Thánh Giá Lữ Phục Man

GS. Lê Văn Lan nêu “có việc đồng nhất Phạm Tu với một vị thần là Lý Phục Man là vấn đề sử học được nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết“. Còn ý kiến “kết luận” của GS. Phan Huy Lê: “Quan điểm về Phạm Tu và Lý Phục Man là 1 người hay 2 người hiện nay chưa thống nhất…”.
Vấn đề phân biệt hay đồng nhất 2 vị tướng Lý Phục Man và Phạm Tu thời Tiền Lý đã làm đau đầu các nhà sử học danh tiếng nhất cũng như các vị dòng họ Phạm, vì họ này lấy tướng quân Phạm Tu làm Thượng thủy tổ. Chỗ rắc rối là cả 2 nhân vật này đều là đại tướng quân thời Tiền Lý Nam Đế, đều đánh dẹp quân Lâm Ấp. Theo sử sách ngày nay thì thời Tiền Lý Nam Đế lập nước Vạn Xuân khá ngắn ngủi, vẹn vẹn chưa được 5 năm (544 – 548). Trong thời gian đó chẳng nhẽ cùng một chiến công lại có đến 2 vị tướng làm nên? Phe “đồng nhất” Phục Man và Phạm Tu lấy đó làm lý do chính. Nhưng phe “phân biệt” cũng có lý không kém vì xét sự tích, tên tuổi, địa điểm… của 2 vị tướng này chẳng có chỗ nào giống nhau cả.
Câu hỏi về Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ có thể giải đáp khi xét bắt đầu… từ Tiền Lý Nam Đế. Nếu Lý Nam Đế là cái tên chỉ 2 vị vua Lý Bôn và Lý Bí khác nhau thì hiển nhiên Phạm Tu và Phục Man cũng là 2 vị tướng khác nhau. Lý Phục Man là tướng của Lý Bôn, còn Phạm Tu là tướng của Lý Bí. Đây là 2 thời kỳ cách nhau hơn 400 năm, đã bị sử Việt chép vào thành một chuyện, dẫn đến những mâu thuẫn không giải đáp nổi giữa các vị anh hùng nghĩa sĩ của các thời kỳ này.

P1100534Đình quán Giá ở Yên Sở

Sự tích Lý Phục Man được chép trong Việt điện u linh riêng thành một truyện Sự tích thần xã An Sở, tóm tắt như sau: Gia Thông đại vương, người làng Cổ Sở. Vương giúp vua Lý Nam Đế, được vua cho làm đại tướng trấn thủ đất Đỗ Động. Quân Lâm Ấp vào cướp quận Cửu Đức, bị đại vương phá tan. Vua bèn nhân đó đặt tên là Phục Man, cho theo họ nhà vua là họ Lý, lại gả công chúa Lý Nương cho vương và thăng chức Thái úy, giữ chính quyền đứng đầu các quan. Thái úy có tính trung hậu thanh liêm, mạnh bạo can ngăn vua, không dung tha kẻ có lỗi đàn hặc kẻ lộng quyền, không e sợ gì cả.
Bấy giờ Lý Nam Đế sai Thái úy lên giữ đất Đường Lâm. Năm Đinh mão quân Lương tiến đánh. Nam đế lui giữ đầm Khuất Lạo được ít lâu rồi mất. Thái úy sai quân giữ vững các nơi hiểm yếu. Một đêm bỗng thấy lửa sáng rực trời, man binh lũ lượt kéo đến trước sân vây bọc. Thái úy phá vòng vây nhưng rồi bị đuổi gấp nên đã tự vẫn mà chết. Người nhà rước linh cữu về bến Hồ Mã rồi táng ở bên sông ngoài làng.
Nơi chôn cất và thờ phụng chính của Lý Phục Man là ở đình quán Giá thuộc Yên Sở (Hoài Đức, Hà Nội). Đình quán này nằm ngoài đê, gần sát sông Đáy hay sông Hát, là bến Hồ Mã được nói đến trong thần tích. Trong đình ngoài tượng của Lý Phục Man còn có tượng 2 tùy tướng thân cận là Trương Hống, Trương Hát, những người có công đưa được thi hài của chủ tướng về quê an táng.
Chi tiết về “đôi họ Trương” này cũng được ghi trong thần tích của quán Giá, nhưng ở mục “Tồn nghi”. Chỗ khó hiểu là Trương Hống, Trương Hát được biết là 2 trung thần của Triệu Quang Phục, không hàng phục Lý Phật Tử và tự vẫn ở vùng Bắc Ninh (sông Cầu). Đây cũng là 2 vị thần đã hiển linh đọc bài thơ Nam quốc sơn hà trước quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt thời Lý. Vậy làm sao Trương Hống Trương Hát lại là tùy tướng của Lý Phục Man?

Truong HongTượng Trương Hống ở đình quán Giá

Thông tin Trương Hống, Trương Hát đã đưa thi hài của Lý Phục Man về quê Cổ Sở đã dẫn đến một suy nghĩ bất ngờ. Trong mạch sử mới thì Trương Hống, Trương Hát là bộ tướng của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt (Triệu Việt Vương), đã chống lại quân nhà Hiếu (Tây Hán, được truyền thuyết chép là quân của Lý Phật Tử) sau khi Lữ Gia mất ở cửa Đại Nha cùng với Triệu Vệ Dương Vương. Như vậy Lý Phục Man, chủ tướng của Trương Hống, Trương Hát, không ai khác chính là thừa tướng Lữ Gia.
Từ nhận định này, có thể tìm ra một loạt những dẫn chứng khác làm sáng tỏ thân thế của Lý Phục Man – Lữ Gia. Trước hết, bản thân tên làng Giá, thánh Giá (chỉ Lý Phục Man) là đọc sai tên của Lữ Gia. Việt Điện u linh kể về Lý Phục Man cũng bắt đầu bằng tên “Gia Thông đại vương”. Chữ Giá ở đây hoàn toàn không phải là cây dừa (chữ Nho là “gia”) như cách giải thích vùng Yên Sở trước kia là khu rừng dừa (!?).
Tương truyền nơi cha sinh mẹ đẻ của Lý Phục Man là Lã Xá ở Yên Sở. Nơi đây còn có chợ Lựa, là chữ Lã/Lữ đọc chệch ra. Vị tướng sinh ở Lã Xá có tên Gia Thông thì rõ ràng là Lữ Gia.
Truyền thuyết vùng Yên Sở kể Lý Phục Man bị trọng thương đứt mất đầu vẫn phá vòng vây giặc chạy về quê Cổ Sở. Trên đường gặp một người đàn bà, ông dừng lại hỏi: “Ta bị thương thế này có việc gì không?”. Người đàn bà thấy tướng đã đứt đầu mà vẫn còn hỏi được sợ quá không nói nên lời. Vì thế khu làng này sau gọi là Thị Cấm.
Đi thêm một quãng Lý Phục Man lại gặp một người con gái, và đặt lại câu hỏi trước. Cô gái chỉ cười chẳng dám nói gì. Thế là làng này có tên Hòe Thị. Hai làng Thị Cấm và Hòe Thị sau đều lập miếu thời Lý Phục Man.
Khi ngựa Lý Phục Man với tới dốc đình Cầu, Lý Phục Man đặt câu hỏi với bà hàng nước thì được trả lời là chưa thấy ai bị đứt đầu lại có thể sống cả. Nghe bà cụ nói vậy Lý Phục Man phóng ngựa ra khu hồ Mã rồi hiển thánh…
Đoạn chuyện kể trên hoàn toàn giống chuyện Lữ Gia mất ở chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định). Thiên Bản lục kỳ kể: “Làng Gôi thờ đầu, làng Hầu thờ cổ, làng Hổ thờ chân” với câu chuyện Lữ Gia bị thương đứt cổ khi chống trả quân Hán, nhưng vẫn ôm cổ phi ngựa chạy, đến núi Gôi hỏi bà hàng nước: Người mất đầu có sống được không? Bà hàng nước trả lời là không sống được. Sau đó đầu Lữ Gia rời khỏi cổ, ông lại chạy tiếp xuống làng Hầu, làng Hổ gần đó … Do vậy ba làng này chia nhau thờ đầu thờ cổ và thờ chân.
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại chân núi Gôi
不得己用権忠在先君名在史
洁然存者氣生為良將死為神
Bất đắc kỷ dụng quyền/ trung tại tiên quân danh tại sử
Khiết nhiên tồn giả khí/ sinh vi lương tướng tử vi thần.
Dịch:
Bất đắc phải dùng quyền, trung với tiền vương danh với sử
Thanh khiết còn chính khí, sinh là lương tướng tử là thần.
Vế đối đầu nói tới chuyện Lữ Gia bất đắc dĩ phải giết Cù Hậu và Triệu Ai Vương, không đầu hàng nhà Hiếu (Tây Hán), trung liệt với tiền vương (Triệu Văn Vương). Chuyện này ứng với mô tả về Lý Phục Man trong Việt Điện u linh: Thái úy giữ chính quyền đứng đầu các quan. Thái úy có tính trung hậu thanh liêm, mạnh bạo can ngăn vua, không dung tha kẻ có lỗi đàn hặc kẻ lộng quyền, không e sợ gì cả… Đến cả vua và hoàng thái hậu còn bị Lữ Gia phế truất, giết bỏ thì đúng là không e sợ gì cả.

Tu lang linh tuTứ lăng linh từ ở chân núi Gôi

Ý nghĩa của truyền tích kể về vị tướng mất đầu trên nay đã có thể hiểu. “Đầu” của thừa tướng Lữ Gia đã bị chém tức là vua Triệu Vệ Dương Vương đã bị giết ở cửa Đại Nha. “Thân” xác của Lữ Gia tử mạng ở núi Gôi. Còn phần “chân” được tùy tướng Trương Hống, Trương Hát đưa về quê hương Cổ Sở chôn cất. Dân gian đã thật khéo léo lưu truyền sự thật lịch sử trong truyền thuyết về Lữ Gia – Lý Phục Man ở 2 vùng đầu và cuối sông Hát. Cửa Đại Nha và núi Gôi là vùng sông Đáy hay sông Hát đổ ra biển. Vùng Hồ Mã – Yên Sở là nơi bắt đầu của dòng sông Hát.
Câu đối cổ ở đình quán Giá tại Yên Sở thì chép về Lý Phục Man:
佐李烈猶傳貞石春秋柴嶺月
拒胡聲遹駿雄風今古喝江濤
Tá Lý liệt do truyền/ trinh thạch xuân thu Sài lĩnh nguyệt
Cự Hồ thanh duật tuấn/ hùng phong kim cổ Hát giang đào.
Dịch:
Nghiệp giúp Lý còn truyền, đá bền năm tháng trăng Sài đỉnh
Tiếng chống Hồ vẫn nổi, gió mạnh xưa nay sóng Hát giang.
Câu đối trên cho một chỉ dẫn đặc biệt. Sự tích của Lý Phục Man còn liên quan đến đỉnh Sài Sơn. Sài Sơn là quả núi nhỏ nơi có chùa Thầy, nằm cách quán Giá chỉ khoảng 2-3 km. Trên đỉnh Sài có hang Cắc Cớ, tương truyền là nơi chôn vùi hàng ngàn nghĩa quân của Lữ Gia khi chống lại quân Hán thất bại. Với thông tin này thì không còn nghi ngờ gì nữa, người được thờ ở quán Giá Lý Phục Man chính là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu.
Các tác giả Nguyễn Bá Hân, Trương Sĩ Hùng trong sách Thành hoàng làng Lý Phục Man ở Hà Nội đã thống kê có tới 74 nơi thờ Lý Phục Man và Phạm Tu. Trong đó chủ yếu là thờ Lý Phục Man tập trung ở các khu vực xứ Đoài (Sơn Tây cũ) như các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất, Đan Phượng, Phúc Thọ. Đây cũng là khu vực có truyền tích về Lữ Gia như Quán Linh Tiên ở Hoài Đức, đình Liên Hà (Đan Phượng). Hội làng Giá là một trong những lễ hội lớn nhất ở vùng này. Nếu xét Lý Phục Man là vị tướng có công nghiệp chủ yếu trấn giữ ở đất Lâm Ấp – Chiêm Thành và hy sinh ở miền Thanh Nghệ thì việc thờ Lý Phục Man phổ biến tại vùng Sơn Tây cũ là khó có cơ sở. Nơi mà tướng quân này đã “Phục Man” là một khu vực khác…
Khi nhận ra Lý Phục Man là Thừa tướng Lữ Gia thì ý nghĩa của việc Lý Phục Man giữ quận Cửu Đức ở phía Nam là chuyện Lữ Gia đã phò tá các vua Triệu lập nước Nam Việt, đối lập với nhà Hiếu ở phía Bắc.
Sử ký Tư Mã Thiên chép “Họ hàng [Lữ Gia] làm quan trường lại đến hơn bảy mươi người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở quận Thương Ngô”. Đây là lý do vì sao Phục Man lại được vua ban cho họ Lý và lấy công chúa Lý Nương. Lý là họ của các vua nhà Triệu Nam Việt, bắt đầu từ Lý Bôn.
Chữ Phục Man ở đây có thể không phải nghĩa là thuần phục người man Lâm Ấp. Phục Man cũng như Quang Phục (Triệu Việt Vương) có nghĩa là Phục hưng phương Bắc. Man = Mun, màu đen chỉ phương Bắc. Chí hướng của Lữ Gia cũng như Triệu Việt Vương là khôi phục đất đai ở phương Bắc của nhà họ Lý – Lữ từ Lưu Bang và Lữ Hậu.
Chỉ khi xác định Tiền Lý Nam Đế Lý Bôn là Lưu Bang, Triệu Quang Phục là chuyện của 4 đời vua Triệu nước Nam Việt thì mới có thể nhận ra vị Thái úy Lý Phục Man là Lữ Gia, Thừa tướng của nhà Triệu, người đã một lòng vì tiền triều muốn khôi phục giang sơn phương Bắc, kiên trinh chống lại quân nhà Hiếu tới cùng, tử tiết ở cửa Đại Nha. Con cháu đã mang người về chôn cất ở vùng núi Sài sông Hát và tiếp tục ý chí đó mà làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Trương Hống, Trương Hát hay Nhị Trưng Vương ở vùng Hát Môn – Sơn Tây…

Giao Châu Đặng cư sĩ

Đại Việt sử ký toàn thư: Kỷ thuộc Tây Hán: Đến cuối đời Vương Mãng, châu mục Giao Châu là Đặng Nhượng cùng các quận đóng chặn bờ cõi để tự giữ. Tướng nhà Hán là Sầm Bành vốn quen thân với Nhượng, gửi thư cho Nhượng bày tỏ uy đức của nhà Hán. Thế rồi [Nhượng] bảo Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang và Thái thú các quận là bọn Đỗ Mục sai sứ sang cống hiến nhà Hán. Nhà Hán đều phong cho những người ấy tước hầu. Bấy giờ là năm Kỷ Sửu thời Hán Quang Vũ năm Kiến Vũ thứ 5.
Người đứng đầu 7 quận Giao Châu cuối đời Vương Mãng là Đặng Nhượng. Thân thế vị châu mục này thế nào sử sách cũ không cho biết rõ. Đặng Nhượng là người Việt hay người Hán? Có thật các thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục sau khi “đóng chặt bờ cõi để tự giữ” đã hàng nhà Đông Hán và được phong hầu không?
Thời Tây Hán, trị sở của Thái thú đặt tại Long Uyên, tức là Long Biên”. Long Biên ngày nay còn một di tích liên quan đến đoạn sử bản lề giữa Tây Hán và Đông Hán này trên đất Việt. Đó là ngôi đình của thôn Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đình này hiện còn giữ được một tấm bia khắc ngọc phả năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740).

Dinh Gia Lam

Đình Gia Lâm, Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội

Theo ngọc phả đình Gia Lâm thì đình thờ Hộ Pháp cư sĩ họ Đặng. Ông sinh năm 26 TCN. Năm 18 tuổi cha mẹ đều mất, ông đang học ở Gia Lâm, sau Hán Chiêu Đế cử làm Thái thú Giao Châu. Đi đánh giặc, ông phủ dụ bảo ban lễ nghĩa, quân giặc xin hàng. Nhân lúc nhàn rỗi ông quay lại dạy bảo dân điều ân nghĩa, dân chúng đều bái tạ. Đến đời Ai Đế, Vương Mãng làm loạn, ông đem quân trấn giữ quan ải, bị bao vây, ông phá vòng vây chạy về đến Long Biên và mất vào ngày 10 tháng 8 âm lịch. Vua nghe tin bèn ban sắc cho làm phúc thần, lại cho các quận Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Gia Lâm cùng rước mỹ tự về thờ. Đình Gia Lâm dựng trên nền lớp học cũ của ông.
Thái thú Giao Châu cuối thời Tây Hán họ Đặng thì rõ ràng là Đặng Nhượng. Trong khu vực huyện Gia Lâm còn có xã Đặng Xá, tức là làng những người họ Đặng. Đặng Nhượng là người họ Đặng được nhắc đến sớm nhất trong sử sách Việt, có thể coi là tổ của dòng họ Đặng ở nước ta.
Cha mẹ Đặng Nhượng mất khi ông 18 tuổi, đang học ở Gia Lâm. Có thể thấy Đặng Nhượng là người Việt chính gốc. Làm sao có thể gọi lịch sử nước ta thời kỳ Tây Hán là “mất nước” khi người Việt còn làm thái thú đứng đầu 7 quận của Giao Châu?
Ngọc phả đình Gia Lâm cho thông tin hoàn toàn khác với chính sử. Châu mục Đặng Nhượng đem quân trấn giữ quan ải, bị bao vây và đã mất ở Long Biên. Hoàn toàn không có chuyện Đặng Nhượng nghe lời Sầm Bành mà triều cống Đông Hán và được phong hầu. Đặng Nhượng đã “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng” và đền nợ nước tại Giao Châu.
Vì Đặng Nhượng vẫn còn giữ ải tới thời khi Sầm Bành dẫn quân Hán tấn công nên Giao Châu không phải chống lại nhà Tân của Vương Mãng, mà là chống lại sự bành trướng của nhà Đông Hán xuống phương Nam. “Cuối đời Vương Mãng” tức là lúc lũ Lục Lâm thảo khấu (Hán quân) nổi loạn, đoạt ngai vị của người Trung Hoa. Giao Châu Đặng Nhượng là người Việt, là người Trung Hoa chính thống, chống lại sự xâm lược của Hán quân là hoàn toàn hợp lẽ.
Đặng Nhượng, cùng các thái thú các quận Tích Quang, Đỗ Mục, là các “cừ súy” – quí tộc Việt ở Giao Châu đã kiên cường chống lại giặc Hán, giữ yên Giao Châu hàng chục năm, cuối cùng đã bỏ mình vì nước khi Mã Viện tấn công. Mã Viện đây có thể chính là Sầm Bành, tướng nhà Đông Hán lúc này.
Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục, những vị anh hùng thời loạn này đã được “phong hầu”, không phải là tước hầu của nhà Đông Hán, mà là sự sắc phong của các triều đại người Việt sau đó. Ngọc phả đình Gia Lâm cho biết “Đời Hán ông [Đặng Nhượng] được phong Phổ Tế cư sĩ đại vương. Đời Trần được phong là Đương cảnh thành hoàng Hộ Pháp cư sĩ đại vương. Đời Lê Thái Tổ phong làm Phổ Tế cương nghị anh linh, ban sắc chỉ cho trang Gia Lâm tu sửa lại đền miếu để thờ phụng.
Câu đối ở đình Gia Lâm:
武勇扶陳名芳北國
文淵濟世顯赫南邦
Vũ dũng phù Trần danh phương Bắc quốc
Văn uyên tế thế hiển hách Nam bang.
Dịch:
Võ dũng phù Trần, danh vang Bắc quốc
Văn sâu tế thế, hiển hách Nam bang.
Bên cạnh công lao là một vị tướng đánh giặc giữ nước Đặng Nhượng còn là một kẻ sĩ văn tài uyên bác (được sắc phong là “cư sĩ”), mở trường dạy học cho dân chúng. Đình Gia Lâm tương truyền được dựng trên nền trường học cũ của Đặng Nhượng. Như vậy công tích và hành trạng của Đặng Nhượng hoàn toàn giống với Sĩ Nhiếp. Kẻ sĩ nhiếp chính vào cuối thời Vương Mãng ở Giao Chỉ chính là các vị Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục mà trong đó Đặng Nhượng là người đứng đầu.
Ở thôn Gia Lâm ngoài đình làng thờ quan họ Đặng làm thành hoàng còn có ngôi nghè riêng để thờ cúng vị cư sĩ này. Thôn Gia Lâm của xã Lệ Chi nằm ven bờ sông Đuống, ngay sát với khu vực thành Luy Lâu, trị sở của Sĩ Nhiếp ở Thuận Thành, Bắc Ninh. Xem lại câu đối ở đền Sĩ Nhiếp tại Tam Á (Thuận Thành):
Huynh đệ liệt quận hùng phong trì Ngụy Ngô khởi uy trị gia dĩ đặc sắc
Thi thư giáo nhân hóa lý bổ Nhâm Tích dẫn văn minh phái ư tiền hà.
Dịch:
Anh em các quận, hùng phong lan đến Ngụy Ngô, dậy uy trị nhà đủ đặc sắc
Sách vở dạy người, lẽ bảo thêm cho Nhâm Tích, dẫn đầu văn minh hơn ngày xưa.
Khởi uy trị gia” đây không chỉ có nghĩa là quản lý gia đình. Chữ “gia” ở đây phải hiểu nghĩa rộng hơn. Thời Sĩ Nhiếp – Đặng Nhượng, “quốc” là nước của Vương Mãng đã rơi vào tay giặc Hán. Chỉ còn “gia” là khu vực Giao Châu được Sĩ Nhiếp cai quản, gìn giữ.
Địa danh Gia Lâm rất có thể có nghĩa là trị sở (Gia) của … Lâm Ấp (Lâm) thời Sĩ Nhiếp, tức là trị sở của khu vực phía Nam Trung Hoa. Sĩ Nhiếp cai quản Lâm Ấp còn được nhắc đến trong câu đối ở đền Tam Á:
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, qui củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.
Việc xác định Giao Châu Đặng Nhượng là Sĩ Nhiếp, một người Việt quê ở Gia Lâm, cho thấy rõ bản chất của cuộc chiến cuối thời nhà Tân là cuộc đấu tranh của người Việt Giao Chỉ chống quân Hán xâm lược. Những kẻ sĩ đã bỏ mình vì nước đã được các triều đại sau đó tôn vinh, phụng thờ. Việt Điện u linh đặt Truyện Sĩ Nhiếp lên đầu tiên trong các thần linh đất Việt là hoàn toàn hợp lẽ. Nhà Trần sắc phong cho Đặng Nhượng là Hộ Pháp cư sĩ đại vương, cho Sĩ Nhiếp là Gia ứng thiện cảm linh vũ đại vương là những danh hiệu vô cùng cao quí, ghi nhận đúng công lao của các bậc tiền nhân này.

Họ Phạm ở miền núi Ấn sông Trà

Lịch sử cổ đại và trung đại Việt Nam có những vấn đề mà nếu chỉ dựa vào hệ thống thư tịch chính thống thì không thể làm rõ được. Thế nhưng những vấn đề này lại được ghi được kể rất đầy đủ trong dòng sử dân gian truyền từ đời này qua đời khác. Trường hợp lịch sử nước Lâm Ấp là một điển hình.
Tìm hiểu về nước Lâm Ấp hãy xem Gia phả Phạm Công tộc tại Mộ Đức – Quảng Ngãi. Thông tin được chép trong tộc phả họ Phạm chỉ bao gồm 3 khổ chữ ngắn ngủi nhưng đã cung cấp những dữ liệu cực kỳ quan trọng, là chìa khóa mở cánh cửa tìm lại lịch sử cả ngàn năm của quốc gia Lâm Ấp – Nam Chiếu. Xin dẫn nguyên văn phần lịch sử họ Phạm Đằng Trong trong bản gia phả này:
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 TCN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 T CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải, châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An, diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).
Thấy xứ Lâm ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm Ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội của Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn , còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh.

Những dòng gia phả họ Phạm ở trên đã chịu không ít chỉ trích về tính xác thực của nó do những thông tin đưa ra về xứ Lâm Ấp hoàn toàn không giống với chính sử hiện này về quốc gia gọi là tiền thân nước Chiêm Thành này. Họ Phạm ở Quảng Ngãi đã “nhận vơ” nguồn gốc của mình, hay đã chép nhầm do thiếu hiểu biết? Tất cả đều không phải. Thông tin của gia phả họ Phạm cực kỳ chính xác, chính xác đến bất ngờ. Xin lần theo câu chuyện họ Phạm bắt đầu từ đất Đằng Châu, Hưng Yên.

VỊ THẦN Ở ĐẰNG CHÂU
Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh…
Truyền thuyết xứ Đằng Châu được nhắc đến trong Việt điện u linh kể về một vị thần đã hiển linh trước Lê Long Đĩnh làm nửa sông mưa, nửa sông tạnh, rồi lại báo mộng đế vương… Long Đĩnh sau khi lên ngôi mới thăng Đằng Châu làm Thái Bình Phủ, phong thần làm Khai Thiên Thành Hoàng Đại Vương. Đền Đằng Châu ở Kim Động (nay thuộc phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên) còn gọi là đền Vua Mây, thờ sứ quân Phạm Phòng Ất (Phạm Bạch Hổ), tương truyền là một trong 12 sứ quân thời Đinh Tiên Hoàng.

Dang ChauĐền thờ vua Mây ở Kim Động, Hưng Yên.

Lĩnh Nam chích quái thay cho Lê Long Đĩnh đã ghi là Lý Công Uẩn lúc chưa lên ngôi có thực ấp ở Đằng Châu và thần Đằng đã hiển linh trước vua Lý. Sự khác biệt nhân vật với Việt điện u linh này có lẽ là do nếu tính từ loạn 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh tới Lê Long Đĩnh thì mới chỉ có hơn chục năm, khó có thể một sứ quân, tướng của Đinh Bộ Lĩnh lại kịp “hóa thần” hiển linh cả một vùng như vậy.
Trong đền vua Mây ở Hưng Yên có câu đối:
伯主雄圖十二山河輿古壘
神髙靈氣半分星雨此前江
Bá chủ hùng đồ, thập nhị sơn hà dư cổ lũy
Thần cao linh khí, bán phân tinh vũ thử tiền giang.

Dịch:
Xưng bá đất anh hùng, mười hai non nước nơi thành cũ
Danh thần hiện linh khí, nửa phần mưa nắng chốn sông này.

Đối chiếu gia phả họ Phạm: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung bộ ngày nay…
Việc Lý Thành, con Lý Thân cùng với Phạm Duy Hinh, con Phạm Duy Minh trấn thủ đất Nam Hà cho thấy vị thần xứ Đằng Châu không phải xuất phát vào thời Đinh – Lê – Lý sau này, mà có nguồn gốc từ tận thời Tần, thời của Lý Ông Trọng làm phò mã nhà Tần. Phạm Duy Minh ở Đằng Châu như vậy chính là vị thần Đằng hay vua Mây được kể đến trong Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái.
Lý Thành thay Lý Ông Trọng cai quản vùng rừng núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, trong tộc phả họ Phạm gọi là “Ái Châu”. Phạm Duy Hinh tiếp nghiệp cha, cai quản vùng duyên hải ven biển miền Trung, gọi là xứ Lâm Ấp.
Nam Tề thư, Man – Đông Nam Di chép: Nam Di – nước Lâm Ấp ở phía Nam Giao Châu, đi đường biển 3.000 dặm. Phía bắc liền với Cửu Đức. Đó là huyện Lâm Ấp cũ thời Tần…
Các nhà nghiên cứu đặt dấu hỏi, thế nào mà nước Lâm Ấp lại là “huyện Lâm Ấp cũ thời Tần” được?
Ghi chép này của Nam Tề thư hoàn toàn đúng. Biên giới phía Nam của nhà Tần khi thống nhất lục quốc đã tới miền Bắc Hộ (miền nhà cửa quay về phía Bắc). Khu vực Nam Trung Bộ ngày nay nằm trong quận Lang Gia thời Tần, đã được gọi là đất Lâm Ấp.

THÀNH CHÂU SA
Tộc phả họ Phạm tiếp: Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).
Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm,
Thông tin vị vua lập nước Lâm Ấp đầu tiên vào thời Đông Hán là Lý Khu Kiên = Khu Liên đã cho thấy Khu Liên mang họ Lý, chính là Lý Bí, người đã “quay về phương Nam mà xưng cô, khởi mở đất Lâm Ấp” (“Nam diện ung dung, thác thủy tương truyền Lâm Ấp địa”) như trong câu đối ở đình Giang (Viên Nội, Ứng Hòa, Hà Nội).
Khu Liên mất, họ Phạm kế vị tại xứ Lâm Ấp và đóng đô tại thành Châu Sa, nay là huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một thông tin rất giá trị. Các chuyên gia văn hóa lịch sử Chăm hiện không xác định được kinh đô của Lâm Ấp nằm ở đâu. Chỉ biết dưới thời Phạm Dương Mại thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi và Chấn Vũ tướng quân Tông Xác của nhà Tiền Tống đã đánh được thành Khu Túc, tiền đồn phía bắc của Lâm Ấp, rồi tiến vào Tượng Phố, phá cung thất của vua Lâm Ấp. Người thì cho rằng quốc đô Sư tử của Lâm Ấp là thành Trà Kiệu ở Quảng Nam. Nhưng ở Trà Kiệu chỉ có các vết tích của thời kỳ muộn hơn của vương quốc Chiêm Thành, chứ không có vết tích rõ ràng các thành trì của thời Lâm Ấp.
Theo Tùy thư, Liệt truyện 18, Lưu Phương thì từ Khu Túc tới kinh đô Lâm Ấp phải đi mất 8 ngày. Các học giả ước tính khoảng cách từ Khu Túc tới quốc đô Lâm Ấp như vậy ở vào quãng 300km. Dựa trên tính toán bóng nắng ghi trong thư tịch thành Khu Túc được xác định nằm ở khoảng giữa Quảng Trị. Từ giữa đất Quảng trị thêm 300km nữa về phía Nam chính là vị trí của thành Châu Sa ở Quảng Ngãi, chứ không phải Trà Kiệu ở Quảng Nam. Châu Sa ở trên đất Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, rõ ràng là Tượng Phố thời trước vì Tịnh = Tượng.
Chau SaDi tích thành Châu Sa tới nay vẫn còn, được mô tả theo tư liệu của Bảo tàng Quảng Ngãi như sau.
Thành Châu Sa (còn có tên là thành Hời) nằm về phía bắc hạ lưu sông Trà Khúc, thuộc xã Tịnh Châu (huyện Sơn Tịnh), phía đông thành giáp xã Tịnh Thiện, phía bắc giáp núi Đồng Dinh, phía nam giáp sông Trà Khúc và phía tây nam giáp núi bàn cờ.
Thành gồm có hai vòng thành chạy theo trục chính Bắc – Nam. Thành nội có bình đồ chữ nhật nối liền với thành ngoại có bình đồ hình càng cua không khép kín. Thành nội có cạnh dài là đoạn chạy theo hướng Đông Tây dài 550m, cạnh ngắn chạy theo trục Bắc Nam dài 540m.
Quanh thành có hào nước rộng 20-25m. Thành nội mở 5 cửa đông, bắc, tây, nam và tây nam. Các cửa đông, nam và tây nam đều có công trình kiến trúc bằng gạch nhô lên cao, có thể là những vọng lâu. Quan sát cửa nam, nơi được đào đắp, gia cố công phu hơn các cổng thành còn lại, trong tổng thể khu thành và địa hình chung quanh, cho phép đoán định đây là cửa chính của thành Châu Sa.

Thành ngoại, kết hợp giữa các đoạn đào đắp với địa hình tự nhiên, khéo léo tận dụng các đồi núi thấp và các sông con, rạch nước, ao đầm vốn chằng chịt trong vùng. Thành ngoại chỉ đắp ba cạnh ở các phía tây, đông và bắc, trong đó cạnh thành tây và đông đắp kiên cố, cạnh thành bắc chủ yếu dựa vào núi non. Phía nam, nhìn ra sông Trà Khúc, không có bờ thành.
Điểm đặc biệt của thành Châu Sa là khoảng giữa thành nội và thành ngoại, về mạn nam, có hai gọng thành hình càng cua đối xứng qua trục nam bắc. Gọng thành phía tây, bắt đầu từ góc tây nam thành nội, dài gần 700m, còn phía đông, bắt đầu từ góc đông nam, dài chừng 500m.
Thành Châu Sa hiện là một tòa thành bằng đất, độ nguyên vẹn vẫn còn tới 80%. Điều này cũng hoàn toàn khớp với các sử liệu cho biết quân Tùy vào thành (không công phá thành), phá hủy cung thất (bằng tre gỗ), thu tượng miếu chủ bằng vàng (Tùy thư), “thành vua nước đó dùng gỗ làm rào” (Cựu Đường thư), “đường hiểm trở không thông được” (Tân Đường thư). Nói một cách khác cho đến đầu thế kỷ VII dường như ở quốc đô Lâm Ấp chưa có kiến trúc gạch.
Như vậy thì sau thành Cổ Loa ở miền Bắc Việt thành Châu Sa là một tòa thành cổ đắp bằng đất được hình thành từ thời Tần. Thành Châu Sa không phải được bắt đầu xây dựng dưới thời các vua Chiêm Thành từ thế kỷ 9 như vẫn nghĩ. Đây quả là một cổ thành độc đáo, còn khá nguyên vẹn của Việt Nam.
Bản thân địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vốn có tên là Chiêm Lũy động hoặc Cổ Lũy động. Trước cửa thành cổ Châu Sa nay vẫn còn địa danh thôn Cổ Lũy bên bờ sông Trà Khúc. “Cổ Lũy” của vị thần Đằng Châu họ Phạm hóa ra lại là nằm ở Quảng Ngãi. Những cái tên Chiêm Lũy, Cổ Lũy càng cho phép khẳng định Châu Sa và tỉnh Quảng Ngãi chính là thành đô, là trung tâm của nước Lâm Ấp trong 500 năm tồn tại với 19 đời vua họ Phạm.

Ngoi mat he

Đầu ngói mặt hề ở Cổ Lũy (Tư Nghĩa). Hiện vật chứng tỏ mối liên hệ giữa khu vực này với thành Luy Lâu ở miền Bắc.

Có thể Châu Sa thiết Chà, tức là chỉ kinh đô của người Chà, người Chiêm hay người Hời. Hoặc Chà = Cha, cũng giống như ở Cổ Loa là thành của vua Chủ, Cổ Lũy của người Hời là thành của vua “Cha”.
Thành Châu Sa là quốc đô của Lâm Ấp, nơi mà Tùy quân Lưu Phương đã chiếm, phá cung thất, thu 18 pho tượng vàng. Vì thế sẽ rất rõ ràng rằng các hiện vật thời kỳ sơ sử ở Quảng Ngãi sẽ rất phong phú, thể hiện đúng một trung tâm văn hóa chính trị ở phương Nam. Trước hết ở đây phải nói đến là khu vực khảo cổ Sa Huỳnh, nền văn hóa đồng đại với văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc Việt. Địa điểm Sa Huỳnh nằm ngay ở phía Nam tỉnh Quảng Ngãi. Cùng niên đại này, ở đây còn phát hiện những chiếc trống đồng Đông Sơn loại Heger I, tức là loại trống to đẹp nhất. Trống đồng phát hiện ở chính Quảng Ngãi chứ không phải ở Quảng Nam, nơi có thành Trà Kiệu. Liên hệ trực tiếp giữa quốc gia thời sơ sử ở đây với miền Bắc Việt rất rõ ràng. Rất có thể chính Sa Huỳnh – Quảng Ngãi là trung tâm của nước Hồ Tôn phía Nam nước Văn Lang trong truyền thuyết.

VUA NAM CHIẾU
Tộc phả họ Phạm tiếp: … Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An, diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).
Theo chính sử thì khởi nghĩa của Phùng Hưng phải sau khởi nghĩa của Mai Thúc Loan tới hơn 60 năm. Nhưng thông tin trong dân gian lại cho biết bố Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh theo Mai Thúc Loan khởi nghĩa. Cháu Phùng Hưng là Phạm Thị Uyển là Mai Hoàng Hậu, đã tử tiết trên sông Tô Lịch khi giữ thành Tống Bình (Hà Nội). Việc tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi cho biết Mai Thúc Loan cùng cha con Phùng Hưng và họ Phạm chống lại quan quân nhà Đường là hoàn toàn có khả năng.
Quan trọng hơn dòng tộc phả ở trên cho biết chính họ Phạm vua Lâm Ấp với kinh đô tại Châu Sa là những người đã theo Mai Thúc Loan và Phùng Hưng chống nhà Đường.
Ở Quảng Ngãi còn có di tích gọi là “Long đầu hý thủy” (đầu rồng giỡn nước). Núi Long Đầu hiện tọa lạc tại xã Sơn Long, Sơn Tịnh (tức là ngay gần thành Châu Sa). Đây là danh thắng thứ 2 của Quảng Ngãi sau “Thiên Ấn niêm hà” (dấu ấn trời đóng), là núi Thiên Ấn bên sông Trà Khúc. Khu vực này do vậy được gọi là miền Ấn – Trà. Ca dao xứ Quảng:

Sông Trà sát núi Long Đầu
Nước kia chảy mãi rồng chầu ngày xưa.

Thắng cảnh núi Long Đầu và Thiên Ấn càng cho thấy nơi đây là nơi “rồng chầu”, “trời giáng ấn”, là quốc đô cổ ở phương Nam.

Long dau

Núi Long Đầu ở cạnh cầu Trà Khúc 1 với miếu thờ thần.

Liên quan đến núi Long Đầu là truyền thuyết về vua Nam Chiếu. Sách Đại Nam nhất thống chí, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, phần viết về núi sông tỉnh Quảng Ngãi, có đoạn: “Núi Đầu Rồng: Tức Long Đầu, ở cách huyện Bình Sơn 31 dặm về phía Nam, hình thế khuất khúc, sống núi từ núi Sâm Hội chạy về nam, đến vực sông Trà Khúc thì dừng, hình như rồng thần hút nước nên gọi tên thế. Trên núi có miếu cổ thờ Long Vân tướng quân; sườn núi có 3 đường đi lên, sâu như giếng. Tương truyền hồi Cao Biền nhà Đường cưỡi diều giấy đến đây yểm đoạn long mạch, hoang đường không tin được. Trong tập “Mười cảnh Quảng Ngãi” có một đề là Long Đầu hý thủy (Đầu rồng vờn nước), tức là núi này”.
Long Vân tướng quân hẳn là Vua Mây họ Phạm và Long chỉ vua, Vân nghĩa là Mây.
Tóm tắt truyền thuyết vua Nam Chiếu trên sông Trà như sau:
Tương truyền vua Nam Chiếu xuất thân từ một gia đình nghèo khó trên bờ sông Trà dưới chân núi Long Đầu. Bà mẹ là nàng Thiệu Khôi đi tắm sông bị một con rái cá lớn hãm hiếp, sinh ra Chiếu. Chiếu ngày thường tụ tập trẻ con chia phe đánh trận. Lũ trẻ chăn trâu tôn Chiếu làm vua. Tiếng đồn vang khắp cả miền Ấn – Trà (núi Ấn – sông Trà)….
Cao Biền sang phương Nam, phát hiện núi Long Đầu có “cửu phúc hồi hoàn” và “hàm rồng sâu thẳm” đã tìm cậu bé Chiếu nhờ bỏ hài cốt của cha mình vào miệng rồng. Nhưng Chiếu đã lặn xuống và thay bằng xương con rái cá, là cha của mình… Từ đó Chiếu mỗi ngày một thông minh vượt bực, tụ họp anh hùng hào kiệt bốn phương, đuổi quân Đường ra khỏi Giao Chỉ…
Cao Biền sau đó biết việc, liền trở về Giao Chỉ, mượn tay nàng Thiệu Khôi trảm long sông Trà Khúc rồi tiến quân đánh Nam Chiếu. Vua Nam Chiếu từ lúc đó không còn chống đỡ quân giặc được nữa, cuối cùng bị Cao Biền bắt và hành hình…

Câu chuyện trên mang đầy màu sắc “phong thủy”, lại ná ná giống sự tích của Đinh Bộ Lĩnh cũng vào thời Đường. Thêm vào đó các sử gia không thể hiểu nổi vì sao ở tận xứ Quảng lại có chuyện về vua Nam Chiếu. Nam Chiếu được cho là bắt nguồn từ vùng Vân Nam dưới thời Đường, cách sông Trà Khúc mấy ngàn cây số… Truyền thuyết liệu chỉ có là truyền thuyết?…
Truyền thuyết Cao Biền trảm long sông Trà Khúc khi liên hệ với tộc phả họ Phạm lại chỉ ra một sự thật: khởi nguồn của Nam Chiếu chính là ở vùng Quảng Ngãi, hay Chiêm Lũy động. Nam Chiếu là thời kỳ phục hưng của nước Lâm Ấp dưới thời Đường. Trước đó khu vực Tây và Nam Giao Chỉ gọi chung là vùng đất Lâm Ấp, xứ Nam Hà gồm 2 châu, hay nước Nam Triệu như trong Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái đã kể.
Mặt khác so sánh 2 câu chuyện cũng cho thấy vua Nam Chiếu ở Trà Khúc là khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng. Chính 2 cuộc khởi nghĩa nối tiếp nhau bắt đầu từ miền Trung Việt này mới làm nên quốc gia Nam Chiếu hùng mạnh thời nhà Đường.
Đoạn cuối của tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi: Thấy xứ Lâm Ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm Ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội của Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn, còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh.

Nha tho ho PhamNhà thờ họ Phạm tại Bình Chương, Bình Sơn, Quảng Ngãi.

Đoạn tộc phả trên cho biết nước Chiêm Thành trong giai đoạn tiếp theo được lập nên do các bộ tộc Dừa và Cau xâm chiếm vùng đất của Lâm Ấp. Như vậy lịch sử miền Trung Bộ đã đổi dòng từ đây, từ một quốc qua của người Nam Á (họ Phạm từ miền Bắc Việt) đã chuyển thành một quốc gia của người nói tiếng Nam Đảo (người Chăm).
Nhà thờ triệu tổ họ Phạm Đàng Trong là Đại thiên lang Phạm Duy Hinh nay vẫn còn tại An Điềm, Bình Chương, Bình Sơn, Quảng Ngãi, cách thành cổ Châu Sa không xa. Câu đối ở nhà thờ họ Phạm khẳng định họ Phạm ở đây có nguồn gốc từ phía Bắc.
萬古矜基源北地
一方立業在南天
Vạn cổ căng cơ nguyên Bắc địa
Nhất phương lập nghiệp tại Nam thiên.

Lịch sử Lâm Ấp – Nam Chiếu khép lại và lắng đọng trong những dòng tộc phả và di tích thành cổ ở đây. Dòng máu rồng từ núi Long Đầu và dấu Thiên Ấn của Ngọc Hoàng trên sông Trà vẫn mãi là những tượng đài thiên nhiên của lịch sử mảnh đất phương Nam này.

Viết tiếp về Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi

Tóm tắt lại những phát hiện lịch sử mới về thời mở đầu độc lập của nước Đại Việt, cũng là thời gian nguyên tổ họ Hồ – Hồ Hưng Dật sang làm thái thú ở Châu Diễn:
– Năm 907 Lưu Ẩn tiếp nối sự nghiệp của cha là Lưu Khiêm nhận chức Tĩnh Hải Thanh Hải tiết độ sứ, được nhà Lương phong là Nam Hải Vương. Lưu Ẩn chính là Trung chủ Khúc Thừa Hạo. Khúc Thừa Hạo theo sử sách chép cũng nhận chức Tĩnh Hải tiết độ sứ thay cha Khúc Thừa Dụ vào năm 907.
– Năm 917 Lưu Cung, tiếp nghiệp anh Lưu Ẩn, xưng đế ở Phiên Ngung, lập nước Đại Việt. Lưu Cung là Hậu chủ Khúc Thừa Mỹ, người cũng thay anh Khúc Thừa Hạo nhận chức Tĩnh Hải tiết độ sứ năm 917. Lưu Cung, chính xác phải là Lý Cung, là người Việt ở đất Hồng Châu, đã lập nên nước Đại Việt đầu tiên trong lịch sử.
– Nước Đại Việt từ khi Lưu Cung thành lập ở Quảng Đông, sau này đổi thành Đại Hưng, bị sử Tàu chép thành Đại Hán hay Nam Hán, tồn tại tới Lưu Sưởng (958 – 971) thì bị nhà Tống chiếm. Trong các văn thư của nhà Tống với các triều Đinh Lê việc này được gọi là “thống nhất Lĩnh Nam”.
– Nhưng Lĩnh Nam chưa “thống nhất”. Khoảng năm 968, trước khi triều đình Lưu Sưởng hàng Tống, thủ lĩnh phần Tĩnh Hải quân là Đinh Bộ Lĩnh, con của thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, lập một chính quyền riêng ở Hoa Lư. Chức thứ sử (không phải thái thú) của Đinh Công Trứ cho thấy ông ta không phải nắm quyền một châu nhỏ mà là cả vùng đất phía Tây (Đinh Bộ) của nước Đại Hưng. Đinh Bộ Lĩnh chính là Lý Thái Tổ, người khởi đầu nhà Lý ở nước ta.
– Năm 980 Lê Hoàn hay vua Lê, thay Đinh Bộ Lĩnh – Lý Công Uẩn lên ngôi. Lê Hoàn là vị vua Lý thứ hai Lý Thái Tông, ẩn họ Lê. Hai vị vua Lý đầu tiên hay hai nhà Đinh Lê đóng đô ở Hoa Lư.
– Năm 1010 vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông vứt hết tước phong của nhà Tống, chính thức lấy lại họ Lý của Đại Hưng Lý Cung, công khai đặt tên nước là Đại Việt, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, truy phong cho cha và ông mình là Thái Tổ và Thái Tông. Triều Lý bát đế thực sự bắt đầu từ đây.

Hồ Nguyên Trừng người Phúc Kiến – Chiết Giang, đỗ trạng nguyên dưới thời Hán, không phải là Bắc Hán mà là Nam Hán, hay là nước Đại Hưng của họ Lý. Là trạng nguyên của nước Đại Hưng nên Hồ Nguyên Trừng đã được giao một trọng trách, làm quan thái thú Châu Diễn, điều này hoàn toàn hợp lý.

Căn cứ việc Hồ Nguyên Trừng sau đó có tham gia vào thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh thì có thể đoán định Hồ Nguyên Trừng đỗ trạng nguyên dưới triều vua Đại Hưng cuối cùng là Lưu Sưởng, tức là khoảng những năm 960.

Theo Hồ Tông thế phả thì không rõ vì lý do gì thái thú Hồ Nguyên Trừng lại chán ngán cảnh quan trường, từ quan, về lập hương ở Bào Đột, nay là Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An. Mặc dù đã từ quan nhưng “uy tín và thế lực của ông ngày càng mở rộng ra các hương chung quanh, được nhân dân quý trọng và tôn làm trại chủ”.

Lý do Hồ Nguyên Trừng từ quan có thể là do sự thối nát của chính quyền Lưu Sưởng, mà việc mất nước vào tay nhà Tống đã được nhìn thấy trước.

Tiếp theo vào thời Đinh Bộ Lĩnh nổi lên có Hào trưởng trong châu đến gặp ông Hồ Hưng Dật thăm dò ý kiến: “Trong châu Diễn ta, tôi nhận thấy tôn ông được mọi người kính yêu và mến phục, sao dịp này tôn ông không đứng ra cứu dân giúp đời một phen?”
Hồ Hưng Dật chân thành nói rõ chính kiến của mình “Người xưa có câu: Một tướng thành công hàng vạn xương cốt người khác phải khô héo. Kinh thư còn ghi: Lửa bốc cháy núi Côn Cương, ngọc đá đều bị đốt cháy hết cả. Tôi luôn luôn nhận rõ dân là gốc của mọi thời đại. Vạn đại vi dân, đó là điều tôi mong muốn dặn lại con cháu”.

“Chính kiến” của Hồ Hưng Dật xem ra … không hiểu thế nào: theo hay chống Đinh Bộ Lĩnh? Phả tộc khác nhau chép cũng không rõ, Hồ Hưng Dật có theo Đinh Bộ Lĩnh hay không. Có lẽ Hồ Hưng Dật đã không theo nhưng cũng không chống, không cùng Đinh Bộ Lĩnh lập triều đình mới, nhưng cũng không tự làm một “sứ quân”, mà ở riêng một vùng Châu Diễn, không động tới ai để tránh “ngọc đá đều bị đốt cháy”. Nhưng sự việc xảy ra tiếp theo lại không như mong muốn, “đá” không cháy nhưng “ngọc” thì có lẽ là có.

Xem lại lịch sử thời Lý Thái Tổ (nay đã biết chính là Đinh Bộ Lĩnh) thì có chuyện năm thứ 3 sau khi lên ngôi Lý Thái Tổ đã thân chinh đi dẹp loạn ở Châu Diễn (Đại Việt sử ký toàn thư):
Khi về đến Vũng Biện gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”. Khấn xong, gió sấm đều yên lặng.

Chuyện đánh dẹp này cũng chẳng thấy ghi rõ được thua thế nào. Thay vào đó vua Lý lại có vẻ phải hối lỗi, vì đã “giết oan kẻ trung hiếu, hại lầm kẻ hiền lương”, khiến trời đất nổi giận. “Kẻ trung hiếu, hiền lương” ở Diễn Châu khi đó còn ai khác ngoài trạng nguyên thái thú Hồ Hưng Dật? Vào thời điểm đó thế lực mạnh nhất ở Diễn Châu có thể chống lại triều đình còn ai ngoài nhà họ Hồ?

Vũng Biện nơi Đinh Bộ Lĩnh – Lý Thái Tổ gặp bão nằm ngay cạnh làng Quỳnh Đôi, là biên giới phía Bắc của Châu Diễn, giáp Châu Ái (Thanh Hóa).
Cua ConBãi biển ở cửa Cờn – Quỳnh Lưu. Phía Bắc là Biện Sơn. Phía Nam là Quỳnh Bảng
Đại Nam quốc sử diễn ca cũng nói tới chuyện Lý Thái Tổ đánh dẹp châu Ái và châu Diễn:
Cử Long sấm dậy binh uy
Diễn Châu gió động tinh kỳ thân chinh
Biện loan gặp lúc hối minh
Hương nguyền cảm cách, sóng kình cũng êm.

Cử Long là đất Man ở Thanh Hóa (Cẩm Thủy), nổi loạn từ đời Tiền Lê, Lê Hoàn cũng từng thân chinh đi dẹp mà không xong.
Biện loan là vũng Biện, gần Quỳnh Đôi.

Có thể thấy khi Lý Thái Tổ nổi lên lập triều đình ở Đinh Bộ Tĩnh Hải quân thì vùng Thanh Nghệ đã tỏ ra không phục tùng. Khi kiến quốc Đinh Bộ Lĩnh – Lý Thái Tổ đã không dễ dàng gì để có thể thu phục được lòng dân những vùng này.

Câu đối ở đền thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.

Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

Vế đối đầu nói về dòng dõi Ngu Thuấn của họ Hồ đã bàn trong bài trước. Vế đối sau có địa danh “Bảng Sơn”, là “địa thắng” của họ Hồ nhưng ngay chính người họ Hồ ngày nay cũng chưa xác định được núi Bảng này nằm ở đâu.

“Bảng Sơn” hay Vũng Bảng là vùng biển Quỳnh Bảng, nằm giáp với đảo Biện Sơn. Tên gọi khác của Biện Sơn ở Thanh Hóa là Bạng Sơn. Điều này cho thấy Bạng Sơn hay Bảng Sơn là một, chỉ là Thanh Hóa và Nghệ An gọi lệch giọng mà thôi. Hòn đảo Biện Sơn, nơi Lý Thái Tổ phải dừng thuyền khi đánh Diễn Châu, chính là núi Bảng – thắng địa của dòng họ Hồ Quỳnh Đôi.
Quynh Doi 2Bản đồ khu vực Quỳnh Đôi – Biện Sơn
Sự lưỡng lự trong phát biểu của Hồ Hưng Dật đối với sự nổi lên của Đinh Bộ Lĩnh cũng như sự tạ lỗi với trời biển của Lý Thái Tổ tại Bảng Sơn – Biện Sơn sau khi đánh Diễn Châu cho thấy 2 sự kiện này có liên quan trực tiếp tới nhau. Có thể Hồ Hưng Dật chính là người “trung hiếu hiền lương” đã bị Lý Thái Tổ đánh dẹp trong cuộc chinh phạt Diễn Châu năm thứ 3 sau khi lên ngôi. Không rõ diễn biến cụ thể ra sao nhưng sau đó họ Hồ ở Châu Diễn đã thần phục nhà Lý và được hậu đãi với việc một Tuấn kiệt họ Hồ lấy công chúa Lý Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Kết cục không rõ “thắng bại” trong cuộc chinh phạt châu Diễn của Lý Thái Tổ phần nào cho thấy vùng này đã được thuần phục nhiều hơn là bị đánh dẹp hoàn toàn. Việc gả công chúa cho hào trưởng vùng biên viễn thường để thắt chặt thâm tình với triều đình trung ương. Điều này cho thấy họ Hồ dưới triều Lý vẫn nắm vai trò quan trọng ở châu Diễn. Tiếc là tộc phả họ Hồ bị thất truyền 11 đời, gần 300 năm nên không có thông tin cụ thể gì về con cháu Hồ Hưng Dật dưới triều Lý.

Sự qui thuận của vùng Châu Diễn, mà chắc chắn con cháu thái thú Hồ Hưng Dật đóng vai trò chủ đạo, có vai trò khá quan trọng đối với nhà Lý vì nó giúp ổn định biên cương phía Nam Đại Việt trong buổi đầu lập quốc. Châu Diễn là nơi tiếp giáp với người … Hồ hay người Hời. Chiến tranh Đại Việt – Chiêm Thành trong giai đoạn tiếp theo luôn là vấn đề nhức nhối của triều Lý, cho thấy tầm quan trọng của vùng đất Hoan Diễn trong sử Đại Việt.

Không rõ việc Hồ Quý Ly lấy lại họ Hồ liệu có ý muốn nói mình là nguồn gốc từ vùng người Hời không. Câu thơ của danh thần Nguyễn Trãi ở Thần Phù có vẻ muốn ám chỉ điều này (Quá Thần Phù hải khẩu):
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch:
Giang sơn còn đó, đâu anh kiệt
Trời đất vô tình, biến đổi qua
Hồ – Việt một nhà nay lại thấy
Từ đây bốn bể lặng kình ba.

Họ Hồ ở Quỳnh Đôi là đất người Hời, cũng không quá lạ. Ngay Lê Thái Tổ (Lê Lợi) ở Thanh Hóa còn sinh ra ở làng Chăm. “Hồ Việt một nhà”, “Hồ Việt một thuyền” là mong ước bao đời của hai dân tộc anh em, đôi cành chung gốc, nay đã thành hiện thực từ dưới triều Nguyễn.

Theo Lãn Miên (Diễn đàn Lý học phương Đông):
“Câu “Dài mãi ra đến Biển” các cụ nhà nho ám chỉ “mạch nước ngầm” vì mạch nước ngầm thì cuối cùng nó cũng “Dài mãi ra đến Biển”, các cụ đã lướt “Dài mãi ra đến Biển”= “Dài…Biển” = Diễn 衍, đúng QT Thanh điệu: Dài+Biển=Diễn = 1+1=0 ( đúng như toán học nhị phân) và chỉ viết bằng một chữ Diễn 衍 gồm bộ Hành 行 là Đi có kẹp bộ Thủy 氵ở giữa, biểu ý là “nước nó đi”, nước đi thì cuối cùng cũng ra đến biển, chữ Diễn 衍 chẳng có tá âm “iên” nào mà lại đọc là Diễn, vậy nó chính là do lướt “Dài mãi ra đến Biển” = “Dài…Biển” = Diễn 衍. Chữ Diễn 衍 này còn mang nghĩa là “lấn biển”, trong khi một chữ Diễn khác thì không mang ý đó. Đó là cái địa danh Diễn Châu 衍 州. Về sau người ta viết chỉ chú cái âm “Diễn” nên cũng có văn bản viết Diễn Châu 演 州 bằng chữ Diễn 演 là biểu diễn, sai hết cả biểu ý “lấn biển” của một vùng đất từng một thời “Dài mãi ra đến Biển”, nên trong vùng đồng bằng của nó nhiều nơi cách bờ biển ngày nay mấy chục cây số vẫn là “đất sò”, cứ đào lên là thấy từng lớp từng lớp dày vỏ nghêu sò ốc hến vỡ vụn, dùng đúc gạch không nung rất tốt gọi là gạch sò.”

Họ Chu Việt Nam

Người Việt có truyền thống coi trọng tính cộng đồng nên họ của người Việt luôn luôn đứng ở vị trí thứ nhất trong họ tên. Trong khi đó người Âu Mỹ coi trọng cá thể nên tên đứng trước họ đứng sau.
Trong Bách gia tính thì họ Chu là một trong những họ phổ biến nhất tại Trung Quốc. Còn gia phả các dòng tộc họ Chu ở Việt Nam thì đều chỉ chép đến các vị tổ từ thời Lý Trần đổ lại. Truy nguyên nguồn gốc tộc tính họ Chu ở Việt Nam nay có thể làm được khi so sánh các phát hiện lịch sử mới với cổ sử Trung Hoa.
Về nguồn gốc của họ Chu Trung Hoa, sử sách có ghi lại như sau:
Họ Chu nguyên là họ Cơ của nhà Chu, vương triều cai trị Trung Hoa 874 năm. Khi Tần Trang Tương Vương chiếm Lạc Ấp diệt Chu năm 256; vương tử Cơ Tống (dòng dõi của Chu Bình Vương) mới dẫn con cháu rời khỏi Lạc Ấp và đổi sang họ Chu.
Sau này con cháu của Chu Noãn Vương di cư xuống phía nam, cũng đổi họ của mình thành Chu để nhớ về tổ tiên. Một nhánh nhỏ của họ Cơ tại nước Lỗ cũng di cư xuống phía Nam, sau này là tổ tiên của Chu Nguyên Chương, Thái tổ nhà Minh. Nhánh họ Chu này là dòng dõi của Chu Công Cơ Đán – người có công ổn định nhà Chu.
Như vậy họ Chu có một số dòng nhánh khác nhau, nhưng đều là xuất phát của họ Cơ của thiên tử Chu, đều là Chu lân chỉ, Chu lân giác, Chu lân đính cả. Muốn hiểu được ngọn nguồn của dòng họ này phải hiểu được nguồn gốc nhà Chu và định vị được vương triều này trong cổ sử.
Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng.
Dịch là:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang
Kiểu ngoài Bách Man về Cổ Lũy
Quốc Tây chống cự tráng Chân Đăng.
Châu Chân Đăng thời Trần sau đổi thành phủ Lâm Thao, nay là huyện Lâm Thao – Phú Thọ. Phú Thọ chính là lộ Tam Giang, nơi ba con sông lớn Đà, Lô, Thao gặp nhau. Phạm Sư Mạnh đã đi tuần ở vùng Phú Thọ nên mới làm bài thơ bắt đầu cảm hứng về vùng đất tổ linh thiêng này của Chu thiên tử: Trời khai đất mở lộ Tam Giang
Trong bài trước đã bàn việc Âu Cơ – Chu Văn Vương lập nước Văn Lang – Âu Lạc, đô đóng ở lộ Tam Giang, vùng hợp lưu ba con sông Đà, Lô, Thao tại Phong Châu – Vĩnh Phú. Tiếp đó Vũ Ninh – Chu Vũ Vương cùng Thánh Gióng diệt Ân Trụ, phân phong chư hầu Bách Việt rồi dời đô về Cảo Kinh (Kiểu Kinh). Tới thời Chu Bình Vương lại dời đô từ Kiểu Kinh quay về Lạc Ấp – Đông Đô, mở đầu thời kỳ Đông Chu trong lịch sử.
Lạc Ấp hay Đại ấp Lạc… Việt, chính là vùng Cổ Loa, còn gọi là Đông Đô, tên cũ của Hà Nội vẫn được ghi nhận tới nay. Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy là “hoàn” về Cổ Loa. Đây cũng là vùng mà cổ sử gọi là Tam Xuyên – Tam Giang, nơi cơn địa chấn lúc giao thời Đông và Tây Chu đã làm nên truyền thuyết Lão Tử – Huyền Thiên giúp An Dương Vương diệt Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Cuối thời Đông Chu, cháu của Tần Chiêu Tương Vương là Doanh Tử Sở tấn công diệt nhà Đông Chu. Đây là lúc “Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng” trong câu thơ trên. Tần Chiêu Tương Vương mới chính là … Triệu Đà người Chân Định – Chân Đăng, cha của Trọng Thủy – Doanh Tử Sở, người đã ở rể nhà Chu – An Dương Vương tại Cổ Loa Thành.
Khi Lạc Ấp – Cổ Lũy mất về tay nhà Tần, vương tử nhà Chu là Cơ Tống đã đổi họ sang họ Chu để tưởng nhớ tiên tổ của mình. Rất có thể những người Việt mang họ Chu ở vùng miền Bắc Việt ngày nay giáp Cổ Loa (Mê Linh, Sóc Sơn, Bắc Ninh,…) là thuộc về nhánh Chu Bình Vương từ Lạc Ấp này.
Rất có thể vì mối lương duyên Mỵ Châu – Trọng Thủy hay giữa Doanh Tử Sở và con gái vua Chu mà Tần Trang Tương Vương khi diệt Chu đã rất “nhẹ tay” với con cháu hoàng tộc Chu. Con cháu nhà Chu chỉ đổi họ từ họ Cơ sang họ Chu, mà hầu như vẫn được sống ở nguyên tại chỗ. Họ Chu vì vậy vẫn tồn tại quanh vùng Cổ Loa xưa. Tương tự khi nhà Trần đoạt ngôi nhà Lý, hoàng tộc nhà Lý chỉ bị đổi sang họ Nguyễn chứ không bị tận diệt.
Nhánh thứ hai của họ Chu là con cháu Chu Noãn Vương di cư về phía Nam. Chu Noãn Vương Cơ Duyên là vị vua cuối cùng của nhà Chu khi bị Tần đánh diệt. Sau khi “cự trấn tráng Chân Đăng”, Chu Noãn Vương đã chạy về vùng … Nghệ An và lên thuyền đi ra biển … Mộ Dạ ở Diễn Châu – Nghệ An còn ghi lại truyền tích An Dương Vương chém Mỵ Châu rồi cầm sừng văn tê bảy tấc theo thần Kim Qui ra biển Đông… Đền Cuông ở Mộ Dạ là thờ Chu Noãn Vương vậy.
Nhánh thứ ba của họ Chu là con cháu Chu Công Đán, nước Lỗ, di cư xuống phía Nam. Chu Công Đán hay Chu Công là em của Chu Vũ Vương, người đã xây dựng Lạc Ấp – thành Cổ Loa. Chu Công là chúa nước Lỗ nên có tên Việt là Cao Lỗ. Cạnh Mộ Dạ hiện còn nhà thờ họ Cao ở Nho Lâm – Diễn Thọ, lấy Cao Lỗ là Tiền đại viễn tổ. Nước Lỗ hay Lão chính là nước Lào, giáp Nghệ An ngày nay.
Như vậy có thể những người họ Chu ở vùng Thanh Nghệ ngày nay là dòng nhánh của Chu Noãn Vương hay Chu Công, sau khi Loa Thành thất thủ đã theo thiên tử Chu di cư chạy xuống phía Nam.
Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương là con cháu nhánh họ Chu từ Chu Công. Như vậy nước Ngô do Chu Nguyên Chương ban đầu lập nên là một quốc gia người Hoa Việt. Chỉ khi Yên Vương Chu Đệ soán ngôi, dời kinh đô về Bắc Kinh thì triều Minh mới đổi lại dòng “máu trắng”, thành một nước do người Mông – Hán làm chủ. Chu Đệ Minh Thành Tổ tấn công nhà Hồ của nước Đại Ngu, bắt Hồ Quí Ly và Hồ Hán Thương ở Thiên Cầm – Hà Tĩnh, rồi tiến hành cuộc tàn phá qui mô, xóa sạch các vết tích về nguồn gốc Bách Việt của Trung Hoa ở nước ta. Đến đài Trang Vương ở tận Hương Sơn – Hà Tĩnh, chứng tích của vương triều Chu (Chu Trang Vương) ở Việt Nam cũng bị đập tan tành, chỉ còn trơ nền tới giờ.
Cuốc chiến Chu – Tần cách đây trên 2000 năm quả là đã quá lâu và bị màu thời gian cùng bàn tay ai đó bóp nặn đến nỗi các dòng tộc chân truyền của nhà Chu ở Việt Nam ngày nay không còn biết mình từ đâu mà ra. May thay, trời xanh có mắt. Họ Chu nay lại có thể nối nguồn với tiên tổ từ đất tổ sông Cả (sông Cơ) núi Hồng, với Đông Đô – Hà Nội.

 

Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi

Cây có cội, người có tông. Những gì của ngày hôm nay bắt đầu từ ngày hôm qua. Con cháu được no ấm là nhờ phúc đức của tổ tiên. Việc tìm hiểu, nhìn nhận lại cội gốc của mình là việc mà mỗi người không thể không làm.

Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An nổi tiếng bởi đã sản sinh ra 3 thế hệ lãnh tụ của đất nước. Từ Hồ Quí Ly, Hồ Thơm đến Hồ Chí Minh đều là những nhà cải cách, nhà chính trị quân sự kiệt xuất. Tính cách và nhân cách đó còn truyền tới thế hệ con cháu sau này.

Cái gốc của họ Hồ Quỳnh Đôi bắt đầu từ nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Theo Hồ tông thế phả thì vào “thời ngũ đại, triều Hậu Hán (947 – 951) đời Hán Ẩn Đế (948 – 951) Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, dòng dõi nhà nho thuộc dân Bách Việt ở Chiết Giang, nhận chức thái thú Châu Diễn”.

Thông tin trên về nguyên tổ Hồ Hưng Dật có nhiều điều khó hiểu.
–    Hồ Hưng Dật người Chiết Giang (hoặc Phúc Kiến) vào thời Ngũ đại thập quốc. Khu vực này khi đó thuộc đất Ngô Việt, là một quốc gia riêng. Người Ngô Việt thì rõ ràng là dân Bách Việt. Vậy làm sao ông Hồ Hưng Dật có thể đi thi đậu Trạng nguyên nhà Hậu Hán của người Sa Đà được? Nhà Hậu Hán kéo dài chỉ có 4 năm tất cả, gồm 2 đời vua đều ngắn ngủi, lúc đó còn đang mải đánh nhau, ổn định vương vị chưa xong, nói gì đến chuyện tổ chức thi cử qui mô quốc gia, có cả người nước khác đến dự thi.
–    Chuyện lạ thứ hai là Trạng nguyên nhà Hậu Hán sao lại sang nước Nam làm thái thú một châu lớn? Theo chính sử Việt thì nước ta đã dành độc lập từ thời Ngô Vương Quyền năm 938, sao tới tận những năm 950 vẫn có người nhà Hán sang làm thái thú nước ta?

Tiếp đến lại có một số tài liệu chép rằng Hồ Hưng Dật đã giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (khoảng năm 965 – 967). Điều này lại càng khó hiểu vì loạn 12 sứ quân theo sử sách chỉ xảy ra ở miền Bắc, tới Ái Châu (Thanh Hóa) là cùng, làm sao lại vào tới tận Châu Diễn?

Xin đưa ra một giả thuyết khác về nguồn gốc và sự nghiệp của nguyên tổ Hồ Hưng Dật trên cơ sở những nhìn nhận mới đối với giai đoạn lịch sử bản lề này của nước ta.

Chuông cổ Nhật Tảo, quả chuông đồng cổ nhất còn lưu giữ được ở nước ta, có bài minh chép:
Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn, thời Càn Hòa lục niên Mậu Thân tuế, tứ nguyệt, nhị thập cửu nhật (thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ, ngày 29/4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ sáu).
Tìm hiểu trong sử liệu các triều đại Việt Nam thì không hề có niên hiệu Càn Hòa. Niên hiệu Càn Hòa là thuộc về vua nước Nam Hán Lưu Thịnh, đóng đô ở Quảng Châu trong thời Ngũ đại thập quốc ở Trung Quốc. Càn Hòa thứ sáu là năm 948.

Theo thông tin trên thì cùng thời gian Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thì nước ta còn đang thuộc về Nam Hán Lưu Thịnh. Giao Chỉ vẫn còn đang là huyện chứ không phải thủ đô. Như vậy có thể thấy việc Hồ Hưng Dật đỗ Trạng nguyên và làm Thái thú Châu Diễn là xảy ra dưới triều Hán ở Quảng Châu, chứ không phải Hậu Hán Sa Đà.

Nam Hán thành lập từ Lưu Cung, lúc đầu lập quốc gọi là Đại Việt, sau đó mới đổi sang thành Hán. Tên Nam Hán chỉ là cách gọi của các sử gia sau này để phân biệt với Bắc Hán. Tên chính xác của nước này là Đại Hưng, như trong đồng tiền Đại Hưng bình bảo tìm thấy ở nước ta. Đây là quốc gia của người Việt chính cống.

Năm 924 Nam Hán đế ban đầu cải danh thành Trắc (陟). Nhưng chỉ một năm sau, nhân “rồng trắng hiện lên” nên đổi niên hiệu thành Bạch Long và cải danh lại thành Cung (龔).

Chi tiết này khá giống với việc Lý Công Uẩn khi dời đô thấy rồng bay lên. Một số tài liệu chép Lý Công Uẩn người gốc Mân. Rất có thể người gốc Mân ở đây chính là Lưu (Lý) Cung, người lập nước Đại Việt dưới thời Ngũ đại. Vì Lý Cung người gốc Mân nên Hồ Hưng Dật, người Phúc Kiến – Chiết Giang hoàn toàn có thể đi thi ở nước Đại Việt – Đại Hưng.

Nước Đại Việt – Đại Hưng tồn tại từ thời Lưu Cung tới Lưu Sưởng kéo dài 54 năm. Trong thời gian này chắc chắn đã có tổ chức thi cử theo chế độ của nhà Đường trước đó. Một trong những Trạng nguyên của nước Đại Hưng này là Tống Trân huyện Phù Hoa. Vì thế Hồ Hưng Dật, người gốc Mân hoàn toàn có thể là một Trạng nguyên khác của nước Nam Hán – Đại Hưng. Không biết có sự trùng hợp hay không nhưng trang Bào Đột ở Quỳnh Lưu nơi Hồ Hưng Dật lui về lập ấp thuộc giáp cũng tên là Phù Hoa.

Câu chuyện Hồ Hưng Dật dưới thời Càn Hòa đỗ Trạng nguyên nhà Nam Hán (Đại Hưng) và sang làm Thái thú Châu Diễn cho thấy mãi tới năm 950 nước ta vẫn đang thuộc Nam Hán (Đại Hưng). Cuộc chiến dành độc lập của Ngô Quyền như vậy không phải xảy ra năm 938 như sử vẫn chép.

Tới đây thì chuyện Hồ Hưng Dật giúp Đinh Bộ Lĩnh cũng được sáng tỏ. Đinh Bộ Lĩnh nghĩa là Thủ lĩnh của Đinh Bộ hay Tĩnh Hải tiết độ sứ, chính là vị vua Lý đầu tiên – Lý Công Uẩn. Khi triều đình Lưu (Lý) Sưởng ở Quảng Châu suy đồi, ông Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh đã đưa thủ lĩnh phần Tĩnh Hải (phần phía Tây của nước Đại Hưng) là Lý Công Uẩn lên ngôi. Hồ Hưng Dật là Thái thú Châu Diễn, thuộc Đinh Bộ nên việc ông giúp Đinh Bộ Lĩnh – Lý Công Uẩn “dẹp loạn” là hiển nhiên. Họ Hồ hẳn là một công thần lập quốc nên sau đó mới có chuyện một “tuấn kiệt” nhà họ Hồ đã lấy công chúa Lý Nguyệt Đích sinh ra công chúa Hồ Nguyệt Đoan như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại.

Thanh nha Ho
Một góc cổng thành nhà Hồ

Khảo cổ Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa phát hiện một số viên gạch có chữ Giang Tây quân, cho thấy khu vực này đã từng lại một căn cứ quân sự – chính trị từ thời Tĩnh Hải (Giang Tây = Tĩnh Hải), tức là giai đoạn Cao Vương Biền dẹp Nam Chiếu ở Thanh Nghệ tới khi Đại Việt của Lý Thánh Tông ra đời.

Đền thờ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi do Hồ Hán Thương vâng lệnh Thái thượng hoàng Hồ Quí Lý xây cất có câu đối:
Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích
Bào Sảo giang sơn vạn đại từ.

Chữ “Trần Ngu” ở đây có thể không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Đại Ngu). Đền vua Hồ thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ?
Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quí Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thư gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt.

Dịch lại câu đối trên:
Tích nghìn năm Ngu Hồ trải lịch
Đền vạn thế Bào Sảo non sông.

Câu đối khác ở Đền vua Hồ ở Quỳnh Lưu:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.

Cổ 古 nguyệt 月 là chiết tự của họ Hồ 胡 .

Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

Vế trên nói đến dòng máu lãnh tụ của họ Hồ từ Ngu Thuấn, Hồ Quí Ly… Vế dưới nói đến truyền thống thơ văn, lễ nghĩa của dòng tộc có học, có chữ. Con cháu họ Hồ mang trong mình dòng máu của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, khai quốc công thần thời Đinh – Lý nên nhớ 2 vế đối trên ở đền thờ nguyên tổ.

Viết tặng Hồ Vĩnh Phú.

 

Chu lân chỉ

Trên vùng đất tỉnh Hà Giang hiện nay còn lưu lại 2 hiện vật thời Trần, còn tồn tại qua thời gian tàn phá tứ đại khí và đập bia của giặc Minh. Đó là bia đá chùa Sùng Khánh và chiếc chuông đồng chùa Bình Lâm. Cả hai hiện vật này đều nằm ở huyện Vị Xuyên, cách không xa thành phố Hà Giang.

Chuong
Chuông chùa Bình Lâm

Trích phần dịch bài minh trên chuông chùa Bình Lâm:
Nước Đại Việt, châu Thượng Bà Động ở giáp giới Bắc trường Phú Linh. Vua thứ 5 nhà Trần kế theo các bậc hoàng đế anh minh cao quí lập họ Nguyễn ở Cổ Nhất từng có công làm sáng đức sáng hơn người; vậy báo rõ cho được vâng nhận các mỹ tự: Thọ kiên kiên trinh trinh phúc.
Nay để báo đáp, kẻ nối sau là thủ lĩnh Nguyễn Anh, vợ Nguyễn Thị Ninh cùng các ông già bà cả, thiện nam tín nữ, chứng minh đại sa môn sư chịu gánh việc khó, phát tâm đúc một quả chuông lớn vào giờ Ngọ, ngày Rằm tháng Ba năm Ất Mùi (1295) ở mái hiên Tiểu Thượng Niên, Viện Đại Bi trong thành; để lưu giữ mãi mãi ở chùa Bình Lâm, tiện cho việc cúng đường tam bảo…
Cốt sao làm rõ vết dấu dài lâu. Họ tộc vốn là gót lân nhà Chu, đã được phong lãnh địa ở địa giới phía Bắc, theo đó mà cháu con thừa hưởng đến muôn đời không dứt để nối tiếp mãi với trời đất, vậy nên mới làm bài văn này ghi lại…
Thiền tăng Mật Vân ở Lịch Sơn soạn vào ngày mùng Một, tháng Năm, năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ tư (1296).

(Người dịch: Lại Văn Hùng – Viện Văn học, theo Bảo tàng Hà Giang)

Bài minh trên có một số thông tin đáng chú ý. Minh văn cho biết chuông chùa được đúc bởi sự phát tâm của vị thủ lĩnh họ Nguyễn là Nguyễn Anh, dòng dõi “Cổ Nhất Nguyễn”. Cổ Nhất có thể không phải là tên địa danh như dịch ở trên. Rất có thể “Cổ Nhất” nghĩa là vị “Cả một”, tức là người mở đầu dòng họ Nguyễn, là người có công lớn đã được nhà Trần phong mỹ tự “Thọ kiên kiên trinh trinh”.

Điều lạ nhất trong bài minh về dòng họ Nguyễn này là cụm từ “Chu lân chỉ”, tức là gót lân nhà Chu. Chữ này lấy từ Kinh Thi, Chu Nam, bài Lân chi chỉ. Nghĩa vẫn hay được chú giải là “chân con lân không đạp lên cỏ tưới, không dẫm lên côn trùng còn sống, là loài vật rất hiền lành…”. Có điều, giải thích vậy thì “trán lân” và “sừng lân” (2 bài thi Lân chi đính Lân chi giác trong Chu Nam) nghĩa là gì? Là con lân không húc sừng vào cây cỏ sao?!

Thực ra con lân chẳng hề hiền lành đến mức không dẫm lên côn trùng cây cỏ. Kỳ lân  là loài thần thú được pha trộn giữa hổ (con ly) và … tê giác. Cả hổ và tê giác đều là những con vật của phương Nam chính gốc. Loài tê giác Java một sừng ở Việt Nam vừa mới bị tuyệt chủng cách đâu không lâu. Thời xưa thì đất Việt Nam nổi tiếng là nơi có nhiều sừng tê.

Kỳ lân là thần vật, là biểu tượng của nhà Chu. Điều này chỉ ra nguồn gốc phương Nam của nhà Chu. Chu Nam là phong dao vùng đất của Chu Công, chú của thiên tử Chu, tức cũng là dòng dõi nhà Chu. “Gót lân” (“Lân chỉ”) nghĩa là nói đến dòng dõi đế vương thiên tử.

Hiểu chữ “lân chỉ” trong Kinh Thi thì mới giải nghĩa được đoạn minh văn trên của chuông chùa Bình Lâm. Họ Nguyễn phụ đạo châu Thượng Bà Động, vốn là dòng dõi đế vương (Chu lân chỉ). Không rõ dòng họ này có liên hệ tới tận thiên tử Chu không, nhưng có thể ở đây ám chỉ họ Nguyễn chính là họ Lý đã bị nhà Trần đổi họ và đẩy lên vùng biên giới phía Bắc này. Nguyễn Cổ Nhất có thể là một hoàng tộc nhà Lý đã thay họ, được phong đất ở vùng Hà Giang.

Tên gọi Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến là trên minh văn của quả chuông chùa Sùng Khánh khắc vào thời Lê Dụ Tông (năm 1705). Nhưng một số tài liệu còn nói đến tên Hà Dương. Ví dụ, trong câu đối tại đền Đôi Cô tại Cầu Má – Vị Xuyên:
Hà Dương Bắc Lệ Hòa Bình tam vị chủ
Thiên tiên thần nữ anh linh Đôi Cô từ.

Tên khác của vùng đất này trong lịch sử là châu Vị Xuyên. Rất có thể Giang = Dương = Xuyên, không phải nghĩa là sông, mà là tượng Nước, hay số 1 (Giêng), chỉ hướng Bắc. Hà Giang có nghĩa tương tự như Hà Bắc, vùng đất nằm phía Bắc của sông Lô. Điều này cũng ứng với từ “Bắc giới” được nhắc lại vài lần trong bài minh trên chuông chùa Bình Lâm.

Câu cuối cùng trên bài minh chuông chùa Bình Lâm nói đến “Lịch Sơn Thiền tăng Mật Vân”. Địa danh Lịch Sơn là ở Hà Giang. Đây có phải là nơi vua Thuấn đi cày thời cổ theo truyền tích không? Vùng biên cương phía Bắc này là một phần đất Nam Giao của vua Thuấn xưa.

Văn Nhân góp ý:
Tôi tán thành việc Bách Việt 18 dịch cụm từ “Chu lân chỉ” là “gót lân nhà Chu”.
Con Lân người Việt thường gọi đủ là Kỳ lân nghĩa là lân đất Kỳ. Đất Kỳ nơi có Kỳ sơn là đất gốc tổ nhà Châu thời Thái vương – Cổ công đản phủ dừng chân lập nghiệp. Như thế Chu lân và Kỳ lân là một.

Kỳ sơn thuộc Kỳ châu, Kỳ châu = Cùi chu = Quý  châu ngày nay.
Lân là con thú thần được con người tạo ra dựa trên hình tượng gốc là con Hổ.
Hổ ↔hỏa = lửa↔Ly.

Tứ linh của 4 phương Trung hoa là: long – ly – quy – phụng … không có con lân. Phương tây là Bạch hổ đối với phương đông là Thanh long (không phải rồng xanh hổ trắng).
Vậy Lân ở đâu nhảy ra mà trở thành thú linh thay cho Ly của nhà Châu phía Tây Trung hoa?
Phải chăng lại là thủ thuật ‘chữ nghĩa’, xóa thông tin mang trong bản thân từ ngữ?

Theo phép phiên thiết: Lân tri thiết ly.
Người ta đã thay tên Ly bằng phiên thiết ‘lân tri’. Lâu dần về sau rụng mất chữ tri chỉ còn lại mỗi chữ ‘lân’???
Ở vùng Côn Minh ngày nay người ta vẫn tôn sùng Hổ. Phải chăng đất ấy có liên quan căn cơ với Chu lân – Kỳ lân?

Bách Việt trùng cửu:
Nguyên gốc ba bài thơ trong Chu Nam, Kinh Thi là: Lân chi chỉ, Lân chi đính và Lân chi giác (gót Lân, trán Lân và sừng Lân). Nếu tên con vật này là Lân thì chữ “chi” 之 trong ba bài thơ trên là thừa và thậm chí có khi còn sai về ngữ pháp. Hoàn toàn có thể nói Lân chỉ, Lân đính hay Lân giác như trong quả chuông chùa Bình Lâm (Chu lân chỉ), mà không cần tới chữ “chi”.
Nay với giải thích của anh Văn Nhân thì phải đọc chính xác là”Lân chi” thiết Ly. Tên của 3 bài thơ trong Kinh Thi cần đọc là Ly chỉ, Ly đính và Ly giác. Tên con thần thú của nhà Chu này như vậy gốc là con Ly.

Đền thờ Cao Lỗ ở Diễn Châu

NhathohoCao

Cách Mộ Dạ không xa, ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An có một ngôi đền thờ họ được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đó là đền thờ họ Cao, tương truyền thờ Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương. Cao Lỗ được gọi là Tiền viễn tổ của họ Cao từ Nho Lâm. Họ Cao nổi tiếng về truyền thống hiếu học, có nhiều nhân vật dòng họ có danh tiếng xưa và nay như Cao Bá Quát, Cao Sỹ Kiêm, Cao Đức Phát, …
Theo gia phả của họ thì họ Cao ở Nho Lâm có gốc là từ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí vào khoảng năm 1360, lập làng Tùng Lâm, sau đổi thành Nho Lâm. Có điều không hiểu sao họ Cao lại nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải (?). Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Theo Bách gia tính thì họ Cao của Trung Quốc cũng có xuất xứ ở Bột Hải.
Kỳ lạ nữa là ông Cao Thiện Trí lấy vợ là Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An (!). Thật hết biết các nước thời Chiến Quốc của Trung Hoa là ở chỗ nào.
Câu đối trước cửa đền thờ họ Cao:
Vạn phái thiên lưu nguyên Bột Hải
Kim hoa cổ thụ mạn Tùng Lâm.
Dịch:
Vạn chi lưu dời đều từ Bột Hải
Gốc cổ thụ xưa nay vẫn ở Tùng Lâm.

Dạ luyện sơn đầu ngô tổ triệu
Tranh hùng địa hậu ngạ tiên phù
(Không biết dịch thế nào)