Bắc thần tôn

Di sản Hán Nôm ở đền Hùng là vô giá vì đó thật sự là những “mật mã” cha ông để lại, giúp con cháu tìm lại sự thực lịch sử xưa. Vì thế đọc mỗi hoành phi, câu đối ở đền Hùng cần có suy nghĩ thấu đáo những nhắn nhủ của tiền nhân ở trong đó. Đặc biệt là đối với đền Thượng, đền Hạ và lăng Hùng Vương vì đây là những di tích cổ nhất của khu vực này, với độ tuổi có nơi khoảng 4000 năm.

Thực ra với người Việt hiểu chữ Hán Việt (đã phiên âm) không hề khó. Nhưng hiểu cả câu nhiều khi rất khó vì chữ Hán Nôm xưa viết không có chữ Hoa và không có dấu câu. Danh từ không rõ là chung hay riêng (viết hoa hay không), ngắt từ ở chỗ nào…

Câu đối ở đền Thượng
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn
.

Dịch nghĩa (Vũ Kim Biên)
Đất này, núi này, bờ cõi nước Nam
Vua ta, tổ ta, phương Bắc nể vì
.

Chỗ trúc trắc ở đây là đoạn Bắc thần tôn. Có tài liệu khác dịch câu sau là: Vua ta, tổ ta như sao Bắc Đẩu trên cao. Dịch vậy quá ép ý, làm gì có chữ sao (tinh) nào đâu và không đối hợp với câu trên “Nam quốc kỷ“. Nhưng dịch là “phương Bắc nể vì” thì có phần giảm nhẹ ý. “Bắc thần tôn” cho thấy rõ phương Bắc xưng với “Vua ta” là “thần” (chư hầu) và phải tôn kính. Dịch sát nghĩa là “Vua ta, tổ ta, chư hầu phương Bắc tôn kính“.
Vậy lịch sử của ta có lúc nào mà phương Bắc phải xưng thần, tôn kính?
Một suy nghĩ khác về hai câu đối trên là trò chơi chữ:

– Chữ “thử” có nghĩa là “này“, nhưng đồng âm với nghĩa “nắng“. Nắng cũng là phương Nam.
– Chữ ‘ngô” có nghĩa là “ta“, nhưng trong dịch lý xưa còn có nghĩa là phương lạnh (phương Bắc ngày nay). Phương lạnh xưa theo quan niệm âm dưỡng lưỡng hợp được tượng trưng bởi đường thẳng (cặp thẳng – cong). Từ đó ta có các từ chỉ phương lạnh là:
+ Đường: đời vua Nghiêu có đất Đào Đường, tức là có 2 vùng Nam và Bắc. Đào là màu của phương nóng.
+ Ngay hay Ngô (có từ ngây ngô): là chữ Ngô trong câu đối trên và của một số triều đại xưa như Ngô Tôn Quyền, giặc Ngô (giặc Minh).
+ Ngu – biến âm từ Ngô ra: trong tên của Thuấn đế (Ngu Thuấn) và tên nước Đại Ngu đời Hồ Quí Ly.

Như vậy trong câu đối trên ngoài việc lặp từ còn có thể lặp ý giữa cặp Thử – Nam Ngô – Bắc.

 

Lưỡng triều chống Ngụy

Nuôi chí lớn báo thù, phục đế
Từ trắng tay Lý Bí làm nên
Đào viên kết nghĩa anh em
Dạ hồng Quan Vũ, tiếng rền Trương Phi.
Bỏ Châu Kinh lui về Châu Quí
Nước Dạ Lang Thiên Bảo xưng vương
Mưu thần, chước lạ dị thường
Trổ tài Gia Cát, trấn phương phá Tào.
Noi Hùng Trịnh tiến vào Xuyên Thục
Một trời Tây Chiêu Lạc định đô
Đông Ngô kết tóc xe tơ
Phục Man, dẹp Bắc cơ đồ mở mang.
Sông dậy sóng Trường Giang một dải
Ngô Tôn Quyền trọng đãi hiền tài
Xích Bích nổi lửa trần ai
Thiêu quân Hoàng Tháo chạy dài, thua đau.
Chung tiên tổ cùng màu Bách Việt
Chống Ngụy quân liên kết răng môi
Vì chưng xích mích nhỏ nhoi
Đây Ngô, kia Thục tách đôi hai đường.
Lý Phật Tử hèn vương, nhu chúa
Thục mất rồi, Ngô chẳng được lâu
Bạo tàn mặt ngựa đầu trâu
Nỗi dân mất nước oán sầu những năm.

Hùng Trịnh

Mở nhà Hiếu lên ngôi Nam Đế
Triều mười sáu Hùng Trịnh Hưng Lang
Vạn Xuân tên nước vẻ vang
Hai trăm năm một trang vàng chép ghi.
Công lập quốc phân chia vương tước
Sở Hồ Nam Hàn Tín lãnh phong
Bành Việt ra chốn đất Long
Vương Anh Bố ở phía Nam sông Hoài.
Cáo mưu phản đất đai thu lại
Khó lường thay lòng dạ quân vương
Hứng ca này lúc qui hương
“Phong khởi hề Vân phi dương” khải hoàn.
Dẹp Hung Nô tiến sang dặm Bắc
Mở tầm nhìn đi sứ phương Tây
Giao thương tơ lụa, ngà voi
Lấy đạo Khổng để sáng soi quốc hồn.
Kế tiếp nhau Cao, Văn, Vũ Đế
Mười ba đời xiết kể thời gian
Một triều đại thật huy hoàng
Lưu danh sử sách, mở mang bốn bề.

Nhờ xưa đương thủa triều Hùng

Bài ca dao lịch sử (lời ca hát Ải Lao ở hội Gióng):
Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.
Ai cũng hiểu đây là bài ca dao nói về Phù Đổng Thiên Vương. Nhưng ít ai suy nghĩ kỹ những dữ liệu lịch sử nằm trong bài ca dao này:
– Bài ca dao chỉ rõ triều Hùng là vua của cả khối “Bách Việt sơn hà“. Thánh Gióng đánh giặc… Ân, mà giặc Ân ở tận Hoàng Hà. Vậy đất của Bách Việt triều Hùng này không thể chỉ là Bắc Việt ngày nay. Đại Việt sử ký chép nước Văn Lang của vua Hùng “bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, đông giáp Nam Hải, tây giáp Xuyên Thục“. Thế mà nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng như vậy là quá rộng, đây phải là đất của cả khối Bách Việt, còn dòng Lạc Việt chỉ có mảnh đất nhỏ hơn… Không phải người Việt chúng ta có đất nhỏ mà thực sự là chúng ta có … đầu óc quá nhỏ và tự ti về quá khứ.

Nói ca dao là văn tự truyền miệng, không xác thực, vậy hãy xem câu đối chữ Hán đề ở đền Thượng (đền Hùng) còn tới nay:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ.
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn
.

Dịch nghĩa:
Định phận sách trời, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt nay có tổ
Linh thiêng núi tỏa, cung cũ lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn.

Câu đối trên còn nhiều bí ẩn, ví dụ “Tam Giang” là gì mà đối lại được với “Bách Việt”. Rồi “Minh đô” là tên gọi đô thành nào? Nhưng rõ ràng ở đây cho biết đền Hùng thờ vua Hùng là tổ chung của Bách Việt.

– “Vũ Ninh nổi đám…“, nhiều người cho rằng Vũ Ninh là quê Thánh Gióng ở đâu đó quanh Bắc Ninh ngày nay. Nhưng đây đang nói cả một “triều Hùng” “Bách Việt” gặp nạn, sao lại chỉ là đất quê Thánh Gióng? Có cách hiểu khác: Vũ Ninh là đất của Ninh Vương Cơ Phát, người đã diệt Trụ (Ân) lập nên nhà Chu, xưng Chu Vũ Vương. Sử Việt chép là Hùng Ninh Vương (trong Hùng triều ngọc phả). Ngọc phả đền Hùng cũng chép “Hùng Vương sau khi dẹp xong giặc Ân lập cửu trùng thiên điện ở núi Nghĩa Lĩnh để tế trời đất…“. Như vậy đền Hùng là do Chu Vũ Vương sau khi được Thánh Gióng giúp đánh đổ vua Trụ lập nên…

– “… bụi hồng nẻo xa“, chữ Hồng được đặt đúng vần của câu ca dao cũng gây nhiều suy nghĩ. Hồng là “quốc màu” xưa của tộc Việt. Thời Hùng Vương chúng ta có nước Hồng Bàng (hay Hồng Bang), nước Xích quỉ hay Quẻ đỏ, cũng là màu hồng. Chuyện sự tích trầu cau, trầu cau vôi nhai chung cho “nước đỏ”. Chuyện Mai An Tiêm, dưa hấu “xanh vỏ đỏ lòng”, nói tới tộc người ở ngoài biển (xanh vỏ) nhưng vẫn là người Việt (đỏ lòng). Dưa hấu ngày nay vẫn là một “đặc sản” được trồng nhiều ở vùng Việt Trì – Phú Thọ…

Động Đình Hồ

Câu đối ở Lăng mộ Hùng Vương ở đền Hùng:
Vân ám Động Đình Long chắc dạng
Nguyệt khuê Lĩnh Biểu Hạc qui tiên
.

Dịch nghĩa (Vũ Kim Biên):
Mây phủ Động Đình Rồng xuất thế
Trăng soi Nghĩa Lĩnh Hạc qui tiên
.

Cáí khó hiểu ở đây là Hùng Vương dính dáng gì đến “Động Đình” mà theo sử hiện nay cho là ở … tận đầm Vân Mộng bên Trung Quốc.

Vấn đề khác là Động Đình hồ này lại gắn liền với xuất rồng (Long). Ở đền thờ Lạc Long Quân (cũng ở khu vực đền Hùng – Phú Thọ) cũng có một câu đối tương tự nói tới Động Đình. Đầm Vân Mộng là hồ nước nằm trong đất liền, làm sao có “rồng xuất thế” được? Khi Rồng xuất thì phải là mây mưa, sấm chớp nổi lên. Cảnh này chỉ có ở vùng biển nhiệt đới mà thôi.
Nếu giải nghĩa “Động” là tính chất của phương Đông trong Dịch lý (chính xác phải là phương Động). “Đình” có nghĩa là to lớn (“To như cái đình”, “Nổi đình nổi đám”). Thì Động Đình Hồ là hồ lớn phía Đông, hay là Biển Đông.
Biển Đông cũng là nơi xuất rồng. Rồng hay Rung (tiếng Hán thành Lung) cùng nghĩa với Động. Rồng là con vật biểu trưng của phía Đông.
Lạc Long Quân nghĩa là vua của dân Lạc và dân Long. Dân Lạc ta đã biết ở trên (Hùng Lạc) là phần phía Tây của Bắc Việt ngày nay (Nam Giao). Dân Long là nền văn hóa khảo cổ Hạ Long, vùng ven biển Đông. Theo truyền thuyết Việt mẹ Lạc Long Quân là con gái Động Đình Quân ở chốn Bồng Lai… Từ Bồng Lai cho phép ta liên tưởng tới vịnh Hạ Long, di sản văn hóa thế giới ngày nay.
Ta còn có Hạ Long nghĩa là … vua Hạ. Không phải là rồng hạ cánh xuống mà chính là đất quê của nhà Hạ. Lạc Long Quân chính là Hạ Khải (Khải = Khởi), người khởi đầu nhà Hạ trong Hoa sử…
Chuyện ghép Hồ Động Đình vào đầm Vân Mông là vô lý, dẫn đến kết cục Lạc Long Quân của Việt sinh ra ở bên Tàu. Động Đình là tên của Biển Đông xưa chứ không phải biển… Nam Hải.

Hùng Triệu

Giết ngựa trắng ăn thề dòng máu
Chỉ phong vương con cháu họ Lưu
Bất thành Lữ Hậu âm mưu
Phương Nam lại nổi bụi màu can qua.
Xưng Vũ Đế Triệu Đà vua Việt
Tướng Lữ Gia giúp nghiệp oai hùng
Đô thành đóng cõi Phiên Ngung
Lọng vàng, xe lớn ung dung đi về.
Triều mười bảy Cảnh Thiều Hùng Triệu
Ánh Lạc Hồng lại chiếu non sông
Ba đời vua chốc như không
Bác Đức tiến đánh, Thái Long di rời.

Thời phục hưng

Thời cơ đến Chu tiêu diệt Ngụy
Đây Đinh Hoàn từ đất Tứ Xuyên
Phục Hoa Văn Giác dựng quyền
Đại Cồ Việt quốc danh truyền thiên thu.
Dương Kiên phế vua Chu, lập Tuỷ
Đánh Hoa Nam thống nhất sơn hà
Tới đây ta lại là ta
Trang vàng Hùng sử lật ra rạng ngời.
Tính cần kiệm một đời vì nước
Trọng nông tang điền tịch làm gương
Đại Hành danh nổi bốn phương
Mở mang văn hoá, giao thương mọi bề.
Tiếc thay trời chẳng vì nhân thế
Lầm trao ngôi Dạng Đế xa hoa
Bắt dân đào, vét vận hà
Biến Lạc Dương thành một toà Đông Đô.
Vườn Tây Uyển thay hoa bằng lụa
Người kéo thuyền vua chúa dạo sông
Dốc quân tiến đánh Liêu Đông
Sức dân cạn kiệt, lửa hồng bùng lên.

Nghĩa của từ Triệu

NamViettrieuto-2

Những hoành phi câu đối ở đền Hùng như những thông điệp ẩn chứa từ xưa để lại, nếu suy nghĩ có thể thấy khá nhiều điều.

Trước hết nói về bức hoành phi Triệu Tổ Nam bang ở đền Trung. Chữ “Triệu” theo từ điển ngày nay nghĩa là “gây, phát sinh, mở mang”, hay đều là động từ cả. Nhưng nếu là động từ thì không thể nào dịch được câu trên, chẳng nhẽ là “Mở mang tổ gốc nước Nam”?
Để động từ thì không đúng cách trình bày của hoành phi, vì tất cả các hoành phi khác đều là cụm danh từ. Sách ở đền Hùng dịch là “Tổ muôn đời của nước Việt Nam”, rõ ràng là không sát nghĩa vì ép từ “triệu” thành “muôn đời” (triệu đời?), làm gì có chữ “đời” nào ở đây đâu.
Cách hiểu chính xác hơn thì “Triệu” nghĩa là “Chúa”, một nghĩa cổ của từ này, nay không còn dùng. Triệu Tổ Nam Bang nghĩa là “Chúa tể (tổ) nước Nam”, nghĩa rất rõ ràng.

Ở đền Thượng còn có bức hoành phi “Triệu Cơ vương tích“. Tương tự nếu dịch “triệu” ở dạng động từ thì câu này không thể dịch nổi vì vừa “mở nền móng” (Triệu Cơ) đã có dấu tích (vương tích). Cũng sách ở đền Hùng dịch là “Dấu tích nền móng đầu tiên của vua“, nghe quá gượng ép và tối nghĩa.
Phải hiểu “Triệu Cơ vương tích” là “Dấu tích của vua chúa họ Cơ“. Họ Cơ là họ của nhà Chu. Đền Thượng theo
truyền thuyết là của Hùng Vương thứ sáu sau khi thắng giặc Ân lập nên. Thắng giặc Ân thì rõ ràng là nhà Chu.
Đền Thượng được gọi là Cửu trùng thiên điện hay Kính thiên điện. Dịch Cửu trùng thiên điện thành điện trên chín tầng trời thì không chính xác. Cửu trùng là cách xưng hô đối với vua (cửu trùng = trùng cửu = trường cửu). Cửu trùng thiên điện là điện Kính thiên, đồng nghĩa.
Họ Cơ cũng là họ của Hiên Viên Hoàng Đế. Hiên Viên là vua nước Hữu Hùng, tức là vua Hùng khai quốc. Hoàng Đế là Ngọc Hoàng thượng đế, tức là “thiên”, ông trời của phương Đông. Vua chúa Trung Hoa xưa xưng là “thiên tử”, ý nói mình là con cháu của Hiên Viên, hay con cháu họ Hùng. Việc vua xưng là thiên tử có lẽ chỉ bắt đầu từ thời
Chu. Trước đó Hạ, Thương, Ân chưa thấy xưng thiên tử cho dù đã có không ít nước chư hầu. Nguyên nhân như đã biết: nhà Chu cùng họ với Cơ với Hoàng Đế.

Núi Nghĩa Lĩnh trước khi Hùng Vương lập điện Kính thiện thì đã có đền thờ thần lúa với hạt lúa khổng lồ ở trên đỉnh. Trên đền Thượng còn có câu đối bắt đầu là “Thần thánh khải Viêm Bang…“, tức là nói đến Viêm Đế Thần Nông.
Ở núi Nghĩa Lĩnh còn có tích Thục Phán sau khi được Hùng Vương nhường ngôi, cảm ơn công đức của Hùng Vương nên đã lập cột đá thề, thề trung thành với họ Hùng. Chuyện này thật khó hiểu vì làm gì có chuyện nhường ngôi một cách dễ dàng như vậy, lại là sau khi Hùng Vương vừa đánh thắng Thục Phán. Và Thục Phán cùng Hùng Vương có dây mơ rễ má thế nào mà Thục Phán lại thề trung thành với họ Hùng?
Nay nếu nhìn theo góc độ Thục Phán chính là Cơ Phát, người đã đánh nhà Ân diệt vua Trụ (Hùng Vương) thì ta hiểu rõ ý nghĩa của cột đá thề. Đó là cột đá thề trung thành với quốc tổ Hùng Vũ và là biểu tượng khi Cơ Phát lên ngôi “thiên tử” – con cháu vua Hùng.

Tóm lại có thể hiểu lịch sử cả cụm di tích đền Hùng như sau: Cơ Phát với sự giúp đỡ của Phù Đổng thiên vương diệt được giặc Ân (đánh Trụ) về Phong Châu (đất của Cơ Xương) lên núi Nghĩa Lĩnh, nơi trước đó là đền thờ Thần Nông, lập điện kính cáo trời đất (Kính thiên điện – đền Thượng), lập cột đá thề trung thành với họ Hùng (với quốc tổ Hùng Vũ Hiên Viên), rồi lên ngôi xưng là “thiên tử” Chu.

Ngày giỗ tổ

Tôi nghe kể chuyện các vua Hùng
Lập nước mở mang khắp bốn phương
Nam tiến đất bình Nghiêu Thuấn Vũ
Đông dương biển động Lạc Long Thương
Hồng hồng sắc đỏ đào xuân Việt
Hùng tráng Văn Lang sáng đế vương
Sự cũ ngàn thu lưu linh tích
Qui chầu rồng hạc kính tông đường.

Hùng Duệ

Vận suy bĩ cuối đời nhà Hiếu
Hùng Duệ lên xưng hiệu triều Tân
Phục cổ cải chế việc công
Muốn hưng nghiệp nước bội phần khó khăn.
Quốc lực cạn loạn dân nổi dậy
Khắp bắc nam chống lại triều đình
Cờ hồng quyết trận nhục vinh
Đệ tử đạo Giáo hợp thành Xích My.
Lũ giặc cỏ ngụy uy Cao Tổ
Núi Lục Lâm thảo khấu được thời
Lỡ làng vận nước cơ trời
Thương thay Vương Mãn đầu rơi ngai vàng.
Trải mười tám triều Hùng đất nước
Lúc hưng suy thời cuộc bể dâu
Vạn năm đào đỏ sắc màu
Cửu trùng thiên điện cúi đầu kính vua.