Sự nghiệp trăm năm

Câu đối ở đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng:
Mẫu phúc thụ tư, miếu mạo Tương linh thiên tải hậu
Nhân sinh ngưỡng chỉ, thần công Đông Hán bách niên tiền

Câu đối này tuy đơn giản nhưng có 2 chỗ cần suy nghĩ. Ở vế đầu có tên riêng “Tương linh” không rõ nghĩa là gì. Ở vế sau có nói tới “bách niên tiền” – “trăm năm trước”. Trăm năm là so với thời điểm nào, tại sao khởi nghĩa Hai Bà Trưng lại kéo dài tới trăm năm?

Chữ “Tương linh” đối với “Đông Hán” rõ ràng là tên riêng, chỉ Hai Bà Trưng. Có thể có mấy cách giải thích:
– “Tương linh” là thần sông Tương, lấy tích Nga Hoàng Nữ Anh mà chỉ Hai Bà. Nga Hoàng Nữ Anh là con của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn mất hai vị vương phi này đã tự vẫn theo chồng ở sông Tương. Còn Hai Bà Trưng khi Thi Sách bị giặc giết thì tự mình phất cờ khởi nghĩa, giành thắng lợi, sau đó khi Mã Viện tấn công chị em đã tự vẫn ở sông Hát. Liên hệ sự so sánh này với câu đối đã trình bày ở bài trước tại đền Hát Môn:
Việt tổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.
Dịch:
Trăm trai tổ Việt, chợt có bậc anh thư tài phục quốc
Đôi gái sơ Đường, có nghe đấng khuê tú tự xưng vua.

– Một khả năng khác: “Tương” là chữ ghi kỵ húy của vua Trưng. Trong đền Hát Môn không thấy chỗ nào có chữ Trưng cả, mà chỉ dùng Tương để chỉ Trưng vương. Ví dụ như trong câu:

Tây Giang tỉ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Dịch:
Ngang dọc Việt vương làm bá chủ thời Đông Hán
Chị em Trưng nữ hoá thần thánh ở sông Tây.
Tây Giang ở đây có lẽ chỉ sông Hát.

Việc chữ Tương dùng ghi kỵ húy cho tên Trưng cho thấy khả năng Hai Bà có họ… Trương. Tương = Trương = Trưng. Trong bách gia tính của người Hoa Việt không hề có họ Trưng nên khả năng Hai Bà mang họ Trương thì hợp lý hơn.

Vấn đề thứ hai về cụm từ “bách niên tiền” phức tạp hơn. Nếu hiểu thông thường “thần công Đông Hán bách niên tiền” có nghĩa là “thần công của nhà Đông Hán trăm năm trước”. Tuy nhiên dịch như vậy thành ra vô lý. Câu đối trong đền thờ Hai Bà Trưng không thể ca ngợi “thần công” của nhà Đông Hán được. Còn “trăm năm trước” thì càng chẳng biết tính trăm năm là từ lúc nào. Câu đối này làm ra vào khoảng thời Nguyễn, từ thời Đông Hán đến thời Nguyễn có cả ngàn năm, làm sao tính có trăm năm được?

Về đối thứ hai cần hiểu như sau:
– “Thần công Đông Hán” không phải là “thần công của nhà Đông Hán” mà là thần công (của Hai Bà Trưng) vào thời Đông Hán.
– “Bách niên tiền” không hiểu là vào trăm năm trước mà là trong vòng trăm năm xưa.
Như vậy vế đối này hiểu là:
Người đời còn ngưỡng mộ, công nghiệp trăm năm thời Đông Hán xưa.

Tới đây thì có vấn đề phải bàn. Theo sử Trưng nữ vương khởi nghĩa thành công, lên ngôi vua năm 40 sau CN. Sau đó chỉ vẹn vẻn có 3 năm,  tới năm 43 Hán Quang Vũ sai Phục Ba Mã Viện sang đàn áp. Vậy “thần công trăm năm” của Hai Bà ở đây là gì?

Thiên Nam ngữ lục có kể chuyện khác với chính sử. Mã Viện đánh nhau long trời lở đất với Hai Bà Trưng, không thắng được, phải giảng hòa, dựng cột đồng ở Man Thành (Quảng Tây). Hai Bà sau đó không may bị nhiễm bệnh mà mất.

Theo chính sử, người kế tục Hai Bà là Đô Dương, đã kháng cự thành công quân Mã Viện ở Cửu Chân. Hàng loạt khởi nghĩa tiếp theo của Chu Đạt, Lương Long, Triệu Thị Trinh cho thấy sự nghiệp khởi đầu từ Hai Bà Trưng đã không chỉ dừng lại có 3 năm, mà đây là một cuộc kháng chiến… trường kỳ, trong suốt thời Đông Hán, tới thời Tam Quốc mới mở ra cục diện khác…

Dịch lại câu đối trên:
Đền miếu nghìn thu, linh thiêng phúc lớn từ Trưng Mẫu
Sự nghiệp trăm năm, ngưỡng mộ người đời thủa Hán Ngô.

Cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra trên bảy quận Hoa Nam thời Đông Hán đã không thất bại. Trái lại khởi nghĩa nối tiếp khởi nghĩa, kéo dài cả trăm năm, làm nhà Đông Hán lung lay tận gốc và sụp đổ, dẫn đến cục diện hai nước của người Bách Việt là Thục và Ngô chống giặc Ngụy.

Nếu gạch “Giang Tây chuyên” là gạch của Tĩnh Hải quân thì “Tây Giang” ở câu đối trên cũng có thể nghĩa là đất Tĩnh Hải. Như vậy sẽ hợp lý hơn vì khó mà trong cùng một vế có tới 2 con sông (Tây Giang và sông Tương).

Văn nhân góp ý:
Bách Việt thân, Tôi đang suy nghĩ, có thể 2 chữ Việt hiện thường dùng lẫn lộn thực ra chỉ 2 khái niệm khác nhau có thể phân biệt rạch ròi:
– Chữ Việt bộ Mễ là chữ Việt Tĩnh dùng chỉ đất nước – quốc gia. (đất thì tĩnh)
– Chữ Việt bộ Qua (tẩu?) là chữ Việt động dùng chỉ dân tộc – dòng giống (người
thì động). Có phân biệt như thế mới có thể lý giải … tại sao lại có tới 2 chữ Việt?

Bà Triệu

Sau khởi nghĩa của Trưng Vương: “Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.”

Chỉ một thời gian ngắn sau cũng tại Cư Phong – Cửu Chân nổ ra khởi nghĩa của Chu Đạt chống lại chính quyền Đông Hán. Chu Đạt chiêu mộ dân binh vây giết chết huyện lệnh, giải phóng toàn bộ quận Cửu Chân rồi tấn công quận trị Tư Phố giết chết thái thú Nghê Thức nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa tập hợp lực lượng có tới 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm.

Điều lạ là cuộc khởi nghĩa Chu Đạt chỉ được sử Trung Quốc ghi lại mà sử Việt không hề nói tới. Ở Cửu Chân, sử Việt chỉ nói tới khởi nghĩa của … Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu.
– Chu hay Châu = Chúa
– Triệu = Chúa.
Chu Đạt chỉ là tên khác của Triệu Quốc Đạt. Đạt hay Đoạt là quẻ Đoài chỉ hướng Tây. Cư Phong là Cả Phong, cũng là vua hướng Tây.

Vua Đông Hán cử đô úy Ngụy Lãng đem quân đàn áp, buộc Chu Đạt phải lui vào Nhật Nam. Tại đây thanh thế nghĩa quân mạnh lên, lực lượng lên tới hàng vạn người.
Như vậy Chu Đạt hay Chúa Đạt cũng chính là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây (Nhật Nam).

Việc xác định Chu Đạt là Triệu Quốc Đạt cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu chống lại giặc Ngô là giặc phương Bắc – Đông Hán chứ không phải nước Đông Ngô của Tôn Quyền. Với sự rút lui của Đô Dương về Cư Phong – Cửu Chân thì có thể thấy khởi nghĩa Chu Đạt – Triệu Quốc Đạt là phần nối tiếp khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Bà Triệu cưỡi voi trắng ra trận là nối tiếp ngai vàng của nước Tượng – Đinh – Tây của Trưng Vương chống lại giặc Ngô – Hán.

DenBaTrieu

Đền thờ Bà Triệu ở Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa

Theo truyền thuyết Việt thì Bà Triệu hy sinh ở núi Tùng (Tượng), Phú Điền – Hậu Lộc – Thanh Hóa. Tại đây có lăng và đền thờ Bà Triệu. Thần tích còn chép Lý Nam Đế khi hành quân qua đây đi dẹp giặc Lâm Ấp được Bà Triệu hiển linh phù trợ. Điều này khá kỳ lạ vì theo sử Việt Lý Nam Đế không hề thân chinh xuống phương Nam mà sai Lý Phục Man / Phạm Tu đi dẹp giặc. Vậy mối liên hệ giữa Bà Triệu là Lý Nam Đế là gì?

Câu đối ở đền thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa:
Phấn tích đương niên, chính khí phôi thai Tiền Lý Đế
Triệu nhân tư thổ, thần cao đối trĩ Nhị Trưng Vương.

Dịch:
Hùng tích năm nào, chính khí dẫn sinh triều Lý Đế
Kính chúa đất nọ, linh thần tương sánh vị Trưng Vương.

Theo sử hiện tại thì khởi nghĩa của Lý Bí nổ ra sau khởi nghĩa Bà Triệu hơn 300 năm, ở Giao Chỉ. Vậy mà khởi nghĩa Bà Triệu ở Cửu Chân lại là “phôi thai Tiền Lý Đế”. Câu đối này cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lý Bí – Lý Phật Tử.

Ở đền Bà Triệu tại Thanh Hóa còn nhắc đến “ba anh em họ Lý” người Bồ Điền, quê ngoại của Bà Triệu (mẹ Bà Triệu họ Lý). Ba anh em Lý Hoằng (Lý Hoàng?), Lý Mỹ, Lý Thành là những người đã tham gia khởi nghĩa với Bà Triệu từ ngày đầu, giúp Bà Triệu lập bảy đồn lũy ở Bồ Điền, chiến đấu cho tới phút cuối cùng. Ba anh em họ Lý được thờ cùng Bà Triệu tại đền ở Hậu Lộc.

Câu đối:
Nhất thốc sùng từ, Na Lĩnh căn cơ kim Tượng Lĩnh
Thiên thu thắng tích, Phú Điền phong cảnh cổ Bồ Điền.
Dịch:
Một nóc đền cao, nền Na Lĩnh nay là Tượng Lĩnh
Nghìn thu dấu tích, cảnh Phú Điền xưa chính Bồ Điền.
Ba anh em họ Lý như vậy là những tướng lĩnh quan trọng trong cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu. Có thế đây chính là anh em Lý Thiên Bảo – Lý Phật Tử, những người làm nên nhà Thục sau này.

Vào thời gian cuối nhà Đông Hán, sử Việt còn nói đến một cuộc khởi nghĩa khá lớn của Lương Long (178-181). Lương Long “lãnh đạo nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán. Lực lượng nghĩa quân lên tới hàng vạn người, liên kết với người Ô Hử (tổ tiên người Tày) ở biên giới Việt-Trung, người Choang ở Quảng Tây, thái thú quận Nam Hải là Khổng Chi nên thanh thế rất mạnh, nổi dậy đánh chiếm được các quận huyện và nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam. Thứ sử Giao Châu là Chu Ngung phải đóng cổng thành cố thủ và xin viện binh. Mùa hè năm 181 Đông Hán vương cử huyện lệnh Lan Lăng là Chu Tuấn mang 5000 quân sang đánh dẹp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.”

Lương Long có lẽ là Lang Lương, tức là vua của người Tày – Nùng (Ô Hử – Choang) ở phía Đông.

Khởi nghĩa Lương Long nổ ra trên một địa bàn rất rộng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Quảng Tây, Nam Hải, không kém gì khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa làm chủ đất nước cũng 4 năm. Khởi nghĩa lớn như vậy mà nhà Hán chỉ cử “huyện lệnh Lan Lăng” Chu Tuấn mang có 5000 nghìn quân thì đánh dẹp làm sao được? Phải chăng Chu Tuấn đây chính “Hữu trung lang tướng Chu Tuấn”, người được cử đi đánh dẹp khởi nghĩa Khăn Vàng? Khởi nghĩa Lương Long là một phần của khởi nghĩa Khăn Vàng?

Phải chăng Lương Long là Dương Đình Nghệ trong sử Việt, người theo sử chép có hàng nghìn con nuôi. Một trong số con nuôi đó là Ngô Quyền. Dương là chỉ phương Đông. Đình Nghệ hay Diên Nghệ có lẽ là một danh hiệu tôn xưng. Dương Diên Nghệ và Lương Long rất cận nghĩa.

Nếu khởi nghĩa của Chu Đạt – Bà Triệu mở đầu cho nhà Thục của Lưu Bị – Lý Phật Tử ở phía Tây thì khởi nghĩa Lương Long ở phía Đông có thể là nguồn gốc nhà Đông Ngô của Tôn Quyền.

Văn nhân góp ý:

Cuộc khởi nghĩa Khăn vàng do bà Trưng bà Triệu lãnh đạo không hề chết yểu mà ngược lại phải nói là Thành công rực rỡ. Sử Tàu có bẻ cong bẻ quẹo cắt đoạn thế nào chăng nữa  người ngày nay vẫn thấy … chí ít thì dòng Bách Việt cũng làm chủ được phương nam (ngày nay) với 2 quốc gia Tây Thục và Đông Ngô. Cái gọi là Thời Tam quốc thực ra chỉ là tập 2 … của cuộc khởi nghĩa Trưng vương mà thôi . Than ôi ! oanh liệt 1 thời nhưng tiếc thay … cơ trời vận nước nên … anh hùng đành ôm hận nghìn thu mà thác xuống tuyền đài. Mãi đến 300 năm sau thì Vũ văn Giác vua nhà Bắc Châu mới lai … học theo Hán – Trung hoa (?Nguyên văn của sách sử Tàu) mà chế triều nghi ???

Đinh và Đường

Đền Hát Môn ở cửa sông Hát, Hà Nội ngày nay, tương truyền là nơi Hai Bà Trưng đã hội thề, phất cờ khởi nghĩa chống lại quân Đông Hán. Thiên Nam ngữ lục còn ghi lại lời thề này:

Một xin rửa sạch thù nhà
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng

DantheHatMon

Đàn thề Hát Môn

Trong đền có câu đối:
Đại nghĩa phục phu thù, do kim Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.

Trong vế thứ nhất có chữ “thời” được ghi bằng chữ “thìn” do kỵ húy vua Thành Thái. Như vậy câu đối này có khoảng vào thời nhà Nguyễn.

Ở câu đối này về Hai Bà Trưng một lần nữa lại thấy xuất hiện triều nhà Đinh, tương tự như trong câu đối tại đền Đồng Nhân (cũng là một câu đối thời Nguyễn):
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.

Trong câu đối nói rõ triều Hoàng Đinh này cách nay “trên mấy nghìn năm”. Vì thế đây không thể là triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng vào thế kỷ 10 được. Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cũng không có liên quan gì tới Hai Bà Trưng cả, nên đưa vào câu đối này không hợp lý.

Triều “Hoàng Đinh” đối lại với nhà “Đông Hán” ở đây rõ ràng chỉ triều đại do vua Trưng lập nên. Ý nghĩa chữ Đinh như đã trình bày ở bài trước có nghĩa là:
Đinh = Tây = Thục.
Đinh là quốc danh của triều đại Trưng Vương còn lưu mãi tới thời Nguyễn.
Còn chữ “Hoàng” liệu có phải trong từ … “Hoàng Cân”, khởi nghĩa Khăn vàng cuối thời Đông Hán?

Dịch câu đối trên:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán một thời, sáu mươi năm thành Lĩnh Nam lâu kế sách
Lạc Hồng mở quốc thống, từ buổi Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm nước Việt lập sử xanh.

Chữ “định thiên thư” đây nên hiểu khác với “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của bài Nam quốc sơn hà. “Thiên thư” hay Kinh thư là cuốn sách ghi chép lịch sử của Trung Hoa cổ đại. “Định thiên thư” đi với “triệu quốc thống” (mở truyền thống quốc gia) thì không phải phận nước do trời định mà chính khởi nghĩa của Hai Bà đã mở ra lịch sử mấy ngàn năm của giống Lạc Hồng.

Một cấu đối khác ở đền Hát Môn cũng không kém phần kỳ bí:
Việt cổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.

Kỳ lạ nhất chính là chữ “Đường sơ song nữ”. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thì liên quan gì đến thời “Sơ Đường” của mấy trăm năm sau?

Để hiểu được câu này cần làm rõ nghĩa từ “Đường”. “Đường” ở đây không phải là nhà Đường từ Lý Uyên. Đúng hơn phải là đất Đường thời Nghiêu Thuấn. Đường với nghĩa là Nam, chỉ Nam Giao thời cổ, nơi Nghiêu Thuấn đã khai phá, mở mang và lập quốc thống.

Chữ “Đường” này có thể là “Thường” trong từ “Việt Thường”, tên gọi nước ta thời cổ sử. Như vậy thời “Đường Sơ” là thời đầu của sử Việt, hoàn toàn phù hợp với khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Cũng có thể hiểu khác. Thời Đường Ngu có hai vị Nga Hoàng và Nữ Anh được đế Nghiêu gả cho Đế Thuấn. Đế Thuấn đi tuần ở phương Nam mất, hai vị vương phi đã khóc lóc thảm thiết và nhảy xuống sông Tương tự tự. Phải chăng câu đối muốn so sánh việc này với khí phách của Hai Bà Trưng, tuy chồng mất (Thi Sách bị giết), nhưng không theo thói khuê nữ thường tình, mà tự dựng cờ khởi nghĩa, lên ngôi vua?

Dịch nghĩa:
Trăm trai tổ Bách Việt, bỗng sinh bậc anh thư có tài phục quốc
Đôi gái thời Đường Ngu, có nghe đấng buồng khuê tự khởi nghiệp vương.

Hai câu đối đền Hát Môn cho hai thông tin liên quan tên gọi nước ta thời cổ. Thứ nhất là “Đinh” với nghĩa là phương Tây, quốc danh thời Trưng Vương. Thứ hai là “Đường” với nghĩa “Nam”, chỉ rõ đất Việt là tiếp nối từ thời Đường Nghiêu Ngu Thuấn khai mở Nam Giao xưa.

Sĩ Nhiếp và Lâm Ấp

Tóm tắt về Sĩ Nhiếp:

“(Vương) Họ Sĩ, tên húy là Nhiếp, tự là Ngạn Uy, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên người Vấn Dương nước Lỗ, hồi loạn Vương Mãng ở Bắc triều, tránh sang ở đất Việt ta, đến vương là sáu đời. Cha là Tứ, thời Hán Hoàn Đế làm Thái thú Nhật Nam. Khi còn ít tuổi, vương du học ở kinh đô nhà Hán, theo học Lưu Tử Kỳ người Dĩnh Xuyên, chuyên trị sách Tả thị Xuân Thu, có làm chú giải: được cử hiếu liêm, bổ làm Thượng thư lang, vì việc công bị miễn chức; hết tang cha, lại được cử mậu tài, bổ làm Huyện lệnh Vu Dương, đổi làm Thái thú Giao Châu, được tước Long Độ Đình hầu, đóng đô ở Liên Lâu (tức là Long Biên). Sau nhà Trần truy phong làm Thiên Cảm Gia Ứng Vũ Đại Vương.”

Nam Giao hoc to

Câu đối ở cổng đền Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á – Thuận Thành – Bắc Ninh:
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì / bỉ hà thì thử hà thì / an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích / trị diệc tiến loạn diệc tiến / tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.

Tạm dịch:
Với tấm lòng trung nghĩa công thần, lúc này cũng như lúc khác, sáu trăm năm đức khoan dung để lại giúp dựng cơ đồ Lâm Ấp.
Nhờ sự nghiệp văn hóa khoa cử cũ, thời bình cũng như thời loạn, bốn mươi thu qui củ chính sách làm rạng tỏ Giao Châu.

Câu đối này có một thông tin rất lạ: đức độ để lại của Sĩ Nhiếp đã giúp cai quản nước Lâm Ấp 600 năm. Phải hiểu việc này thế nào đây? Thái thú Giao Châu Sĩ Nhiếp thì có liên quan gì đến người Lâm Ấp?

Xem lại sử chỉ thấy có Toàn thư, Ngô Sĩ Liên bình về Sĩ Nhiếp:
“Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là “Tiên Sĩ Vương”. Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy”.
Chuyện này thật rối rắm. Người Lâm Ấp vào đào mộ Sĩ Nhiếp, sau đó đền thờ lập tại đó lại ghi “lòng khoan dung của Sĩ Nhiếp giúp Lâm Ấp tồn tại 600 năm”.

Theo chính sử Lâm Ấp lập quốc từ Khu Liên vào khoảng năm 137-138 (hoặc 187-190). Sau đó họ bên ngoại của Khu Liên là họ Phạm kế nghiệp. Họ Phạm trị vì Lâm Ấp tới năm 757, tiếp theo là thời gian của Hoàn Vương. Như vậy Lâm Ấp là quốc gia đã tồn tại khoảng 600 năm, cai trị bởi Khu Liên và họ Phạm.

Vài dòng từ thông tin của gia tộc họ Phạm:
“Theo “Lộ Sử” và “Nguyên Hà Tính Toản”, Lưu Ly thuộc dòng họ Đường Đế Nghiêu lập ra nước Đường Đỗ Thị (nay ở tỉnh Sơn Tây,TQ). Vào cuối đời Tây Chu,TQ. Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo bị Tuyên Vương giết. Con là Đỗ Thấp Thúc trốn sang nước Tấn. Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung lập miếu thờ gọi là “Miếu Đỗ Chủ” cũng gọi là “Hữu Tướng Quân Miếu”.
Thấp Thúc trốn sang nước Tấn làm quan Sĩ Sư nên đổi từ họ Đỗ ra họ Sĩ (đó là vào thời vua Chu U Vương 781-771 TCN).
Đến đời chắt của Thấp Thúc là Sĩ Hội (Sĩ Hội là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn). Ông có công dẹp những nước thuộc giống Xích Địch nên được vua nhà Chu phẩm phục chức Thượng đại khanh lại kiêm chức Thái phó và được phong ở đất Phạm, nên lại đổi ra họ Phạm. Sĩ Hội là ông tổ của họ Phạm ở Trung Quốc người đời thường gọi ông là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang cháu là Phạm Phường (đó là vào thời vua Chu Định Vương 607-571 TCN).
Vào những thời gian sau đó quyền lực nước Tấn rơi vào tay một số họ, các họ tiêu diệt lẫn nhau để tranh dành quyền lực cuối cùng nước Tấn bị ba họ Hàn-Triệu-Ngụy chia làm ba nước, các sử gia gọi là Tam Tấn.
Khi đó, họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Ngụy và họ Hàn đánh họ Phạm và họ Trung. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải chạy đến Triều Ca (kinh đô nhà Thương) cố thủ. Triều Ca vỡ những người con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề. Từ đó con cháu họ Phạm lưu lạc khắp mọi nơi.

Tức là Sĩ Nhiếp có thể mang họ Phạm. Đây là thông tin mang tính quyết định cho phép suy đoán:
–    Chữ “nhiếp” trong câu đối trên cho thấy thực ra tên Sĩ Nhiếp chỉ là một danh hiệu với nghĩa kẻ sĩ nhiếp chính, rất phù hợp với ghi chép về công trạng của Sĩ Nhiếp gồm góp phần giáo hóa Nho học và an trị Giao Châu trong 40 năm đầu thời Tam Quốc. Sĩ Nhiếp không phải là họ Sĩ.
–    Sĩ Nhiếp mang họ Phạm, chính là tiền nhân của các vị vua Lâm Ấp họ Phạm sau này. Việc người Lâm Ấp ra Luy Lâu đào mồ Sĩ Nhiếp 160 năm sau thực ra là họ đi tìm mồ mả tổ tiên, “bốc mộ” cha ông và lập đền thờ. Người ngoài không hiểu chuyện nên “tục truyền” là người Lâm Ấp thấy sợ mà lấp mộ lại.

Xem lại con đường sự nghiệp của Sĩ Nhiếp được chép trong Toàn thư:
“Đinh Mão, năm thứ 1 [187], (Hán Trung Bình năm thứ 4). Vương có ba em trai tên là Nhất, Vĩ và Vũ. Bấy giờ Thứ sử Chu Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương bèn dâng biểu cử Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vĩ làm Thái thú Cửu Chân, Vũ làm Thái thú Nam Hải. Vương độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người.”

Thời điểm anh em Sĩ Nhiếp làm thái thú các châu cũng chính năm “giặc Di” Lâm Ấp giết thứ sử Chu Phù và là năm Khu Liên lập nước Lâm Ấp. Nước Lâm Ấp theo cách hiểu ngày nay là vốn là huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, nổi dậy giết thứ sử Giao Chỉ bộ. Ấy vậy mà trong lúc thứ sử Giao Chỉ bộ bị giết thì thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp lại vẫn sống đoàng hoàng, thậm chí còn đang lo dạy học và được người địa phương kính trọng.

Giải thích làm sao đây khi cả bộ Giao Chỉ bị người Lâm Ấp tấn công, giết thứ sử mà anh em nhà họ Sĩ lại “an trị” được vùng này? Thậm chí danh sĩ các nơi còn kéo về tụ họp như chưa hề có chuyện Lâm Ấp đánh giết thứ sử. Chỉ có thể hiểu được nếu anh em nhà họ Sĩ đã “thông đồng” với người Lâm Ấp, hoặc chính anh em Sĩ Nhiếp là người Lâm Ấp đã nổi dậy chiếm các quận ở Giao Chỉ năm 187.

Câu đối khác ở cổng đền Sĩ Nhiếp:
Huynh đệ liệt quận hùng phong trì Ngụy Ngô khởi uy trị gia dĩ đặc sắc
Thi thư giáo nhân hóa lý bổ Nhâm Tích dẫn văn minh phái ư tiên hà.
Tạm dịch:
Hùng khí anh em trị yên các quận vang xa tới Tào Ngụy Đông Ngô, đặc sắc uy nghiêm cai quản
Giáo hóa nhân lý bởi sách văn bổ sung cho Nhâm Diên Tích Quang, dẫn đầu văn minh chính phái.

Anh em Sĩ Nhiếp đã “dàn xếp các quận” của Giao Chỉ bộ một cách ổn thỏa, tiếng tốt bay xa tới tận Ngụy, Ngô. Thời Tam quốc có 3 nước Ngụy, Ngô và Thục. Nước Thục nằm ngay sát Giao Chỉ bộ. Vậy mà tiếng lành của anh em Sĩ Nhiếp chỉ bay tới Ngô và Ngụy thôi là làm sao? Tất cả sử sách ghi về giai đoạn này của Sĩ Nhiếp chẳng có tí nào nói đến nước Thục cả.

Lâm Ấp hiện nay cho là được chép là từ tên “huyện” Tượng Lâm mà ra. Làm gì có chuyện khởi nghĩa cấp huyện ở miền Trung mà đánh ra tận ngoài Bắc giết được thứ sử. Tượng Lâm phải là cấp quận, chắc trong đó có phần “Tượng” là quận lập ra dưới thời nhà Tần. Tượng Quận thì không thể ở miền Trung được mà chí ít cũng phải ở miền Bắc Việt hoặc ở vùng Quí Châu (tức Cửu Chân xưa).

Huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam… Có lẽ Lâm=Nam. Tượng Lâm là Tượng Quận và Nhật Nam, hay Cửu Chân và Nhật Nam là 2 quận lớn trong Giao Chỉ bộ. Nếu Cửu Chân ở Quí Châu thì Nhật Nam chắc phải là Quảng Tây ngày nay. Nhật Nam là nơi Sĩ Tứ, cha Sĩ Nhiếp làm thái thú.

Với cái nhìn như vậy có thể thấy:
– Anh em họ Sĩ thực ra là những người tham gia khởi nghĩa của Khu Liên ở Tượng Lâm = Cửu Chân + Nhật Nam. Sau khi Khu Liên mất họ bên ngoại Khu Liên là họ Phạm, tức là họ hàng nhà Sĩ Nhiếp, lên thay, duy trì Lâm Ấp trong 600 năm.
– Khởi nghĩa Khu Liên ở Quí Châu (Cửu Chân), Quảng Tây (Nhật Nam), sau đó là cả Ích Châu (nơi Sĩ Nhiếp đã thuyết phục bọn Ung Khải hàng nhà Ngô) là phạm vi của … nhà Thục Hán Lưu Bị. Như vậy Sĩ Nhiếp thực ra đã là thuộc nước Thục. Như trên, câu đối cho thấy Sĩ Nhiếp là tổ tiên họ Phạm của Lâm Ấp. Anh em ông ta đã tham gia vào khởi nghĩa của Khu Liên khi lập quốc Lâm Ấp và đóng một vai trò không nhỏ trong khởi nghĩa này ở Giao Châu. Chính vì Sĩ Nhiếp đã thuộc nhà Thục nên ” liệt quận hùng phong” của anh em Sĩ Nhiếp mới chỉ bay xa đến “Ngụy Ngô” mà thôi.

Huu cong nho giao

Lại một lần nữa xem lại thông tin từ gia phả họ Phạm:
“Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm
ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay.

Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ
Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An, diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương,
tức Mai Hắc đế (766).

Thấy xứ Lâm ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội của Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) , còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh.”

Như vậy Lâm Ấp thành lập bắt đầu từ họ Lý: Khu Liên = Lý Khu Kiên = Lưu Bị. Lưu Bị sau khi tiến lên phía Bắc đã lập nên nhà Tây Thục. Anh em Sĩ Nhiếp là những người đã tham gia khởi nghĩa của
Lưu Bị trên khu vực các quận của Giao Chỉ bộ và sau khi giết thứ sử Chu Phù đã cai quản các vùng này. Khi Ngụy diệt nhà Thục của họ Lý, chỉ thâu tóm được phần phía Bắc. Phần phía Tây Nam (vùng Tây Bắc và Lào ngày nay) vẫn do Man Vương Mạnh Hoạch “tự trị” và phần Nam (Giao Châu) do họ Phạm của Sĩ Vương “nhiếp chính” vẫn tồn tại độc lập. “Lâm Ấp sử” ghi lại sự kiện này là cuộc tấn công của nhà Ngô đánh dẹp khởi nghĩa của Bà Triệu và “nhân thể” chiếm phần phía Bắc của Lâm Ấp. Nhà Ngô không phải là Đông Ngô của Tôn Quyền mà là giặc Ngô hay giặc phương Bắc nói
chung. Ở đây chính là giặc Ngụy – Tấn chiếm phần phía Bắc của Khu Liên.

Nhà Thục của họ Lý mất, họ Phạm lên ngôi ở phần Nam – Lâm Ấp này. Nước Lâm Ấp tiếp tục tồn tại thêm 500 năm nữa. Không ít lần họ Phạm đã tấn công ra Bắc, đòi lại vùng đất của tổ tiên mình (Sĩ Nhiếp). Điển hình là chuyện Phạm Dương Mại đề nghị vua Nam Tống cho cai quản Giao Châu:

“Nhâm Thân, [432], (Tống Nguyên Gia năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 5, vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống, xin lĩnh Giao Châu. Vua Tống xuống chiếu trả lời vì đường xa không cho.”

Nếu không phải tổ tiên họ Phạm đã từng cai quản Giao Châu thì đề nghị trên của Phạm Dương Mại là quá vô lý. Cái lý ở đây chính là Sĩ Nhiếp, thái thú Giao Châu, là người họ Phạm, nên Lâm Ấp mới thường xuyên muốn lập lại quyền lực của mình ở Giao Châu.

Năm 605 nhà Tùy đột kích tiêu diệt Lâm Ấp của họ Phạm, buộc họ Phạm phải lui sâu hơn về phía Nam. Sử ta ghi lại cuộc chiến chống Tùy này là của Lý Phật Tử và con trai là Nhã Lang đã đụng độ với quân Tùy giữ thành Ô Diên.

Cho đến tận cuối thời kỳ Lâm Ấp, họ Phạm vẫn tiếp tục đấu tranh cùng với Mai Thúc Loan và Phùng Hưng để “Bắc tiến”. Phạm Thị Uyển là hoàng hậu của Mai Thúc Loan đã cầu đầu cánh quân chống giữ với nhà Đường ở La Thành và mất bên sông Tô Lịch. Mấy người em của bà là Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng (thần tích đình Hòa Mục). Điều này cho thấy vai trò của họ Phạm xuyên suốt từ thời Sĩ Nhiếp sang Lâm Ấp tới Nam Chiếu (Phùng Hưng).

Có thể nước Lâm Ấp của họ Phạm và nước của Hoàn Vương, rồi Chiêm Thành sau này là hai nước khác nhau. Lâm Ấp là quốc gia của người Kinh (họ Phạm) rất rõ ràng. Hoàn Vương, Chiêm Thành là người Chăm, có từ thời Sa Huỳnh. Lâm Ấp là một phần của nước Thục thời Tam quốc. Biên giới phía Nam quãng khoảng dãy Hoành Sơn (Quảng Bình). Còn Chiêm Thành thì ở xa hơn nhiều về phía Nam, qua đèo Hải Vân.

Lang Si Nhiep

Chữ trên Lăng Sĩ Nhiếp

Chữ trên lăng ghi rõ “Lăng Sĩ Nhiếp”. Vậy mà các sách ngày nay đều chép là Sĩ Tiếp.

Vị “Nam giao học tổ” Sĩ Nhiếp như vậy thực sự là một người Việt, có công lao rất lớn đối với lịch sử Giao Châu nói riêng và Việt Nam nói chung. Thật đáng buồn là với cách nhìn nhận như hiện nay, Triệu Vũ Đế, rồi Sĩ Nhiếp, Cao Biền đều bị gán mác “Tàu” vào. Đền miếu của họ bị bỏ trơ trọi. Người Việt lúc nào mới biết nhìn lại đúng gốc gác tổ tiên của mình?

Năm rồng đọc về thủy tổ Kinh Dương Vương

Tục truyền rằng: “Họ Hồng Bàng làm vua nước ta đầu tiên. Tương truyền Đế Minh là con vua Thần Nông, gọi vua Phục Hy là bác, cháu nội Toại Nhân, chắt bốn đời ông Bàn Cổ. Đế Minh đã có vợ và sinh ra Đế Nghi, song khi đi tuần thú miền Ngũ Lĩnh lại lấy công chúa Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Rục. Lớn lên Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục thành lập bộ tộc Dâu, đóng lỵ sở ở Liên Lâu (Luy Lâu), đặt quốc hiệu là Việt Thường, xưng là Kinh Dương Vương, lấy con gái Động Đình Quân mà sinh ra Sùng Lãm…”
“Đó là nội dung học vẹt thầy giáo hương sư lúc còn bé của người làm sách…”
(Theo sách Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương, Trần Quốc Thịnh).

Những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác, từ thầy giáo làng cho đám trẻ học chữ Nho xưa đều nói tới Thần Nông, Phục Hy, Toại Nhân, Bàn Cổ là những vị tổ tiên của người Việt. Những vị thần thời thái cổ của Trung Hoa có thể là tiền nhân người Việt được không?

DenALu

Đền Á Lữ

Tại làng Á Lữ, huyện Thuận Thành – Bắc Ninh nay vẫn còn lăng mộ và đền thờ vị thủy tổ Kinh Dương Vương. Tương truyền lăng và đền này đã có từ rất lâu, tới thời vua Minh Mạng được sắc phong thêm và phục dựng lại với nhiều hoành phi câu đối cổ. Minh Mạng quả là một vị vua có tâm chí lớn, có ý khẳng định lại nguồn gốc “Hồng Lạc đế quốc” của người Việt.

Câu đối ở chính điện thờ Kinh Dương Vương:

Thái cực nhất nguyên thiên địa thủy
Viêm Giao Bàn Cổ đế vương tiên.
Liên hệ với câu mở đầu trong Thiên Nam ngữ lục:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời dưới đất giữa hòa nhân gian.

Câu đối này nói lên quan niệm của người Việt, trời đất sinh ra từ thái cực cùng một lúc với con người (Bàn Cổ). Lịch sử người Việt bắt đầu cùng thiên địa.
Dịch nghĩa:
Bàn Cổ Viêm Giao vị tiên vương đế
Một khối Thái Cực khởi mở đất trời.

Tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” thật lạ. Thì ra ông Bàn Cổ, thủy tổ Trung Hoa, là người Việt, sinh ra cùng trời đất tại vùng Viêm Giao hay Viêm Bang Giao Chỉ. Vùng đất khai thiên lập địa của Trung Hoa chính là ở Giao Chỉ.

Một câu đối ở bàn thờ Âu Cơ trong đền Á Lữ:
Lưỡng nghi khai sơn hậu quân Viêm Giao Bàn Cổ
Bách đại lai tư cung đồng bản ấp phúc thần.
Cụm tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” như vậy là một cụm từ ổn định, chỉ rõ ông Bàn Cổ là người đất Viêm Giao. Cụm từ “Lưỡng nghi khai sơn” muốn nói tới việc Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Từ một “Thái Cực” của Viêm Giao Bàn Cổ người Việt chia làm 2 ngả Bắc và Nam, từ đó mở ra trăm mối Bách Việt, lập ấp, lập thần.
Dịch nghĩa câu trên:
Hai ngôi mở nước, bậc quân vương con cháu Bàn Cổ Viêm Giao
Trăm trai phân tách, những phúc thần tôn kính chung của bản làng.

Hoành phi “Thần truyền thánh kế” được thấy ở cả nơi thờ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân trong đền Á Lữ. Để hiểu hoàng phi này cần liên hệ với câu đối sau ở đền Hùng – Phú Thọ:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương thần truyền thánh kế
Đĩnh Bách Nam khai Bách Việt tổ thiện tôn bồi.
Phải
chăng “Tam Vương” ở đây là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng
Vương? Thần Kinh Dương đã truyền ngôi cho thánh Lạc Long. Thánh Lạc Long
lại truyền tiếp cho Hùng Vương.

LangKinhDuongVuong

Lăng Kinh Dương Vương

Câu đối ở Lăng Kinh Dương Vương bên bờ sông Đuống:
Lập thạch kỷ công Nam thánh tổ
Phong phần tố phẫn Bắc thần tôn.
Câu này tương tự như câu đối ở đền Hùng – Phú Thọ:
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn.
Bắc thần tôn” với nghĩa theo mặt chữ là “con cháu thần phương Bắc”. “Thần phương Bắc” ở đây phải chăng là Viêm Đế Thần Nông?
Dịch nghĩa:
Lập bia ghi công thánh tổ phương Nam
Phong đất cho con cháu thần phương Bắc.

Theo Ngọc phả đền Bình Ngô (An Bình – Thuận Thành – Bắc Ninh): “Kinh
Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất, hiệu là Hùng Lộc Tục, lên ngôi năm
2879 trước công nguyên. Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ hai, hiệu là
Hùng Hiền Vương. Hùng Vương thứ 18 hiệu là Hùng Duệ Vương, mất ngôi năm
259 trước công nguyên. Mỗi hiệu Hùng Vương lại truyền ngôi vài đời, có
khi dài mấy trăm năm
.”

Ngày giỗ Kinh Dương Vương tại Á Lữ là ngày 18/1 âm lịch, là lúc ngài đi vào cõi Vĩnh Thiên (Vĩnh hằng thiên thu). Số 18 cũng như 18 đời Hùng Vương có nghĩa là trùng cửu, trường cửu hay Vĩnh cửu. Tháng 1 là tháng Giêng = Dương. 18/1 là lúc Kinh Dương Vương đi vào cõi Vĩnh Thiên.

Amtunguyen

Ở cổng đền Á Lữ đề:
Ẩm tư nguyên
Câu này cũng gặp ở hoành phi tại đền Hùng – Phú Thọ.

Liên hệ với câu đối ở bên cổng đền:
Quốc triệu hòa bình tư thủy tổ
Dân di? mỹ tục niệm Hồng nguyên.

Thông thường thành ngữ dùng “âm thủy tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn). Ở đây hoành phi đã bỏ đi chữ “thủy” có lẽ muốn nói cái gốc phải nhớ đây không phải là “hà” hay “thủy” mà là “Hồng nguyên”, là cái khởi đầu thủa Hồng hoa Viêm Giao Bàn Cổ.
Dịch nghĩa:
Vận nước bình yên nhớ thủy tổ
Mỹ tục nhân dân tự Lạc Hồng.

Cũng ở chính giữa cổng đền Á Lữ có câu:
Khải ngã Nam Bang Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển đinh Phúc Khang Nguyệt ? nhất đái thọ tân từ
Câu này gần với câu ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây Thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ.
Trong vế thứ hai ở đền Á Lữ dùng chữ “đinh”, còn ở đền Hùng nhiều người đọc là “vu”, tuy nhiên trên thực tế ở đền Hùng có lẽ cũng là chữ “đinh” (theo sách 5000 hoành phi câu đối  Việt Nam). “Đinh” với nghĩa là chắc chắn, rõ ràng.
Dịch nghĩa:
Mở đầu từ ngả Nam Bang, Hồng Lạc nghìn năm là nước lớn
Hiển hiện ở Phúc Khang, sông Nguyệt một dải vững đền nay.
“Phúc Khang”, sông Nguyệt có lẽ là chỉ vùng đất quanh Á Lữ và sông Đuống.

Những câu đối này thật mang một hào khí Lạc Hồng, từ nghìn năm xưa đã là “đế quốc”. Có lẽ những câu này được viết dưới thời Minh Mạng, khi nước Đại Nam lúc đó thực sự là một đế quốc sau khi thống nhất Bắc Nam Đông Tây gồm cả Chiêm, Lào, Chân Lạp, đúc cửu đỉnh ở Huế.

Trên ban thờ mẹ Âu Cơ có hoành phi cổ (từ thời Minh Mạng): “Bách Việt tổ”. Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nên là tổ của Bách Việt.

Câu đối hai bên ban thờ Âu Cơ:
Tương truyền Lĩnh động tiên sinh thánh
Tòng thử Viêm phương quốc hữu quân.
Dịch nghĩa:
Động Lĩnh tương truyền mẹ tiên sinh con thánh
Phương Viêm từ đó nước nhà có đế vương.

Câu đối khác ở ban thờ Âu Cơ:
Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
Câu này gần với câu ở ban thờ Kinh Dương Vương:
Nam cực hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Bắc phương đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
“Hà Lạc” ở đây chính là chỉ “trời đất”, chứ không phải dịch “vui vẻ”, “hòa khí”.

Các
câu đối thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ dùng cùng một hình thức vì vốn dĩ ba vị này được thờ ở 2 đền khác nhau tại Á Lữ. Sau đó đền Lạc Long Quân – Âu Cơ bị phá, mới di rời thờ chung trong đền Kinh Dương Vương thành đền Tam vị thánh tổ.

Dịch nghĩa câu ở ban thờ Âu Cơ:
Vương đồ Việt Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền Hồng Bàng, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.
Dịch nghĩa câu ở ban thờ Kinh Dương Vương
Vương đồ miền Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền phương Bắc, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.

Kinh Dương Vương là vị thủy tổ khai sử của người Việt. Mối liên hệ Viêm Giao Bàn Cổ – Kinh Dương Vương – Bách Việt cho thấy thực chất Trung Hoa cổ đại chính là lịch sử của người Việt.

Long Hưng, Long Châu

Đình làng Xuân Quan cũng là đền thờ Triệu Vũ Đế, có tên là Long Hưng Điện, nằm ở xã Xuân Quan, Hưng Yên, sát với làng Bát Tràng Hà Nội, cạnh bờ sông Hồng.

LongHungDien

Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dựa vào các tư liệu cũ (Bắc Ninh tự miếu bi văn, Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí, Bắc Thành địa dư chí lục, Đại Nam nhất thống chí) chép sự tích đền như sau:
Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy. Đến đời Hán được phong làm Nam Việt Vương. Triệu Đà cho con cầu hôn nhà Thục để lấy bí mật nỏ thần, nhân đó diệt nhà Thục lập ra nhà Triệu. Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ.”

Đọc thần tích trên ta chợt liên hệ với thông tin trong Thiên Nam ngữ lục:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Có thể thấy khả năng tên thành Thăng Long là do Triệu Đà đã đặt cho vùng đất quanh Hà Nội ngày nay, với trung tâm ở khu vực ven sông Hồng thuộc Gia Lâm – Văn Giang. Tại đây hiện vẫn còn xã Long Hưng của huyện Văn Giang, trùng tên với hành cung xưa của Triệu Vũ Đế.

Khi so sánh 2 tư liệu trên có thể thấy Long Hưng là tên gọi tương ứng với Thăng Long. Đây cũng là giải thích tại sao lại có sự lẫn lộn về truyền thuyết đặt tên thành Thăng Long giữa Triệu Đà và Lý Công Uẩn. Cả 2 vị vua đều xuất phát từ Phiên Ngung – Quảng Đông, tiến đánh lấy Giao Chỉ. Và quan trọng hơn, Lý Công Uẩn (Lưu Cung) là một “Long Hưng”, hay Lang Hưng, là vua của nước Đại Hưng như tên nước ghi trên đồng tiền Đại Hưng bình bảo hay trong Thiên Nam ngữ lục:

“Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng quốc đề phong trong ngoài”

Cũng trong thần tích trên cho biết Triệu Đà ban đầu là quan lệnh huyện Long Châu. Long Châu chứ không phải Long Xuyên như chính sử hiện nay đang chép. Một số tư liệu khác cũng ghi như vậy. Sách Thất tộc thổ ty ở Lạng Sơn, tác giả Lã Văn Lô có phần về gia phả họ Vi, liên quan tới Triệu Đà:
Xét gia phả họ Vi, nguyên tổ tiên là họ Hàn tên là Nhân, dòng dõi của Hoài Âm hầu Hàn Tín. Lã Hậu nghi Hàn Tín mật thông với Trần Hy làm phản, nên cùng lập mưu với Tiêu Hà diệt trừ Hàn Tín (Khoảng năm 110 trước CN ). Lúc bấy giờ một người thiếp của Hàn Tín có thai, Tiêu Hà mật gửi cho Triệu úy Đà ở Lĩnh Nam nhận nuôi. Đà làm Long châu lệnh (Long châu nguyên là đất Việt ta, thời Tần Vua sai Triệu Đà theo Nhâm Thao sang chia cai trị , đất ấy đến bây giờ thuộc Hán), nuôi nhận (tức là con người thiếp của Hàn Tín) rất chu đáo. Khi Nhân trưởng thành, giúp Đà làm việc, Đà chia đất cho từ Thượng Thạch trở đi, lấy phía Đông làm giới hạn. Đà sai Nhân bỏ nửa chữ Hàn đi trở thành họ Vi từ đó (để tránh chu di Tam tộc). Từ khi Nhân ở đất Long châu, từ Thượng Thạch về phía Đông, Cổ Lân, Tư lãng về phía Bắc đều giao cho Nhân quản trị. Đến lúc họ Triệu suy, Nhân chiếm ức đất Long châu, sai con thứ chín là VI TIẾT NGHIÊM, giúp cai trị. Sau Nghiêm kiêu ngạo làm bậy bị Hồ giết chết (Hồ là cháu Triệu Đà, con Trọng Thủy lấy Mỵ nương nước Việt sinh ra). Họ hàng con cháu lánh nạn về đất Nhật Nam, trở thành một dòng họ quý tộc ở đất này.
(Nguồn Diễn đàn lý học phương đông)

Triệu Đà theo như tất cả những sự kiện ghi lại rõ ràng là một viên quan lớn, có quan hệ trực tiếp với các đại thần triều đình của Lưu Bang (Tiêu Hà, Hàn Tín). Vì thế ông ta không thể là một huyện lệnh nhỏ nhoi mà phải là quan úy đất Long Châu. Long Châu là một quận lớn, nơi Hàn Nhân, con của Hoài Âm hầu Hàn Tín, còn được Triệu Đà chia đất mà cai trị.

Các tư liệu trên đều nhấn mạnh đất Long Châu của Triệu Đà thuộc đất Việt xưa. Long Châu ngày nay là tên một huyện của Quảng Tây, nằm giáp với Cao Bằng và Lạng Sơn của Việt Nam. Với chuỗi liên hệ Long Châu – Long Xuyên – Long Xoang – Long Choang, rất có khả năng Long Châu xưa là cả vùng Quảng Tây, vùng đất của người Choang. Thêm nữa, nếu Quí Châu hay Kỳ Chu chỉ đất gốc của nhà Tây Châu thì Long Châu có thể chính là đất của Đông Châu xưa, là quận Tam Xuyên thời Tần như Tư Mã Thiên đã chép. Vết tích của 2 nhà Châu rất rõ ràng ở vùng Tây Nam Trung Hoa này.

Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái chép về thần Xương Cuồng: “… biên giới tây nam giáp liền với nước Mi Hầu, vua Hùng Vương sai dân man Bà Lô (nay là phủ Diễn Châu) hàng năm bắt giống người lão tử sống ở khe núi tới tiến, không thể thay đổi được lệ ấy. Kíp tới khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh ở Long Xuyên, muốn bỏ tệ ấy đi. Thần Xương Cuồng tức giận vật chết Hiêu, vì thế về sau lại phải phụng thờ cẩn thận.

Truyện này một lần nữa khẳng định Long Xuyên nằm trên đất Việt cổ, nơi mà thần Xương Cuồng của nước Việt có thể “vật chết” Nhâm Hiêu. Điều lạ nữa là truyện trên nói Nhâm Hiêu, chứ không phải Triệu Đà, là quan ở Long Xuyên. Liệu Nhâm Hiêu và Triệu Đà có phải là một không?

Một liên hệ khác:
Triệu Đà -> Triệu Đầu (trong từ “đầu đà”?) -> Triệu Một -> Triệu Mạt (tên trên lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Đông).
Triệu Đà như vậy có thể là danh xưng của vị vua đầu tiên của triều Nam Việt.

TrieuVuDe-1

Tượng Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng

Lịch sử về Triệu Vũ Đế có thể nhìn nhận lại như sau. Nhâm Hiêu là quan úy của quận Long Châu  hay quận Tam Xuyên, là đất của nhà Đông Châu (gồm Quảng Tây, Giao Chỉ) dưới thời Tây Hán. Sau khi Lữ Hậu mất đã chiếm thêm quận Nam Hải và một số quận khác ở Hoa Nam, lập nước Nam Việt, xưng là Triệu Đà hay Triệu Đầu, Triệu Mạt. Cũng chính Triệu Vũ Đế là người đã đặt tên Thăng Long / Long Hưng cho vùng đất ven sông Hồng Hà Nội cách đây trên 2000 năm.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư Lý Thái Tổ năm 1014 đã đổi phủ Ứng Thiên thành Nam Kinh, tức là đã đổi tên Thăng Long chỉ ven vẹn có 4 năm sau khi đặt tên này cho thành Đại La. Thật khó hiểu hành động này vì như vậy thì là đã thay đổi cả ý nghĩa của việc đặt tên Thăng Long khi mở đầu triều Lý, cũng như tên Nam Kinh tạo ra câu hỏi vậy “Bắc Kinh” là nơi nào?
Có khả năng Thăng Long là tên do Triệu Đà đặt cho vùng đất ven sông Hồng (Long Biên) từ trước đó. Sử Việt đã lẫn lộn khi chép việc đổi tên Nam Kinh của Lý Thái Tổ với việc đặt tên Thăng Long của Triệu Đà. Lý Thái Tổ đặt tên Nam Kinh bởi vì kinh đô phía Bắc trước đó chính là Phiên Ngung. Tên Nam Kinh là muốn khẳng định sự tự chủ của phần Việt Nam trong Đại Việt (gồm Việt Đông, Việt Tây và Việt Nam) sau khi triều đình Phiên Ngung đầu hàng Tống.

Khổng Minh bắt Mạnh Hoạch ở đâu?

Câu chuyện Khổng Minh bảy lần bắt Mạnh Hoạch có lẽ ai cũng biết từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Nhưng cuộc chiến với Man Vương Mạnh Hoạch này đã xảy ra ở đâu? Hiện nay người ta chỉ dựa vào truyện Tam quốc diễn nghĩa mà … suy đoán, Mạnh Hoạch cầm đầu người Man, quấy rối nhà Thục Hán ở phía Nam, thì là vùng Vân Nam, Trung Quốc.
Tuy nhiên, ở Việt Nam lại có ghi chép hoàn toàn khác về một cuộc đụng độ khá dài giữa Mạnh Hoạch và các vị quan đô hộ từ thời Đông Hán. Thần tích xã Hương Ngải, Thạch Thất, Hà Nội ghi rất tỷ mỉ chuyện này, tóm tắt như sau:
Thời Hán Hiến Đế có ba anh em họ Chu là Chu Tuấn, Chu Hùng và Chu Kiệt, người ở Ba Trung (Ba Thục?). Khi họ ra làm quan cho nhà Đông Hán thì đổi tên thành Chu Cẩn, Chu Khiêm và Chu Đàm. Ba vị này được Hán Hiến Đế cử sang nước Việt để … chống Mạnh Hoạch vì khi đó “Tôn Quyền giận việc Lưu Bị cướp mất Kinh Châu liền bàn mưu với Mạnh Hoạch của nước Việt ta làm phản lại nhà Hán”. Khi 3 vị đến vùng Sơn Tây thì được tin “quan Chánh đô hộ cũ đã bị Mạnh Hoạch giết chết”. Ba vị liền đóng quân, chia nhau ở 3 trang ấp. Chu Cẩn đóng ở trang Cẩm Bào, nhận cháu của Sĩ Nhiếp, con Sĩ Cung, là Sĩ Năng làm Đệ nhất mưu sĩ, “đánh nhau với Mạnh Hoạch ở các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa”. Ba vị còn lập nhiều tuyến phòng thủ dọc từ Cẩm Bào tới Ái Châu.
Khi Tào Tháo soán ngôi nhà Hán, Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương, có cử “sứ giả nhà Hán đeo đai vàng” đến gặp, “phong cho ngài Cẩn làm Chánh đô hộ, ngài Khiêm và ngài Đàm cùng làm Phó đô hộ, để cùng giữ đất Nam Việt”.
Được một thời gian Chu Cẩn ốm mất. “Mạnh Hoạch sai người theo đường tắt từ Ái Châu men theo hai bờ sông tiến ra”. Chu Khiêm, Chu Đàm chống trả Mạnh Hoạch, bị thua và chết trận. Phải đợi đến khi Gia Cát Khổng Minh dẫn quân Nam chinh mới thu phục được Mạnh Hoạch…
Thần tích này hiện còn lưu tại đình làng Hương Ngải (Đình Giang). Hương Ngải là một xã có tiếng là hiếu học, nhiều người đỗ đạt và còn lưu nhiều nét văn hóa cổ như những chợ phiên chỉ bán một thứ đồ (lá dong, cá, gà, …) mỗi năm. Trong xã có đền thờ Tam Vị họ Chu, nay gọi là Quán Hương Ngải. Cổng đền có câu đối:
Vạn lý hồng quang y Hán nhật
Ức thu hạo khí phổ Nam thiên.
Dịch:
Vạn dặm ánh hồng theo triều Hán
Nghìn thu hào khí phủ trời Nam.

Dentamvi

Quán Hương Ngải.

Theo tư liệu này thì Mạnh Hoạch đã tấn công Giao Châu, giết quan đô hộ từ thời Đông Hán, khi cả Tôn Quyền lẫn Lưu Bị còn chưa làm chủ được Giao Châu. Vùng đất của Mạnh Hoạch có thể xác định khá rõ theo thần tích, là vùng giáp với “Tuyên Quang, Hưng Hóa” tới tận “Ái Châu”, hay là vùng Tây Bắc Việt Nam ngày nay. Mạnh Hoạch là người Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Chuyện này nghe qua thấy quá kỳ lạ nhưng không phải không có căn cứ.
Theo Tam quốc diễn nghĩa Gia Cát Lượng sau thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân có dừng lại sông Lư Thủy, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh. Trong bài văn tế có câu:
“Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục
Binh khởi đất Mường
Đất Mường” ở đây cho thấy Man=Mường, Man Vương Mạnh Hoạch là người cầm đầu các tộc người Mường Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Sông Lư Thủy có thể là sông Lô, chảy vào Việt Nam ở Hà Giang ngày nay. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông Lửa hay con sông chảy qua đất Đào thời Hồng Bang. Gia Cát Khổng Minh đã từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi Tây Bắc nước ta.
Hán Trung Vương đã phong cho 3 vị họ Chu làm Chánh, phó đô hộ. Tức là khi đó “nước Việt ta” thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Vùng Tây Bắc nước ta sau khi Mạnh Hoạch đầu hàng Khổng Minh cũng thuộc về triều Thục.
Như vậy hoàn toàn có thể Lưu Bị từng là một vị vua của nước Việt. Lưu Bị được sử Việt chép dưới tên Lý Bí hoặc Lý Phật Tử. Gia Cát Lượng nếu vậy thì không là ai khác mà là … Lý Phục Man, người đã bình định Man Vương Mạnh Hoạch ở vùng phía Nam của nước Thục. Chữ “Lý” trong Lý Phục Man chưa chắc đã có nghĩa là họ Lý, mà với nghĩa “ông lớn”, như trong tên Lý Ông Trọng hay Lý Khổng Lồ vậy.
So sánh Hoa sử và Việt sử ta thấy có sự tương đồng. Lưu Bị (sử Việt gọi là Lý Phật Tử) cùng anh họ là Lưu Biểu (Lý Thiên Bảo) rút chạy từ Kinh Châu về Quí Châu (Cửu Chân). Sau đó chiếm Ích Châu của Lưu Chương. Lưu Bị tiến quân lên phía Bắc, được Khổng Minh bày mưu thắng Tào Tháo ở Tứ Xuyên (đất của Trương Lỗ trước đó). Tứ Xuyên là đất trung tâm cũ của Hưng đế Lưu Bang, nên Lưu Bị sau khi chiếm Tứ Xuyên đã xưng là Hán Trung Vương.
Ích Châu là tên vùng đất của người Điền khi Hiếu Vũ Đế thu phục và sát nhập thành một quận của nhà Hiếu (khi Lộ Bác Đức diệt nhà Triệu Nam Việt?). Như vậy Ích Châu là vùng đất Điền Vân Nam. Sử Việt ghi là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử xưng vương ở Ai Lao, tức là đất người Di Lão ở Vân Nam. Xem thế thì Vân Nam – Ích Châu đã nằm trong đất của nhà Thục Hán từ khi Lưu Bị khởi nghiệp. Mạnh Hoạch không thể hoành hành ở Vân Nam được mà chỉ có thể “binh khởi đất Mường” ở Tây Bắc nước ta.
Tây Bắc, vùng đất của Mạnh Hoạch, cũng là vùng đất lập quốc của Nam Chiếu dưới thời nhà Đường. Chính vì thế mà Tam vị họ Chu ở Hương Ngải mới hiển linh, trợ giúp Cao Biền đánh Nam Chiếu. Thần tích Hương Ngải chép:
Đến năm Hàm Thông thứ 6 đời Ý Tông nhà Đường, sau khi họ Triệu ở nước Việt ta khởi binh, tự xưng là Nam Chiếu, vua Ý Tông cho Cao Biền làm đô hộ”. Cao Biền được ba vị họ Chu hiển linh phù trợ khi đánh quân Nam Chiếu. Cao Biền có bài thơ:
Chu gia tam vị lẫm tinh thần
Thích Hán kim Đường trước đại huân
Thất thập nhi từ đô hiển thánh
Ức niên thu hựu ức thiên xuân
Dịch
Họ Chu ba vị vững tinh thần
Xưa Hán nay Đường lập đại huân
Hơn bảy chục đến đều hiển thánh
Trăm ngàn thu lại trăm ngàn xuân.
Sau Bố Cái Phùng Hưng lịch sử các dân tộc Tây Bắc cần ghi nhận thêm một vị thủ lĩnh thời trung đại là Man Vương Mạnh Hoạch. Còn lịch sử Việt Nam cần phải nhìn nhận lại triều Thục của Lưu Bị như một triều đại chính thống của người Việt.

Văn nhân góp ý:
Có tư liệu khác cũng ở vùng Thạch thất viết tên Mạnh Hoạch là không đúng, 5 anh em ông là người Mường, tên chính xác là Mãnh Hoạch vì người Mường chỉ có họ Mãnh không có họ Mạnh. Sự minh định này giúp kết luận bài viết của bạn càng thêm phần chắc chắn.
Đoạn trích sau đây xác định suy đoán của bạn về sông Lô- Lư giang:
Trích: Nguyên thi kỉ sự – An Nam tức sự (Trần Phu – thời Nguyên)
Núi non trùng điệp chia đỉnh nhọn
Sóng nước cuồn cuộn chảy vào sông Lô
Nước này bốn mặt đều là núi, chỉ có 4 ngọn núi Kì Lãng, Ngọc Đài, Phật Tích, Mã Yên ở trong cõi là cao. Huyện Thiện Nhữ ở phía tây nam có núi Xích Thổ, cao vạn nhận tựa chọc trời, liên tiếp mấy trăm dặm. Làm bè vượt sông Nam Sách, đi 40 dặm thì đến sông Phú Lương (sông Hồng ?), nước sông chảy xiết, không lớn lắm. Phía nam sông có chợ Kiều, cư dân đông đúc. Lại đi 40 dặm nữa đến sông Quy Hóa, còn có tên là sông Lô, lớn ngang với các sông Hán, sông Ngạc. Sông này từ phía tây nước Đại Lí chảy xuống, phía đông nam chảy vào biển, tức là hạ lưu của sông Lô – nơi mà Gia Cát Vũ Hầu vượt sông vậy. Có 4 bến sông, nước thủy triều buổi tối chẳng bình thường.

Gia Cát Lượng chết được phong tặng là Trung Vũ Hầu nên đời thường gọi là Gia Cát Vũ Hầu.

Bách Việt trùng cửu:
Tên khác của sông Lô là Quy Hóa, cũng có thể bắt nguồn từ chuyện Nam Chiếu Phùng Hưng. Việt Nam sử lượccủa Trần Trọng Kim có chép:  “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Quy Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên…
Đất Quy Hóa là Tuyên Quang, Yên Bái, nơi Lý Cao Tông chạy loạn sau này.

Khởi nghĩa Phùng Hưng qua các di tích ở Hà Nội

Theo sử sách ngày nay Phùng Hưng là quan lang người Đường Lâm, cùng các em trai khởi nghĩa vào khoảng những năm Đường Đại Lịch (766-779), chiếm được thành Tống Bình, làm vua một thời gian rồi mất. Con là Phùng An được sự ủng hộ của Bồ Phá Lặc, đã lên ngôi, tôn cha là Bố Cái đại vương. Phùng An sau thần phục sự chiêu dụ của nhà Đường.

Ở làng Hòa Mục, quận Thanh Xuân, Hà Nội có đền Dục Anh thờ bà Phạm Thị Uyển. Bà là cháu ngoại của Phùng Hạp Khanh, cha của Phùng Hưng, lúc 18 tuổi lấy Mai Thúc Loan, sau trở thành Mai Hoàng Hậu. Bà cũng là người chỉ huy quân khởi nghĩa trong cuộc chiến ở thành Tống Bình và đã tuẫn tiết trên sông Tô Lịch. Cùng với 2 người em trai khác là Phạm Miên và Phạm Huy (là các tướng của Phùng Hưng), bà Phạm Thị Uyển được lập làm thành hoàng và thờ tại đình làng Hòa Mục (thần tích đình Hòa Mục).

Những thông tin trên khá mâu thuẫn. Cháu gái của Phùng Hưng lại là Hoàng hậu của Mai Hắc Đế, trong khi 2 cuộc khời nghĩa này cách nhau tới gần 60 năm. Vào thời điểm năm 722 khi Mai Thúc Loan khởi nghĩa như vậy thì ông cậu Phùng Hưng còn chưa sinh ra, nói gì đến việc cháu gái làm Hoàng hậu của Mai Hắc Đế. Dựa vào thông tin 2 người em trai Phạm Miên và Phạm Huy của Mai Hoàng hậu là các bộ tướng của Phùng Hưng có thể đoán Phùng Hưng có tuổi xấp xỉ với Mai Hoàng hậu. Như thế thì khởi nghĩa Phùng Hưng phải xảy ra vào thời điểm ngay sau cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và là sự kế tiếp của cuộc khởi nghĩa này.

Theo bia đình Quảng Bá, Phùng Hạp Khanh, cha của Phùng Hưng, cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, sau khi khởi nghĩa thất bại mới về quê Đường Lâm. Mai Thúc Loan khởi nghĩa ở vùng Nghệ An. Vậy quê của Phùng Hưng (Đường Lâm) là ở đâu mà cháu gái lại làm Mai Hoàng hậu, còn cha thì tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan? Châu Đường Lâm thời Đường theo một số khảo cứu phải ở vào khoảng miền Tây Thanh Hóa Nghệ An ngày nay.

Đại Việt sử kí toàn thư chép: “… Hưng xưng là Đô Quân, Hãi xưng là Đô Bảo, đánh nhau với Chính Bình, lâu ngày không thắng được. Đến đây dùng kế của người làng là Đỗ Anh Hàn, đem quân vây phủ. Chính Bình lo sợ, phẫn uất thành bệnh ở lưng mà chết. Hưng nhân đó vào đóng ở phủ trị, chưa bao lâu thì chết. Con là An tôn xưng làm Bố Cái đại vương (tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái, cho nên lấy [Bố Cái] làm hiệu). Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ đô hộ, tuế thời cúng tế (tức là Phu hựu chương tín sùng nghĩa Bố Cái đại vương. Đền thờ nay ở phường Thịnh Quang, phía đông nam ruộng tịch điền).”

Đền thờ Phùng Hưng ở phường Thịnh Quang như vậy là đền đã được ghi trong quốc sử. Hiện nay trong văn bản Hán Nôm còn lưu được bản thần tích “Phu hựu chương tín sùng nghĩa Bố Cái đại vương” của đền này. Thậm chí còn lưu được bài thơ đề vịnh của Trần Bá Lãm trong sách La thành cổ tích vịnh. Tuy nhiên, để đi tìm được vị trí ngôi đền này thật chẳng dễ dàng gì. Các sách hiện tại chỉ chép chung chung là đền nằm ở phường Thịnh Hào, quận Đống Đa, Hà Nội, còn cụ thể đền Phùng Hưng ở chỗ nào thì không ai nói được.

Hiện tại ở khu vực Thịnh Hào có một địa điểm khả dĩ là vết tích của đền Phùng Hưng thời Lê. Đó là đình Đông Các ở ngõ Đình Đông, đầu phố Nguyễn Lương Bằng, thuộc phường Nam Đồng. Thông tin về đình này như sau:
“… ở đầu phố Nam Đồng, có ngõ Đình Đông. Gọi tên như vậy là do trong ngõ có đình Đông Các. Đình này trùng tu năm Hàm Nghi thứ nhất (1885) nhưng vốn có từ thế kỷ XVII. Trong đình còn hai tấm bia cổ. Một tấm dựng bên trái đình, văn bia do tiến sĩ Nguyễn Độn, tức Danh Nho soạn năm Chính Hòa thứ 13 (1692) và một tấm dựng trong đình do tiến sĩ Đỗ Công Quỳnh soạn năm Chính Hòa thứ 25 (1701). Cả hai bia này cung cấp một chi tiết chính xác về vị trí địa lý của đình này: Văn bia nêu rằng đây là “đình của giáp Đông Các phường Thịnh Quang, ở bên trái đàn Xã Tắc”. Như vậy là đoạn đầu phố Nam Đồng ngày nay là đất xóm Đông Các, và vào đời Lê đã có tên phường Thịnh Quang. Đình này thờ Tây Hưng đại vương (có người cho rằng đó là Phùng Hưng) và 3 nhân vật huyền thoại: Anh Đoái đại vương, Hoàng thái hậu Phương Dung, Bảo Hoa công chúa.”
Văn bia đình Đông Các chỉ rõ đây chính là phường Thịnh Quang thời Lê. Khu vực này nằm cạnh đàn Xã tắc xưa, nên có khả năng cũng chính là khu “ruộng tịch điền” đã được nhắc đến. Tên phường Nam Đồng có thể nghĩa là khu phía Nam của ruộng (đồng) tịch điền, đúng với vị trí sử đã chép về đền Phùng Hưng.

Thế nhưng cái tên Tây Hưng đại vương của thành hoàng làng Đông Các mới là lạ. Chẳng nghi ngờ gì việc đây chính là tên của Phùng Hưng vì… bài vị vị thần này đã chuyển về đình Hoàng Cầu để thờ là Bố Cái đại vương. Đình Đông Các bây giờ không còn tồn tại nữa. Chỉ còn cái cổng đình cổ ở đầu ngõ Đình Đông với vài dòng chữ Nho sót lại. Khi người ta xây đồn công an phường Ô chợ Dừa thì các thứ trong đình đã chuyển về đình Hoàng Cầu gần đó. Đình Hoàng Cầu trước đó thờ Phùng An làm thành hoàng, nay lại thờ thêm bố là Phùng Hưng của đình Đông Các.

Tên Tây Hưng đại vương ở đình Đông Các cho thấy chữ Phùng trong họ của Phùng Hưng thực chất là Phong, là tượng chỉ hướng Tây. Phùng Hưng hay Tây Hưng đại vương nghĩa là vị vua đã chấn hưng đất Phong phía Tây. Cùng với câu đối:
“Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc Khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang”
Có thể khẳng định Phùng Hưng chính là người đã chiếm Phong Châu đô hộ phủ, xưng vương, lập nước… Nam Bang thời Đường. Nước Nam Bang ở Phong Châu đô hộ phủ thời Đường thì không còn gì khác là nước Nam Chiếu, một nước vẫn được coi là của những người Man, Di ở Vân Nam.

Bản thân từ “Bố Cái” đã được giải nghĩa là “Vua lớn” theo tiếng… Mường Mán. Người dân tộc vùng cao nước ta tới nay vẫn gọi các lãnh đạo chính quyền là “bố” và dùng từ “cái” để chỉ sự to lớn. Bố Cái đại vương là thủ lĩnh Nam Man (Nam Chiếu).

Xem lại lịch sử cuộc chiến tranh giữa Nam Chiếu và Đường trên đất Giao Chỉ có thể thấy thêm một số vết tích.
Toàn thư: “Mậu Dần, [858], (Đường Đại Trung năm thứ 12). … Đô hộ là Lý Trác làm chính sự tham lam tàn bạo, mua hiếp bò ngựa của người Man, mỗi con chỉ trả cho một đấu muối, lại giết tù trưởng Man là Đỗ Tồn Thành, dân Man oán giận, dẫn đường cho người Nam Chiếu đến lấn cướp biên giới. Đất Tây Nguyên, Đào Lâm, thuộc Phong Châu, từ xưa vẫn có quân phòng đông 6.000 người, tù trưởng Man Động Thất Quán bên cạnh là Lý Do Độc, thường giúp đỡ việc đóng giữ và thu tô thuế. Viên Tri Châu Phong Châu (không rõ họ tên) nói với Tác xin bỏ quân đóng thú, chuyên ủy cho Do Độc ngăn phòng. Từ đó Do Độc thế cô, không thể đứng vững được. Thác đông tiết độ của Nam Chiếu (Thác đông: ý nói khai thác cõi đông; Giao Chỉ ở phía đông nước Nam Chiếu, cho nên đặt chức ấy) gửi thư sang dụ Do Độc, đem con gái gả cho con trai của Do Độc, bổ làm Thác đông thác nha . Do Độc bèn đem dân chúng làm tôi nước Nam Chiếu. Từ đấy Giao Châu mới có mối lo về người Man [Nam Chiếu].”

Tiết độ sứ của Nam Chiếu dụ tù trưởng Lý Do Độc có danh là Thác Đông tiết độ, con của Lý Do Độc được phong là Thác Đông thác nha. Như vậy rõ ràng nước Nam Chiếu phải nằm ở phía Tây của Giao Chỉ, tức là vùng Tây Bắc và Lào ngày nay là đất Nam Chiếu.

Theo Toàn thư thì cuộc xâm lấn An Nam vào tháng 9-861, sự suy sụp của Đô hộ phủ vào năm 863 và chiến thắng đầu tiên của Cao Biền ở Đô hộ phủ đều là chống quân Nam Chiếu. Nhưng trong khi đó Cựu đường thư lại chép là do “người Lão đã xúi giục người Man Lâm Ấp đánh phá An Nam”. Nước Lâm Ấp nếu hiểu là quốc gia của người Chàm thì thành ra các sử liệu bị mâu thuẫn. Tên Lâm Ấp cũng không thích hợp để chỉ người Chàm vào thế kỷ IX. Chính xác hơn phải hiểu là “người Man Đường Lâm đánh phá An Nam”. Nói cách khác Nam Chiếu chính là những người đã xuất phát từ Đường Lâm (Thanh Nghệ) trong cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng.

Năm nay, trong ngày mất của Bố Cái đại vương Phùng Hưng các làng thờ ông làm Thành Hoàng đều tổ chức tế lễ. Làng Kim Mã, Quảng Bá, Triều Khúc thì lấy ngày 13/8 âm lịch làm ngày giỗ. Còn đình Hoàng Cầu lại lấy trước đó một ngày (12/8 âm lịch). Sự sai lệch này liệu có phải vì tục cha mất
thì mới con nối ngôi? Ngày Phùng An (thành hoàng gốc ở đình Hoàng Cầu) lên ngôi là 13/8, thì ngày mất của Bố Cái Phùng Hưng là 12/8.

DinhKimMa

Lễ tế Đương cảnh Thành hoàng Bố Cái Phùng Hưng ở đình Kim Mã

Câu đối ở cửa đình:
Kim Mã hiếu trung tiêu sử sách
Đường Lâm nghĩa dũng biểu sơn hà
Dịch:
Đường Lâm nghĩa dũng truyền non nước
Kim Mã hiếu trung sáng sử xanh.

Ở Kim Mã còn có lăng mộ Phùng Hưng, mới được tu bổ lại. Xin giới thiệu một số câu đối hay ở khu lăng mộ này.
Vân phi ngũ sắc cao kình trụ
Phong tống thiên tường túc tịnh môn
Dịch:
Ngũ sắc mây bay, cao cột lớn
Ngàn tầng gió thổi, vững cửa thiền
Mây ngũ sắc chỉ bậc đế vương. Gió ngàn trùng ở đây liệu có phải nói đến … Phong Hưng? Phong là Phong Châu, Vân là Vân Nam, là đất của Nam Chúa – Phùng Hưng.

Một câu đối nữa có “phong vân”:
Phong vân bất bạt cương thường trụ
Nhật nguyệt trường minh tiết nghĩa môn
Dịch:
Gió mây không nghiêng cành đạo lý
Xuân thu sáng mãi cửa nghĩa tình.

LangPhungHung
Lăng Phùng Hưng ở Kim Mã

Câu đối tạc trên mộ đá của Phùng Hưng:
Đường nhân kỳ hữu tàm/ hoa ngạc liên huy/ thân hậu thiên vô Huyền Vũ giáp
Hán tặc hà túc sỉ/ thảo mao(?)  xướng nghĩa/ sinh tiền bất sổ Lục Lâm binh.
Tạm dịch:
Người Đường có biết xấu, đài hoa liền sáng, thân mình không tránh giáp Huyền Vũ
Giặc Hán bao hổ thẹn, thảo mãng dấy nghĩa, trước trận sá gì lũ Lục Lâm.

Một cuộc khởi nghĩa hào hùng, tiếp nối Mai Hắc Đế, từ đất Đường Lâm Thanh Nghệ tiến lên chiếm Phong Châu đô hộ phủ, mở nước Nam Châu, Tây Hưng đại vương sống mãi trong lòng các dân tộc người Việt.

Tiếp Lạc khai Đinh

Một câu đối ở đền Đồng Nhân thờ Hai Bà Trưng cũng đã đánh đố nhiều bậc túc nho:
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương
.

Chỗ khó hiểu ở đây là tại sao Hai Bà lại “tiếp Lạc khai Đinh“? Trưng Vương là dòng “Lạc Hùng chính thống“, “tiếp Lạc” là dễ hiểu, nhưng sao lại “khai Đinh“.
Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cách thời Trưng Vương tới gần ngàn năm.
Trước đó là còn có Ngô Vương Quyền, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Triệu Việt
Vương, Lý Bí. Làm sao Hai Bà Trưng “khai Đinh” được?

Tôi nghĩ rằng “khai Đinh” đây không phải là mở triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng. Đọc kỹ vào câu đối ta thấy:
– Phần “tiếp Lạc khai Đinh” đối với “khu Tô kháng Mã“. Bao vây Tô Định và chống Mã Viện, cả hai chiến công này là nối tiếp nhau, cùng một thời. Như vậy vế đầu đối lại không thể dùng 2 ý “tiếp nối Lạc Hùng” với “khai mở triều Đinh” của Đinh Tiên Hoàng, là 2 sự kiện cách nhau cả ngàn năm được. “Khai Đinh” đây là khai triều đại ngay sau khi đã “tiếp Lạc“.
– Vế đầu của câu đối đã chỉ rõ, sau khi “tiếp Lạc khai Đinh” thì Hai Bà đã xưng vương trong 3 năm. Nói cách khác, Trưng Vương đã mở triều đại có tên là… Đinh trong 3 năm! Đinh là tên triều đại chưa hề được nhắc đến trong sử sách về Trưng Vương.

Cái tên Đinh của Trưng Vương có nghĩa là gì? Theo tôi từ “Lạc” trong câu trên không chỉ một triều đại cụ thể nào mà là chỉ một thời đại của dân Lạc Việt. Nếu không thì đã phải là tiếp Triệu (Triệu Đà) hay tiếp Thục (An Dương Vương) rồi. Lạc tức Lạc Việt, Lạc Hồng xưa.

Như vậy chữ Đinh cũng không phải chỉ tên một triều đại, mà là một từ chỉ … phương hướng. Đinh, hay Tĩnh là tính chất của phương Tây. Vì Hai Bà Trưng khởi nghĩa từ “Châu Phong”, là vùng đất Tây Thổ, nên có thể người xưa cho rằng triều đại của Trưng Vương có tên là Đinh (Tây):

Ngàn tây nổi áng phong trần.
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Trong lịch sử đã có vài lần nước ta được gọi là Đinh/Tĩnh. Dưới thời nhà Lương, Khúc Thừa Dụ được làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, tức là Tiết độ sứ vùng phía Tây của biển Đông. Phần phía Đông được gọi là Thanh Hải, chính là Quảng Đông – Quảng Tây, đất của Lưu Ẩn, Lưu Cung, người đã đánh Khúc
Thừa Mỹ, thống nhất Tĩnh Hải và Thanh Hải lập nên nước … Đại Việt.

Tiếp theo là Đinh Tiên Hoàng, hiểu theo từ ngữ tức là vị hoàng đế đầu tiên của phần đất Đinh (Tĩnh Hải – Giao Chỉ), vì khi đó phần Thanh Hải (Lưỡng Quảng) đã bị rơi vào tay nhà Tống. Ngay khi lập quốc Đinh Tiên Hoàng đã sai con đi sứ sang Tống. Nhà Tống phong cho Đinh Liễn làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ. Điều này cho thấy Tĩnh Hải hay Đinh vào thời gian này là chỉ phần Giao Chỉ.

Chữ “Đinh” ở mặt sau của đồng tiền Đại Hưng bình bảo phải chăng cũng là chỉ vùng đất này, với nghĩa tiền được đúc ở phần Tây của nước Đại Hưng?

Cuối cùng xin dịch lại câu đối:
Tiếp Lạc, khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô, kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương

Dịch là:
Tiếp Lạc Hồng mở Đinh Tây, áo mũ xưng vua ba mùa lưu sử sách
Đuổi Tô Định chống Mã Viện, núi sông thu lại vạn xuân truyền danh thơm.

Văn nhân góp ý:
Bách Việt thân,
Rất có thể chữ ‘Khai Đinh’ chỉ ra: Chính cuộc khởi nghĩa của 2 bà Trưng đã đưa đến việc lập ra nước Tây Thục của Lý Bí – Lưu Bị , triều đại sử Việt gọi là  hậu Lý Nam đế, tôi hoàn toàn tán thành kiến giải của bạn, từ Đinh ở đây chỉ có nghĩa là phía Tây đồng nghĩa với Thục.
Để Sử thuyết được chấp nhận và trở thành lịch sử thì còn rất nhiều việc phải làm, hy vọng với sức trẻ và nỗ lực không mệt mỏi của bạn rồi đây cũng có ngày chúng ta thành công.

Bách Việt trùng cửu:
Cảm ơn anh Văn nhân đã chỉ lối.
Tôi nghĩ cái gì thật thì không thể là giả. Cái gì giả thì không thể thành thật. Sự việc sớm muộn gì cũng sẽ rõ ràng.
Chúc anh mạnh khỏe để chúng ta cùng đi tới đích của chặng đường dài này

Bát Hải Động Đình

Trong tín ngưỡng Đạo giáo ở Việt Nam có một vị thần khá đặc biệt là vua cha Bát Hải Động Đình. Đền thờ vị thần này tới nay còn lưu lại ở nhiều nơi như đền Đồng Bằng ở Thái Bình:

Bát Hải Động Đình là vua cha của nhiều vị thần khác trong đạo giáo:
– Quan lớn đệ nhị thượng ngàn, là con thứ hai của vua cha Bát Hải Động Đình, cai quản miền núi.
– Đệ tam thoải phủ, là con thứ ba. Đây cũng là Mẫu Thoải, là thủy thần.
– Đệ ngũ Tuần tranh, con thứ năm, bị lưu đày và thờ ở đền Kỳ Cùng Lạng Sơn.
– Ông hoàng Mười ở Nghệ An.
Tất cả những vị thần Đạo giáo này đều là từ thời Hùng Vương. Như vậy thì Đạo giáo ở Việt Nam đã chẳng phái có từ lâu, trước khi bị 1000 năm Bắc thuộc hay sao?

Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là vùng biển chứ không phải hồ. Bát là 8, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Bát Hải tức là … biển Đông. Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là biển Đông của nước ta, chứ chẳng phải đầm Vân Mộng ở Hồ Nam bên Tàu.
Vua cha Bát Hải Động Đình như thế cũng chính là Thần Long Động Đình, người sinh ra con gái, cưới Kinh Dương Vương trong truyền thuyết. Nói cách khác đây là “ông ngoại” của Lạc Long Quân, hay là dòng máu “ngoại” của dân Bách Việt.

Có nơi còn gọi là Bạt Hải Long Vương, như ở đền thờ tại Tiên Lãng Hải Phòng. Bát hay Bạt chỉ là hai cách ghi âm khác nhau. Nhưng có lẽ bất ngờ hơn khi biết Bạt Hải chính là … Bột Hải trong cổ sử. Đền thờ Cao Lỗ, vị tướng của Thục An Dương Vương ở Nho Lâm Diễn Thọ (Nghệ An) ghi rõ họ Cao xuất xứ từ Bột Hải, với bức hoành phi “Bột Hải triều Nam” và nhiều câu đối trong đền như:
Vạn cổ anh linh nguyên Bột Hải
Ức niên miếu mạo đối Cao Sơn
Bột Hải triều Nam thì không thể còn có chỗ nào khác là biển Đông của nước ta.

Việc xác định Bột Hải là Bạt Hải – biển Đông – Động Đình cho thấy các đảo Bồng Lai, Doanh Châu trong Hoa sử nằm ở rìa Đông Bột Hải, tức là danh thắng Vịnh Hạ Long nước ta. Tần Thủy Hoàng phái Từ Phúc đi tìm chốn Bồng Lai cũng là đi ra biển Đông. Tất cả cho thấy… Hoa sử bắt đầu từ chính vùng ven biển Đông Việt Nam, đúng với truyền thuyết Việt Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình và Lạc Long quân dẫn 50 người con mở mang thủy phủ Nam minh về phía Đông Nam…

Văn nhân góp ý:
Trong tâm thức người Á đông RỒNG là 1 biểu tượng cực kỳ hùng vỹ , mỗi lần rồng hiện là rung chuyển trời đất , sóng gào gió thét …, hình tượng rồng không thể tách rời môi trường của Rồng là biển cả , trong tứ linh Long-Ly-Quy-Phụng thì Rồng trấn phương Đông …ghép 2 thông tin biển cả và phương đông ta được ‘biển đông’…thực vậy chỉ ‘biển Đông’ mới xứng đáng với tầm cỡ của Rồng – Long.
Long cung của Long vương không thể nào xây ở cái đầm nước ngọt nông tèn tẹt chỉ vài ba thước nước như ở đầm Vân mộng được vì vậy họ Thần Long Động đình của Long mẫu là tổ mẫu của người Việt không thể sống ở vùng Hồ nam Trung quốc ngày nay.
Thông tin về họ Thần long ở động đình hồ đã mặc nhiên khẳng định Động đình hồ không phải
là cái đầm nước ngọt mang tên Vân Mộng ở Hồ nam , chỉ có biển Đông mới xứng với họ Thần long do đó Động đình hồ … chốn cội nguồn của   người họ Hùng nay là người Việt chỉ có thể là miền đất nằm bên bờ Biển đông chứ không thể là bất kỳ nơi nào khác .