Hùng Tạo

Loạn Quốc Nhân bỏ kinh trốn chạy
Chu Lệ Vương lưu Trại Hòa Bình
Vua tàn bạo, dân điêu linh
“Cộng hòa hành chính” lập thành thay vua.
Lửa Ly Sơn trò đùa tai quái
Mua nụ cười mà hại đến thân
Bao Tự mê hoặc hôn quân
U Vương thác loạn, Khuyển Nhung phá thành.
Thế nước yếu hoàn kinh Cổ Lũy
Chu Bình Vương về lại Phong Châu
Tấn Tần tranh bá chư hầu
Sở, Tề, Tống đổi thay màu Xuân Thu.
Đông Chu nối Tây Chu thiên tử
Triều mười tư Hùng Tạo Quân Lang
Chiến Quốc máu chảy tràng giang
Xương chất thành núi, tiếng than dậy trời.
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.
Rạng rỡ thay một thời cổ sử
Mấy ngàn năm còn tỏ trời Đông
Văn minh đúc mặt trống đồng
Hướng về tiên tổ, nhận dòng anh em.

Hùng Định

Lặng lặng im mà nghe chuyện cũ
Tráo nỏ thần Trọng Thủy bội ân
Quốc Tây cự tráng Chân Đăng
Nhà Chu dứt, nối nhà Tần lập nên.
Diệt sáu nước Đinh Tiên Hoàng đế
Lấy Lạc Dương chia Quế, Tượng, Tam
Xua quân Ngô Việt qui hàng
Chiếm vùng Hà Sáo, vượt sang Hoàng Hà.
Nước Vỹ Thủy chảy ra biển lớn
Đất nhà Tần khắp bốn phương trời
Phân chia quận huyện rạch ròi
Trung Hoa thống nhất vào thời Chân Lang.
Thứ mười lăm triều Hùng Cồ Việt
Xây Trường Thành làm kiệt sức dân
Xa đồng trục, thư đồng văn
Chôn Nho, đốt sách oán ân để đời.

Thơ Đường

Thơ Đường ai biết có từ đâu
Là của Việt Nam hay của Tàu?
Bằng trắc thanh âm reo tựa nhạc
Ngôn vần câu chữ khéo thay nhau
Hồn thơ Đỗ Phủ như còn mãi
Vận nước Lý Uyên trải dãi dầu
Vạn vật xoay vần trong quá khứ
Chén trà nay bữa ngẫm nông sâu.

Ai oán Mỵ Châu

Tôi nghe ai oán chuyện Mỵ Châu
Ngọc quí lầm gieo nước đục ngầu
Thân vàng sánh cùng loài lang sói
Nợ nước, tình nhà nỗi nỗi sầu.

Trọng Thủy – Sở Khanh kẻ bất nhân
Lừa dối Triệu Cơ đoạt nỏ thần
Bỏ vợ, đem con trai Triệu Chính
Phản vua, bội ước, dẫn quân Tần.

Lông ngỗng cô chiêu đánh dấu đường
Tấm lòng nhẹ dạ thật đáng thương
Đầu rơi dưới lưỡi gươm oan nghiệt
Máu chảy thành châu đáy đại dương.

Cổ Luỹ còn đâu hỡi Thục Vương?
Bạo tàn giặc chiếm đất Văn Lang
Ngàn năm nghiệp mất Chu thiên tử
Đớn đau này lúc vượt trùng dương.

Vạn Xuân

IMG_3008

Trên đất Việt mỗi độ hoa đào nở
Cành mai vàng rực rỡ trước gió xuân
Có nhớ chăng công sức của tiền nhân
Dựng nghiệp nước mấy ngàn năm lịch sử?

Ngọn núi Đọ quê hương người Việt cổ
Bên sông Chu, sông Mã chảy muôn đời
Hạt lúa vàng thẫm đẫm giọt mồ hôi
Thuở khai quốc của Thần Nông, Viêm Đế.
Xuân đất nước chuyện bao mùa còn kể
Kỷ Hồng Bàng khai phá đất phương Nam
Cánh chim hồng, chim hộc lượn trên ngàn
Dòng Lạc Việt lớn lên cùng đất nước.

Gian nan thay các vua Hùng lập quốc
Gương Tản Viên trị thủy lũ sông Đà
Dãy Hoàng Liên ý chí Việt vượt qua
Cơn hồng thủy của hàng nghìn năm trước.
Mở bờ cõi cha Lạc Long tiếp bước
Mặt biển Đông dậy con sóng Lạc Hồng.
Đậm tình người câu chuyện lá trầu không
Têm cánh phượng cho nước màu đỏ mãi.

Tuổi lên ba chí anh hùng có phải?
Giữ xuân đời ngựa Gióng đuổi giặc Ân.
Tiếng trống đồng giữa trời đất còn ngân
Vang như tiếng nỏ thần dân Âu Lạc.
Ngẫm vuông tròn bánh chưng ai chế tác?
Đạo âm dương gói trời đất xa gần
Để ngàn đời tỏa sáng một chữ “văn”
Dòng lịch sử nước Văn Lang chảy mãi.

Vua Lý Bôn mong quốc gia vạn đại
Thuận lòng người đặt tên nước Vạn Xuân.
Quê hương ơi, trải mưa nắng bao lần!
Vầng nhật nguyệt có khi mờ khi tỏ
Đánh giặc mạnh bao phen bon ngựa đá
Thắng thiên tai bao đất mới khai hoang
Vẫn ngọt ngào, đầm ấm giọng hò khoan
Trên đất mẹ những năm dài khó nhọc.

Nụ cười tươi át đi bao tiếng khóc
Mùa xuân về rừng lại thắm hoa xoan
Áng mây hồng bay trên đỉnh đại ngàn
Một nước Việt trong vạn mùa xuân mới.

Thăng Long cảm

Ngút nhìn hào khí đất Thăng Long
Tiếng trống ngàn xưa giục giã lòng
Lạc Ấp trăm voi chầu phục Chủ
Đông Quan muôn ngựa tiến theo Ông
Dời đô hạ chiếu hưng rồng phượng
Giết giặc lập thề vọng núi sông
Hùng tráng cơ đồ dân Bách Việt
Vầng dương sáng rọi mảnh trời Đông.

Bách Việt trùng cửu

Chắc các bạn sẽ hỏi “Bách Việt trùng cửu” nghĩa là gì? Xin đáp, đây là cụm từ tôi đặt ra khi suy ngẫm về những gì mình biết làm và muốn làm. Tại sao vậy?

Bách” có thể hiểu là tùng bách. Tôi là thành viên của Chương trình bảo tồn cây lá kim quốc tế (ICCP) và có hiểu biết sâu rộng về tài nguyên thực vật Việt Nam, cách bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên này. Những cây tùng, cây bách trầm hùng và kỳ lạ của Việt Nam có thể đại diện cho hệ thực vật độc đáo và đa dạng của đất Việt. “Cây rừng làm cảnh” là tên cuốn sách đầu tiên của tôi viết về thực vật Việt Nam.

Việt” có người cho là cách phát âm khác của từ Diệc, hay là một loài chim phổ biến ở Việt Nam trước đây. “Chim Việt đậu cành Nam”. Hình ảnh chim Hồng, chim Lạc bay trên trống đồng cổ tượng trưng cho đất Việt và dân tộc Việt. Tài nguyên động vật của đất Việt cũng thật vô cùng phong phú. “Nem công, chả phượng” được biết là món ăn của vua chúa. Tại sao chỉ vua chúa mới có thể ăn? Tại sao không thể phát triển tài nguyên này thành những giá trị cho mọi người. Đó là ý tưởng của tôi về sử dụng tài nguyên thiên nhiên Việt Nam để tôn vinh người Việt và tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần cho người Việt và cho thế giới.

Bách Việt” là tên của dân tộc Việt, dân họ Hùng sau công nguyên ở vùng Hoa Nam. Nền văn minh của dân Việt mãi toả sáng từ hàng nghìn năm nay cho dù đang bị sang tên, cướp đoạt. Đó là kinh Dịch, một kiệt tác triết học cổ đại. Đó là những phát minh cơ bản của loài người như kim chỉ Nam, cách trồng lúa nước, cách dệt vải, cách làm giấy, … Tiếp nối văn minh đó là một chữ “Văn”. Bách Việt chính là Văn Lang. Với dòng máu văn nghệ trong mình tôi thích làm thơ, viết sách, giỏi nghề dịch thuật. Và tôi cũng rất nặng lòng với lịch sử và văn hoá nước nhà.

Trùng cửu” là 9+9=18. Người Việt xưa bắt đầu bằng những con số trong Hà Thư và Lạc Đồ mà gói ghém được cả quan niệm về trời đất, xác định được bốn phương, biết và điều khiển được quan hệ con người – thiên nhiên – xã hội. Ngày nay, trong thời đại sản xuất và tiêu dùng đại chúng, số hoá lại càng là yêu cầu không thể thiếu được trong quản lý và lập kế hoạch. Những dây chuyền sản xuất càng hiện đại, những tập đoàn càng lớn càng cần có hoạt động tiêu chuẩn hoá. Đó cũng là một phần sở trường của tôi về khả năng phân tích, thiết kế, tiêu chuẩn hoá các quá trình sản xuất và dịch vụ.

“Trùng cửu” hay con số 18 còn là một khái niệm về sự liên tục. 18 đời vua Hùng. 18 cánh chim Hồng trên mặt trống đồng Đông Sơn. “Trùng cửu” tức là “trường cửu”, là sự vĩnh cửu và trường tồn của văn minh Bách Việt. Ngày nay, thế giới đầy rủi ro của khủng hoảng, của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu toàn cầu, … thì phương Đông chính là nơi sẽ quyết định vận mệnh của nhân loại nhờ nền văn minh và bản chất văn hoá của mình. Biết dựa vào nền tảng đó thì sẽ thành công. Đó chính là ý nghĩa của cụm từ “Bách Việt trùng cửu”, một lời nhắn, một ánh sáng toả từ quá khứ cho tôi, cho bạn và cho chúng ta.
Đêm Trung thu năm Kỷ Sửu 2009.