Hưng quốc

Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lý nói về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn: “Trước đây ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm châu Cổ Pháp, có con chó đẻ con sắc trắng có đốm đen thành hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là người sinh vào năm Tuất sẽ là Thiên tử. Đến đây vua sinh năm Giáp Tuất làm Thiên tử, quả nhiên ứng nghiệm”.
Ở Hà Nội còn từng có cả đền Cẩu Nhi thờ chú cho con này.

Sách Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) ngoài chuyện chú chó con có chữ Thiên tử trên còn nói đến truyền thuyết về cây gạo đầu làng Cổ Pháp bị sét đánh nứt đôi, bên trong có chữ đề:
Góc chùa cây cả trực trời
Lại có chữ bày Hưng Quốc chi niên.

Rồi Lý Khánh Văn nhân đó đoán:

Điềm này nghiệm đến sự trời
Nào ai tuổi Tuất ấy người làm vua
Lên đền một mối tay thu
Chữ Hưng Quốc ấy ắt là thiên nguyên.

Rồi khi Lý Công Uẩn lên ngôi:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng Quốc đề phong trong ngoài
Hoa Lư hiểm địa hẹp hòi
Xa giá bèn dời về ở Thăng Long.

Như vậy sách Thiên Nam ngữ lục cho ta một thông tin rõ ràng: Hưng Quốc từng là tên nước ta thời kỳ đầu triều Lý, gắn liền với Lý Công Uẩn và việc dời đô ra Thăng Long.

Thiên Nam ngữ lục … ngoại kỷ

Thiên Nam ngữ lục là tập sử trường thiên ca ra đời vào cuối thế kỷ 17. TNNL bao gồm 8136 câu thơ lục bát, 31 bài thơ chữ Hán và 2 bài thơ Nôm. Đây là tác phẩm văn vần dài nhất trong kho tàng văn học viết bằng chữ Nôm còn lại cho tới ngày nay.
Sách vốn có tên gọi đầy đủ là “Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ”, diễn ca lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến đời Lê Trung Hưng. Người đời sau xét thấy chỉ có phần đầu chép lịch sử ngoại kỷ dựa vào dã sử, phần còn lại chép lịch sử bản kỷ nên lược bớt hai chữ “ngoại kỷ” trong tên sách. Tuy nhiên, chữ “ngoại kỷ” không chỉ có nghĩa là dã sử, mà còn có thể mang một nghĩa khác. Đó là nghĩa “ngoài chính sử”, tức là những sự kiện, những tư liệu được sử dụng trong tác phẩm có thể được viết không theo đúng như chính sử.
Tác giả của Thiên Nam ngữ lục là một người uyên bác, hiểu biết rất rõ về những bộ chính sử đã được biên soạn thời đó. Khi đó Đại Việt sử ký toàn thư vừa mới được hoàn thành, chỉ trước TNNL có vài chục năm. Lý do gì mà Thiên Nam ngữ lục không theo đúng quyển sử này mà còn cố ý đặt tên tác phẩm của mình là “ngoại kỷ”? Không chỉ là tác giả muốn “phóng tác” theo ý riêng, mà gần sự thật hơn có thể tác giả có những tư liệu khác và không đồng nhất quan điểm với nhiều sự kiện ghi trong chính sử.
Do được sáng tác vào cùng thời kỳ với Đại Việt sử ký toàn thư và lại có tư tưởng “phản biện”, “chỉnh lý” chính sử, thể hiện trong từ “ngoại kỷ” như trên, TNNL phải được coi là một nguồn tư liệu lịch sử có giá trị ngang với Đại Việt sử ký toàn thư.
Câu mở đầu của Thiên Nam ngữ lục:

Trải xem sự kỷ nước Nam
Kính vâng tay mới chép làm nôm na.

Câu này cho thấy sách được viết theo lệnh của bề trên, có thể là của chúa Trịnh, viết về lịch sử nước Nam. Tức là đây là một tác phẩm chính thống về sử chứ không phải một sáng tác văn học đơn thuần.
Một khả năng khác là do tình trạng cầm quyền vua Lê nhưng chúa Trịnh nên chúa Trịnh không thể tự biên soạn quốc sử như thông thường. Do vậy chúa Trịnh đã cho diễn ca lịch sử, tuy gọi là “ngoại kỷ” nhưng thực ra đó là chính sử viết dưới góc độ của nhà chúa. Dù là dưới góc nhìn của vua Lê hay chúa Trịnh thì cũng không ảnh hưởng đến giá trị sử liệu của tác phẩm, nhất là đối với những thời kỳ đầu (trước thời Lê) của đất nước.
Do sử sách nước ta chép về thời kỳ đầu dựng nước còn lại quá ít nên một quyển “ngoại kỷ” như vậy thật vô cùng quí giá, cung cấp những sử liệu khác với độ tin cậy không kém gì chính sử. Những sự kiện khác biệt trong TNNL so với chính sử Việt chính là những điểm cần suy nghĩ làm sáng tỏ vì hoàn toàn có thể đó là sự thật lịch sử.

Đồng tiền Đại Hưng bình bảo

Bài này muốn bàn về cách đọc một đồng tiền cổ rất nổi tiếng ở Việt Nam vì được cho là đồng tiền đầu tiên của nước ta sau khi dành được độc lập vào thời Đinh.

Vấn đề ở chỗ cách đọc của đồng tiền này.
Mặc dù theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, niên hiệu của Đinh Tiên Hoàng có chữ Hán viết là “Thái Bình”, nhưng Bernard J. Perma (Catalogue of Annam coins  968- 1955, Vietnam, 1963), thật có lý khi đọc hiệu của đồng tiền là “Đại Bình Hưng Bảo”. Bởi sự thật, các đồng tiền do vua Đinh đúc, cả hiện vật lẫn ảnh chụp, chữ Hán viết là “Đại Bình” chứ không phải là “Thái Bình”. Trong sách Tiền Cổ Việt Nam, GS Đỗ Văn Ninh đưa ra hai cách giải thích hiện tượng trên như sau:

-Đồng tiền bị gỉ làm mất nết chấm dưới chữ “thái”. Cách giải thích này khó được chấp nhận, vì chưa thấy đồng tiền nào của vua Đinh viết chữ Hán là “thái bình”; nếu có, chắc nhầm lẫn với một loại tiền khác..


-Cách giải thích thứ hai, dễ hiểu và có sức thuyết phục hơn là: chữ “đại” còn có một âm đọc là “thái”
.”

Cả hai cách giải thích đều không ổn. Ngay cùng với thời đó ở Hoa Lư và Hoàng thành Thăng Long có loại gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, cho thấy chữ đầu tiên trong tên đồng tiền  đọc là “Đại” chứ không phải “Thái“. Tên của đồng tiền này đã đánh đố rất nhiều nhà nghiên cứu tới nay chưa có lời giải.

Một số nhà nghiên cứu khác đưa ra ý kiến đọc hiệu đồng tiền là “Đại Hưng Bình Bảo“. Tuy rằng thời Đông Tấn – Nguyên Đế (Tư Mã Duệ) có niên hiệu Đại Hưng (318-321), song thời ấy ở Trung Quốc đang còn sử dụng hệ thống tiền Ngũ Thù, chưa dùng chữ “bảo” để chỉ khái niệm tiền tệ, do đó tiền này không thể do triều Tấn đúc“.

Những người chơi tiền cổ đều biết tên tiền cổ có 2 cách đọc chéo và đọc xuôi. Nếu đọc xuôi theo chiều kim đồng hồ thì tên đồng tiên trên phải là “Đại Hưng bình bảo”. Vấn đề là trong lịch sử không biết chữ “Đại Hưng” này ở vào giai đoạn sau nhà Đường (sau đồng tiền đầu tiên dùng từ “bảo” là “Khai Nguyên thông bảo”) thuộc về ai?

…ngày nay tiền “Đại Bình Hưng Bảo” – theo ông XiongBaoKang (Tổng Giám đốc Viện nghiên cứu tiền tệ và Bảo tàng Tiền tệ Quảng Tây – Trung Quốc) – được tìm thấy ở Hoa Nam (Trung Quốc) là đất của Bách Việt rất nhiều…

Thật khó hiểu nếu đồng tiền trên là của nhà Đinh vì nhà Đinh rất ngắn ngủi chỉ có 12 năm, vào lúc phía Bắc nhà Tống đã thống nhất Hoa Nam. Làm thế nào mà đồng tiền của nhà Đinh lại được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam được?

Xin đưa ra một cách nhìn nhận khác về đồng tiền trên. Tên đồng tiền này phải đọc là “Đại Hưng bình bảo” chứ không phải “Thái Bình hưng bảo“. Đồng tiền này không phải của nhà Đinh mà là của Lưu Cung – Lưu Ẩn ở Lưỡng Quảng (Lưỡng Việt). Tên “Đại Hưng” là một bằng cớ rõ ràng về tên nước của Lưu Cung thời đó. Không phải Đại Hán mà là Đại Hưng, như tên Hưng Vương phủ của Quảng Châu. Việc đồng tiền này được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam xác nhận điều này vì đây là vùng ảnh hưởng của nước Đại Việt/Đại Hưng thời đó.

Việc lấy tên nước đặt tên cho đồng tiền tuy ít gặp nhưng không phải không có. Người ta còn tìm thấy đồng tiền “Đại Việt thông bảo“. Đồng tiền này có cách viết chữ tương đồng với thời của đồng “Đại Hưng bình bảo“, nhưng lại bị nghị ngờ là tiền giả cho dù được phát hiện trong di tích Hoa Lư. Lý do được dẫn là thời đó chưa có quốc hiệu Đại Việt ở nước ta. Nhưng nếu nhìn rộng ra thì thấy ngay Đại Việt này là quốc hiệu của Lưu Cung. Gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên” ở Hoa Lư cũng khẳng định danh xưng Đại Việt đã có từ trước. Không như đồng “Đại Hưng bình bảo“, đồng “Đại Việt thông bảo” khá hiếm thấy. Điều này cũng dễ hiểu vì Lưu Cung chỉ sau 1 năm lập quốc đã đổi quốc hiệu từ Đại Việt sang Đại Hưng.

Chữ “bình” trong “bình bảo” có thể hiểu là bình dân, bình thường, “bình bảo” có nghĩa tương tự như “thông bảo” vậy. Trong bộ tiền cổ Việt Nam cũng có một vài đồng tiền mang tên “bình bảo” như đồng “Thiệu Phong bình bảo” đời Trần.

Còn vấn đề chữ “Đinh” ở mặt sau đồng tiền nghĩa là gì thì cần suy xét thêm. “Đinh” ở đây chưa chắc là họ của vua, mà có thể là một số đếm vì Đinh là số thuộc thập can. Có thể là chỉ năm đúc tiền, hoặc một loại số thứ tự nào đó. Nhiều đồng tiền cổ chữ ở mặt sau cũng không dễ hiểu, ví dụ có đồng tiền “Thuận Thiên đại bảo” được cho là đồng tiền của Lý Thái Tổ, với mặt sau có chữ “Nguyệt“. Tới nay chưa ai giải thích được chữ Nguyệt này nghĩa là gì.

Đồng tiền được cho là đồng tiền đầu tiên của Việt Nam lại là một bằng chứng về nước Đại Hưng của Lưu Cung. Đã là Đại Hưng thì không hề có nước Đại Hán ở Lưỡng Quảng và tức là trận thủy chiến với quân Nam Hán của Ngô Quyền không thể xảy ra trên sông Bạch Đằng…

Chữ Nguyệt ở mặt sau đồng Thuận Thiên đại bảo có thể là từ chỉ hướng Tây. Mặt trời là biểu tượng phương Đông. Mặt trăng là biểu tượng của phương Tây.
Như vậy rất có thể tương tự như chữ Đinh trên đồng Đại Hưng bình bảo, chữ Nguyệt cho biết đồng Thuận Thiên đại bảo là tiền đúc của đất Tĩnh Hải thời nhà Đinh – Lý.

Cổ Loa thành

Tôi nghe kể chuyện Cổ Loa Thành
Âu Lạc, Phong Khê chép sử xanh
Tùng bách Chiêu lăng lưu tích cũ
Sơn hà Thục quốc rạng thanh danh
Trời Tây thiên tử oai linh trấn
Đông Hải thánh thần thác gửi hình
Dẫu mất nỏ thiêng, sông núi đó
Ngàn thu cây tỏa bóng yên lành.

Bụi mờ

Trời cao lộng mà không soi tỏ
Lúc triều Lê chép sử nước nhà
Lầm lẫn sử Việt, sử Hoa
Thời Hùng Vương xếp vào là ngoại biên.
Giặc Mãn Thanh tràn miền đất Bắc
Cơn hồng thủy Tứ khố toàn thư
Đốt kinh, cạo sử, thu đồ
Cội nguồn Hoa Việt phủ mờ bụi xanh.
Nay con cháu hùng anh dòng dõi
Hướng về nguồn tìm cõi cha ông
Vạn năm văn hiến hay không?
Lặng im hay kể trống đồng Việt Nam?

Tản mạn Cổ Loa

Nghimon

Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa

Hai câu đối về Chiêu lăng nằm ở mặt trong của nghi môn đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa:

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ

Thục quốc sơn hà thượng cố cung

Vì sao đền An Dương Vương lại gọi là Chiêu lăng? Đền thờ này còn gọi là đền Vua Chủ. Thành Cổ Loa gọi là thành Chủ. Chiêu, Chủ có phải là Chu không?

Một chuyện lạ là An Dương Vương được biết là người “nước ngoài” đến thay thế triều Hùng. Nhưng trong văn hóa khảo cổ không hề có dấu tích nào về sự thay đổi này. Những hiện vật khảo cổ đào được quanh Cổ Loa, được gán vào thời đại An Dương Vương. Nhưng những trống đồng, tên đồng, cày đồng này rõ ràng là của văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương. Không có gì phân biệt. Ngoài Cổ Loa ra thì chẳng còn chỗ nào có hiện vật khảo cổ thời An Dương Vương cả.
An Dương Vương là một giai đoạn “lập quốc” quan trọng, một thời đại đánh thắng hàng vạn quân Tần ở thời thịnh nhất của nhà Tần, một huyền sử dài nhất trong các huyền sử đời Hùng. Thế mà lại chẳng để lại dấu tích gì rõ ràng. Chỉ có thể nói “chồi Âu Lạc mọc lên từ gốc Văn Lang”. Nói vậy thì đã cho An Dương Vương cũng chính là một vị Hùng Vương. Và như vậy thì An Dương Vương không chỉ tồn tại trong khoảng vài chục năm mà ít nhất phải ứng với một nền văn hóa khảo cổ lớn trên đồng bằng sông Hồng. Nền văn hóa đó không gì khác là văn hóa Đông Sơn với những đồ đồng như đã đào được ở Cổ Loa.

Ở am thờ Mỵ Châu có một bài thơ rất hay đề trên bảng gỗ:
Hoàng thành đoạn kính thảo ly ly
Vãng sự thương tâm bất khả ty
Tần Việt nhân duyên thành oán ngẫu
Sơn hà kiếp vận đáo nga my
Quyên đế cố quốc sương thiên mộ
Châu dựng hàn lưu bích hải chi
Thần nỗ điếu minh hà xứ khứ
Ngộ nhân đáo để thị kim qui.

Dịch (Đỗ Văn Hỷ):
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài
Quyên kêu nước cũ trời sương muộn
Trai nở dòng băng biển biếc hay
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lẫm lỡ tới ai đây.

Chỗ đáng chú ý ở đây là cụm từ Tần Việt. Nếu là dùng như thành ngữ thì hơi khó hiểu vì ít thấy ai dùng thành ngữ “Tần Việt” để chỉ duyên trai gái và thành ngữ này từ đâu ra (điển tích gì)? Người ta dùng “duyên Tấn Tần” vì Tấn và Tần nằm cạnh nhau. Tần và Việt thời Chiến Quốc thì quá xa, làm sao thành “nhân duyên” được?

Còn nếu Tần Việt là nghĩa đen thì rõ ràng chỉ Mỵ Châu là Việt, và Trọng Thủy là… Tần. Tần chứ không phải Triệu.

Tứ trụ triều đình của An Dương Vương thờ ở Cổ Loa:
1. Phương chính hầu Trần Tự Minh – Thái sư
2. Cao cảnh hầu Cao Lỗ – thái sư phụ quốc
3. Hữu thừa tướng Lý Ông Trọng
4. Trung tín hầu Vũ Bảo Trung

Nếu Cao Lỗ là Chu Công thì Trần Tự Minh có thể là … Quân Trần, vị toàn quyền kế nghiệp Chu Công cai quản Lạc Dương. Tục thờ Trần tử như đã thấy còn có ở chùa Hương Sơn và am Trang Vương ở Hà Tĩnh.

Bài thơ Khối tình con của Tản Đà:
Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân
ái nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa
đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nợ tình kia
dở dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Nghìn
thu khói nhang.

Tôi nghĩ là thành ngữ “Kẻ Việt người Tần” chính là từ
chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Theo PGS. TS Phạm Minh Huyền
(http://www.tin247.com/khong_the_phu_nhan_su_ton_tai_cua_trieu_dai_an_duong_vuong-8-21239730.html):

Trên trống đồng Cổ Loa, mặt trong cũng có khắc chữ Hán… Đặc biệt trên một trong những khuôn đúc mũi tên đồng, đã phát hiện được 2 chữ theo lối chữ Hán. Một chữ đã đọc được là chữ “Thần” với nghĩa là “thần dân”, còn một chữ không đọc được… Các chuyên gia Trung Quốc cho biết là 2 chữ này có niên đại sớm nhất là thời Chiến Quốc và muộn nhất
là thời Tây Hán
“.
Các chuyên gia Việt Nam thì cho rằng những chữ Hán trên trống đồng Cổ Loa là chữ… Tàu nên thường không đưa dẫn chứng này ra khi nói về trống đồng. Có lẽ cũng còn có những đồ đồng Đông Sơn khác có chữ Hán thời Chiến Quốc nhưng không được công bố. Nếu trống đồng đã là của Việt thì chữ trên đó rõ ràng cũng là chữ Việt. Điều này thật khó tin, nhưng càng khẳng định sử thuyết Hoa Hạ là Việt.

Đại Việt khai quốc

Lòng phản trắc nhận danh trung nghĩa
Tướng Chu Ôn phế Lý lập Lương
Suy vi triều chính trung ương
Thi nhau các trấn xưng vương lập quyền.
Từ Tứ Xuyên tới miền Giang Khẩu
Tiền, Hậu Thục, Ngô, Sở, Kinh Nam
Ngô Việt, Mân Việt hai đàng
Vân Nam – Đại Lý, Nam Đường – Giang Tô.
Trên Lưỡng Quảng mở cờ Đại Việt
Lý Công Uẩn chí khí phi thường
Tiếp nối vỹ lược Hưng Vương
Đánh Khúc Thừa Mỹ, thu đường Giao Châu.
Đất La Thành còn lưu dấu vết
Lúc rồng bay dựng nghiệp thiên đô
Thăng Long mãi một cơ đồ
Nghìn thu lồng lộng màu cờ nước Nam.
Thời Tam quốc họ Hùng ba nước
Việt, Lý, Tống chiến cuộc liên miên
Khi Nùng xưng đế Quảng Nguyên
Khi Việt tái chiếm châu Liêm, Ung Thành.

Đoạn kết

Kể chuyện cũ, sử đan huyền thoại
Từ Tiên Nông canh cửi giáo dân
Khai quốc Hùng Vũ đế quân
Tiếp thời Nghiêu Thuấn muôn phần vẻ vang.
Kìa Đại Vũ núi san sông lấp
Kế Lạc Long mở khắp biển Đông
Trường Giang sóng nước mênh mông
Triều Ân Thương cũng là trong Việt Thường.
Ngẫm trời đất tròn vuông hun đúc
An Dương Vương Âu Lạc lập nên
Phong Châu này chốn thần tiên
Đây Chu thiên tử ở miền Văn Lang.
Hồn sông núi nước Nam còn mãi
Để hôm nay ta lại là ta
Xé mây, trời sáng bao la
Anh linh tiên tổ, hùng ca đời đời

Đồ ngọc Lương Chử – tiền thân văn hoá Thương?

Trong khảo cổ học ngoài văn hoá đồ đá, đồ đồng, … người ta thường hay không chú ý tới văn hoá khảo cổ đồ ngọc. Văn hoá đồ ngọc Lương Chử ở Triết Giang rất nên quan tâm vì có thể có liên hệ với Văn Lang (cũng như các khuyên tai ngọc thời Đông Sơn). Ở đây có hình tượng “Ngọc tông” thao thiết vuông tròn theo quan niệm trời tròn đất vuông (trong sự tích bánh chưng, bánh dầy). Văn hoá thờ đồ ngọc sau này còn ghi dấu nhiều trong các tín ngưỡng của đạo Giáo như Ngọc Hoàng, Ngọc Nữ…

Địa điểm khảo cổ Lương Chử gần Hàng Châu – Triết Giang được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp với những hình thao thiết (taotie) độc đáo.

048_030

Một ngọc khí có thao thiết của văn hoá Lương Chử

Hình thao thiết này ở giai đoạn sau trở thành một đặc điểm của đồ đồng nhà Thương và Chu.

800px-Liu_Ding

Thao thiết trên đỉnh đồng đời Thương

Với vai trò quan trọng của ngọc khí ở Lương Chử và đỉnh đồng trong văn hoá Thương (đồ tế tự, đồ dùng của tầng lớp khanh sĩ, vua chúa) thì có thể thấy văn hoá Thương phải bắt đầu từ vùng Nam Dương Tử chứ không phải ở Hoàng Hà. Điều này cũng trùng với cách giải thích sự có mặt của các địa điểm khảo cổ thời Tiền và Trung Thương ở Tân Can, Ngô Thành và Bàn Long Thành ven sông Dương Tử.

Cùng thời với Lương Chử ở hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông có văn hoá Long Sơn, được coi
là một trong những nền văn hoá khởi thủy của Trung Nguyên cùng với Ngưỡng Thiều ở trung lưu Hoàng Hà. Văn hoá Long Sơn còn gọi là văn hoá “gốm đen”, còn Ngưỡng Thiều là văn hoá “gốm đỏ” (gốm vẽ).

neo

Các khu vực hậu kỳ đồ đá mới Trung Quốc: Liangshu – Lương Chử, Lungshan – Long Sơn, Yangshao – Ngưỡng Thiều, Hongshan – Hồng Sơn.

Tuy nhiên khu vực hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông ngay trong giai đoạn đồ đồng tiếp theo lại được xác định là của tộc người Đông Di, với đặc trưng là các mộ đá, và có quan hệ trực tiếp với văn hoá đồ đồng ở bán đảo Triều Tiên (theo phân bố của dao găm đồng Liêu Ninh). Như vậy văn hoá Long Sơn không phải là của người Hoa Hạ. Chính văn hoá Lương Chử mới là tiền thân của nhà Ân Thương ở Hoàng Hà.

Lương Chử có thể coi là giai đoạn tiếp theo của nền văn hoá lúa nước từ Hà Mẫu Độ, rồi Mã Gia Bang ở Nam Dương Tử. Đây rõ ràng là những địa điểm khảo cổ của người Mongon Nam (Bách Việt). Với trình độ ngọc khí cao như vậy (hơn cả Ngưỡng Thiều lẫn Long Sơn) người ta đã nói đến một “vương quốc Lương Chử” dọc theo bờ Nam sông Dương Tử. Nhưng vương quốc này sau đó biến đi đâu, không còn vết tích gì, là câu hỏi khó cho các nhà khảo cổ Trung Quốc.

“Vương quốc Lương Chử” đã không “biến mất” do “lũ cuốn trôi” hay do chiến tranh như quan niệm khảo cổ ngày nay, mà nó đã phát triển thành văn hoá Ân Thương ở giai đoạn đồ đồng tiếp theo và tiến lên phương Bắc theo bước dời đô của Bàn Canh. Chỉ vì không muốn nhìn nhận nhà Thương có nguồn gốc từ Nam Dương Tử nên nền văn hoá Lương Chử mới phải “đột ngột biến mất” như vậy. Và như vậy “vương quốc Lương Chử” không phải gì khác mà chính là nhà Hạ (trung hưng), triều đại trước của nhà Thương.

Suy nghĩ về khảo cổ và lịch sử Trung Quốc

Bản đồ lãnh thổ lịch sử Trung Quốc theo như quan niệm hiện nay:

M_Hist

Phần đen đậm là khu vực được cho là khởi nguồn của Trung Quốc. Thế nhưng có thể thấy ở đây có 2 khu:
– Khu thứ nhất là dọc sông Hoàng Hà với các địa điểm khảo cổ từ thời đồ đá như Ngưỡng Thiều, Bán Pha, Từ Sơn. Khảo cổ cho thấy đây là khu vực nông nghiệp trồng kê ở ruộng cạn.
– Khu vực thứ hai được biết qua di chỉ Hà Mẫu Độ ở phía Nam cửa sông Dương Tử. Đây là khu vực trồng lúa nay được coi là sớm nhất (7000 năm trước CN). Nhiều nhà khoa học đã nhất trí cho rằng khu vực này thuộc văn hóa Bách Việt, với tộc người là Monglonoid phương Nam. Khảo cổ ở phần
Nam Trung Hoa xa hơn hiện còn chưa nhiều, và ít khi được công bố vì…

Như vậy Trung Quốc đã cố tình nhận vơ cả khu vực trồng lúa nước ở Nam Dương Tử thành nguồn gốc của Hán tộc ở Hoàng Hà. Xét đời Thần Nông dậy dân trồng lúa, vua Nghiêu thúc trạch Nam Giao, vua Thuấn tuần du chết ở Thương Ngô (trung lưu Nam sông Dương Tử) thì không thể nói khác những vị vua tiền sử này phải là thuộc khu vực lúa nước Nam Dương Tử.
Hà Mẫu Độ ở Phúc Kiến Chiết Giang có thể là đất Cối Kê, nơi vua cùng dân con cháu Hạ Vũ lội nước, đắp đê để khai phá thời Hạ trung hưng.

Bản đồ tập hợp những địa điểm khảo cổ đồ đồng ở Trung Quốc:

KhaocoTQ2

Trung Quốc thường dựa vào địa điểm khảo cổ ở Ân Khư – An Dương đời Thương để khẳng định lịch sử nhà Thương là ở Hoàng Hà. Chữ viết trên giáp cốt cũng bắt đầu từ đây. Nhưng An Dương là khu vực Hậu Thương. Các di chỉ đồ đồng đời Thương còn có ở Bàn Long Thành và Tân Can ở tận phía
Nam sông Dương Tử. Những di chỉ này lại có phần sớm hơn cả ở Ân Khư. Một cách hợp lý thì đồng khí Thương phải phát triển từ khu vực đồ đá mới Hà Mẫu Độ ở Nam Dương Tử, chứ không phải từ Hoàng Hà.
Như vậy phải hiểu: nhà Thương bắt đầu từ khu vực sông Dương Tử rồi mới tiến lên Hoàng Hà, chứ không phải ngược lại. Trong lịch sử được ghi nhận là chuyện Bàn Canh năm lần bảy lượt dời đô, lập nên một triều đại tương đối riêng biệt là nhà Ân (tức là nhà Thương thứ hai).
Ở Ân Khư có những đồ đồng có hình mặt người và được xác định là kiểu người Nam Á. Như vậy Ân Khư là di chỉ của người Nam Á chứ không phải của Hán tộc, là dân Monglonoid phương Bắc.
Tân Can có thể là nơi đóng đô của Thành Thang khi mở đầu nhà Thương. Những kinh đô khác khi Bàn Canh dời đô dần dần lên hướng bắc là Bàn Long Thành (Long Thành có nghĩa là thành nơi vua ở), Trịnh Châu. An Dương là thủ đô của Trụ Vương nhà Ân.
Hán tộc nằm vào phức hợp đồng khí phương Bắc cùng với Hung Nô, Mãn. Tuy nằm ngay sát Ân Khư nhưng Hán tộc chẳng có liên quan gì đến đồ đồng đời Thương cả. Hán tộc chính là Đông Di, Nhung Địch trong Hoa sử, là những tộc người bị Trụ vương đuổi ra khi nhà Ân vượt Hoàng Hà.