Ngọc phả cổ chép về Nam Việt Vương Hoàng Thái hậu

Thần tích thôn Nhự Nương, làng Phương Để, tổng Phương Để, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Dịch theo bản khai năm 1938 lưu tại Thư viện Khoa học xã hội.

Ngọc phả cổ chép về Nam Việt Vương Hoàng Thái hậu 

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, thánh tổ trị đồ hơn 2000 năm, lập tên Hùng Vương là tổ của Bách Việt. Cho tới khi triều Hùng suy mạt, thế nước kết thúc, thời tới vua thứ 18 là Duệ Vương không có con trai, sau nhường ngôi vị cho Thục An Dương Vương, được thêm 60 năm, có đế Triệu tên Úy Đà ở quận Hải Nam khởi binh hùng, lập đô thành ở quận Hải Nam, tự xưng là Triệu Vũ Đế, đến đánh Thục Vương để chiếm nước.
Khi đó nước ta tương truyền có khu Nhị Nương, trang Phương Để, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, quận Hải Nam. Lúc ấy ở trang Hoa Xá, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, châu Ái có một vị tiên sinh họ Tình tên là Quang, vợ là Võ Thị Mỹ. Ông Tình vốn là gia đình có truyền thống thi thư, năm đời làm quan trong triều. Đến đời tiên sinh thì tinh thông Nho Y, hay tạo phúc, làm việc nhân nghĩa.
Khi Ông có tuổi đã năm mươi, Thái bà tuổi gần bốn mươi thì có nằm mộng thấy một ông lão xưng là thần núi Bán Nguyệt My, cho biết một hốc huyệt ở núi My để chuyển mộ của gia tiên táng tại đó. Sau được trăm ngày Thái bà nằm mộng thấy có một ngôi sao Thái âm rơi vào miệng. Thái bà bỗng nhiên có thai.Vì cảnh nghèo nàn bức bách nên mới dắt díu vợ con đến ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, quận Nam Hải.
Một tối nhân dân các họ ở trong khu cùng nằm mơ thấy có một vị quan áo mũ chỉnh tề, thân cưỡi ngựa hồng, theo sau hơn chục người, tiếp thẳng vào trong khi báo với các họ tộc rằng:
– Ta là chúa tể của Long Châu, cai quản ngôi chùa của dân chúng, đến báo cho nhân dân được hay. Nay có cha mẹ của Hoàng hậu họ Tình đang ở ngoài chùa. Hoàng hậu là chính theo mệnh Thiên đình, là phúc thần của dân chúng ở đây. Rạng ngày các ngươi mau ra nghênh đón về phụng dưỡng. Sau này dân chúng sẽ có được phúc dày. Nếu bỏ qua thì Hoàng Thiên sẽ trách, dân chúng không được yên.
Nhân dân các họ bỗng nhiên tỉnh giấc mộng kỳ lạ đó. Đến sáng ngày mọi người dân ra ngoài quán sở, cùng nói về giấc mộng giống nhau. Lập tức cùng vào trong chùa, thấy ông Quang và vợ con đang nằm đó. Mọi người các họ tộc mới hỏi:
– Ông từ đâu đến đây? Vì sao mà lại dẫn dắt vợ con ở đó?
Ông đáp rằng:
– Tôi vốn họ Tình tên Quang, vợ Võ Thị, vì cảnh nghèo bức bách nên phải đi tìm đất lành để nương tựa tấm thân.
Mọi người nghe vậy thấy ứng nghiệm với giấc mộng. Lại nhìn mà không thấy Hoàng hậu đâu cả. Khi nhìn kỹ hơn thấy Thái bà họ Võ đang có mang, ngầm nhận ra tất nhiên Hoàng hậu đang ở trong bụng đó. Các họ tộc nghênh đón vợ chồng họ Tình về ở trong ấp dân mà nuôi nấng.
Tới năm Quý sửu ngày 10 tháng 3 Thái bà đi ra chỗ bãi ngoài cửa ngã ba sông để tắm gội. Tắm gội xong Thái bà vừa mới đi lên bờ thì bỗng nhiên thấy trời đất mờ mịt, gió gào rung động như sấm, xung quanh mùi hương thơm ngát, khí lành sáng rạng. Đến ngày 12 tháng đó Thái bà sinh được một con gái, mặt như gương ngọc không chút bụi, tựa như bình bạc khinh trăng, mắt phượng mày ngài, mặt phấn môi hồng, nhan sắc tuyệt trần. Mọi người đến xem, lấy làm kinh sợ, nhớ tới điềm mộng quả nhiên đã ứng nghiệm. Được trăm ngày, cha mẹ mới đặt tên là Trang Nương.
Từ đó xuân qua hè đến, năm tháng như con thoi, tuổi đã 28, nhà khuê khóa ngọc, trong lưu chính nhụy, dung nhan chim sa cá lặn, trăng nhường hoa thẹn, tài văn bảy bước thành thơ, nghệ võ chính là dùng cùng tên, các việc nữ công không gì là không biết, trí tuệ thì nam giới cũng khó bằng.
Khi đó nhân dân bỗng nhiên mắc bệnh tật, người vật không yên. Cầu đảo nhiều lần mà không thấy khỏi. Nhân dân lại làm lễ chay ở trong chùa của ấp. Đêm đó mọi người nằm mơ thấy Long thần đến báo ứng:
– Các người đã được Hoàng Thiên giáng hạ cho thần nữ, sinh ta ở chỗ cửa sông đầu rồng. Dân chúng thấy chỗ đất giáng sinh mà vẫn cứ điềm nhiên, không chịu sửa lập. Vì thế mà Trời mới trách phạt. Nay các người mau mau tu dựng một đền thờ sống thì dân chúng sẽ tự được yên.
Nhân dân các họ bỗng nhiên tỉnh giấc, cùng nói thấy mơ giống nhau nên lập tức dựng một đền thờ sống tại nơi đó. Từ đó tật bệnh trong nhân dân tự nhiên khỏi.
Một ngày Trang Nương theo mẫu thân đi thăm với dì ruột ở đất quận Cửu Chân. Khi đó vua Triệu Úy Đà đang khởi binh đánh Thục. Lúc ấy người địa phương thấy Trang Nương có tài sắc lạ thường đã báo với vua Triệu. Vua bèn mời Thái bà cùng với Trang Nương vào trong phủ gặp mặt. Vua thấy dung mạo nhan sắc tưởng như tiên nữ Bồng Doanh, Lãnh Uyển, lòng đầy thích thú. Lập tức cho vào điện làm lễ cưới. Ban thưởng cho cha mẹ các đồ sính lễ. Lập làm chính cung.
Khi đó Triệu Vương và Thục Vương đanh giao tranh, chinh Đông dẹp Tây, chinh chiến bất thường. Nên đã cho dẫn Chính cung về ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, truyền cho nhân dân trong ấp xây dựng cung phủ để Chính cung ở đó. Tự Chính cung về khu Nhị Nương tiếp quản dinh phủ, tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng bốn biển đến tụ hội.
Thế rồi, Thục Vương nghe tin Triệu Vương có Chính cung đã xây dựng phủ ở khu Nhị Nương, tích trữ quân lương, chiêu dụ các tướng tài, liền sai quân đến vây bắt. Chính cung thấy quân Thục tiến tới, liền xuất quân cùng chiến đấu, phá vỡ vòng vây của quân Thục. Cung phi mới về thẳng quận Nam Hải cùng với Triệu Vương.
Sau đó Triệu Vương diệt Thục, lên ngôi Hoàng đế, lập Trang nương làm Hoàng hậu quản chính. Đồng ý cho khu Nhị Nương trang Phương Để làm con dân phụng thờ đền khi sống của Hoàng hậu, cấp thưởng cho 3000 quan tiền, lại miễn việc quân lương.
Đến khi Hoàng hậu tuổi ngoài bảy mươi, một ngày khi không có bệnh mà tắm gội, bỗng thấy trời đất mờ mịt, ban ngày giống như đêm. Khi đó Hoàng hậu tự nhiên mà hóa (ngày 6 tháng 11). Trăm quan trong triều làm lễ an táng ở đất trang Cao Bạt, quận Hải Nam.
Khi việc đã xong liền sai quan về đến khu Nhị Nương, trang Phương Để nơi sinh để sửa chữa đền thờ, nơi cung dinh tế lễ, lập việc thờ phụng. Vua lại phong các mỹ tự, vạn cổ hưởng hương lửa lễ lạt không cùng, cùng với quốc gia trường tồn, mãi mãi là phép tắc không đổi.
Từ Đinh, Lê, Lý, các triều đại đế vương đều có phong Cung túc Từ liêm Cẩn tiết Đôn thiện Mục thận Anh linh Bảo quốc An dân Chiêu đức Đoan trang bà Hoàng Thái hậu Tôn thần Thượng đẳng tối linh. Cùng với việc phong các chữ này là việc làm lễ tế quốc gia.
Năm Hồng Phúc thứ nhất, ngày 10 tháng 1. Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính phụng soạn.
Hoàng triều hiệu Vĩnh Hựu năm thứ ba, ngày tốt đầu tháng 2, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần là Nguyễn Hiền, tuân theo đúng như triều trước mà sao chép.
Phụng kê, các sắc văn cho Thần đương cảnh Trình Thái hậu gồm 12 đạo như sau:
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 16 tháng 5, một đạo sắc cho Thần đương cảnh Trình Thái hậu là Cảm ứng Thánh huệ Ngọc bảo Phương diễm Từ hoà Linh nghi Trinh thục Thuần ý Nhu gia Trang tĩnh Trung hiến Ôn lương Hoàng quân.
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 26 tháng 7, một đạo gia phong là Phong tư Chính trực Ôn lương Yểu điệu Huy khiết Dung hành Khuê chương Văn vọng Anh dục Tú chung Thông minh Mẫu nghi Khôn thuận Quế cách Hoàng quân.
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 26 tháng 7, lại một đạo gia phong Mậu công Thuần đức Tuý phạm Hoàng quân.
Ba đạo sắc trên được ban nhân khi Quốc vương trị vì khi đó khi tiến phong ngôi vua.
– Gia Long năm thứ 9, ngày 21 tháng 8, một đạo sắc chỉ qua các triều đại đã gia tôn mỹ tự nên đồng ý theo cũ phụng thờ.
– Minh Mệnh năm thứ 2, ngày 15 tháng 7, một đạo.
– Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 7 tháng 8, một đạo.
– Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 9 tháng 9, một đạo.
– Tự Đức năm thứ 3, ngày 3 tháng 7, một đạo.
– Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 11, một đạo.
– Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7, một đạo.
– Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8, một đạo.
– Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7, một đạo đồng ý riêng cho theo cũ phụng thờ (nhân ngày quốc khánh lần thứ 40 của vua khi đó).

Thừa sao theo bản chính bởi phó lý trưởng là Võ Thích đã ký.
Lý Trưởng đồng ý đóng dấu.

Văn ca trù ở đền Đồng Sâm thờ Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trình Thị

Hiện ở đền Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), nơi thờ Vũ Đế Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị còn lưu được 8 bài ca trù dùng trong tiết lễ thu hát chầu thần. Các bài này đều có phần đầu là 2 cặp câu biền ngẫu (câu đối), ca ngợi công đức của Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng hậu. Còn phần sau là phần cầu tụng cho dân sinh. Xin giới thiệu đoạn đầu của 8 bài ca trù này.

Bài ca trù thứ nhất

聰明睿知
淑慎徽柔
月斧橫而七郡基開漢雄並世
桃夢叶而六宮儀表周后同符

Thông minh duệ trí
Thục thận huy nhu
Nguyệt phủ hoành nhi thất quận, khai Hán hùng tịnh thế
Đào mộng hiệp nhi lục cung, nghi biểu Chu hậu đồng phù.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Hiền dịu nhẹ nhàng
R
ìu trăng ngang khắp bảy quận, mở nền hùng Hán sánh thời
Mộng đào hòa sáu cung,
phép tắc Chu hậu cùng hợp.

Giải nghĩa:

Nguyệt phủ (rìu trăng): tương truyền là chiếc búa hình mặt trăng, là búa khai quốc của Triệu Vũ Hoàng đế. Đôi búa ngọc này vốn từng lưu ở đền Đồng Sâm.

Thất quận: Nhà Triệu Nam Việt được lập ra trên các quận phía Nam thời Tần. Sau này thời Hán Vũ Đế đã chia đất nhà Triệu thành 7 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Hợp Phố, Quảng Tín, Thương Ngô, Nhật Nam.

Mộng đào: theo thần tích, trước đây ở Đồng Sâm có một người họ Trình tên là Liên, lấy bà Đinh Thị Ngoạn người bản trang, tuổi đã ngoài 40, nằm mơ nhặt được chiếc gương ngọc, rồi bống nhiên có mang, ngày tháng dần đủ, đêm rằm tháng 7 sinh được một người con gái, mặt như gương ngọc, sắc tựa hoa mai. Năm 18 tuổi công dung ngôn hạnh, tứ đức vẹn toàn. Cha mẹ đặt tên là nàng Lan. Nàng Lan là bà Trình Thị, là Hoàng hậu của Triệu Vũ Đế.

Chu hậu: bà Thái Tự là Chính phi của Chu Văn Vương, mẹ của Chu Vũ Vương, người sáng lập nhà Chu. Bà được gọi với những tên khác trong các bài ca trù này là Cơ Tự, Chu Cơ.

Lục cung: Hệ thống hậu cung cho các phi tần trong chế độ phong kiến Trung Hoa.

Bài ca trù thứ hai 

文武聖神
貞淑慈懿
基開七郡規摸空視項秦
表正六宮儀範遠同姬姒

Văn vũ thánh thần
Trinh thục từ ý

khai thất quận, quy không thị Hạng Tần
Biểu chính lục cung, nghi phạm viễn đồng Cơ Tự

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Bảy quận mở nền, quy mô không thua Tần Hạng
Sáu cung chính tỏ, khuôn phép sâu như Tự Cơ
.

Giải nghĩa:

Hạng Tần: Hạng Vũ là người nước Sở, đã khởi nghĩa đánh Tần, xưng là Sở Bá Vương.

Bài ca trù thứ ba

聰明出類
聖德超凡
南海建昌基雄爭漢北
番禺真定鼎帝始炎南

Thông minh xuất loại
Thánh đức siêu phàm
Nam Hải Kiến Xương , hùng tranh Hán Bắc
Phiên Ngu Chân Định đỉnh, đế thuỷ Viêm Nam.

Dịch nghĩa:

Thông minh ngoài hạng
Đức thánh siêu phàm
Nam Hải
nền Kiến Xương, tranh hùng Hán Bắc
Phiên Ngu đỉnh Chân Định, mở đế Viêm Nam.

Giải nghĩa:

Kiến Xương: vừa có nghĩa là xây dựng nền móng, vừa là tên của vùng đất Thái Bình, nơi có đền Đồng Sâm.

Chân Định: vừa có nghĩa là lập định đất nước một cách thực sự, vừa là tên cũ của vùng đất Thái Bình. Chân Định theo sử sách được chép là quê của Triệu Đà.    

Bài ca trù thứ tư

文武聖神
貞淑慈懿
揮月斧而圖成七郡漢世並雄
叶夢桃而儀表六宮桐鄉誌瑞

Văn võ thánh thần
Trinh thận từ ý
Huy nguyệt phủ nhi đồ thành thất quận, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi nghi biểu lục cung, Đồng hương chí thụy.

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Vung búa nguyệt mà dựng thành bảy quận, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà phép tỏ sáu cung, làng Đồng bày tốt.

Bài ca trù thứ năm

河海鍾靈
山川毓秀
開七郡而炎邦帝始漢世並雄
叶夢桃而表宮天下母儀周姬

Hà hải chung linh
Sơn xuyên dục tú
Khai thất quận nhi Viêm Bang đế thủy, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi biểu cung thiên hạ, mẫu nghi Chu Cơ.

Dịch nghĩa:

Sông biển đúc thiêng
Nước non nuôi đẹp
Mở bảy quận là đế đầu Viêm Bang, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà thiên hạ tỏ cung, phép mẫu Chu Cơ. 

Giải nghĩa:

Viêm Bang: Chỉ đất nước ở xứ nóng (viêm). Đáng chú ý là triều đại của Cao Tổ Lưu Bang lập nên nhà Hán được gọi là Viêm Lưu.

Bài ca trù thứ sáu

乾始坤生
海𣶬春育
圖開七郡並漢世之雄風
儀表六宮接周姬之芳躅

Càn thủy khôn sinh
Hải hàm xuân dục
Đồ khai thất quận, tịnh Hán thế chi hùng phong
Nghi biểu lục cung, tiếp Chu Cơ chi phương trục.

Dịch nghĩa:

Tạo Càn sinh Khôn
Dưỡng xuân bao biển
Mở đồ bảy quận, cùng
thời Hán đây ngọn gió hùng
Tạo lễ sáu cung, tiếp Chu Cơ đó lưu
thơm dấu.

Bài ca trù thứ bảy

聰明睿知
漙博淵泉
九真揚玉斧之威雄開漢地
七郡奠金甌之勢帝始南天

Thông minh duệ trí
Đoàn bác uyên nguyên
Cửu Chân dương ngọc phủ chi uy, hùng khai Hán địa
Thất quận điện kim âu chi thế, đế thủy Nam thiên.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Bao quát thâm sâu
Cửu Chân
búa ngọc dương oai, hùng mở đất Hán
Bảy quận
âu vàng vững thế, đế tạo trời Nam.

Giải nghĩa:

Cửu Chân: một trong 7 quận thuộc nhà Triệu. Chi tiết Triệu Vũ Đế khởi nghĩa ở quận Cửu Chân là một thông tin mới, khác với chính sử.

Bài ca trù thứ tám

功同湯武
德比虞周
與北國爭雄低視六縱之計
為南邦帝始宏開七郡之圖

Công đồng Thang Võ
Đức tỉ Ngu Chu
Dữ Bắc quốc tranh hùng, đê thị lục tung chi kế
Vi Nam bang đế thủy, hoành khai thất quận chi đồ.

Dịch nghĩa:

Công ngang Thang Võ
Đức sánh Ngu Chu
Cùng
tranh hùng đất Bắc, theo kế sáu nước hợp tung
Là đế tạo bang Nam,
cơ đồ bảy quận mở rộng.

Giải nghĩa:

Thang Võ: Thành Thang và Võ Vương. Thành Thang là vị vua diệt Hạ Kiệt lập ra nhà Thương. Võ Vương diệt Ân Trụ Vương, lập ra nhà Chu.

Ngu Chu: Ngu Thuấn vầ Chu Văn Vương. Ngu Thuấn là vị vua nổi tiếng hiếu thảo. Chu Văn Vương cũng là người có tiếng nhân đức.

Lục tung: Kế sách hợp tung 6 nước để chống Tần thời Chiến Quốc.

Thần tích thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ (Thiên Cổ miếu)

Phả lục về vị Đại vương Đô Chấu thời Hùng Vương

Xưa nước Việt có Thánh tổ trời Nam khởi dựng cơ đồ, trải xem chỗ lợi của núi sông hình thế mà kiến lập thành đô ở thắng địa Hoan Châu, nơi đất Nghĩa Lĩnh trùng tu cung điện, cha truyền con nối hơn hai ngàn năm. Trăm họ vui hát, Thiên hạ thái bình.

Thời tiên tổ ba đời của Đại vương là người Mộ Trạch, Hải Dương, họ Vũ, thơ văn xử thế, hiếu thảo giữ nhà. Đến tổ ba đời gặp bất hạnh, cha mẹ mất sớm, gia sản trống không, bữa đực bữa cái, trông vào vay mượn. Vợ chồng cùng nói rằng:

–       Nghèo nàn như thế này, không có cách sinh nhai, biết lấy gì để bớt đi nỗi khổ này?

Do vậy gói ghém chút tư trang hành lý sơ sài, tìm tới Đông Ngạn, Kinh Bắc, nhà của người bạn thân họ Nguyễn, cũng không thể chu cấp được. Nên bèn đi đến cung thành Việt Trì, trú ở bên ngoài thành.

Nhân xem phong thủy để cầu việc dạy học làm kế sống qua ngày. Đến trại Hương Lan, thấy núi hình chữ Vương, các nhánh sông tụ ở trước mặt, tuy là một mạch đất nhỏ mà tưởng như là ngọn núi ngọc có dư khí. Bèn chọn ở chỗ đó. Hàng ngày lấy việc dạy học cho trẻ con làm nghề nghiệp. Ở được quãng ba năm thì người dân trong thôn cho chỗ đó để làm nơi dạy học. Vợ chồng chăm chỉ chuyên cần. Ngày tháng qua nhanh, sinh hạ được một người con trai tên là Thê, tức là vị tổ đời thứ hai vậy.

Đến khi trưởng thành lại tìm về người bạn cũ ở Đông Ngạn, cưới con gái thứ của ông Nguyễn tên là Thục làm vợ, rồi trở về thôn nơi dạy học. Ông theo sự cấy cày, ra sức làm việc nhân nghĩa, gia tư trở nên đầy đủ, làm trưởng thôn dân.

Năm Đinh Tỵ tháng tư bà Nguyễn đến chùa Việt Trì hành hương làm lễ Phật, lúc về đến đêm nằm mộng thấy một ngư phủ thân hình to lớn, cầm lên núi một con cá ba đuôi dài hơn một thước, đến trước sân mà dâng cho bà Nguyễn lấy để ăn. Mùi vị thật hấp dẫn. Bà Nguyễn hỏi là vật gì. Ngư phủ nói rằng đây là đồ ăn rất tốt. Rồi người đó bỗng biến mất. Bà Nguyễn tỉnh dậy mới viết là một giấc mộng Kê Vàng.

Bà đem kể với Ông. Ông cho đó tất có điềm tốt lành. Bà Nguyễn từ đó có mang, đến năm Mậu Ngọ ngày 11 tháng 1 sinh được một người con trai. Ông nhân giấc mộng dâng cá cho rằng đó là ứng điềm quỷ thần nên đặt tên là Rô (ngày lệ của vị trưởng là tháng Giêng từ mồng 9 đến 12).

Sau đó 2 năm, bà Nguyễn lại sinh đôi hai người con trai. Ông vô cùng vui mừng thấy rằng đúng là thần đã ban cho. Đến năm Quý Dậu ngày 2 tháng 2, Ông cùng bà Nguyễn không bệnh mà mất. Ba người con cùng với các môn đệ thôn dân làm lễ chôn cất. Sau ba năm tang lễ hoàn tất (ngày lệ giỗ ông bà là mồng 2 tháng 2).

Truyền kể rằng ba anh em có tài sức dũng mãnh, lại kiêm cả việc tập bắn cung. Còn người anh hay xuống nước hàng ngày lấy việc đánh cá làm vui.

Một ngày vào cuối tiết xuân, vạn cảnh đều yên hòa, Duệ Vương lệnh cho thuyền đi trên sông Bạch Hạc để ngắm xem cá nước. Chiêng kêu hòa với tiếng trống, lọng vàng thuyền rồng dàn khắp dọc ngang trên sông nước, đan kết thành vân, trên dưới các đầu đường tấp nập vẻ đi lại, trông như đám hỷ chật nghẽn bên bến sông Lô.

Các anh em bèn vui mừng đến xem, trông thấy nghi vệ thái bình thì kêu lên:

–       Than ôi! Đại trượng phu thì phải như vậy.

Duệ Vương nghe thấy lấy làm lạ liền lệnh triệu kiến. Thấy hình dạng trang nghiêm, thân thể cường tráng đó, Vua hỏi tên họ. Các anh em cứ theo thật mà trả lời.

Nhân đó Vua lệnh lấy tên là Chàng Chấu để gọi (ngay hôm đó quyết cho các Chàng Chấu theo sau kiệu làm tùy tùng). Được vài tháng cử chỉ trở nên thân mật, mọi việc đều chu toàn. Vua lấy làm lạ, cho làm Đô sĩ. Một năm trong ba lần đi hộ giá thị tòng, thấm sâu thánh trạch ưu ái thiên ân, hương lửa cùng có duyên vậy.

Đến lúc lòng Trời có hạn, cơ nhà Hùng kết thúc. Duệ Vương tự vì giàu mạnh mà không tu chính đức, lấy ấn kiếm làm đồ giữ nước, lấy tửu sắc làm nền móng cho việc thủ thành, việc võ bị phế buông. Ngày đêm yến ẩm ở trong cung đình.

Thục Vương thừa cơ đến xâm lấn. Tướng sĩ đều cùng tử nạn. Thư từ biên thùy báo gấp mà Vua không nghe. Đến khi quân Thục đã đến gần, Vua còn đang say chưa tỉnh. Tướng sĩ trong nước hàng Thục nên cơ đồ họ Hùng đã hết. Than ôi, không có điều gì để nói về sự này nữa. Bể dâu đổi thay. Thế cuộc xoay vần. Thế này cũng đã không còn như vậy được nữa.

Các anh em từ đó dắt díu nhau về quê cũ, rời bỏ khăn mũ, phú quý rũ trần. Lấy ngày yên bình với nơi sông nước. Núi rành rành, nước rào rào, nhớ đến ngòi nước nhỏ trong xanh. Bèn chuyên việc đánh cá uống rượu, thực là những người nhàn hạ bậc nhất, không quan tâm đến thế sự.

Được năm sáu tháng khi Thục Vương lấy được nước, cho xây thành ở Việt Trì, rộng hơn ngàn trượng, cuốn quanh như vỏ ốc, tên gọi là Loa thành. Cứ xây lại đổ. Thục Vương lệnh tìm người để làm phu. Theo lệnh chỉ thi hành, sai quan tìm bắt các anh em. Các anh em đều nói rằng:

–       Chúng ta đều đã nhận ân sâu của Hùng Vương, chưa kịp báo đáp. Nay còn có tấm thân lại bắt theo triều khác. Cam tâm để người sau sai khiến được sao?

Liền cùng nhau trốn ra nơi thường câu cá, rập đầu trước trời mà nói:

–       Trời xanh trăng sáng, núi cao nước trong, các thánh họ Hùng nguyện giám cho lòng thành.

Khi đó là ngày 10 tháng 10. Bèn ôm đá cùng nhau nhảy xuống sông mà chết. Hôm sau người dân trong thôn trang vội vớt di hài mà an táng. Bỗng thấy mối đùn thành một gò đất lớn (ngày 9 đến 12 tháng 10 là ngày lệ hóa thần). Gò đất đó tức là khu Đồng Bò.

Thục Vương nghe việc này mới than rằng:

–       Các quan tướng của Duệ Vương đều theo sự sai khiến của ta. Chỉ có các Đô sĩ lại có nhân phẩm cao, chịu ơn vua mà cùng quyên sinh vì nghĩa như vậy.

Liền trong ngày lệnh lấy tên gọi trước đây mà Duệ Vương đã đặt để phong làm Đại vương. Sai người trong trang lập miếu để phụng thờ. Qua các thời họ Triệu, Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần đều cảm lòng trung mà có mệnh phong cho sáng tỏ.

Đệ nhất vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Đệ nhị vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Đệ tam vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Trang Hương Lan phụng thờ.

Hồng Phúc năm thứ 2, ngày tốt cuối xuân, Đông các đại học sĩ Nguyễn phụng soạn.

Tự Đức năm thứ 1, ngày tốt giữa thu, Học trò bản trang họ Nguyễn phụng viết./.

Tháng 8 năm 2020, Quản trị viên Nhóm Đền miếu Việt, Thạc sĩ Nguyễn Đức Tố Lưu dịch nghĩa.

20200618_085723

Văn tế Hùng Vương tiết Quý đông

Văn tế của làng Trẹo, Hy Cương cho thánh tổ Hùng Vương ngày 26 tháng 12 âm lịch.
IMG_1087
Vị tiền viết lệ lễ hữu Quý Đông kỳ phúc tất cáo lễ dã.
Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương thánh vị
Viễn Sơn Thánh vương thánh vị
Ất Sơn Thánh vương thánh vị
Thiên Tiên công chúa nhị vị.
 
Cung duy Thánh vương
Đông thiên hàn lãnh, băng giá liên ngưng.
Nhật dạ bất phân, hà vân u ám.
Thượng đài ảm đạm, dao chấn Nam thiên.
Quốc tặc ngang nhiên, thoán Hùng Thị vị.
Dân tình oán nộ, vương tổ ưu phiền.
Nãi tị kinh thành, phó quyền quốc tế.
Đăng sơn hạ chiếu, dục ngộ dân hiền.
Vương chiếu quảng truyền, biên toàn bản hạt.
Thừa tuân chiếu đạt, nghinh đắc vương quy.
Tỷ dương quang chiếu, vân ám tán phi.
Thắm tình dân quốc, nghĩa trọng ân thâm.
Truyền ban Ngọc phả, phong trưởng tử dân.
Túc diện quân thần, thiết đàn an vị.
Vương tổ phán truyền, khôi hài bách nghệ.
Đái niên đái lệ, vi kỷ niệm kỳ.
Hợp đồng dân bản, tu thiết lễ nghi.
Thượng hiến thánh vương, chứng minh công đức.
Toàn dân túc trực, linh thánh tổ truyền.
Tự thử lĩnh quyền, trưởng tạo lệ dân.
Bảo toàn miếu vũ, di tích thượng sơn.
Tôn phụng tổ tiên, thủ phân hương hoả.
Bảo vệ giang sơn, an ninh xã tắc.
Tận trừ quốc tặc, tha đẳng ngoại xâm.
Đoàn kết nhất tâm, trung thành hộ quốc.
Di ngôn sở ước, dân tượng thừa tuân.
Phụng chiếu thánh vương, vạn niên ký ức.
Thực lại.
Thánh vương thượng đại, ban phúc độ trì, chi đại huệ dã.
Nguyên văn
位前曰例礼有季冬祈福必告礼也.
𥤮屹高山古粵雄氏十八世聖王聖位
遠山聖王聖位
乙山聖王聖位
天僊公主二位
恭惟聖王,冬天寒冷,冰這連凝.
日夜不分,霞雲幽暗.
上臺愔惔,搖振南天.
國賊昂然,篡雄氏位.
民情怨怒,王祖憂㥧.
乃避京城,付權國婿.
登山下詔,欲遇民賢.
王詔廣傳,編全本轄.
承遵詔達,迎得王皈.
比暘光照,雲暗散飞.
𧺀情民國,義重恩深.
傳頒玉譜,封長子民.
足面君臣,設坛安位.
王祖詊傳,詼諧百藝.
逓年逓例,為紀念祈.
合仝民本,修設礼儀.
上献聖王,証明功德.
全民肅直,聆聖祖傳.
自此領權,長造例民.
保全廟宇,遺跡上山.
尊奉祖先,守分香火.
保衛江山,安寧社稷.
盡除國賊,他等外侵.
團結一心,忠誠護國.
貽言所約,民象承遵.
奉詔聖王,萬年記憶.
寔賴
聖王上大,頒福度持,之大惠也.

Văn tế Thánh tổ Hùng Vương

IMG_1091

Văn tế của làng Trẹo, thôn Triệu Phú, Hy Cương, Phú Thọ. Làng này thờ các vua Hùng trên đền Trung của núi Nghĩa Lĩnh. Văn tế dùng cho ngày 1 tháng 8 âm lịch.

Cung duy Thánh vương
Nhật nguyệt chung quang, càn khôn dựng tú.
Thiên khải Viêm Bang, sơ đầu Thánh tổ.
Trị quốc an dân, kiến nghi xã tắc.
Thiết lập kỷ cương, bảo vệ sơn hà.
Lịch kiến quốc tự Xích Quỷ, Nam Giao, chí Văn Lang kế tục.
Chí kim sơn hà thượng thử, chư di tích đắc bảo tồn Nghĩa Lĩnh sơn thượng.
Bách tính tử tôn, nhật thiêm đa thịnh vượng.
Dân phú quốc cường, địa bàn thiêm quảng đại.
Hùng Thị thập bát thế tương truyền di dân hương hỏa tôn phụng tổ tiên.
Bảo toàn di tích, bảo vệ giang sơn
Dân tư di chúc, thực hiện ngôn truyền, thiên vạn niên bất dịch.
Đệ niên dĩ kỳ trại vi lệ.
Thích trị thu thiên, nhật phùng sơ nhất.
Nhân Vương tổ thân chinh thám vấn chư phương thắng trận.
Dân hân hoan tác tịch nghinh Vương, bài loan nghinh giá.
Xướng ca vi lạc, phụng sự thánh vương.
Lai nhật quân thần thượng lộ.
Dân hoan hỉ hợp đồng tái tịch.
Kim nhật cáo lễ, kỳ phúc kỳ an
Kỳ ủng hộ nhân khang vật thịnh.
Thiên hạ thái bình, thiên tĩnh hải trừng.
Phù hộ đồng điền phong đăng hòa cốc
Chư nhân đắc an khang trường thọ.
Tư Thánh tổ công ân thiên hải
Tử tôn nguyện vạn đại bất vong.

Thực lại
Thánh vương phù trì chi đại đức dã !

Nho văn:

恭惟聖王
日月鍾光,乾坤孕秀
天啟炎邦,初頭聖祖
治國安民,建宜社稷
設立紀綱,保衛山河。
歷建國自赤鬼,南交,至文郎繼續。
至金山河尚此,諸遺跡得保存義嶺山上。
百姓子孫,日添多盛旺。
民富國彊,地盤添廣大。
雄氏十八世相傳貽民香火尊奉祖先。
保全遺跡,保衛江山
民思貽囑,寔現言傳,千萬年不易。
遞年以祈賽為例。
適值秋天,日逢初一。
因王祖親征探問諸方勝陣。
民訢歡作席迎王,排鵉迎駕。
唱歌為樂,奉事聖王。
來日君臣上路。
民歡喜合仝再席。
今日告禮,祈福祈安
祈擁護人康勿盛。
天下太平,天靜海澄。
扶護同田丯登和穀
諸人得安康長壽。
思聖祖功恩天海
子孫願萬代不忘。
寔賴
聖王扶持之大德也!

Đức ông Đột Ngột Cao Sơn

Trích thần tích của xã Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

IMG_5835
Chính điện đình Đức Ông ở Hiền Lương.

Lễ bộ Thượng thư triều Hùng Vương, tri điện bách thần phụng sao truyện cổ

Xem xưa các tổ mở nước, tên hiệu Hồng Bàng, cho tới Nam Việt 18 thánh vương, khởi đầu tên nước Xích Quỷ, truyền ngôi tới thánh Lạc Long Quân, húy là Sùng Lãm. Vương lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm trai. Vương nói với nàng Cơ: Nàng là chủng Tiên, nước lửa tương khắc, khó mà tương hợp.
Bèn chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về biển, giữ người con trai trưởng ở lại, cũng đều hóa là thần. Đột Ngột Cao Sơn thánh vương sinh giáng các con là Hùng Trấn Quý Minh, Hùng Bảo Quốc. Tên hiệu sáng tỏ ngàn thu trong tín sử, vạn cổ vang tiếng linh thanh, quyết sáng mưu lớn, thêm công bớt nợ, đuổi di át giặc, quốc tộ dài lâu, phương sách trải lành vậy. Trở về Phong Châu, kinh đô Việt Thường, đúc điềm thánh thụy. Vào năm Nhâm Thìn tháng 2 ngày 10, ngày mộc dục là ngày 11, ứng kỳ mà sinh. Ngày này hương thơm bay khắp.
Người người vui mừng. Xưa có thơ rằng:
Một bào sinh giáng hai huynh đệ
Vạn cổ sáng ngời một thánh thần.

IMG_5814Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở Hiền Lương.

Thời Cao Sơn ngự trị, thiên hạ thái bình, nhân dân giàu đủ, định ra luật nước,chế ra nghi lễ triều đình, lập các trang trại, dựng nên miếu đền. Đến năm Giáp Ngọ tháng 8 ngày 23, tự nhiên bỗng thấy Trấn Quý Minh, Trấn Bảo Quốc không bệnh mà hóa mất. Vua cha Cao Sơn thương tiết vô cùng, tới năm Ất Mùi tháng 3 ngày 20, chợt thấy trời mây che tối, gió mưa sấm chớp, mà hóa.
Trong triều quần thần họp lại, lập thái tử lên ngôi, mới phát phong thần, sắc cho các quận trang 320 đền. Vua cấp lộc thang mộc, cử Quốc sư đến sắc phong thần. Khi qua trang Hiền Lương quận Hạ Hoa báo cho phụ lão ở đây, cấp tiền 50 quan, dựng lập đình miếu. Xem xét địa lý khu vực đồng nội này, chỗ khu đất cao độc lập, núi ngang sông liền, lập một lầu gác, nằm hướng Canh Giáp, nơi có nước chảy ngược án trước tiền đường, sau ôm lấy đất rồng phát anh hào. Nhân dân thanh tú, nhân vật mạnh giàu. Giao cho trang Hiền Lương phụng thờ. Nêu rõ thượng đẳng thần, lúc sinh thời có võ công, khi mất rất linh thiêng, giúp phù cho đất nước.  Hóa ở nơi trang này, lập làm điển thờ tôn nghiêm, bảo hộ cho nhân dân, nên khiến lập thờ cúng khắp nơi.
Lớn vậy thiêng thay! Năm năm không bỏ.

Tóm lược tích thiêng Nam Việt đại vương

Thần tích xã Tri Hối. Tóm lược tích thiêng Nam Việt đại vương

Đại vương họ Triệu tên Đà, là người Chân Định. Thời Tần mạt làm quan úy Nam Việt Hải. Sau phát binh đánh Thục Vương, Thục Vương binh bại. Vương mới lên ngôi đế, lập nước tên Đại Việt, đô đóng ở Phiên Ngu.
Thời đó thiên hạ thái bình, Đế đi chu du bốn biển, xem ngắm núi sông. Khi đi qua các địa phương đều lập hành cung nghỉ ngơi. Một hôm Đế đi tới xã Thần Thiệu, động Hoa Lư, phủ Trường An, châu Ái, thấy nước sông chảy dài, núi đá dựng đứng, bèn truyền lập cung tại đó. Sau Đế du hành về trong phủ, tới khu Sào Long xã Tri Hối. Nhân dân làm lễ bái hạ. Đế nhân đó truyền lập cung ở đó, thường thường đến dạy dân canh tác, khuyến khích nông tang.
Tới khi Đế phát binh đánh Trường Sa của nhà Hán, được nhiều ngựa. Quay về xuống chiếu cho dân các xã, nếu trước đây đã có thiết lập cung ở địa phương thì đều cho làm con dân thờ cúng, thiết lập sinh từ để ngày sau hưởng là nơi thờ phụng. Do đó, dân Sào Long tuân theo chiếu lập đền ở chỗ du cung ngày trước. Đế lại ban tặng cho tiền đồng ba trăm quan để làm tiền trông đền, lại miễn giảm tất cả tô thuế. Từ đó nhân dân Sào Long giàu đủ do nhờ thấm ơn tốt lành đó.
Đế thọ 120 tuổi, ở ngôi 71 năm thì băng. Cháu đích tôn Văn Vương nối ngôi, xuống chiếu cho thiên hạ, hễ dân chỗ nào mà vua cha ngày trước đã lập cung thì đều có thể về kinh đô nghênh đón thần hiệu về lập miếu thờ làm thần. Khu Sào Long cũng về kinh thành nghênh thần hiệu về lập miếu thờ. Văn Vương còn ban cho tiền đồng 50 quan để làm tiền hương khói. Lai truy tôn mỹ tự là Dũng nghị Uy hùng Thần võ các chữ, sắc lệnh cho dân phụng thờ. Các tiết lễ cầu đảo đều có linh ứng. 

Tri Hối xã thần tích. Nam Việt đại vương linh tích lược chí

Đại vương tính Triệu huý Đà, nghi Chân Định nhân. Tần mạt vi Nam Việt Hải uý. Hậu phát binh công Thục Vương binh bại. Vương nãi tức đế vị kiến quốc hiệu Đại Việt, đô Phiên Ngu. Thần thiên hạ thái bình, đế chu du tứ hải, lịch quan sơn xuyên. Phàm kinh quá sở tại địa phương giai thiết hành cung an tiết. Nhất nhật hành chí Ái châu Trường Yên phủ Hoa Lư động Thần Thiệu xã, kiến giang thuỷ hoành lưu, thạch sơn ngật lập. Toại truyền lập cung vu thử. Tái du hành phủ nội chí Tri Hối xã Sào Long khu, nhân dân hành lễ bái hạ. Đế diệc nhân truyền lập cung vu thử, thường thường vãng lai, giáo dân canh tác, khuyến khoá nông tang.
Cập phát binh công Hán Trường Sa, đắc sổ mã nhi quy chiếu các xã dân, phàm tiền nhật hữu thiết lập cung sở vu địa phương giả, giai hứa vi thần tử chi dân, thiết lập sinh từ dĩ vi hậu nhật hưởng thần chi sở. Ư thị Sào Long dân phụng chiếu lập từ vu tiền nhật du cung xứ. Đế nãi ban tứ thanh tiền tam bách quan dĩ vi bảo thủ từ sở chi nhu. Phàm tô dong nhất giai quyên miễn. Tự thử Sào Long nhân dân phú túc hàm đắc mông kỳ phúc chỉ yên.
Đế thọ nhất bách nhị thập tuế, tại vị thất thập nhất niên băng. Đích tôn Văn Vương tức vị, chiếu truyền thiên hạ, hà dân tiền nhật vương phụ hữu lập cung giả, tất nghệ đô thành phụng nghinh thần hiệu hồi dân lập miếu phụng chi thần. Sào Long khu giai tựu kinh thành phụng thần hiệu hồi dân lập miếu phụng chi. Văn Vương ban tứ thanh tiền ngũ thập quán dĩ vi hương hoả yên. Nhưng truy tôn mỹ tự viết Dũng nghị Uy hùng Thần võ đẳng tự, sắc chỉ ban hồi dân phụng tự. Phàm tiết thứ kỳ đảo giai hữu linh ứng .

知誨社神蹟
南越大王靈跡略誌
大王姓趙諱陀儀真定人秦末為南越海尉後發兵攻蜀王兵敗王乃即帝位建國號大粵都番禺辰天下太平帝週遊肆海歷觀山川凡經過所在地方皆設行宮安歇壹日行至愛州長安府華閭峒神紹社見江水横流石山屹立遂傳立宮于此再遊行府內至知誨社巢龍區人民行禮拜賀帝亦因傳立宮于此常常往来教民耕作勸課農桑
及發兵功漢長沙得数馬而歸詔各社民凡前日有設立宮所于地方者皆許為神子之民設立生祠以為後日享神之所於是巢龍民奉詔立祠于前日遊宮處帝乃頒賜青錢参百貫以為保守祠所之需凡租庸壹皆蠲免自此巢龍人民富足咸得蒙其福祉焉
帝壽壹百貳拾歲在位柒拾壹年崩嫡孫文王即位詔傳天下何民前日王父有立宮者悉詣都城奉迎神號回民立廟奉之辰巢龍區皆就京城奉神號回民立廟奉之文王頒賜青錢五拾貫以為香火焉仍追尊美字曰勇毅威雄神武等字敕旨頒回民奉祀凡節次祈禱皆有靈應.

Bài ký trên bia Vạn cổ ở đình thôn Thượng, xã Dương Hà, Gia Lâm, Hà Nội

IMG_1513

BIA GHI MUÔN ĐỜI

Bài minh chung trên bia về sáng lập việc phụng thờ.
Thôn Thượng xã Dương Hạ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, các quan viên là Ngô Tiến Lộc, Phạm Kỳ Mưu, Lâm Viết Quý, Nguyễn Tiến Tài cùng cả thôn trên dưới lớn nhỏ kính cẩn dựng bia đình muôn đời.
Tạo bia ra để làm gì? Muốn để sự sáng truyền đến các đời, sẽ được sừng sững như núi Hằng núi Tung, nên mới lập bia. Nhìn tới thôn ta, là thôn ở một bên của đất đẹp Đông Ngàn, vùng Kinh Bắc nổi danh. Trời mở mái ngọc, đất tạo bãi vàng, bốn bề bằng phẳng, một cõi phì nhiêu. Sông Thiên Đức trong xanh, một dải ôm lấy vùng đất. Cây cối xanh tốt sum suê. Lại có một chỗ vừa cao vừa bằng, trên đó có ngôi đình cổ. Đình thờ Đao Lợi Thiên Vương, ngự ở trên mây. Tích trước có trong sách điển các chư Phật Thích và trong hình vẽ Hoa Tạng.
Thiên Vương là chủ tể của cõi trời 33, quyền trên muôn ngàn vạn thánh, từ bao nhiêu kiếp tới nay. Thôn ta thật may mắn có thắng cảnh nên được hương lửa phụng thờ thần đó, tôn kính không gì so được, danh tiếng to lớn không ai bằng. Cho nên bản tổng khi cầu phúc, trừ tai, cầu mưa không được, thường cùng các thành hoàng thôn xã cung đón tới nơi, xin được phù hộ mà quyết việc, mới tỏ sự thánh như trời đất. Đại vương được cả bản tổng cầu thỉnh, kính nghênh như lễ, oai chấn một phương, danh rạng điển thờ từ xưa tới nay, đem may đuổi họa, hiển ứng trùng trùng.
Một lần không rõ nguyên do tại sao, người và vật trong thôn không được yên ổn. Nên những người trong hội phụ trách phụng thờ làm lễ tế cầu. Khi đó bỗng trong thôn tự nhiên có một vị trượng phu, dung nhan cổ lạ, lời nói phi phàm, nói rằng:
–   Ta ở một bên trên thôn của các ngươi, ngự trên tầng mây che đó. Nay xem các người đều không biết đến điều đó, lễ nghi lại quá sơ sài.
Tất cả già trẻ trong thôn đều cùng bái tạ mà cầu xin sự thương xót rằng:
– Chúng con dân nghèo đất hẹp, lỡ mắc cúng tế sơ sài. Muôn điều xin được xá tội ngu ngốc đó, chuyển điều dị thành điều lành.
Liền nghe lời trên phán rằng:
– Vậy chốn đình làng là nơi Ta tạm dừng xe mây, riêng một thế giới, từ xưa chật hẹp. Ta muốn có một nơi nhìn được bao quát, quanh năm tùy ý điều khiển, sinh khí đầy đặn, trở thành một dải phì nhiêu. Trước có loài cây Vải, nay đang cằn cỗi. Các ngươi hãy nhân đó lấy giống mà trồng rộng rãi. Khi tế tự thì lấy mà biện lễ, tất sẽ được sung túc.
Phán dứt, liền theo khói một nén hương mà bay lên.
Toàn dân đều cùng quỳ chầu trời lễ bái. Nhân đó cẩn thận làm đúng theo lời phán. Người người mắt nhìn, miệng theo, bảo nhau cố gắng lấy những cây cũ mà trồng thêm ra.
Quả nhiên, tăng cùng ngày tháng, lớn với thời năm, vẻ đẹp phủ kín vườn tược bát ngát. Vẻ hồng khoe như sự lạ chốn vườn lãng uyển. Người người từ đó được hưởng thời yên bình. Việc tế tự do đó mà đầy đủ. Cầu thần thần ứng, cầu phúc phúc đến. Trên có thể làm dài mạch nước. Dưới có thể dân sống yên lành. Đến chục năm từ đó đều lấy quả vải để làm lễ phụng sự thần vạn năm.  Nhân đó mà làm văn khế, khắc vào tấm đá, gói ý lớn này thành bài minh rằng:
Bên cạnh thôn ta
Một bãi đất phẳng
Cây cối tốt tươi
Xanh dòng Thiên Đức
Giữa khu gò cao
Là đình Thiên Vương
Tuân theo lời phán
Làm để giúp dân
Giúp dân thế nào?
Trồng nhiều cây vải
Gốc nó rậm rạp
Lá xanh mơn mởn
Quả ngọt vị lồng
Sắc hồng phấn mịn
Để dâng cúng thần
Lòng thần cảm động
Dân muốn cầu phúc
Phúc đến muôn nơi
Trên dài mạch nước
Dưới nền phúc tràn
Muốn truyền mãi mãi
Bèn lập minh bia.

IMG_1275

Thời gian:
Hoàng triều Cảnh Trị vạn vạn năm, năm thứ 5 Bính Ngọ, giữa mùa thu, ngày lành.
Quan viên Ngô Tiến Vinh, Nguyễn Văn Sâm, Đào Văn Hán cùng ký.
Nguyễn Trí, Thạch Văn Khoa, Nguyễn Hưng Tường, Lâm Đắc Lộc ký.
Hương lão Phạm Tuấn Ngạn, Nguyễn Tiến Phú, Ngô Văn Quảng ký
Lâm Duy Quyên, Đào Văn Chính, Thạch Công Ngạn ký
Xã thôn trưởng Thạch Công Tín, Lê Văn Hoa, Nguyễn Kỳ, Phạm Văn Liên, Ngô Hữu Thành, Võ Trí Hữu bàn ký.
Đào Đình Luận, Lâm Viết Thọ, Nguyễn Văn Châu ký.
Người già thọ, người có uy tín trong các giáp, toàn thôn trên dưới lớn bé cùng nhau ký.
Quốc Tử Giám giám sinh Phạm Kỳ Mưu, tên hiệu Đình Chất, vâng soạn
Thần là tướng phụ trách trong xá, chức lại Ngô Hữu Thanh vâng truyền.

IMG_1327

 

Các câu đối về Thiên Đế

Toàn bộ các câu đối trong ghi chép ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên), nơi thờ Vua Trời Đế Thích.

IMG_4923

Câu 1

休言巨小諸神,上帝獨尊無與對
勿論邇遐萬姓,下天一等赤欽崇
Hưu ngôn cự tiểu chư thần, Thượng Đế độc tôn vô dữ đối
Vật luận nhĩ hà vạn tính, hạ thiên nhất đẳng xích khâm sùng.
Dịch:
Thôi lời các thần nhỏ to, Thượng Đế độc tôn không ai sánh
Chớ kể vạn họ gần xa, dưới trời đều một dạ kính sùng.

Câu 2

祿是總災是除,封域順成*永保
樂主和禮主敬,古今上下同由
*豐年也
Lộc thị tổng tai thị trừ, phong vực thuận thành* vĩnh bảo
Nhạc chủ hoà lễ chủ kính, cổ kim thượng hạ đồng do.
* phong niên dã
Dịch:
Lộc thì cộng, nạn thì trừ, bờ cõi thuận bền giữ mãi
Nhạc để êm, lễ để kính, xưa nay trên dưới đều theo.

Câu 3

福降自天,上下四民永保
禮虔享帝,同由一念順安
Phúc giáng tự thiên, thượng hạ tứ dân vĩnh bảo
Lễ kiền hưởng đế, đồng do nhất niệm thuận an.
Dịch:
Phúc ban từ Trời, trên dưới tứ dân gìn giữ mãi
Lễ thành cúng Vua, đồng tâm cùng niệm sự yên bình.

Câu 4

默化神機,十二仙娥安眼
包藏妙用,三千世界一壺
Mặc hoá thần cơ, thập nhị tiên nga an nhãn
Bao tàng diệu dụng, tam thiên thế giới nhất hồ.
Dịch:
Ngầm hóa cơ thần, mười hai tiên nga lành mắt
Dấu kín dùng hay, ba ngàn thế giới chung bầu.

Câu 5

人欲壽者求,得門而入
帝至尊無對,過廟則趍
Nhân dục thọ giả cầu, đắc môn nhi nhập
Đế chí tôn vô đối, quá miếu tắc tri.
Dịch:
Đế chí tôn không ai bì, miếu xưa tất đông đúc
Người muốn sống lâu nên khấn, đến nơi cửa mà vào.

Câu 6

勝會衣冠,燦爾天河斗列
高楼鼓吹,恍然雲洞樂喧
Thắng hội y quan, xán nhĩ thiên hà đẩu liệt
Cao lâu cổ xúy, hoảng nhiên vân động nhạc huyên.
Dịch:
Hội đẹp áo mũ, sáng thế Thiên Hà sao đẩu
Lầu cao cổ súy, bỗng nhiên nhạc nổi động mây.

Câu 7

上帝降衷,仁義禮智
下民遂欲,富貴壽康
Thượng đế giáng trung, nhân nghĩa lễ trí
Hạ dân toại dục, phú quý thọ khang.
Dịch:
Thượng đế ban lành Nhân Nghĩa Lễ Trí
Hạ dân toại nguyện Phú Quý Thọ Khang.

Câu 8

同然福集堂基永孚休慶
油爾雲浮幢盖保合泰和
Đồng nhiên phúc tập đường cơ vĩnh phu hưu khánh
Du nhĩ vân phù tràng cái bảo hợp thái hòa.
Dịch:
Cùng là góp phúc ở nếp nhà, niềm tin tốt mãi
Ùn ùn mây nổi như lọng che, yên hòa giữ gìn.

Câu 9

維岳降神經有見
自天顯聖外無聞
Duy nhạc giáng thần kinh hữu kiến
Tự thiên hiển thánh ngoại vô văn.
Dịch:
Từ núi thần giáng, từng đã thấy
Từ trời thánh hiện, khác chưa nghe.

IMG_5073

Câu 10

億年顯跡金牛上
萬古靈祠義冑西
Ức niên hiển tích Kim Ngưu thượng
Vạn cổ linh từ Nghĩa Trụ Tây.
Dịch:
Muôn năm tích rạng bờ Kim Ngưu
Vạn đại đền thiêng Tây Nghĩa Trụ.

Câu 11

滅鬼一弓方顯聖
出人半局始知天
Diệt quỷ nhất cung phương hiển thánh
Xuất nhân bán cục thủy tri thiên.
Dịch:
Trừ quỷ một cung nơi hiển Thánh
Xuất trần nửa cuộc mới biết Trời.

Câu 12

三級璦臺䀡起敬
兩擎砥柱仰弥高
Tam cấp ái đài chiêm khởi kính
Lưỡng kình để trụ ngưỡng di cao.
Dịch:
Ngọc đài ba bậc xem mà kính
Hai bên cột trụ ngưỡng càng cao.

Câu 13

色空理悟曇而聖
生化機玄帝又天
Sắc không lý ngộ Đàm nhi Thánh
Sinh hóa cơ huyền Đế hựu Thiên.
Dịch:
Biết lẽ sắc không, Phật mà Thánh
Diệu kỳ sinh hóa, Đế cũng Trời.

Câu 14

耕𨯳群方歌日出
管絃萬户詠風薫
Canh tạc quần phương ca nhật xuất
Quản huyền vạn hộ vịnh phong huân.
Dịch:
Cấy cày các chỗ ca ngày mới
Đàn sáo bao người ngợi gió thơm.*
*夏節 Hạ tiết

Câu 15

碁局收餘𪽋勝著
寶香焚處現真身
Kỳ cục thu dư lưu thắng trước
Bảo hương phần xứ hiện chân thân.
Dịch:
Cuộc cờ sắp hết còn nước thắng
Hương quý đốt lên hiện thân tiên.

Câu 16

慧日凝祥張氏墅
慈雲普蔭下亭*花
*遼下亭
Tuệ nhật ngưng tường Trương thị thự
Từ vân phổ ấm Hạ đình* hoa.
* Liêu Hạ đình
Dịch:
Chở che mây ái hoa đình Hạ*
Ngày sáng đẹp lành nhà họ Trương.
* Đình Liêu Hạ

Câu 17

真香閃爍慈雲現
碁局圓神慧日高
Chân hương thiểm thước từ vân hiện
Kỳ cục viên thần tuệ nhật cao.
Dịch:
Cờ thế vẹn tinh cao lúc trí
Hương tiên lấp lánh hiện mây lành.

Câu 18

金峯勝地鍾靈氣
上界仙宮現法身
Kim phong thắng địa chung linh khí
Thượng giới tiên cung hiện pháp thân.
Dịch:
Cõi trên cung thánh ngời thân phép
Non giữa đất lành đúc khí thiêng.

Câu 19

錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kỳ thế giới thiểu Trương công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_4977

Câu 20

改命機神仙跡古
好生德洽歲花新
Cải mệnh cơ thần tiên tích cổ
Hảo sinh đức hợp tuế hoa tân.
Dịch:
Thần kỳ thay mệnh xưa tiên tích
Đức rộng hiếu sinh tuổi mới thêm.

Câu 21

藜杖儘空三界鬼
檀香普濟萬家春
Lê trượng tẫn không tam giới quỷ
Đàn hương phổ tế vạn gia xuân.
Dịch:
Gậy cỏ sạch không ba giới quỷ
Hương đàn giúp khắp vạn nhà xuân.

Câu 22

除妖先及吞山𩴳
佑德無穷献果張
Trừ yêu tiên cập thôn sơn Sát
Hữu đức vô cùng hiến quả Trương.
Dịch:
Không cùng ơn giúp Trương dâng quả
Trước kịp trừ yêu Quỷ nuốt non.

Câu 23

慈雲普蔭天三界
慧日輝煌智六通
Từ vân phổ ấm thiên tam giới
Tuệ nhật huy hoàng trí lục thông.
Dịch:
Mây từ ấm khắp ba ngàn giới
Ngày tuệ rạng ngời sáu trí thông.

Câu 24

𩴳讋天威寧論魃
仙蒙惠德況扵生
Sát triệp thiên uy ninh luận bạt
Tiên mông huệ đức huống ư sinh.
Dịch:
Sát sợ oai Trời không gây hạn
Tiên trùm ơn huệ lại thêm sinh.

Câu 25

扇火紅光千怪滅
真香馥郁萬祥生
Phiến hỏa hồng quang thiên quái diệt
Chân hương phúc úc vạn tường sinh.
Dịch:
Quạt lửa ánh hồng ngàn quái diệt
Hương thần tỏa khắp vạn dân lành.

Câu 26

添龄無数今張子
驅害曽刊古弄林
Thiêm linh vô sổ kim Trương tử
Khu hại tằng san Cổ Lộng Lâm.
Dịch:
Thêm vô số tuổi đây Trương tử
Đuổi họa chất chồng Cổ Lộng Lâm.

Câu 27

恩霑法雨三千界
喜倍天僊十二娥
Ân triêm pháp vũ tam thiên giới
Hỉ bội thiên tiên thập nhị nàng.
Dịch:
Ơn thấm ba ngàn giới mưa phép
Mừng thêm mười hai nàng tiên trời.

Câu 28

鏡朗照肝洪造鑄
香薰改命朶雲慈
Kính lãng chiếu can hồng tạo chú
Hương huân cải mệnh đóa vân từ.
Dịch:
Kính sáng chiếu tâm nên vận lớn
Hương thơm thay mạng đám mây lành.

Câu 29

仙升佛降今如見
國擣民祈古以來
Tiên thăng Phật giáng kim như kiến
Quốc đảo dân kỳ cổ dĩ lai.
Dịch:
Tiên lên Phật xuống nay như thấy
Nước cúng dân cầu xưa tới giờ.

IMG_5088

Câu 30

光芒赤電疑弓影
靉靆黃雲想犢車
Quang mang xích điện nghi cung ảnh
Ái đãi hoàng vân tưởng độc xa.
Dịch:
Sáng lòa chớp đỏ ngờ cung ảnh
Mù mịt mây vàng ngỡ xe trâu.

Câu 31

紫極常居雨露申休潭地軸
青雲可躡鈞韶傾耳到天門
Tử cực thường cư, vũ lộ thân hưu đàm địa trục
Thanh vân khả nhiếp, quân thiều khuynh nhĩ đáo thiên môn.
Dịch:
Thường ở cực tía, mưa móc ơn thần thấm khắp đất
Thể cưỡi mây xanh, nhạc thánh lắng nghe tận cửa trời.

Câu 32

曲奏霓裳天上月
人皆絃管陸中仙
Khúc tấu nghê thường Thiên thượng Nguyệt
Nhân giai huyền quản Lục trung Tiên.
Dịch:
Đàn hát cùng người Tiên tại đất
Nghê thường tấu khúc trăng trên trời.

Câu 33

江村絃管多春色
帝座鈞天響廟廷
Giang thôn huyền quản đa xuân sắc
Đế tọa quân thiên hưởng miếu đình.
Dịch:
Thôn xóm sáo đàn khen xuân sắc
Ngôi Đế ngang Trời vọng miếu đình.

Câu 34

告舍人曰吾入相
自天子所我出車
Cốc xá nhân viết ngô nhập tướng
Tự thiên tử sở ngã xuất xa.
Dịch:
Người xã Cốc rằng: Tôi nhập tướng
Thánh từ Trời nói: Ta ra xe.

Câu 35

高棋伯仲張公智
誨奕叨承*上帝仁
*滥也添也
Cao kỳ bá trọng Trương Công trí
Hối dịch thao thừa* Thượng Đế nhân.
* lạm dã thiêm dã
Dịch:
Phép răn nhiều ít lòng Thượng Đế
Cờ cao lớn nhỏ trí Trương Công.

Câu 36

士樂觀光為相為將
象徵大順出馬出車
Sĩ lạc quan quang vi tương vi tướng
Tượng trưng đại thuận xuất mã xuất xa.
Dịch:
Sĩ vui thoáng chỗ vì Tướng vì Vua
Voi bày thế thuận ra Ngựa ra Xe.

Câu 37

世無乾𩴳弓常静
人並張公命可囬
Thế vô Càn Sát cung thường tĩnh
Nhân tận Trương Công mệnh khả hồi.
Dịch:
Đời không Càn Sát cung thường tĩnh
Người đến Trương Công mệnh còn hồi.

Câu 38

亮工德仰金峯峻
福善心如鏡水平
Lượng công đức ngưỡng kim phong tuấn
Phúc thiện tâm như kính thủy bình.
Dịch:
Việc chính đức trông cao ngọn núi
Điều phúc tâm như mặt nước gương.

Câu 39

陟降在帝左右
威福承天聪明
Trắc giáng tại đế tả hữu
Uy phúc thừa thiên thông minh.
Dịch:
Lên xuống bên Vua trái phải
Oai phúc theo Trời sáng trong.

IMG_5090

Bài ký bia đền linh xã Liêu Hạ

IMG_5037

 Cử nhân Bách Sơn Khương Văn Định xã Vĩnh An bái soạn.

Vào năm Long Thụy thứ hai triều Lý có ông Trương Ba là người xã Liêu Hạ, ba đời tu thiện, tính thích uống rượu và chơi cờ rất giỏi, khắp nước không ai thắng nổi. Từ nước Bắc tới có ông Kỵ Như, cũng là một người chơi cờ rất giỏi. Ông Trương vui mừng, tiếp đón kết giao tình, cùng dẫn về nhà, thỏa chí thích tài. Hai ông hiểu rõ huyền cơ của Tạo hóa (Sách báu ở Trì La có Vua Trời nói rằng cờ là sự biến hóa của huyền cơ), lấy sự vui mừng mà bằng lòng. Bảy năm hai ông kết bạn kim lan. Một hôm, ông Trương nói với ông Kỵ Như rằng:
– Chúng ta chơi cờ cao như vậy, ở Hạ giới không ai là đối thủ. Trộm nghe Vua Trời là danh cờ của Thượng giới. Tôi định muốn được lên đường mây, gõ cửa trời, bái cung Vua, nguyện hầu chuyện cùng cho tỏ tường cái duyên tiên đời trước, cho tận cái hào khí thủa nay vậy.
Sau đó mấy hôm, hai ông đang ngồi chơi cờ thì thấy có một ông già thân gầy như cây mai, râu trắng như tuyết, đội nón lá, quần áo thủng lỗ chỗ, hình dung rất kỳ dị, bẩn thỉu. Ông già chống gậy đến thẳng trước nhà, nói:
– Tôi mới về làng, đường xa hiểm trở, xem hai ông đấu cờ, tôi cũng rất hứng thú, muốn được thử một ván.
Kỳ Như mới nhường chiếu để ông già và Trương Ba đấu cờ. Mới được vài nước ông già đã thắng rõ. Ông Trương mới chắp tay mà nói rằng:
– Lão Tiên từ đâu đến đây? Phép cờ tối cao. Xin được biết tính danh, nguyện cầu thầy dạy cho.
Ông già chậm rãi nói:
– Nhà ta chính ở cung trời 33 trên Thượng giới (tức là Đế Thích, tính danh này chỉ có người biết mới hiểu).
Ông Trương và Kỵ Như nghe vậy thất kinh, trong lòng biết là Vua Trời Thượng giới xuống đấu cờ, quả đúng như nguyện ước. Hai ông bẻ mía ngọt, chuối xanh ở trong vườn về dâng lên, dập đầu lạy 5 lạy. Vua Trời lấy từ trong tay áo ra bó hương có ba nén là trầm hương, giáng hương và chân hương tặng cho hai ông mà nói:
– Lúc khác mà gặp nạn thì đốt ngay hương này lên, ta sẽ đến cứu giúp.
Dứt lời không thấy đâu nữa. Hai ông lạy tạ, rồi lấy hương quý cất đi.
Sau này hai ông ốm mất, người nhà mới nhớ đến việc hương thần, liền đem đốt lên. Vua Trời cưỡi mây hạ xuống, gọi Tam phủ công đồng đến tìm hồn hai ông về hồi sinh trên cõi dương. Chữa thuốc không đến một khuê (là thuốc tiên). Lại sửa sổ đen của Nam Tào (người khi sinh thì ghi sổ hồng, khi chết thì ghi sổ đen để tính toán), tăng thêm tuổi hạc thành tiên ông Đông Hải.
Hai ông cảm ơn tái tạo của Vua Trời (trăm ngày đếm một), dựng nên điện thờ ở xã Liêu Hạ theo phương Càn, cùng với xã Liêu Hạ phụng thờ Vua Trời và Tam phủ. Cầu đảo linh ứng như lời. Vạn thế truyền vang tiếng lạ.

IMG_0403Một góc bia Đế Thích điện ở Liêu Hạ.