Cá vượt Vũ môn hóa Rồng

Thac BoTừ Mai Châu nhìn xuống lòng hồ sông Đà.

Thác Bờ ở Hòa Bình xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà gầm thét ồn ào, sinh ra một kỳ khu hiểm lộ.
Sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long thuỷ, hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua đê Long thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5,6 trượng, người ta gọi là “ao vua”, tức là bến sông Vạn Bờ xưa thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc”…lại có tên núi nữa là núi Ngải.
Sách Đại Thanh nhất thống chí chép: “núi ở huyện Gia Hưng; trông ra sông cái…tương truyền trên núi có cây ngải tiên, mùa xuân nở hoa, sau khi mưa, hoa rụng xuống nước, con cá nào nuốt phải hoa ấy thì vượt được Long – môn mà hoá thành rồng. Nay núi Long môn châu Đà Bắc, trước mặt trông ra sông Đà, gần đê Long thuỷ, có lẽ là đấy”.
Như vậy, Thác Bờ trên dòng sông Đà còn có tên là Long Môn, là nơi có truyền thuyết “Cá vượt Vũ môn hóa rồng”. Vũ môn không phải là “cửa mưa” mà là cửa của vua Vũ (= Vua = Long). Long Môn hay Vũ Môn chính là nơi vua Đại Vũ nhà Hạ trị thủy, khơi thông dòng Hắc Thủy (tên khác của sông Đà) thời lập quốc người Việt. Truyền thuyết Việt kể là Tản Viên Sơn Thánh ở núi Ba Vì.
Long Môn là nơi dòng sông Đà đổi dòng, chảy ngược lên phía Bắc để tránh dãy Ba Vì rồi đổ vào sông Thao và sông Lô tại ngã ba Bạch Hạc Việt Trì.

Lang XuongĐền Lăng Xương ở xã Thanh Thủy, Phú Thọ bên bờ sông Đà, nơi sinh của thánh Tản.

Văn Nhân góp ý:
Đầu tiên ghi nhận chuyện “cá vượt Vũ môn hóa rồng” là truyện cổ tích Việt Nam. Chuyện kể:
Vào một năm, trời hạn hán, vì số Rồng quá ít, không đủ làm mưa điều hoà cho khắp mọi nơi, Trời mới đặt ra một kỳ thi kén các vật lên làm Rồng, gọi là “Thi Rồng”. Khi chiếu Trời ban xuống, vua Thuỷ Tề loan báo cho tất cả các cư dân dưới nước tham gia vào cuộc thi. Cuộc thi có ba kỳ. Mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng. Con vật nào đủ sức, đủ tài, vượt được cả ba đợt thì mới được hóa Rồng. Trong một tháng trời, đại diện của bao nhiêu loài thuỷ tộc đến thi đều bị loại cả vì không con nào vượt được cả ba đợt sóng. Sau có cá Rô nhảy qua được một đợt nhưng cũng bị rơi ngay. Rồi đến Tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi, đã gần hoá Rồng, nhưng đến lượt thứ ba đuối sức ngã bổ xuống mà lưng đã còng lại. Đến lượt con cá Chép vào thi thì gió thổi ào ào, mây kéo ầm trời. Cá Chép ta vượt luôn một hồi qua ba đợt sóng, và lọt vào cửa Vũ môn. Cá Chép đỗ. Vẩy, đuôi, râu, sừng mọc đủ, vóc dáng thật oai linh, thật đúng là thần Rồng. Cá chép hoá Rồng phun nước làm gió táp, mưa sa, muôn loài sung sướng. Sự sống đã hồi sinh
Nhưng người Tàu cũng có Vũ môn…
Theo Bửu Kế, tác giả của Tầm nguyên tự điển, Vũ môn là tên một con sông hiểm trở mà vua Vũ (Trung Quốc) đã đào trong việc trị thủy. Đó “là con sông có một khúc hiểm trở, nước không thông lên trên được, nên hễ con cá nào nhảy lên được thì hóa rồng”.
Theo truyền thuyết Trung quốc, từ thời thượng cổ, vua Vũ nhà Hạ trị thủy bằng cách cho đục phá một mỏm đá có hình dạng như cái cửa ở thượng lưu sông Hoàng Hà (giữa huyện Hà Tân, tỉnh Sơn Tây và huyện Hàn Thành, tỉnh Thiềm Tây) nên gọi cửa Vũ, hay Vũ môn. Theo đó, Vũ môn có sóng dữ, hằng năm vào tiết tháng ba, cá chép tập trung đến đây, con nào vượt qua được Vũ môn thì hóa rồng.
Còn Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển thì cho rằng Vũ môn “là tên một khúc núi ở thượng du sông Trường Giang nước Tàu, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, chân núi có vực rất sâu, tương truyền đến mùa thu nước lụt lớn thì cá đua nhau tới đó nhảy thi, con nào vượt qua vũ môn thì hóa rồng”.

long-mc3b4n_html_b0b5ea2bfee40700-1Lãnh thổ nhà Hạ theo định vị của Trung Quốc.

Chỉ tiếc theo sơ đồ do chính các con nhà Giời vẽ thì đất đai nhà Hạ của Đại Vũ lại ở Sơn Tây – Hà Bắc ngày nay. Như thế vua Vũ có lẽ… mộng du đến thượng lưu Hoàng hà hay xuống tuốt Trường giang để đục núi trị thủy…
Đối chiếu với thực tại… Kinh Thư chép: Ông Vũ cho đục bạt cả một nửa Long Môn sơn để khai thông dòng chảy… hoàn toàn đúng với cảnh quan ghi nhận trong bài viết trên và cũng hoàn toàn khớp đúng một cách lạ kì với ghi chép của Đại Nam nhất thống chí… “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội”…
Vậy Vũ môn hay Long môn cũng là Vũ Long môn ở đâu? Bên ta hay bên Tàu?
Vũ môn nơi vua Đại Vũ khai sơn phá thạch trị thủy lập nên 9 châu Trung Hoa có thể nào lại là thác Bờ trên dòng sông Đà?
Tích cá vượt Vũ môn được ghi nhận nhiều trong dân gian Việt Nam:
Ca dao có câu:
Mồng bốn cá đi ăn thề
Mùng tám cá về cá vượt Vũ môn.
hay:
Một ngày ở với người khôn
Cũng như cá vượt Vũ môn hóa rồng.
Còn theo các tư liệu:
Sách Giao Châu ký nói: “Có Long Môn (Cửa Rồng) nước sâu trăm tầm (phép đo đời nhà Chu 5 thước là một tầm), cá lớn vượt lên được đó thì thành rồng”.
Sách Sơn Đường dị khảo nói: “Sông Long Môn ở huyện Gia Hưng, nước An Nam, nước sông đến đó, hai bờ cao ngất, đá lớn chấn ngang dòng sông, giữa mở 3 lối, nước tóe xuống như bay, cao mấy trượng, tiếng nước dội xuống, tiếng đá đập nhau kêu ầm ầm như trống thúc sấm vang, ngoài trăm dặm còn nghe tiếng. Thuyền đến đó, phải khiêng lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang và nhiều cá Anh Vũ. Chỗ sông sách kể đây tức là chỗ Thác Pha này đó”.
Theo Quế Đường của Lê Quý Đôn: “… Núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngôi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.”
Hiện nay địa danh Long Môn được ghi nhận đích xác trên bản đồ địa lý Việt, không tơ lơ mơ như mấy ông Tàu. Những gì dân gian đã ghi nhận thì khó có thể sai vì dân gian không có lý do để phải xiên xẹo…
Quan điểm của Sử thuyết Hùng Việt: Vua Đại Vũ khai sơn phá thạch trị thủy ở vùng núi Tản sông Đà. Đại Vũ chính là Hùng Việt Vương – Tuấn Lang trong Hùng phả. Tuấn chỉ là tên chữ biến âm của Tản – tán – Tốn tên quẻ Tốn, Tốn là “phong”, chỉ miền Phong châu nước Việt cổ.

Bách Việt trùng cửu thêm ý:
“Thác Pha” trong Sơn Đường dị khảo rõ ràng là ghi âm Nôm của từ “Thác Bờ”.
Long Môn còn là quê hương của nhà thơ Đường nổi tiếng thần đồng Vương Bột. Hóa ra Vương Bột là người Hòa Bình (Đà Bắc), có cha làm quan ở Phong Châu (Phú Thọ). Vương Bột từ ngã ba Việt Trì xuôi dòng sông Hồng tới dự yến tiệc ở Đằng Vương Các tự tại Lý Nhân – Hà Nam chỉ cần mất có 1 đêm (“Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa“) hoàn toàn có thể. Đúng là “cá” (Vương Bột) vượt Vũ Môn (Đà Bắc) hóa rồng (Đằng Châu).

Nhà Chu và bài thơ Thử ly trong Kinh Thi

Trong Kinh Thi phần Vương phong có bài Thử ly gồm 3 đoạn thơ, khác nhau ở 4 câu đầu và chung phần điệp khúc. Phiên âm Hán Việt của bài này như sau:
I. Bi thử ly ly
Bỉ tắc chi miêu
Hành mại mỹ mỹ
Trung tâm dao dao.
đoạn lặp:
Tri ngã giả
Vị ngã tâm ưu
Bất tri ngã giả 
Vị ngã hà cầu.
Du du thương thiên 
Thử hà nhân tai.
II. Bi thử ly ly
Bỉ tắc chi toại 
Hành mại mỹ mỹ 
Trung tâm như tuý.
“đoạn lặp”
III. Bi thử ly ly
Bỉ tắc chi thật 
Hành mại mỹ mỹ 
Trung tâm như ất (yết).
“đoạn lặp”
Giải thích về phần Vương phong Chu Hy đời Tống viết:
Vương là nói nhà Chu đóng đô về phía đông ở Lạc Ấp, trong vòng kinh kỳ của Vương Thành. Đất vuông 2600 dặm, theo sách Vũ Cống, nhắm khoảng núi Thái Hoạ và núi Ngoại Phương thuộc châu Dự, phía bắc được vùng Hà Dương, rồi lần xuống phía nam của châu Ký.
Lúc khởi đầu nhà Chu, Văn Vương ở đất Phong, Vũ Vương ở đất Hạo. Đến đời Thành Vương, Chu Công bắt đầu dựng Lạc Ấp làm chốn hội họp chư hầu lúc bấy giờ, vì cớ đất ấy ở ngay chính giữa, bốn phương đến đấy thì dặm đường xa đồng nhau. Từ đấy gọi đất Phong, Hạo là Tây Đô, còn Lạc Ấp là Đông Đô.
Đến khi U Vương sủng ái nàng Bao Tự, sanh ra Bá Phục, phế hoàng hậu nước Thân và thái tử Nghi Cữu. Nghi Cữu chạy sang nước Thân. Thân Hầu nổi giận, cùng với rợ Khuyển Nhung đánh Tông Chu, giết U Vương ở đất Hý.
Văn Hầu nước Tấn và Vũ Công nước Trịnh rước thái tử Nghi Cữu ở nước Thân và lập lên làm vua. Ấy là Bình Vương. Bình Vương dời về Đông Đô, tức Vương Thành. Từ đấy, nhà Chu lại hèn kém, không khác gì các nước chư hầu, cho nên thơ ca không được gọi là nhã, mà gọi là phong, nhưng vương hiệu chưa bị bỏ, cho nên không gọi là nhà Chu mà gọi là Vương.
Như vậy bài thơ Thử ly trên là bài ca dao của nước Chu khi nhà Chu đã dời về phía Đông tại Lạc Ấp. Thử là lúa nếp, còn Tắc là lúa tẻ (tễ). Bài thơ nói về một người đi qua ruộng lúa và suy tư…
Có điều, Đông Đô của nhà Chu ở chỗ nào mà lại nhiều ruộng lúa, cả nếp, cả tẻ đến vậy? Theo các sử gia Tàu ngày nay thì kinh đô Lạc Dương của nhà Chu ở tận Hà Nam Trung Quốc, chỗ đó là vùng ôn đới, thời trước Công nguyên làm gì có cây lúa nào mọc được đâu mà trồng với chả ngẫm nghĩ, suy tư. Rõ ràng đất Lạc của nhà Chu phải nằm ở vùng ấm ẩm hơn nhiều, nơi các loại lúa phát triển rất tốt.
Hiện quan niệm phổ biến cho rằng nhà Chu là một bộ tộc du mục ở Thiểm Tây, nổi lên diệt nhà Ân làm chủ thiên hạ Trung Hoa. Thế nhưng bài thơ Thử ly trên đã chỉ rõ, nhà Chu nằm ở khu vực cận nhiệt đới, canh tác nông nghiệp lúa nước, chứ chẳng du mục gì cả. Bản thân chữ Chu 周 là ghép của hai chữ Điền 田 và Khẩu 口. Điền 田 là ruộng lúa vuông vắn, chia ô rõ ràng. Nhà Chu là một dân tộc trồng lúa nước điển hình, hiển nhiên không hề xuất phát từ vùng rừng núi Thiểm Tây, vừa khô vừa lạnh, chỉ có cỏ cho ngựa ăn như người Tàu chú thích.

IMG_1631 (2)

Hoàn tiền Đông Chu 東周 và Tây Chu 西周 tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam.

Bỉ thử ly ly hiện được dịch là “Kìa nếp đã chín đầu rủ ngọn”. Nhưng chữ Ly 離 không hề có nghĩa là rủ. Ly ly là tua tủa. Bỉ thử ly ly tức là Lúa nếp đang mọc lên tua tủa, sum xuê, rập rạp, tươi tốt. Lúa nếp là giống lúa có thân cao, thời gian sinh trưởng dài, nên từ đầu bài tới cuối bài vẫn mọc tua tủa, trong khi cây lúa tẻ từ cây mạ, ra bông rồi đã kết hạt.
Tâm tình của người qua đường (hành mại mỹ mỹ) thay đổi theo sự sinh trưởng phát triển của cây lúa tẻ. Khi cây mới mọc mạ (miêu) thì người thấy “dao dao”, tức là đang lo lắng. Khi cây trổ bông (toại) thì người như say (túy). Khi cây lúa kết hạt (thật) thì người thấy như nghẹn ngào (rất hứng khởi).
Đây đúng là thái độ của một người chủ ruộng, một nông dân trồng lúa, hàng ngày đi thăm đồng. Lúc mới gieo cấy thì lo lắng. Khi lúa trổ đòng thì vui mừng. Khi lúa nên thóc thì quá thích thú tới nghẹn ngào.
Đoạn điệp khúc:
Người biết ta thì nói ta đang ưu tư
Người không biết ta thì nói ta đang tìm kiếm
Hỡi trời xanh xa thẳm, đó là ai vậy?
Đoạn này đúng là “than trách” người đời không chịu hiểu mình, có thể có ý nuối tiếc quá khứ huy hoàng của nhà Chu, là triều đại đã ươm mầm văn hóa để xã hội Trung Hoa đơm hoa kết trái, nhưng lại bị lãng quên. Câu “Thử hà nhân tai” có thể hiểu là ý trách: người đời vốn là vậy (vốn dễ quên đi công lao của triều đại cũ).
Dịch lại bài thơ này:
I
Lúa nếp tua tủa

Lúa tẻ nảy mầm
Người đi chầm chậm
Trong lòng xiêu xiêu
“Người biết thì nói
Ta đang ưu tư
Người không lại bảo
Ta đang kiếm tìm
Hỡi trời xanh thẳm
Người đời vậy chăng?”
II
Lúa nếp tua tủa

Lúa tẻ trổ bông
Người đi chậm chậm
Trong lòng như say…
III
Lúa nếp tua tủa

Lúa tẻ hạt thành
Người đi chầm chậm
Trong lòng nghẹn ngào…

Một số vị tướng nhà Triệu Nam Việt và thời Trưng Vương

Xem chuyện về thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt trong cuốn Việt Nam tiền cổ vĩ nhân liệt truyện, tác phẩm khuyết danh xuất hiện vào khoảng cuối thời Nguyễn:
Lữ Gia thuở nhỏ bẩm sinh khôi ngô đĩnh ngộ, học đâu nhớ đấy, mới năm tuổi đã biết âm luật, lên tám tuổi đã hiểu nghĩa lý kinh sử. Năm 15 tuổi thì cha mẹ chẳng may lâm bệnh nặng rồi nối nhau qua đời, từ đấy Lữ Gia phải đến nương nhờ tại nhà ông cậu tên là Trương Viên, đang giữ một chức quan nhỏ ở địa phương lúc bấy giờ. Ông cậu yêu quý chàng như con đẻ, nhưng ba năm sau, do mắc lỗi nhỏ, bị Bộ chủ Vũ Ninh tên là Đào Hoan, do có tư thù riêng, đã khép vào tội chết, rồi đem đi hành hình.
Ông cậu bị giết khiến Lữ Gia vô cùng căm phẫn, muốn tìm cách báo thù, nhưng ngặt lúc bấy giờ thân cô thế cô, nên phải nuốt hận chờ thời. Bởi thế, ngay sau đó chàng đã lên đường “tầm sư học đạo”, chuẩn bị thực lực cho mình, nhưng cũng là để giấu kín tung tích thật, để từ đó tạo thế bất ngờ.
Chàng lặn lội đi vào tận đất Ô Lý – Lâm Ấp, vừa để sống mai danh ẩn tích, nhưng cũng vừa để theo học vị đại sư ở chùa Hoàng Long, vốn nổi tiếng thông tuệ, võ nghệ cao cường và hiện đang có rất nhiều đệ tử trong vùng đến theo học. Do có ý chí kiên cường, mới theo học được vài tháng, Lữ Gia, với bẩm tính thông minh, can đảm, lại có cách đối nhân xử thế đĩnh đạc, đàng hoàng, nên được cả thầy yêu lẫn bạn mến, rồi được tôn lên hàng tôn trưởng (tức trưởng tràng).
Hơn một năm sau, dưới quyền của Lữ Gia đã có hơn một trăm chiến binh dũng cảm, là bạn bè cùng theo học với chàng và đều tinh thông võ nghệ. Rồi vào một ngày đầu xuân Lữ Gia cùng các bạn làm lễ xuất quân. Sau khi từ biệt Đại sư, mọi người cùng nhau xuống thuyền ở Linh Giang ngược về phía bộ Vũ Ninh, với các vũ khí trong tay là côn quyền, đao kiếm. Gặp quân lính của Đào Hoan ở chân núi Chung Sơn, hai bên xông vào giáp chiến. Phía Đào Hoan, tuy quân số đông hơn nhưng kém về võ nghệ lại chưa chuẩn bị kịp, nên đã bị các chiến binh của Lữ Gia đánh cho tơi bời và Đào Hoan bị bắt. Lữ Gia cùng các bạn giải Đào Hoan về quê ở Lôi Dương, mổ bụng moi gan, rồi làm lễ tế trước bàn thờ ông cậu. Trả xong mối hận thù, Lữ Gia cùng các chiến binh lập tức xuống thuyền, xuôi về Lâm Ấp, để tránh sự truy xét của chính quyền.
Lại nói vùng Lâm Ấp khi ấy, do một vị Lạc tướng thuộc dòng dõi các vua Hùng đến làm Bộ chủ. Ngài có hai con gái nhan sắc tuyệt vời mà hơn một năm trước Lữ Gia đã gặp và đem lòng yêu mến. Biết tiếng Lữ Gia là người tài giỏi lại có đảm lược, nên ngài cũng muốn kết tình thân và rồi gả cả hai cô gái một lần cho chàng…
Đoạn truyện trên Lữ Gia có phần kỳ lạ vì nó chẳng ăn nhập gì với lịch sử đang được biết về thừa tướng ba đời vua Triệu Nam Việt Lữ Gia cả. Nhưng nếu đối chiếu với Sử thuyết Hùng Việt thì đoạn truyện về xuất xứ của Lữ Gia có thể hiểu như sau.
Bộ Vũ Ninh ám chỉ vùng đất phía Tây hay nhà Tây Hán (nhà Hiếu) được thành lập từ Hiếu Cao Tổ Lưu Bang. Việc gia đình, người thân của Lữ Gia bị bộ chủ Vũ Ninh sát hại là chuyện gia tộc họ Lữ sau khi Lữ Hậu mất, định cướp chính quyền nhưng không thành, bị các cận thần trung thành của Lưu Bang ra tay trước, diệt họ Lữ.
Lữ Gia phải bỏ trốn vào Lâm Ấp để tìm cơ hội phục thù. Lâm Ấp nghĩa là Nam Ấp hay khu vực phương Nam. Đây là chỉ việc một người nhà họ Lữ đã chạy xuống phía Nam để lập quốc gia riêng, chính là lập nước Nam Việt. “Vị Lạc tướng dòng họ Hùng” là chỉ vua Triệu của Nam Việt. Vị Lạc tướng ở Lâm Ấp này gả con gái cho Lữ Gia tức là Lữ Gia lấy con gái hay thông gia với vua Triệu.
Khi hiểu vậy thì mới rõ, tại sao Lữ Gia trở thành thừa tướng của nhà Triệu. Vì Lữ Gia chính là đại thần lập quốc, nối dòng họ Lữ từ Lữ Hậu, tôn một người con cháu của Lưu Bang lên làm vua Triệu, còn mình làm thừa tướng phò tá, trở thành hoàng thân quốc thích của nhà Triệu.
Phần bắt đầu của nhà Triệu là như vậy, còn phần kết thúc của triều đại này cũng để lại nhiều dấu vết ở Việt Nam.

IMG_2933

Đình Mỹ Giang, nơi thờ tướng Đỗ Năng Tế.

Làng Mỹ Giang, nay là xã Tam Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội, có đình thờ một vị thành hoàng có tên Đỗ Năng Tế. Theo thần tích thì vị tướng công họ Đỗ này là thầy dạy của Hai Bà Trưng. Phụ quốc Đại thần Đỗ Tế Công phu phụ Ngọc phả kể ông là người quê ở đất Sơn Nam, phủ Khoái Châu, lấy bà Tạ Cẩn Nương. Cả hai ông bà đều văn võ song toàn và giỏi y thuật, đức lượng như núi nên dân chúng các nơi đều nể phục mà theo về.
Bấy giờ Lạc tướng Phong Châu dòng dõi Hùng Định Vương và phu nhân là Man Thiện, ngầm nuôi chí lớn đánh đuổi giặc Hán, khôi phục nhà Hùng, nhưng tuổi đã cao, nên quyết tìm thầy giỏi trong thiên hạ để dạy công tử và nhị vị công nương là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Nghe danh vợ chồng Tế Công là bậc anh hùng uy trấn bốn phương, Lạc tướng cho phu nhân là Man Thiện thân chinh đến mời, và phong ngay cho Tế công chức Tiết cấp Trưởng Nội Các binh sự.
Trước lúc lâm trung Lạc tướng lại gọi Tế Công đến giao phó quốc sự, gia phong ông chức Tiết cấp nhập nội Thái tử Quốc chính Trung tín hầu, để phò tá Thái tử. Phu nhân Cẩn Nương được phong Tham tán phu nhân hoằng tướng phu nhân, thống lĩnh nội thị. Từ đấy mọi sự chính trị và quân sự đều do Tế Công sắp đặt.
Sinh thời ông bà đã đem hết sở học truyền dạy cho các học trò. Chẳng may Thái tử mất sớm. Ông bà phù giúp Hai Bà Trưng làm nên nghiệp lớn, đánh đuổi Thái thú Tô Định, thu hồi 65 thành ở Lĩnh Nam, rồi lên ngôi nữ vương, định đô ở Mê Linh.
Đất nước thanh bình được ba năm, Mã Viện lại đem quân sang xâm lược, hai ông bà cùng Trưng Vương và các tướng chia quân các đạo, quyết chiến với giặc. Thế giặc quá mạnh, Tạ Cẩn Nương tuẫn quốc ngày 19 giêng ở trận Lãng Bạc. Tế Công đánh với giặc Hán nhiều trận, sau phải rút về Mỹ Giang, ẩn thân trong rừng Quán Cấm…
Ngày 15/7 ông làm lễ cho người đã khuất là Tạ Cẩn Nương và hai người thiếp (Đặng Xuân Nương và Lý Thanh Nương)… Quân Hán lại kéo đến ông xông ra tử chiến với giặc bị trúng thương ở bả vai. Biết mình không qua khỏi, ông sai người mua rượu ngon về cùng uống với dân làng và nói với dân rằng: Ta cùng với dân ân tình chứa chan đã thành có nghĩa, nói đến đây thì hóa.
Xét theo tư liệu khác là Cổ Lôi ngọc phả ở Thanh Oai thì:
Cụ Nguyễn Năng Tế thuộc dòng dõi Triệu Vũ Đế Nguyễn Thận, quê ở Cổ Lôi, nguyên là Lạc tướng huyện Chu Diên, khi ấy đã già (gần 70 tuổi), giao quyền lại cho con rể là Đặng Thành cũng quê ở Cổ Lôi.
Cụ Nguyễn Năng Tế, trước lấy cụ bà Đào Thị Dực quê ở làng Phượng Dực phía dưới Cổ Lôi sinh được 3 người con là Chiêu Nương, Nguyễn Khắc Trung (còn gọi Chiêu Trung), Nguyễn Đỗ Lý. Khi các con trưởng thành, cụ bà Đào Thị Dực qua đời. Nhiều năm sau, cụ Tế lấy vợ kế, là bà Tạ Cẩn Nương còn trẻ.
Con gái đầu của cụ Nguyễn Năng Tế là Chiêu Nương lấy ông Đặng Thành người ở Cổ Lôi sau được kế chức Huyện lệnh trưởng Chu Diên, sinh ra các vị (theo thứ tự) Đặng Xuân, Đặng Nghiêm, Đặng Tiến, Đặng Đình, Đặng Trần. Đặng Xuân (anh) lấy cô Huệ (Trưng Nhị) sinh hai con trai. Đặng Nghiêm (em) lấy cô Lý (Trưng Trắc) chưa có con.
Như thế rõ ràng thầy giáo Đỗ Năng Tế ở làng Mỹ Giang chính là cụ Nguyễn Năng Tế, linh hồn của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong Cổ Lôi ngọc phả.
Tác giả Lã Duy Lan cũng cho biết đến sau thời vua Thành Thái hội đồng tộc biểu ở Cổ Lôi đã phải sơ tán các đền thờ từ Cổ Lôi đi các địa phương và nhiều nhân vật được thờ tuy cùng tên nhưng đã mang những họ khác nhau. Trong số đó cụ Nguyễn Năng Tế còn có tên thờ khác là Đỗ Năng Tế.
Tướng quân Đỗ Năng Tế như vậy không chỉ là thầy giáo của Trưng Vương mà còn là ông ngoại của Thi Sách (Cổ Lôi ngọc phả chép là Đặng Nghiêm). Đỗ/Nguyễn Năng Tế là dòng dõi Triệu Vũ Đế.
Thần tích ở làng Mỹ Giang có kể bố (Hùng Định) và mẹ (Man Thiện) của Trưng Vương có nhờ Đỗ Năng Tế dạy dỗ cho “Thái tử”, nhưng Thái tử chẳng may mất sớm. Thái tử thì phải là con vua chứ không phải trong gia đình Lạc tướng. Rất có thể “Thái tử” đây chính là ông Thi Sách, là con vua Triệu.
Đỗ/Nguyễn Năng Tế là “Phụ quốc đại thần” của nhà Triệu, phò tá Thái tử (Triệu Vệ Dương Vương). Nhưng khi Phiên Ngung thất thủ, quân của nhà Hiếu truy sát, Thái tử (vua Triệu) đã bị bắt giết ở cửa Đại Ác (cửa sông Đáy đổ ra biển tại Nghĩa Hưng – Nam Định). Đỗ Năng Tế cùng với các hoàng phi của vua Triệu lui về Phong Châu, sau đó ông hỗ trợ tổ chức cho Hai Bà hoàng phi này phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn.
Cái tên Năng Tế có thể là đọc chệch của Lang Tề, tức là thủ lĩnh phía Tây. Đỗ/Nguyên Năng Tế có thể chính là Tây Vu Vương được sử sách nhắc tới. Cổ Lôi ngọc phả cho biết Tây Vu Vương cũng là dòng dõi Triệu Vũ Đế, còn gọi là Tây Lý Vương (mang họ Lý của Lý Bôn – Lưu Bang vì vua Triệu là dòng dõi Lưu Bang như đã kể trong chuyện Lữ Gia ở trên).
Hai Bà Trưng được kể trong các tư liệu khác nhau là đã tử tiết ở Cấm Khê hoặc đã tự vẫn trên sông Hát. Làng Mỹ Giang nơi có đình thờ Đỗ Năng Tế còn gọi là khu vực Quán Cấm. Theo giải thích của Cổ Lôi ngọc phả thì Cấm Khê là khe nước chảy qua Quán Cấm, nơi có quân canh gác của thành Phong Châu. Làng Mỹ Giang nằm ngay sát vùng Hát Môn, bên bờ sông Đáy (sông Hát). Như thế rất có thể đây chính là nơi Trưng Vương đã tử tiết.

Mo Do Nang Te

Khu mộ tướng Đỗ Năng Tế ở Quán Cấm.

Câu đối ở đình Mỹ Giang về tướng Đỗ Năng Tế:
松髙夣啓英雄將
蛇現魂驚矍鑠兵
Tùng cao mộng khải anh hùng tướng
Xà hiện hồn kinh quắc thước binh.
Dịch:
Thông cao mộng khởi tướng anh hùng
Rắn hiện kinh hồn quân quắc thước.
Thêm một số câu đối ở trong đình Mỹ Giang:
偉烈佐徴王一片忠貞寒馬賊
芳名垂越史歷朝褒袞娈龍章
Vĩ liệt tá Trưng vương, nhất phiến trung trinh hàn Mã tặc
Phương danh thùy Việt sử, lịch triều bao cổn luyến long chương.
名將杜公慶合碑留惟有壹
徳王徴女山西史記定無雙
Danh tướng Đỗ công khánh hợp bi lưu duy hữu nhất
Đức vương Trưng nữ, Sơn Tây sử ký định vô song.

Ba vị họ Chu ở Thạch Thất và Mạnh Hoạch

Tiểu sử ba vị họ Chu thờ ở đền Quán Sải tại thôn Thúy Lai (Phú Kim, Thạch Thất, Hà Nội) được tóm tắt theo ban quản lý di tích như sau:
Tam tướng công sinh khoảng năm 300 – 350 thời Tam Quốc. Song thân làm thuốc rất có uy tín ở xứ Ba Trung. Tam tướng công đều là người văn võ song toàn cùng đỗ đầu trong 9 kỳ thi Hiếu Liêm do vua Hán Hiến Đế mở để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước. Trong thời gian này miền Bắc nước ta bị giặc Mạnh Hoạch xâm chiếm. Vì vậy Tam tướng công được vua Hán (Lưu Bị) cử sang đánh dẹp giặc tại phương Nam. Khi sang nước ta Tam tướng công giữ yên lành cho nhân dân, dạy nhân dân làm thuốc, chữa bệnh, mở trường dạy học, dạy dân, chăn tằm làm ruộng… Tam tướng công còn bỏ tiền mua ruộng của 72 làng phát cho dân. Vì vậy Tam tướng công đã có 72 đền thờ (Thất thập nhị từ). Vì là phúc thần nên được các đời vua nước ta phong 23 sắc phong. Hiện nay còn lưu giữ trong các đình đền. Khi mất đã được an táng tại Quán Sải. Mộ thiên táng tại huyệt Đế Vương do chức sắc kỳ mục của 72 làng an táng Tam vị tướng công.

IMG_2975Nghi môn quán Sải.

Quán Sải là một công trình có quy mô của vùng Sơn Tây xưa. Người dân ở đây có câu “Thứ nhất đền Và, thứ nhì quán Sải, thứ ba đình Vồi”. Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh là ngôi đền lớn ở thành phố Sơn Tây. Quán Sải và đình Vồi đều là 2 di tích ở xã Phú Kim của huyện Thạch Thất và đều thờ ba vị họ Chu nói ở trên. Sự so sánh 2 di tích này với đền Và cho thấy trước đây quy mô của quán Sải lớn như thế nào.
Quán Sải nằm ở thôn Thúy Lai. Cũng như đền Và có tên chữ là Vân Già, là từ phiên thiết từ âm Nôm của chữ Và, thì Thúy Lai cũng là tên phiên thiết từ âm Sải. Thúy = Súy nên Súy Lai thiết Sải.
Câu đối ở quán Sải:
顕聖一堂三千秋䀡仰
崇祠七十二萬古英靈
Hiển thánh nhất đường tam thiên thu chiêm ngưỡng
Sùng từ thất thập nhị vạn cổ anh linh.
Dịch:
Một nhà ba người hóa thánh, ngàn năm chiêm ngưỡng
Bảy mươi hai đền thờ cúng, vạn cổ linh thiêng.

IMG_3008Thúy Lai quán.

Tất nhiên con số 72 nơi là con số mang tính ước lệ. Có thể 72=9×8, trong 9 khu vực (cửu thiên) thì cả 8 hướng đều có đền thờ.
Việc thờ 3 vị quan họ Chu tại nhiều nơi ở Thạch Thất (tương truyền có tới 72 làng) hiện nay bị chỉ trích là dân gian đã thờ nhầm “giặc” vì đó là các quan đô hộ của nhà Hán. Tuy nhiên khi nhìn nhận lại các triều đại của thời kỳ này dưới một góc nhìn mới thì sẽ nhận ra không phải như vậy.
Theo thần tích của xã Hương Ngải (Thạch Thất, Hà Nội) thì ba vị họ Chu được cử sang đế chống lại quân Mạnh Hoạch và có dùng cháu của Sĩ Nhiếp là Sĩ Năng làm mưu sĩ. Ba vị họ Chu cùng thời với Mạnh Hoạch và Sĩ Nhiếp, tức là lúc này đã có các nước Thục và Ngô. Khu vực nước ta lúc đó đâu còn thuộc nhà Hán (Hán Hiến Đế) nữa. Ba vị quan đô hộ họ Chu thực ra là các quan của nước Thục dưới thời Lưu Bị. Quê quán của ba vị này ở Ba Trung, tức là ở Ba Thục, thuộc khu vực đất đai nhà Thục.
Nước Thục của Lưu Bị là một quốc gia của người Bách Việt (người Hoa) hình thành sau khởi nghĩa Khăn Vàng, chống lại Hán tộc xâm lược. Lưu Bị được truyền thuyết Việt chép dưới tên Lý Bí. Triều đại nhà Thục do đó là một triều đại Việt, hiển nhiên các quan lại của nhà Thục lúc đó không phải giặc ngoại xâm.
Những hành động dạy dân, làm thuốc, mở trường… của các vị quan này cũng chứng tỏ họ hoàn toàn coi người Việt là đồng bào đồng tộc với mình. Người dân địa phương cũng tri ân ba vị, một khu vực 72 làng đều thờ thần. Lễ hội Thúy Lai hàng năm được tổ chức với nhiều tục lệ khá đặc sắc như múa con đĩ đánh bồng, múa sênh tiền, múa rồng, thi cân gà, thi xôi đồng, thổi cơm thi…
Có thể Thạch Thất khi đó là nơi đóng trị sở của vùng phía Tây Giao Chỉ, thuộc đất của nhà Thục từ Lưu Bị – Lý Bí.
Di tích và tục thờ Tam vị họ Chu ở Thạch Thất còn là bằng chứng rõ ràng rằng Mạnh Hoạch là thủ lĩnh người dân tộc (Mường, Thái) ở vùng Tây Bắc nước ta. Khu vực này sau về với nhà Thục khi Gia Cát Vũ Hầu Nam chinh, vượt dòng Lư Thủy, tức sông Lô, tiến vào Tây Bắc Việt. Gia Cát Lượng sau khi thần phục được Mạnh Hoạch, vẫn cho ông ta tiếp tục cai quản vùng đất này, dưới hình thức tự trị.

Thêm về Giao Châu Đặng cư sĩ

Trong sách Thăng Long cổ tích khảo của cụ Đăng Xuân Khanh soạn xong năm 1956 tại Học viện Viễn Đông bác cổ có chép một nhân vật mang tên Đặng Thiện như sau:
Đặng Thiện. Người quận Long Biên, Giao Châu. Ông bẩm tính thông minh khác thường, sức học sâu rộng, tinh thông kinh sử, lại có võ nghệ siêu quần. Thời ấy, về văn học, giáo hóa lễ nghĩa, học vấn ở nước ta còn chưa phát triển, ông luôn lưu tâm truyền bá cho dân chúng học tập chữ nghĩa lễ nghi. Văn hóa nước ta ngày một đổi mới, phần nhiều là nhờ công sức của ông, người người đều kính phục, tôn ông làm Trưởng châu. Đời Hán Chiêu Đế, Châu Chương làm Thứ sử Giao Châu, nghe nói ông có công giáo hóa dân bèn viết sớ tâu lên Hán đế. Hán đế phong tước Liệt hầu.
Về sau tù trưởng ở bảy quận Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Mê Lĩnh, Quế Lâm khởi loạn. Vua Hán hỏi các đình thần ai có thể bình được giặc thì ban cho chức Thái thú trông coi bản châu. Sầm Bành tiến cử ông là người có đức, có danh vọng, được lòng người, có thể sai khiến cho việc ấy. Vua Hán liền phong ông làm Thái thú ở bản châu. Ông lĩnh mệnh xong, đem quân đi đánh dẹp, lại sai người đưa hịch nói rõ uy phúc triều đình, các đảng giặc đều đến hàng phục. Bảy quận lại được thanh bình, ông đem quân trở về Long Biên, từ đó giảm hình phạt, bớt tô thuế, nhân dân an cư lạc nghiệp.
Sau khi ông mất, vua Hán sai quan đế dụ tế, sắc phong làm phúc thần. Đời Hán Bình đế lại gia phong làm Tá Thiện cư sĩ đại vương.
Vị “Thái thú” thời Hán đã có công bình định 7 quận Giao Châu mang họ Đặng thì phải là Đặng Nhượng. Tên “Đặng Thiện” thực ra là lấy theo danh phong “Tá Thiện cư sĩ” của vị Giao Châu mục họ Đặng này.
Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Kỷ thuộc Tây Hán.
Tân Mùi, [110 TCN], (Hán Nguyên Phong năm thứ 1). Nước Việt ta đã thuộc về nhà Hán. Nhà Hán cho Thạch Đái làm Thái Thú 9 quận (Chế độ nhà Hán lấy châu lãnh quận, trừ hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ đều ở giữa biển, còn 7 quận thuộc về Giao Châu, Đái làm châu Thái thú). Thời Tây Hán, trị sở của Thái Thú đặt tại Long Uyên, tức là Long Biên, thời Đông Hán đặt tại Mê Linh tức là Yên Lăng. Đến khi Đái chết, Hán Chiêu Đế lấy Chu Chương thay. Đến cuối đời Vương Mãng, châu mục Giao Châu là Đặng Nhượng cùng các quận đóng chặn bờ cõi để tự giữ. Tướng nhà Hán là Sầm Bành vốn quen thân với Nhượng, gửi thư cho Nhượng bày tỏ uy đức của nhà Hán. Thế rồi [Nhượng] bảo Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang và Thái thú các quận là bọn Đỗ Mục sai sứ sang cống hiến nhà Hán. Nhà Hán đều phong cho những người ấy tước hầu.
Xem lại các tư liệu của Thăng Long cổ tích khảo và Đại Việt sử ký cho biết một số điều thêm về Giao Châu mục Đặng Nhượng và thời kỳ giao thời này:
– Đặng Nhượng là người quận Long Biên, tức là người Việt chính cống. Hiện ở vùng Long Biên còn đền thờ vị họ Đặng này là ở làng Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Thần tích của Đặng cư sĩ ở Gia Lâm cũng có nhiều nét tương đồng với thông tin về Đặng Thiện ở trên. Xin xem bài Giao Châu Đặng cư sĩ.

 

P1060585Nghè Gia Lâm.

– Đặng Nhượng là người đã phát triển văn hóa, chú trọng dạy chữ nghĩa lễ nghi cho người Việt. Theo quan niệm hiện nay thì việc giáo hóa, dạy chữ ở nước ta bắt đầu từ Thái thú Tích Quang. Tích Quang là Thái thú của Giao Chỉ cùng thời với Đặng Nhượng và Giao Chỉ quận đang nằm trong quản hạt chung của Châu mục Đặng Nhượng. Đặng Nhượng đã rõ là người Việt ở Long Biên. Tích Quang làm quan dưới chức Đặng Nhượng, cũng là người Việt mà thôi. Hoàn toàn không phải người Việt biết chữ nghĩa lễ nghi là do người Tàu dạy, mà do chính công lao khai hóa của các thủ lĩnh người Việt ở Giao Châu.
– Sầm Bành là tướng của Hán Quang Vũ Lưu Tú được cử đi đánh dẹp phương Nam. Sau khi triều Tân của Vương Mãng sụp đổ, vùng Giao Châu chưa tự nhiên mà thuộc về đám giặc cỏ Lục Lâm của Lưu Huyền – Lưu Tú. Vì thế làm gì có chuyện 7 quận Giao Châu “khởi loạn”. Phải nói đúng là toàn bộ vùng Giao Châu đã chống lại sự bành trướng của quân Hán xuống phương Nam.
– Khi Sầm Bành nhà Đông Hán tấn công phương Nam thì Đặng Nhượng là người cầm đầu 7 quận Giao Châu. Sầm Bành đã phải giở thủ đoạn phủ dụ, đe dọa (“uy phúc”) đối với các vị Châu mục và Thái thú người Việt ở đây như trong các tư liệu nói ở trên. Không có chuyện Đặng Nhượng, Tích Quang đầu hàng nhà Hán và được phong hầu. Những vị anh hùng người Việt này đã kiên cường chống trả lại sự xâm lược của Hán quân và bỏ mình vì nước, như thần tích của đình Gia Lâm kể lại. Cũng vì thế mà Đặng Thiện mới trở thành một trong số những danh nhân ít ỏi được nhắc đến trong Thăng Long cổ tích khảo.
– Sầm Bành chính là Mã Viện, viên tướng mặt ngựa (mã diện) của khả hãn Lưu Tú, người đã đặt Giao Châu vào vòng nô lệ. Cũng tên tướng này đã bắt hàng trăm “cừ súy” Việt về an trí ở phương Bắc. Cừ súy thiết Quý, cũng như Cư sĩ thiết Quý, chỉ tầng lớp quý tộc, lãnh đạo Giao Châu lúc này. Hầu hết các nhân vật mang danh “cư sĩ” của thời kỳ này được thờ ở nước ta như Tá Thiện cư sĩ ở trên (Đặng Nhượng) chính là các “cừ súy” đã bỏ mình vì nước trong cuộc chiến chống lại Hán quân xâm lược.

Nam Giao hoc toNghi môn đền Tam Á.

– Những vị “cư sĩ” đã giáo dân hóa lý, đồng thời duy trì sự độc lập tự trị của Giao Châu chống lại Hán quân khi chính quyền trung ương (nhà Tân) đã rơi vào tay giặc được dân gian gọi là Sĩ Nhiếp, vị Nam Giao học tổ được thờ tại thành Long Biên (Luy Lâu). Vế đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh ghi nhận chính xác công nghiệp của các cư sĩ – thái thú Giao Châu này.
汶陽幾辰遷為軍將為州牧為教育師儒恩信遍蒼梧七郡外
龍编何日事此城郭此人民此江河運會文采傳武寧一部中
Vấn Dương kỉ thời thiên, vi quân tướng, vi châu mục, vi giáo dục sư Nho, ân tín biến Thương Ngô thất quận ngoại
Long Biên hà nhật sự, thử thành quách, thử nhân dân, thử giang hà vận hội, văn thái truyền Vũ Ninh nhất bộ trung.
Dịch:
Vấn Dương mấy lúc dời, vì quân tướng, vì châu mục, vì giáo dục Nho gia, bảy quận ngoài Thương Ngô ơn nghĩa trải khắp
Long Biên sự ngày nọ, đây thành quách, đây nhân dân, đây non sông vận hội, toàn bộ trong Vũ Ninh văn đức còn truyền.

Những đồng tiền Đông Chu

Tiền lỗ tròn còn gọi là “hoàn tiền”, là loại tiền xuất hiện sớm ở Trung Hoa, được dùng vào cuối thời Chu. Ví dụ một số đồng hoàn tiền sau (là những hiện vật thu thập ở Việt Nam).

IMG_1423Có hai đồng hoàn tiền được thu thập từ khu vực Đông Anh (Hà Nội) có đúc nổi rất rõ hai chữ ĐÔNG CHU 東周 theo thể chữ triện ở mặt trước. IMG_1631 (2)

Mặt sau tiền nhẵn, không có chữ:

Dong Chu mat sau

Việc phát hiện những đồng hoàn tiền ở khu vực Đông Anh mang chữ Đông Chu thêm một lần nữa xác nhận khu vực miền Bắc Việt chính là phần đất Đông của nhà Chu, nơi có thành Đông Đô – Lạc Dương, hay là Đông Ngàn Cổ Loa ngày nay.
Sự kiện xây thành Cổ Loa thời Đông Chu đã từng được xác nhận trong đôi câu đối thờ Lão Tử tại đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang). Lão Tử là người đã giúp vua Chu (Thục An Dương Vương) dời đô về Lạc Dương – Đông Đô tại Cổ Loa (xem bài Lão Tử hóa Việt kinh):
東周風雨是何辰別把清虚開道教
南越山河惟此地獨傳幻化作神僊
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng nắm chốn thanh hư, mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.
Tiền cổ có chữ ĐÔNG CHU 東周 ở dạng đại triện còn từng được thấy ở Lào như trong đồng tiền hình xẻng sau.

Dao tien

Mặt sau đồng tiền này có chữ Vượng Cát 王吉:

Dao tien sau

Những đồng tiền có minh văn, ghi rõ ràng chữ ĐÔNG CHU 東周 tìm thấy ở Việt Nam và Lào là những bằng chứng khảo cổ trực tiếp cho nhận định thiên tử Chu của Trung Hoa có vùng đất Đông Chu là khu vực Bắc Việt ngày nay, đô thành đóng tại Cổ Loa. Vua Chu được truyền thuyết Việt chép là Thục An Dương Vương hay Vua Chủ ở Cổ Loa.
An DuongBản thân chữ AN DƯƠNG 安陽 cũng là chữ thường gặp trên các xẻng tiền cổ, khá phổ biến. An Dương này không phải là thành phố An Dương ở Hà Nam vì thành phố đó thời Tiên Tần có tên khác. Đây là tên gọi của phần đất phía Đông nhà Chu. An Dương là phía Đông yên bình, an lạc (Lạc Dương). Địa danh An Dương cũng từng tìm thấy trên những thẻ ngọc An Dương phát hiện ở Quảng Đông từ đầu thế kỷ 20.

 

 

 

Hắc thủy và Đại Vũ

Sách Hà Nội địa dư do Dương Bá Cung soạn năm Tự Đức thứ 4 (1852) phần Sông Nhị Hà viết:
… Có tên là Lô Giang hay còn gọi là sông Phú Lương. Nước sông cuốn theo phù sa sắc đỏ như son, tới mùa thu nước mới trong trở lại. Dòng sông bắt nguồn từ nội địa bên Vân Nam chảy xuống.
Xét: sách Vũ Cống nói: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy nhập vào biển Nam Hải”. Nhà nho đời trước nói: “Có bốn dòng sông vùng Tây Di chảy về phương Nam ra biển, thứ nhất là Tây Nhị Hà”. Quế Đường Lê (Quý Đôn) viết: “Phủ Xa Lý có sông Lạn Thương và sông Cửu Long đều chảy vào Giao Chỉ, trở thành sông Phú Lương, tức là hạ lưu của sông Hắc Thủy vậy.
Nước sông chia thành hai dòng chảy: một là sông Thao, một là sông Đà, hợp lưu ở ngã ba Bạch Hạc, gọi là sông Nhị Hà…
Tương tự, sách Hà Nội sơn xuyên phong vực thời Nguyễn cũng chép về sông Nhĩ Hà:
Xét thiên Vũ Cống sách Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”. Sái Phó dẫn lời của Phàn Xước đời Đường: “Có bốn dòng sông từ Tây Di chảy về phương đổ ra biển Nam Hải, một trong số đó là Tây Nhĩ Hà”. Ông Trình Tử nói: “Sông Hắc Thủy ở phía Tây đất Thục. Sông Nhĩ Hà và sông Hắc Thủy nối liền nhau, đổ thẳng ra biển Nam Hải”. Tra cứu sách Địa dư chí thì sông Nhĩ Hà bắt nguồn từ nội địa tỉnh Vân Nam. Vân Nam là đất Ba Thục xưa. Tra sách vở, bản đồ thấy phần đất nước ta nằm cách sông Hắc Thủy về phía Tây, như vậy là khớp với tên sông Nhĩ Hà nêu trên.
Các nhà Nho thời Nguyễn khi khảo cứu về sông Nhị Hà thường liên hệ với câu trong thiên Vũ Cống của Kinh Thư: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”, và cho rằng Hắc Thủy đây là ngọn nguồn từ Vân Nam của sông Nhĩ Hà hay sông Hồng ngày nay. Vấn đề là thiên Vũ Cống nói về thời vua Đại Vũ của nhà Hạ Trung Hoa từ cách đây trên 4000 năm. Thế mà sao lại có nói đến con sông chảy qua Việt Nam và còn biết cả biển Nam Hải? Hạ Vũ ở chỗ nào mà có sông đổ ra biển Nam Hải (tức biển Đông)?
Không chỉ các nhà Nho nước Nam thời Nguyễn. Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu – Bùi Quý (đầu thế kỷ 19) có bài Khảo cứu về nguồn lạch sông Nhị Hà, dẫn các tư liệu của Trung Quốc:
Sách Lý Nguyên Dương Hắc thủy khảo chép rằng: Vũ Cống nói rằng: “dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy vào biển”. Núi Tam Nguy chẳng biết ở đâu, cứ Lũng, Thục, Điền (Vân Nam) ba phương đứng chân đỉnh thì nước ở Lũng, Thục vốn không chảy vào biển. Duy 2 sông Lan Thương, Lô Giang ở tỉnh Vân Nam (Điền) đều phát nguyên từ Thổ Phồn chảy về phía Tây Bắc rồi chảy vào Nam Hải…
Hắc Thủy là dòng sông mà Đại Vũ đã khơi dòng trị thủy từ thủa hồng hoang. Vậy mà dòng sông này lại được xác định là thượng lưu của sông Nhĩ Hà (sông Hồng). Như thế rõ ràng Đại Vũ trị thủy chẳng phải ở đâu xa mà chính là ở vùng đất Bắc Việt ngày nay. Chỉ vì các chuyên gia sử địa cả ta và Trung Quốc không chịu nhìn nhận điều này nên mới vô cùng lúng túng khi so sánh cổ thư để khảo về dòng Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải. Đại Vũ mà trị thủy ở vùng trung lưu Hoàng Hà thì lấy đâu ra biển mà đổ (vì sông Hoàng Hà chảy lòng vòng ngược lên phía Bắc đổ ra biển Bột Hải), chưa nói gì còn đổ ra tận biển Đông (Nam Hải).

LangXuong
Đền Lăng Xương, tương truyền là nơi sinh của thánh Tản bên tả ngạn sông Đà.

Hắc Thủy chính xác là sông Đà vì Đà = Đen = Hắc. Thượng nguồn sông Đà từ Vân Nam. Dòng sông trị thủy của Đại Vũ là sông Đà nên Đại Vũ chẳng phải ai khác chính là Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt. Tản Viên quê ở Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ) và thành nghiệp ở núi Ba Vì, đều là những nơi ở 2 bên tả và hữu ngạn dòng sông Đà – Hắc thủy này cả. Dòng sông Đà chảy tới ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) đổ nhập vào với sông Thao và sông Lô thành sông Hồng (Nhị/Nhĩ Hà hay Phú Lương), rồi chảy ra biển.
Còn núi Tam Nguy nơi sông Hắc Thủy dẫn nhập ra biển thời Đại Vũ cũng không phải ở Vân Nam. Tam Nguy rành rành chính là núi Tam Đảo, nằm ngay cạnh ngã ba Bạch Hạc. Dẫn chứng là huyền sử Trung Hoa chép: Tây Vương Mẫu được 3 con chim Thanh Điểu thay nhau mang thức ăn tới. Ba con chim này sống ở trên núi Tam Nguy, ở phía Tây của núi Côn Lôn. Núi Tam Nguy gồm ba ngọn, cao vút xuyên qua cả mây trời nên mới có tên như vậy.
Côn Lôn là tên gọi khác của dãy Tam Đảo. Tam Nguy của Tây Vương Mẫu là 3 ngọn của núi Tam Đảo luôn khuất trong mây trắng. Tây Vương Mẫu được người Việt tôn thờ là Tây Thiên Quốc Mẫu hay Tam Đảo sơn trụ quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, cũng là Mẫu Thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Thời Đại Vũ cách đây trên 4000 năm, khi đó mực nước biển dâng cao hơn bây giờ. Căn cứ theo bậc thềm phù sa cổ để lại thì cửa sông đổ ra biển lúc này nằm vào sát vùng trung du ngày nay. Tam giác đồng bằng sông Hồng lúc đó là vùng bán ngập nước mà đỉnh của tam giác này là ngã ba Việt Trì. Do đó thời Đại Vũ ngã ba sông Bạch Hạc nằm không xa biển là bao nhiêu. Như thế câu chép của thiên Vũ Cống hoàn toàn chính xác với địa hình thủy văn ở vùng Bắc Việt lúc này: Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải. Tức là dẫn nước sông Đà đến ngã ba Bạch Hạc – Tam Đảo rồi ra biển Đông.

DSC02661

Chính điện đền Và – Đông cung Tản Viên ở Sơn Tây.

Với định vị sông Hắc Thủy là sông Đà, núi Tam Nguy là Tam Đảo, biển Nam Hải là biển Đông thì rõ ràng Đại Vũ, vị vua thái tổ của nhà Hạ Trung Hoa chính là Tản Viên Sơn Thánh ở nước Nam. Ngôi đền thờ lớn nhất của Tản Viên Sơn Thánh là đền Và ở thị xã Sơn Tây. “” là tiếng phát âm khác của từ “” trong tên của Đại Vũ – Tản Viên mà thôi. Mà bản thân từ nghĩa là Vua. Đại Vũ là vị Vua lớn, đã trị thủy thắng lợi, mở đầu một bước ngoặt to lớn trong lịch sử người Hoa Việt.

Sứ quân Lã Đường và thời Đại Việt lập quốc

Loạn 12 sứ quân ở Việt Nam là sự kiện không hề được các thư tịch Trung Hoa nói tới. 12 sứ quân thực ra là được sử Việt chắp nối dựa trên các sự tích địa phương dựng nên. Các sứ quân này khi xét kỹ đều là những nhân vật của thời kỳ khác. Điển hình, sứ quân mạnh nhất là Đỗ Cảnh Thạc ở vùng Thanh Oai – Quốc Oai lại là cách kể khác của chuyện thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt từ thời trước Công nguyên. Đằng Châu Phạm Phòng Ất ở vùng Hưng Yên xét kỹ phải là Sĩ Nhiếp, cai quản Giao Châu tự trị dưới triều Ngô Vương Quyền thời Tam Quốc…
Một trong 12 sứ quân được kể đến là tướng Lã Đường ở vùng Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên). Theo truyền thuyết làng Khoai, nay là làng Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên thì ông là người sở tại, thủa nhỏ còn có tên gọi khác là Lã Tá Phi vốn người cao lớn, thông minh, văn võ song toàn. Ông được sinh ra trong một gia đình hào trưởng giàu có, cha ông là Lã Đại Liệu, nguyên là bộ tướng của sứ quân Trần Lãm và đã lập được nhiều chiến công dưới thời Ngô Quyền. Lớn lên ông kế nghiệp cha lập ấp và cai trị nhân dân khu vực Tế Giang. Gặp thời loạn, thế lực của ông trở thành một trong những đại diện cát cứ mạnh nhất thời 12 sứ quân.
Tương tự, các di tích miếu Bản Thổ và đình Cự Chính ở Hà Nội cũng thờ Lã Tá Đường cùng với cha ông là Lã Đại Liệu. Theo thần tích, Lã Đại Liệu cha ông vốn là người võ nghệ siêu quần, được mệnh danh là đại đô vật, hô phong hoán vũ và là bộ tướng thứ 7 của Trần Lãm dưới thời Ngô Vương, có công đánh đuổi giặc Nam Hán.
Ngay trong những thần tích trên cũng đã lộ ra những điều khó hiểu. Trần Lãm là người gốc Quảng Đông, nổi lên làm sứ quân sau khi nhà Ngô suy sụp. Vậy làm sao bộ tướng Lã Đường của Trần Lãm lại tham gia đánh quân Nam Hán cùng với Ngô Vương? Trần Lãm và Lã Đường đều là trong 12 sứ quân thời đó, làm sao Lã Đường lại là bộ tướng của Trần Lãm được?

P1300924Đình Bến ở Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên.

Theo thần tích đình Thắm, làng Đan Nhiễm, thị trấn Văn Giang thì Lã Tá Đường bị tướng Chu Công Mẫn đánh bại, Lã Tá Đường bị chém đầu, thủ cấp bị mang về thành Hoa Lư. Chu Công Mẫn là người làng Đan Nhiễm, nên xưa dân 2 làng Phụng Công và Đan Nhiễm thường có hiềm khích với nhau.
Lã Tá Đường cũng được thờ tại đền Thượng, xã Mỹ Hà, Mỹ Lộc, Nam Định nhưng thần tích ở đền thì lại cho biết ông là sứ quân quy hàng Đinh Bộ Lĩnh và được vua ban ruộng đất ở đây cho dân thờ phụng. Điều này có vẻ đúng hơn. Đinh Bộ Lĩnh được Trần Lãm gả con gái và trao lại binh quyền. Như thế Lã Đường là bộ tướng của Trần Lãm, đi theo Đinh Bộ Lĩnh thì hợp lý hơn là thành ra sứ quân đối đầu với Đinh Bộ Lĩnh?
Một nơi thờ Lã Đường khác là đình thôn Cầu, trước là Cầu Bây (Thạch Cầu, Long Biên, Hà Nội) với sự tích có nhiều chi tiết hết sức kỳ lạ về vị sứ quân này.
Theo các cụ kể lại, thần quê chính ở Văn Giang, làm tướng theo Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn Thập nhị sứ quân. Tướng Lã Lang Đường là mô sinh của Lý Công Uẩn, ông được thầy Lý dạy văn, dạy võ, sau ông tập hợp dân binh kéo quân theo nhà Đinh. Đoàn thuyền mang quân về Nam Định, Ninh Bình, rồi vào khu Bãi Sậy (Hưng Yên). Ông đánh tan bọn đầu trộm đuôi cướp, chở thuyền về Thăng Long. Quân bại trận, ngựa ngã chết nhiều, chất đống thành cánh đồng Mả Ngựa. Về đến Cầu Bây ông gặp ba mẹ con bà bán nước, ông dừng chân. Bà bán nước phát hiện máu ở cổ ông đang rỉ chảy, ông sờ tay lên vai mới biết mình bị thương nặng. Ông vượt cầu qua sông Nghĩa Trụ rồi mất ở cánh đồng Cuốc.”
Cầu Bây là nơi lễ hội có tục chém lợn được nhắc đến trong thời gian gần đây do hình ảnh cổ súy “sát sinh” này tỏ ra không còn hợp với thời đại. Tục lệ tế lợn không đầu cũng thấy ở đình Bến (Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên), cũng là đền thờ tướng Lã Đường. Tục lệ này liên quan đến việc Lã Đường bị thương ở cổ và hy sinh như được kể đến trong thần tích trên.
Thần tích ở Cầu Bây cho biết Lã Đường là một tướng theo Đinh Bộ Lĩnh đi dẹp loạn, chứ không phải một sứ quân. Đặc biệt thông tin Lã Đường là môn sinh của Lý Công Uẩn thì không thể hiểu nổi theo sử sách hiện tại. Từ thời 12 sứ quân và Đinh Bộ Lĩnh đến khi có Lý Công Uẩn còn qua cả một triều đại của nhà Tiền Lê. Môn sinh của Lý Công Uẩn sao lại là tướng hay sứ quân thời Đinh được?

P1320395Đình Cầu ở Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội.

Đọc thêm những câu đối trong đình Cầu thì còn kỳ lạ hơn nữa. Câu đối ở tòa đại đình ghi (theo sách Hà Nội danh thắng và di tích):
Dực bảo trung hưng thiên cổ tự
Hòa đao mộc lạc trấn Nam phương.
Hòa đao mộc lạc” là cụm từ gặp trong bài sấm ký trên cây gạo khi Lý Công Uẩn lên ngôi:
Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Hòa đao mộc” 禾刀木 là chiết tự của họ Lê 梨. Nghĩa của bài sấm này ám chỉ là nhà Lê mất thì nhà Lý lên thay.
Một câu đối khác hiện còn ở trong cung thờ Lã Lang Đường tại đình Cầu:
雲騰雙鳳天降兩龍聖跡後光傳易録
祐翌和刀陣扶石馬神威中外凛靈聲
Vân đằng song phượng, thiên giáng lưỡng long, thánh tích hậu quang truyền dị lục
Hữu dực hòa đao, trận phù thạch mã, thần uy trung ngoại lẫm linh thanh.
Dịch:
Đôi phượng cưỡi mây, hai rồng đậu xuống, tích thánh ngời sau truyền chuyện lạ
Hòa đao thần giúp, ngựa đá xung trận, oai thần ngoài khắp tiếng thiêng xa.
Vế đối đầu nói tới sự tích địa phương về việc có một bầy tiên nữ đến xây khu vực này cầu, làm đánh thức con rồng đang ngủ. Con rồng hiện thành gà gáy kêu to báo trời sáng làm bầy tiên bay về trời. Do đó có một cây cầu đá tiên xây chưa xong còn lơ lửng giữa dòng sông…
Vế đối sau rõ ràng nói tới chiến tích của Lã Lang Đường như kể trong thần tích. Đặc biệt ở đây một lần nữa có cụm từ “Dực hòa đao”, tức là phò giúp họ Lê vì “hòa đao” là chiết tự rút gọn của chữ .
Tới đây thì thật không biết vị tướng Lã Đường này “phục vụ trong quân ngũ” của ai. Lúc thì là bộ tướng của Trần Lãm và cùng Ngô Vương đánh giặc. Lúc thì là môn sinh của Lý Công Uẩn nhưng lại làm tướng dẹp loạn cho Đinh Bộ Lĩnh. Lúc thì lại có công trạng phò tá, trung hưng nhà Tiền Lê…
Những câu chuyện đầy mâu thuẫn này của vị tướng Lã Đường chỉ có thể hiểu khi nhìn nhận lại giai đoạn lịch sử Việt Nam sau thời phân rã Hậu Đường theo sử thuyết mới:
– Lưu Nham thay anh là Lưu Ẩn nhận chức Tiết độ sứ cho cả 2 vùng Tĩnh Hải và Thanh Hải. Truyền thuyết Việt gọi Lưu Nham là sứ quân Trầm Lãm (Lưu Nham thiết Lãm), chiếm giữ vùng ven biển phía Đông (Trần chiết tự là Đông A).
– Lưu Nham thực ra mang họ Lê vì cha là Lưu Tri Khiêm, thứ sử Phong Châu. Lưu Tri thiết Ly, . Lê cũng đọc là Lý trong phát âm tiếng Trung.
– Lưu Nham ngay sau đó tự lập nước Đại Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông). Ông đổi tên thành Lưu Cung. Vì thế truyền thuyết Việt còn gọi ông là Lý Công Uẩn (Lê Cung – Lê Ẩn), là vị “Thái Tổ” của nhà Lý nước Đại Việt đầu tiên.
– Vì đô thành của nước Đại Việt này đóng tại Phiên Ngung hay Phiên Ngu nên sử Việt còn gọi triều đại của Lê Nham là triều Ngô (Ngô Vương).
Lã Đường là bộ tướng của Trần Lãm, hay môn sinh của Lý Công Uẩn, cùng Ngô Vương đánh giặc và phò giúp nhà Lê đều chỉ là cùng một chuyện. Nghĩa là Lã Đường là tướng của Lê Nham – Trần Lãm – Ngô Vương – Lý Công Uẩn, có công cùng Lê  Nham lập quốc.
Triều Ngô – Tiền Lê của Lê Nham sau đổi tên nước thành Đại Hưng, sách Tàu chép thành Nam Hán. Tới thời Lê Sưởng (Lưu Sưởng) thì bị nhà Tống tấn công, phần đất Thanh Hải cùng kinh đô Phiên Ngô thất thủ. Phần đất Tĩnh Hải là vùng Bắc Việt trước đó do con rể của Trần Lãm hay Lưu Cung là Lý Tiến cai quản. Lý Tiến được sử Việt gọi là Đinh Bộ Lĩnh, nghĩa là thủ lĩnh của Đinh bộ – Tĩnh Hải quân, hay Nam Việt Vương Đinh Liễn (Lý Tiến thiết Liễn). Lý Tiến là người quê ở Cổ Pháp (Bắc Ninh), là Lý Công Uẩn thứ 2 của triều Lý nước Đại Việt thứ 2 (tới Lý Thánh Tông mới lấy lại tên nước Đại Việt). Như thế Lã Đường là bộ tướng của tiền triều Lê Nham, sau đó theo hoặc chống Đinh Bộ Lĩnh hay Lý Công Uẩn 2 gây dựng quốc gia Đại Việt trên đất Tĩnh Hải.
Chính sử Việt giai đoạn này còn nhắc tới một nhân vật họ Lã khác. Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ ghi: “Xét Thập quốc thế gia Ngô Xương Văn mất ở Giao Châu, tướng tá của ông là Lã Xử Bình và Thứ sử Phong Châu là Kiều Tri Hựu tranh nhau lên thay. Giao Chỉ đại loạn, Đinh Liễn ở Giao Châu đánh tan hai người ấy, Xưởng giao cho Liễn làm Tiết độ Giao Châu…”.
An Nam chí lược của Lê Tắc chép: “Đến khi Ngô Xương Văn chết, thì có bộ thuộc là Ngô Xử Bình, giành làm vua; Đinh Bộ Lĩnh giết Ngô Bình, lãnh nước Giao Chỉ, tự xưng là Vạn Thắng Vương“.
Các tư liệu cho biết Lã Xử Bình là tướng của Ngô Xương Văn, thậm chí còn được lấy họ Ngô của vua. Sau khi Ngô Vương mất Lã Xử Bình nổi lên ở Giao Châu rồi bị Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Đinh Bộ Lĩnh dẹp được Lã Xử Bình thì mới tiếp quản được Giao Châu. Lã Xử Bình như vậy là một thế lực đối đầu chủ yếu với Đinh Bộ Lĩnh nhưng lại không hề có mặt trong danh sách 12 sứ quân hiện nay. So sánh có thể thấy Lã Xử Bình chính là Lã Đường, vốn là tướng của Ngô Vương (Văn Xương thiết Vương) – Lê Nham, sau chống lại Lý Tiến – Đinh Bộ Lĩnh Giao Châu.
Giai đoạn chuyển tiếp, mở đầu độc lập của nước Đại Việt thật rối như tơ vò bởi những thông tin lịch sử của ta và tàu đầy mâu thuẫn. Chuyện về sứ quân Lã Đường là một trong những đầu mối để gỡ được cái mối tơ nhùng nhằng đó, trả lại đúng lịch sử cho những vị vua, những vị công thần lập quốc Đại Việt này.

BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, mục lục phiên bản 8

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian. Cập nhật tháng 1/2017. Tổng số 504 trang.

Tôi kể chuyện xưa sử nước Nam
Thái Bình tuấn kiệt nổi Lưu Bang
Quân Thần Lý Lữ chia thiên hạ
Tây Thổ Triệu Trưng rủ áo vàng
Bi tráng một thời kìa Tích Đặng
Hùng anh sáu kỷ đó Hà Nam
Cao Vương Tĩnh Hải lưu thành cổ
Đại Việt rồng bay kết vẻ vang.

Giới thiệu và tóm tắt nội dung sách xem tại đây.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.
IMG_2713

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ĐỐI CHIẾU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ

ÔNG TRỜI BÀ TRỜI
—-Viêm Giao Bàn Cổ
—-Ngọc Hoàng thượng đế
—-Quốc mẫu Tây Thiên
—-Hành trình nữ thần Việt – Hoa – Chăm
—-Thần châu Xích huyện

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG
—-Mở sử Hoa Việt
—-Kinh Dương Vương
—-Đi cày Lịch Sơn
—-Lên núi xuống biển

TẢN VIÊN SƠN THÁNH
—-Gậy thần sách ước
—-Ngũ hành cung
—-Sơn Tinh – Thủy Tinh
—-Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT
—-Mẫu Thoải
—-Bát Hải Động Đình
—-Bạch Hạc Tam Giang
—-Hùng Hải trị nước
—-Phủ Ứng Thiên
—-Đầm Nhất dạ
—-Giếng Việt

NON SÔNG BÁCH VIỆT
—-Mẹ Âu Cơ
—-Sinh Bách Việt
—-Thần Bổng
—-Chim bạch trĩ
—-Linh Lang đại vương
—-Thủy tổ họ Phan
—-Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH
—-Mưa gió Đông Chu
—-Huyền Thiên Trấn Vũ
—-Ông Đổng
—-Thiên Tôn và Độc Cước
—-Nam thiên Tứ bất tử

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT
—-Mỵ Châu – Trọng Thủy
—-Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
—-Cao Lỗ tướng quân
—-Họ Chu Việt Nam
—-Tần An Dương Vương
—-Nước Tây Âu

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG
—-Đức thánh Chiêm
—-Bến Vĩnh Khang
—-Vua Mây họ Phạm
—-Kỳ Lân và nước Lỗ

THIÊN NAM ĐẾ THỦY
—-Người Tuấn kiệt
—-Nhâm Ngao
—-Thăng Long
—-Nam Việt Đế
—-Vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt

NAM QUỐC SƠN HÀ
—-Mũ đâu mâu
—-Thừa tướng Lữ Gia
—-Đỗ Động tướng quân
—-Bảy quận nước Nam
—-Chân Định linh thần

LỜI THỀ SÔNG HÁT
—-Tây Lý Vương
—-Ả Lã Nàng Đê
—-Mẫu vì Dương Vương
—-Tam Giang nhị thánh
—-Nợ nước thù nhà

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN
—-Tiền nhân họ Phùng
—-Nam Giao học tổ
—-Giao Châu Đặng cư sĩ
—-Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG
—-Tiếp Lạc khai Đinh
—-Đô Dương Mã bất tiến
—-Thì chi Đông Hán dám hung hăng
—-Khu Linh người nước Nam ta
—-Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP
—-Mạnh Hoạch
—-Nam Triệu
—-Đào liệt hầu
—-Bia cổ nói
—-Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
—-Tây Hưng đại vương
—-Khun Borom
—-Tộc người Thái
—-Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN
—-Bột Hải triều Nam
—-Dẹp Lâm Ấp
—-Gạch Giang Tây
—-Đằng Vương các tự

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG
—-Khúc tam vị chủ
—-Hạt Lý nảy năm cây
—-Đại Hưng bình bảo
—-Thân thế Lý Công Uẩn
—-Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ
—-Mười hai sứ quân
—-Thủ lĩnh Đinh Bộ
—-Những bài sấm ký
—-Diễn Châu thái thú
—-Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ

PHỤ LỤC
—-Dịch tượng và ngôn ngữ
—-Thơ Sử thuyết họ Hùng
—-Chỉ dẫn di tích và địa danh
—-Tài liệu tham khảo

Bàn chuyện ăn Tết Âm lịch

Sơ lược lịch sử cái Tết Âm lịch phương Đông.
Âm lịch mà người Việt đang dùng theo truyền thuyết là do Hoàng Đế Hữu Hùng phát minh ra, thời Đế Nghiêu Đế Thuấn được củng cố thêm. Lịch có 12 tháng gọi tên theo thập nhị địa chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Từ khi ra đời đến nay Âm lịch đã từng nhiều lần thay đổi mốc định ngày, tháng đầu năm:
– Nhà Hạ chọn tháng Dần (tháng thứ nhất hiện nay) làm tháng Giêng. Đây là Lịch kiến Dần.
– Nhà Thương chọn tháng Sửu (tháng thứ 12) làm tháng Giêng. Đấy là Lịch kiến Sửu. Người Mông ở Việt Nam nay vẫn ăn Tết theo lịch này.
– Nhà Chu chọn tháng Tý (tháng thứ 11) làm tháng Giêng. Đấy là Lịch kiến Tý.
– Nhà Tần chọn tháng Hợi (tháng thứ 10) làm tháng Giêng. Đấy là Lịch kiến Hợi.
– Đến đời Hiếu Vũ Đế quay lại lấy tháng Giêng là Dần. Lịch kiến Dần và sử dụng từ thời đó đến ngày nay không thay đổi nữa.
Âm lịch là lịch của nền văn minh lúa nước, vốn xuất phát chính từ đất Giao Chỉ từ Tam Hoàng (Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn) và được hoàn thiện ở thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu). Lịch kiến Dần bắt đầu từ nhà Hạ mà nhà Hạ khởi lập bởi cha Lạc Long Quân ở vùng đồng bằng sông Hồng ven biển Bắc Việt nay. Tới khi Hiếu Vũ Đế Lưu Triệt diệt nhà Triệu Nam Việt, thống nhất Trung Hoa, cho lấy lại tháng Dần làm tháng Giêng theo lịch nhà Hạ.
Người Việt Nam ngày nay hoàn toàn nhầm lẫn khi cho rằng nhà Hiếu là “Tàu” hay Hán và Âm lịch người Việt đang dùng là “lịch Tàu”. Nhà Hiếu là một triều đại Việt chính cống vì Hiếu Cao Tổ Lưu Bang khởi nghĩa ở đất Bái – Thái Bình, tức vùng đất Đông Giao Chỉ, cũng là khu vực khởi đầu của nhà Hạ xưa. Triều đại nhà Hiếu do đó còn có tên là Viêm Lưu, tức là họ Lưu từ vùng Viêm phương, xứ nóng.
Người Việt có truyền thuyết Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh dày dâng cúng trời đất vào tiết đầu năm. Nhiều người cho rằng lịch của Lang Liêu như thế mới đúng là lịch Việt. Nhưng liệu có mấy người biết rằng Lang Liêu nghĩa là vua của người Liêu Tử hay Di Lão. Lang Liêu nghĩ ra bánh chưng bánh dày với đạo trời tròn đất vuông chính là Chu Văn Vương, người tạo tác Kinh Dịch. Chu Văn Vương cũng là Văn Lang, là quốc hiệu được người Việt công nhận từ xa xưa. Nhà Chu là dòng Âu họ Cơ, dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi dựng đô ở Phong Châu, lập nước Văn Lang thời các vua Hùng. Văn Vương – Văn Lang đã định lịch kiến Tý, lấy tháng 11 làm chính sóc, lập nên một thời đại huy hoàng trong sử Việt là ý nghĩa của câu chuyện bánh chưng bánh dày.
Ngày nay muốn điều chỉnh tháng đầu năm cho gần với năm Dương lịch thì có thể lấy lịch của nhà Chu hay của Lang Liêu, dùng tháng Tý làm tháng Giêng. Người Việt có thể ăn Tết theo cha Lạc Long (dùng lịch kiến Dần) hay theo mẹ Âu Cơ (dùng lịch kiến Tý), thay đổi lựa chọn tháng đầu năm, chứ không thể bỏ Tết Âm thành Tết Dương lịch được. Đánh đồng Âm lịch với Tây lịch đồng nghĩa với xóa sổ luôn Âm lịch, vì không có ngày đầu năm thì cũng không có cả năm. Bỏ Âm lịch là bỏ hết cả văn hóa cổ truyền, tục thờ cúng tổ tiên, phá ngang cách tính thời gian của nền văn minh lúa nước… Những ai chủ trương bỏ Tết Âm lịch phải nói là phạm tội bất hiếu với tổ tiên, với trời đất.
Tam quan den ThuongNghi môn đền Thượng – Kinh thiên điện trên núi Hùng – Nghĩa Lĩnh.

HIẾU VỚI TRỜI ĐẤT
Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Lang Liêu dâng cha chẳng bạc vàng
Mà tấm lòng thành gói trời đất
Vuông tròn đúc đủ tình thế gian.

Âm dương một đạo để ngàn đời
Rọi sáng đường đi cả tộc người
Bánh chưng bánh dày vui ngày Tết
Tưởng nhớ Lang xưa với sách trời.