Đạo hiếu và nhà Chu

Sách Luận ngữ có câu: Tử viết: Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

Câu này về sau được một tác giả thời Thanh quảng diễn thành bài thơ Đệ tử quy:
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, kế cẩn tín.
Yêu bình đẳng, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn…

Sách về Đệ tử quy của TS Thái Lễ Húc ngày nay giảng đoạn kinh “nhập môn” này như sau:
Chúng ta hồi tưởng lại lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc triều đại nào có lịch sử lâu nhất, quốc vận hưng thịnh nhất. Đó là triều nhà Chu. Bao nhiêu năm vậy? 800 năm. Vậy xin hỏi: Tại vì sao triều nhà Chu có thể kéo dài đến được 800 năm? Dựa vào cái gì vậy? “Hiếu” và “Đễ”. Chúng ta chỉ đọc qua “Triều nhà Chu 800 năm”, biết được lẽ đương nhiên mà không biết được sở dĩ nhiên…
Triều nhà Chu, khai quốc là Chu Văn Vương, Chu Võ Vương. Ông nội của Chu Văn Vương là Thái Vương. Thái Vương sinh ra ba người con trai, anh cả là Thái Bá, anh thứ hai là Trung Dung, người thứ ba là Vương Quý. Vương Quý sinh ra Chu Văn Vương. Chu Văn Vương lại sinh ra Chu Võ Vương và Chu Công. Khi Chu Văn Vương mới được sinh ra, Thái Vương vừa nhìn thấy đã cảm thấy Chu Văn Vương có tướng Đế Vương, có tướng Thánh Chủ. Thế nhưng phụ thân của Chu Văn Vương xếp ở hàng thứ ba. Kết quả là bác lớn và bác kế của ông nhận ra khi phụ thân thấy cháu nội thì trên mặt vui vẻ, họ hiểu rõ phụ thân của họ muốn đem ngôi vua truyền cho đứa cháu nội này. Các bác rất hiểu tâm cảnh của phụ thân, cho nên họ không nói không rằng, dựa vào lý do giúp phụ thân đi hái thuốc, liền cùng hẹn nhau với em kế của ông là Trung Dung cùng nhau đi lên núi. Sau khi đi rồi thì họ không trở lại nữa. Bởi vì họ hy vọng phụ thân có thể làm tốt được ý nguyện của mình, không cần phải bận lòng bởi họ là con lớn, để có thể trực tiếp truyền ngôi cho Vương Quý là con trai thứ ba, sau đó Vương Quý truyền ngôi cho Chu Văn Vương.

Ở đoạn này TS Thái Lễ Húc nói chưa hết thông tin. Thái Vương nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ có 3 người con: Thái Bá, Trọng Ung và Quý Lịch (Vương Quý). Trong cách gọi tên xưa thì con cả là Thái (Mạnh), con thứ là Trọng, con thứ ba là Quý. Thái Bá và Trọng Ung đã hiểu ý cha, cùng nhau rời đi, nhưng không phải lên núi mà là đi về vùng đất Kinh. Về sau Thái Bá là vị vua khởi đầu của nước Ngô là Ngô Thái Bá. Thái Bá mất, không có con nên em là Trọng Ung lên tiếp ngôi.

Chu Văn Vương đối với phụ thân của ông là Vương Quý đều là sáng sớm, buổi trưa, buổi tối, một ngày ba lần thăm hỏi, nên gọi là “thần hôn định tỉnh” (sáng thăm tối viếng). Ba lần thăm viếng phụ thân, vừa đến thì xem thần sắc của phụ thân, tiếp theo là xem tình hình ăn uống của phụ thân. Nếu như phụ thân ăn uống được rất tốt, ông liền cảm thấy rất là an tâm. Nếu như phụ thân ăn được rất ít thì ông rất lo lắng. Do bởi có được thân giáo như vậy, cho nên con trai của ông là Võ Vương và Chu Công cũng học được rất tốt. Chu Võ Vương cũng rất là hiếu kính đối với Chu Văn Vương. Có một lần Chu Văn Vương bị bệnh, Chu Võ Vương hầu ở bên cạnh mười hai ngày không hề cởi áo giải đãi, mũ trên đầu cũng không lấy xuống, hầu hạ phụ thân ông mười hai ngày nghiêm túc. Do bởi hiếu tâm như vậy, phụ thân ông rất mau khỏi bệnh…
Có một lần Chu Võ Vương bị bệnh, Chu Công liền ở ngay trước mặt của tổ tông họ, vào lúc đó gọi là Thái miếu, viết ra một văn kỳ thọ, mong cầu giảm bớt đi thọ mạng của chính mình để cho huynh trưởng của ông có thể trường thọ… Cho nên khi Chu Công đọc xong văn kỳ thọ, chí thành có thể cảm thông, vì vậy sức khỏe của Chu Võ Vương liền được hồi phục. Bài văn cầu thọ này còn để ở trong Thái miếu.
Trải qua một khoảng thời gian, Chu Võ Vương qua đời, tiếp theo là Chu Thành Vương kế vị. Chu Công giúp đỡ ông. Bởi vì Thành Vương vẫn còn trẻ, kết quả Chu Võ Vương giúp Chu Thành Vương chọn được mấy vị thầy giáo, Thái sư là Khương Thái Công, Thái Bảo chính là Chu Công.

Chỗ này cần chỉnh lại thông tin một chút. Thái sư của Chu Thành Vương là Chu Công. Còn Thái bảo là Thiệu Công. Khương Thái Công Lã Vọng không làm thầy vua Chu Thành Vương vì có lẽ ông đã quá già sau cuộc chiến với Trụ Vương (lúc Văn Vương gặp Lã Vọng thì ông đã 80 tuổi) và ông đã về cai quản đất phong của mình là nước Tề, không ở trong triều đình Chu nữa.

Vào lúc đó quốc gia có những lời giảo ngôn, đều nói là: “Có phải Chu Công muốn đoạt lấy thiên hạ hay không?”. Có rất nhiều lời đồn đại như vậy. Chu Công không đợi cháu của ông lên tiếng. Chính ông tự mình dời đến Sơn Đông, để cho cháu ông dễ làm người, không nên bị những lời sàm ngôn này ảnh hưởng… Sau này Thành Vương xem được sắc thư của ông trong chiếc rương quý mới hiểu rõ lòng trung thành và nhiệt tình của ông, rất hối hận và sai người đi đón ông về.

Đoạn này cũng có điều cần bàn. Các tư liệu khác nói rằng khi bị tiếng oan Chu Công đã dời đến nước Sở, chứ không phải Sơn Đông. Các sử gia sau nay cho rằng vì Chu Công được phong ở nước Lỗ nên ông lui về ở nước Lỗ ở vùng bán đảo Sơn Đông mới hợp lý. Thực ra Chu Công không về nước Lỗ vì nước Lỗ đã có con của ông là Lỗ Bá Cầm cai quản. Nơi Chu Công lui về chỉ có thể là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu, nơi an trí đám ngoan dân của nhà Thương sau cuộc nổi loạn của Vũ Canh. Lạc Ấp thì tất nhiên không phải ở Sơn Đông. Nhưng tại sao các sách lại chép thành Chu Công lui về nước Sở?
Chu Công không có liên quan gì đến nước Sở của Sở Hùng ở vùng sông Dương Tử cả. Gọi là Sở bởi Sở = Sủy = Thủy = Nước = Nác = Lạc. Nước Sở ở đây tức là đất Lạc hay Lạc Ấp, Lạc Việt. Nơi Chu Công lui về là vùng Lạc Việt, hay Bắc Việt ngày nay.
Các sách giảng về câu của Khổng Tử trong Luận ngữ đã lấy chuyện khởi đầu của nhà Chu làm gương về hiếu đễ. Có lẽ Khổng Tử còn sống cũng sẽ lấy chuyện này mà giảng vì ông đánh giá rất cao nhà Chu, thường nói mình “nằm mộng gặp Chu Công”. Cách ứng xử của các vị vua đầu triều Chu thực sự là tấm gương sáng ngàn đời về đạo hiếu đễ.

Ngoc tong

Ngọc tông, vật dùng thờ cúng có từ thời Hạ (văn hóa Lương Chử).
Ống tông cùng với đĩa bích ngọc là hình ảnh vuông tròn, bánh chưng bánh dày, âm dương.

Thật trùng khớp khi câu chuyện về đạo hiếu này cũng in đậm trong truyền thuyết Việt. Đó là câu chuyện chàng Lang Liêu, không phải là con cả của vua Hùng, nhưng nhờ có tấm lòng hiếu thảo động tới trời nên đã làm ra bánh chưng bánh dày, thành kính dâng lên thờ cúng cha mẹ và tiên tổ và được truyền ngôi báu của nước Văn Lang.
Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh dày không ai khác chính là Chu Văn Vương. Văn Vương là người đã viết ra Kinh Dịch, được truyện Việt Nam kể hình tượng hóa bằng bánh chưng bánh dày – bánh trăng bánh giời hay đạo Âm Dương. Chi tiết Lang Liêu được nhận ngôi mà không phải là con cả tương tự chuyện Thái Bá và Trọng Ung nhường lại ngôi cho Vương Quý.
Tác giả Đệ tử quy đã hơi quá khi sửa câu nói của Khổng Tử từ “Nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ” thành “Thủ hiếu đễ”. Khổng Tử không nói lấy Hiếu làm đầu, làm căn bản, vì mô hình con người quân tử của Khổng Tử rộng hơn, bao trùm hơn đạo Hiếu. Hiếu đễ là quan trọng hàng đầu đối với nhân sinh hạnh phúc. Nhưng để thành nghiệp cho một vương triều 800 năm thì không thể thiếu những phẩm chất được kể sau: “Cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn”.
Chu Văn Vương khi là Tây Bá hầu của nhà Ân đã được biết là người rất có “thánh đức”, được lòng nhân dân và các chư hầu. Trong khi đó Trụ Vương ngày càng bạo ngược, lòng người ngày càng nghiêng về hướng Tây. Thánh đức của Văn vương chính là từ đức tính “phiếm ái chúng” (yêu tất cả), thể hiện ví dụ như bằng hình tượng con Lân, biểu tượng của nhà Chu: Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống. Hình tượng này rất đúng với tư tưởng “phiếm ái chúng” của Khổng Tử.
Chu Văn Vương cũng là điển hình cho đức “nhi thân nhân” (gần người nhân) trong câu chuyện Văn Vương gặp Lã Vọng. Lã Vọng vốn là một ông lão cao tuổi, đóng vai một người câu cá ven đường khi gặp Văn Vương. Thế mà Văn Vương đã mời ông về giúp sức, gây dựng cơ nghiệp cho nhà Chu. Lã Vọng sau được phong là Khương Thái Công, người cầm đầu quân đội nhà Chu tiến đánh, tiêu diệt Trụ Vương. Sự tích Văn Vương gặp Lã Vọng là một điển hình về tinh thần “cầu hiền” xưa.

La VongTích Văn Vương gặp Lã Vọng trên một ngôi đình ở xứ Huế.

Truyền thuyết Việt cũng có chuyện “cầu hiền” tương tự. Đó là khi giặc Ân tấn công nước ta (cũng là Ân – Trụ Vương), vua Hùng cho sứ giả đi loan tin khắp nơi tìm người tài giỏi giúp nước. Ở làng Phù Đổng có cậu bé ba tuổi xung phong ra diệt giặc được vua cho đúc gậy sắt, ngựa sắt, nón sắt… Tinh thần cầu hiền ở chỗ không nề hà gì việc là cậu bé hay ông lão. Cứ có tài năng là được giao trọng trách.
Chuyện Thánh Dóng và Lã Vọng đánh giặc Ân là cùng một chuyện. Dóng = Vọng. Có lẽ Thánh Dóng thọ 103 tuổi như Lã Vọng mới đúng, bỏ đi 100 thành còn 3 tuổi. Thánh Dóng đánh giặc Ân ở Vũ Ninh là chuyện Khương Thái Công Lã Vọng giúp Vũ Vương phạt Trụ diệt Ân.
Câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” ở đây có thể hiểu là tùy theo năng lực mà học lấy tri thức. “Văn” ở đây không phải là văn nghệ, văn hóa. Hiểu vậy thì tư tưởng của Khổng Tử thành tầm thường quá: Có thời gian rảnh thì đi xem văn nghệ?!
Văn của thời kỳ này là kiến thức khoa học, mà thời này được đúc kết trong Dịch học. Chính Dịch lý là ánh sáng soi đường cho gia tộc Chu có được thiên hạ từ tay Trụ Vương và dẫn dắt cả thiên hạ Trung Hoa đi lên văn minh. Chu Văn Vương – Lang Liêu là người đã viết nên Kinh Dịch nên mới có danh hiệu là Văn Vương, mở ra nước Văn Lang huy hoàng kéo dài trong 800 năm.

Xin ghi lại chuyện này với bài thơ Hiếu với trời đất:

Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Lang Liêu dâng cha chẳng bạc vàng
Mà tấm lòng thành gói trời đất
Vuông tròn đúc đủ tình thế gian.

Âm dương một đạo để ngàn đời
Rọi sáng đường đi cả tộc người
Bánh chưng bánh dày vui ngày Tết
Tưởng nhớ Lang xưa với sách trời.

Giả nhời vài câu “học rởm” về quốc tổ Hùng Vương

Trong thời gian gần ngày giỗ tổ Hùng Vương mấy năm nay có khá nhiều học giả, chữ nghĩa đầy mình, viết những bài “phân tích” truyền thuyết và tục giỗ tổ Hùng Vương của người Việt một cách rất hồ đồ và ngạo ngược. Các học giả này phần lớn đều “làu thông kinh sử”… của Tàu, lấy đó làm thước để “đo” truyền thuyết Việt, lấy cách nhìn “lịch sử” hiện đại để soi huyền sử cổ đại… Họ có ngờ đâu rằng đó chỉ là cách nhìn phiến diện và sai lệch. Riêng ở thái độ bất kính với tổ tiên, với quá khứ cũng đủ vứt những bài viết đó vào sọt rác, khỏi cần đọc làm gì.

cong-den-hungCổng lên đền Hùng ở Phú Thọ: Cao Sơn Cảnh Hành.

Bài này điểm qua một số câu hỏi… “hơi ngu” của các học giả này và giải đáp nó dưới ánh sáng của Sử thuyết Hùng Việt.

1. Tại sao 18 đời Hùng Vương lại kéo dài hơn 2000 năm? Có phải mỗi vị vua Hùng như vậy trung bình thọ trên trăm tuổi?
Câu hỏi này tưởng là khó trả lời, nhưng nó lại thể hiện ngay sự hiểu biết lệch lạc cơ bản của người hỏi. 18 đời và 18 vị vua là khác nhau. Các thư tịch, minh văn chép về Hùng Vương nói là “Thập bát thế”, nghĩa 18 triều đại, chứ có phải 18 vị vua đâu. Mỗi một triều đại Hùng Vương có cả hàng chục vị vua nhưng đều mang cùng một danh hiệu của triều đại đó như Hùng Quốc Vương, Hùng Hiền Vương… 18 triều đại kể ra hàng trăm vị vua Hùng, kéo dài 2000 năm có lẽ còn hơi ít. Phải trên 3000 năm mới đúng nếu kể cả những vị vua thời từ tiền lập quốc.

2. Các vua Hùng họ gì?
Có chuyên gia phân tích rằng bố của Lạc Long Quân là Kinh Dương Vương, cũng từng được coi là thuộc 18 vua Hùng, mà Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục. Suy ra các vua Hùng mang họ của Kinh Dương Vương là họ Lộc… Thật sự là một sự khôi hài.
Các vua Hùng thì chẳng mang họ Hùng thì còn mang họ gì nữa? Nhưng họ Hùng là một họ đặc biệt, là “họ tộc” của cả đại tộc Việt chứ không phải của 1 dòng họ. Vị vua đầu tiên là Hữu Hùng Hoàng Đế, tức Đế Minh, là vua của Hữu Hùng Thị hay tộc họ Hùng. 18 đời Hùng Vương là 18 triều đại nên hiển nhiên không phải chỉ có 1 họ. Mỗi triều đại có thể mang một họ riêng hoặc cũng có thể trùng với một vài triều đại trước đó. Với 3000 năm lịch sử thời đại Hùng Vương thì việc một dòng họ có thể nắm quyền vài triều đại là bình thường.

3. Tại sao tên các vua Hùng lại đều là “tên Tàu”?
Các vị vua Hùng đều có những cái tên Hán Việt như Hùng Vũ Vương, Hùng Huy Vương… Vậy vua Hùng là người Tàu hay là vốn vua Hùng có các “tên Nôm” khác mà nay đã bị thất truyền?
Thực ra tên các vua Hùng được đặt bằng âm Hán Việt chẳng nói lên được là các vua Hùng là người Hán. Ngược lại, điều này nói lên rằng âm Hán Việt vốn là âm tiếng Việt thời cổ. Tại sao không gọi là âm Việt – Hán cho chính xác? Chữ mà được ngày nay gọi là chữ Hán thực ra vốn là chữ Việt, do người Việt sáng tạo ra và dùng nó cả vài ngàn năm nay.

4. Hùng Vương hay Lạc Vương?
Đây là một trong những câu hỏi đầy suy diễn của các học giả từ trước tới giờ. Họ thường viện dẫn các tài liệu nói rằng nước ta có các Lạc hầu, Lạc tướng,… nên phải có Lạc Vương và từ đó suy ra Hùng Vương phải là Lạc Vương chỉ vì do… “lỗi đánh máy”. Họ không thể nghĩ đơn giản hơn được hay sao?
Lạc Vương là Hùng Vương, không sai, nhưng điều ngược lại thì không đúng. Hùng Vương có thể không phải là Lạc Vương vì Lạc Vương chỉ là vua ở một phạm vi tương đối nhỏ ở Bắc Việt – Quảng Tây trong một thời kỳ đầu của lịch sử. Còn Hùng Vương có tới 18 triều đại, phạm vi trên toàn cõi Đông Nam Á và Hoa Nam. Làm sao lại gán ghép Hùng Vương với Lạc Vương được.

bach-viet-13Phạm vi nước Văn Lang thời Hùng Vương.

5. Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương làm sao có thể bao trùm toàn bộ vùng Nam sông Dương Tử?
Đúng là không thể có quốc gia nào có phạm vi mênh mông như vậy ở thời Kinh Dương Vương. Nhưng đây là sự gán ghép tư liệu lịch sử, lấy đất đai của nước Văn Lang của Hùng Vương gán vào nước Xích Quỷ từ thời Kinh Dương Vương. Đồng thời diễn giải lệch lạc phạm vi đã được mô tả rõ của nước Văn Lang: Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn. Với mô tả này nước Văn Lang không chiếm toàn bộ vùng Nam Dương Tử mà là phần Tây Nam Trung Hoa ở Bắc Việt, Vân Nam, Quý Châu và Quảng Tây. Việc tự phóng đại phạm vi nước của Hùng Vương lên và gán cho nó vào thời kỳ đầu của Kinh Dương Vương để bảo thông tin đó là vô lý là một sự ngụy xảo, “gắp điều xằng bậy bỏ mồm người khác”.

6. Chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở trăm trai là vô lý.
Truyền thuyết Trăm trứng chẳng có gì là vô lý từ góc độ truyền thuyết cả. Nó “vô lý” chỉ vì các học giả đang đeo những lăng kính “lịch sử” mà nhìn truyền thuyết. Câu cuối cùng trong truyền thuyết họ Hồng Bàng này đã minh định ngay ý nghĩa của hình ảnh trăm trứng: “Trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy”. Lạc Long Quân và Âu Cơ là đại diện của 2 dòng tộc Tiên và Rồng, Âu và Lạc đã kết hợp với nhau mà sinh ra các chi Bách Việt. Đây là cách thể hiện tóm tắt nguồn gốc sự phát triển lịch sử của Bách Việt. Đâu có phải hiểu theo nghĩa đen (đúng thật là “đen”, tối) như mấy học rởm ngày nay diễn giải.Chiếc trống đồng có 4 con cóc trên mặt trống, nhưng lại được trang trí bằng hoa văn Hủy long, dạng hoa văn đặc trưng của văn hóa Thương Chu.

7. Có nhiều vua Hùng vậy thì chẳng nhẽ tất cả các vua Hùng đều là quốc tổ và được thờ, giỗ?
Những vị vua Hùng được thờ ở đền Hùng không phải là con cháu của Lạc Long Quân. Ở đền Hùng Phú Thọ (và các di tích khác trong khu vực này) thờ 3 vị vua Hùng là:
– Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế truyền thánh vương
– Ất Sơn thánh vương
– Viễn Sơn thánh vương.
Đây hoàn toàn không phải 3 vị “thần núi” như các học giả đang tưởng tượng. Sơn là từ chỉ hướng Bắc (nay) vì là quẻ Cấn trong Bái quái. Từ Sơn ở đây tương đương với từ Lạc, cũng là chỉ hướng Bắc. “Cao Sơn thánh vương” tương đương với tên gọi “Lạc Vương”. Như thế 3 vị quốc tổ được thờ là 3 vị Lạc Vương mà vị đầu tiên là Đột ngột Cao Sơn (“đột ngột” – bất ngờ xuất hiện, trước đó chưa có ai), chính là Đế Minh của truyền thuyết Việt. 2 vị Lạc Vương còn lại là Đế Nghi và Lộc Tục. Đây mới đúng là các quốc tổ đã bắt đầu thời đại Hùng Vương được thờ cúng tại đền Hùng.

8. Tại sao lại lấy ngày 10-3 làm ngày giỗ tổ Hùng Vương?
Tháng 3 trong Âm lịch là tháng Thìn hay tháng của Rồng. Số 10 trong Thập can là Kỷ hay Kỵ. 10-3 nghĩa là ngày “kỵ long”, tức là ngày giỗ vua. Ý nghĩa của việc giỗ tổ là bên cạnh việc tưởng nhớ đến những vị vua đã có công dựng nước, nó còn mang ý nghĩa như ngày Quốc khánh. Theo chế độ phong kiến trước đây, ngày mất của vua cha cũng là ngày thái tử đăng quang, bắt đầu một triều đại mới. Ngày quốc khánh thì cả nước phải ăn mừng và được nghỉ lễ là quá đúng rồi…

Có lẽ còn nhiều câu hỏi “đểu” tương tự như vậy nữa của các học giả… không đến nơi đến chốn, khinh thường văn hóa truyền thống này. Nhưng thôi cứ để cho các vị ấy tự mãn với các sở học của mình. Rồi đến lúc khắc biết thế nào là quả báo khi phạm đến tổ tiên và thần linh Việt.

Bàn chuyện ăn Tết Âm lịch

Sơ lược lịch sử cái Tết Âm lịch phương Đông.
Âm lịch mà người Việt đang dùng theo truyền thuyết là do Hoàng Đế Hữu Hùng phát minh ra, thời Đế Nghiêu Đế Thuấn được củng cố thêm. Lịch có 12 tháng gọi tên theo thập nhị địa chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Từ khi ra đời đến nay Âm lịch đã từng nhiều lần thay đổi mốc định ngày, tháng đầu năm:
– Nhà Hạ chọn tháng Dần (tháng thứ nhất hiện nay) làm tháng Giêng. Đây là Lịch kiến Dần.
– Nhà Thương chọn tháng Sửu (tháng thứ 12) làm tháng Giêng. Đấy là Lịch kiến Sửu. Người Mông ở Việt Nam nay vẫn ăn Tết theo lịch này.
– Nhà Chu chọn tháng Tý (tháng thứ 11) làm tháng Giêng. Đấy là Lịch kiến Tý.
– Nhà Tần chọn tháng Hợi (tháng thứ 10) làm tháng Giêng. Đấy là Lịch kiến Hợi.
– Đến đời Hiếu Vũ Đế quay lại lấy tháng Giêng là Dần. Lịch kiến Dần và sử dụng từ thời đó đến ngày nay không thay đổi nữa.
Âm lịch là lịch của nền văn minh lúa nước, vốn xuất phát chính từ đất Giao Chỉ từ Tam Hoàng (Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn) và được hoàn thiện ở thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu). Lịch kiến Dần bắt đầu từ nhà Hạ mà nhà Hạ khởi lập bởi cha Lạc Long Quân ở vùng đồng bằng sông Hồng ven biển Bắc Việt nay. Tới khi Hiếu Vũ Đế Lưu Triệt diệt nhà Triệu Nam Việt, thống nhất Trung Hoa, cho lấy lại tháng Dần làm tháng Giêng theo lịch nhà Hạ.
Người Việt Nam ngày nay hoàn toàn nhầm lẫn khi cho rằng nhà Hiếu là “Tàu” hay Hán và Âm lịch người Việt đang dùng là “lịch Tàu”. Nhà Hiếu là một triều đại Việt chính cống vì Hiếu Cao Tổ Lưu Bang khởi nghĩa ở đất Bái – Thái Bình, tức vùng đất Đông Giao Chỉ, cũng là khu vực khởi đầu của nhà Hạ xưa. Triều đại nhà Hiếu do đó còn có tên là Viêm Lưu, tức là họ Lưu từ vùng Viêm phương, xứ nóng.
Người Việt có truyền thuyết Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh dày dâng cúng trời đất vào tiết đầu năm. Nhiều người cho rằng lịch của Lang Liêu như thế mới đúng là lịch Việt. Nhưng liệu có mấy người biết rằng Lang Liêu nghĩa là vua của người Liêu Tử hay Di Lão. Lang Liêu nghĩ ra bánh chưng bánh dày với đạo trời tròn đất vuông chính là Chu Văn Vương, người tạo tác Kinh Dịch. Chu Văn Vương cũng là Văn Lang, là quốc hiệu được người Việt công nhận từ xa xưa. Nhà Chu là dòng Âu họ Cơ, dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi dựng đô ở Phong Châu, lập nước Văn Lang thời các vua Hùng. Văn Vương – Văn Lang đã định lịch kiến Tý, lấy tháng 11 làm chính sóc, lập nên một thời đại huy hoàng trong sử Việt là ý nghĩa của câu chuyện bánh chưng bánh dày.
Ngày nay muốn điều chỉnh tháng đầu năm cho gần với năm Dương lịch thì có thể lấy lịch của nhà Chu hay của Lang Liêu, dùng tháng Tý làm tháng Giêng. Người Việt có thể ăn Tết theo cha Lạc Long (dùng lịch kiến Dần) hay theo mẹ Âu Cơ (dùng lịch kiến Tý), thay đổi lựa chọn tháng đầu năm, chứ không thể bỏ Tết Âm thành Tết Dương lịch được. Đánh đồng Âm lịch với Tây lịch đồng nghĩa với xóa sổ luôn Âm lịch, vì không có ngày đầu năm thì cũng không có cả năm. Bỏ Âm lịch là bỏ hết cả văn hóa cổ truyền, tục thờ cúng tổ tiên, phá ngang cách tính thời gian của nền văn minh lúa nước… Những ai chủ trương bỏ Tết Âm lịch phải nói là phạm tội bất hiếu với tổ tiên, với trời đất.
Tam quan den ThuongNghi môn đền Thượng – Kinh thiên điện trên núi Hùng – Nghĩa Lĩnh.

HIẾU VỚI TRỜI ĐẤT
Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Lang Liêu dâng cha chẳng bạc vàng
Mà tấm lòng thành gói trời đất
Vuông tròn đúc đủ tình thế gian.

Âm dương một đạo để ngàn đời
Rọi sáng đường đi cả tộc người
Bánh chưng bánh dày vui ngày Tết
Tưởng nhớ Lang xưa với sách trời.

Trung Hoa Dân Quốc – Đài Loan và góc nhìn về lịch sử Trung Quốc

Cái tên “Trung Quốc” thời hiện đại hoàn toàn không phải bắt đầu từ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với thủ đô Bắc Kinh ngày nay, mà là từ nước Trung Hoa Dân Quốc do Tôn Trung Sơn lập nên sau cách mạng Tân Hợi năm 1911. Nước Trung Quốc này cũng là nước tham gia thành lập và có chân trong Liên Hợp quốc đầu tiên, chứ không phải Trung Cộng. Trung Hoa Dân Quốc lúc đó cầm đầu là Tưởng Giới Thạch, người kế nhiệm lãnh đạo Quốc Dân Đảng sau Tôn Trung Sơn. Tưởng Giới Thạch sau thất bại ở Đại lục đã tiếp tục duy trì Trung Hoa Dân Quốc trên hòn đảo Bành Hồ – Đài Loan. Đài Loan ngày nay mới chính là Trung Quốc, theo tên gọi đặt ra từ thời Tôn Trung Sơn và bản thân Đài Loan vẫn gọi mình là Trung Hoa Dân Quốc.
So sánh lịch sử giữa Đài Loan và Việt Nam ta thấy sự giống nhau đến kỳ lạ. Thổ dân Đài Loan là những bộ tộc nói tiếng Nam Đảo, không phải người Hán. “Thổ dân” ở Việt Nam cũng vậy, chắc chắn không phải là người Hán rồi. Cư dân chính của Đài Loan ngày nay là người Hoa di cư từ vùng Quảng Đông, Phúc Kiến và Chiết Giang tới từ thời Minh – Thanh. Những vị khởi lập và lãnh đạo Đài Loan như Trịnh Thành Công là người xuất xứ từ Phúc Kiến, Lưu Vĩnh Phúc là người Quảng Đông (vị này cũng từng sang làm vương làm tướng ở Việt Nam với đội quân Cờ đen ở vùng Bắc Việt). Tưởng Giới Thạch là người Chiết Giang. Còn ở Việt Nam các vua Lý, Trần, Hồ, rồi Quang Trung (Hồ Thơm) cũng là những người có xuất xứ từ vùng đất Mân (Phúc Kiến, Chiết Giang). Như thế Đài Loan hay Việt Nam đều có thành phần dân tộc tương tự nhau và phi Hán, hay cùng là dân Bách Việt cả.

p1310750Tượng gỗ của bộ tộc Thao tại Đài Trung.

Tôn Trung Sơn khi lập nên Hưng Trung Hội (tiền thân của Quốc Dân Đảng) đã nêu cương lĩnh: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa”. Rõ ràng Tôn Trung Sơn, và cả nước Trung Hoa Dân Quốc do ông ta lập nên, coi triều đại Mãn Thanh là ngoại tộc người Thát giống như quân Mông Cổ, chứ không phải người Hoa chính gốc. Triều đại Mãn Thanh là thời kỳ Trung Hoa bị giặc Thát ngoại xâm thống trị.
Tương tự ở Việt Nam, việc nhà Trần không ít lần gọi mình là Trung Hoa trong các văn bản văn bia để lại và nêu cao “cương lĩnh” Sát Thát. Điều này là dễ hiểu vì thực sự nước Đại Việt lúc đó mới là Trung Hoa chính truyền, chứ không phải nhà Nguyên của người Mông Cổ.
Khi quân Mông Cổ tấn công nhà Nam Tống, một bộ phận quan quân nhà Tống đã sang Việt Nam cùng với nhà Trần làm nên cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông trên đất Đại Việt. Hoàng hậu Nam Tống trôi dạt vào bờ biển Nghệ An Việt Nam rồi được lập thờ thành tôn thần Đại Càn Nam Hải quốc gia Tứ vị hồng nương…
Tưởng Giới Thạch trước khi rút về Đài Loan đã cho di dời các báu vật của Trung Hoa về hòn đảo này. Tới nay Bảo tàng cung điện ở Đài Bắc lại là bảo tàng có nhiều hiện vật cổ đại của Trung Hoa nhất từ thời Hạ, Thương, Chu. Còn Bảo tàng lịch sử quốc gia Đài Loan thì lại toàn đồ vật đem từ bảo tàng Hà Nam về. Các chuyên gia văn vật Đài Loan rất sành đồ cổ Trung Hoa, mặc dù bản thân ở Đài Loan chẳng khai quật được thứ gì đáng gọi là cổ để trưng bày cả.

img_0341Chiếc đỉnh thời Thương ở Bảo tàng cung điện quốc gia Đài Loan.

Việc di dời các văn vật Trung Hoa một cách có hệ thống về Đài Loan của Tưởng Giới Thạch là theo đúng truyền thống Trung Hoa. Văn vật như Đỉnh đồng là tương trưng cho quyền lực của vua trước toàn thiên hạ. Ai giữ đỉnh người đó là vua. Ai có ngọc tỉ người đó là vua. Đỉnh nằm ở đâu thì đó chính là Trung Nguyên của thiên hạ, là nơi có thiên tử.
Nhà Nguyễn ở Việt Nam cũng theo truyền thống đó mà từng đúc Cửu đỉnh, nay còn đặt trước Thế miếu tại Thành nội cố đô Huế. Việc đúc Cửu đỉnh của vua Minh Mạng là sự khẳng định nước Đại Nam mới là Trung Hoa chính truyền, vua Đại Việt mới là thiên tử thực sự của Trung Hoa.
Lịch sử Việt Nam có thể đã có một cuộc di chuyển văn vật như thời Tưởng Giới Thạch, là khi Lưu Sưởng, vị vua cuối cùng của nước Đại Hưng (nước Nam Hán theo sử sách ngày nay), trước lúc bị quân Tống tấn công đã chuyển tiền tài về vùng Tĩnh Hải – Đinh Bộ ở Bắc Việt. Đây là tiền đề cho Lý Công Uẩn – Đinh Bộ Lĩnh gây dựng nước Đại Việt trong thời gian tiếp theo.
Tưởng Giới Thạch khi ra Đài Loan vẫn không quên quê cha đất tổ ở Trung Hoa đại lục. Ông ta và đến đời con ông ta vẫn có chính sách Quốc Quang, nhằm phản công chiếm lại Đại lục. Việc này cũng tương tự thời Lý ở Việt Nam, khi phần đất phía Đông (phần Thanh Hải quân) của nước Đại Hưng bị mất vào tay nhà Tống thì hết Nùng Trí Cao rồi Lý Thường Kiệt đã có những hành động tiến chiếm, đòi lại đất đai cũ của nước Đại Hưng. Rồi đến cả Quang Trung khi lên ngôi hoàng đế cũng đã bắt tay thực hiện việc đòi lại Lưỡng Quảng. Các hoàng đế Việt Nam luôn coi mình là Trung Hoa chính truyền và mang trong tâm trí việc khôi phục lại đất đai tổ tiên đã mất ở phương Bắc.
Đài Loan ngày nay vẫn dùng chữ Hoa phồn thể, tức là chữ Nho của thời xưa mà các triều đại Đại Việt dùng làm quốc văn, trong thi cử. Chẳng có ai thắc mắc là thứ chữ ấy không phải là chữ “Đài” cả. Trung Hoa Dân Quốc dùng Trung văn thì hoàn toàn hợp lý và đúng đắn.

van-vo-mieuVăn Võ miếu ở Đài Trung.

Đài Loan ngày nay lập các văn võ miếu thờ tiên thánh Quan Công, Khổng Tử,… cho dù các vị này chưa ra đảo Đài Loan bao giờ. Triều Nguyễn ở Việt Nam như thế có thờ Tam Hoàng Ngũ Đế hay Tam Đại Trung Hoa là hành động tôn thờ tổ tiên Trung Hoa của mình chứ chẳng phải ăn theo học đòi gì ở ai cả.
Người Đài Loan hoàn toàn không đặt ra vấn đề “Thoát Trung” vì họ chính là Trung – Trung Hoa Dân Quốc rồi còn thoát gì nữa. Trái lại họ biết tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa Trung Hoa truyền thống trong thời đại mới, từ tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật, nghề thủ công, văn vật,… Còn người Việt, bị thời gian phủ bụi, lịch sử khuất lấp, nay mới đề ra ý tưởng “Thoát Trung”. “Thoát Trung” là Trung nào? Trung Cộng hay Trung Hoa?
Cách nhìn lịch sử của Đài Loan ngày nay về Trung Quốc cũng giống như cái nhìn của các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn trên đất Việt đối với Trung Hoa. Lịch sử Trung Hoa cổ đại là lịch sử Việt. Người Hoa vốn là người Việt. Điều đó sẽ rất dễ hiểu nếu so sánh bối cảnh quốc gia, văn hóa và dân tộc của VIệt Nam với Đài Loan ngày nay. Tấm gương về cách phát triển, “hóa rồng”, thoát khỏi cái bóng “Trung Quốc” đè nặng lên văn hóa và suy nghĩ cho Việt Nam gần nhất, sát thực nhất không phải là Hàn Quốc hay Nhật Bản, mà là Trung Hoa Dân Quốc – Đài Loan.

Kính nhi viễn chi

Thành ngữ “kính nhi viễn chi” có nguồn gốc từ một câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ – Ung dã: Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị tri hĩ. Tạm dịch như sau: Làm việc nghĩa, có ích cho dân, tuy phải kính trọng quỷ thần nhưng nên tránh xa quỷ thần, đó là trí.
Tư tưởng “kính mà xa” này của Khổng Tử thực ra không phải là cách xử thế đối với chốn quan trường hay trong triều đình như vẫn được giải thích. Đây là cách mà Khổng Tử nói tới nên ứng xử như thế nào đối với các tín ngưỡng dân gian (việc quỷ thần). Đặc biệt Khổng Tử, như một nhà sử học đầu tiên của Trung Hoa (viết Kinh Thư), đã có một quan điểm rất đúng đắn khi xử lý các truyền thuyết, tín ngưỡng trong việc biên chép sử. Vừa phải tôn trọng (kính) những thông tin trong truyền thuyết, nhưng cũng vừa phải lùi xa, nhìn rộng, suy thấu một cách thực tế thì mới có thể thấy được sự thật của quá khứ.

P1060168Chiếc lịch ba chân thời Tây Chu với hoa văn Thao thiết và Quỳ long.

Một ví dụ thường được lấy về quan điểm của Khổng Tử đối với những chuyện quỷ thần trong truyền thuyết khi biên sử là chuyện về Hoàng Đế. Theo thần thoại, Hoàng Đế là một vị thần có 4 mặt để trông coi 4 phương. Thông tin này được Khổng Tử giải thích rằng Hoàng Đế đã phái 4 người đi trị vì 4 phương. Cách giải thích này đúng là vừa “kính”, tức là vừa tôn trọng thông tin, không bác bỏ nó, nhưng cũng vừa “viễn”, tức là nhìn nhận và lý giải thông tin một cách thực tế.
Ví dụ khác về hình ảnh “Quỳ nhất túc”, tức là con Quỳ có một chân. Khổng Tử đã bác bỏ sự hoang đường để giải thích là con Quỳ hung ác chỉ cần có 1 điểm khả thủ đó là việc giữ chữ Tín là đủ. Hay Quỳ đã biến thành một nhạc quan của vua Thuấn và người như Quỳ chỉ cần 1 là đủ. Như vậy thay vì đi tìm loài thú 1 chân, hình ảnh Quỳ nhất túc được hiểu thành thông điệp “một là đủ”.
Tinh thần “kính mà xa” việc quỷ thần của Khổng Tử bị các Nho gia đời sau hiểu không chính xác, dẫn đến sự khô cứng gò bó của Nho gia trong chép sử. Lỗ Tấn đã nhận xét: Khổng Tử ra đời, lấy những điều thực dụng sửa mình, yên nhà, trị nước, bình thiên hạ làm giáo lý, không muốn nói việc quỷ thần, những thuyết hoang đường thời thái cổ đều là những điều nhà Nho không muốn nói, cho nên về sau, chẳng những không làm gì được cho sáng sủa lớn lao thêm mà còn để cho tản mác, mất mát đi nữa (Lịch sử truyền thuyết Trung Quốc).
Cũng Lỗ Tấn đã cho rằng trong các truyền thuyết xa xưa luôn chứa đựng những điều đáng kể về lịch sử: Lịch sử của bất cứ một dân tộc nào khi bắt đầu toàn là những sự kiện mông lung, nhiều mâu thuẫn. Đó là tình hình chung và không có cách nào khắc phục được của lịch sử các dân tộc. Nhưng sau khi đã nói xong mọi câu chuyện truyền thuyết, vô luận thế nào, những truyền thuyết rất xa xưa đó về mặt lịch sử mà nói, đều có những yếu tố và hạt nhân đáng kể, chứ không phải bịa đặt hoàn toàn.

IMG_1860Hoa văn con Quỳ trên nắp một chiếc bình thời Tây Chu.

Tinh thần “kính nhi viễn chi” của Khổng Tử đã từng được các nhà Nho Việt Nam áp dụng trong soạn những bộ sử đầu tiên của đất nước. Danh nhân thời Trần là Hồ Tông Thốc, người viết cuốn Việt Nam thế chí, một cuốn sử sớm của nước ta là người đi đầu trong việc này. Quan điểm sử học của Hồ Tông Thốc khi đưa những huyền thoại, truyền thuyết vào chính sử được nêu trong bài tựa của tác phẩm Việt Nam thế chí:
Sách chép về thế phả, vốn có từ lâu, khảo xét các đời đã qua để rõ nguồn gốc lưu truyền, kê cứu những điều truyền văn, để rõ những tiêu chuẩn xưa nay. Hiềm vì chuyện tin chuyện ngờ lẫn nhau, có điều chưa hợp hẳn với lòng người. Nhưng việc đời biến đổi khác nhau thì làm sao lại khỏi có những điều quái gở. Nghìn năm về sau, khó lòng biết được đầy đủ, mà tìm trong sách vở cũng không thể tra cứu vào đâu được. Bởi vậy, ghi chép về nguồn gốc thực là nhọc lòng lắm.
Có người hỏi tôi rằng: Bỏ cái lạ giữ cái thường là đạo của thánh hiền, tại sao ông lại câu nệ theo cũ, không nêu rõ lời mới để đổi hẳn thói mê hoặc của đời?
Tôi đáp rằng: Thời thái cổ còn hỗn mang, chưa phân biệt trời đất, ngay trung thổ cũng còn có nhiều thuyết hoang đường, như những chuyện vá trời, húc núi, lấy chân ngao làm cột trời, mười mặt trời cùng mọc, v.v…, đời sau cứ theo sách mà bàn luận, không kê cứu vào đâu được, đúng hay không đúng, vẫn còn ghi chép trong sử sách. Huống chi đất Việt ta ở vào cõi xa, sự hiểu biết cũng khác, từ đời hồng hoang thời gian xa cách, trong lúc mới mở mang, sách vở chưa đầy đủ, lễ nhạc chưa làm, nếu cho là có thực thì bởi đâu mà biết? Nếu cho là không có, thì do đâu mà xét ra?
Cho nên những chuyện góp nhặt được đều là lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời. Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá; thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử; tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.
Vả lại, nước Nam ta ở vào dải đất nóng nực, trong cõi mênh mông, vua sáng đời nào cũng có. Dẫu rằng núi sông rộng lớn, chia biệt mỗi lúc một khác, nhưng từ xưa đến nay, chỉ căn cứ vào tục truyền và dấu vết, hỏi việc về dĩ vãng thì nhờ các cụ già kể chuyện lại; xét nghiệm ở tương lai thì có những đền miếu cúng thờ…
Chính nhờ tinh thần vừa tôn trọng truyền thuyết, tín ngưỡng, vừa cẩn trọng tìm kiếm đối chiếu với các tư liệu có được, qua người già kể lại, tại đền miếu cúng thờ, mà Hồ Tông Thốc đã làm được một việc lớn cho việc biên chép sử Việt, đó là đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử. 18 triều đại vua Hùng, kéo dài trên 2000 năm vốn chỉ được biết qua các truyền thuyết huyền sử. Nhìn nhận đúng thời đại Hùng Vương chính là trở về đúng với cội nguồn của dân tộc.
Bài học “Kính quỷ thần nhi viễn chi” của Khổng Tử, Lỗ Tấn, Hồ Tông Thốc tuy vẫn hiện hữu, nhưng ngày nay các sử gia Việt chỉ biết có “Viễn” mà không biết “Kính”. Thái độ “hủ Nho” này là nguyên nhân làm cho sử Việt trở thành khô khan, rời rạc, cụt lủn, mất mát đi quá nửa. Những câu hỏi lớn của lịch sử cổ và trung đại của nước Nam không được giải đáp một cách thỏa đáng, dẫn đến hàng loạt những điều vô lý, tới mức người ta không dám đem thời kỳ lịch sử này ra để thi cử bao giờ, vì ngay ban giám khảo cũng không biết trả lời thế nào là đúng.
Điểm qua vài vấn đề lớn trong sử Việt, liên quan đến chuyện “quỷ thần”:
– Lạc Long Quân giống Rồng lấy Âu Cơ là nòi Tiên sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là khởi nguồn của trăm giống Việt. Ý nghĩa của việc “sinh trăm trứng” này là gì?
– Sơn Tinh dùng cây gậy thần và sách ước biến hóa sinh tử, lấy được công chúa Mỵ Nương, đánh thắng Thủy Tinh. Phép thuật “gậy thần sách ước” của Tản Viên là gì?
– An Dương Vương xây thành Cổ Loa, cứ xây lại đổ, phải nhờ thần Kim Quy bắt Bạch Kê tinh thì thành mới xây được. Sự thật điều gì đã làm cho thành Cổ Loa bị đổ?
– Thần Kim Quy cho An Dương Vương chiếc móng thần để làm lẫy nỏ, bắn một phát cả trăm mũi tên. Rồi “Nỏ thần sơ ý trao tay giặc, nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”… “Móng rùa” ở đây là gì?
– Triệu Việt Vương được thần nhân ở đầm Nhất Dạ cho chiếc móng rồng, làm mũ đâu mâu, đánh đâu thắng đó, rồi bị Lý Phật Tử đánh tráo mà thất bại, cùng đường đi vào biển mà mất. “Móng rồng” ở đây là thứ gì?
Có lẽ không thể kể hết được những chuyện “quỷ thần” trong sử Việt vì nó luôn có mặt từ những trang sử đầu tiên đến cuối cùng. Đó là cách thức chép sử của dân gian, luôn tồn tại song song với sử sách của nhà nước. Những chuyện quỷ thần đó không phải vô lý vô nghĩa, mà thực sự mang những thông tin xác thực, đầy ý nghĩa. Cần tôn trọng những dữ liệu dân gian và có sự so sánh đối chiếu thực tế về ý nghĩa của những dữ liệu đó thì mới có thể giải đáp được những khúc mắc trong sử Việt, trả lại sự thật về quá khứ huy hoàng 4000 năm của người Việt.

Lời cảm ơn độc giả sách BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI

rong tron

Tuyển tập các bài viết lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian với tựa đề BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI ra mắt bạn đọc tới nay đã được hơn một năm. Cho dù cuốn sách đã không thể bày bán trên các tiệm sách, nhà sách, nhưng một năm qua đã có nhiều bạn đọc tìm và mua cuốn sách chưa xuất bản này. Những gì bạn đọc dành cho cuốn sách thực sự là một nguồn động viên to lớn đối với tác giả. Xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn bạn đọc gần xa đã quan tâm và ủng hộ cho cuốn sách.

Trước hết xin cảm ơn tới 2 nhà văn Hồ Trung Tú và Nguyễn Xuân Hưng, những người đã góp nhiều ý kiến và đánh giá đối với cuốn sách. Anh Hồ Trung Tú trong bài viết trên báo Người lao động về “Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba” đã rất công tâm khi xếp cuốn sách này vào chung với các tác phẩm của tác gia nổi danh đương thời khác. Quả là một đánh giá đáng giá. Anh Nguyễn Xuân Hưng thì có riêng một bài phát biểu cảm tưởng về cuốn sách, lời văn nhẹ nhàng nhưng rất hấp dẫn và đúng vấn đề, đúng với phong cách của một nhà văn.

Lời cảm ơn thứ hai dành cho các thành viên Diễn đàn Lý học phương Đông đã rất quan tâm tới cuốn sách. Đàn chủ Thiên Sứ đã ngỏ lời mua sách ngay từ đầu khi sách mới trình làng. Tiếc là do hoàn cảnh nên chưa được gặp anh để trao tặng sách. Tuy nhiên, sự nhiệt tình của đàn chủ đã là gương cho những thành viên có tiếng khác như anh Thiên Bồng ở miền Nam, tìm đặt mua sách. Đặc biệt là bác Lãn Miên, tuổi tuy đã cao mà đã 2 lần hạ cố tới “thảo lư” mua sách, tuy cả 2 lần “thảo dân” đều vắng nhà. Có lẽ duyên số… phải đợi đến lần thứ ba mới có dịp hội ngộ chăng?

Một bác có tuổi khác ở TP Hồ Chí Minh ngay trong lần ra sách đầu đã đặt mua ngay 10 cuốn. Sách này chắc không phải thứ ăn được để mua số lượng nhiều mà dùng dần khi đói. 10 cuốn sách mua về hẳn là để tặng bạn tặng bè, giúp tác giả đưa được nội dung tới nhiều người đọc hơn. Chân tình này đối với cuốn sách thật đáng quý.

Kỷ lục về số lượng mua sách thuộc về một độc giả đặt mua tới 3 lần, tổng cộng 21 cuốn sách. Độc giả này là Tổng giám đốc một Công ty cổ phần chứng khoán có tiếng. Một doanh nhân lại có hứng thú, tâm huyết đến vậy thật hiếm có. Cách suy nghĩ thực tế, chín chắn của một doanh nhân đối với vấn đề được nêu ra còn có tinh thần khoa học hơn nhiều so với các giáo sư tiến sĩ mà từng được lấy ý kiến tham khảo khi soạn sách.

Còn nhiều độc giả khác, người đến tận nơi, người gửi qua bưu điện,… đã nhận được cuốn sách. Hy vọng những gì cuốn sách đem lại cho độc giả không chỉ là sự giải trí trong đôi chốc, mà là sự giải phóng tư duy để tìm về chân lý đúng đắn hơn cho lịch sử và văn hóa nước nhà. Tìm hiểu nguồn gốc tổ tiên của mình là việc không ai không cần làm. Có lẽ vì vậy mà cuốn sách đã nhận được sự quan tâm đến vậy của bạn đọc.

Có nhiều người có những ý tưởng hay, muốn viết thành sách, nhưng lại không đủ kiên trì mà viết ra. Nhưng đáng trách hơn, có những người thấy sách hay nhưng lại không đủ nhiệt tình bỏ công ra đặt sách. Nếu bạn muốn có cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI xin đừng ngại liên hệ theo địa chỉ bachviet18@yahoo.com.

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử…“. Một lần nữa xin cảm ơn những người dân Việt đã gìn giữ những tư liệu lịch sử quý báu trong dân gian, trong thần tích, trong tín ngưỡng. Đó cũng gìn giữ để là hồn Việt còn sống mãi và tỏa sáng.

Hồn sông núi nước Nam còn mãi
Để hôm nay ta lại là ta
Hé mây trời sáng bao la
Anh linh tiên tổ Hùng ca đời đời.

Bia tap 1

Tóm tắt 18 bài viết trong cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI

1. Ông trời Bà trời
Ông Trời là Hoàng Đế Hiên Viên, cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt. Bà Trời hay Mẫu Thượng thiên là Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, cầm đầu bộ tộc Cao Sơn ở núi Côn Lôn – Tam Đảo.
2. Đế quốc Lạc Hồng
Lạc Hồng là hai vùng đất Đào – Đường thời Đế Nghiêu – Đế Nghi. Đế Nghi làm vua phương Bắc (Hồng), Lộc Tục làm vua phương Nam (Lạc), là thời kỳ Nam Giao mở nước của người Việt.
3. Tản Viên Sơn Thánh
Vị thần đứng đầu trong các thần linh Việt là Sơn Tinh – Đại Vũ, người đã phát huy ứng dụng Hà Lạc trong công cuộc trị thủy và tập hợp các bộ tộc ở bốn phương, dựng nên nước Việt thời sơ sử.
4. Rồng bay biển Bát
Cha rồng Lạc Long Quân xuất thế nơi biển Động Đình – biển Đông là vua cha của Thoải phủ, là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ của 4.000 năm trước.
5. Non sông Bách Việt
Mẹ Âu Cơ dựng nước Văn Lang ở đất Phong là Văn Vương Cơ Xương. Người sinh Bách Việt là Chu Vũ Vương sau khi diệt Ân Trụ Vương với sự phò tá của thần Phù Đổng. Những cổ vật đồ đồng thời Thương Chu hiện hữu ở vùng Đông Dương minh chứng cho những sự kiện này.
6. Lão Tử hóa Việt kinh
Vị giáo chủ Đạo Giáo Lão Tử không ai khác là Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần đã sai khiến Rùa Vàng giúp vua Chu An Dương Vương dời đô từ Tây sang Đông, xây thành ở Cổ Loa.
7. Nhân duyên Tần Việt
Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là mối lương duyên Chu – Tần, sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng, thống nhất Trung Hoa thời cổ đại.
8. Hương Bổng Đổng Đằng
Hương là đức thánh Chiêm Lý Ông Trọng trấn Hoa Di. Bổng là Phù Đổng Thiên vương đánh giặc Ân. Đổng là Huyền Thiên Đại Thánh khiển quy xà. Đằng là vua Mây họ Phạm trấn giữ miền duyên hải.
9. Thiên Nam đế thủy
Người khởi đầu nước Nam Việt là Triệu Vũ Đế, cũng là Cao Tổ Lưu Bang và là Long Hưng Lý Bôn, xuất Thái Bình, khởi nghĩa ở Long Biên mà nên nghiệp đế vương.
10. Nam quốc sơn hà
Nước Nam Việt của nhà Triệu là chuyện Triệu Quang Phục trong truyền thuyết. 4 đời vua Triệu gắn liền với tên họ của Lữ Gia, hay Lữ tộc từ Lữ Hậu.
11. Lời thề sông Hát
Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương hay Trương Hống Trương Hát nối tiếp ý chí Phục Man của Lữ Gia, lấy sông Hát làm nơi dựng cờ đền nợ nước Nam Việt, trả thù nhà cho Triệu Việt Vương.
12. Những anh hùng thời loạn
Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đánh đuổi Lục Lâm Hán quân xâm lược. Huynh đệ Sĩ Vương 40 năm tự quản Giao Châu, chống giặc giữ là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang. Sĩ Nhiếp thứ hai là Đô Hồ Phạm Tu, cũng là thần Long Đỗ, thành hoàng Thăng Long.
13. Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Ngọn cờ của khởi nghĩa Khăn Vàng trên đất Tượng Lâm của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh đã chặn đứng bước tiến của Hán quân Mã Viện xuống phương Nam, làm tiền đề cho Lý Bí dựng nên nước Tây Đồ Di – Tây Thục.
14. Sáu trăm năm Lâm Ấp
Thục Ngô mất nhưng Lâm Ấp của Mạnh Hoạch vẫn còn. 600 năm độc lập của con cháu Triệu Vũ Đế tính đến khi Lý Phật Tử về với nhà Tùy. Tấm bia cổ phát hiện ở Bắc Ninh xác nhận chùa Dâu là chùa Thiền Chúng, nơi Tùy Văn Đế xây tháp xá lợi ngay trên kinh đô của Lý Phật Tử.
15. Bố Cái đại vương
Lâm Ấp – Nam Chiếu lại phục hưng từ Bố Cái đại vương họ Phùng, là Khun Borom, tổ của người Thái ở Tây Bắc, Lào, Thái Lan và Vân Nam.
16. Giang Tây sứ quân
Cao Vương Biền người Bột Hải – biển Đông đã dẹp được quân Lâm Ấp khỏi miền Đông Giao Chỉ, trở thành Tiết độ sứ Giang Tây – Tĩnh Hải đầu tiên. Những viên gạch Giang Tây xây La Thành là gạch của Tĩnh Hải quân.
17. Đại Việt Đại Hưng
Tam vị chủ họ Khúc kiến lập nước Đại Việt đầu tiên, từ Long Thành chiếm Nghiễm Châu, đóng đô ở Hưng Vương phủ, thống nhất 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo là vật chứng rõ ràng của thời đại này.
18. Truyền thuyết Đinh Lê
12 sứ quân là các tiết độ sứ thời Mạt Đường, là Thập quốc thời Ngũ quý. Họ Lý ẩn họ Lê, âm thầm phục quốc trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, tới Lý Thánh Tông dời đô về Thăng Long và xưng Đại Việt ngàn năm độc lập.

Truyền thuyết học lịch sử Việt

Trích từ lời tựa cho sách Bước ra từ huyền thoại

Tre coc kien nhauTruyền thuyết và việc chép sử Việt
Hiếm có quốc gia nào trên thế giới mà lại giàu có về huyền thoại và truyền thuyết như nước Nam ta. Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái là tập hợp phong phú những truyền thuyết dân gian lâu đời nhất còn lưu lại được tới nay. Những truyền thuyết Việt đã được kể từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có những truyền thuyết từ thời khai thiên lập địa khi con người còn đang ăn hang ở hốc cho tới những thời kỳ gần hơn của sử trung đại.
Truyền thuyết Việt không như truyện thần thoại phương Tây, mà là những truyện “cổ tích” thực sự, nghĩa là những vết tích của những gì đã từng xảy ra trong quá khứ xa xưa. Đằng sau mỗi câu chuyện cổ được lưu truyền là lịch sử chân xác của quốc gia, của dân tộc. Lịch sử đã bị lãng quên, bị bôi đen, bóp méo bởi kẻ thù phương Bắc. Truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian là những ký ức lịch sử lưu lại được khi người Việt phải trải qua gần ngàn năm thống khổ cùng cực, lúc nào dao cũng kề cổ. Cộng thêm những hành động đốt sạch, phá sạch, tận diệt, tận xóa vết tích văn hóa văn minh trên đất Việt của không ít kẻ thù đã làm cho việc nhận ra chân lịch sử Việt đúng là thiên nan vạn nan.
Để tìm về cội nguồn và bản ngã dân tộc thì không thể thiếu những truyền thuyết lịch sử rất phong phú lưu truyền trong tín ngưỡng và văn hóa dân gian. Tục thờ thành hoàng là những nhân vật lịch sử từ xưa làng nào cũng có. Những thần phả thần tích kể lại nguồn gốc và công trạng của các thần thánh được thờ phụng  có niên gian ghi chép không thua gì những quyển sử chính thống. Những hoành phi câu đối trên cổng đình, trong điện thờ thực sự là những minh văn quí giá, cô đọng, hàm ý súc tích, sâu xa về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Những nét văn hóa trong các lễ hội làng, hội tổng được hình thành trên cơ sở những sự kiện từng xảy ra nên mang trong đó những thông tin lịch sử chân thực.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam rất đặc biệt. Thần linh của người Việt không phải là những đấng siêu nhiên, tạo ra từ trí tưởng tượng của con người. Thần tiên Việt rất thật, rất người bởi vì họ vốn là những con người thật sự được tôn thờ lên. Công lao, sự nghiệp, đạo đức của họ làm nên tinh thần bất diệt, khiến họ “hóa thần” trong tín ngưỡng và văn hóa dân tộc. Đằng sau mỗi thần tích, mỗi huyền thoại về các vị thần người Việt đều là những nhân vật, những sự kiện có thật từng xảy ra.
Đã có không ít các công trình của những học giả danh tiếng xưa và nay muốn “đọc” lịch sử qua những câu truyện truyền thuyết để tìm lại mấy ngàn năm lịch sử bị khuất lấp. Điều này quả thật không dễ dàng vì muốn vậy phải có dữ liệu để đối chiếu giữa huyền thoại và lịch sử. Trong thời gian trước đây việc này hầu như không thể làm được vì nguồn đối chiếu duy nhất cho các sử gia Việt lại là sách Tàu, tức là sách của chính những kẻ đã cố tình nhào nặn, biến hóa sử Việt. Các sử gia đành chép lại những truyền thuyết dân gian lưu vào sử để đợi đời sau giải mã, tìm lại lịch sử chân thực của dân tộc.
Hãy nghe Hồ Tông Thốc, người viết Việt Nam thế chí, một trong những quyển sử sớm nhất của nước ta, nói về việc này:
Có người hỏi tôi rằng: Bỏ cái lạ giữ cái thường là đạo của thánh hiền, tại sao ông lại câu nệ theo cũ, không nêu rõ lời mới để đổi hẳn thói mê hoặc của đời?
Tôi đáp rằng: … Cho nên những chuyện góp nhặt được đều là lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời. Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá, thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử, tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.
Ngày nay những truyền thuyết mang tiếng vang hình bóng của lịch sử đã có những nguồn để đối chiếu và kiểm chứng tin cậy. Trước hết là khảo cổ học, mà một trong những thành tựu đầu tiên của ngành khảo cổ học Việt Nam là xác định sự tồn tại của thời đại Hùng Vương qua văn hóa đồ đồng Đông Sơn huy hoàng. Cùng với những phát hiện khảo cổ, từng hiện vật, từng viên gạch, từng đồng tiền cổ phát lộ lại càng thấy lịch sử Việt cần được viết lại và những nhân vật từ trong huyền thoại đang dần bước ra, hiện rõ lên trước mắt chúng ta.
Kết hợp những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại với những dữ liệu dân gian phong phú và nguồn thư tịch văn bản còn lại nay đã cho phép nhìn ra chân tướng cổ sử nước Nam. Việt Nam – suối nguồn của văn minh phương Đông, sự thực ấy đang ngày càng sáng tỏ. Lịch sử nước Nam không phải chỉ bị lãng quên mà là bị đánh tráo, đánh tráo một cách trơ trẽn, làm cho chủ biến thành khách, anh em hóa ra thù. Giải mã các truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian lúc này càng trở nên cần thiết cho việc nhìn nhận đúng lịch sử nước nhà. Nhìn lại lịch sử để nhận lại cha ông, nòi giống, đòi lại bản quyền của nền văn hóa huy hoàng mà tiền nhân hàng ngàn năm đổ mồ hôi và xương máu xây dựng và gìn giữ.

Lăng kính đọc lịch sử qua truyền thuyết
Truyền thuyết Việt không hề “u linh” hay “chích quái” một khi chúng được sọi nhìn bằng “lăng kính” thích hợp. Truyền thuyết là hình bóng của lịch sử. Từ cái bóng đó cái hình cốt lịch sử thật sự có thể được phục dựng nếu có được “hệ quy chiếu” đúng với không gian và thời gian mà lịch sử đã xảy ra.
Những sự tích, những câu chuyện được kể lại đều xuất phát từ thực tế lịch sử, cho dù những sự kiện này đã được cách điệu hóa, hình tượng hóa trong truyền thuyết. Cây gậy thần và quyển sách ước của Tản Viên Sơn Thánh có thể truy nguyên là Hà đồ Lạc thư mà Đại Vũ đã nắm bắt được trong quá trình trị thủy. Chiếc móng rồng làm mũ đâu mâu của Triệu Quang Phục là hình tượng ngọc tỷ của Triệu Vũ Đế Lưu Bang mà họ Lữ đã mang về Nam Việt. Con voi của Bà Trưng, Bà Triệu là hình ảnh nước Tượng Đinh của các nữ anh hùng này…
Một trong những đặc điểm dễ thấy của truyền thuyết lịch sử Việt là khi kể về các nhân vật dân gian không dùng tên thật của những vị vua, vị tướng này mà dùng các danh xưng, tên hiệu. Ví dụ Triệu Đà là vị vua đầu (= Đà) của nhà Triệu. Trưng Trắc, Trưng Nhị là các vị quân trưởng (= Trưng) thứ nhất và thứ hai. Sĩ Nhiếp là vị quan văn (= Sĩ) nhiếp chính Giao Châu khi chính quyền trung ương bị mất. Đinh Bộ Lĩnh là vị thủ lĩnh của khu vực Đinh Bộ, tức là vùng Tĩnh Hải quân… Những danh hiệu trong truyền thuyết lịch sử do vậy là những gợi ý, dẫn chứng rõ ràng về công nghiệp của các bậc tiền nhân.
Cũng vì tên của các nhân vật trong truyền thuyết là các danh hiệu nên cùng một tên gọi có thể chỉ 2, 3 người hoặc cả một triều đại trong lịch sử. Truyền thuyết là những chuyện kể không hạn chế về thời gian. Chuyện của cả một vương triều có thể đều được ghi chép chung vào trong một tên gọi, một danh xưng của vị vua đã sáng lập ra triều đại đó. Cũng như tập tục thờ cúng của người Việt thường chỉ thờ vị tổ đầu tiên của dòng họ. Ví dụ cái tên Triệu Việt Vương có nghĩa là vị vua Triệu của nước Nam Việt, bao gồm cả 4 đời vua Triệu từ Văn Vương, Minh Vương, Ai Vương và Vệ Dương Vương. Hậu Lý Nam Đế không phải chỉ có 1 Lý Phật Tử mà là cả một triều đại của họ Lý tồn tại gần 600 năm sau Lý Nam Đế… Thời gian trong truyền thuyết do vậy được tính bằng triều đại, bằng nhân vật và sự kiện chứ không phải bằng năm bằng tháng như truyện lịch sử.
Truyền thuyết khác biệt không chỉ ở cách ghi chép theo thời gian. Không gian của truyền thuyết Việt cũng có những điểm cần nhận rõ khi giải mã truyền thuyết. Đầu tiên, ở thời kỳ trung đại phạm vi của truyền thuyết Việt không hạn chế chỉ ở khu vực nước Đại Việt của thời Lê thế kỷ 15-16 sau này. Ngay từ tên Lĩnh Nam chích quái, tập hợp những truyền thuyết của vùng Lĩnh Nam đã cho thấy phạm vi những truyền thuyết này rộng lớn thế nào. Lĩnh Nam hiểu rộng là toàn bộ khu vực phía Nam sông Dương Tử cho tới bán đảo Đông Dương. Vì thế mà có truyện của Triệu Đà lập nước Nam Việt đô đóng ở Phiên Ngung (Quảng Đông). Hay Giao Châu thời Sĩ Nhiếp gồm cả 7 quận, tức là cả khu vực Lưỡng Quảng. 12 sứ quân trong sử Việt là những “đạo”, những “quân” theo cách phân chia “thập đạo” gồm các tiết độ sứ đứng đầu của nhà Đường trên toàn bộ lãnh thổ của mình…
Không gian của truyền thuyết được kể qua các địa danh. Cũng như tên các nhân vật, các địa danh hầu hết đều mang ý nghĩa cụ thể và để xác định vị trí của những địa danh này cần phải đặt chúng đúng trong bối cảnh lịch sử. Hơn nữa, do ngôn ngữ biến đổi theo thời gian, phương âm các vùng trên phạm vi Lĩnh Nam và Trung Hoa rất khác nhau nên cùng một địa danh có thể được chính sử và truyền thuyết chép lại thành những tên khác nhau mà dấu vết liên hệ ngôn ngữ còn nhận thấy được. Những ví dụ có thể kể như tên người Lý Bôn là tên “tiếng Nôm” của Lưu Bang, Cảo Nương là biến âm của Cù Thị, Phùng Hưng là Phong Hưng, là vị vua đã chấn hưng đất Phong Châu. Hay tên địa danh Long Biên là tên ngày nay của huyện Long Xuyên thời Triệu Đà, Giang Tây là Dương Tây, tức là vùng phía Tây của biển (đại dương),…
Đặc biệt, một trong những đặc điểm ngôn ngữ và văn tự ảnh hưởng đến việc hiểu truyền thuyết là phép phiên thiết hay phản thiết. Do tiếng Nôm hay tiếng Hoa nói chung là ngôn ngữ tượng hình nên để ghi âm một tiếng người ta phải dùng 2 chữ ký tự, một ký tự ký phụ âm, một ký tự ký vần. Ví dụ Thái Bình là chữ phản thiết của chữ Bái. Tên Phàn Sùng thực ra là người họ Phùng. Chùa Thiền Chúng chẳng qua là ngôi Chiền trong tiếng Nôm mà thôi… Những ví dụ như vậy trong truyền thuyết và lịch sử Việt có rất nhiều. Nếu không nhận ra đây là những từ ký âm mà đọc theo mặt chữ thì sẽ bị lạc hướng rất xa, dẫn tới những nhận định sai về ý nghĩa các thông tin lịch sử trong truyền thuyết.
Đối với phương Đông tìm hiểu lịch sử dân tộc vào thời cổ thì không thể không nói đến Dịch lý. Dịch lý phương Đông là nền tảng của văn minh xưa. Thuyết Âm dương Ngũ hành, Hà đồ Lạc thư là những phát minh to lớn của người Việt. Những thông tin lịch sử được mã hóa qua các dịch tượng mà lưu truyền nên Dịch là chìa khóa để mở những cánh cửa tìm về cội nguồn.
Truyền thuyết và lịch sử Việt có nhiều nhân danh, địa danh mang những dịch tượng trong tên gọi. Xích My không phải là đạo quân tô lông my cho đỏ làm “ám hiệu”, mà là cuộc khởi nghĩa của những người Trung Hoa ở hướng Nam (hướng Xích đạo) và hướng Đông (hướng ban mai – my, nơi mặt trời lên). Cái tên Tĩnh Hải thời Đường tương đương với một loạt các từ Giang Tây, Quế Dương, Quế Hải, Đinh Bộ, đều cùng chỉ vùng phía Tây của biển, vì Tĩnh hay Đinh là tính chất của phương Tây, Quế hay Quý là con số trong thập can chỉ hướng Tây. Vận dụng dịch lý cho phép khám phá mối liên hệ và hiểu đúng nghĩa những nhân danh, địa danh trong truyền thuyết.
Những tranh luận về nguồn gốc, về chủ quyền của Kinh Dịch, của chữ viết, của lịch sử Trung Hoa rồi cũng phải đi đến chân lý. Sự thật chỉ có một và sớm muộn gì cũng sẽ sáng tỏ. Con chữ “nòng nọc” thuộc về Trê hay về Cóc chỉ cần đợi thời gian sẽ tự “đứt đuôi” mà nhảy lên bờ cho bàn dân thiên hạ rõ mặt. Những câu truyện truyền thuyết, những bức tranh dân gian đều là những minh chứng cho lịch sử nước Việt. Chỉ cần có tâm, có trí thì có là lên tìm gặp ông Trời cũng chẳng phải chuyện khó khăn.

Thủ đoạn của Minh Thành Tổ và việc biên chép sử Việt

Năm 1398 Chu Nguyên Chương, người đã đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa và thống nhất lại đất nước này, qua đời. Cháu nội ông là Chu Doãn Văn lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Kiến Văn. Thế nhưng chỉ sau đó vài năm, năm 1402, một trong những thân vương thế lực nhất là Yên Vương Chu Đệ đã nổi dậy, tiến quân từ Bắc Bình (Bắc Kinh ngày nay) xuống Nam Kinh (Giang Tô), đoạt ngôi của Chu Doãn Văn. Phủ Ứng Thiên ở Nam Kinh bốc cháy, nhưng Chu Doãn Văn không chết mà thay hình đổi dạng, mai danh biệt tích. Chu Đệ cướp ngôi của Chu Doãn Văn, lấy hiệu là Vĩnh Lạc, được gọi là Minh Thành Tổ.
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương là người Hoa chính gốc nên triều Hồng Vũ của ông ta là một triều đại Trung Hoa chính thống. Tuy nhiên triều đại của Chu Đệ thì lại khác. Cho dù Chu Đệ cố gắng khẳng định mình là con của Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu nhưng nghi án về nguồn gốc của Minh Thành Tổ vẫn cứ tồn tại đã hơn 600 năm nay. Theo những nguồn tư liệu khác nhau thì Chu Đệ là con của một cung phi người Cao Ly hoặc người Mông Cổ, đã “đẻ non” sau khi vào cung của Chu Nguyên Chương. Nói cách khác, Chu Đệ không hề mang dòng máu Trung Hoa đích thực nào, mà bản chất là người phương Bắc.
Hành động của Chu Đệ thể hiện khá rõ việc này. Ngay sau khi lên ngôi Chu Đệ lập tức tuyên bố dùng Bắc Bình làm Bắc Kinh, rồi lập ra sáu bộ làm việc ở đó. Bắc Bình là kinh đô của nhà Kim, sau đó tới nhà Nguyên (người Mông Cổ). Sau một thời gian xây dựng cung điện và nhiều lần trú ngụ lâu dài ở Bắc Kinh, tới năm Vĩnh Lạc thứ mười tám (1420) Chu Đệ hạ lệnh lấy Bắc Kinh làm kinh sư, chính thức dời đô lên phía Bắc. Rời bỏ Nam Kinh, vùng đất của người Hoa (nhà Nguyên gọi là người Nam) chuyển lên Bắc Kinh, vùng đất người Hán, người Kim là một bằng chứng cho thấy bản chất triều đại của Chu Đệ không còn là Trung Hoa nữa.
Việc sau này Chu Đệ có miếu hiệu là Thành Tổ cũng cho thấy triều đại nhà Minh từ Chu Đệ không còn là triều đại như thời Chu Nguyên Chương nữa vì một triều đại không thể có tới 2 vị tổ.
Điều đáng nói là Minh Thành Tổ ngay sau khi lên ngôi đã cho biên soạn lại các sử sách Trung Hoa theo ý đồ riêng của mình. Điển hình là bộ Thái Tổ thực lục, vốn là ghi chép thực sử của thời Hồng Vũ (thời của Chu Nguyên Chương), đã bị sửa lên sửa xuống, tới lần thứ ba Chu Đệ mới “tạm yên lòng”. Sửa chữa lại những điều ghi chép thực phải chăng muốn che đậy sự thực về xuất xứ và tính kế thừa chính thống triều đại của Chu Đệ?
Đặc biệt từ năm 1405 – 1408 Minh Thành Tổ đã cho triệu tập hàng trăm học sĩ do Giải Tấn cầm đầu thu thập sách vở trong thiên hạ để biên soạn bộ Vĩnh Lạc đại điển, trong đó phần ghi chép lịch sử chiếm một vị trí đáng kể. Có lẽ đây là một trong những cơn “bão nạn” mà lịch sử Trung Hoa đã bị nhào nặn, sửa đổi theo ý đồ của người phương Bắc. Sau khi trùng tu Thái Tổ thực lục, biên soạn Vĩnh Lạc đại điển, Tổng tài Giải Tấn bị vu tội “không biết giữ lễ bề tôi”, rồi bị ép chết trong ngục. Nguyên nhân sâu xa của cái chết này rất có thể là nhằm “giết người diệt khẩu”, che đậy việc cạo sửa sử sách dưới thời Minh Thành Tổ.
Chỉ sau 4 năm lên ngôi, năm 1406 Minh Thành Tổ cho quân tấn công nước Đại Ngu của Hồ Quý Ly. Trong đạo sắc 10 điều của Minh Thành Tổ đề ngày 8 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21/8/1406) gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng trên đường y cất quân sang Đại Việt có một điều thứ tư rất đáng chú ý: “Hỏi xem cột đồng trụ hiện dựng ở đâu, phải đập cho nát và ném ra ngoài đường, để cho người trong nước đều trông thấy” (theo Việt kiệu thư).
Đây không phải là việc “tiện thể hỏi chơi” mà thực tình Minh Thành Tổ coi là một việc hệ trọng vì trong những sắc chỉ ban bố một năm sau đó, ông ta còn nhắc lại điều này (điều ghi thêm thứ hai trong Sắc chỉ đề ngày 9 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5). Cột đồng được xem là một bằng chứng “chinh phục” tiếng tăm của Mã Viện thời Đông Hán, ấy thế mà vua Minh lại bắt phá đi. Việc này là thế nào?
Có thể thấy ý nghĩa của cột đồng không hề là điều “sỉ nhục” khi mất nước, trái lại đó là niềm tự hào của người Việt, là mốc giới phân Nam Bắc mà giặc phương Bắc đã không thể vượt qua. Chính Mã Viện cũng muốn đập gãy cột đồng để chinh phục Giao Chỉ mà không thành (trong câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”). Minh Thành Tổ cho phá bỏ cột đồng tức là phá đi đường biên giới đã xác lập này, thực hiện việc xâm chiếm An Nam, sát nhập thành quận huyện của nhà Minh.
Cũng ngay khi mới tiến quân vào nước Nam, Minh Thành Tổ còn bí mật căn dặn quân lính: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại [sách] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn” (Sắc chỉ bí mật, ban bố 10 điều cho quân lính tuân theo, xếp thứ tự ngay sau đạo sắc đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4. Việt kiệu thư).
Một năm sau, lệnh này lại được nhắc lại một cách nghiêm khắc hơn nữa: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy những sách vở văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, như loại “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết, và tất thảy các bia mà xứ ấy dựng lên thì một mảnh một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại. Nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được, không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông không biết chữ, nếu đâu đâu cũng đều làm vậy thì khi đài tải sẽ mất mát nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không được lưu lại” (Điều khoản bổ sung vào sắc chỉ đề ngày 21 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5. Việt kiệu thư).
Một tấm bia cũng phải phá lập tức, một mảnh chữ cũng không để còn… Đây không chỉ là thủ đoạn nhằm tiêu diệt nền văn hóa bản địa ở Giao Chỉ. Sâu xa hơn những hành động triệt phá này là nhằm xóa bỏ tất cả các chứng cứ lịch sử còn lưu lại ở đây. Tại sao Minh Thành Tổ phải hành động quyết liệt như vậy? Và tại sao hành động này lại phải làm một cách bí mật, không để cho người Việt biết, như thể hiện trong sắc chỉ sau:
Nay An Nam đã bình định xong; […] trừ các loại chế dụ ra còn thì tất cả các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành quốc công đã lĩnh, hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi việc, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại, rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện” (Sắc chỉ đề ngày 19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5. Việt kiệu thư).
Minh Thành Tổ vừa xóa bỏ những dấu vết lịch sử ở nước Nam, vừa che dấu hành động của mình, rõ ràng là một ý đồ thâm độc, có tính toán đầy đủ. Lịch sử An Nam quan trọng thế nào đối với một ông vua nhà Minh mà phải triệt hạ bí mật như vậy? Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi nhận ra lịch sử vùng đất Giao Chỉ – Đại Việt là lịch sử vùng đất tổ của Trung Hoa. Trong khi Chu Đệ, đứa con hoang người phương Bắc, muốn đánh lẫn trắng đen, nhập nhèm Hoa Hán, chiếm đất chưa đủ, mà muốn sang đoạt luôn cả lịch sử, tổ tiên của người Hoa Việt.
Năm 1407 giặc Minh chiếm được Đại Ngu, sát nhập thành quận Giao Chỉ. Tứ đại khí An Nam là 4 bảo vật đồ đồng gồm Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền và Vạc Phổ Minh đã bị đập nát, nấu chảy. Hành động này so với việc Mã Viện thời Đông Hán gom hết trống đồng của người Việt về đúc thành ngựa thì về bản chất là như nhau. Không phải quân Minh thiếu đồng để làm vũ khí khi đánh nhau với quân khởi nghĩa của Lê Lợi. Đây là hành động có chủ ý trước nhằm triệt tiêu những chứng tích văn hóa, lịch sử Việt. Chắc chắn trên tứ đại khí An Nam đều có minh văn, mà theo như mật lệnh của Minh Thành Tổ thì “một mảnh chữ chớ để còn”… Có lẽ 4 bảo vật trên đã bị phá trong thời gian ngắn ngay sau khi quân Minh chiếm được Giao Chỉ, chứ không phải đợi đến lúc Lê Lợi tấn công ra Bắc mười năm sau đó.
Năm 1427 khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã giải phóng Giao Chỉ khỏi ách thống trị của giặc Minh. Từ đống tro tàn đổ nát mà quân Minh để lại, sẽ không là lạ khi các sử thần thời Lê vô cùng lúng túng khi tiến hành biên sử nước nhà. Nguồn tư liệu thư tịch gốc trên đất Việt là các văn thư, bia đá đã bị giặc Minh thủ tiêu. Nguồn tư liệu ở “nước ngoài” lúc này là Vĩnh Lạc đại điển, là thứ đồ đã bị cố ý cạo sửa. Lịch sử mấy ngàn năm của người Việt dựa vào gì để viết đây?
Không có nguồn thư tịch tin cậy để khảo cứu các sử thần nhà Lê biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư chắc chắn đã phải dựa vào các truyền thuyết lưu truyền trong dân gian Việt để chép sử. Bằng chứng là rất nhiều thời kỳ của sử Việt được chép nhưng không hề thấy có lưu trong các thư tịch cổ của Trung Hoa. Đó là chuyện của cả thời Tiền Lý từ Lý Bôn, Lý Phật Tử tới Triệu Quang Phục. Đó là thời kỳ 12 sứ quân ở đất Tĩnh Hải mà không hề được các sử sách đương thời của Trung Hoa nhắc tới…
Những chuyện có được Hoa sử ghi chép lại thì cũng không hoàn toàn giống như những gì truyền thuyết Việt kể. Sự vênh lệch này cứ vậy mà tồn tại mãi tới nay, vì các sử gia Việt đời sau dựa vào đời trước mà chép, sự biện luận, chỉnh lý không có được bao nhiêu. Những mâu thuẫn trong sử Việt ngày càng khó giải thích khi dòng thời gian trôi qua, lịch sử càng xa hơn, lâu hơn để có thể minh chứng, tìm lại đúng cơn nguyên ban đầu… Lối mòn trong chép sử hình thành, rồi đã trở thành “đại lộ” chính sử, làm cho không ai nghi ngờ gì về tính chân xác của bộ sử đã viết nên sau đống đổ nát mà giặc Minh để lại. Nhưng thời gian cũng là “thước ngọc”, sự thực sớm muộn cũng phải lộ ra, cho dù Minh Thành Tổ rồi Càn Long có cố ý chế biến lịch sử Trung Hoa tới mức nào…

Lan man chuyện biển đảo trong cổ sử Việt

Hôm qua xem chương trình Giai điệu tự hào, chủ đề “Xa khơi” về biển đảo. Thấy có một “bình luận viên” trẻ phát biểu, đại ý là: nước ta phải mãi đến triều Nguyễn mới quan tâm đến vấn đề biển, lập các hải đội quản lý biển đảo. Còn trong truyền thuyết thì thiên về “lên rừng” nhiều hơn. Sơn Tinh thắng Thủy Tinh… Việt Nam không được biết đến là nước có truyền thống chinh phục biển…
Nhận thức sai lệch về lịch sử chinh phục biển đảo của Việt Nam không phải chỉ do giới trẻ kém hiểu biết. Đây là do quan niệm sai của cả ngành lịch sử Việt Nam về những vấn đề trong cổ sử, dẫn đến những nhận định xa sự thực.
Nói về biển trong cổ sử Việt trước hết phải nói chuyện Lạc Long Quân mang 50 người con xuống biển. Lạc Long Quân, quốc tổ người Việt, đã đem một nửa dân tộc xuống khai phá miền biển sau cơn đại hồng thủy thời Sơn Tinh – Thủy Tinh. Lạc Long Quân còn diệt loài Ngư tinh trên biển. Lịch sử khai thác biển của người Việt như vậy đã bắt đầu ít nhất từ 4.000 năm trước.
Câu hỏi là tại sao sử Việt chỉ chép Mẹ Âu Cơ đưa 50 người con lên rừng, đến Phong Châu lập con cả làm Hùng Vương, mở nước Văn Lang, bắt đầu quốc gia đầu tiên trong sử Việt. Còn Cha Lạc Long đi xuống biển là đi đâu? Dấu tích 50 người con xuống biển ở đâu? 50 người con theo mẹ lập nước Văn Lang. Vậy 50 người con theo cha không lập nên quốc gia nào hay sao?

i125vngoc9Hình ảnh người Việt cổ trên trống đồng.

Không phải Lạc Long quân không để lại dấu tích về quốc gia đã hình thành ở miền duyên hải mà là các nhà nghiên cứu chưa nhận ra, hay không muốn nhìn nhận những dấu tích này mà thôi. Dấu vết của Cha Lạc Long để lại rất sâu đậm trong … tín ngưỡng của người Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển mở mang Thủy phủ. Do vậy Lạc Long Quân chính là người đứng đầu Thủy phủ hay là vị Vua cha Thoải phủ trong Đạo Mẫu Việt Nam.
Vua cha của Thoải phủ là Bát Hải Động Đình, với di tích thờ chính là ở đền Đồng Bằng (xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Văn công đồng kể:
Dưới Thoải phủ giang hà hải ngoại
Chốn Động Đình Bát Hải long vương
Tam nguyên, tam phẩm, tam quan
Quản chi tội phúc nhân gian cầm quyền.
Vua cha Bát Hải Động Đình là cha của các hoàng tử và thập vị quan lớn từ Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam… Sau Ngọc Hoàng Thượng đế, Vua cha Bát Hải Động Đình là vị thần quan trọng chủ yếu của tín ngưỡng Tứ phủ.
Động Đình là nơi Lạc Long và Âu Cơ đã gặp gỡ mà sinh ra nòi giống Việt. Đây là cái nôi của người Việt cổ. Động Đình không phải là cái hồ nước sâu vài mét ở Hồ Nam. Tên Bát Hải Động Đình của vua cha Thoải phủ chỉ rõ: Động Đình là biển. Biển ở phương Tám (Bát) tức là phương Đông. Động Đình hồ nghĩa là cái hồ lớn (to như cái Đình) ở phía Đông, tức là biển Đông, hay là Vịnh Bắc Bộ với bờ biển khoanh tròn hình cái hồ lớn.
Quốc gia mà Lạc Long Quân lập nên theo truyền thuyết là Xích Quỷ. Nơi mà Vua cha Bát Hải Động Đình cùng dân khai phá lập ấp là Hoa Đào trang theo thần tích đền Đồng Bằng. Thực ra Xích là màu đỏ, màu của xứ nóng. Hoa Đào cũng là màu đỏ. Nước là Lạc Long Quân lập nên là … Hoa Hạ. Hạ hay hè cũng là xứ nóng. Lạc Long Quân là tổ của Hoa Hạ, cũng là quốc tổ người Việt vì Hoa và Việt thời cổ sử là một.
Ngọc phả đền Hùng chép một trong 18 đời Hùng Vương có vị Hùng Hoa Vương, hiệu là Hải Lang. Đây là tên của Lạc Long Quân, vị vua đã khai mở Hoa Đào trang ở vùng Bát Hải.
Câu đối ở cổng đền Đồng Bằng:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giàng hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Hoa Đào trang của Bát Hải Động Đình là vùng ven Vịnh Bắc Bộ ngày nay, tồn tại vào thời 4.000 năm trước. “Biển Bát” (biển Đông) đã được người Việt khai phá từ thời quốc gia, dân tộc mới hình thành.

SabahVị trí của Sabah, nơi tìm thấy trống đồng Đông Sơn.

Bằng chứng hiện hữu hơn quan niệm và truyền thuyết về việc khai phá biển đảo của người Việt là di vật được tìm thấy ở … Malaysia. Bang Sabah nước này, nằm phía Bắc của đải Borneo, nơi có ngọn núi Kinabalu cao nhất Đông Nam Á (trên 4.000m). Sabah nằm ngay sát quần đảo Trường Sa. Nếu lên thuyền từ Việt Nam đi Sabah thì sẽ phải qua quần đảo Trường Sa.
Khảo cổ khu vực Sabah thời kỳ trước Công nguyên không có gì ngoài đúng 1 ngôi mộ cổ trong đó lại có một chiếc trống đồng Đông Sơn được chôn cùng. Chiếc trống đồng “Việt Nam” này có niên đại khoảng 2.000 – 2.500 trước, tức là thời Hùng Vương ở nước ta. Ở khu vực này không có những hiện vật đồ đồng khác của nền văn hóa đồ đồng bản địa nên chiếc trống đồng này chỉ có thể là mang từ nơi khác đến đây. Chiếc trống đồng Việt Nam ở Sabah này là một bằng chứng rõ ràng, người Việt đã có mặt ở khu vực này từ thời trước Công nguyên.

Trong dong KotaKinabalu 008KotaKinabalu 009_1Trống đồng dạng Đông Sơn ở bảo tàng bang Sabah tại thành phố Kota Kinabalu, Malaysia.

Những người dân bản địa đảo Borneo (người Dayak) có trang phục cởi trần, đóng khố, xăm mình đầu đội lông chim trĩ dài, giống y hệt trang phục cư dân Việt cổ được thể hiện trên mặt trống đồng.  Đây hẳn cũng là dòng giống những người Việt cổ đã vượt biển tới định cư ở hòn đảo Borneo xa xôi này.
Trong truyền thuyết Việt khi An Dương Vương bị Triệu Đà đuổi, chạy đến vùng Mộ Dạ ở Diễn Châu (Nghệ An) rồi cầm sừng văn tê 7 tấc mà đi vào biển. Hiểu theo ngôn ngữ ngày nay, An Dương Vương đã lên thuyền đi ra biển tránh giặc. Nếu lên thuyền từ Diễn Châu mà ra khơi xuống phía Nam thì nơi đến đầu tiên của An Dương Vương rất có thể là đảo Borneo vì đây là hòn đảo lớn gần bờ biển Việt Nam nhất. Từ đây nền văn hóa trống đồng tiếp tục lan tỏa xuống khu vực phía Nam trên vùng đất của Indonesia ngày nay, nơi có những chiếc trống đồng và tộc người dùng trống đồng đã được biết.

P1070930_1P1070939_1 Trang phục người bản địa được trình diễn ở Sabah.

Người Việt đã đặt biển Động Đình và vua cha Lạc Long quân ở sâu thẳm trong tâm trí và tín ngưỡng của mình. Những hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, hiện vật trống đồng ở đảo Borneo cho thấy truyền thống chinh phục biển đảo của người Việt đã có từ thời đại Hùng Vương.

Văn Lang – Âu Lạc, thiên di hay bản địa?

Nhà “thiên di học” Tạ Đức phát triển ý kiến của học giả Pháp Anrousseau và Đào Duy Anh đã đưa ra thuyết về Nguồn gốc người Việt người Mường, mà phần chủ yếu là về nguồn gốc của nước Văn Lang và Âu Lạc. Giả thuyết của Tạ Đức tóm tắt chính trong 3 hướng thiên di như sau:
1.    Năm 690 TCN nước Sở thôn tính nước La có kinh đô ở Nghi Thành, Hồ Bắc. Hoàng tộc Lạc Việt (La) di tản khắp bốn phương, lập ra các nước/các triều đại mới của người Lạc Việt. Trong khoảng 690 – 682 TCN một nhóm hoàng tộc Lạc Việt họ Hùng đã tới tận vùng lưu vực sông Hồng, quy tụ các nhóm Mường bản địa, dựng nên nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên ở Việt Nam.
2.    Một nhóm hoàng tộc La khác xuôi dòng Dương Tử về Chiết Giang, dựng nên nước Ư Việt. Nước Ư Việt trở thành một nước mạnh từ cuối thời Xuân Thu, đến năm 333 TCN bị nước Sở thôn tính, hoàng tộc Ư Việt lại di tản về phương Nam, lập ra các nước mới, đầu tiên là Mân Việt ở Phúc Kiến, sau đó tiến tiếp xuống hòa nhập với nước Văn Lang ở Quảng Tây.
3.    Một nhóm hoàng tộc La khác lại ngược dòng Dương Tử tới Tứ Xuyên, lập ra triều Khai Minh nước Thục. Khi Tần diệt nước Thục và nước Ba, hoàng tộc Thục di tản tới Quý Châu, giành được vương quyền của nước Dạ Lang. Năm 257 TCN cha của Thục Phán đánh chiếm nước La Bạc ở Quảng Tây. Tiếp đó Thục Phán lãnh đạo người Tây Âu ở Quảng Tây – Vân Nam và Lạc Việt chống Tần. Tới năm 207 TCN sau khi Tần Thủy Hoàng mất Thục Phán thôn tính nốt nước Văn Lang ở đồng bằng sông Hồng, trở thành vua nước Âu Lạc là An Dương Vương.
Giả thuyết của Tạ Đức nghe qua có vẻ hợp lý, nhất là khi tác giả dẫn nhiều tư liệu khảo cổ học cho thấy mối liên hệ cội nguồn giữa văn hóa Đông Sơn với các khu vực Điền (Vân Nam), Dạ Lang (Quý Châu), Thục (Tứ Xuyên), Quảng Tây, Hồ Nam và Phúc Kiến, Chiết Giang. Tuy nhiên, sự tương đồng trong khảo cổ của văn hóa Đông Sơn với một vùng rộng lớn ở Nam Dương Tử còn có thể do nguyên nhân khác. Người Việt không cần tới “thiên di” để làm nên văn hóa văn minh. Văn hóa Đông Sơn có liên hệ nguồn cội với nhiều khu vực ở Hoa Nam bởi vì… toàn bộ khu vực này vốn là một “thiên hạ” chung dưới thời nhà Chu, kéo dài gần 1.000 năm, mà trong đó Văn Lang chính là đất lập quốc của Văn Vương, vị vua khởi đầu của nhà Chu.

THIÊN DI, NHỮNG MÂU THUẪN
Tạ Đức dựa vào tài liệu của các học giả Trung Quốc để vẽ nên nguồn gốc, vị trí và hướng thiên di của người La. Có điều, việc này tiềm ẩn nhiều sai lầm khi lập thuyết mà không dựa vào tư liệu gốc, lại dựa trên các tài liệu, nhận xét của những tác giả đời nay. Ví dụ, Tạ Đức viết: “Lưu Nham (1999) và Hà Quang Nhạc (2005) dẫn tư liệu thư tịch cho biết: nước La có từ thời Hạ, gốc ở Tân Trịnh (Trung Hà Nam), sau rời đến La Sơn (Nam Hà Nam)…”. Không cần phải có kiến thức cao siêu gì lắm cũng có thể thấy chẳng có thư tịch cổ nào nói nước La ở Tân Trịnh (Trung Hà Nam) và La Sơn (Nam Hà Nam) cả, đơn giản là vì vào thời Hạ Thương Chu thì những địa danh này còn chưa hề tồn tại. Định vị nước La ở những chỗ trên chỉ là suy đoán, nếu không nói là gán ghép, của các tác giả Trung Quốc.
Người La có nguồn gốc từ nhà Hạ… Nhưng nhà Hạ ở chỗ nào thì các tác giả còn đang rất lẫn lộn. Lúc là ở Nhị Lý Đầu ở Hà Nam. Lúc là văn hóa Lương Chử ở Chiết Giang. Nhà Hạ, khi con người còn đang ở thời kỳ đồ đá, không nhẽ lại có phạm vi mênh mông từ Chiết Giang, Giang Tô, sang cả Hà Nam? “Văn hóa Hạ” ở đâu còn chưa xác định thì làm sao có thể kết luận những di chỉ như ở Lão Ngưu Pha (Thiểm Tây) hay Nghi Thành (Hồ Bắc) là của con cháu nhà Hạ (người La)?
Việc cho rằng một nhóm người La sau khi bị Sở đánh chạy sang hướng Đông lập nên nước Ư Việt là không đúng với sử sách ghi chép về nước Việt này. Sử ký Tư Mã Thiên, Việt Vương Câu Tiễn thế gia ghi rõ: “Tổ tiên của Việt Vương Câu Tiễn là dòng dõi vua Vũ, con thứ hai của vua Thiếu Khang đời nhà Hạ, được phong ở đất Cối Kê để lo việc phụng thờ vua Vũ, xăm mình, cắt tóc, phát cỏ mà lập ấp.”
Nước Việt thời Chu, hay Ư Việt (gọi theo Tạ Đức) như thế là nước có từ thời Hạ Thiếu Khang, đâu cần phải tới thời Đông Chu mới hình thành. Lịch sử nước Việt này cũng không chép chuyện “thiên di” nào cả. Truyện chim bạch trĩ với sứ giả Việt Thường gặp Chu Công cho thấy rõ, nước Việt con cháu nhà Hạ ở cửa sông Dương Tử, cạnh biển, đã tồn tại từ đầu nhà Chu (thời Tây Chu).
Để xác định chuyện người La thiên di tới sông Hồng, lập nên nước Văn Lang, các tác giả của thuyết thiên di dựa vào mấy dòng mở đầu của Việt sử lược: Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang.
Việt sử lược là cuốn sách khuyết danh tìm thấy ở bên Tàu thời nhà Nguyên. Kẻ đã 3 lần định xóa sổ Đại Việt mà viết sử nước Việt thì liệu có bao nhiêu % đáng tin? Thời điểm đầu thế kỷ 7 trước Công nguyên (thời Chu Trang Vương) cho việc lập quốc Văn Lang hoàn toàn trái với tất cả các truyền thuyết Việt kể rằng nước Văn Lang do mẹ Âu Cơ lập nên, chí ít cũng từ 3.000 năm trước, nếu không phải là 4.000 năm…
Rất có thể Trang = Tlang hay Lang. Trang Vương có nghĩa tương tự như Hùng Vương mà thôi (Hùng – Tráng). Nếu vậy thì đoạn chép trên của Việt sử lược sẽ thành “Đến thời Hùng Vương ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật …”. Xét thế thì thời điểm ra đời của nước Văn Lang hoàn toàn không phải vào quãng 698 – 691 TCN.
Còn “người lạ dùng ảo thuật” ở bộ Gia Ninh không phải là người “xa lạ”, di cư từ nơi khác đến. Theo Giao Châu ký của Lỗ Công, được chép trong Truyện núi Tản Viên: “Đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu“. Người lạ có phép ảo thuật ở đây chính là Tản Viên Sơn Thánh.
Tản Viên Sơn Thánh được người Việt thờ là vị thần tối linh, đứng đầu Tứ bất tử nước Nam. Phép “ảo thuật” của Tản Viên được biết là cây gậy đầu sinh đầu tử và cuốn sách ước được Long Vương tặng. Suy rộng ra thì gậy thần sách ước biết sinh tử – âm dương, đo vẽ được cả đất trời của Tản Viên chính là Hà thư Lạc đồ, là kiến thức khoa học của người Việt ở thủa bình mình của dân tộc.
Tản Viên là vị thần đứng đầu trong ba vị (Ba Vì): Tản Viên Nguyễn Tuấn, Hiển Công Quý Minh, Sùng Công Cao Sơn. Ba Vì tức là 3 bộ tộc thời lập quốc đã kết hợp cùng nhau theo Tản Viên trị thủy. Tiếp đó với việc Sơn Thánh “cùng vui với các loài thủy tộc” hay Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình thì bộ tộc phía Đông dòng Thần Long cũng đã kết hợp nốt, đủ 4 phương hội tụ, bắt đầu lịch sử của người Việt. Tản Viên Sơn Thánh mới là người lạ có phép ảo thuật ở bộ Gia Ninh đã áp phục các được các bộ lạc mà lập quốc như Việt sử lược chép.
Ý kiến cho rằng Thục Phán là dòng dõi Khai Minh nhà Thục ở Tứ Xuyên hoàn toàn không có cơ sở vì theo Thục vương bản kỷ Tần đã bức tử vị Thục hầu cuối cùng của nhà Khai Minh. Làm gì còn “hoàng tộc” Thục nào nữa mà thiên di xuống phía Nam.
Còn chuyện Thục Phán lãnh đạo người Tây Âu, Lạc Việt kháng Tần những năm 216 – 207 TCN thì càng vô lý. Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ. Năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã lập quận huyện đầy đủ ở đất Việt rồi, còn nước nào ở đây nữa mà có Thục An Dương Vương?
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN], (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương. Tới năm 207 TCN Triệu Đà đã chiếm lại cả 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt. Vậy thử hỏi còn thời gian nào ở quãng giữa năm 216 đến 207 TCN để cho Thục Phán làm vua nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa?

MỘT KIẾN GIẢI KHÁC
Truyền thuyết họ Hồng Bàng về sự hình thành nước Văn Lang kể Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra trăm người con trai. Do “thủy hỏa tương khắc” nên Lạc Long Quân dẫn 50 người con về thủy phủ chia trị các xứ. Âu Cơ và 50 người con lên ở đất Phong Châu, suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình hồ, Nam tới nước Hồ Tôn.

Bach Viet 1Khi vẽ cương vực của nước Văn Lang trong truyền thuyết lên bản đồ thì thấy rõ các khu vực Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây và một phần Hồ Nam đều nằm trong phạm vi nước Văn Lang. Vì thế hoàn toàn dễ hiểu sự liên hệ cội nguồn của văn hóa Đông Sơn với Điền (Vân Nam), Dạ Lang (Quý Châu) do những khu vực này đều là đất của Văn Lang. Mối liên hệ này có từ sớm, sớm hơn nhiều so với thời “Trang Vương nhà Chu” vào đầu thế kỷ 7 TCN.
Truyện Rùa vàng về sự hình thành của nước Âu Lạc kể Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Nhân vì tổ phụ ngày trước cầu hôn lấy Mỵ Nương là con gái vua Hùng Vương, Hùng Vương không gả cho, bèn mang oán. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, cải tên nước là Âu Lạc, rồi lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thường…
Hai truyền thuyết về sự hình thành nước Văn Lang (Truyền thuyết họ Hồng Bàng) và Âu Lạc (Truyện Rùa vàng) xét kỹ thì chỉ là một chuyện vì:
–    Âu Cơ lấy Lạc Long Quân thì tên nước phải là Âu – Lạc, tức là nước do Thục Phán lập nên.
–    Âu Cơ và Lạc Long Quân “thủy hỏa tương khắc” là chuyện “tổ phụ” của Thục An Dương Vương “cầu hôn Mỵ Nương không được mà mang oán”, từ đó dẫn đến sự chia tách 2 dòng Hùng – Thục hay Âu – Lạc.
Nước của Lạc Long Quân đã biết là nước Xích Quỷ ở vùng ven biển. Còn nước Văn Lang là nước do dòng theo mẹ Âu Cơ lập nên ở Phong Châu. Hai nước này như vậy cách nhau cả nghìn năm chứ không tồn tại cùng một lúc. Tức là dòng Âu Cơ đã đánh thắng dòng Lạc Long mà lập nên nước Văn Lang, tương tự chuyện Thục Phán đánh Hùng Vương lập nên nước Âu Lạc.
Theo thần tích Việt thì Âu Cơ quê ở động Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ). Âu Cơ ở Lăng Xương tức là … Cơ Xương từ vùng đất Âu. Cơ Xương là tên của Chu Văn Vương, ban đầu là Tây Bá hầu của nhà Ân Thương. Cơ Xương khởi nghiệp đóng đô ở đất Phong. Văn Vương ở đất Phong là nước Văn Lang ở Phong Châu. Nghĩa của từ Văn Lang là vua Văn, tức là Cơ Xương, rất rõ ràng, không cần phải suy luận, liên hệ ngôn ngữ gì cả. Mẹ Âu Cơ lập nước Văn Lang chính là Văn Vương Cơ Xương.
Lang Văn Cơ Xương nổi lên ở phía Tây nên còn gọi là Thục vì Thục là từ khác chỉ hướng Tây. Đất Ba Thục hay đất của Tây Bá hầu là đất Âu, đất gốc tổ của họ Cơ nhà Chu ở Quý Châu. Thư tịch cũ (Cựu Đường thư, Thái Bình hoàn vũ) cũng cho biết “Quý Châu là đất Tây Âu, Lạc Việt”. Thục An Dương Vương chính là Lang Văn Cơ Xương.
Văn Lang và Âu Lạc như vậy chỉ là 2 tên gọi của cùng một nước. Văn Lang là gọi theo tên vua Văn. Âu Lạc là gọi theo tên 2 vùng đất hay 2 dòng tộc Lạc Long – Âu Cơ hợp nhất thời Lang Văn.
Chuyện Thục Phán đánh Hùng Vương là cách kể khác của sự kiện Cơ Phát, con của Văn Vương Cơ Xương đã phát động các chư hầu đánh Trụ diệt Ân. Sự kiện này trong truyền thuyết Việt bị chép lẫn với việc Tần (Chiêu Tương Vương) từ đất Xuyên Thục diệt nước Văn Lang của nhà Chu (Noãn Vương) năm 256 TCN. Ở cả 2 sự kiện này Thục Phán và Tần đều xuất phát từ phía Tây (Thục) đánh nước ở phía Đông, do vậy được gọi là An Dương Vương, nghĩa là vị vua đã dẹp yên phương Đông (An = yên, Dương là hướng mặt trời mọc, tức là hướng Đông).
Nước Văn Lang – Âu Lạc của thiên tử Chu gồm Bắc Việt, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu, đúng như cương vực được chép trong truyền thuyết và hoàn toàn phù hợp với những liên hệ cội nguồn của văn hóa trống đồng Đông Sơn với các khu vực Điền và Dạ Lang. Rộng hơn, thiên hạ của nhà Chu bao gồm cả các nước ở vùng Nam Dương Tử, Nam Hoàng Hà, cũng như … Đông Dương (phạm vi Lào, Căm-pu-chia ngày nay). Sự tương đồng về văn hóa của Đông Nam Á cổ đại (bao gồm cả Hoa Nam) chính là từ nguyên nhân lịch sử này.