim che chở, cũng là sự lạ thế này.
Bèn lại đem về nuôi dưỡng. 5 tháng biết nói. Tròn năm biết đi lại. Hành xử nằm ngồi như người lớn. Vua và Hoàng hậu vì thế mà coi trọng, thường hay chơi đùa, ngày càng yêu mến.
Đến khi lớn Ngài trở nên thông minh, hiểu nhiều biết rộng. Gần xa mọi người đều xưng là tài cao. Năm 20 tuổi rất thích đi du ngoạn, nhiều lần dâng biểu xin được xuất gia. Vua và Hoàng hậu đều không đồng ý, nên Ngài mới thay đổi quần áo, trốn đến ở Nam Xương (tức nay là Vũ Điện, tỉnh Hà Nam), theo học giáo pháp trong nhà ông Lăng Khang. Mới được vài tháng mà kinh sách của cửa thiền đều đã đọc qua. Nhờ thế mà trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. 9 dòng 3 giáo đều thông. Làm sớ kệ rất giỏi. Các tăng chúng trong sa môn đều cùng phục là vô cùng cao diệu.
Vua và Hoàng hậu nghe thấy thường khen thưởng thêm, nhân đó sai sứ triệu Ngài về, ban cho đất ở vùng Bình Thọ (nay tức là An Thọ), cấp cho lương tháng để làm nơi nhàn tu tĩnh dưỡng.
Sau nhiều năm đến thời Nhân Tông, tướng Nguyên là Toa Đô dẫn quân hơn 40 vạn, thủy bộ cùng tiến, chia thành các đạo vào xâm chiếm. Trong nước nhiễu động. Triều đình khiếp sợ. Một ngày 4-5 trận kinh hãi. Vương mới hưng khởi nói:
– Con người sinh ra trời đất bụi hồng chính yếu phải làm người lỗi lạc, tỏ rõ ý bậc trượng phu, chí tại 4 phương cung nỏ. Không tự dấn mình vào chỗ khó thì sao có thể rạng danh sử sách với đời sau.
Ngài bèn dâng biểu trình bày phương kế, tự xin dấy đội quân vì nghĩa mà dẹp giặc mạnh. Vua thấy chí lớn đó mà đồng ý. Vương từ đó đốc thúc môn hạ, dựng cờ mộ nghĩa, chiêu tập được các binh sĩ tinh nhuệ hơn vạn người. Chia ra thành đội ngũ, luyện tập trận pháp, tự gọi là quân Thiền Tử. Tiến đánh giặc Nguyên, phá giặc ở Bàn Than. Thừa thắng đuổi về Bắc, lại dẹp giặc Nguyên ở sông Đông Mai. Sau lại hội về theo sự điều khiển của Trần Hưng Đạo và Trần Nhật Duật ở doanh trại Vạn Kiếp. Rồi cùng đánh giặc Nguyên ở xã Mạn Trù, lại trừ được trại Đông Kết. Một ngày 8 trận, 8 lần thắng. Chém hơn 3 vạn đầu, bắt sống Hàn Ly Hòa La. Số quân sĩ bị bắt giữ rất đông. Người Nguyên từ đó khiếp sợ, sau không dám tăng binh nữa. Từ ấy trong nước sạch yên, khắp nơi thấy khí tượng thái bình. Vì Ngài có công dẹp giặc Nguyên nên được phong thêm là Dâm Đàm Đại vương, đó là năm 36 tuổi. Vào mùa thu ngày 8 tháng 8 năm Bính Tý giờ Ngọ Ngài không bệnh mà mất. Vua và Hoàng hậu thương nhớ không nguôi, bèn lập miếu thờ ở chỗ đất khi xưa vứt bọc trứng, đặt tên là điện Nhật Chiệu, cũng gọi là điện Linh Bảo. Còn nơi ở tại điếm Bình Thọ cũng lập từ đường để ca ngợi đức sáng của Ngài.
Đến thời Nghệ Tông vì có công ngầm giúp nên lại được gia phong mỹ tự: Dực chính hiểu ứng Phu hưu Đại vương. Những người em cũng được dự vào hàng vinh hiển. Tới nay anh linh ngày càng tỏ rõ, các triều đều có phong tặng. Ngôi đền này tại phường Yên Hoa (sau đổi là xã Yên Phụ) huyện Quảng Đức (sau đổi là Vĩnh Thuận) phủ Phụng Thiên (sau đổi là Hoài Đức).
Bài vị gỗ của ba vị tiền thánh được sơn son phụng thờ. Tượng gỗ một vị hậu thánh cũng được sơn son thờ phụng. Truyền khẩu kể rằng tượng gỗ hậu thánh được thờ cùng tại nơi đình làng, trong xã không được yên ổn. Sau đó dời vào trong chùa Trấn Bắc của xã để thờ phụng tới nay. Việc tạo tượng và dời chỗ thờ có từ xưa, không biết vào năm nào. Đền An Trì nay nhà nước bảo hộ Đông Pháp đã lấy làm trường học Đông Pháp. Đất đó nay thuộc địa giới của phủ Trúc Yên, Hà Thành.
Vâng lược sao các thần sắc của bản xã được các triều đại phong tặng:
Bản cảnh Long cung Đệ nhất Uy Linh Lang Thánh vương…
Cung duy Thánh vương! Hồng Bàng lưu tích, Hùng Thị truyền ban Lược thuật hoàng gia, Kinh Dương Vương kiến quốc Lạc Long Quân kế tục Hùng Thị thập bát thế tương truyền Quốc hiệu Văn Lang. Đô ư Phong Châu cựu thổ Phân quốc vi thập ngũ bộ tương liên Phân minh tằng cấp, Thượng vị hữu quân, Hạ cấp hữu thần, Lạc hầu Lạc tướng Địa phương hữu bồ quan thủ lập Chư di tích cập miếu vũ lưu tồn Nghĩa Cương sơn thượng, Tự cổ hướng lai, Thừa tuân di chúc, Đệ niên tác tịch, Tế tự vi kỳ, Tự ngộ xuân thiên, Nhật phùng sơ nhất, Tử tôn thành khẩn, Lễ vật tu trang, Tượng mã thành hàng, Tinh kỳ chinh cổ, Kính hiến Thánh vương, Nhị nương công chúa, Cập chư tướng vị, Chứng quả lễ nghi, Lai nhật tịch hoàn, Quân thần thượng lộ, Kinh kỳ cựu thổ, Thánh tổ hồi quy, Kim nhật chính kỳ, Dân vi đại lễ, Thánh tổ chứng tri, Độ trì bảo hộ, Nhân nhân trường thọ, Tài phát đinh đa, Nhân khang vật thịnh, Phú quý vinh hoa, Phong đăng hòa cốc, Phong thuận vũ hòa, Sỹ nông công thương, Nhật thiêm phát đạt, Công cán thành danh, Nam thanh nữ tú, An ninh xã tắc, Thiên hạ thái bình, Vạn sự sở cầu, Đắc như ý nguyện, Ngưỡng mông Thánh tổ lượng thiên đăng hải chúc Quảng từ tâm giáng phúc lưu ân Dân nguyện hứa thừa tuân thiên vạn niên bất dịch Thực lại Thánh vương phù trì chi đại huệ dã.
Thắng cảnh Tây Hồ ở Hà Nội được biết với sự tích Long Quân dâng nước diệt con hồ ly chín đuôi, rồi đất sụt mà thành hồ. Bản chất của “Tây Hồ”, hay người Hồ ở phía Tây, đã từng được bàn trong năm trước. Nay sang phía Đông của hồ để tìm xem Long Quân tại hồ Dâm Đàm là chỗ nào.
Những cây gạo ở cung Nhật Chiêu.
Các làng ở phía Đông hồ Tây thờ vị thủy thần Dâm Đàm Đại vương có tên là Uy Đô Linh Lang. Sách Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ kể về đền thờ vị thần này như sau:
Đền Uy Linh Lang Đại vương ở phường Yên Phụ huyện Vĩnh Thuận, phía Bắc hồ Trúc Bạch, dựa lưng vào La Thành, phía trước trông ra sông Nhị. Tương truyền rằng là nơi phụng thờ thủy thần Uy Linh Lang Đại vương. Vương cùng với 6 người em trai chia làm thần ở các vùng Nhật Chiêu, Quảng Bố, Tây Hồ, Yên Phụ. Vào đời Vĩnh Thọ nhà Lê nước sông Nhị xói vào phường Yên Phụ. Quan quân không trị được, bèn cầu đảo nơi thần. Nước lập tức rút đi. Từ đó hàng năm được lấy 30 quan tiền từ thuế của hồ để cúng làm hương lửa phụng thờ.
Về nguồn gốc của thần Uy Linh Lang và 6 người em sách Tây Hồ chí có chuyện Bảy cây gạo của họ Lạc như sau:
Bảy cây gạo ở bờ hồ góc phía Tây Bắc, nay thuộc ở phía ngoài đê của Nhật Chiêu. Lúc bà phu nhân họ Lạc, vợ của vua Diệu Đế, sinh Uy Linh thấy là một bọc có bảy trứng, cho là lạ, bèn vứt đi. Sau đó hóa thành bảy con rồng bay lên trời. Nghe chuyện, phu nhân sai trồng cây ở nới ấy để nhớ. Sắc phong tước vương, tặng thêm hai chữ Uy Linh để thờ. Miếu thờ nay do ấp Tây Hồ phụng sự.
Vua Diệu Đế ở sách này được chú thích là Lạc Long Quân. Như thế Uy Linh Lang và 6 người em là giống rồng từ Lạc Long Quân mà sinh ra.
Cung thờ ba vị thủy thần ở đình Yên Phụ.
Cũng sách Tây Hồ chí cho biết: Đền Uy Linh Vương ở ấp Tây Hồ trên Bãi Rùa. Vương cũng là con của Diệu Đế do bà phi họ Lạc sinh ra, nhưng không trong số phân đi lên rừng xuống nước. Vương khi ấy hóa thành bảy con rồng bay lên trời. Nghe tin, vua sắc phong vương, ban thêm mỹ tự để thờ. Ngôi đền này là ngôi đền cổ nhất, thứ là đền Yên Phụ, thứ nữa là đền Quảng Bố.
Đình Yên Phụ.
Ngày nay, vị thần Uy Linh Lang được thờ ở đình An Trì bên bờ Bắc hồ Trúc Bạch, đình Yên Phụ là gò Rùa của Hồ Tây và đình Nhật Tân, xưa là điện Nhật Chiêu, gần chỗ 7 cây gạo nơi mà 7 con rồng đã bay lên trời. Thần tích Uy Linh Lang ở các ngôi đền này kể:
Vương vốn là chính phái họ Hồng Bàng, là thứ tông của Bách Việt. Xưa Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra một trăm người con trai. Mỗi người chia một nửa, làm riêng hai nhà lên núi xuống nước mà cai quản mỗi phương, quyền chưởng muôn dân. Đại vương là giống giao long, là trưởng của Xích Giáp, hiệu là Uy Linh Lang, cùng với 6 người được nhận phong ở đó là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp. Về sau anh linh ngày càng hiển hách, giúp vật hộ dân, nhiều lần hiển ứng, tôn thêm long trật…Sau này, vì có công dẹp giặc Nguyên, ông được gia phong làm Dâm Đàm Đại vương.
Tiền tế đình Nhật Tân.
7 vị thủy thần được thờ đầy đủ tại điện Nhật Chiêu, tức đình Nhật Tân ngày nay, tương truyền là nơi bọc trứng nở thành 7 con rồng mà bay lên trời trên bãi sông Hồng. Cái tên Nhật Chiêu cũng xuất phát từ đó, khi bọc trứng bị vứt bên bãi sông, đến đêm nghe tiếng vang và ánh sáng chiếu rọi. Còn nơi nhà của Uy Linh Lang là khu vực phường Yên Hoa xưa, nay tách thành 2 nơi thờ gồm đình Yên Phụ ở bãi Rùa hồ Tây, đình An Trì (hay đình Yên Hoa) ở hồ Trúc Bạch.
Chồng kiệu 7 vị rồng và hoàng hậu Minh Đức trên sân đình Nhật Tân.
Cho dù thần tích kể chuyện Uy Linh Lang giáng thế làm hoàng tử nhà Trần và có công chống giặc Nguyên Mông nhưng sự thực ta biết thời Trần không hề có vị hoàng tử nào như thế. Đây là tích cũ kể lại, bị ghép với triều các vua Trần.
Nguyên bản, Uy Linh Lang là thời Hồng Bàng mở nước. “Vương là thứ tông trong Bách Việt” có nghĩa là dòng rồng theo cha xuống biển, được gọi là các Linh Lang, hay “thủy thượng linh thần”, Thủy tinh. Đặc biệt thông tin “Vương là trưởng tộc Xích Giáp” có thể phân tích như sau. Giáp là can đầu tiên trong thập can nên Giáp có thể hiểu là người đứng đầu, hay thủ lĩnh. Trưởng Xích Giáp nghĩa là vị quân trưởng của phương Xích, tức là phương màu Đỏ, phía Nam ngày nay.
Xích phương còn được thể hiện qua hình ảnh Hoa Đào rực rỡ, là “đặc sản” vùng đất Nhật Chiêu (Nhật Tân). Hoa – hỏa, Đào là màu đỏ. Thì ra vùng Nhật Tân trồng hoa đào là để tưởng nhớ tới vị trưởng Xích Giáp Uy Linh Lang từ thời Hồng Bàng.
Hoa Đào Nhật Tân
Đào Hoa trang cũng là vùng đất được nói tới trong sự tích vua cha Bát Hải Động Đình ở đất Đào Động Thái Bình. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả thì cho biết, Lạc Long Quân hóa tiên về biển làm Động Đình Đế quân, vua cha của Thủy phủ. Cho nên Lạc Long Quân chính là Thủy Tinh Động Đình của truyền thuyết Việt. Đào Hoa trang không gì khác, là chỉ Hoa Hạ, triều đại lịch sử lập quốc ở phương nóng bức, rực ánh mặt trời. Lạc Long Quân là vị vua khởi đầu nhà Hạ ở vùng ven biển Động Đình.
Cụm từ “Uy Linh Động Đình” còn gặp trong sự tích của Động Đình Thánh mẫu và các vị thủy quan ở đình La Phù tại bãi Trường Sa bên bờ sông Đà. Từ thông tin trên có thể xác định Uy Linh Lang chính là Lạc Long Quân. 6 hay 7 vị “Giáp” anh em hóa rồng là các vị Tôn quan trong công đồng Thoải phủ.
Bà mẹ của Uy Linh Lang và các vị thủy thần là bà Lạc phi, hay hoàng hậu Minh Đức cũng chính là Thủy Tinh Thánh mẫu Xích Lân Long Nữ. Đền thờ bà là đền An Thọ nằm trên con đường giữa 2 hồ Trúc Bạch và hồ Tây. Đền này nay trở thành điểm thờ của đạo Mẫu, đưa Hàn Sơn Thánh mẫu, tức Mẫu Thoải, làm chúa bản đền.
Cung thờ mẫu đền An Thọ
Hồ Dâm Đàm của thời điểm 4.000 năm trước chắc chắn là một vùng nước mênh mông không bờ (nghĩa của từ Dâm Đàm 霪覃). Rất có thể đây chính là Thủy quốc Động Đình hay hồ Động Đình được nói tới trong cổ sử, là nơi Kinh Dương Vương gặp Thần Long nữ mà sinh ra Lạc Long Quân. Tây Hồ chí kể thành chuyện bà Lạc phi vợ của vua Diệu Đế sinh ra Uy Linh Lang và 6 vị thủy thần.
Ven hồ Tây còn có một số truyền tích nói tới hồ Động Đình. Ví dụ như một trong những vị thủy thần thờ ở làng Nghi Tàm có tên là Động Đình Vương ở thời Hùng Vương. Tây Hồ chí kể vị Vương này đã đắp đê trị lũ lụt, rồi đến bến Lâm Ấp (khu vực ven hồ Tây) hương Long Đỗ thảo hịch ném xuống nước để thần phục thủy quái, thuồng luồng. Vương nói: Đầm này là lầu rồng của Thủy quốc.
Nội điện đình Nghi Tàm.
Cụ thể hơn nữa, sách Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ có chép về một ngôi miếu mang tên miếu Lạc Long:
Miếu Lạc Long nằm ở cách cửa Bắc của kinh thành chính hướng bên ngoài 1 dặm, thuộc vùng ven bờ hồ Trúc Bạch tại thôn Yên Ninh, huyện Vĩnh Thuận. Thời Ngoại kỷ, Lạc Long Quân thường ở Thủy cung, đi chơi hồ Động Đình gặp Âu Cơ mà cưới làm vợ, sinh ra trăm trai. Một hôm Long Quân nói với nàng Âu rằng:
– Ta là vua rồng, nàng là tiên nữ. Nước lửa tương khắc, khó thể ở lâu.
Bèn phân 50 người con theo cha về biển, 50 người con theo mẹ lên núi, để con trưởng Hùng Vương lên ngôi vua. Nay miếu ở trên hồ Trúc Bạch chính là kinh đô xưa của Long Quân vậy.
Bùi Thúc Khiêm có thơ vịnh rằng:
Lạc Long bách tử thế thư truyện Bán nhập sơn cư bán hải cư Cổ miếu ánh lâm hồ thượng vọng Mang mang vân ải thuỷ long khư.
Dịch:
Lạc Long sách kể truyền trăm trai Nửa nhập núi cao, nửa biển dài Miếu cổ bên hồ soi bóng ngóng Gò Rồng khói nước bốc mây bay.
Ghi chép trên thật quá đầy đủ. Lạc Long Quân sống ở “thủy quốc”, tức là vùng hồ Dâm Đàm, đi chơi ở “hồ Động Đình”, tức là đi chơi tại hồ Tây. Đặc biệt nhất là chuyện này khẳng định khu vực hồ Trúc Bạch là “kinh đô xưa của Long Quân”.
Vùng phía Bắc và Đông hồ Trúc Bạch được gọi là gò Hồi Long (gò rồng). Ở đây nay còn ngôi đền “Bát Hải vọng từ” – đền nhìn ra biển Bát, thờ đức Vua Cha. Đền này xưa ở bên bờ hồ Trúc Bạch, nay chuyển về đầu dốc Hàng Than. Đây chính là miếu Lạc Long được nói đến trong sách trên.
Vùng “kinh đô của Long Quân” phía Bắc hồ Trúc Bạch xưa là phường Yên Hoa, nay còn dấu tích tại đình Yên Hoa (đình An Trì), là nơi ngụ cư (ấp phong) của Uy Linh Lang Đại vương theo thần tích. Vị thần này có chỗ gọi đầy đủ là Uy Đô Linh Lang, với chữ Đô chỉ kinh đô. Chữ “trì” trong An Trì là chỉ “thành trì”, tương tự tên Việt Trì nghĩa là thành Việt, chứ không phải ao Việt. An Trì nghĩa là thành An hay An đô.
Đình An Trì (Yên Hoa).
Trong các tên gọi liên quan đến Uy Linh Lang và ven hồ Tây rất hay gặp các từ An – Yên, như Yên Phụ, An Trì, An Thọ, Yên Thái… Thông tin về kinh đô của Long Quân đã giúp giải nghĩa từ này. Bởi vì kinh đô của vua Khải, vị vua đầu nhà Hạ, chính là An Ấp. An – Ơn là số 2. Trong Hà thư số 2 cùng với số 7 là cặp số chỉ hướng Xích đạo (hướng Nam nay). An – Hoa – Đào – Xích – Hạ đều cùng một nghĩa chỉ phương Nam nay, vùng nóng bức, mùa hè.
Bia thời Lê Vĩnh Hựu ở đình An Trì ghi địa danh Yên Hoa phường.
Thì ra An Ấp, kinh đô đầu tiên của nhà Hạ được cổ sử Trung Hoa ghi nhận, chính là kinh đô rồng ở vùng giữa hồ Dâm Đàm và sông Nhị. Rồng bay lên (Thăng Long) trên sông Nhị là hình ảnh khởi đầu của vương triều Hạ từ Uy Linh Lang – Lạc Long Quân. “Thất long” tức là Rồng của triều Hạ (số 7 chỉ hướng Xích đạo như từ mùa Hạ) đã “thăng thiên” ở bãi Nhật Chiêu. Đất Thăng Long quả đúng là Long Đô (bị đọc trệch thành Long Đỗ) – kinh đô rồng từ 4.000 năm trước.
Sông Hồng nhìn từ Nhật Tân.
Đôi câu đối ở nghi môn đình Nhật Tân:
Biểu trụ tiếp thiên, Tây Hồ linh tích, danh xưng văn vật địa Hoàng thành cận lộ, Nhật Tân đào bích, diệu chiêu thái bình thiên.
Dịch:
Trụ biểu nối trời, Hồ Tây tích thiêng, xưng danh đất văn vật Thành rồng gần chốn, Nhật Tân đào bích, rực ánh cảnh thái bình.
Thăng Long: những điểm thờ Uy Linh Lang và các vị thủy thần hồ Dâm Đàm.
Cung duy Thánh vương Xuân tiết ôn hòa, vũ tình phong chỉ Nhân dân hoan hỉ, khai tịch lạc du Xương ca khiêu vũ, đấu lực thảo kỳ Đấu kê đấu võ, xạ nỗ xạ cung Cạnh tẩu đoạt kỳ, phóng chư khu trục Đối ca đối thoại, đấu sắc đấu tài Chinh cổ hòa âm, khôi hài bách nghệ Toàn dân hoan hỉ, tiến lễ nghinh xuân Vương tổ ân cần, phủ yên dân chúng.
Tục truyền viết Ngã quốc tổ tiên, nhất bào bách noãn Bách nam giai mãn, phụ mẫu tương quân Ngũ thập quy hải, ngũ thập quy sơn Lưỡng cảnh biệt ly, diệc đồng chủng tộc Ngã quốc toàn dân, đồng miêu duệ dã Hồng Bàng thủ nghiệp, nhị thiên dư niên Hương hỏa di truyền, tử tôn ký ức Miếu vũ thượng tồn, sơn hà vĩnh tại Lưu truyền vạn đaiị, Thánh tổ công ân Đoàn kết toàn dân, thủ hệ đồng bào Quý tiện phú bần, cập chư dân tộc Bách nhân nhất nhất, tiên tiến hậu tuần Nhất tâm nhất chí, thiết thạch nan dao Toàn nghĩa toàn tình, thánh thần chứng chiếu Thánh vương thượng đại, tận độ tâm thành Toàn đạo vi dân, vạn niên kế tục.
Cung duy Thánh vương Thiên khai địa tịch, sơ khải Viêm bang Thiên thư định phận, cương giới phân minh Trung giới dương quan, Nhân hoàng kế trị Định quốc an dân, trần kinh lập kỷ Định cấp quân thần, nghiêm minh trật tự Ban hành dân sự, luật lệ kỷ cương Khai hóa văn chương, giáo dân tác thực Sỹ nông công thương, chư nghề phát đạt Cần mẫn thần hôn, đồng điền cập vụ Mỗi nhất thốn thổ, vi nhất thốn kim Hòa mục hương lân, hợp quần ái quốc Nhân tài thịnh vượng, tất tựu phú cường Thánh tổ chỉ truyền, vạn niên bất hủ. Thực lại Thánh vương độ trì chi đại đức dã. (Bài văn tế của đình làng Trẹo, trưởng tạo lệ của đền Hùng ở Nghĩa Lĩnh)
Hồi I Lễ dối trời Duệ Vương hết số Vì sinh linh Thục Chủ khởi binh.
Lạc Long Quân chia 50 người con xuống khai phá miền ven biển Đông, vượt qua nhiều sông núi mà khai mở phương Nam xưa (phương Bắc nay). Long Quân truyền ngôi qua nhiều đời, đến Hùng Duệ Vương có tên là Đế Tân, đóng đô ở An Huy. Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, nhưng lại ham mê tửu sắc, bất kính với thiên địa, dâng lễ dối trời, sủng ái vu nữ Đát Kỷ. Trời và người cùng phẫn nộ, dẫn đến tai họa giáng xuống, vận nước cáo chung.
Bộ chủ Ai Lao – Ba Thục lúc này Tây Bá Hầu Cơ Xương, nổi lên là một người nhân nghĩa đại đức, thu phục nhân tâm. Thục chủ Cơ Xương tinh thông Dịch lý, hiểu lẽ trời đạo người. Bị Đế Tân chèn ép, Thục chủ buộc phải phát động binh đao. Nhưng để giữ lễ với Hùng Vương, Cơ Xương đầu tiên dẫn quân tiến đánh vùng đất Lạc của Sùng Hầu Hổ. Quân Thục từ Ai Lao kéo vào đất Hưng Hóa đến châu Quỳnh Nhai. Đất nước của Hùng Duệ Vương rúng động.
Người đứng đầu vùng đất Lạc khi đó là Bắc Bá Hầu Sùng Lãm, là dòng dõi quý tộc triều Hùng từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, nên cũng gọi là Lạc hầu Nguyễn Tuấn. Cuộc chiến giữa Ai Lao bộ chủ Cơ Xương và Lạc hầu Nguyễn Tuấn diễn ra rất ác liệt. Trong lần đầu Nguyễn Tuấn phục kích đánh bại được quân Thục ở Mộc Châu. Khải hoàn trở về, tấu cáo Đế Tân.
Nha chương văn hóa Phùng Nguyên ở Phú Thọ.
Vài năm sau, Bá Thục lại kêu gọi các chư hầu tập hợp được hơn 50 vạn quân. Cơ Xương chia quân thành 5 đạo, thủy bộ tịnh tiến, đánh chiếm đất Sùng. Với thế quân mạnh và nâng cao ngọn cờ nhân nghĩa, cuối cùng Sùng hầu Nguyễn Tuấn đã chịu thua, nhường lại đất Lạc cho Thục chủ.
Thục chủ Cơ Xương thu nhận được đất tổ Hùng Vương, đã cho dời kinh đô từ Ai Lao về Phong Châu, xây dựng thành Việt Trì, lên núi Thái Sơn Nghĩa Lĩnh lập điện Kính Thiên, đăng đàn tế cáo trời đất, lập cột đá thề trung thành với quốc tổ họ Hùng, cứu dân giúp nước…
Hồi II Bến Việt Trì Thái Công câu cá Núi Vệ Linh Thánh Gióng phong thần.
Thục Vương Cơ Xương là người ở vùng đất Âu, đánh bại Lạc hầu Sùng Lãm, dời đô từ đất Âu về đất Lạc, dựng nước Âu Lạc, lập kinh thành Phong Châu. Sử Việt gọi Cơ Xương là Âu Cơ. Mặc dù Âu Cơ Xương đã chiếm được 2 vùng Tây và Bắc (Nam nay) của thiên hạ, nhưng đe dọa từ Hùng Duệ Vương Đế Tân vẫn không ngừng tăng lên. Lo lắng trước vận nước khó khăn, một hôm Âu Cơ đi dạo ngoài thành Phong Châu, cạnh chùa Hoa Long ở bến Việt Trì. Chợt thấy một lão ông tuổi ngoài 80, cầm một cây cần trúc đứng trên bàn thạch bên bến sông Việt Trì, dáng vẻ ung dung, có cốt cách của thần tiên. Âu Cơ lấy làm lạ tiến đến hỏi chuyện, thì thấy quả đúng đây là người hiền tài hiếm có, có thể phò tá gây dựng vương nghiệp thiên thu. Cơ Xương bèn phong cho ông lão làm Thái Công, giao phó hết trọng trách trong nước cho Lã Vọng.Một ngày đẹp trời Cơ Xương về bên đất Hiền Lương ở Hạ Hòa, Phú Thọ mà hóa về trời. Con trai Cơ Xương là Cơ Phát hay Thục Phán lên nối tiếp sự nghiệp, tôn phong cho cha mình là Văn Lang (Văn Vương). Lập đền thờ ở xã Hiền Lương (Hiền vương), ngàn năm hương hỏa không cùng.
Đền Sóc: Phù Đổng Thiên vương, Nữ Oa Bộ thiên, Na Tra Thiên tử, Tì Sa Môn Thiên vương, Vu Điền Quốc vương, Tả Lực sĩ, Hữu Tinh binh.
Khương Thái Công được sự cầu hiền của Văn Vương, dốc lòng phò trợ Cơ Phát, phát loa gọi khắp bốn phương tám hướng, chiêu hiền tuyển tướng, kết tập chư hầu, hẹn ngày phạt Trụ. Sứ giả đi đến làng Phù Đổng ở Vũ Ninh thì gặp được thiên thần giáng thế trong một cậu bé 3 tuổi làng Gióng, vươn vai phút chốc đã thành một đại tướng. Thái Công lấy Na Tra làm tướng tiên phong, gấp rút chuẩn bị quân đội đối phó với giặc Ân.
Lúc này Đế Tân sai Văn Thái sư với danh hiệu là Thạch Linh Thần tướng dẫn quân Bắc chinh (Nam nay). Thạch Linh kéo quân tới vùng núi Châu Sơn ở Vũ Ninh, đại chiến với Thánh Gióng dưới chân núi. Lửa cháy rực trời, khói bụi tung mù mịt. Na Tra nhổ tre đằng ngà quét sạch quân Ân. Thạch Linh Thần tướng tử trận ở vùng Yên Vệ.
“Ngựa đá” miếu Ân Vương trên núi Châu.
Tiêu diệt được cánh quân chủ lực của Đế Tân, Thục Phán cùng Khương Thái Công giao hẹn chư hầu cùng phát binh đến cánh đồng Mục Dã, quyết một trận sống mái với Duệ Vương. Đế Tân thất thế, nổi lửa thiêu Lộc Đài rồi tự mình nhảy vào lửa tự vẫn.
Cơ Phát làm chủ được thiên hạ họ Hùng, xưng là Võ Vương. Sử Việt gọi là Hùng Quốc Vương, người con đã theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, đóng đô Phong Châu. Hùng Quốc Vương lên ngôi Thiên tử, phân phong cho các họ tộc làm chư hầu bình phong phên dậu ở trăm nơi đầu núi góc biển, được quyền thế tập cha truyền con nối, đặt ra trăm họ, định ra lễ nhạc trăm quan. Thiên hạ họ Hùng chưa bao giờ lại rộng lớn như thế này, Đông giáp biển Thái Bình Dương, Tây qua Đại Thực, Bắc quá Hoàng Hà, Nam tới vịnh Thái Lan.
Để tưởng nhớ các tướng sĩ của cả 2 bên hy sinh trong cuộc chiến Hùng – Thục, Thái Công Thánh Gióng về lại đất Lạc, lập đàn tế ở núi Vệ Linh, xướng bảng phong thần cho những anh hùng liệt sĩ. Hùng Duệ Vương vốn là thiên tử của tiền triều nên được tôn làm vua Địa phủ, lập đền thờ trên núi Châu Sơn. Tiên phong Na Tra làm thần núi Sóc Sơn, hộ trì đất nước.
Cự thạch, tế đàn ở chân núi Sóc.
Lời ca của phường Ải Lao trong ngày hội Gióng: Nhớ xưa đương thủa triều Hùng Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa Trời thương Bách Việt sơn hà Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài Lên ba đương tuổi anh hài Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền Một phen khói lửa dẹp yên Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời…
Hồi III Trăm anh em phân bình thiên hạ Một Dịch kinh đúc kết trống đồng.
Sau cuộc Phong thần ở núi Vệ Linh, Thái Công Vọng trở về đất phong của mình là nước Tề, ở vùng ven biển Hồ. Cơ Phát lên ngôi xưng Thiên tử và dời lại kinh đô về đất Cảo ở Ai Lao (Âu – Vân Nam). Đất Âu với Cảo kinh là vùng phía Tây Văn Lang. Đất Lạc trở thành vùng đất phía Đông của nước Văn Lang.Các đại công thần lập quốc khác cùng đều được phân phong tương ứng theo công trạng. 2 đại thần lớn nhất lúc này là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích.
Chu Công Đán là một trong những người em của Hùng Quốc Vương Cơ Phát. Ông được phong ở đất Lào (Lỗ) nhưng không về nước mà ở lại triều đình. Võ Vương mất, con trai lên ngôi là Chu Thành Vương, thì Cơ Đán được giữ chức Thái bảo, còn gọi là Lỗ quốc Thái sư, tức thần Cao Lỗ.
Cao Lỗ dùng chiếc “móng rùa” Dịch lý mà chế thành trấn bảo của nước Văn Lang là trống đồng. Ông là người đã phát triển Dịch học từ thời Lang Liêu Văn Vương, đặt ra các lời hào cho 64 quẻ của Kinh Dịch.Lỗ quốc lúc này bao gồm vùng đất hai bên bờ sông Mã, mà trung tâm của nó là vùng Thanh Hóa. Cao Lỗ được thờ ở đây dưới tên Đồng Cổ Sơn thần, nghĩa là vị thần tổ trống đồng (Sơn = tổ). Vùng đất trống đồng Đông Sơn chính là nước Lỗ của Chu Công.
Thời Thành Vương, có loạn giặc Vĩnh Trinh, là hậu duệ của Hùng Duệ Vương nổi lên. Cao Lỗ cất quân dẹp phản loạn, được gọi là Linh Lang đại vương. Đám quý tộc của Kinh triều trước đây được đem về an trí tại miền đất Lạc. Linh Lang đại vương là vị quân chủ đầu tiên gây dựng Lạc ấp nước Văn Lang.
Đại công thần tiếp theo là Thiệu Công Thích, được phong ở đất Yên. Nước Yên nay ở quãng miền Trung Việt. Cũng như Chu Công Đán, Cơ Thích ở lại trong triều phụ giúp Chu Thành Vương, dẹp phản loạn. Ông làm đến chức Thái phó trong Thục triều. Nói về ông có điển tích cây “Cam đường bất phạt” lấy từ Kinh Thư thiên Thiệu Cáo, khi Thiệu Công dùng đạo trời khuyên vua hãy nhân từ mà tha cho dân đất Lạc (tức hậu duệ của Hùng Vương được an trí tại đây).
Tế lễ thời Hùng Vương
Người anh em khác trong bọc trăm trứng của Hùng Quốc Vương là Cơ Cao. Khi Hùng Quốc Vương phạt Đế Tân, Cơ Cao cầm búa nhỏ, Cơ Đán cầm búa lớn đi hộ vệ. Sau này Cơ Cao tiếp quản việc cai trị ở Lạc Ấp và có công ổn định được đám ngoan dân tại đây. Vì thế nên ông được phong là Tất Công (tất trong hoàn tất, lấy ý của thiên Tất Mệnh trong Kinh Thư). Cơ Cao là tổ của Phan tộc, đất phong ở Phù Nam. Ngày nay ông được thờ ở vùng Thị Cấm Xuân Canh tại Hà Nội với tên Phan Tây Nhạc.
Trăm anh em của cùng một mẹ Âu Cơ đã chia nhau nơi đầu núi góc biển, an định Thiên hạ, đồng tôn Hùng Quốc Vương là Thiên tử. Chế độ phong kiến thị tộc phân quyền chính thức được khởi đầu. Các dòng họ người Việt cũng bắt đầu từ đó.
Trống đồng Hưng Yên
Thời kỳ này còn có chuyện Chu Mục Vương cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn tìm cung điện của Hoàng Đế và gặp được Tây Vương Mẫu. Đó là chuyện Lang Liêu cầu tiên ở núi Tam Đảo và kết duyên với nàng Lăng Thị Tiêu, thần núi ở Tây Thiên.Nếp gấp phân phong, lễ nhạc của nước Văn Lang đã định hình văn hóa xã hội Việt, mãi đi vào chính sử nước nhà với tên Văn Lang – Âu Lạc của các vị vua Hùng, vua Thục.
Hồi IV Khuyên bạo quân Huyền Thiên cầu Thất Diệu Cứu nhân thế Khổng Tử soạn thư kinh.
Từ khi Khương Thái Công câu cá bên bến Việt Trì, Thục Phán dời đô về Cảo kinh đất Âu, Thục triều trải qua mấy trăm năm, truyền đến đời Chu U Vương. U Vương bản tính quái dị, sủng ái người đẹp Bao Tự. Để mua tiếng cười của mỹ nhân, U Vương đã cho nổi lửa Ly Sơn, kinh động các nước chư hầu anh em mà làm trò vui. Đánh mất đạo trời, không bao lâu sau Cảo kinh bị Khuyển Nhung tấn công. U Vương phải bỏ kinh thành mà chạy trốn. Hùng Tạo Vương nối ngôi buộc phải dời kinh đô về đất Lạc. Từ đó, thế vận nhà Thục đã suy, chư hầu tự nổi lên xưng hùng xưng bá thiên hạ. Huyền Thiên Trấn Vũ vốn là một thầy cúng, quê ở đất Kim Bảng (Hà Nam), làm quan thủ thư của nhà Thục ở Lạc Ấp. Trước cảnh U Vương bạo ngược, lại thêm khi dời đô vùng Tam Giang gặp cảnh động đất liên tục. Thành Lạc Dương cứ xây lại đổ. Huyền Thiên nhân đó bèn lập đàn trên núi Võ Đang ở Cổ Loa, tế cầu trời đất.
Tượng Lão Tử ở chùa Bổ Đà.
Trên núi Thất Diệu, sau khi đăng đàn tế lễ, Thục An Dương Vương đã đào được các chiêng trống, xương cốt cổ, vốn là di tích của cuộc chiến Hùng – Thục dưới thời Vũ Vương và Thánh Gióng diệt Trụ. Huyền Thiên Lão Tử dựa vào đó đã bày chuyện yêu quỷ Ma Lôi, là hậu duệ của Hùng Duệ Vương phá hại, nhằm mục đích khuyên răn Thục U Vương. Huyền Thiên Lão Tử còn giảng đạo ở Lạc Dương. Trước khi ra đi, ngài đã ghi những điểm cốt yếu trong học thuyết của mình trong cuốn Đạo Đức kinh và để lại cho quan lệnh doãn Kim Quy làm báu vật thấu suốt nhân gian. Học thuyết “móng rùa” của tiên nhân Huyền Thiên truyền lại cho Thục An Dương Vương, góp phần củng cố Thục triều kéo dài thêm hơn 400 năm nữa.
Câu đối ở đình Thổ Hà: Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.
Tượng Khổng Tử ở chùa Bổ Đà.
Nối tiếp tư tưởng Đại Đạo của Lão tử, một triết gia khác đến từ nước Lào là tên là Trọng Ni. Ông đi bôn ba khắp các nước chư hầu để giảng về Lễ, nhưng không được trọng dụng. Cuối cùng ông quay về quê hương bên sông Mã, mở trường thu nhận đệ tử, soạn kinh san định lại lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, âm nhạc của thời Văn Lang, viết bằng chữ Khoa đẩu. Điển chế lễ nhạc từ Cao Lỗ Vương, Kinh Dịch âm dương bánh chưng bánh dày từ Lang Liêu, lịch sử xuân thu chép đến đời Lỗ Ai Công thì dừng bút, phong dao của những bậc tiền hiền như Chu Công, Thiệu Công cùng với lời hay ý đẹp trong dân gian đã được Khổng Tử biên chép, tuyển soạn. Nền tảng của Đạo Nho được xây dựng, đúc kết tinh hoa văn hóa Hùng Thục từ quốc tổ Hùng Vương mà truyền cho vạn thế.
Hồi V Đánh Tây Âu bắt Dịch Hu Tống Rể Lạc Ấp diệt quốc Đông Chu.
Thiên hạ của nhà Thục khởi từ Thục chủ Âu Cơ, lập bởi Thục Phán Hùng Quốc Vương, chia đất nước làm 15 bộ, phân trăm anh em cùng bọc đồng bào ra trấn giữ trăm nơi đầu núi góc biển làm phiên dậu bình phong, quan lang thổ tù phụ đạo, phò trợ Thiên tử giữ một Thiên hạ an bình. Nước Văn Lang trải qua thời kỳ Tây Thục đô đóng ở đất Âu- Ai Lao, Đông Thục xây thành tại Lạc ấp. Huyền Thiên Lão Tử cưỡi Trâu đề cao Đại Đạo. Vạn thế sư biểu Khổng Tử đúc kết Ngũ Kinh. Cửu đỉnh từ thời Kinh Dương Vương là bảo vật truyền quốc đặt ở thế miếu nhà Thục, tương trưng cho quyền lực vô song của Thiên tử với Thiên hạ họ Hùng. 800 năm vương triều Thục truyền đến Chu Noãn Vương.
Bấy giờ gặp hội cường Tần. Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam.
Tần quốc do họ Đinh thế tập, vốn là một công hầu của vua Thục được phong ở vùng Tây Bắc là đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên). Thời Đinh Cừ Lương nhờ có biến pháp của Thương Ưởng, Tần đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thời loạn các sứ quân. Dưới thời Đinh Tứ, nước Tần bỏ tước Công mà xưng Vương. Huệ Văn Vương xua quân chiếm đất Ba Thục, tức đất gốc của Bá Thục Cơ Xương ở Quý Châu. Con của Đinh Tứ là Đinh Đảng nối ngôi cha, tự xưng là Vũ Vương, vào kinh đô Cảo của Tây Thục ở Vân Nam mà “hỏi thăm” Cửu đỉnh. Nhưng thời vận của nhà Tần chưa đến lúc, Đinh Đảng bị đỉnh rơi gãy chân, rồi chết sau mới có 4 năm tại vị.
Đỉnh thời Thương Chu.
Đinh Tắc lên tân chính thay anh trai, tiếp tục ý đồ vương nghiệp. Chiêu Tương Vương chiếm vùng đất Tây Âu của nhà Thục ở Vân Nam, bắt được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hậu Tông, tức vị vua dòng dõi cuối cùng từ Dịch Vương Lang Liêu là Chu Noãn Vương. Nước Văn Lang còn lại phần đất phía Đông là Lạc Ấp ở Cổ Loa.
Tần Chiêu Tương Vương tiếp tục lập mưu, cho cháu trai của mình là Trọng Thủy sang làm con tin ở Lạc Dương, lấy một công chúa của nhà Thục là Mỵ Châu. Trọng Thủy sau đó về nước kế vị là Tần Trang Tương Vương. Nhờ thông thạo đất Thục từ khi còn ở rể tại Lạc Ấp, Trang Tương Vương tiến quân chiếm nốt đất Đông Chu, đuổi Thiên tử Thục chạy ra biển, cầm sừng văn tê bảy tấc đi gặp thần Kim Quy bên bờ Đông Hải. Quý tộc của nhà Thục được Trang Tương Vương cho an trí ở thành Châu Sa, nay thuộc Quảng Ngãi.
Bố tiền và Hoàn tiền có chữ Đông Chu, Tây Chu.
Nhà Thục từ Âu Cơ – Thục Phán kết thúc. Nhưng vì dòng họ Đinh Tần vốn cũng là con cháu công hầu của nhà Thục, lại bắt đầu từ phía Tây, từ đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên), chiếm Ba Thục (Quý Châu) rồi Tây Âu (Vân Nam) và Lạc Dương (Lạc Việt) nên Tần Vương cũng đã được gọi là Thục An Dương Vương. Tới khi đứa con của 2 dòng Thục giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu là Đinh Chính lên ngôi, dẹp loạn các sứ quân, chấm dứt cục diện 9 chúa tranh vua, xưng là Đinh Tiên Hoàng đế, dời kinh đô về giữa đất 2 nhà Thục. Thiên hạ họ Hùng bước sang thời kỳ quốc gia thống nhất, chế độ quận huyện, quân chủ tập quyền.
Nghi môn đền Thượng ở Cổ Loa.
Câu đối ở nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa: Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ Thục quốc sơn hà tự cố cung.
Dịch:
Tùng bách Chiêu lăng giờ đâu nhỉ? Non sông nước Thục ấy cung xưa.
Bản sửa của Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, trích in từ cuốn “ĐẠI HÓA THẦN KINH”
ĐẠI HÓA THẦN KINH
Ở phía Tây Bắc của thành Phong Châu có một dãy núi, núi có hình như chiếc lọng, bên trên có một ngôi đền. Đền là nơi ngự của vị thánh đệ nhất Tản Viên Sơn. Xem trong quốc sử rằng từ khi mở nước Hồng Bàng, khai phá phương Nam, có Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh một bầu trăm trứng, thực là tổ của Bách Việt. Nhưng hậu sinh sau ngàn năm muốn cầu tìm lý lẽ cho ngàn năm về trước thì tất sẽ đặt câu hỏi, lịch sử này là hoang truyền, sợ không có chứng cứ xác thực. Thế nhưng, chim huyền điểu sinh ra nhà Thương, cá trắm đỏ khởi nên họ Lý. Việc đế vương sinh ra có sự đặc biệt dị thường xưa cũng đã từng có. Huống hồ nước Nam ta, nối nhau có thần minh, đất đúc nên linh khí, tất sinh ra những tư chất như vậy. Người lạ thì việc tương ứng cũng lạ. Tin hẳn không sai.
Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Tiên, nàng là giống Rồng, nước lửa tương khắc, không thể ở chung.
Thế là bèn phân 50 người con theo mẹ về biển, nay chính là Thủy thần Quảng Tế. Còn trong 50 người con theo cha lên núi thì Thánh Tản ta là con trưởng.
Thánh vốn là Thanh Vi Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh. Bẩm sinh đã khác lạ, tư chất vượt thường, có tài động trời trùm đất, có thuật dời núi lấp biển, Thật đúng là con của đất trời, vua trưởng của xã tắc. Từ khi lên núi, Thánh phụ ở ngôi, lập đô Phong Châu. Thời ấy mưa thuận gió hòa, dân yên nước thịnh, đào giếng cầy ruộng, tất cả đều theo phép tắc của vua, khắc đề là Giao Chỉ, rạng rỡ nét phong hóa thuần cổ. Được hơn bốn năm Thánh phụ bất chợt quy thiên, mây che Đỉnh Hồ, ôm bảng đen mà nén khóc. Thuyền ra khe lớn, thương thay ngựa lồng khó giữ. Tản Sơn Thánh từ đó đau xót không ngơi, bèn nhường lại nước cho người em thứ ba, chuyên tâm niệm vào việc tu luyện. Lại thêm núi Tản Viên có hình núi đẹp đẽ, vách đứng chọc trời, trên có một con đường có thể tới đường mây. Dưới có con đường có thể thông với địa phủ. Tất cả các núi cao đường xa của nước Nam đều dẫn về chầu quanh nơi này. Tản Thánh ở đó, ngày đêm tu luyện, ngày càng thêm tinh. Được 16 năm bỗng nhiên thần hóa. Thượng Đế sắc phong làm Nam Nhạc thần, nắm quyền Nam Tào Bắc Đẩu, là chủ của vạn thần nước Nam. Tất cả việc nối ngắt các triều đại, hóa sinh của người vật, không có gì là không thuộc quyền xét của Thánh, là đại diện phân xử chính. Đến nay việc ra vào đi đứng, ăn uống trang phục đều như lúc còn sống. Trong các thần bất tử nước Nam thì Tản Thánh ta là đứng đầu.
Thời Hùng Vương có người ở châu Ái là Nguyễn Khang, lớn tuổi mà chưa có con trai, cùng với em đến cầu đảo ở núi Tản Viên. Tản Thánh ta xét tâm thành ấy, hóa làm một đạo sĩ, ban tặng cho nơi đất tốt ở động Lăng Sương, quyết rằng: một huyệt sinh được ba vị thánh. Năm ấy sinh ra Nguyễn Tùng, quả nhiên là tư chất kỳ lạ hơn người, khí chất con nhà thành đạt. Khi Nguyễn Tùng được 15 tuổi thì Tản Thánh lại hiện thành vị tiên Thái Bạch, trao cho gậy thần. Nguyễn Tùng theo phép sau cứu được Thái tử của Long cung, tức là con trưởng của Thủy thần Quảng Tế. Thủy thần cảm công đức ấy mới tặng cho cuốn sách ước, dặn rằng: dựa vào sách này mà cầu được như ý. Nguyễn Tùng từ khi được sách này thì tất cả lân thử nghiệm đều thấy linh ứng. Sau Nguyễn Tùng tham gia giúp việc nước, được 14 năm thì cáo lui, đi ngắm các nơi danh thắng sông núi. Đến khi 77 tuổi thì tạ thế (nay thấy trong ngọc phả xã Thủ Pháp có chép việc này). Các em Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng đều hưởng tuổi thọ, với nước cùng vui, sau hóa có hiển linh, được thờ cùng ở xã Thủ Pháp, tỉnh Sơn Tây. Kỳ thực ba vị thánh này đều là sự hiển hóa của Tản Viên Thánh thay phiên nhau mà xuất hiện (để phân minh rõ việc này nay có thể xem tham khảo với ngọc phả xã Thủ Pháp).
Lại nói, thời loạn 12 sứ quân, chính sự nước Nam không người lo lắng. Tản Thánh phục tấu Đế đình rằng:
– Nước của thần xa ở phương nóng, ánh sáng chiếu rọi, không có ngoại lệ. Xin chọn cho một vị vua chính thống làm chủ nhân dân.
Thượng Đế đồng ý, bèn mệnh sai Đinh Tiên Hoàng giáng sinh, dẹp trừ giặc phương Bắc, sáng lập triều đình. Bậc vua chính thống thực sự bắt đầu từ đó.
Nước Nam trước đây còn chất phác lạc hậu, chưa biết đến sách vở. Tản Sơn Thánh lại tâu lên Đế đình, lại mệnh sai thánh đồng Nhâm Diên giảng dạy về hôn nhân, cày cấy. Sau lại mệnh sai thái thú Tích Quang giảng dạy thơ sách, lễ nghĩa. Phương Nam ta bắt đầu có phong tục tốt đẹp từ đó. Trải thế thứ các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Hoàng Nguyễn, đều do Tản Thánh trình tâu lên, tuy giản dị nhưng nguyên tắc là giữ được điều trọng yếu, tìm được nguồn gốc mà ủy thác.
Tản Thánh ta thực là thủy tổ của nước Nam. Mà Lạc Long Quân cũng là thủy tổ của các tổ vậy. Vạn năm công đức sánh cùng trời đất. Đời đời thờ cúng. Các triều tôn báo, sắc phong là Chiêu tường Tập thiện Đại vương, tới nay có nhiều linh ứng. Song ngọn núi cao tuyệt, thần lại rất thiêng, hiếm có ai lên được đến đỉnh để mà có thể biết rõ. Nay phụng chép các bài thơ của các vị thánh đã đề để dùng làm tham khảo.
Thơ của thiền sư Không Lộ:
Muốn lên núi lạnh cất tiếng vang
Gió tiên thổi tiễn bước thênh thang
Vân Già chùa cổ tìm vết lối
Rêu khóa cửa tầng thoát tục gian
Rèm ngọc ánh hồng tô nét đất
Đá bàn mây tỏ giữa trời quang
Tiểu thần may mắn hầu cung khuyết
Xin gọi cúc hoa hướng nắng tràn.
Thơ của thiền sư Từ Đạo Hạnh:
Bất tử danh truyền, ảo chính chân
Ba sinh tu luyện chứng tiền thân
Sao bay cực tím nghiêng về Bắc
Rêu phủ tường sâu chẳng biết xuân
Mọc tỏa hoa trời hương chẳng dứt
Thư đem chim biếc mộng bao lần
Ở đời thiện ác đều giám quyết
Nghiêm cẩn đêm ngày có thị thần.
Thơ của Phù Đổng Thiên vương:
Giáp Tí bấy lâu bụi khói tung
Lẫm liệt linh thiêng tỏ vô cùng
Huy hoàng hương lửa hai đài vững
Sừng sững càn khôn một sức nâng
Dốc lượn núi xa nên tạc vẽ
Lầu tầng gác nối tạo bình phong
Bầu trời một khoảnh như ngời sáng
Giữa chốn ngày nào gậy sắt vung.
Thơ Thân vương Trần Quốc Tuấn:
Ngoài thành một ngọn núi Châu Phong
Hình dáng chênh vênh, cúi ngưỡng trông
Vạn cổ sách thần nêu tuyệt đỉnh
Nghìn tầng đá quái khóa thâm cung
Bao la sao đẩu lòng vô hạn
Xoay chuyển càn khôn trí tuệ hùng
Một tấc oai trời còn ngóng vọng
Khi xưa thần kiếm chặn gió lồng.
Tiểu thần Nguyễn Bỉnh Khiên bái đề:
Dực Chẩn dải sao trấn đất Nam
Làn mây mờ thẳm vén Tiên am
Phép mầu sấm sét người sao biết
Xét việc dữ lành thần giỏi làm
Mù mịt khói hương nhô bệ đá
Trong trong sương quý rỏ hoa chàm
Tiểu thần may được nương nhờ chốn
Vạn tuế ba lần xin tụng vang.
Những bài thơ đề trên đều sánh như những dãy nhà trái phải bằng đá ngọc tuyệt tác để mà lưu truyền lâu dài.