Vài điều bàn về Cao Lỗ tướng quân

Về Cao Lỗ tướng quân của Thục An Dương Vương, người đã chế tạo nỏ thần chống giặc, có ý kiến cho rằng đây chẳng qua nguyên là tục “thờ đá” vì Cao Lỗ còn được gọi là Thạch thần. Di tích lăng mộ và đền thờ Cao Lỗ ở Gia Bình, Bắc Ninh bị cho là “nhầm” vì Cao Lỗ là người từ đất Thục sang nước ta, không phải quê hương bản quán ở đây và không đúng là thủy tổ họ Cao. Những ý kiến này thực ra không có cơ sở, chỉ là lấy cách nhìn “ngày nay” để bài bác chuyện xưa chứ chưa hiểu đúng bản chất của nhân vật Cao Lỗ trong bối cảnh lịch sử của thời nhà Thục.

IMG_9266Lăng mộ Cao Lỗ ở Đại Than.

Thần tích làng Vũ Dương Vũ (Hưng Hà, Thái Bình) kể (trích theo Đặng Đình Hùng, Họ Đinh thời Hùng Vương trên đất Thái Bình):
Đức Không Thuyền đại vương tên là Phẩm họ Đinh quê ở Bạch Hạc, Thành Phong Châu, tỉnh Sơn Tây, bà vợ là Trần Thị Anh. Ngài là người thi thư quán thế, hiếu đễ thuyền gia. Rất giỏi việc dùng binh, giỏi cả thi thư xạ ngự, bói toán. Khi ấy ở đời vua Hùng Duệ Vương, nghe tiếng của ngài nhà vua đã mời ngài ra giúp việc và cho ngài làm tri huyện nhưng ngài có tính khăng khái cương trực, từng không kiêng sợ. Đương thời ngài nhận chức tri huyện, có lập doanh cừ ở làng Vũ Xá, gặp năm đói kém ngài thương dân đói khát, bèn lấy tiền thuế phát chẩn cho dân. Có kẻ dèm pha tố giác với triều đình: ngài tiêu tiền thuế để làm phúc riêng cho mình. Vua bèn phế người xuống làm thứ dân, bắt ngài đi chèo đò ở bến Thần Vũ ngài không giám chối mệnh. Từ khi ngài phải về chèo đò, nhân dân đều tôn kính, thường xưng hiệu là Không Thuyền Ông.
Thời ấy ở đất Ai Lao bộ có họ Thục tên Ban (Bạn) là Thục Chúa, nghe tin vua Duệ Vương định nhường ngôi cho con rể là ông Tản Viên Sơn, bèn đem quân đánh họ Hùng. Vua sai Tản Viên Sơn đem quân ra nghênh chiến. Quân Thục bị thua, Thục Chúa chạy đến bến Hồng Vũ thì đã gần sáng, đương hồi tháng 6, tháng 7. Nước của sông to, quân của đức Tản Viên đã đuổi gần tới nơi. Trong lúc cấp bách đường cùng, Thục Chúa trông thấy ở mé sông có thuyền của Không Thuyền liền gọi cầu cứu chở qua sông. Không Thuyền cũng nghĩ thầm hẳn Thục Chúa thua trận chạy trốn, ta mà bắt được đem nộp thì được công to. Nhưng lại nghĩ rằng: “Chấp nhân ư nguy cấp chi trung, khởi vô nghĩa hồ cứu nhân ư hoạn nạn, chi chính thị nhân dã”. Ngài bảo rằng ngày nay quân của Hùng gia còn đương canh hàng nghiêm ngặt, Minh Công tạm trú gia thôn sở nguyệt. Thục Chúa còn nghi ngại chẳng giám nghe lời, ngài phải chỉ trời mà thề rằng: nếu tôi có lòng bất chính thì trời sẽ hại tôi. Thục Chúa thấy ngài quả có lòng thành thực, liền theo ngài về nhà, ngài để Thục Chúa ở chùa Vũ Xá hơn một tháng. Thấy quân Hùng gia không còn truy lùng nữa, hai ba lần Thục Chúa mời ngài cùng về bản quốc, để báo đại ân. Ngài từ chối không chịu đi, nói rằng tôi đã ăn lộc Hùng gia mà nay lại về với Minh Quân là vô đạo. Một đêm ngài nằm mộng thấy thần báo một bài thơ rằng:
Hữu thời quân tất hữu thời thần
Hà tất phu phu tác đạo nhân
Nghi giữ Thục Vương hồi Thục quốc
Công danh tái đắc ức liên thân.
Khi ấy ngài mới vui lòng về Ai Lao. Thục Chúa phong ngài là Bảo Hựu Không Thuyền đại đô đốc, thực ấp vạn hộ. Thục Chúa gọi em là bà Phượng Hoa công chúa gả cho ngài. Được 5 đến 6 tháng bà nằm mộng thấy 3 con lân nhập hoài mà có thai, đến ngày 10 tháng 2 năm Giáp Dần sinh ra một bọc, phá ra 3 người con trai. Khi đang sinh thấy hương hoa thơm ngát ở phòng sinh. Sinh được hơn trăm ngày, ngài đặt tên con trưởng là Nam Công, con thứ là Chiều Công, thứ ba là Hàn Công, đến năm 14 tuổi, bà mẹ hốt nhiên không ốm mà chết.
Đến khi Tam Công 18 tuổi, thiên kinh vạn quyển qua tay thuộc lòng. Thục Chúa đều phong tước cho. Khi ấy cha con ngài đều khuyên Thục Chúa cầu hòa cùng Duệ vương. Duệ vương được tin Thục Chúa xin cầu hòa, bèn triệu Thục Chúa lại nhường ngôi cho. Thục Chúa lên ngôi đóng đô ở thành Cổ Loa, phong Bảo Hựu làm Bảo Hựu Không Thuyền đại tướng, trưởng tử Nam Công làm quản Nam Đô phụng sự, thứ tử Chiều Công làm Phụng thị tả hữu. Quý tử Hàn công làm Chính hàn giáo thiên hạ tứ phương trí sĩ.
Từ khi ấy cha con ngài thường đi lại làng Vũ Xá. Ngài sai làm một nhà hội đồng cung để cho 3 con cùng ở. Một ngày 3 cha con cùng ngồi ở hội đồng cung chợt thấy một người đầu râu tóc bạc, đầu đội mũ hoa từ ngoài đi vào, cha con trông thấy mời vào cùng ngồi chơi nói chuyện thiên văn địa lý, văn chương thi phú thấy rất hợp liền kết làm nhất bái huynh đệ. Lão nhân đến tối thì đi, sáng sớm lại đến, đã ba, bốn ngày vẫn như thế. Đến hôm ấy lão nhân đi ra thì cha con ngài cùng đi theo, thấy lão nhân rẽ nước mà xuống sông, đến sáng sớm hôm sau cha con đi ra thì lại trông thấy lão nhân rẽ nước mà đi lên, rồi vào hội đồng cung. Thấy mọi người ngạc nhiên, lão nhân cười mà nói rằng, ta trước là con nhà Hùng gia cai trị ở Giang Khẩu, nay thấy cha con nhà ngươi là người anh tài đạo đức khí cao chí trung cho nên không lấy âm dương làm cách biệt mà đến chơi. Cha con ngài nói rằng tôn nhân đã không lấy âm dương làm cách biệt giám kết làm chi lan, có việc gì nguy cấp thì xin cấp cứu, lão nhân vâng dạ bảo rằng ta từ nay có việc triều đình không hay đi lại như trước, ngươi có việc gì muốn cầu cứu thì ta cho thần hiệu. Khi có việc gì thì hô thần hiệu ta sẽ tới, nói rồi viết hai chữ “Giang Khẩu” đưa cho cha con ngài, rồi đi.
Thời Thục Chúa tại vị đã được 32 năm có người ở Chân Định tên là Triệu Đà cử binh lại xâm chiếm, đồn trú ở Bắc Ninh Thiên Đức Giang. Thục Chúa sai sứ triệu cha con ngài về triều rồi đem quân đánh giặc. Khi ấy ngài đang thiết ban ở hội đồng cung để cầu Giang Khẩu đại vương, nghe thấy sứ triệu, ngài bèn gọi nhân dân ở làng Vũ Xá cắt cử coi giữ cung sở lập tức ngài xuất bản bộ binh mã và chọn những người tráng kiện ở làng Vũ Xá được 35 người để làm gia nô thủ túc. Thục Vương kíp sai đem một trăm nghìn quân ra đánh Triệu Đà, cha con ngài bái tạ Thục Vương rồi đem quân đường đường trực tuyến đến thiên đức giang thiết đầu sở rồi cùng Triệu Đà kháng cự. Cha con ngài cùng cha con Triệu Đà đánh nhau vài mươi trận, cha con ngài đều toàn thắng bắt được nhiều lương thực khí giới. Triệu Đà thấy cha con ngài uy dũng không dám ra đánh, đem quân về danh sở cố thủ không xuất chiến nữa.
Than ôi số mệnh tại thiên, Không Thuyền ở chốn chiến trường chợt bị bệnh nặng rồi chết vào ngày 19 tháng chạp. Ba vị Tam Công sai gia nhân về tâu Thục Vương. Vua Thục nghe tâu rất là thương tiếc, gấp sai xa giá ra chỗ quân trung đem Không Thuyền về thành đô. Khi ấy Triệu Đà gọi con cùng chư tướng bàn rằng nay Thục Vương đã mất một viên chúa tướng, Thục Vương xa giá đến đây, ta cố đánh một trận toàn thắng. Ngay đêm ấy chia làm bốn phía cùng tấn công. Đương khi 3 vị Tam Công còn đang sầu lão cùng với vua Thục và Quách Quàn thân phụ ở trong trại chợt thấy quân Triệu Đà vây bốn mặt giáp chiến. Quân Thục bị chết vô số, ba vị Tam Công ra đánh khi ấy quân Triệu phấn dũng, Tam Công không địch nổi lại chạy về trại cố thủ. Chúa Thục cả sợ, Tam Công nói rằng bệ hạ đừng lo, tôi đã có Giang Khẩu thần cấp cứu, nói rồi rồi đốt hương cầu Giang Khẩu xin lại cấp cứu ta. Vừa cầu xong chợt nổi: một trận gió to gẫy cây tốc nhà, bay sỏi đá, có tiếng gọi to rằng ta đã lại cứu lũ ngươi sao không đem quân ra đánh. Tam Công nghe thấy lập tức đem quân ra đánh. Triệu binh thất điên bát đảo bị chết vê số, Triệu Đà chạy về doanh sở.
Ba vị Tam Công mời Đức Giang Khẩu về lầu Thục Vương. Đức Giang Khẩu nói rằng ta muốn lại thăm Không Thuyền Vương rồi cùng về lầu bái yết Thục Vương. Đức Giang Khẩu thăm vị Không Thuyền Vương đã khuất rồi từ tạ mà đi, Thục Vương sai rước Không Thuyền Vương về táng ở thành Cổ Loa, lại gia tăng ở mỹ tự 6 chữ “bảo hộ, dục vận, chiến lưu”, sắc chỉ về làng Vũ Xá lập miếu ở hành cung bên chùa để thờ cúng. Thục Vương lại sai sứ đem Kim Quy thần cung giao cho ba vị Tam Công khiến lui quân Triệu Đà. Tam Quân được thần cung ấy liền thắng vài mươi trận. Triệu Đà từ ấy chạy về Chân Định, ba vị Tam Công bái tạ Thục Vương xin về làng Vũ Xá, túc trực tại nhà hội đồng cung ở làng Vũ Xá, chúc thỉnh Đức Giang Khẩu tới để mở tiệc khánh hạ.
Đương khoảng tháng 6, tháng 7, trong một ngày 3 vị Tam Công đương ngồi ở hội đồng cung sở thấy Đức Giang Khẩu rẽ nước đi lên cười mà tụng rằng:
Ngũ thập nhiên gian tại Thục Vương
Hựu quy Triệu thị khá tuy tường
Kim nai đặc thỉnh tam công đảng
Hồi thủy vân vương kết nghĩa trường.
Đương khoảng giời đất yên tĩnh ba vị Tam Công cùng hóa cả.
Câu chuyện về Không Thuyền đại vương và Giang Khẩu thần giúp Thục Vương đánh giặc đọc kỹ thấy có rất nhiều tư liệu mới mẻ đối với giai đoạn khúc mắc này của sử Việt. Tên của Thục Vương ở đây chép là Thục Ban (Bạn). Vì 2 phụ âm B và P đổi cho nhau nên Thục Bạn là tương đương với tên Thục Phán trong chính sử.
Thần tích chép Không Thuyền đại vương đánh giặc ở Thiên Đức giang. Thiên Đức là tên cổ của sông Đuống. Vị Giang thần sông Đuống ở đây gọi là Giang Khẩu hoặc Đức Giang Khẩu. Cửa sông Đuống là cửa Lục Đầu ở Bắc Ninh. Vị thần Giang Khẩu như vậy tương đương với Thanh Giang sứ giả trong truyền thuyết Kim Quy. Thanh Giang sứ là thần sông chứ không phải thần biển.
Khi nhận ra thần Giang Khẩu là thần Kim Quy thì Không Thuyền đại vương được kể phải là Cao Lỗ, vị tướng giúp vua Thục đánh giặc và chế tác nỏ thần. Cao Lỗ còn gọi là Cao Thông. Không Thuyền đọc thiết âm là Thông, trùng với tên của Cao Lỗ.
Tướng Cao Lỗ có đền thờ chính và lăng mộ tại thôn Đại Trung (Cao Đức, Gia Bình, Bắc Ninh). Khu vực này chính là nơi sông Đuống đổ vào Lục Đầu, gọi là bãi Đại Than. Sự trùng khớp vị trí của lăng Cao Lỗ và bến đò trên cửa sông Đuống trong thần tích Không Thuyền đại vương khẳng định thêm Không Thuyền chính là tướng Cao Lỗ.
Câu đối ở lăng Cao Lỗ tại Đại Than
愼密弩機萬代時君皆倚重
艱難農事千秋上帝憫精忠
Thận mật nỗ cơ vạn đại thời quân giai ỷ trọng
Gian nan nông sự thiên thu thượng đế mẫn tinh trung.
Dịch:
Cẩn mật nỏ thần, vạn đời các vua đều coi trọng
Gian nan nông nghiệp, nghìn thu thượng đế cảm lòng trung.
Cao Lỗ được biết đến là một vị tướng tài giỏi và là một nghệ nhân về các nghề thủ công, nông nghiệp. Ông là người chế tạo ra nỏ thần của nhà Thục, được coi là “ông tổ chế tạo vũ khí” của nước Nam.
Để nhận rõ Cao Lỗ là ai cần điểm lại lịch sử nhà Thục ở nước ta. Truyền thuyết về Thục An Dương Vương kể về cả một thời đại nhà Thục từ lúc dựng nước tới lúc mất nước. Đoạn đầu Thục Phán đánh Hùng Vương và lên ngôi đã được biết là chuyện Cơ Phát đánh giặc Ân, lập nên nhà Chu trong Hoa sử. Đoạn An Dương Vương xây thành Cổ Loa là sự kiện Chu Bình Vương dời đô từ Tây Kinh về Đông Kinh ở Đông Ngàn Cổ Loa. Đoạn cuối về Mỵ Châu – Trọng Thủy là việc nhà Tần diệt Chu Noãn Vương, kết thúc vương triều Chu kéo dài gần 1000 năm.
Xét trên một giai đoạn lịch sử dài như vậy, thật khó xác định Cao Lỗ là vị tướng ở thời gian nào. Chắc chắn một điều là tướng Cao Lỗ không liên quan tới việc trừ yêu diệt quỷ xây thành Cổ Loa như vẫn nhiều người lầm tưởng vì việc xây thành Cổ Loa là công tích của Huyền Thiên Lão Tử ở Đông Anh. Như vậy Cao Lỗ chỉ có thể là vị tướng ở thời kỳ đầu hoặc ở giai đoạn cuối của nhà Chu Thục.
Cao Lỗ chỉ một vị tướng người nước … Lỗ. Lỗ là nước chư hầu nằm ở phía Tây của nhà Chu. Lỗ hay Lẽ, Lý là tính chất lý lẽ của phương Tây, đối lập với tính chất tình thương, từ ái của phương Đông trong Dịch học. Cao là từ dùng để chỉ người lãnh đạo. Như thế Cao Lỗ tức là vị thủ lĩnh phía Tây.
Một loạt các tên gọi khác của Cao Lỗ khẳng định điểm này. Cao Lỗ còn gọi là Thạch thần. Hay trong thần tích ở Thái Bình Cao Lỗ trở thành Không Thuyền đại vương mang họ Đinh. Thạch hay Đinh đều là những dịch tượng chỉ hướng Tây, với tính chất tĩnh lặng, cương định.
Thần tích đền Đại Than cho biết Cao Lỗ khi sinh ra trên người có chữ Cao Lỗ Thiên, được đặt tên là Lỗ Công. Cao Lỗ Thiên không phải là “ông trời họ Cao tên Lỗ” mà là vị thủ lĩnh của trời Tây (Lỗ).
Giả thuyết như vậy thì Cao Lỗ có thể là vị tướng ở một trong 2 thời điểm. Ở thời lập quốc nhà Chu thì Cao Lỗ là Chu Công Đán, người em của Chu Vũ Vương được phong ở đất Lỗ. Chu Công hay Lỗ Công đã không về đất phong mà ở lại kinh thành nhà Chu phò tá cháu còn nhỏ là Chu Thành Vương. Sau khi dẹp loạn Vũ Canh và Tam Thúc, Chu Công đã đưa đám quý tộc nhà Ân cũ về an trí tại thành Lạc Dương, tức là ở thành Cổ Loa.
Thần tích ở Đại Than cho biết Cao Lỗ khi giúp Thục Vương đã dẫn quân như sau:
Chỉ đạo theo đường từ châu Minh Linh Bố Cánh đi ra, một đạo theo đường núi từ Quỳnh Nhai Hoàng Tùng thập châu đi ra, một đạo theo đường Tuyên Tiên Tụ Long đi ra, một đạo theo đường núi Tam Điệp Ái Châu đi ra, một đạo theo đường Hoan Châu hội quân ở cửa biển, dựng cờ lớn ở đất Mộc Châu.
Tất cả những địa danh trên cho thấy khu vực cai quản của Cao Lỗ là vùng rừng núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay. Đây chính là địa phận nước Lỗ, đất phong của đại công thần Chu Công Đán của nhà Chu.
Giả thuyết thứ hai nếu Cao Lỗ ở vào cuối thời Chu Thục, đã từng giúp Thục kháng Tần (Triệu), thì khả dĩ nhất Cao Lỗ là ông Lỗ Ban. Cao Lỗ được thờ là tổ nghề rèn (dưới tên Lư Cao Sơn). Lỗ Ban cũng là người nước Lỗ và được tôn là ông tổ nghề xây dựng, nghề mộc. Truyện kể về Lỗ Ban từng chế tạo các máy móc dùng trong chiến trận, như truyện Công Thâu Ban và Mặc Gia bày sa bàn đấu với nhau chín ngày đêm.
Không Thuyền đại vương ở Thái Bình họ Đinh tên Phẩm. Rất có thể chữ Phẩm là biến âm của chữ Ban, tương tự trường hợp tên Thục Ban trong thần tích so với tên Thục Phán. Đinh là hướng Tây, giống như Lỗ. Như thế Đinh Phẩm tương đương với Lỗ Ban.

P1240478

Đền Phnom Bakheng, nơi có truyền thuyết về Lỗ Ban ở Angkor.

Không rõ làm sao, trong sách Chân Lạp phong thổ ký của viên công sứ nhà Nguyên là Châu Đạt Quan ở thế kỷ 13 lại kể ở Angkor Wat trên đất Cămpuchia có mộ của Lỗ Ban:
Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angkor Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, trong một vòng thành gần mười dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Bậc thầy về xây dựng Lỗ Ban của Trung Hoa lại ở Cămpuchia. Nước Lỗ rõ ràng không ở đâu xa tận bán đảo Sơn Đông, mà là khu vực nước Lào ngày nay. Có vậy thì mộ của Lỗ Ban mới nằm trong quần thể Angkor.
Bản thân trong cách bố trí số các ngọn tháp ở Angkor đều dùng số 5 với khái niệm tương tự như Ngũ hành. Ví dụ như ở ngôi đền Phnom Bakheng được nói đến có 5 bậc tháp khi đi lên.

P1240483

5 bậc tháp ở đền Phnom Bakheng.

Trong truyện kể về Lỗ Ban (Nghiên cứu của Lỗ Ban) có thể thấy ông đã rất ủng hộ nhà Chu. Thậm chí có chỗ kể ông có người chị ở đất Chu. Lỗ Ban chế tạo ra con chim gỗ để đi tìm chị ở nước Chu. Bố của ông không biết dùng chim gỗ nên bị rơi ở nước Vũ, sau đó bị giết ở đây…
Nước Lỗ vốn là nước của Chu Công, vị đại công thần của hoàng tộc nhà Chu nên với nước Chu có quan hệ đặc biệt, luôn luôn ủng hộ nhà Chu. Tới tận cuối thời Chiến Quốc nước Lỗ vẫn còn kẻ sĩ như Lỗ Trọng Liên, thà nhảy xuống biển Đông mà chết chứ không chịu theo Tần.
Quay lại vấn đề về Cao Lỗ, người mà danh tích và sự nghiệp gắn với việc chế tạo chiếc nỏ thần. Câu đối về Cao Lỗ ở đình Đại Trung:
名振螺城昭聖跡
靈揚龟弩赫神威
Danh chấn Loa thành chiêu thánh tích
Linh dương quy nỗ hách thần uy.
Dịch:
Danh dội Loa thành rạng thánh tích
Linh thiêng Quy nỏ tỏ uy thần.
Nỏ thần của Cao Lỗ thật sự là gì thật khó biết nhưng bí quyết của nỏ nằm ở chiếc lẫy nỏ do thần Kim Quy trao tặng. Lẫy nỏ thần này được gọi thần cơ. Chữ Cơ 機 còn có nghĩa là điều then chốt, cốt yếu, chứ không nhất thiết chỉ nghĩa là chiếc lẫy để bắn nỏ. Xét về ý nghĩa của bí quyết “móng rùa” này chắc chắn phải liên quan tới Dịch học. Rùa là loài vật có mai giáp dùng để chép Dịch thời cổ (Quy tàng dịch).

IMG_9258Đình Đại Trung ở Gia Bình, Bắc Ninh.

Ngay xem trong thần tích về Không Thuyền đại vương ở Thái Bình, 3 vị con của Không Thuyền (Cao Lỗ) là Chiều Công, Nam Công và Hàn Công cùng với Giang Khẩu thần dùng nỏ thần Kim Quy thắng giặc. Tên của các vị này xếp thành đủ 4 phương. Nam Công là hướng Nam. Chiều Công là hướng Tây, hướng buổi chiều mặt trời lặn. Hàn Công là hướng Bắc, hướng của xứ lạnh (hàn). Còn Giang Khẩu thần hay Thanh Giang sứ là hướng Đông (Thanh là màu xanh, màu của phương Đông). Cùng với Không Thuyền đại vương 4 phương này hợp thành Ngũ hành.
Lỗ Ban cũng là một bậc thầy về phong thủy (Dịch học). Tới ngày nay còn truyền lại dụng cụ “thước Lỗ Ban” được sử dụng rộng rãi trong thuật phong thủy. Phải chăng bí kíp móng rùa của Cao Lỗ chính là nằm ở chiếc “thước Lỗ Ban” này? Hiểu một cách rộng hơn thì Cao Lỗ đã tạo ra một mực thước tốt nhờ vận dụng Dịch học để thiết kế các công cụ tác chiến, nhờ đó giúp cho Thục An Dương Vương chống giặc.
Thay cho lời kết bài viết, xin dẫn thêm đôi câu đối ở cổng lăng mộ Cao Lỗ tại Đại Than:
文武兼全神機妙造無雙將
龍韜虎畧却趙抗秦第壹功
Văn vũ kiêm toàn, thần cơ diệu tạo vô song tướng
Long thao hổ lược khước Triệu kháng Tần đệ nhất công.
Dịch:
Đủ gồm văn võ, sáng tạo lẫy thần kỳ diệu, vị tướng có một không hai
Tài trí hổ rồng, đánh đuổi Triệu chống giữ Tần, công lao đứng hàng thứ nhất.

Đỗ Động tướng quân là ai?

Chính sử Việt ngày nay chép năm 938 Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lên ngôi vua, lập ra nhà Ngô, khởi đầu nền độc lập của nước ta. Tiền Ngô Vương qua đời, Dương Tam Kha tiếm ngôi, nhà Ngô suy yếu. Tới khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn mất, các hào trưởng, tướng lĩnh ở các nơi nổi lên chiếm giữ các vùng, bắt đầu thời kỳ gọi là loạn 12 sứ quân. Đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh mới dẹp được các sứ quân, thống nhất vùng Tĩnh Hải và lên ngôi Hoàng đế nước Đại Cồ Việt.
Mọi việc tưởng như hai năm rõ mười, sách nào cũng chép vậy… nhưng ngày càng có nhiều dẫn chứng cho thấy những chuyện của thời này không hẳn diễn ra như vẫn nghĩ. Đặc biệt khảo cổ học giai đoạn này không cho một dẫn chứng nào tương ứng với những biên chép của chính sử. Không hề tìm thấy chiếc cọc gỗ nào ở Bạch Đằng có niên đại quãng thế kỷ 9-10. Thành Cổ Loa, nơi được chép là kinh đô của triều Ngô không có vết tích gì về triều đại này. Các lớp gạch bên dưới Hoàng Thành Thăng Long và Hoa Lư cho thấy, không hề có nước Đại Cồ Việt như sử sách vẫn chép…
Thay vào đó, có thể dễ dàng nhận ra tên gọi “Sứ quân” là Tiết độ sứ của một Quân. Ví dụ, như Cao Biền sau khi đánh dẹp giặc Nam Chiếu ra khỏi thành Tống Bình được phong là Tĩnh Hải Tiết độ sứ, tức là vị Sứ quân của Tĩnh Hải quân. Bằng chứng rõ ràng về phạm vi của đơn vị “quân” thời này là lớp gạch “Giang Tây quân” nằm dưới cùng của thành Thăng Long, Hoa Lư hay thành nhà Hồ ở Thanh Hóa. Giang Tây quân là vùng đất Tĩnh Hải, bao gồm Bắc Việt và Tây Quảng Tây. Với quy mô của một Quân rộng lớn như vậy, không thể có chuyện trong vùng đồng bằng ven sông Hồng lại có tới 12 sứ quân. Với phạm vi mỗi sứ quân chỉ cỡ độ 2-3 huyện ngày nay thì nhân lực, vật lực đâu ra để mà đánh lẫn nhau? Sử Việt đang nhầm lẫn sự phân rã thời Mạt Đường của các Tiết độ sứ phụ trách các đạo/quân trên phạm vi toàn Trung Hoa thành Thập quốc (thời kỳ Ngũ đại Thập quốc) hóa ra loạn 12 sứ quân ở vùng Giao Chỉ.
Một trong những sứ quân chính được sử Việt chép là Đỗ Cảnh Thạc ở khu vực Đỗ Động Giang là vùng Thanh Oai – Quốc Oai ngày nay. Tuy nhiên, khi so sánh các sự tích về Đỗ Cảnh Thạc thì chợt nhận ra: vị tướng quân này không ai khác chính là Thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt, đã được dân gian kể lại dưới một góc độ khác.
Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn chú rằng Đỗ Cảnh Thạc “người huyện Thuận Đức thuộc Quảng Đông“. Xuất thân trong gia đình quý tộc, ông bị mất một tai trong lần giao chiến vì chạy loạn xuống phương Nam. Đỗ Cảnh Thạc là vị phụ chính của 3 triều Ngô Vương từ Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập sang Ngô Xương Văn. Những thông tin này hoàn toàn giống với thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt. Nhà Triệu đóng đô ở Quảng Đông, gọi là Phiên Ngu hay Phiên Ngô. Chính vì vậy các vua Triệu trong chuyện của Đỗ Cảnh Thạc đã bị gọi thành Ngô Vương. Lữ Gia là thừa tướng 3 triều vua Triệu được dân gian kể thành Đỗ Cảnh Thạc làm quan phụ chính 3 triều vua Ngô.

Den Tam Xa

Câu đối ở đền Tam Xã (Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội) thờ Đỗ Cảnh Thạc:
罰北征東威武振二朝漢主
教民护國德光流三世吳王
Phạt Bắc chinh Đông, uy vũ chấn nhị triều Hán chủ
Giáo dân hộ quốc, đức quang lưu tam thế Ngô vương.
Dịch:
Đánh Bắc dẹp Đông, oai võ chấn hai triều chúa Hán
Dạy dân giúp nước, đức sáng lưu ba đời vua Ngô.
Câu đối trên nhấn mạnh đến việc Đỗ Cảnh Thạc đánh giặc Hán. Công nghiệp chính của Đỗ Cảnh Thạc là chống Hán chứ không phải làm sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh. Đây không phải là lần đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng thời Ngô Quyền mà là chuyện Lữ Gia kiên quyết chống lại nhà Tây Hán, giết bỏ phe theo Hán của Cù Hậu và Triệu Ai Vương, lập Triệu Kiến Đức lên ngôi.
Thần phả Cao Thị bản tự chùa Chợ ở Bình Đà (Thanh Oai) còn cho một thông tin… không thể hiểu nổi. Năm 16 – 17 tuổi Đỗ Cảnh Thạc gặp cảnh chướng tai gai mắt đã đánh lại quan quân nhà Nam Tấn, do thế cô bị chúng quây bắt và xẻo mất một tai… Nhà Tấn Trung Quốc kết thúc vào năm 420, Đỗ Cảnh Thạc sống vào thời nào mà lại đánh nhau với quan quân nhà Tấn? Phải chăng Tấn là chữ phiên thiết từ Tây Hán? Đỗ Cảnh Thạc đánh quân Tây Hán, tức là thời của Lữ Gia Nam Việt.
Tinh thần trung trinh với tiền triều được nhấn mạnh trong chuyện của Đỗ Cảnh Thạc. Đại Việt sử ký toàn thư chép ở Đỗ Động Giang có tới “500 con em họ Ngô” theo về. Còn về Lữ Gia Sử ký Tư Mã Thiên cho biết năm 111 trước Công nguyên khi nhà Tây Hán tiến đánh Nam Việt, Phiên Ngung thất thủ, “Lữ Gia cùng Kiến Đức từ đêm đã cùng gia thuộc vài trăm người, chạy trốn ra biển, lấy thuyền đi về phía Tây”. Cần nhớ rằng gia thuộc của Lữ Gia cũng là gia tộc nhà Triệu vì “Họ hàng [Lữ Gia] làm quan trường lại đến hơn bảy mươi người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở quận Thương Ngô”. 500 con em họ Ngô được nhắc đến ở Đỗ Động Giang là những người đã lên thuyền cùng Lữ Gia và vua Triệu rút về đất Giao Chỉ – Phong Châu.
Thần tích về Đỗ Cảnh Thạc ở Bình Đà cho biết Ngô Quyền muốn xây dựng ở Đỗ Động Giang một bản doanh đủ mạnh, còn có ý định xây dựng lại “Minh đô Giao Chỉ”, giao việc này cho Đỗ Cảnh Thạc. Chữ Đỗ 杜 có nghĩa là “ngăn chặn”. Đây cũng là nghĩa của chữ Sài 柴 trong Sài Sơn (Quốc Oai), nơi Đỗ Cảnh Thạc hy sinh. Có thể thấy đây không phải là họ Đỗ, mà Đỗ Động có nghĩa là một căn cứ để chặn giặc.
Câu đối ở đền Tam Xã:
十二山河杜洞雄争王伯業
三千宫阙柴岩神界佛仙間
Thập nhị sơn hà, Đỗ Động hùng tranh vương bá nghiệp
Tam thiên cung khuyết, Sài Nham thần giới phật tiên gian.
Dịch:
Mười hai núi sông, Đỗ Động tranh hùng nghiệp vương bá
Ba ngàn thế giới, Đá Sài thần tách cõi phật tiên.
Thông tin về Minh Đô Giao Chỉ cũng khớp với chuyện Lữ Gia đã rút về vùng phía Tây Giao Chỉ chống Hán. Minh Đô là đất Phong Châu nơi các vua Hùng dựng nước. Minh Đô sau đó thời Hai Bà Trưng là đô kì của Trưng Vương vì Mê Linh thiết Minh. Đỗ Động như vậy là vùng cửa ngõ của Minh Đô – Mê Linh, chặn giặc phương Bắc.

Dinh Uoc LeĐình Ước Lễ, Tân Ước, Thanh Oai, Hà Nội.

Ở vùng Thanh Oai, tương truyền là quê của Đỗ Cảnh Thạc tới nay không còn di tích nào thờ vị tướng quân này. Nhưng thay vào đó, hai làng Ước Lễ và Phúc Thụy của vùng này lại thờ Lữ Gia làm thành hoàng làng. Câu đối về Lữ Gia ở đình Ước Lễ:
位望冠三朝趙帝山河身上重
精忠存一劍漢軍戈甲目中輕
Vị vọng quán tam triều, Triệu đế sơn hà thân thượng trọng
Tinh trung tồn nhất kiếm, Hán quân qua giáp mục trung khinh.
Dịch:
Ngôi danh đầu ba triều, núi sông đế Triệu thân coi trọng
Trung thành còn một kiếm, giáo mác quân Hán mắt xem khinh.
Còn ở thị trấn Quốc Oai nay còn đình Ngô Sài và miếu thờ Đỗ Tướng quân, tương truyền là nơi Đỗ Cảnh Thạc đã cai quản, an định nhân dân. Nơi đây trước được gọi là Sài Trang. Đình Ngô Sài còn phối thờ Ả Lã Nàng Đề, được nhân dân quanh vùng gọi là Vua Bà. Ả Lã như đã biết, chính là Trưng nữ Vương mang họ Lữ của Lữ Gia. Nàng Đề hay Lang Tề, nghĩa là vị vua phía Tây vì Trưng Vương dựng đô ở đất Tây Thổ Phong Châu. Sự phối thờ Ả Lã với Đỗ tướng quân ở Ngô Sài một lần nữa xác nhận khả năng Đỗ Cảnh Thạc chính là thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu.

Dinh Ngo SaiĐình Ngô Sài, Thị trấn Quốc Oai, Hà Nội.

Quốc Oai còn có di chỉ khảo cổ thành Quèn hay trại Quyền ở xã Tuyết Nghĩa, tương truyền là đại bản doanh của Đỗ Cảnh Thạc. Nay ở đây còn đình làng Cổ Hiền thờ Đỗ Tướng quân và các ngôi miếu xung quanh thờ các tướng của Đỗ Cảnh Thạc. Câu đối ở đình Cổ Hiền:
杜洞雄才稱第壹
古城主宰是無双
Đỗ Động hùng tài xưng đệ nhất
Cổ thành chủ tể thị vô song.
Dịch
Đỗ Động tài cao xưng đệ nhất
Thành cổ chúa tể chính vô song.
Cổ Hiền là tên chữ của trại Quyền hay thành Quèn. Cổ Hiền thiết Quyền – Quèn. Đây là cách dùng phiên thiết để đặt tên chữ cho địa danh xưa.

Ngu thuMột số đồng tiền Ngũ thù.

Di chỉ Thành Quèn được khai quật với những mảnh ngói, gốm thời Bắc thuộc. Gần đây ở phía Nam thành Quèn người ta đã đào được nhiều chum tiền Ngũ thù. Các cụ trong làng cho rằng đây là kho quân lương của Đỗ Tướng quân. Những đồng tiền này được các chuyên gia cổ tiền học xác định là của thời Hiếu Vũ Lưu Triệt nhà Tây Hán. Đây là bằng chứng rõ ràng rằng tướng quân Đỗ Cảnh Thạc không phải ở vào thời Đinh Bộ Lĩnh thế kỷ 10 mà là thời kỳ trước Công nguyên, đầu nhà Tây Hán. Đỗ Cảnh Thạc thời Tây Hán thì không thể là ai khác ngoài thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu cùng con cháu là Nhị Trưng Vương (Ả Lã) đã lập căn cứ chống nhà Hiếu (Tây Hán) ở Đỗ Động – Sài Trang và Minh Đô – Mê Linh.
Cuối cùng nơi mất của Đỗ Cảnh Thạc là ở chân núi Sài Sơn, nơi có đền Tam Xã trong quần thể di tích chùa Thầy. Sài Sơn là nơi có hang Cắc Cớ với bể xương các nghĩa quân của Lữ Gia tử trận. Sài Sơn còn là nơi hy sinh của tướng Lý Phục Man (Thánh Giá ở Yên Sở, Hoài Đức).

Sai SonSài Sơn ở Quốc Oai.

Còn có chuyện kể Đỗ Cảnh Thạc trước khi chết đã nói chuyện với bà bán nước dưới gốc đa ở Sài Sơn. Cây đa này nay nằm trong đền Tam Xã, nơi gọi là mộ của Đỗ tướng quân. Vừa mới đây cây đa này đã được cộng nhận là cây di sản. Chuyện bà bán nước và vị tướng quân trước lúc mất cũng gặp trong thần tích về Lý Phục Man ở Yên Sở.
Lý Phục Man cũng được gọi là Đỗ Động tướng quân. Trong các bài viết trước từng xác định Lý Phục Man là thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu. Như vậy, mọi thông tin đều trùng khớp và chỉ ra rằng Đỗ Cảnh Thạc chính là thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu.
Vị sứ quân lớn nhất trong 12 sứ quân thế kỷ 10 lại là thừa tướng Lữ Gia cách đó hơn 1000 năm trước. Sử Việt còn biết bao nhiêu điều cần được chỉnh lý từ những dữ liệu dân gian và thực tế.

Phủ Tam ở Thái Bình

Trong đạo Tứ phủ thì phủ Tam là Thoải phủ. Các vị thần trong phủ này đều liên quan tới số Ba – Bát hay Tam – Tám. Mẫu Thoải là Mẫu đệ Tam, là nàng Ba (thần tích đền Dầm ở thôn Xâm Dương, Ninh Sở Thường Tín, Hà Nội) hay nàng Quý (Quý là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). Vua cha Thoải phủ là Bát Hải. Vị quan của Thoải phủ là Quan đệ Tam. Rồi ông Hoàng Bơ và cô Bơ thoải phủ (Bơ = Ba).
Đứng đầu Thoải phủ trước hết phải kể đến Vua cha Bát Hải Động Đình, người được thờ chính tại đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bát Hải hoàn toàn không phải nghĩa là 8 cửa biển. Bát hay Ba (số 3 và 8) đều là 2 con số của Hà thư chỉ phương Đông. Phủ Tam ở Động Đình là biển Đông. Nơi đây cũng gọi là vùng Đào Động.
Câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng:
桃江洞口祁千跡
生化神仙萬古傳
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Dịch:
Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
Nơi sông Đào đổ ra cửa Động là đất Thái Bình, tức là nơi sông Hồng (Đào) đổ ra biển Đông (Động Đình hồ). Trên mảnh đất này do đó lưu dấu rõ ràng các nhân vật của phủ Tam (Thoải phủ).
Thần tích đền Đồng Bằng mở đầu như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thụy An – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Tiếp đó Quý Nương sinh ra một bọc trứng, nở ra 3 con hoàng xà. Con hoàng xà lớn sau trở thành Vĩnh Công giúp vua Hùng đánh giặc Thục. Vĩnh Công được tôn là Vua cha Bát Hải Động Đình, đứng đầu Thoải phủ. Còn 2 con hoàng xà em được tập hợp trong trận chiến với quân Thục, trở thành 2 vị quan lớn dưới trướng Vĩnh Công.

Den An Co

Đền An Cố ở Thụy An, Thái Thụy, Thái Bình.

Hiện ở An Cố có đền lớn thờ một vị thần là Nam Hải đại vương. Vị này có cha là Phạm Xuyến, tên gọi Hải Công. Phạm Hải cũng giúp vua Hùng đánh Thục, xây dựng làng xóm ở miền ven biển, rồi một ngày hóa bên bờ biển ở An Cố.
Câu đối ở đền An Cố:
勦蜀冦固皇圖雄貉山河餘正氣
弭天灾安邑宇太平草木囿淳風
Tiễu Thục khấu cố hoàng đồ, Hùng Lạc sơn hà dư chính khí
Nhị thiên tai an ấp vũ, Thái Bình thảo mộc hữu thuần phong.
Dịch:
Trừ giặc Thục, vững hoàng đồ, non nước Lạc Hùng bao chính khí
Ngăn thiên tai, yên thôn ấp, cây cỏ Thái Bình đậm thuần phong.
Phạm Hải và Phạm Vĩnh ở Thái Bình được họ Phạm ghi nhận là những người họ Phạm đầu tiên được nhắc tới ở Việt Nam. Thực ra Phạm Hải và Phạm Vĩnh chỉ là một người. Trang An Cố như trong thần tích đền Đồng Bằng là quê mẹ của Vĩnh Công Bát Hải. Sự tương đồng về tên gọi, sự tích, địa điểm xác thực nhận định Nam Hải Đại Vương ở An Cố là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng.
Một minh chứng khác là tại đền An Cố gian ngoài cấm cung thờ 4 vị là Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan tuần phủ và Quan thần sát. Đây là chỉ dẫn trực tiếp cho thấy Phạm Hải liên quan tới Ngũ vị tôn quan của Tứ phủ. Ngũ vị tôn quan hợp thành Ban công đồng, trong đó có Quan đệ nhất thượng thiên, Quan đệ nhị giám sát, Quan đệ Tam thoải phủ, Quan đệ Tứ khâm sai, Quan đệ ngũ tuần tranh. Phạm Hải đứng đầu Ban Công đồng thì còn ai khác ngoài Vua cha Bát Hải Động Đình, vua cha của các vị quan lớn Tứ phủ.

Chinh dien An Co

Gian thờ Quan đệ nhị ở đền An Cố.

Vị Quan lớn của phủ Tam là Quan đệ Tam với nơi thờ chính tại đền Lảnh (Yên Lạc, Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam), nơi chân cầu Yên Lệnh. Quan lớn Lảnh chính là Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh, vị thần Bạch Hạc Tam Giang trong truyền thuyết (Lĩnh Nam chích quái). Địa danh Yên Lệnh nghĩa là nơi “yên nghỉ” của Trưởng Lệnh, vì Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội) gần đó. Tương tự, An Cố rất có thể là nơi “an nghỉ” của vị thánh Cả (Cổ – Cố) vì đó là nơi Vua cha Bát Hải đã “hóa”.

Văn chầu Quan đệ Tam bắt đầu như sau:
Trịnh giang biên doành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng Nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ Tam hoàng tử giáng sinh đền rồng.
“Trinh Giang” là đọc lệch của sông Vĩnh, con sông nơi giáng sinh Vĩnh Công Bát Hải và 2 em ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Còn “Nam minh” là biển Nam, ở đây cho thấy Động Đình chính là biển Nam minh hay biển Đông.

Sự tích về Quan Đệ Tam – Trưởng Lệnh hay hiệu thờ của thần là Trung Thành Phổ Tế Đại Vương ở vùng Phú Xuyên có vài dị bản khác nhau. Theo các thần tích phổ biến nhất như ở đình Đa Chất thì Trưởng Lệnh là 1 trong 5 người con của ông Đào Công Bột đã giúp vua Hùng đánh Thục. Họ Đào ở đây thực ra liên quan đến vùng Đào Động ở Thái Bình. Còn Bột Hải Công tương đương với Vua cha Bát Hải (Bột là biến âm của Bát).
Sự tích khác ở đình Cổ Chế (xã Phúc Tiến) thì cho biến Trưởng Lệnh mang họ Phạm. Họ này cũng là họ của Vua cha Bát Hải (Phạm Vĩnh hay Phạm Hải).
Đặc biệt thần tích của đình Cát Bi (xã Thụy Phú) còn cho biết Trưởng Lệnh là con của ông Nguyễn Cao Hành và bà Đoan Trang… Sự thể tưởng như khác biệt, vô lý, nhưng xét kỹ thì:
– Ông Nguyễn Cao Hành là dòng Tản Viên Sơn Thánh vì theo truyền thuyết về Tản Viên, cha của Sơn Thánh là ông Nguyễn Cao Hành.
– Bà Đoan Trang là Mẫu Thoải (“Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang”), mẹ của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng.
Đây là chuyện Kinh Dương Vương (Kinh Xuyên) lấy con gái Thần Long Động Đình trong Truyện Họ Hồng Bàng. Kinh Dương Vương ở đây là Tản Viên Sơn Thánh, đã “cùng vui với các loài thủy tộc” hay đã kết bạn với Thủy Tinh và xuống Thủy cung nhận cuốn sách ước trong thần tích về Tản Viên ở vùng Sơn Tây. Bát Hải Động Đình, vị vua cha của Thủy phủ, do vậy không ai khác là con của Kinh Dương Vương và Xích Lân Long Nữ, tức là cha Lạc Long Quân, thủy tổ của người Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, rõ ràng là vị vua của miền Thủy phủ – Động Đình.
Sự kết hợp các bộ tộc Nam Giao của Tản Viên (Lạc) và phía Đông của Long Nữ Động Đình (Long) đã khởi nguồn Việt tộc bởi cha Lạc – Long Quân. Đây là ý nghĩa của câu chuyện về Bát Hải Động Đình. Với sự giúp đỡ của bên mẹ (các vị quan lớn Thoải phủ) Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình đã đánh đuổi dòng tộc hướng Tây (=Thục) để lập nên quốc gia Đào – Hoa – Hạ (Hoa Đào trang) trong sử Việt.
Câu đối ở đền An Cố:
雄貉山河成萬古
都臺事業定千秋
Hùng Lạc sơn hà thành vạn cổ
Đô đài sự nghiệp định thiên thu.
Dịch:
Núi sông Lạc Hồng thành vạn cổ
Sự nghiệp đô đài định ngàn thu.
Người đã dựng thành non sông Hùng Lạc ngàn thu thì còn ai ngoài cha Lạc Long Quân?

Nam Hai Dai Vuong

Tượng Nam Hải đại vương ở đền An Cố.

Cuối cùng, ở đất Thái Bình nơi cửa Động còn truyền tích về vị Hoàng Bơ Thoải phủ. Hoàng Bơ xuất thế tại làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải). Không rõ cái tên Kênh Xuyên này có liên quan gì tới tên Kinh Xuyên của Kinh Dương Vương trong sự tích Mẫu thoải không. Đền thờ Hoàng Bơ nay được dựng ở Hưng Long (Tiền Hải), là nơi vị thần này đã giúp dân hàn gắn con đê biển, ngăn sóng lớn. Nơi Hoàng Bơ đi ra biển (“hóa”) gọi là An Long, cũng tương tự như những cái tên An Cố của Phạm Vĩnh và Yên Lệnh của Quan đệ Tam thoải phủ…

Viết thêm:

Theo “Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư”, ” Bách Việt Tộc Phả” thì cụ bà họ Đỗ, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương. Cụ sinh ngày mồng tám tháng tư và hoá (mất) ngày rằm tháng bảy. Cụ thường được gọi theo họ là Đỗ Quý Thị  (tức Quý bà họ Đỗ). Cụ lấy chồng người họ Nguyễn tên là Nguyễn Minh Khiết tức là Đế Minh. Hai cụ sinh ta Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương). Họ Nguyễn Vân ở làng Vân Nội vẫn cúng giỗ cụ hằng năm với bài văn cúng: “Thỉnh tổ tổng khoa – Cúng gia tiên”. Mộ và miếu thờ cụ ghi trong thư tịch cũ trên đây nay vẫn còn ở Ba La, thị xã Hà Đông.

Do có sự bất hoà với chồng (Đế Minh), Cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của Cụ giúp cho Lộc Tục Trưởng thành: Cụ theo đạo Bà La môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi, hết lòng giúp cháu (con của chị) cho đến khi Lộc Tục được cha là Đại Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên là Xích Quỷ. Tám vị mà Lộc Tục gọi là cậu (em mẹ) sau đều trở thành các vị “Kim Cương”, thường được gọi là Bát Bộ Kim Cương.

Công chúa Đoan Trang họ Đỗ tên là Quý Thị trong tộc phả này chính là Mẫu Thoải, hay Quý Nương sinh Hoàng xà ở Thái Bình. Cụ là con của Long Đỗ Hải Vương, tức là con gái của Thần Long Động Đình.

Tộc phả trên chép hơi nhầm lẫn ở chuyện tiếp theo. Bà Đoan Trang là mẹ của Lạc Long Quân, ở đây chép là Lộc Tục, sau thay cha cai quản đất nước. “Sự bất hòa” của bà Đoan Trang với chồng được nhắc tới là chuyện Mẫu Thoải bị Thảo Mai dèm pha và Kinh Xuyên ruồng bỏ. 8 em trai của dòng Mẫu Thoải đươc chép là Bát bộ kim cương trong đạo Phật là các vị quan lớn đã phò giúp Vĩnh Công – Lạc Long Quân đánh Thục, giành ngôi vị vương quyền.

Đằng Vương gác ấy giờ đâu nhỉ?

Vương Bột, nhà thơ thời Sơ Đường vừa được ông Tập Cận Bình nhắc đến trong bài phát biểu khi so sánh với Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc lên núi làm thơ. Nhưng có lẽ ông Tập còn chưa biết Vương Bột làm bài thơ để đời của mình là bài Đằng Vương các tự là ở đâu và Vương Bột là người ở đâu…
Bài Đằng Vương các tự được Vương Bột viết khi trên đường đi thăm cha đang làm quan ở Giao Châu. Vương Bột ghé vào dự tiệc ở gác Đằng Vương tại đất Hồng Châu. Ngày nay người ta xây gác Đằng Vương và lập tượng Vương Bột ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Nhưng nếu đọc vào bài thơ này sẽ thấy gác Đằng Vương được nói đến phải nằm ở một chỗ hoàn toàn khác…
Bài Đằng Vương các tự mở đầu bằng việc “kê khai vị trí” của nơi làm thơ:
Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ.
Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư.
Đọc mấy câu này thấy rất giống với… đoạn đầu trong các thần tích ở Việt Nam, cũng bắt đầu nêu địa danh, rồi nói tới nước ta ở về phương Nam, lấy sao Dực sao Chẩn định ranh giới. Câu “Tinh phân Dực Chẩn” đã chỉ rõ ngay rằng nơi Vương Bột làm bài thơ này là ở phương Nam, ứng với vị trí vùng đất Việt Nam ngày nay chứ không phải ở Giang Tây, Trung Quốc.
Vậy Nam Xương và Hồng Châu ở Việt Nam là ở đâu? Xin thưa, Nam Xương là khu vực huyện Lý Nhân (Hà Nam). Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (người Hải Dương thời Lê Sơ) có hẳn một chuyện Người con gái Nam Xương, có chồng đi đánh giặc Chiêm, khi về hiểu nhầm vợ, gây nên oan gia rắc rối… Nam Xương là ở tỉnh Hà Nam.
Còn Hồng Châu vốn là tên vùng đất quanh tỉnh Hưng Yên. Ở ngay Kim Động, Hưng Yên còn có thờ vua Mây họ Phạm. Vị này được Lĩnh Nam chích quái chép trong truyện Vị thần xứ Đằng Châu, đã hiển linh thời Tiền Lê – Lý. Đằng Vương trong thơ của Vương Bột là nói tới có thể là Đằng Châu Phạm Phòng Ất ở Kim Động, Hưng Yên.
Thời Mạt Đường có Khúc Thừa Dụ là hào trưởng đất Hồng Châu đã dành quyền tự trị ở thành Thăng Long, khởi đầu nền tự chủ dân tộc. Việt sử thông giám cương mục cho biết: “Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu”. Đền thờ ba vị họ Khúc tại quê nhà ở xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, Hải Dương.
Cần biết rằng gác Đằng Vương là nhà lầu có gác do Lý Nguyên Anh thời nhà Đường xây không chỉ ở Giang Tây, mà còn ở một loạt các nơi khác như ở Tứ Xuyên và Sơn Đông. Rất có thể tại đất An Nam Lý Nguyên Anh đã cho xây một gác Đằng Vương ở gần khu vực thần Đằng cổ tích của Hưng Yên – Hồng Châu.
Truy xa hơn nữa, Hồng Châu bắt nguồn từ vùng đất Hoa Đào Trang hay phủ Hạ thời Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình, nay thờ ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Theo truyền thuyết Vĩnh Công Bát Hải Động Đình xuất thế cùng mấy người anh em, là những vị quan lớn trong Công đồng Tứ phủ. Trong đó vị Quan lớn đệ Tam thờ ở đền Lảnh, nằm giữa Hưng Yên, Phú Xuyên và Hà Nam. Quan lớn đệ Ngũ thờ ở Ninh Giang gần quê Khúc Thừa Dụ. Hồng Châu như thế có thể là cả một vùng đồng bằng rộng lớn nơi sông Hồng đổ ra biển gồm Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng.
Hong Chau

Vị trí Hồng Châu thời Đường.

Trong câu Địa tiếp Hành Lư của bài Đằng Vương Các tự thì Hành Lư có thể là hành Hỏa trong Ngũ hành, chỉ phương Nam (Lư = Lô = Lửa = La). Đây không phải núi Hành, núi Lư vì câu này đối ứng với câu trên Tinh phân Dực Chẩn. Ở trên dùng sao để định phạm vi thì ở dưới phải dùng những dịch tượng chỉ phạm vi lớn, chứ không thể dùng địa danh một hai ngọn núi.
Hai câu thơ tiếp theo của bài Đằng Vương Các tự:
Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ, khống Man Kinh nhi dẫn Âu Việt 
Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Như cổ áo của ba sông, vòng đai của năm hồ; khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt.
Vẻ rực rỡ của vật chính là đồ quý báu của trời; ánh sáng vằn rồng chiếu lên khu vực sao Đẩu sao Ngưu.
Vùng “ba sông năm hồ” là ở đâu?
Câu đối ở đền Hùng, Hy Cương, Phú Thọ:
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Dịch:
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.
Tam Giang là nơi ba con sông Đà, sông Lô và sông Thao hội tụ tại Việt Trì. Hay tỉnh Vĩnh Phúc xưa gọi là phủ Tam Đái. Đây là khu vực đất tổ Hùng Vương.
Câu “Khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt” thì quá rõ. Man Kinh là vùng đất người Kinh hay người Lạc Việt. Âu Việt là vùng phía Tây Bắc Việt. Man Kinh và Âu Việt hợp lại chính là nước Âu Lạc thời cổ. Nơi “tiếp dẫn miền Âu Việt” thì không thể nào lại ở tận Giang Tây, Trung Quốc được.
Phạm Sư Mạnh thế kỷ 14 có bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng.
Dịch:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang
Kiểu ngoài Bách Man về Cổ Lũy
Quốc Tây chống cự tráng Chân Đăng.
Bài thơ này có đủ cả vùng Tam Giang và Bách Man (Man Kinh – Âu Việt) như trong thơ Vương Bột.
Sang câu “long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư”. Thành ngữ “khí xạ Ngưu Đẩu” được dùng như trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão thời Trần: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu“. Ngưu Đẩu là những chòm sao của phương Bắc. “Xạ Ngưu Đẩu” chỉ ra rằng Vương Bột đang ở miền Nam, đối nghịch lên với phương Bắc.
Đến câu thơ:
Đài hoàng chẩm Di Hạ chi giao, tân chủ tận đông nam chi mỹ.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Đài, hào nằm gối lên giao giới vùng Di, Hạ; khách, chủ đều là những vẻ đẹp miền đông, nam.
Bàn đến vùng Di Hạ thì phải khảo cứu câu đối ở đình Chèm thờ Lý Ông Trọng:
Thiên thùy nguyên tinh, Di Hạ lẫm hùng uy, đồng tượng thanh cao Tần Bắc trấn
Địa lưu cố trạch, âm dương đồng hiển tướng, kim chương trù điệp Việt Nam phong.
Dịch:
Trời rủ khí nguyên, Di Hạ sợ hùng oai, tượng đồng thanh cao trấn Tần Bắc
Đất lưu nền cũ, âm dương cùng hiện tướng, sách vàng dày chất cõi Việt Nam.
Đất Di Hạ là nơi Lý Ông Trọng trấn giữ. Di Hạ thiết Dạ, là vùng đất Dạ Lang của người Ai Lao Di. Đây là khu vực phía Tây Bắc của Việt Nam (Vân Nam, vùng Tây Bắc). Câu thơ của Vương Bột ý nói đài gác nằm giao giới với vùng Tây Bắc, còn khách và chủ thì ở vùng Đông Nam. Vùng Đông Nam chính là đất Hồng Châu ở hạ lưu sông Hồng. Giang Tây của Trung Quốc làm gì có chỗ nào giáp với Di Hạ, và cũng không nằm ở phía Đông Nam.
Tới câu thơ:
Gia quân tác tể, lộ xuất danh khu
Đồng tử hà tri, cung phùng thắng tiễn.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Nhân gia quân làm quan tể tại Giao Châu, tôi đi thăm miền nổi tiếng đó
Kẻ đồng tử này đâu biết có việc chi, hân hạnh gặp buổi tiệc linh đình.
Vương Bột đi thăm cha làm quan ở Giao Châu và đến chơi đất Hồng Châu ở Hà Nam là hoàn toàn hợp lý. Còn đi Giao Châu mà lại rẽ vào Giang Tây thì đúng là phải có phép “Trùng cửu” mượn gió giời mới có thể đến được. Có thể thư tịch cổ đã lầm lẫn giữa Giang Tây là đất Tĩnh Hải thời Đường với tỉnh Giang Tây ngày nay. Tên gọi Giang Tây còn lưu lại trên những viên gạch Giang Tây quân của thời Đường bên dưới Hoàng thành Thăng Long, thành Hoa Lư hay thành nhà Hồ, và cả trên đất Thái Thụy, Thái Bình.
Những đoạn thơ tả cảnh tả tình tiếp theo trong bài Đằng Vương Các tự không chứa đựng thông tin về địa danh nên xin không bàn. Câu thơ “đắc” nhất “Ráng chiều với cò lẻ cùng bay” nghe giống cảnh vùng miền quê đồng bằng Bắc Bộ có cò bay trên ruộng lúa hơn là ở tận Giang Tây.

Chỉ bàn thêm hai câu:
Vô lộ thỉnh anh, đẳng Chung Quân chi nhược quán
Hữu hoài đầu bút, mộ Tông Xác chi trường phong.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Không có đường xin dải dây dài, như tuổi niên thiếu của Chung Quân
Nhưng có hoài bão vứt cây bút, yêu mến cơn gió dài của Tông Xác.
Tướng Chung Quân thời Hán xin dây đòi trói vua Nam Việt, tức là vua Triệu nước Nam Việt từ Triệu Đà. Ở đây nói tới thời Hiếu Vũ Đế cử Lộ Bác Đức đánh nước Nam Việt.
Còn vị Tông Xác thì không xa lạ gì với người Việt vì đây là là phó tướng của Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp thời Tiền Tống. Vị này lúc đánh Lâm Ấp về không hiểu bị ma ám hay sao mà lại chỉ lấy mỗi một chiếc áo và một cái lược về… làm kỷ niệm.
Vương Bột không tự nhiên nhắc tới 2 nhân vật Hán Chung Quân và Tông Xác như những tấm gương để noi theo. Vì đây là 2 người liên quan đến lịch sử khu vực phía Nam, nước Nam. Vương Bột có thể cũng là người Nam. Với tuổi trẻ khi làm bài Đằng Vương Các tự mà lại thông thạo lịch sử địa lý vùng phương Nam như vậy thì khả năng Vương Bột là người ở vùng này, chứ không phải ở nơi khác đến.
Vương Bột quê ở Long Môn. Long Môn không phải ở tận Sơn Tây, Trung Quốc, quá xa về phía Bắc để cha Vương Bột đi làm quan ở Giao Châu. Người Sơn Tây nói tiếng Trung… ngọng như tiếng Quan thoại ngày nay, làm sao làm được thơ Đường?
Long Môn có thể là khu vực sông Đà đổ vào sông Hồng, theo truyền thuyết là nơi Sơn Tinh phá núi khơi thông dòng trị thủy. Vương Bột quê ở miền núi Tản sông Đà thì cha làm quan ở Giao Châu và thông thạo địa hình vùng Tam Giang là hoàn toàn hợp lý. Từ nơi đó đi về Hưng Yên – Hà Nam xuôi theo sông Hồng thì mất 2 ngày là đúng. Đằng Vương Các ở Lý Nhân hoàn toàn có lý.
Cuối cùng, cái chết của Vương Bột ngoài biển, thi thể dạt vào Hội Thống ở Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An, được người dân nơi đây lập đền thờ, cả cha và con, càng chứng tỏ Vương Bột là người Việt, ở đất Việt và chết cũng về đất Việt.
Câu đối ở nơi thờ Vương Bột và cha là Vương Phúc Cơ tại Nghệ An:
Long Môn văn phái ba lưu viễn
Ngư Hải hương yên tuế nguyệt trường.
Dịch:
Long Môn văn phái sóng xa đến,
Ngư Hải khói hương năm tháng còn.

Di tượng Vương Bột ở xã Nghi Xuân, Nghệ An (Theo Tạp chí Văn hóa Nghệ An).

Văn Nhân xin thêm ý nhỏ…

…Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư…
Hành Lư rất có thể là ‘chữ tác đánh chữ tộ’ của Hồng Lô tức sông Hồng và sông Lô, là 2 trong 3 con sông Hồng Đà Lô mà hình thể tạo ra 3 giải lụa trong “Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ”  hoặc “Tam giang khâm đái thượng triều tôn”.

Nhiều tư liệu của Trung Quốc đã viết sông Lô thành ra Lư giang.

Trong văn hóa Việt hình thể uốn lượn của con sông được ví như con rồng. Long Môn chỉ nghĩa là cửa sông nhưng trong thư tịch cổ được dùng như 1 địa danh. Long Môn ở Giao chỉ là nơi Tam Giang đổ nước vào cái đầm lớn mà sau thành ra đồng bằng Bắc bộ ngày nay. Đấy là miền đất thiêng nơi vua Đại Vũ bạt cả 1 phần quả núi tên là ‘Long Môn sơn’ để khơi thông dòng nước hoàn tất việc trị thủy như đã chép trong sách Thượng thư.

Đường vương, vương đất Đường, chủ của Đằng vương các chỉ có thể là vương ở 1 trong 2 nơi:

– Đất Đường thời quốc gia sơ khai tức tính từ Hoàng Đế lập quốc cho đến Đại Vũ là miền Tam Giang. Lúc này Đồng bằng Bắc Bộ còn là cái đầm nước lớn gọi là ‘giồng’, sau bị chữ nghĩa hóa thành ra đầm Vân – mộng (vân mồng thiết vồng – giồng). Đầm Vân Mộng thông với Động Đình hồ chính là vịnh Bắc Việt ngày nay.

– Đất Đường thời Tam đại là miền Giang Tây ngày nay. Đằng – Đường – Thường chỉ có nghĩa là phương Nam xưa theo Dịch học (ngược với hiện nay). Sử Hùng Việt cho Trường Giang là ranh giới cực Nam (xưa) thời nhà Thương vì thế đất ven sông này gọi là đất Đường. Miền này sau gọi là Giang Nam, Giang Nam cùng với Lĩnh Nam tạo thành Hoa Nam. Chính vì thế Mông Cổ gọi cư dân nơi này là người Nam, phân biệt với người Bắc (nay) Trường Giang là người Hán.

Sự thực về thủy tổ của dòng họ Ban – Phan

Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào.
Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công. Quý Tôn Công là con thứ (Quý là thứ ba) của Tất Công Cao. Tuy nhiên, vấn đề chính là ở chỗ Tất Công Cao là người ở đâu?
Một ông họ Phan ở Hà Nam Trung Quốc phát biểu: Chỉ cần trong tộc phả có ghi “thủy tổ Quý Tôn Công” là đủ để chứng minh họ Ban Hàn Quốc có gốc gác từ tỉnh Hà Nam. Vị họ Phan Trung Quốc này hơi “lạc quan” quá. Theo sách vở ghi lại Tất Cao Công đến từ đất Huỳnh Dương, nhưng Huỳnh Dương này không chắc là ở Hà Nam – Trung Quốc.
Tư liệu họ Phan ở Việt Nam chép: Theo truyền thuyết vào đầu đời nhà Chu tại một bộ tộc phía Nam sông Trường Giang gần hồ Phiên Dương, vùng đất Việt Thường thuộc Dương Việt (Giang Tây), có người tù trưởng giỏi nghề cấy lúa, biết lợi dụng sông ngòi, lấy nước vào ruộng, tránh được nạn hạn hán làm cho mùa màng tươi tốt, nhân dân no đủ, ai cũng mến phục. Tin ấy truyền về vua Chu, Chu bèn mời người đó về triều giúp đỡ nhân dân cách dẫn nước vào ruộng cấy lúa nước, dần dần nhân dân sung túc, thiên hạ thái bình. Ðể đền ơn, lúc người ấy về bộ tộc, vua Chu cho được hưởng ruộng lộc tức là thái điền ở bộ tộc đó và đặt tên họ ghép 2 chữ Thái điền với ba chấm thủy đọc là chữ “Phan”. Họ Phan bắt đầu ra đời từ đấy. Người tù trưởng đó là Tất Công họ Phan, bộ tộc Phan.
Vậy đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, quê của Tất Công là ở Hà Nam hay Giang Tây, hay ở chỗ khác nữa?…
Theo chính sử Trung Hoa, Tất Công Cao mang họ Cơ, là con thứ 15 của Chu Văn vương Cơ Xương, em khác mẹ của Chu Vũ Vương Cơ Phát. Khi Cơ Phát lên nối nghiệp cha, ông giúp anh đánh đổ nhà Ân, dựng lên nhà Chu. Sau khi Chu Vũ vương mất, ông theo giúp Chu Thành Vương. Khi Chu Thành Vương sắp qua đời, ủy thác thái tử Chiêu cho Tất Công Cao và Thiệu Công Thích. Cơ Chiêu lên nối ngôi, tức là Chu Khang Vương. Thiệu Công Thích cùng Tất Công Cao hết sức phò tá Khang Vương.
Tất Công là người đã nối nghiệp Chu Công và Quân Trần cai quản Lạc Ấp, nơi an trí “đám dân ngoan ngạnh” của nhà Ân. Kinh Thư có bài Tất mệnh, là lời của Chu Khang Vương, nói về việc này:
Than ôi! Cha Thái sư! Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không nhu, đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần hòa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.
Ở đây Chu Khang Vương gọi Tất Công là “Cha Thái sư”. Vì công đức cai quản Lạc Ấp, hoàn tất (“thành toàn”) được công việc yên dân nên Cơ Cao được ban gọi là “Tất Công”.
Đặc biệt tại nhà thờ họ Phan Văn ở thị trấn Yên Thành (Nghệ An) tới nay còn lưu được câu đối về thủy tổ Tất Công:
采田氏自畢公芳留統譜
松嶽降爲崇郡恩諭髙門
Thái Điền thị tự Tất Công, phương lưu thống phả
Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận, ân dụ môn cao.
(Phiên âm và biên chép chữ Nho từ tư liệu của họ Phan đã chỉnh lý dựa theo nghĩa)
Dịch:
Họ Thái Điền từ Tất Công, tiếng thơm lưu truyền đời mãi
Thần Tùng Nhạc trị Sùng Quận, ơn đức tỏ tộc môn cao.
Thái Điền 采田 là chiết tự của họ Phan 潘 như tư liệu của họ Phan ở trên đã cho biết. Ở vế đối đầu họ Phan (Thái Điền) bắt đầu từ Tất Công thì đã rõ. Nhưng còn vế đối sau “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” thì phải hiểu thế nào?
Xem lại diễn biến đầu thời Chu. Khi Chu Văn Vương Cơ Xương khởi nghiệp đã chiếm nước Sùng (của Sùng Hầu Hổ) rồi đóng đô ở đất Phong. Nước Sùng chính là khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay. Đoạn sử này được truyền thuyết Việt chép là Âu Cơ quê ở Lăng Xương (Cơ Xương) lấy Sùng Lãm (Lạc Long Quân), rồi đem các con về Phong Châu lập nên nước Văn Lang (tức là Văn Vương).
Sau khi Chu Vũ Vương, truyền thuyết gọi là Vũ Ninh, cùng Thánh Gióng diệt nhà Ân, dời kinh đô về đất Cảo, thì đất Sùng là Lạc Ấp, nơi nhà Chu an trí đám ngoan dân của nhà Ân. Tất Công là vị quân chủ thứ 3 tại Lạc Ấp nên trong vế đối mới nói đến việc cai trị Sùng Quận (“vi Sùng Quận”). Bản thân tên gọi Cao Công cũng có thể là từ chữ Sùng mà ra vì Sùng chữ Nho nghĩa là Cao.
Xét “sơ yếu lý lịch” của Tất Công như trên thì đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, nơi xuất xứ và thành nghiệp của Tất Công, phải là ở Lạc Ấp. Lạc Ấp còn gọi là Lạc Dương. Dương là hướng Đông. Lạc Dương là kinh đô của thời Đông Chu sau đó. Nơi Tất Công làm nên sự nghiệp là ở đất Sùng – Cao tại Lạc Dương – Bắc Việt, chứ chẳng phải ở tận Hà Nam hay Giang Tây.
Đôi câu đối ở nhà thờ họ Phan tại Yên Thành còn cho một thông tin bất ngờ khác. “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” ứng với việc Tất Công cai quản đất Sùng. Như vậy Tất Công còn được gọi là “Tùng Nhạc”. Thông tin này liên hệ tới một vị Thủy tổ khác của họ Phan Việt Nam là Phan Tây Nhạc.
Theo truyền thuyết Việt thì Phan Tây Nhạc là một vị tướng theo Sơn Tinh giúp vua Hùng đánh giặc. Ở Hà Nội 2 làng Hòe Thị và Thị Cấm của xã Xuân Phương, Từ Liêm đã lập Phan Tây Nhạc làm thành hoàng làng. Lễ hội của 2 làng này còn lưu giữ tục lệ chạy thi – kéo lửa – thổi cơm, tương truyền do vợ của ông là Hoa Dung công chúa từng tổ chức để tuyển người giỏi nuôi quân. Phan Ông Tây Nhạc cùng vợ sau khi chiến tranh kết thúc về làng dạy nhân dân ở khu vực Phương Canh cấy lúa, dệt vải và sửa sang nghi lễ phong tục… 

Thi CamHội làng ở đình Thị Cấm.

Câu đối ở đình Thị Cấm:
貉鴻神將四千餘載聲靈水之汲與火之鑽漿食之爭迎猶彷彿之故壘行宮此地
瀘傘仙墟七十二祠胖嚮士於朝及農於埜工賈於廛市寔頂戴於陽扶陰助其間
Lạc Hồng thần tướng tứ thiên dư tải thanh linh, thủy chi cấp dữ hỏa chi toàn, tương thực chi tranh nghênh, do phảng phất chi cố lũy hành cung thử địa
Lô Tản tiên khư thất thập nhị từ phán hưởng, sĩ ư triều cập nông ư dã, công cổ ư triền thị, thực đính đái ư dương phù âm trợ kỳ gian.
Dịch:
Thần tướng buổi Lạc Hồng, bốn nghìn năm lẻ linh thiêng, lấy nước kíp giữ lửa, đua tranh nấu đồ uống thức ăn, còn như lũy xưa cung cũ phảng phấp đất nọ
Mộ tiên nơi Lô Tản, bảy mươi hai đền kính hướng, quan triều tới nông dã, chợ quán có thương gia thợ nghề, thực là phù dương trợ âm đứng đầu chốn đây.
Trong sự tích về Phan Tây Nhạc có thể thấy rõ công lao chính của vị này không phải là đánh giặc mà là an định dân tình nơi đô thị, giống như công nghiệp của Tất Công kể trong Kinh thư hay như trong tư liệu khởi nguồn của họ Phan về Tất Công. Tùng Nhạc và Tây Nhạc cùng một nghĩa vì Tùng = Tuấn (Sơn Tinh Nguyễn Tuấn có nơi chép là Nguyễn Tùng) = Tốn, là quẻ chỉ hướng Tây.
Phan Tây Nhạc theo Sơn Tinh ở đây không phải là theo Tản Viên Sơn Thánh của thời kỳ đầu dựng nước. Sơn Tinh ở đây là vị quê ở Lăng Xương, là hình ảnh của Âu Cơ (quê cũng ở Lăng Xương), tức là Cơ Xương – Chu Văn Vương. Như vậy sự tích của Phan Tây Nhạc hoàn toàn trùng khớp với Tất Công, vị Thái sư phụ trách an dân ở Lạc Dương đầu thời Chu.
Họ Phan Việt Nam hoàn toàn đúng khi nhận Phan Tây Nhạc làm Thượng thủy tổ của mình. Phan Tây Nhạc cũng là Tất Công nên truyền thuyết nguồn gốc họ Phan ở Việt Nam, Trung Quốc hay Hàn Quốc đều trùng nhau. Chỉ có điều, Thượng thủy tổ họ Phan là người Việt, lập công nghiệp lưu truyền đời thế ở đất Lạc Việt.

Văn Nhân thêm ý:
Theo lễ chế từ thời thái cổ, tùy từng thời dựa theo hình thế đất đai thiên hạ (có lúc rộng lúc hẹp), người ta chọn ra 5 ngọn núi tiêu biểu cho vùng giữa và 4 phương Nam Bắc Đông Tây gọi là Ngũ Nhạc để định kì Thiên tử vi hành đến nơi làm lễ tế trời đất, xem xét dân tình và thưởng người có công phạt kẻ có tội. Vì thế Ngũ Nhạc hay 5 ngọn núi thiêng tiêu biểu của 4 phương Thiên hạ mỗi thời mỗi khác. Ngũ Nhạc thời Nghiêu Thuấn không phải Ngũ Nhạc thời Tần Thủy Hoàng…, Thái Sơn trong câu ca dao “Công cha như núi Thái sơn” không phải là Thái Sơn thời Tần ở Sơn Đông, Trung Quốc.
Rất có thể ông Phan Tây Nhạc không phải là ông họ Phan tên là Nhạc mà nghĩa là ông họ Phan ở miền núi thiêng phía Tây. Luận xét trong cổ sử Việt thì Tây Nhạc thời kì này rất có thể là núi Tản Viên. Tản Viên chính xác là Tốn Vương, trong Hùng triều thế phổ là Hùng Việt vương Tuấn Lang. Gọi là núi Tản viên vì núi ấy được dành riêng thờ Tuấn Lang. Tản, Tán, Tốn, Tuấn đều có gốc từ quẻ Tốn, tượng của phong gió, chỉ phía Tây (nơi đấy cũng gọi là Phong Châu), ngược với quẻ Chấn, tượng của Sấm sét ở phía Đông, tức vùng đất có Đông Nhạc.
Tóm lại, Tây Nhạc cũng là miền Phong Châu, trong cổ sử là miền núi Tản sông Đà ngày nay.
Thông tin “Vua Châu ban cho con cháu Tất công đất Phan…” cũng có thể hiểu đất Phan là miền đất thiên tử Châu ban cho dòng họ Phan (lấy tên đất làm họ hay lấy họ đặt tên tên đất?).
Đất Phan nay ở đâu trên bản đồ?
Sử thuyết Hùng Việt cho đất Phan chính là lãnh thổ nước Phù Nam (phu nan thiết Phan), khởi lập từ Hỗn Điền sau đến Hỗn Bàn. Đời vua thứ 3 là Hỗn Bàn Bàn thì bị họ Phạm cướp mất miền đất ban đầu gây dựng (không phải cướp ngôi). Vua quan Hỗn Bàn Bàn phải chạy về Đông bán đảo Mã Lai và lập kinh đô mới ở đấy. Tư liệu lịch sử gọi là nước Pan Pan (pan – bàn – phan chỉ là biến âm).
Có lẽ thông tin về nước Phù Nam rút ra từ tư liệu lịch sử gốc viết bằng ngôn ngữ hệ Tạng Miến. Hỗn là biến âm của Hãn, nghĩa là chúa, là vương không phải họ. Điền lấy từ chữ Thái và Điền, ghép nên tên họ Phan chữ Nho. Thực sự Hỗn Điền nghĩa là chúa họ Phan hay vua nước Phan, nhưng do… “tứ sao thành … bản khác…” nên đời sau nhận không ra… Sự thể rõ hơn ở tên 2 vua Hỗn Bàn và Hỗn Bàn Bàn, theo nghĩa là vua họ Phan hay vua nước Phan, không có ai họ Hỗn tên Bàn Bàn và cũng chẳng hề có Brahman Ấn Độ nào tên là Kaudinya.
Ranh giới phía Bắc nước Phù Nam hay nước Phan chính là miền Phan Rang ngày nay. Đúng ra là Phan Ranh, không phải rang… Cam Ranh cũng có tư liệu chép là Cam Rang, ranh với rang chỉ là biến âm. Cam Ranh cạnh Phan Ranh là bằng chứng không thể chối bỏ về 1 miền biên giới của 2 nước ‘cổ’ tưởng là đã mất tích trên bán đảo Đông Dương. Nước Phan nhận ra được nhờ phiên thiết Hán văn ‘phù nam thiết phan’, còn nước Cam không thể là nước nào khác ngoài nước Chàm hay Campapura độc âm hóa khi viết bằng chữ Nho.
Chỉ cần phủi nhẹ lớp bụi mỏng là 1 quá khứ Đông Nam Á khác hoàn toàn hiện ra … Nhìn bản đồ phân bố trống đồng đã tìm được là thấy ngay… Đã đến lúc người Đông Nam Á phải chủ động xem xét lại toàn bộ lịch sử của mình.

Họ Vi và họ Đồng

Họ Vi là dòng họ lớn của người Tày ở vùng ven biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng. Họ này từng có những người làm các chức quan tộc nhiều đời ở đây như tổng đốc Vi Văn Định thời trước cách mạng tháng Tám. Nguồn gốc họ Vi theo sách Thất tộc thổ ty của Lã Văn Lô như sau:
Xét gia phả họ Vi, nguyên tổ tiên là họ Hàn tên là Nhân, dòng dõi của Hoài Âm hầu Hàn Tín. Lã Hậu nghi Hàn Tín mật thông với Trần Hy làm phản, nên cùng lập mưu với Tiêu Hà diệt trừ Hàn Tín. (khoảng năm 110 trước CN). Lúc bấy giờ một người thiếp của Hàn Tín có thai, Tiêu Hà mật gửi cho Triệu úy Đà ở Lĩnh Nam nhận nuôi. Đà làm Long châu lệnh (Long châu nguyên là đất Việt ta, thời Tần Vua sai Triệu Đà theo Nhâm Thao sang chia cai trị, đất ấy đến bây giờ thuộc Hán), nuôi nhận (tức là con người thiếp của Hàn Tín) rất chu đáo. Khi Nhân trưởng thành, giúp Đà làm việc, Đà chia đất cho từ Thượng Thạch trở đi, lấy phía Đông làm giới hạn. Đà sai Nhân bỏ nửa chữ Hàn đi trở thành họ Vi từ đó (để tránh chu di Tam tộc). Từ khi Nhân ở đất Long châu, từ Thượng Thạch về phía Đông, Cổ Lân, Tư Lãng về phía Bắc đều giao cho Nhân quản trị. Đến lúc họ Triệu suy, Nhân chiếm ức đất Long châu, sai con thứ chín là Vi Tiết Nghiêm, giúp cai trị. Sau Nghiêm kiêu ngạo làm bậy bị Hồ giết chết (Hồ là cháu Triệu Đà, con Trọng Thủy lấy Mỵ nương nước Việt sinh ra). Họ hàng con cháu lánh nạn về đất Nhật Nam, trở thành một dòng họ quý tộc ở đất này. Như thế đủ thấy phúc trạch họ Vi đầy đặn và lâu dài.
Đoạn tộc phả trên chứa đựng những thông tin khá lạ về giai đoạn Lưu Bang – Triệu Đà trên đất Việt. Hoài Âm Hầu Hán Tín là mưu sĩ đại công thần của Lưu Bang trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng. Khi Lưu Bang lên ngôi hoàng đế đã tìm cách diệt trừ các công thần có quyền thế lớn, trong đó có Hàn Tín. Tiêu Hà, một cận thần của Lưu Bang đã ra tay cứu vớt dòng họ Hàn, gửi gắm vợ con của Hàn Tín cho Triệu Đà ở đất Lĩnh Nam. Họ Hàn (韩) bỏ đi nửa chữ, đổi thành họ Vi (韦) để tránh nạn chu di và được Triệu Đà trọng dụng cho cai quản một vùng đất lớn ở Long Châu…
Chỗ lạ của chuyện này là việc Tiêu Hà gửi gắm dòng máu của Hàn Tín cho nhà Triệu. Triệu Đà và Lưu Bang theo sách sử ngày nay khởi nghĩa thành công cùng một năm ở 2 miền Nam Bắc riêng biệt. Nam Việt và Tây Hán có liên quan gì đến nhau đâu mà Tiêu Hà lại thân thiết với Triệu Đà đến mức có thể giao phó một chuyện lớn như vậy? Họ Vi bắt đầu từ con của Hàn Tín người Hán sao lại cuối cùng thành ra một dòng họ của người Tày?
Đoạn tộc phả trên có thể giải thích theo cách nhìn mới về thời kỳ lịch sử nhà Tây Hán và Nam Việt. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang vốn xuất thân là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái. Từ lúc thả dân phu đi Lịch Sơn Lưu Bang bỏ vào vùng rừng núi Mang Đường (= Mường) ẩn náu. Khi Tần Thủy Hoàng mất, loạn lạc nổi lên khắp nơi. Viên huyện lệnh đất Bái theo lời “tư vấn” của Tiêu Hà mời Lưu Bang về trợ giúp, song sau lại đổi ý, dẫn đến kết cục bị nhân dân đất Bái nổi dậy giết chết, tôn Lưu Bang làm Bái Công, cầm đầu khởi nghĩa kháng Tần…
Từ góc nhìn của dòng sử dân gian Việt chuyện này được chép là Triệu Đà người Chân Định (Kiến Xương) ở đất Thái Bình (Thái Bình phiên thiết Bái), thay chức Nhâm Ngao, rồi khởi nghĩa ở huyện Long Xuyên hay Long Biên. Tộc phả họ Vi chép Long Xuyên là Long Châu. Thực ra Long Châu hay Long Xuyên là quận Tam Xuyên thời Tần vì Tam và Long đều là những dịch tượng chỉ hướng Đông. Nhâm Ngao theo như tộc phả trên là người từng cai quản đất Long Châu – Long Xuyên này, không phải Nhâm Ngao là quận thủ của quận Nam Hải như sách sử vẫn chép. Từ quận Tam Xuyên Lưu Bang – Triệu Vũ Đế mới đánh chiếm Quế Lâm, Nam Hải và quận Tượng, làm chủ toàn bộ vùng đất mà nhà Tần thiết lập trên đất Việt trước đó.
Tiêu Hà là cận thần theo Lưu Bang từ khi khởi nghĩa còn đang trứng nước ở đất Bái – Long Xuyên. Vì thế quan hệ Tiêu Hà với vùng Long Châu mới rất gần gũi như trong tộc phả họ Vi đã kể. Triệu Đà lập nước Nam Việt sau khi Lữ Hậu mất là một người cháu của Lưu Bang, nên Lưu Bang được nhà Triệu Nam Việt tôn là Vũ Đế. Con cháu của đại tướng quân Hàn Tín như vậy mới được trọng dụng ở Nam Việt, nhằm đối đầu với triều Hiếu (Tây Hán) ở phía Bắc, được dựng nên bởi các cận thần của Lưu Bang sau khi Lữ Hậu mất.
Tộc phả họ Vi còn cung cấp một chi tiết nữa. Con cháu họ Vi lánh nạn ở đất Nhật Nam. Nhật Nam nếu theo định vị hiện tại nằm ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, lấy đâu ra dòng họ Vi? Trong khi đó dòng họ Vi tới nay vẫn là một dòng họ lớn, có vai vế ở vùng Lạng Sơn và Quảng Tây. Như vậy vùng đất Nhật Nam được nói tới không phải là ở miền Trung mà là khu vực phía Nam Quảng Tây và một phần giáp ranh Bắc Việt. Vị trí quận Nhật Nam cũng là nơi Khu Liên khởi nghĩa cuối thời Đông Hán, không phải ở miền Trung Việt Nam mà là ở Quảng Tây.
Một dòng họ khác cũng có nguồn gốc bắt đầu từ thời Tây Hán là họ Đồng. Theo các tài liệu do chị Đồng Hồng Hoàn thu thập thì họ Đồng là hậu duệ của sử gia nhà Tây Hán Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên vì bị liên luỵ trong vụ án Lý Lăng nên đã phải chịu cung hình. Để bảo toàn gia tộc, 2 người con của ông buộc phải đổi họ. Người con trưởng là Tư Mã Lâm (司马临) từ họ phức là Tư Mã (司马) đã lấy chữ Mã (马) đồng thời thêm 2 chấm bên trái đổi thành họ Phùng (冯). Người con thứ là Tư Mã Quan (司马观) từ họ phức Tư Mã (司马) lấy chữ Tư (司) đồng thời thêm một nét sổ bên trái chữ Tư đổi thành họ Đồng (同). Hiện nay tại thôn Trại Từ Long Môn thuộc Hàn Thành, Thiểm Tây, quê hương của Tư Mã Thiên tuy không còn họ Tư Mã, nhưng người họ Phùng, họ Đồng rất đông, họ đều là con cháu đời sau của Tư Mã Thiên. Cả ngàn năm nay hai họ Phùng và Đồng vì cùng tế chung một ông tổ nên không bao giờ thông hôn, họ đều là người một nhà.
Còn gia phả họ Đồng ở Cổ Loa, Đông Anh thì cho biết: Tương truyền rằng trước đây tổ tiên là người Trung Quốc – họ Đồng Mã, nhưng không truyền tại duyên cớ gì sang bản quốc cư trú tại xã Nam Gián, tỉnh Hải Dương; Họ là từ chữ Tư (司) rồi thêm một nét sổ thành chữ Đồng (同)…
Vấn đề muốn bàn ở đây là tổ tiên họ Đồng đã sang định cư ở Hải Dương vào thời gian nào, vì duyên cớ gì?
Họ Tư Mã là một trong bách gia tính Trung Hoa, tức là người Bách Việt. Vốn Trình Bá thời Chu làm chức Tư mã rồi lấy đó làm họ. Như vậy Tư Mã Thiên là một sử gia người Hoa Việt, chép sử dưới thời Hiếu Vũ Đế, cũng là một triều đại Việt. Đây hoàn toàn không phải họ của người Hán như việc đánh lẫn họ của vua Tấn (Tư Mã Chiêu) với họ của Tư Mã Thiên. Tấn là chữ phiên thiết của Tây Hán, là người Hán chứ không phải người Hoa, nên không thể chung họ với Tư Mã Thiên được. Vả lại con cháu Tư Mã Thiên đều đã đổi sang họ Phùng và họ Đồng, làm gì còn ai mang họ Tư Mã mà sau này làm vua Tây Hán – Tấn.
Khi xác định họ Đồng VN bắt đầu từ Tư Mã Thiên thì việc có một người họ Đồng Trung Quốc đến Nam Gián, Hải Dương nhiều khả năng sẽ là dưới thời Sĩ Nhiếp, khi “danh sĩ nhà Hán sang nương nhờ có hàng trăm người“. Sĩ Nhiếp này là các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang của triều Tân chống lại giặc Hán, chứ không phải Sĩ Nhiếp thời Tam quốc.
Cuối thời Tân, đám Lục Lâm thảo khấu (được gọi là Hán quân) nhân cơ hội Trung Hoa suy yếu sau cải cách của Vương Mãng đã cướp được chủ quyền Trung Hoa. Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đã tôn một người cháu của Lý Bôn – Lưu Bang là Lưu Bồn Tử (Lý Bôn Tử) lên ngôi và phát động cuộc khởi nghĩa Xích My đánh dẹp quân Lục Lâm. Phàn Sùng chiếm được Trường An (kinh đô thời nhà Hiếu) nhưng sau đó bị thất bại bởi quân của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Trường An là nơi có nhà Tư Mã = Đồng + Phùng. Trong khởi nghĩa của họ Phùng này hẳn con cháu Tư Mã Thiên họ Đồng đã tham gia.
Họ Tư Mã vốn là những danh sĩ của nhà Hiếu, tiếp là triều Tân của Vương Mãng, nên sau khi khởi nghĩa của họ Phùng (Phàn Sùng) thất bại hẳn người họ Đồng đã phải chạy giặc xuống phương Nam, nương nhờ các thái thú châu mục ở đây lúc này là Đặng Nhượng và Tích Quang. Đặng Nhượng là người Việt quê ở Gia Lâm nên việc họ Đồng tới vùng Hải Dương rất liên quan đến thời điểm này.
Qua 2 câu chuyện của họ Vi và họ Đồng có thể thấy triều đại của nhà Hiếu (sử ngày nay gọi là Tây Hán) có liên quan trực tiếp đến vùng đất Giao Chỉ. Đây là nơi các danh sĩ nhà Hiếu, nhà Tân đã tìm về để ẩn náu do những biến động của thời cuộc bởi vì đây là đất gốc tổ của người Hoa Việt, của Hiếu Cao Lưu Bang và là nơi được các vị nhân sĩ trí thức yêu nước kiên cường chống giặc Hán xâm lược ngay cả khi triều đình trung ương đã rơi vào tay giặc (thời Sĩ Nhiếp). Mảnh đất Giao Chỉ do vậy là nơi hội tụ và bảo giữ được những dòng máu, những văn hóa cổ xưa nhất của người Bách Việt.

Phạm Tô – Sĩ Nhiếp

Vấn đề Lý Phục Man và Phạm Tu là 1 hay 2 người nay đã có lời giải rõ ràng. Thánh Giá Lý Phục Man ở Lã Xá – Yên Sở không ai khác là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt, đã tử tiết ở núi Gôi đất Vụ Bản – Nam Định, được con cháu là Nhị Trưng Vương (Trương Hống, Trương Hát) đưa về an táng tại khu vực núi Sài sông Hát. Còn để nhận rõ về Thượng thủy tổ họ Phạm là Phạm Tu, quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, thì câu chuyện cần bắt đầu bằng những dấu tích về … Mã Viện và Bà Triệu.
Sơ học kí – Châu quận bộ (thời Đường do Từ Kiên soạn) có truyện Đê đá guốc vàng:
Nam Việt chí chép: “Mã Viện mở thông núi Cửu Chân, lại chất đá làm đê để ngăn sóng biển, do đó không còn bị (hại) bởi biển dâng nữa.” Lại chép: “Có người con gái huyện Quân An tên là Triệu Ẩu thường ở trong núi tụ họp bè đảng đánh cướp quận huyện, mặc áo giáp vàng đi guốc răng vàng, thường cưỡi đầu voi mà chiến đấu”.
Đoạn truyện này nói tới sự kiện Mã Viện sau khi đánh thắng quân của Hai Bà Trưng, tiếp tục tấn công Đô Dương ở Cửu Chân và cho … đắp đê đá để ngăn sóng biển dâng… Mã Viện đánh Cửu Chân chỉ vẹn vẹn có 1 năm (năm 44) sau đó đã bị triệu hồi về nước. Thế mà trong thời gian đó lại kịp đắp đê biển ngăn mặn, giúp người Cửu Chân làm nông nghiệp?! Sự thật chắc chắn không phải vậy.
Nguyên văn phiên âm đoạn Mã Viện làm đê đá là: Mã Viện tạc thông Cửu Chân sơn. Hựu tích thạch vi để, dĩ át hải ba, do thị bất phục quá trướng hải.
“Tướng danh” của Mã Viện là Phục Ba tướng quân, ý nói là tướng đã áp phục cơn sóng khởi nghĩa của nhân dân ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Đoạn phiên âm trên vừa có “Hải Ba” vừa có “Phục”, chính là thông tin giải nghĩa danh hiệu Phục Ba của Mã Viện. Như vậy Mã Viện làm đê đá không phải để ngăn sóng biển, mà là đắp lũy để ngăn cơn “Hải Ba” của hậu quân Hai Bà Trưng tại Cửu Chân. Cửu Chân là nơi Mã Viện đã phải dừng bước, cắm mốc phân giới (cột đồng) sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Lũy đá ở đây là một dạng mốc biên giới như cột đồng Mã Viện, được dựng lên để ngăn sự tấn công của của hậu quân Trưng Vương.
Mã Viện đã phải cắm mốc cột đồng và đắp lũy phòng thủ chống lại ai ở Cửu Chân? Phần dưới của đoạn trích trên trong truyện Đê đá guốc vàng cho biết, đó chính là với Triệu Ẩu, tức là Mã Viện đã phải cắm mốc phân biên với Bà Triệu. Bà Triệu còn có tên là Lệ Hải bà vương, là cơn “Hải Ba” được nói đến trong truyện. Bà Triệu chính là hậu quận của Hai Bà Trưng đã chặn Mã Viện ở Cửu Chân.
Theo nhà nghiên cứu Văn Nhân thì Đô Dương – người chặn Mã Viện ở Cửu Chân là Khu Đạt hay Khu Liên, người đã khởi lập nước Lâm Ấp. Khu Đạt cũng là Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu. Còn tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì cho biết người xưng vương xứ Lâm Ấp là Lý Khu Kiên. Lâm Ấp tức là nước Nam. Lý Khu Kiên – Khu Đạt là vua Lâm Ấp, tức là Lý Nam Đế trong chuyện này là Triệu Quốc Đạt.
Trong cuộc chiến chống quân Đông Hán anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh đã hy sinh nhưng Mã Viện và Hán quân đã bị cầm chân, buộc phải cắm trụ đồng và đắp lũy đá phân ranh đất Hán và Giao Chỉ ở Khâm Châu – Quảng Tây. Lúc này phía Đông Giao Chỉ độc lập, do một kẻ sĩ nắm giữ quyền hành, không xưng vương, nên sử gọi là Sĩ Nhiếp.
Như trên, vì Lý Nam Đế là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên nên Sĩ Nhiếp là một đại tướng của Lý Nam Đế, đã chống Hán quân giữ yên Giao Châu. Năm Canh Dần (210) Sĩ Nhiếp theo về với Ngô Vương Quyền, được Ngô Vương phong làm Tả tướng quân. Sau đó Sĩ Nhiếp lại chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu về phụ thuộc nước Ngô nên Tôn Quyền càng khen, thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu.
Câu đối ở đình Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội)
骨氣不埋呉鼎國
文風初啟越儒邦
Cốt khí bất mai Ngô đỉnh quốc
Văn phong sơ khải Việt nho bang.
Dịch:
Cốt cách không phai đỉnh nước Ngô
Văn phong khởi lập Nho đất Việt.

IMG_9726 (2)Đình Dục Tú ở Đông Anh, Hà Nội

Nhờ có sự thần phục của Sĩ Nhiếp Ngô Vương đã có được một khu vực đất đai rộng lớn mà Mã Viện đã không thể chiếm được trước đó, gồm toàn bộ Giao Châu, lại thêm cả Ích Châu. Do vậy Sĩ Nhiếp được coi là một đại tướng quân trụ cột của Đông Ngô. Long Biên hầu tức là vị hầu tước của vùng Long Biên. Long Biên ở đây là Long Xuyên hay quận Tam Xuyên dưới thời Tần, gồm phần lớn vùng Giao Chỉ và Quảng Tây.
Những danh hiệu, chức vụ và hành động của Sĩ Nhiếp hoàn toàn trùng với lão tướng Phạm Tu. Phạm Tu nhờ có công đánh dẹp Lâm Ấp và tham gia khởi nghĩa nên được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả Tướng, đứng đầu Ban Võ. Theo thần tích đình Ngoại ở Thanh Liệt thì sau khi mất Phạm Tu được phong là Long Biên hầu. Đặc biệt Phạm Tu còn được sắc phong là Cảm ứng cư sĩ. Câu đối ở đình Lý Nhân tại Thanh Liệt, nơi thờ Phạm Tu:
廟宇香燈神感應
亭村奉祀德靈長
Miếu vũ hương đăng thần cảm ứng
Đình thôn phụng tự đức linh trường.
Dịch:
Hiên miếu hương đèn thần cảm ứng
Thôn đình cúng tế đức thiêng dài.

P1110017Đình Lý ở Lý Nhân, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Còn Sĩ Nhiếp được nhà Trần sắc phong là Gia ứng Thiện cảm Linh vũ Đại vương. Có thể thấy Tả tướng quân Long Biên hầu Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu là vị Sĩ Nhiếp, người đã giữ yên và cai quản Giao Châu sau khi Lý Nam Đế – Triệu Quốc Đạt hy sinh.
Sau khi Sĩ Nhiếp mất con là Sĩ Huy đã chống cự lại nhà Ngô. Còn theo tư liệu của họ Phạm thì Phạm Tu có con là Phạm Tĩnh theo giúp Hậu Lý Nam Đế. Con Phạm Tĩnh là Phạm Hiển, sau khi Lý Phật Tử bị quân nhà Tuỳ bắt về Bắc đã chiêu binh chống Tùy trong 3 năm và bị thất bại. Phạm Hiển như vậy là Sĩ Huy.
Sĩ Nhiếp – Phạm Tu còn được người Việt thành kính tôn thờ dưới tên một vị thần nữa. Tên Phạm Tu đúng ra phải là Phạm Tô, là vị thần của dòng sông Tô Lịch. Phạm Tu sinh ra ở làng Thanh Liệt bên sông Tô. Theo truyền thuyết thì ông chống giặc giữ cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đó.
Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái kể Cao Biền đã gặp một cụ già ở giữa dòng sông, cho biết họ Tô tên Lịch. Biền biết là thần nhân nên đặt tên sông là sông Tô Lịch.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng nhìn ở bờ sông Lô Giang, phía đông nam thành La, thấy giữa sông có gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng, rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên không… Đêm đến Biền nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là thần Long Đỗ, đứng đầu các vị thần đất. Nhà ngươi đến xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?”…
Bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành – Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: “… bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu”. Sĩ Nhiếp có tước phong là Long Độ đình hầu. Long Độ = Long Đỗ. Thần Long Đỗ, vị thành hoàng của thành Đại La – Thăng Long thì ra chính là Sĩ Nhiếp – Phạm Tô (Tu).
Sĩ Nhiếp được biết thọ tới 90 tuổi mới mất. Còn Phạm Tu là lão tướng 66 tuổi mới tham gia khởi nghĩa cùng Lý Nam Đế. Vị thần sông Tô Lịch hiện linh trước Cao Biền cũng dưới hình dạng một cụ già.
Còn một liên hệ nữa về lão tướng Phạm Tu. Sử sách cho biết người đã nối nghiệp ở Lâm Ấp sau khi Khu Liên mất là họ Phạm, họ bên ngoại của Khu Liên. Như vậy Phạm Tu là họ bên ngoại của Triệu Quốc Đạt.
Tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì viết: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 TCN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà…
Đằng Châu Phạm Duy Minh do vậy có thể cũng là Phạm Tu. Thần Long Đỗ, Long Biên hầu và Vua Mây họ Phạm là một người vì vua của Mây tức là rồng (Long). Sĩ Nhiếp – Phạm Tu như vậy là một trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng của tín ngưỡng Việt.

Phạm Tu có thụy hiệu là Đô Hồ đại vương. Đô Hồ nghĩa là thủ lĩnh của người Hồ. Người Hồ hay Hời là người Lâm Ấp – Chiêm Thành sau này. Vì Phạm Tu là người kế tục sự nghiệp của Khu Liên và con cháu họ Phạm nối tiếp cai quản Lâm Ấp nên Phạm Tu được gọi là Đô Hồ. Thông tin này cũng tương tự như câu đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh):

豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.

Truyền tích về Sĩ Nhiếp và Tứ pháp ở chùa Dâu (Truyện Man Nương) cho thấy Sĩ Nhiếp được dân gian gắn với các thần mây mưa sấm chớp. Còn Phạm Tu ở đình Ngoại Thanh Liệt vốn được coi là Thủy thần phán quan, hay ở đình Ngọc Than (Quốc Oai, Hà Nội) là Đông Hải đại vương.
Vị thủy thần sông Tô, vua Mây ở Đằng Châu, Long Biền hầu Sĩ Nhiếp và Tả tướng Phạm Tu cùng là một, là vị anh hùng có công chặn quân Đông Hán, gìn giữ Giao Châu trong 40 năm, đức độ và dòng dõi để lại tiếp tục phù trợ cho họ Phạm ở Lâm Ấp tồn tại hàng trăm năm tiếp theo.