Hậu Lữ Gia và Nhị Trưng Vương (TT)

Truyền tích về Thánh Mẫu Triệu Thị Khoan Hòa và năm anh em chàng Vịt mang đến một suy nghĩ bất ngờ. Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương không phải xảy ra vào những năm 40 dưới thời Đông Hán, mà là ngay sau thất bại của nhà Triệu Nam Việt, thời Tây Hán. Ý tưởng này nghe thật vô lý, nhưng có lẽ lại là có lý nhất trong chuyện về Trưng Vương, giải đáp và gắn kết được phần lớn những di tích, truyền thuyết còn lại trong dân gian với sử sách.
Den Thanh Mau Đền Thánh Mẫu Triệu Thị Khoan Hòa ở Thanh Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.

Nguyên nhân khởi nghĩa Trưng Vương là “đền nợ nước, trả thù nhà” hoàn toàn chính xác. “Nước” ở đây là nước Nam Việt đã bị mất trong tay nhà Hán (Tây Hán). “Nhà” là vua Triệu Vệ Dương Vương, đã tử tiết ở cửa Đại Ác. Trưng Vương là vợ của Triệu Việt Vương, chuyện này quá “ly kỳ”, thật khó tin, nhưng không có gì hợp lý hơn để giải thích giai đoạn lịch sử khúc mắc này.

Thi Sách là người huyện Chu Diên… Triệu Quang Phục cũng là người Chu Diên. Chu Diên tức là Châu Dương, là phần Đông nước Nam Việt thời nhà Triệu.

Ở Mê Linh, xã Tiền Phong có Miếu Bà thờ Ả Lã Nàng Ngu, tương truyền là thứ phi của Triệu Quang Phục về sống ở đây. Có thể thấy các vị hoàng hậu và vương phi nhà Triệu đã thoát về vùng Mê Linh này. Nhiều người trong số đó (như Ả Lã) mang họ Lã (Lữ) của Lữ Gia.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng có nhiều nữ tướng tham gia bởi vì… đó là gia quyến của nhà Triệu, con cháu họ Lữ, noi gương anh hùng của nữ tiền nhân là … Lữ Hậu. Nếu Trưng Vương không phải là hoàng phi nhà Triệu thì làm sao “hô một tiếng” cả 7 quận Nam Việt cũ lại nhất tề đứng dậy đi theo được? Theo truyền thuyết thì cả Trưng Trắc và Trưng Nhị đều lấy Thi Sách. Nếu Thi Sách chỉ là con quan huyện thì làm sao lấy nhiều vợ được? Còn vua Triệu thì chắc chắn có nhiều hoàng phi.

Phần Đông Nam Việt thất thủ. Gia quyến nhà Triệu rút về phía Tây cùng Lữ Gia, tức là về vùng đất Phong Châu. Cũng từ nơi này khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã nổ ra. Phong Châu là Minh Đô thời vua Hùng nên còn gọi là Mê Linh vì Mê Linh thiết Minh (Đô kỳ đóng cõi Mê Linh). Đây cũng gọi là vùng Tây Vu hay Tây Lý, được đề cập đến trong cuộc hành quân của Mã Viện. Có thể Trưng Vương chính là Tây Vu Vương, tức là vua phía Tây thời này.

Từ miền Tây thổ Phong Châu Hai Bà Trưng đã đánh xuống trị sở của Giao Chỉ ở Long Biên, đuổi thái thú là Tô Định về Nam Hải:
Ngàn Tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Có thể Tô Định chính là Thạch Đái, viên thứ sử đầu tiên của nhà Tây Hán ở Giao Chỉ.

Giao Chỉ rơi vào tay Trưng Vương. Nhà Hán (Tây Hán) cử Phục Ba tướng quân đối phó, tức là Lộ Bác Đức, người đã đánh dẹp Nam Việt trước đó, chứ không phải Mã Viện của nhà Đông Hán sau này. Cuộc hành quân của Mã Viện mà sử sách ghi chép nhiều khả năng là cuộc hành quân của Lộ Bác Đức cùng với đoàn lâu thuyền tấn công Giao Chỉ.

Trận chiến lớn giữa Trưng Vương và Lộ Bác Đức nổ ra ở Lãng Bạc. “Sông Bạch Đằng phá giặc” trong câu đối về năm anh em chàng Vịt là dòng Lãng Bạc thời Trưng Vương. Lãng Bạc và Bạch Đằng đều chung một nghĩa là “sóng trắng” mà thôi. Có thể dòng Lãng Bạc là sông Cầu, hay sông Nguyệt Đức, nơi năm anh em chàng Vịt đã giúp Trưng Vương đánh giặc theo thần tích ở đền Mẫu Thanh Lãng.

Quanh vùng huyện Mê Linh ngày nay, một số làng như Thanh Lâm – Thanh Tước hay Cư An – Tam Đông còn tục thờ Phục Ba tướng quân. Đây là thờ Lộ Bác Đức của nhà Hiếu chứ không phải Mã Viện. Người xây Kiển Thành ở Cổ Loa chắc cũng là Lộ Bác Đức. Huyện Mê Linh ngày nay trước có tên là Yên Lãng. Có thể tên này cũng là do Lộ Bác Đức đặt, với nghĩa là “yên sóng” như danh Phục Ba. Phục Ba Lộ Bác Đức đã dẹp yên cơn sóng khởi nghĩa của hậu duệ nhà Triệu và Lữ Gia.

Nhận định khởi nghĩa Hai Bà Trưng là của gia quyến nhà Triệu Nam Việt, họ Lữ khi rút về Phong Châu đã chống lại nhà Hiếu, còn đem tới một liên hệ khác. Tinh thần “chống Lý trung Triệu” lúc này còn có anh em Trương Hống, Trương Hát. Rất có thể chuyện Trương Hống, Trương Hát chỉ là một cách kể khác của khởi nghĩa Trưng Vương mà thôi.

Khi nhà Triệu mất, Trương Hống Trương Hát bỏ về núi Phù Long ở ẩn. Phù Long thiết Phong, tức là về vùng Phong Châu, giống với chuyện của Hai Bà Trưng. Trương và Trưng rõ ràng là gần âm, nghĩa là “trưởng”, “chủ”.

Liên tưởng xa hơn:
– Hống nghĩa là lớn. Trương Hống là vị chủ cả. Hát có thể là Hai, Trương Hát là vị chủ thứ hai. Như vậy Trương Hống, Trương Hát rất gần với Trưng Trắc, Trưng Nhị.
– Hống còn có thể là Hồng, chỉ dòng sông Hồng. Hát thì vốn là tên của sông Đáy. Hai Bà Trưng đọc lời thề, khởi nghĩa ở Hát Môn, là nơi bắt đầu sông chia 2 nhánh Hồng và Hát. Trưng Trắc đóng ở Long Biên hay Cổ Loa bên bờ sông Hồng nên có nghĩa là vị chủ sông Hồng (Trương Hống). Trưng Nhị đóng ở thành Dền, đối diện cửa sông Đáy, nên có nghĩa là vị chủ sông Hát (Trương Hát).

Dòng Lãng Bạc trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng có thể là sông Nguyệt Đức, tức là dòng Như Nguyệt của thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát). Khi khởi nghĩa thất bại Hai Bà Trưng nhảy xuống sông Hát tự vẫn. Còn Trương Hống, Trương Hát kiên quyết không theo Lý Phật Tử, cũng nhảy xuống sông Như Nguyệt mà chết.

Trương Hống Trương Hát được gọi là đức thánh Tam Giang. Tam Giang đây không phải là chỉ ngã ba sông Cà Lồ và sông Cầu. Tam Giang là vùng đất của 3 sông Đà Lô Thao hội tụ ở Phong Châu. Ở Vĩnh Phúc, bên bờ sông Lô có huyện Tam Dương, chân núi Tam Đảo. Dương = Giang. Có thể đây chính là vùng Tam Giang, nơi Trương Hống, Trương Hát rút về.
Dinh Bi La Đình Bì La, xã Đồng Ích, Lập Thạch, Vĩnh Phúc.

Ở vùng Tam Dương – Lập Thạch (Vĩnh Phúc) còn có đình Bì La (xã Đồng Ích) thờ Triệu Việt Vương và Trương Hống, Trương Hát. Nếu đúng sách vở hiện nay thì không hiểu tại sao ở đây lại thờ những vị này. Triệu Việt Vương chia đôi đất nước với Lý Phật Tử, lấy bãi Quân Thần ở Chèm làm ranh giới. Như vậy vùng Tam Dương thuộc đất của Lý Phật Tử, tại sao thờ Triệu Việt Vương làm gì? Trương Hống, Trương Hát thờ dọc sông Như Nguyệt (sông Cầu), mà vùng Tam Dương thì còn cách sông Cầu cả một dãy núi Tam Đảo.

Truyền thuyết và lịch sử Việt Nam còn đầy những điều kỳ bí, cần làm sáng tỏ. Lịch sử luôn theo những qui luật tự nhiên, thông suốt, nối từ triều đại này sang triều đại kia. Tìm được mối liên hệ giữa các triều đại, các sự kiện tức là thấy được lịch sử đích thực.

Hậu Lữ Gia và Nhị Trưng Vương

Năm 112 TCN, nước Nam Việt, thừa tướng nhà Triệu là Lữ Gia lập Kiến Đức lên ngôi vua, gọi là Triệu Vệ Dương Vương, kiên quyết chống lại nhà Hiếu (Tây Hán). Lữ Gia là tể tướng ba đời vua Triệu từ Triệu Văn Vương, nắm quyền hành lớn ở Nam Việt. “Họ hàng [Lữ Gia] làm quan trường lại đến hơn bảy mươi người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở quận Thương Ngô” (Sử ký Tư Mã Thiên). Kiến Đức cũng lấy vợ Việt, khác với Triệu Minh Vương lấy người Hán trước đây.

Năm 111 TCN nhà Hiếu cử Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, cùng Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc tiến đánh Nam Việt. Phiên Ngung thất thủ. “Lữ Gia cùng Kiến Đức từ đêm đã cùng gia thuộc vài trăm người, chạy trốn ra biển, lấy thuyền đi về phía Tây” (Sử ký Tư Mã Thiên).

Phía Tây của Phiên Ngung tức là Giao Chỉ. Triệu Vệ Dương Vương cùng Lữ Gia lên thuyền đi về Giao Chỉ nhưng bị quân nhà Hiếu truy sát. Cả 2 đều đã bị bắt tại vùng cửa biển Nam Định – Ninh Bình, xưa gọi là cửa Đại Ác hay Đại Nha. Câu chuyện của nhà Triệu Nam Việt được lưu giữ trong truyền thuyết Việt dưới truyện của Triệu Quang Phục. Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử đuổi, tới cửa Đại Nha thì cùng đường, “một bước” đi ra biển mà mất. Tại vùng này nay có đền Độc Bộ thờ Triệu Việt Vương, nằm ở ngã ba sông Đáy và sông Đào, lưu dấu nơi kết thúc một triều đại trong sử Việt.

Đền Độc Bộ ở Ý Yên, Nam Định

Câu đối ở đền Độc Bộ (Ý Yên, Nam Định):
Chu Diên chung tú khí, đế liệt lẫm thiên thu, Lương khấu tảo trừ an điện nội
Mộ Trạch hiển thần cơ, vương huân lưu vạn cổ, long trảo uy nghi thánh tích truyền.

Dịch:
Đầm Mộ Trạch rạng tỏ danh thần, tên vua vạn thế sáng soi, nghiêm vuốt rồng truyền lưu tích thánh.
Đất Chu Diên đúc nên hào khí, oai đế ngàn thu oanh liệt, trừ quân Lương đất nước yên bình.

Cách đền Độc Bộ không xa là núi Gôi (Vụ Bản – Nam Định), tương truyền là nơi Lữ Gia tử trận. Nay các làng quanh núi Gôi đều còn thờ Lữ Gia. Không phải ngẫu nhiên mà nơi mất của Lữ Gia cũng là nơi Triệu Quang Phục cùng đường. Lữ Gia đã cùng Triệu Vệ Dương Vương chạy về vùng cửa biển này thì nơi Lữ Gia mất thì cũng phải là nơi Triệu Vệ Dương Vương bị bắt. Do đó người được thờ ở đền Độc Bộ chính là Triệu Vệ Dương Vương.

Nhà Triệu Nam Việt kết thúc, nhưng câu chuyện về Lữ Gia thì chưa. Lữ Gia tức là gia đình họ Lữ, chứ không phải chỉ 1 vị thừa tướng duy nhất. Gia đình họ Lữ như Sử ký Tư Mã Thiên đã chép đều là hoàng thân quốc thích của nhà Triệu và vài trăm gia quyến của vua và thừa tướng Nam Việt này đã lên lâu thuyền chạy về Giao Chỉ. Đó đúng là “mầm họa” cho nhà Hiếu (Tây Hán) vì những người này đều mang dòng máu đế vương của cả Lưu Bang và Lữ Hậu, lại lui về đất tổ của 2 vị tiền nhân này ở Phong Bái (Giao Chỉ).

Tiếp theo ngay sau chuyện xảy ra ở cửa Đại Nha là sự chống đối của nhà họ Lữ ở vùng Phong Châu. Nơi đây còn dày đặc các di tích, truyền thuyết về Lữ Gia. Đó là Quán Linh Tiên, nơi Lữ Gia gặp tiên đánh cờ ở Hoài Đức, đình Liên Hà bên sông Hồng (Đan Phượng). Là vùng Tam Dương (Vĩnh Phúc) với đền Bạch Trì thờ các tướng lĩnh theo Lữ Gia chống Lộ Bác Đức. Là núi Thầy nơi có hang Cắc Cớ, tương truyền là nơi các chiến sĩ của Lữ Gia tuẫn tiết. Là hai bên sông Lô với bến Bạch Lựu (xã Lập Thạch – Vĩnh Phúc) và Tràng Đông (xã Trưng Vương – Phú Thọ), tương truyền là phòng tuyến cuối cùng của Lữ Gia.
Tuong Lu Gia
Tượng Lữ Gia ở Quán Linh Tiên
Ở các di tích tại Vĩnh Phúc, Lữ Gia được thờ dưới cái tên Nguyễn Triệu Lệ. Nguyễn có lẽ là từ họ Lý đổi sang. Triệu thì quá rõ, đó là họ vua Triệu Nam Việt. Lệ liệu có phải là họ Lữ/Lã?

Sự chống trả của họ Lữ ở vùng ven sông Lô thất bại. Nhưng… họ Triệu vẫn còn hậu duệ. Khởi nghĩa của Tây Vu Vương hay Tây Lý Vương đã được sử sách ghi lại ở đây. Sau Tây Vu Vương, tiếp đó vẫn còn có một chuyện thật khó hiểu…

Ở xã Thanh Lãng huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc có tục thờ Thánh Mẫu và năm anh em chàng Vịt. Câu chuyện tóm tắt như sau. Bà Triệu Thị Khoan Hòa là hoàng phi của Triệu Vệ Dương Vương, chạy lánh nạn về ở chùa Quảng Hựu – Thanh Lãng. Bia ở đền thậm chí còn chép bà là hoàng hậu của Vệ Dương Vương. Một đêm bà nằm mơ thấy một người kỳ dị, sau đó sinh được 5 quả trứng, nở ra 5 anh em trai có tài bơi lội, nên gọi là 5 chàng Vịt. Các chàng trai này lớn lên đầu quân cho Trưng Vương, tham gia đánh trận trên sông Nguyệt Đức, phá Tô Định. Khi Nhị Trưng Vương hy sinh, 5 anh em chàng Vịt đã xông pha đem được thi hài của các nữ Vương về táng ở Hy Cương.
Su tich Thanh Mau
Bia ghi sự tích ở đền Thánh Mẫu
Câu đối ở đền Thánh Mẫu tại Thanh Lãng:
Thanh Lãng tự sinh thần, Bắc đồng Giản Địch Nam đồng Việt
Bạch Đằng giang phá tặc, mẫu vị Dương Vương tử vị Trưng.

Dịch:
Chùa Thanh Lãng sinh thần, Bắc tựa Giản Địch, Nam tựa Việt
Sông Bạch Đằng phá giặc, mẹ vì Dương Vương, con vì Trưng.

Giản Địch là tổ của nhà Thương trong tích “chim huyền điểu sinh Thương”. Vế đối đầu muốn nói tới việc bà Triệu Thị Khoan Hòa sinh trứng nở ra 5 chàng Vịt như bà Giản Địch, hay như truyền thuyết Việt về Âu Cơ sinh bọc trăm trứng.

Chỗ khó hiểu chính là ở vế đối thứ hai. Thời Trưng Vương thì phá giặc trên “sông Bạch Đằng” lúc nào? Vấn đề quan trọng hơn, bà Triệu Thị Khoan Hòa là cung phi của Triệu Vệ Dương Vương từ năm 111 TCN. Còn khởi nghĩa Hai Bà Trưng lại nổ ra vào năm 40 sau CN. Tính ra có đến trên 150 năm. Làm sao có thể “mẹ vì Dương Vương, con vì Trưng” được?

Trên miền Bắc Việt Nam có rất nhiều di tích thờ Trưng Vương và các tướng thời Trưng Vương. Các thần tích về thời kỳ này gần như nhiều nhất, nếu so với thời gian của khởi nghĩa Trưng Vương rất ngắn (3 năm). Rõ ràng đã có một khởi nghĩa của Trưng Vương xảy ra trên đất Giao Chỉ:

Bà Trưng quê ở châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Nhưng nếu xét thời Đông Hán thì Mã Viện chưa hề đặt chân lên Giao Chỉ vì cột đồng phân giới Hán Trưng nằm ở tận Man Thành, Bắc Quảng Tây. Vậy khởi nghĩa Trưng Vương ở Giao Chỉ là khởi nghĩa nào? Những trận đánh Long Biên, đuổi Tô Định, chống Phục Ba ở Lãng Bạc, hy sinh ở Cấm Khê… là thế nào?
(Còn tiếp)

Thánh Tam Giang và bài thơ Nam quốc sơn hà (TT)

Hai tướng nhà Triệu là Trương Hống Trương Hát không theo Hậu Lý Nam Đế, tự vẫn ở Phù Long. Một ngàn năm sau hai vị thần này lại hiển linh, đọc bài thơ Nam quốc sơn hà tuyên ngôn độc lập trước quân Tống bên dòng Như Nguyệt. Trương Hống từ đó được phong là Khước địch thiện hựu trợ thuận đại vương, Trương Hát là Uy địch dũng cảm hiển thắng đại vương.
Nhưng tại sao lại chính hai vị này đọc thơ khước Tống?
Lịch sử luôn lặp lại. Nam Việt Đế Lý Bôn khởi nghĩa chống Tần, thống nhất giang sơn Bách Việt. Tới khi Lữ Hậu mất, Lý và Triệu con cháu một nhà nhưng Nam Bắc phân đôi. Hậu Lý Nam Đế là Hiếu Vũ Đế diệt Triệu Vệ Dương Vương ở Dương Thành. Nhưng ở phía Tây Nam Việt lại nổi lên nhà Nam Triệu của Tây Lý Vương, tiếp tục chống lại phương Bắc.
Thời Ngũ đại, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn thống nhất miền Bắc Trung Hoa. Phía Nam nhà họ Lý (Lưu) lập nước Đại Việt – Đại Hưng trên mảnh đất Nam Việt của Triệu Việt Vương xưa. Quân Tống tấn công Phiên Ngung, Lưu Sưởng bị bắt. Nhưng ở phía Tây trên đất Tĩnh Hải, cũng con cháu họ Lý là thủ lĩnh Đinh Bộ lại lần nữa âm thầm phục quốc. Qua hai đời Tiết độ sứ tới Lý Thánh Tông thì chính thức xưng vương, lấy lại tên nước Đại Việt của cha ông họ Lý.
Chính vì sự lặp lại của lịch sử nên hai vị thánh Tam Giang đại diện cho tinh thần chống giặc phương Bắc của nước Nam Việt xưa mới hiển linh đọc bài thơ thần trên sông Như Nguyệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược
Bạch phận phiên thành phá trúc dư.

Nước Việt gọi là “Nam quốc”, vua Việt là “Nam đế” chính là từ nước Nam Việt của Triệu Vũ Đế Lý Bôn. “Thiên thư” đây không phải Kinh Thư từ thời Chu. “Thiên thư” là sử sách thời Tần Hán, có thể chỉ … Sử ký Tư Mã Thiên, mà trong đó lịch sử thời Nam Việt của nhà Triệu đã được ghi chép đầy đủ.
Triệu Vũ Đế là “Nam bang thủy đế” (hoành phi ở đền Đồng Xâm – Thái Bình), hay “Thiên Nam đế thủy” (hoành phi điện Long Hưng – Xuân Quan), là vị Nam đế đầu tiên của nước Nam. Con cháu họ Hùng bắt đầu phân Nam Bắc từ thời Nam Việt như câu đối của Nguyễn Công Trứ ở đền Đồng Xâm:
Một thời gươm ngựa khinh Lưu Hạng
Tự đó non sông tách Bắc Nam.

Gần đây nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên còn phát hiện tiền thân của bài thơ Nam quốc sơn hà ở đền Đào Xá (Thanh Thủy – Phú Thọ) như sau:
Nam thiên dĩ định đế Nam quân
Đại đức giai do đức nhật tân
Thất quận sơn hà đô nhất thống
Tống binh bất miễn tán như vân.

Dịch:
Trời Nam đã định vua Nam ta
Đức lớn ngày thêm đức mới ra
Bẩy quận non sông về một mối
Tống binh tan tác tựa mây sa.

Đặc biệt bài thơ này nói tới “thất quận sơn hà”, nước non gồm 7 quận. Chế độ quận huyện ở nước ta đã bỏ từ Tùy Đường, thay bằng chế độ phiên trấn (Tiết độ sứ) ở thời Cao Biền. Bài thơ thời Lý nói tới 7 quận là thế nào?

P1220114Đền Tam Công ở Đào Xá, nơi lưu giữ phiên bản cổ của bài thơ Nam quốc sơn hà.

Xem lại diễn biến nước Nam Việt, sau khi bị Hiếu Vũ Đế thu phục, được gọi là Giao Chỉ bộ, chia làm 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô và Đam Nhĩ, Chu Nhai. Tới thời Sĩ Nhiếp Giao Chỉ bộ đổi thành Giao Châu, nhưng chỉ còn 7 quận (trừ Đam Nhĩ và Chu Nhai). Có lẽ 2 quận Đam Nhĩ và Chu Nhai đã bị mất vào tay Hán Quang Vũ, Sĩ Vương chỉ còn giữ được 7 trong số 9 quận của nước Nam Việt trước đó. Cái tên “thất quận” bắt đầu từ đó, chỉ Giao Châu bộ.
Câu đối ở đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành – Bắc Ninh):
汶陽幾辰遷為軍將為州牧為教育師儒恩信遍蒼梧七郡外
龍编何日事此城郭此人民此江河運會文采傳武寧一部中
Vấn Dương kỉ thời thiên/ vi quân tướng, vi châu mục, vi giáo dục sư Nho/ ân tín biến Thương Ngô thất quận ngoại
Long Biên hà nhật sự/ thử thành quách, thử nhân dân, thử giang hà vận hội/ văn thái truyền Vũ Ninh nhất bộ trung.

Dịch:
Vấn Dương mấy lúc dời/ vì quân tướng, vì châu mục, vì giáo dục Nho gia/ bảy quận ngoài Thương Ngô ơn nghĩa trải khắp
Long Biên sự ngày nọ/ đây thành quách, đây nhân dân, đây non sông vận hội/ toàn bộ trong Vũ Ninh văn đức còn truyền.

Den Si Nhiep Cổng đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á

Trung tâm của quận Giao Chỉ đóng ở Long Biên. Nhà Hiếu (Tây Hán) không đóng trung tâm Giao Chỉ ở Phong Châu hay Cổ Loa có lẽ vì vùng phía Tây Giao Chỉ còn chưa yên ổn do con cháu nhà Triệu là Tây Lý Vương còn đang quấy rối. Một phần khác, Long Biên trở thành chốn trung tâm chính vì đây là vùng Tam Giang, Tam Xuyên hay Long Xuyên nơi Triệu Vũ Đế Lý Bôn khởi nghiệp.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng nổ ra ở 7 quận của Giao Châu này. Câu đối ở đền Hát Môn:
Cung kiếm thất tu mi, nữ chủ uy thanh lưu thất quận
Bình mông phổ bào dư, thần vương phúc tỉ vĩnh thiên thu.

Dịch:
Cung kiếm vượt nam nhi, nữ chủ uy danh lưu bảy quận
Che chở khắp đồng bào, thần vương phúc đức mãi nghìn năm.

Hai Bà Trưng toàn thắng, chiếm 65 thành ở Lĩnh Nam … Lẽ ra nếu khởi nghĩa Trưng Vương xảy ra ngay sau khi nước Nam Việt của nhà Triệu bị mất thì “Lĩnh Nam” phải là toàn bộ vùng đất Nam Việt cũ, nghĩa là phải có tới 9 quận gồm cả Đam Nhĩ, Chu Nhai. Sự thật là khởi nghĩa Trưng Vương nổ ra sau thời Sĩ Nhiếp lập Giao Châu bộ, nên Lĩnh Nam lúc này chỉ còn 7 quận mà thôi.
Như vậy “thất quận” chính là vùng đất của nhà Nam Việt từ Triệu Vũ Đế. Bài thơ ở Đào Xá đã chỉ ra “Nam quốc” thực sự là gồm những vùng đất nào. Đồng thời bài thơ cũng cho thấy ý đồ của nhà Lý không chỉ giới hạn ở vùng Tĩnh Hải mà còn muốn phục quốc Đại Việt gồm 7 quận Lĩnh Nam. Thực tế thì Lý Thường Kiệt đã đánh vào châu Ung, châu Khâm, châu Liêm, mục đích rõ ràng là “thống nhất 7 quận” Nam Việt.
Câu đối ở đình Đông Xuyên (Yên Phong – Bắc Ninh) thờ Thánh Tam Giang:
Lưỡng mệnh khước Lý trưng, trung Triệu thanh phong phân đức thủy
Nhất thi tiêu Tống phạm, phù Lê hồng liệt đối hòa sơn

Dịch:
Một bài thơ phù Lê, tan Tống núi non nêu khí tiết
Hai anh em trung Triệu, chối Lý nước sông tỏa danh thơm.

Dinh Dong Xuyen Đình Đông Xuyên ở Yên Phong

Việc nhiều sử sách chép bài Nam quốc sơn hà được vang lên vào thời Tiền Lê nay cũng đã rõ. Lê Đại Hành là vị vua Lý ẩn họ. “Phù Lê” cũng là phù Lý. Tuy nhiên, khó có khả năng đã có một cuộc tấn công qui mô của nhà Tống vào thời Tiền Lê vì lúc này Lê Đại Hành – Lý Thái Tông vẫn còn nhận sắc phong của nhà Tống, chưa công khai lập quốc gia riêng. Với khẩu khí đòi độc lập “Nam quốc”, xưng “Nam đế”, thống nhất lại “thất quận” thì thời điểm đọc bài thơ này vào thời Lý Thường Kiệt (Lý Nhân Tông) là phù hợp hơn.
Phục quốc nước Nam thất quận luôn canh cánh trong các triều đại Việt sau này. Hoàng đế Quang Trung sau chiến thắng Đống Đa đuổi quân Thanh đã cử sứ giả đi đòi đất Lưỡng Quảng. Gia Long lên ngôi muốn đặt tên nước là Nam Việt…
“Nam quốc” đã đi vào tiềm thức người Việt như quốc danh của mình. Người Việt sẽ còn kể mãi chuyện “Nam đế” Lý Bôn, “Nam bang thủy đế” Triệu Vũ Đế như vị vua đầu tiên lập nước, phân Bắc Nam. Dòng sử nước Nam Việt đã mất đi phần Lưỡng Quảng, nhưng rồi lại thêm đất Nam Triệu – Lâm Ấp để nay trở thành nước Việt Nam độc lập.

Thánh Tam Giang và bài thơ Nam quốc sơn hà

Người Việt ai chẳng biết bài thơ Nam quốc sơn hà đã được vang lên trên phòng tuyến sông Như Nguyệt như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta chống giặc phương Bắc xâm lược… Có điều bài thơ này được chép với nhiều dị bản và truyền thuyết bao quanh, nửa hư nửa thật làm cho chẳng ai hiểu ngọn ngành thật sự ra sao.
Tương truyền bên dòng sông Như Nguyệt hai vị thần là Trương Hống, Trương Hát đã hiển linh đọc bài thơ trong đêm trước quân Tống… Nhưng cuộc chiến Việt – Tống này có sách thì chép là của Lê Đại Hành, sách khác lại là của Lý Thường Kiệt. Phải xác định ra sao về thời điểm ra đời của bài thơ này?
Dị bản chính của bài thơ được chép trong Lĩnh Nam chích quái:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược
Bạch phận phiên thành phá trúc dư.

Nước ta từ Ngô, Đinh, Tiền Lê đến tận Lý Trần đều là Đại Cồ Việt, Đại Việt. Vậy sao ở đây lại gọi là “Nam quốc”, “Nam đế”? Nước ta là “nước Nam” từ lúc nào? Quốc danh còn không rõ thì sao gọi là “tuyên ngôn độc lập” được?
Để giải đáp những câu hỏi trên cần xem lại chuyện về đức thánh Tam Giang Trương Hống Trương Hát trên cơ sở những nhận định mới về cổ sử Việt Nam.
Hiện nay dọc sông Cầu có tới hơn 300 nơi thờ anh em Trương Hống, Trương Hát. Mỗi nơi một tích, mỗi nơi một chuyện, nhưng đều tương tự nhau. Theo thần tích làng Vân Mẫu (Quế Võ – Bắc Ninh) vào thời Tiền Lý Nam Đế trong làng có bà Phùng Từ Nhan, một đêm nằm chiêm bao thấy Thần long quấn mình trên sông Lục Đầu. Sau đó bà mang thai, sinh hạ 5 người con. Bốn con trai tên là Hống, Hát, Lẫy, Lừng và một con gái là Đạm Nương … (Không rõ vì sao những vị này lại lấy họ Trương?)
Lớn lên Trương Hống, Trương Hát theo học tiên sinh Lã Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang. Tới khi Triệu Quang Phục khởi nghĩa ở đầm Dạ Trạch thì cả nhà họ Trương cùng dấy binh theo về… Triệu Quang Phục phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách đánh giặc.

Dẹp xong giặc rồi, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành, khao thưởng tướng sỹ, úy lạo muôn dân.Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc, Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh, Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn là nơi dấy binh cũ.

Hong Hat Lay Lung Tượng bốn vị Hống, Hát, Lẫy, Lừng ở Vân Mẫu

Trong cách nhìn mới, với việc xác định Triệu Việt Vương là vua nước Nam Việt thời trước Công nguyên thì có thể thấy anh em Trương Hống, Trương Hát là những công thần lập quốc của nhà Triệu. Lã tiên sinh, thầy học của Trương Hống Trương Hát, có thể chính là tể tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt.
Như đã biết nhà Triệu Nam Việt đóng đô ở Dương Thành (Quảng Đông). Sử Việt thì chép Triệu Việt Vương đóng đô ở Long Biên, có lẽ là đã lấy nơi ông tổ nhà Triệu là Triệu Vũ Đế lập hành cung Long Hưng ở thời kỳ khởi nghĩa kháng Tần. Có liên hệ sau: Long Biên <-> Long Xuyên <-> Tam Xuyên <-> Tam Giang.
Long Xuyên là nơi “Úy Đà” khởi nghiệp theo Sử ký Tư Mã Thiên. Long Biên là nơi đóng quân của Triệu Vũ Đế (điện Long Hưng ở Xuân Quan).
Trương Hống Trương Hát được gọi là đức thánh Tam Giang. Tam Giang đây không phải là Ngã ba Xà, nơi bài thơ thần được đọc sau này, bởi vì ngã ba này chỉ có … 2 con sông: sông Cà Lồ và sông Cầu, đổ vào nhau. Tam Giang ở đây là chỉ quận Tam Xuyên dưới thời Tần, là nơi Lưu Bang Triệu Vũ Đế khởi nghĩa.
Như vậy khi Triệu Văn Vương lập nước Nam Việt, anh em Trương Hống, Trương Hát theo tể tướng Lữ Gia đã được phong cai quản vùng đất quận Tam Xuyên cũ, là vùng “từ Thái Nguyên tới Lục Đầu Giang”, như thần tích thánh Tam Giang cho biết.
Tiếp theo, khi Hậu Lý Nam Đế cầu hôn con gái của Triệu Việt Vương cho con trai mình là Nhã Lang thì hai anh em Trương Hống, Trương Hát đã can ngăn. Đại Nam quốc sử diễn ca chép:

Có người: Hống, Hát họ Trương
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,
Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?”.

Thì ra hai đại tướng quân cai quản vùng đất tổ Tam Xuyên đã phản đối việc Triệu Anh Tề lấy Cù Thị người nhà Hiếu (Tây Hán).
Lĩnh Nam chích quái kể tiếp, khi Triệu Việt Vương bị Hậu Lý Nam Đế đánh bại, Nam Đế đem lễ vật đến rước anh em Trương Hống Trương Hát, có ý muốn cho làm quan, nhưng hai vị kiên quyết giữ lòng trung thành, trốn vào ở núi Phù Long. Nam Đế nhiều lần cho người đến truy nã nên hai vị đành tuẫn tiết mà chết…
Trương Hống Trương Hát tự vẫn ở vùng “Đu Đổm” thuộc Thái Nguyên ngày nay. Phù Long phiên thiết là Phong. Núi Phù Long liệu có phải là đất Phong (Mường Đăng) nơi Lưu Bang khởi nghĩa?
Có thể thấy hành trạng của anh em họ Trương hoàn toàn trùng với tể tướng Lữ Gia, từ việc tham gia lập nước Nam Việt, phản đối cuộc hôn nhân với người nhà Hiếu, kiên quyết không theo Hậu Lý, rút về vùng núi phía Tây khi thất bại. Điều này càng củng cố lập luận Lã tiên sinh, thầy học của anh em họ Trương trong thần tích là tể tướng nhà Triệu Lữ Gia.

Nghe Trau Lo Tam Giang thần từ ở làng Trâu Lỗ

Ở làng Trâu Lỗ thuộc xã Mai Đình, Hiệp Hòa – Bắc Giang còn có nghè (đền) thờ đức thánh Tam Giang, nhưng lại cùng với 2 thành hoàng làng là Vua ông Vua bà. Trong nghè có 4 tượng: tượng Vua ông đội mũ bình thiên, tượng Vua bà và 2 tượng Trương Hống, Trương Hát hai bên như quan hầu. Dân làng chỉ biết “Vua ông Vua bà” là thành hoàng làng, nhưng không biết cụ thể đó là ai, ở thời nào, công trạng ra sao.
Trong sử Việt, chỉ có hai vị mà cả vợ cả chồng đều có thể được gọi là Vua là: Lưu Bang và Lữ Hậu. Trương Hống, Trương Hát là tướng của nhà Triệu Nam Việt. Nhà Triệu lấy Lưu Bang làm tổ (Triệu Vũ Đế), họ Lữ làm tể tướng (Lữ Gia). Trương Hống, Trương Hát lại cai quản đất khởi nghiệp Long Xuyên của Lưu Bang, nên việc đặt thờ hai anh em họ Trương bên cạnh Lưu Bang, Lữ Hậu (Vua ông Vua bà) là rất hợp lý. Lưu Bang và Lữ Hậu cùng được thờ tương tự ở đình làng Bát Tràng.
Ở Bắc Ninh còn có 2 làng Đồng Văn và Đồng Đoài (xã Thuận Thành) cạnh sông Cầu thờ thành hoàng là Tam Công. Theo thần tích thì đây là 3 vị tướng của nhà Triệu Nam Việt, có công chống Hán. Ba vị này được sắc phong là “Đống Sức anh nghị linh thông đại vương”, “Đống Dạ chính trực linh ứng đại vương” và “Thập làng phù vận cảm ứng đại vương”.
Dấu vết của nhà Triệu Nam Việt ở nước ta còn lại không nhiều, hầu hết các đền miếu của các nhân vật liên quan đều đã bị hủy bỏ hoặc thần tích bị thay đổi. Đây là do cái nhìn sai lầm tai hại của các sử gia về tính chính thống của nhà Triệu. Nay với nhận định rõ ràng Nam Việt Đế Lý Bôn là Triệu Vũ Đế, chuyện Triệu Quang Phục là chuyện 4 đời vua Triệu Nam Việt thì phải có một Kỷ nhà Triệu trong lịch sử nước nhà. Hơn thế nữa, chính nhà Triệu đã khởi đầu “nước Nam”, “vua Nam” mà danh lưu còn mãi tới ngày nay như trong bài thơ thần Tam Giang đức thánh đã đọc bên sông Như Nguyệt … (xem phần tiếp theo)

Đô Dương, Mã bất tiến

DinhHoiPhu

Đình Hội Phụ, quê hương của các tướng Đào Kỳ – Phương Dung

Trong tác phẩm Anh hùng Lĩnh Nam, bác sĩ Trần Đại Sỹ có kể lại câu chuyện khá cảm động của hai vợ chồng Đào Kỳ và Phương Dung, là tướng của Hai Bà Trưng, đóng ở vùng Bắc sông Đuống. Trong trận Cấm Khê Đào Kỳ đã bị thương, về đến Cổ Loa thì mất. Phương Dung tuẫn tiết theo chồng. Câu đối còn truyền lại nói về hai vị tướng này:
Vị lý Phục Ba thi, loan giá lâm lưu không ẩm hận
Bất ly Tiên trấn giáp, Loa thành qui mã thượng trì thanh.
Dịch nghĩa:
Chưa bọc xác Phục Ba, cạnh sông xe loan còn vang uất hận.
Không rời giáp Tiên Trấn, ngựa về Cổ Loa, vẫn vọng âm thanh.

LangDaoKy

Lăng Đào Kỳ ở Mai Lâm – Đông Anh

Câu đối khác tương truyền có ở đền thờ Đào Kỳ – Phương Dung ở làng Hội Phụ:
Giao Chỉ tượng thành công dư lục thập thành giai kiện tướng.
Đô Dương mã bất tiến hậu thiên vạn tải hữu linh thần.
Bác sĩ Trần Đại Sỹ dịch là:
Voi Giao Chỉ đã thành công, hơn sáu mươi thành đều công tướng giỏi
Ngựa Đô Dương chậm bước, nên muôn ngàn năm sau thần vẫn linh.

Tuy nhiên, câu đối này nếu dịch như vậy thì có chỗ không ổn. “Mã bất tiến” đúng nghĩa phải là “không tiến lên được”, không phải là “chậm”. Nếu hiểu là “ngựa Đô Dương” không chịu tiến thì thành ra vì Đô Dương không chịu đi ứng cứu nên Đào Kỳ – Phương Dung mới tử trận và hóa thần? Thật vô lý. Đô Dương là tướng của Hai Bà sau đó còn kiên cường chiến đấu ở Cửu Chân chống giặc. Chẳng nhẽ câu đối ở đền thờ này nói tới chuyện “bất hòa” nào đó giữa Đô Dương và Đào Kỳ – Phương Dung?

Hiểu chính xác hơn: “Mã bất tiến” đây là quân của Mã Viện đã không thể tiến lên được bởi sự kháng cự của Đô Dương. Đây là một bằng chứng cho thấy cuộc đàn áp của Mã Viện đã không hoàn toàn thành công như sử vẫn chép. Sau khi Hai Bà mất, Đô Dương lui về giữ Cửu Chân và đã cản được bước tiến của Mã Viện xuống phía Nam. Đô Dương không phải chỉ cầm cự được với Mã Viện trong 2 năm như chính sử viết, mà Mã Viện đã “không thế tiến” được qua đất của Đô Dương.

Vậy Đô Dương, người thực tế đã tiếp nối thành công sự nghiệp của Trưng Vương là ai? Sử cũ hầu như không cho biết gì về Đô Dương cả. Người đã ngăn được bước tiến của giặc Mã phương Bắc không thể không có những vết tích để lại.

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Mã Viện và quân Hai Bà đã giảng hòa và dựng cột đồng làm mốc giới ở Man Thành (Bắc Quảng Tây). Cột đồng Mã Viện dựng nên chính nơi Mã Viện đã không thể tiến thêm được nữa, tức là nơi đánh mốc giữa nhà Đông Hán và nước của Đô Dương. Biên giới này nằm ở nơi Đô Dương trấn giữ là Cửu Chân.
Cửu Chân cương lý dư, địa thượng Bắc Nam công bán tại

Rõ ràng Cửu Chân, nơi phân chia Nam Bắc không thể là vùng Thanh Hóa mà phải ở Quí Châu, nơi có Man Thành và cột đồng được dựng.
Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là lời đe dọa của Mã Viện sẽ bẻ gãy mốc giới để tấn công tiêu diệt Giao Chỉ. Cột đồng như vậy là hình ảnh tương trưng cho sự bất khuất của quân dân Giao Chỉ chứ không phải là biểu trưng thành tích của Mã Viện.

Trong câu đối trên từ “” được dùng để chỉ quân Đông Hán nói chung chứ không riêng gì Mã Viện. Và như vậy đối lại, từ “Tượng” ở vế trên cũng là danh từ riêng, chỉ quân vua Trưng, chứ không phải là chỉ “voi Giao Chỉ” như vẫn dịch. Tượng là phương Tây, Mã là phương Bắc.

Một lần nữa lại thấy triều đại của vua Trưng có thể đã được gọi là Tây, cũng như trong câu:
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử

Đinh= Tây, Tượng = Tây. Tới đây ta hiểu vì sao lại có hình ảnh Trưng Vương cưỡi voi. Đó là hình ảnh của vua Trưng trên ngôi Hoàng đế của nước Tượng – Tây – Đinh.
Có sách ghi cha của Hai Bà Trưng cũng có tên là Hùng Định, có phải cũng muốn nói Hai Bà là dòng giống vua Hùng ở hướng Tây?
Liệu Tượng ở đây có phải muốn nói tới Tượng quận đời Tần?

Theo Văn nhân, Đô Dương có thể chính là Khu Liên / Khu Đạt, người lập nên nước Lâm Ấp, và là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây.
Theo gia phả họ Phạm:
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa…

Dễ dàng thấy rằng Lý Kiên là tên phiên thiết của Liên, hay Lý Khu Kiên = Khu Liên. Thông tin Khu Liên họ Lý, là Đô Dương lại đóng ở Cửu Chân sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng dẫn đến một suy nghĩ khác. Khu Liên hay Đô Dương có thể chính là Lý Thiên Bảo trong cuộc khởi nghĩa tiếp theo vì:
Lý Thiên phiên thiết là Liên. Lý Thiên Bảo = Bảo Liên = Khu Liên.

Nơi Khu Liên khởi nghĩa được biết là Tượng Lâm, có thể là gồm Tượng quận và Lâm Ấp, tức là Vân Nam và Quảng Tây. Địa bàn này hoàn toàn trùng với ghi chép về Lý Thiên Bảo ở Ai Lao (đất người Di ở Vân Nam – Quí Châu) và Đạt Vương ở Quảng Tây. Nước “Lâm Ấp” ở vị trí miền Trung Việt Nam ngày nay như vậy không phải bắt đầu từ Khu Liên mà là từ sau khởi nghĩa Bà Triệu vào thời Ngô của Tôn Quyền, với vị vua đầu tiên họ Phạm (Phạm Hùng).

Lý Thiên Bảo theo sử Việt chạy về Cửu Chân rồi lập nước Dã Năng ở Ai Lao, lên ngôi Đào (Đoài) Lang Vương. Đoài = Định Đoạt = Đạt, là quẻ Đoài chỉ phương Tây. Như vậy Đoài Lang Vương của người Ai Lao Di có thể cũng là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây. Nước của Đô Dương như trong các câu đối về Hai Bà Trưng có tên là Đinh hay Tượng, tức là Tây. Nước của Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử lập nên sau này cũng sẽ là Tây, là nước Thục.

Thật bất ngờ khi biết khởi nghĩa Trưng Vương đã dẫn đến sự hình thành nước Thục của Lý Phật Tử – Lưu Bị. Như vậy khởi nghĩa Hai Bà Trưng không gì khác chính là khởi nghĩa Hoàng Cân cuối đời Đông Hán. Quân Hai Bà Trưng dùng màu vàng làm cờ hiệu có lẽ muốn nhấn mạnh tính “Lạc Hùng chính thống” của mình theo quốc tổ Hữu Hùng Hoàng Đế. Giặc Mã không tiến được trước quân của Đô Dương – Lý Thiên Bảo /Lưu Biểu ở Quí Châu rõ ràng như vậy chính là quân của Tào Tháo.

Dịch lại câu đối ở đền Đào Kỳ – Phương Dung theo nghĩa mới phát hiện:
Giao Chỉ, Tượng thành công, dư lục thập thành giai kiện tướng.
Đô Dương, Mã bất tiến, hậu thiên vạn tải hữu linh thần.
Dịch là:
Chốn Giao Chỉ quận Tượng thành công, sáu mươi thành lẻ đâu cũng là tướng giỏi
Gặp Đô Dương giặc Mã hết lối, muôn ngàn năm sau mãi mãi có thần thiêng.

NgheLeXa

Nghè Lê Xá thờ Đào Kỳ – Phương Dung ở Đông Anh với câu đối:
Cử mục sơn hà vô Hán tướng,
Thệ tâm thiên địa hữu Trưng vương.

Dịch:
Ngước mắt núi sông không tướng Hán
Tâm nguyền trời đất có vua Trưng.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng quả là một thời bi tráng. Dưới sự đàn áp tàn bạo của quân Đông Hán, khởi nghĩa vẫn không thất bại mà cả một vùng Lĩnh Nam đã được giữ vững, buộc giặc Hán phải cắm mốc phân biên, khai mở một triều đại mới của người Việt là nước Thục của họ Lý.

Văn nhân góp ý:

Tiến sĩ Nguyễn Việt trong bài “Nguồn cội hình thành truyền thuyết Thánh Gióng” cho biết:
Hậu Hán thư có nói đến công trạng của Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú.
Nhưng do cách nhìn nhận cũ Cửu chân là vùng Thanh Hóa nước Việt nên tác giả đã lấy đấy làm dẫn chứng cho ý kiến của mình: có người Man Dạ lang ở ngoài Quý châu.
Đoạn văn : … Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang… đã xác định: Cửu chân chính là Quý châu   và là đất của Âu – Lạc như tư liệu lịch sử viết: ‘Qúy châu bản Tây Âu – Lạc việt chi địa’.

Sự nghiệp trăm năm

Câu đối ở đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng:
Mẫu phúc thụ tư, miếu mạo Tương linh thiên tải hậu
Nhân sinh ngưỡng chỉ, thần công Đông Hán bách niên tiền

Câu đối này tuy đơn giản nhưng có 2 chỗ cần suy nghĩ. Ở vế đầu có tên riêng “Tương linh” không rõ nghĩa là gì. Ở vế sau có nói tới “bách niên tiền” – “trăm năm trước”. Trăm năm là so với thời điểm nào, tại sao khởi nghĩa Hai Bà Trưng lại kéo dài tới trăm năm?

Chữ “Tương linh” đối với “Đông Hán” rõ ràng là tên riêng, chỉ Hai Bà Trưng. Có thể có mấy cách giải thích:
– “Tương linh” là thần sông Tương, lấy tích Nga Hoàng Nữ Anh mà chỉ Hai Bà. Nga Hoàng Nữ Anh là con của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn mất hai vị vương phi này đã tự vẫn theo chồng ở sông Tương. Còn Hai Bà Trưng khi Thi Sách bị giặc giết thì tự mình phất cờ khởi nghĩa, giành thắng lợi, sau đó khi Mã Viện tấn công chị em đã tự vẫn ở sông Hát. Liên hệ sự so sánh này với câu đối đã trình bày ở bài trước tại đền Hát Môn:
Việt tổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.
Dịch:
Trăm trai tổ Việt, chợt có bậc anh thư tài phục quốc
Đôi gái sơ Đường, có nghe đấng khuê tú tự xưng vua.

– Một khả năng khác: “Tương” là chữ ghi kỵ húy của vua Trưng. Trong đền Hát Môn không thấy chỗ nào có chữ Trưng cả, mà chỉ dùng Tương để chỉ Trưng vương. Ví dụ như trong câu:

Tây Giang tỉ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Dịch:
Ngang dọc Việt vương làm bá chủ thời Đông Hán
Chị em Trưng nữ hoá thần thánh ở sông Tây.
Tây Giang ở đây có lẽ chỉ sông Hát.

Việc chữ Tương dùng ghi kỵ húy cho tên Trưng cho thấy khả năng Hai Bà có họ… Trương. Tương = Trương = Trưng. Trong bách gia tính của người Hoa Việt không hề có họ Trưng nên khả năng Hai Bà mang họ Trương thì hợp lý hơn.

Vấn đề thứ hai về cụm từ “bách niên tiền” phức tạp hơn. Nếu hiểu thông thường “thần công Đông Hán bách niên tiền” có nghĩa là “thần công của nhà Đông Hán trăm năm trước”. Tuy nhiên dịch như vậy thành ra vô lý. Câu đối trong đền thờ Hai Bà Trưng không thể ca ngợi “thần công” của nhà Đông Hán được. Còn “trăm năm trước” thì càng chẳng biết tính trăm năm là từ lúc nào. Câu đối này làm ra vào khoảng thời Nguyễn, từ thời Đông Hán đến thời Nguyễn có cả ngàn năm, làm sao tính có trăm năm được?

Về đối thứ hai cần hiểu như sau:
– “Thần công Đông Hán” không phải là “thần công của nhà Đông Hán” mà là thần công (của Hai Bà Trưng) vào thời Đông Hán.
– “Bách niên tiền” không hiểu là vào trăm năm trước mà là trong vòng trăm năm xưa.
Như vậy vế đối này hiểu là:
Người đời còn ngưỡng mộ, công nghiệp trăm năm thời Đông Hán xưa.

Tới đây thì có vấn đề phải bàn. Theo sử Trưng nữ vương khởi nghĩa thành công, lên ngôi vua năm 40 sau CN. Sau đó chỉ vẹn vẻn có 3 năm,  tới năm 43 Hán Quang Vũ sai Phục Ba Mã Viện sang đàn áp. Vậy “thần công trăm năm” của Hai Bà ở đây là gì?

Thiên Nam ngữ lục có kể chuyện khác với chính sử. Mã Viện đánh nhau long trời lở đất với Hai Bà Trưng, không thắng được, phải giảng hòa, dựng cột đồng ở Man Thành (Quảng Tây). Hai Bà sau đó không may bị nhiễm bệnh mà mất.

Theo chính sử, người kế tục Hai Bà là Đô Dương, đã kháng cự thành công quân Mã Viện ở Cửu Chân. Hàng loạt khởi nghĩa tiếp theo của Chu Đạt, Lương Long, Triệu Thị Trinh cho thấy sự nghiệp khởi đầu từ Hai Bà Trưng đã không chỉ dừng lại có 3 năm, mà đây là một cuộc kháng chiến… trường kỳ, trong suốt thời Đông Hán, tới thời Tam Quốc mới mở ra cục diện khác…

Dịch lại câu đối trên:
Đền miếu nghìn thu, linh thiêng phúc lớn từ Trưng Mẫu
Sự nghiệp trăm năm, ngưỡng mộ người đời thủa Hán Ngô.

Cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra trên bảy quận Hoa Nam thời Đông Hán đã không thất bại. Trái lại khởi nghĩa nối tiếp khởi nghĩa, kéo dài cả trăm năm, làm nhà Đông Hán lung lay tận gốc và sụp đổ, dẫn đến cục diện hai nước của người Bách Việt là Thục và Ngô chống giặc Ngụy.

Nếu gạch “Giang Tây chuyên” là gạch của Tĩnh Hải quân thì “Tây Giang” ở câu đối trên cũng có thể nghĩa là đất Tĩnh Hải. Như vậy sẽ hợp lý hơn vì khó mà trong cùng một vế có tới 2 con sông (Tây Giang và sông Tương).

Văn nhân góp ý:
Bách Việt thân, Tôi đang suy nghĩ, có thể 2 chữ Việt hiện thường dùng lẫn lộn thực ra chỉ 2 khái niệm khác nhau có thể phân biệt rạch ròi:
– Chữ Việt bộ Mễ là chữ Việt Tĩnh dùng chỉ đất nước – quốc gia. (đất thì tĩnh)
– Chữ Việt bộ Qua (tẩu?) là chữ Việt động dùng chỉ dân tộc – dòng giống (người
thì động). Có phân biệt như thế mới có thể lý giải … tại sao lại có tới 2 chữ Việt?

Đinh và Đường

Đền Hát Môn ở cửa sông Hát, Hà Nội ngày nay, tương truyền là nơi Hai Bà Trưng đã hội thề, phất cờ khởi nghĩa chống lại quân Đông Hán. Thiên Nam ngữ lục còn ghi lại lời thề này:

Một xin rửa sạch thù nhà
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng

DantheHatMon

Đàn thề Hát Môn

Trong đền có câu đối:
Đại nghĩa phục phu thù, do kim Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.

Trong vế thứ nhất có chữ “thời” được ghi bằng chữ “thìn” do kỵ húy vua Thành Thái. Như vậy câu đối này có khoảng vào thời nhà Nguyễn.

Ở câu đối này về Hai Bà Trưng một lần nữa lại thấy xuất hiện triều nhà Đinh, tương tự như trong câu đối tại đền Đồng Nhân (cũng là một câu đối thời Nguyễn):
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.

Trong câu đối nói rõ triều Hoàng Đinh này cách nay “trên mấy nghìn năm”. Vì thế đây không thể là triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng vào thế kỷ 10 được. Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cũng không có liên quan gì tới Hai Bà Trưng cả, nên đưa vào câu đối này không hợp lý.

Triều “Hoàng Đinh” đối lại với nhà “Đông Hán” ở đây rõ ràng chỉ triều đại do vua Trưng lập nên. Ý nghĩa chữ Đinh như đã trình bày ở bài trước có nghĩa là:
Đinh = Tây = Thục.
Đinh là quốc danh của triều đại Trưng Vương còn lưu mãi tới thời Nguyễn.
Còn chữ “Hoàng” liệu có phải trong từ … “Hoàng Cân”, khởi nghĩa Khăn vàng cuối thời Đông Hán?

Dịch câu đối trên:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán một thời, sáu mươi năm thành Lĩnh Nam lâu kế sách
Lạc Hồng mở quốc thống, từ buổi Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm nước Việt lập sử xanh.

Chữ “định thiên thư” đây nên hiểu khác với “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của bài Nam quốc sơn hà. “Thiên thư” hay Kinh thư là cuốn sách ghi chép lịch sử của Trung Hoa cổ đại. “Định thiên thư” đi với “triệu quốc thống” (mở truyền thống quốc gia) thì không phải phận nước do trời định mà chính khởi nghĩa của Hai Bà đã mở ra lịch sử mấy ngàn năm của giống Lạc Hồng.

Một cấu đối khác ở đền Hát Môn cũng không kém phần kỳ bí:
Việt cổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.

Kỳ lạ nhất chính là chữ “Đường sơ song nữ”. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thì liên quan gì đến thời “Sơ Đường” của mấy trăm năm sau?

Để hiểu được câu này cần làm rõ nghĩa từ “Đường”. “Đường” ở đây không phải là nhà Đường từ Lý Uyên. Đúng hơn phải là đất Đường thời Nghiêu Thuấn. Đường với nghĩa là Nam, chỉ Nam Giao thời cổ, nơi Nghiêu Thuấn đã khai phá, mở mang và lập quốc thống.

Chữ “Đường” này có thể là “Thường” trong từ “Việt Thường”, tên gọi nước ta thời cổ sử. Như vậy thời “Đường Sơ” là thời đầu của sử Việt, hoàn toàn phù hợp với khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Cũng có thể hiểu khác. Thời Đường Ngu có hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh được đế Nghiêu gả cho Đế Thuấn. Đế Thuấn đi tuần ở phương Nam mất, hai vị vương phi đã khóc lóc thảm thiết và nhảy xuống sông Tương tự tự. Phải chăng câu đối muốn so sánh việc này với khí phách của Hai Bà Trưng, tuy chồng mất (Thi Sách bị giết), nhưng không theo thói khuê nữ thường tình, mà tự dựng cờ khởi nghĩa, lên ngôi vua?

Dịch nghĩa:
Trăm trai tổ Bách Việt, bỗng sinh bậc anh thư có tài phục quốc
Đôi gái thời Đường Ngu, có nghe đấng buồng khuê tự khởi nghiệp vương.

Hai câu đối đền Hát Môn cho hai thông tin liên quan tên gọi nước ta thời cổ. Thứ nhất là “Đinh” với nghĩa là phương Tây, quốc danh thời Trưng Vương. Thứ hai là “Đường” với nghĩa “Nam”, chỉ rõ đất Việt là tiếp nối từ thời Đường Nghiêu Ngu Thuấn khai mở Nam Giao xưa.

Tiếp Lạc khai Đinh

Một câu đối ở đền Đồng Nhân thờ Hai Bà Trưng cũng đã đánh đố nhiều bậc túc nho:
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương
.

Chỗ khó hiểu ở đây là tại sao Hai Bà lại “tiếp Lạc khai Đinh“? Trưng Vương là dòng “Lạc Hùng chính thống“, “tiếp Lạc” là dễ hiểu, nhưng sao lại “khai Đinh“.
Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cách thời Trưng Vương tới gần ngàn năm.
Trước đó là còn có Ngô Vương Quyền, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Triệu Việt
Vương, Lý Bí. Làm sao Hai Bà Trưng “khai Đinh” được?

Tôi nghĩ rằng “khai Đinh” đây không phải là mở triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng. Đọc kỹ vào câu đối ta thấy:
– Phần “tiếp Lạc khai Đinh” đối với “khu Tô kháng Mã“. Bao vây Tô Định và chống Mã Viện, cả hai chiến công này là nối tiếp nhau, cùng một thời. Như vậy vế đầu đối lại không thể dùng 2 ý “tiếp nối Lạc Hùng” với “khai mở triều Đinh” của Đinh Tiên Hoàng, là 2 sự kiện cách nhau cả ngàn năm được. “Khai Đinh” đây là khai triều đại ngay sau khi đã “tiếp Lạc“.
– Vế đầu của câu đối đã chỉ rõ, sau khi “tiếp Lạc khai Đinh” thì Hai Bà đã xưng vương trong 3 năm. Nói cách khác, Trưng Vương đã mở triều đại có tên là… Đinh trong 3 năm! Đinh là tên triều đại chưa hề được nhắc đến trong sử sách về Trưng Vương.

Cái tên Đinh của Trưng Vương có nghĩa là gì? Theo tôi từ “Lạc” trong câu trên không chỉ một triều đại cụ thể nào mà là chỉ một thời đại của dân Lạc Việt. Nếu không thì đã phải là tiếp Triệu (Triệu Đà) hay tiếp Thục (An Dương Vương) rồi. Lạc tức Lạc Việt, Lạc Hồng xưa.

Như vậy chữ Đinh cũng không phải chỉ tên một triều đại, mà là một từ chỉ … phương hướng. Đinh, hay Tĩnh là tính chất của phương Tây. Vì Hai Bà Trưng khởi nghĩa từ “Châu Phong”, là vùng đất Tây Thổ, nên có thể người xưa cho rằng triều đại của Trưng Vương có tên là Đinh (Tây):

Ngàn tây nổi áng phong trần.
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Trong lịch sử đã có vài lần nước ta được gọi là Đinh/Tĩnh. Dưới thời nhà Lương, Khúc Thừa Dụ được làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, tức là Tiết độ sứ vùng phía Tây của biển Đông. Phần phía Đông được gọi là Thanh Hải, chính là Quảng Đông – Quảng Tây, đất của Lưu Ẩn, Lưu Cung, người đã đánh Khúc
Thừa Mỹ, thống nhất Tĩnh Hải và Thanh Hải lập nên nước … Đại Việt.

Tiếp theo là Đinh Tiên Hoàng, hiểu theo từ ngữ tức là vị hoàng đế đầu tiên của phần đất Đinh (Tĩnh Hải – Giao Chỉ), vì khi đó phần Thanh Hải (Lưỡng Quảng) đã bị rơi vào tay nhà Tống. Ngay khi lập quốc Đinh Tiên Hoàng đã sai con đi sứ sang Tống. Nhà Tống phong cho Đinh Liễn làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ. Điều này cho thấy Tĩnh Hải hay Đinh vào thời gian này là chỉ phần Giao Chỉ.

Chữ “Đinh” ở mặt sau của đồng tiền Đại Hưng bình bảo phải chăng cũng là chỉ vùng đất này, với nghĩa tiền được đúc ở phần Tây của nước Đại Hưng?

Cuối cùng xin dịch lại câu đối:
Tiếp Lạc, khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô, kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương

Dịch là:
Tiếp Lạc Hồng mở Đinh Tây, áo mũ xưng vua ba mùa lưu sử sách
Đuổi Tô Định chống Mã Viện, núi sông thu lại vạn xuân truyền danh thơm.

Văn nhân góp ý:
Bách Việt thân,
Rất có thể chữ ‘Khai Đinh’ chỉ ra: Chính cuộc khởi nghĩa của 2 bà Trưng đã đưa đến việc lập ra nước Tây Thục của Lý Bí – Lưu Bị , triều đại sử Việt gọi là  hậu Lý Nam đế, tôi hoàn toàn tán thành kiến giải của bạn, từ Đinh ở đây chỉ có nghĩa là phía Tây đồng nghĩa với Thục.
Để Sử thuyết được chấp nhận và trở thành lịch sử thì còn rất nhiều việc phải làm, hy vọng với sức trẻ và nỗ lực không mệt mỏi của bạn rồi đây cũng có ngày chúng ta thành công.

Bách Việt trùng cửu:
Cảm ơn anh Văn nhân đã chỉ lối.
Tôi nghĩ cái gì thật thì không thể là giả. Cái gì giả thì không thể thành thật. Sự việc sớm muộn gì cũng sẽ rõ ràng.
Chúc anh mạnh khỏe để chúng ta cùng đi tới đích của chặng đường dài này