Bồ cu bồ các

Bài đồng dao Việt Nam được Tô Hoài ghi trong truyện Mực tàu giấy bản:
Bồ cu bồ các
Tha rác lên cây
Gió đánh lung lay
Là vua Cao Tổ
Những người mặt rỗ
Là chú Tiêu Hà
Tính toán chẳng ra
Là thím Lý Bí
Những người vô ý
Là chị Hoắc Quang
Ăn no chạy quàng
Là ngươi Tào Tháo
Đánh bạc cố áo
Là anh Trần Bình
Cái bụng tày thình
Là ông Lưu Bị.

Trong bài trên kể từ Cao Tổ (Lưu Bang), Tiêu Hà, Trần Bình, Hoắc Quang, Tào Tháo, Lưu Bị đều là các vị vua, các vị văn thần thời Hán. Thế nhưng lại có “thím Lý Bí” của sử Việt bỗng nhiên ở đâu “lạc” vào bài đồng dao này. Lý Bí cũng là thời Hán chăng?

Không hiểu bài đồng dao này muốn nói lên điều gì. Tại sao lại pha lẫn sử Hán và sử Việt trong một bài đồng dao rất Việt Nam như vậy? Liệu có phải bài đồng dao muốn nhắc nhở chúng ta … lịch sử Việt đã bị “bồ cu bồ các tha rác” vào hay không? Sử Việt đã bị phủ đầy “rác”, làm người ta không còn nhận ra chân tướng sự thật, một sự thật đầy huy hoàng của quá khứ.

Khổng Minh bắt Mạnh Hoạch ở đâu?

Câu chuyện Khổng Minh bảy lần bắt Mạnh Hoạch có lẽ ai cũng biết từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Nhưng cuộc chiến với Man Vương Mạnh Hoạch này đã xảy ra ở đâu? Hiện nay người ta chỉ dựa vào truyện Tam quốc diễn nghĩa mà … suy đoán, Mạnh Hoạch cầm đầu người Man, quấy rối nhà Thục Hán ở phía Nam, thì là vùng Vân Nam, Trung Quốc.
Tuy nhiên, ở Việt Nam lại có ghi chép hoàn toàn khác về một cuộc đụng độ khá dài giữa Mạnh Hoạch và các vị quan đô hộ từ thời Đông Hán. Thần tích xã Hương Ngải, Thạch Thất, Hà Nội ghi rất tỷ mỉ chuyện này, tóm tắt như sau:
Thời Hán Hiến Đế có ba anh em họ Chu là Chu Tuấn, Chu Hùng và Chu Kiệt, người ở Ba Trung (Ba Thục?). Khi họ ra làm quan cho nhà Đông Hán thì đổi tên thành Chu Cẩn, Chu Khiêm và Chu Đàm. Ba vị này được Hán Hiến Đế cử sang nước Việt để … chống Mạnh Hoạch vì khi đó “Tôn Quyền giận việc Lưu Bị cướp mất Kinh Châu liền bàn mưu với Mạnh Hoạch của nước Việt ta làm phản lại nhà Hán”. Khi 3 vị đến vùng Sơn Tây thì được tin “quan Chánh đô hộ cũ đã bị Mạnh Hoạch giết chết”. Ba vị liền đóng quân, chia nhau ở 3 trang ấp. Chu Cẩn đóng ở trang Cẩm Bào, nhận cháu của Sĩ Nhiếp, con Sĩ Cung, là Sĩ Năng làm Đệ nhất mưu sĩ, “đánh nhau với Mạnh Hoạch ở các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa”. Ba vị còn lập nhiều tuyến phòng thủ dọc từ Cẩm Bào tới Ái Châu.
Khi Tào Tháo soán ngôi nhà Hán, Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương, có cử “sứ giả nhà Hán đeo đai vàng” đến gặp, “phong cho ngài Cẩn làm Chánh đô hộ, ngài Khiêm và ngài Đàm cùng làm Phó đô hộ, để cùng giữ đất Nam Việt”.
Được một thời gian Chu Cẩn ốm mất. “Mạnh Hoạch sai người theo đường tắt từ Ái Châu men theo hai bờ sông tiến ra”. Chu Khiêm, Chu Đàm chống trả Mạnh Hoạch, bị thua và chết trận. Phải đợi đến khi Gia Cát Khổng Minh dẫn quân Nam chinh mới thu phục được Mạnh Hoạch…
Thần tích này hiện còn lưu tại đình làng Hương Ngải (Đình Giang). Hương Ngải là một xã có tiếng là hiếu học, nhiều người đỗ đạt và còn lưu nhiều nét văn hóa cổ như những chợ phiên chỉ bán một thứ đồ (lá dong, cá, gà, …) mỗi năm. Trong xã có đền thờ Tam Vị họ Chu, nay gọi là Quán Hương Ngải. Cổng đền có câu đối:
Vạn lý hồng quang y Hán nhật
Ức thu hạo khí phổ Nam thiên.
Dịch:
Vạn dặm ánh hồng theo triều Hán
Nghìn thu hào khí phủ trời Nam.

Dentamvi

Quán Hương Ngải.

Theo tư liệu này thì Mạnh Hoạch đã tấn công Giao Châu, giết quan đô hộ từ thời Đông Hán, khi cả Tôn Quyền lẫn Lưu Bị còn chưa làm chủ được Giao Châu. Vùng đất của Mạnh Hoạch có thể xác định khá rõ theo thần tích, là vùng giáp với “Tuyên Quang, Hưng Hóa” tới tận “Ái Châu”, hay là vùng Tây Bắc Việt Nam ngày nay. Mạnh Hoạch là người Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Chuyện này nghe qua thấy quá kỳ lạ nhưng không phải không có căn cứ.
Theo Tam quốc diễn nghĩa Gia Cát Lượng sau thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân có dừng lại sông Lư Thủy, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh. Trong bài văn tế có câu:
“Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục
Binh khởi đất Mường
Đất Mường” ở đây cho thấy Man=Mường, Man Vương Mạnh Hoạch là người cầm đầu các tộc người Mường Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Sông Lư Thủy có thể là sông Lô, chảy vào Việt Nam ở Hà Giang ngày nay. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông Lửa hay con sông chảy qua đất Đào thời Hồng Bang. Gia Cát Khổng Minh đã từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi Tây Bắc nước ta.
Hán Trung Vương đã phong cho 3 vị họ Chu làm Chánh, phó đô hộ. Tức là khi đó “nước Việt ta” thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Vùng Tây Bắc nước ta sau khi Mạnh Hoạch đầu hàng Khổng Minh cũng thuộc về triều Thục.
Như vậy hoàn toàn có thể Lưu Bị từng là một vị vua của nước Việt. Lưu Bị được sử Việt chép dưới tên Lý Bí hoặc Lý Phật Tử. Gia Cát Lượng nếu vậy thì không là ai khác mà là … Lý Phục Man, người đã bình định Man Vương Mạnh Hoạch ở vùng phía Nam của nước Thục. Chữ “Lý” trong Lý Phục Man chưa chắc đã có nghĩa là họ Lý, mà với nghĩa “ông lớn”, như trong tên Lý Ông Trọng hay Lý Khổng Lồ vậy.
So sánh Hoa sử và Việt sử ta thấy có sự tương đồng. Lưu Bị (sử Việt gọi là Lý Phật Tử) cùng anh họ là Lưu Biểu (Lý Thiên Bảo) rút chạy từ Kinh Châu về Quí Châu (Cửu Chân). Sau đó chiếm Ích Châu của Lưu Chương. Lưu Bị tiến quân lên phía Bắc, được Khổng Minh bày mưu thắng Tào Tháo ở Tứ Xuyên (đất của Trương Lỗ trước đó). Tứ Xuyên là đất trung tâm cũ của Hưng đế Lưu Bang, nên Lưu Bị sau khi chiếm Tứ Xuyên đã xưng là Hán Trung Vương.
Ích Châu là tên vùng đất của người Điền khi Hiếu Vũ Đế thu phục và sát nhập thành một quận của nhà Hiếu (khi Lộ Bác Đức diệt nhà Triệu Nam Việt?). Như vậy Ích Châu là vùng đất Điền Vân Nam. Sử Việt ghi là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử xưng vương ở Ai Lao, tức là đất người Di Lão ở Vân Nam. Xem thế thì Vân Nam – Ích Châu đã nằm trong đất của nhà Thục Hán từ khi Lưu Bị khởi nghiệp. Mạnh Hoạch không thể hoành hành ở Vân Nam được mà chỉ có thể “binh khởi đất Mường” ở Tây Bắc nước ta.
Tây Bắc, vùng đất của Mạnh Hoạch, cũng là vùng đất lập quốc của Nam Chiếu dưới thời nhà Đường. Chính vì thế mà Tam vị họ Chu ở Hương Ngải mới hiển linh, trợ giúp Cao Biền đánh Nam Chiếu. Thần tích Hương Ngải chép:
Đến năm Hàm Thông thứ 6 đời Ý Tông nhà Đường, sau khi họ Triệu ở nước Việt ta khởi binh, tự xưng là Nam Chiếu, vua Ý Tông cho Cao Biền làm đô hộ”. Cao Biền được ba vị họ Chu hiển linh phù trợ khi đánh quân Nam Chiếu. Cao Biền có bài thơ:
Chu gia tam vị lẫm tinh thần
Thích Hán kim Đường trước đại huân
Thất thập nhi từ đô hiển thánh
Ức niên thu hựu ức thiên xuân
Dịch
Họ Chu ba vị vững tinh thần
Xưa Hán nay Đường lập đại huân
Hơn bảy chục đến đều hiển thánh
Trăm ngàn thu lại trăm ngàn xuân.
Sau Bố Cái Phùng Hưng lịch sử các dân tộc Tây Bắc cần ghi nhận thêm một vị thủ lĩnh thời trung đại là Man Vương Mạnh Hoạch. Còn lịch sử Việt Nam cần phải nhìn nhận lại triều Thục của Lưu Bị như một triều đại chính thống của người Việt.

Văn nhân góp ý:
Có tư liệu khác cũng ở vùng Thạch thất viết tên Mạnh Hoạch là không đúng, 5 anh em ông là người Mường, tên chính xác là Mãnh Hoạch vì người Mường chỉ có họ Mãnh không có họ Mạnh. Sự minh định này giúp kết luận bài viết của bạn càng thêm phần chắc chắn.
Đoạn trích sau đây xác định suy đoán của bạn về sông Lô- Lư giang:
Trích: Nguyên thi kỉ sự – An Nam tức sự (Trần Phu – thời Nguyên)
Núi non trùng điệp chia đỉnh nhọn
Sóng nước cuồn cuộn chảy vào sông Lô
Nước này bốn mặt đều là núi, chỉ có 4 ngọn núi Kì Lãng, Ngọc Đài, Phật Tích, Mã Yên ở trong cõi là cao. Huyện Thiện Nhữ ở phía tây nam có núi Xích Thổ, cao vạn nhận tựa chọc trời, liên tiếp mấy trăm dặm. Làm bè vượt sông Nam Sách, đi 40 dặm thì đến sông Phú Lương (sông Hồng ?), nước sông chảy xiết, không lớn lắm. Phía nam sông có chợ Kiều, cư dân đông đúc. Lại đi 40 dặm nữa đến sông Quy Hóa, còn có tên là sông Lô, lớn ngang với các sông Hán, sông Ngạc. Sông này từ phía tây nước Đại Lí chảy xuống, phía đông nam chảy vào biển, tức là hạ lưu của sông Lô – nơi mà Gia Cát Vũ Hầu vượt sông vậy. Có 4 bến sông, nước thủy triều buổi tối chẳng bình thường.

Gia Cát Lượng chết được phong tặng là Trung Vũ Hầu nên đời thường gọi là Gia Cát Vũ Hầu.

Bách Việt trùng cửu:
Tên khác của sông Lô là Quy Hóa, cũng có thể bắt nguồn từ chuyện Nam Chiếu Phùng Hưng. Việt Nam sử lượccủa Trần Trọng Kim có chép:  “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Quy Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên…
Đất Quy Hóa là Tuyên Quang, Yên Bái, nơi Lý Cao Tông chạy loạn sau này.

Phùng Hưng

Tôi nghe kể chuyện đức Phùng Hưng
Đường Lâm nghĩa dũng phất cờ hồng
Tiếp vận Mai Hoàng nêu chính khí
Phá Đường, Nam quốc tỏ phong công.

Nối bước tiền nhân diệt Lục Lâm
Tộc Mường, tộc Thái nổi phong vân
Mông Lễ thịnh hưng dòng rồng phượng
Đế truyền nghiệp lớn mấy trăm năm.

Lăng mộ nghìn thu cỏ biếc xanh
Trong thơ trong đá ẩn tinh anh
Ngưỡng như cha mẹ, thần thượng đẳng
Hiển linh hộ quốc mãi lưu danh.

Văn nhân góp ý:
Đại Mông và Đại Lễ là tên gọi khác của nước Nam Châu (Chiếu).
– Mông là ký âm Hán văn sai của từ Mường phiên thiết là Minh Đường, căn cứ vào tên gọi thì đây thực sự là 1 nước của người Việt sắc tộc Mường.
– Lễ là biến âm của Lỗ, nước vua Chu phong cho Chu công thời Xuân thu – Chiến quốc.

Khởi nghĩa Phùng Hưng qua các di tích ở Hà Nội

Theo sử sách ngày nay Phùng Hưng là quan lang người Đường Lâm, cùng các em trai khởi nghĩa vào khoảng những năm Đường Đại Lịch (766-779), chiếm được thành Tống Bình, làm vua một thời gian rồi mất. Con là Phùng An được sự ủng hộ của Bồ Phá Lặc, đã lên ngôi, tôn cha là Bố Cái đại vương. Phùng An sau thần phục sự chiêu dụ của nhà Đường.

Ở làng Hòa Mục, quận Thanh Xuân, Hà Nội có đền Dục Anh thờ bà Phạm Thị Uyển. Bà là cháu ngoại của Phùng Hạp Khanh, cha của Phùng Hưng, lúc 18 tuổi lấy Mai Thúc Loan, sau trở thành Mai Hoàng Hậu. Bà cũng là người chỉ huy quân khởi nghĩa trong cuộc chiến ở thành Tống Bình và đã tuẫn tiết trên sông Tô Lịch. Cùng với 2 người em trai khác là Phạm Miên và Phạm Huy (là các tướng của Phùng Hưng), bà Phạm Thị Uyển được lập làm thành hoàng và thờ tại đình làng Hòa Mục (thần tích đình Hòa Mục).

Những thông tin trên khá mâu thuẫn. Cháu gái của Phùng Hưng lại là Hoàng hậu của Mai Hắc Đế, trong khi 2 cuộc khời nghĩa này cách nhau tới gần 60 năm. Vào thời điểm năm 722 khi Mai Thúc Loan khởi nghĩa như vậy thì ông cậu Phùng Hưng còn chưa sinh ra, nói gì đến việc cháu gái làm Hoàng hậu của Mai Hắc Đế. Dựa vào thông tin 2 người em trai Phạm Miên và Phạm Huy của Mai Hoàng hậu là các bộ tướng của Phùng Hưng có thể đoán Phùng Hưng có tuổi xấp xỉ với Mai Hoàng hậu. Như thế thì khởi nghĩa Phùng Hưng phải xảy ra vào thời điểm ngay sau cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và là sự kế tiếp của cuộc khởi nghĩa này.

Theo bia đình Quảng Bá, Phùng Hạp Khanh, cha của Phùng Hưng, cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, sau khi khởi nghĩa thất bại mới về quê Đường Lâm. Mai Thúc Loan khởi nghĩa ở vùng Nghệ An. Vậy quê của Phùng Hưng (Đường Lâm) là ở đâu mà cháu gái lại làm Mai Hoàng hậu, còn cha thì tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan? Châu Đường Lâm thời Đường theo một số khảo cứu phải ở vào khoảng miền Tây Thanh Hóa Nghệ An ngày nay.

Đại Việt sử kí toàn thư chép: “… Hưng xưng là Đô Quân, Hãi xưng là Đô Bảo, đánh nhau với Chính Bình, lâu ngày không thắng được. Đến đây dùng kế của người làng là Đỗ Anh Hàn, đem quân vây phủ. Chính Bình lo sợ, phẫn uất thành bệnh ở lưng mà chết. Hưng nhân đó vào đóng ở phủ trị, chưa bao lâu thì chết. Con là An tôn xưng làm Bố Cái đại vương (tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái, cho nên lấy [Bố Cái] làm hiệu). Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ đô hộ, tuế thời cúng tế (tức là Phu hựu chương tín sùng nghĩa Bố Cái đại vương. Đền thờ nay ở phường Thịnh Quang, phía đông nam ruộng tịch điền).”

Đền thờ Phùng Hưng ở phường Thịnh Quang như vậy là đền đã được ghi trong quốc sử. Hiện nay trong văn bản Hán Nôm còn lưu được bản thần tích “Phu hựu chương tín sùng nghĩa Bố Cái đại vương” của đền này. Thậm chí còn lưu được bài thơ đề vịnh của Trần Bá Lãm trong sách La thành cổ tích vịnh. Tuy nhiên, để đi tìm được vị trí ngôi đền này thật chẳng dễ dàng gì. Các sách hiện tại chỉ chép chung chung là đền nằm ở phường Thịnh Hào, quận Đống Đa, Hà Nội, còn cụ thể đền Phùng Hưng ở chỗ nào thì không ai nói được.

Hiện tại ở khu vực Thịnh Hào có một địa điểm khả dĩ là vết tích của đền Phùng Hưng thời Lê. Đó là đình Đông Các ở ngõ Đình Đông, đầu phố Nguyễn Lương Bằng, thuộc phường Nam Đồng. Thông tin về đình này như sau:
“… ở đầu phố Nam Đồng, có ngõ Đình Đông. Gọi tên như vậy là do trong ngõ có đình Đông Các. Đình này trùng tu năm Hàm Nghi thứ nhất (1885) nhưng vốn có từ thế kỷ XVII. Trong đình còn hai tấm bia cổ. Một tấm dựng bên trái đình, văn bia do tiến sĩ Nguyễn Độn, tức Danh Nho soạn năm Chính Hòa thứ 13 (1692) và một tấm dựng trong đình do tiến sĩ Đỗ Công Quỳnh soạn năm Chính Hòa thứ 25 (1701). Cả hai bia này cung cấp một chi tiết chính xác về vị trí địa lý của đình này: Văn bia nêu rằng đây là “đình của giáp Đông Các phường Thịnh Quang, ở bên trái đàn Xã Tắc”. Như vậy là đoạn đầu phố Nam Đồng ngày nay là đất xóm Đông Các, và vào đời Lê đã có tên phường Thịnh Quang. Đình này thờ Tây Hưng đại vương (có người cho rằng đó là Phùng Hưng) và 3 nhân vật huyền thoại: Anh Đoái đại vương, Hoàng thái hậu Phương Dung, Bảo Hoa công chúa.”
Văn bia đình Đông Các chỉ rõ đây chính là phường Thịnh Quang thời Lê. Khu vực này nằm cạnh đàn Xã tắc xưa, nên có khả năng cũng chính là khu “ruộng tịch điền” đã được nhắc đến. Tên phường Nam Đồng có thể nghĩa là khu phía Nam của ruộng (đồng) tịch điền, đúng với vị trí sử đã chép về đền Phùng Hưng.

Thế nhưng cái tên Tây Hưng đại vương của thành hoàng làng Đông Các mới là lạ. Chẳng nghi ngờ gì việc đây chính là tên của Phùng Hưng vì… bài vị vị thần này đã chuyển về đình Hoàng Cầu để thờ là Bố Cái đại vương. Đình Đông Các bây giờ không còn tồn tại nữa. Chỉ còn cái cổng đình cổ ở đầu ngõ Đình Đông với vài dòng chữ Nho sót lại. Khi người ta xây đồn công an phường Ô chợ Dừa thì các thứ trong đình đã chuyển về đình Hoàng Cầu gần đó. Đình Hoàng Cầu trước đó thờ Phùng An làm thành hoàng, nay lại thờ thêm bố là Phùng Hưng của đình Đông Các.

Tên Tây Hưng đại vương ở đình Đông Các cho thấy chữ Phùng trong họ của Phùng Hưng thực chất là Phong, là tượng chỉ hướng Tây. Phùng Hưng hay Tây Hưng đại vương nghĩa là vị vua đã chấn hưng đất Phong phía Tây. Cùng với câu đối:
“Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc Khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang”
Có thể khẳng định Phùng Hưng chính là người đã chiếm Phong Châu đô hộ phủ, xưng vương, lập nước… Nam Bang thời Đường. Nước Nam Bang ở Phong Châu đô hộ phủ thời Đường thì không còn gì khác là nước Nam Chiếu, một nước vẫn được coi là của những người Man, Di ở Vân Nam.

Bản thân từ “Bố Cái” đã được giải nghĩa là “Vua lớn” theo tiếng… Mường Mán. Người dân tộc vùng cao nước ta tới nay vẫn gọi các lãnh đạo chính quyền là “bố” và dùng từ “cái” để chỉ sự to lớn. Bố Cái đại vương là thủ lĩnh Nam Man (Nam Chiếu).

Xem lại lịch sử cuộc chiến tranh giữa Nam Chiếu và Đường trên đất Giao Chỉ có thể thấy thêm một số vết tích.
Toàn thư: “Mậu Dần, [858], (Đường Đại Trung năm thứ 12). … Đô hộ là Lý Trác làm chính sự tham lam tàn bạo, mua hiếp bò ngựa của người Man, mỗi con chỉ trả cho một đấu muối, lại giết tù trưởng Man là Đỗ Tồn Thành, dân Man oán giận, dẫn đường cho người Nam Chiếu đến lấn cướp biên giới. Đất Tây Nguyên, Đào Lâm, thuộc Phong Châu, từ xưa vẫn có quân phòng đông 6.000 người, tù trưởng Man Động Thất Quán bên cạnh là Lý Do Độc, thường giúp đỡ việc đóng giữ và thu tô thuế. Viên Tri Châu Phong Châu (không rõ họ tên) nói với Tác xin bỏ quân đóng thú, chuyên ủy cho Do Độc ngăn phòng. Từ đó Do Độc thế cô, không thể đứng vững được. Thác đông tiết độ của Nam Chiếu (Thác đông: ý nói khai thác cõi đông; Giao Chỉ ở phía đông nước Nam Chiếu, cho nên đặt chức ấy) gửi thư sang dụ Do Độc, đem con gái gả cho con trai của Do Độc, bổ làm Thác đông thác nha . Do Độc bèn đem dân chúng làm tôi nước Nam Chiếu. Từ đấy Giao Châu mới có mối lo về người Man [Nam Chiếu].”

Tiết độ sứ của Nam Chiếu dụ tù trưởng Lý Do Độc có danh là Thác Đông tiết độ, con của Lý Do Độc được phong là Thác Đông thác nha. Như vậy rõ ràng nước Nam Chiếu phải nằm ở phía Tây của Giao Chỉ, tức là vùng Tây Bắc và Lào ngày nay là đất Nam Chiếu.

Theo Toàn thư thì cuộc xâm lấn An Nam vào tháng 9-861, sự suy sụp của Đô hộ phủ vào năm 863 và chiến thắng đầu tiên của Cao Biền ở Đô hộ phủ đều là chống quân Nam Chiếu. Nhưng trong khi đó Cựu đường thư lại chép là do “người Lão đã xúi giục người Man Lâm Ấp đánh phá An Nam”. Nước Lâm Ấp nếu hiểu là quốc gia của người Chàm thì thành ra các sử liệu bị mâu thuẫn. Tên Lâm Ấp cũng không thích hợp để chỉ người Chàm vào thế kỷ IX. Chính xác hơn phải hiểu là “người Man Đường Lâm đánh phá An Nam”. Nói cách khác Nam Chiếu chính là những người đã xuất phát từ Đường Lâm (Thanh Nghệ) trong cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng.

Năm nay, trong ngày mất của Bố Cái đại vương Phùng Hưng các làng thờ ông làm Thành Hoàng đều tổ chức tế lễ. Làng Kim Mã, Quảng Bá, Triều Khúc thì lấy ngày 13/8 âm lịch làm ngày giỗ. Còn đình Hoàng Cầu lại lấy trước đó một ngày (12/8 âm lịch). Sự sai lệch này liệu có phải vì tục cha mất
thì mới con nối ngôi? Ngày Phùng An (thành hoàng gốc ở đình Hoàng Cầu) lên ngôi là 13/8, thì ngày mất của Bố Cái Phùng Hưng là 12/8.

DinhKimMa

Lễ tế Đương cảnh Thành hoàng Bố Cái Phùng Hưng ở đình Kim Mã

Câu đối ở cửa đình:
Kim Mã hiếu trung tiêu sử sách
Đường Lâm nghĩa dũng biểu sơn hà
Dịch:
Đường Lâm nghĩa dũng truyền non nước
Kim Mã hiếu trung sáng sử xanh.

Ở Kim Mã còn có lăng mộ Phùng Hưng, mới được tu bổ lại. Xin giới thiệu một số câu đối hay ở khu lăng mộ này.
Vân phi ngũ sắc cao kình trụ
Phong tống thiên tường túc tịnh môn
Dịch:
Ngũ sắc mây bay, cao cột lớn
Ngàn tầng gió thổi, vững cửa thiền
Mây ngũ sắc chỉ bậc đế vương. Gió ngàn trùng ở đây liệu có phải nói đến … Phong Hưng? Phong là Phong Châu, Vân là Vân Nam, là đất của Nam Chúa – Phùng Hưng.

Một câu đối nữa có “phong vân”:
Phong vân bất bạt cương thường trụ
Nhật nguyệt trường minh tiết nghĩa môn
Dịch:
Gió mây không nghiêng cành đạo lý
Xuân thu sáng mãi cửa nghĩa tình.

LangPhungHung
Lăng Phùng Hưng ở Kim Mã

Câu đối tạc trên mộ đá của Phùng Hưng:
Đường nhân kỳ hữu tàm/ hoa ngạc liên huy/ thân hậu thiên vô Huyền Vũ giáp
Hán tặc hà túc sỉ/ thảo mao(?)  xướng nghĩa/ sinh tiền bất sổ Lục Lâm binh.
Tạm dịch:
Người Đường có biết xấu, đài hoa liền sáng, thân mình không tránh giáp Huyền Vũ
Giặc Hán bao hổ thẹn, thảo mãng dấy nghĩa, trước trận sá gì lũ Lục Lâm.

Một cuộc khởi nghĩa hào hùng, tiếp nối Mai Hắc Đế, từ đất Đường Lâm Thanh Nghệ tiến lên chiếm Phong Châu đô hộ phủ, mở nước Nam Châu, Tây Hưng đại vương sống mãi trong lòng các dân tộc người Việt.

Tiếp Lạc khai Đinh

Một câu đối ở đền Đồng Nhân thờ Hai Bà Trưng cũng đã đánh đố nhiều bậc túc nho:
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương
.

Chỗ khó hiểu ở đây là tại sao Hai Bà lại “tiếp Lạc khai Đinh“? Trưng Vương là dòng “Lạc Hùng chính thống“, “tiếp Lạc” là dễ hiểu, nhưng sao lại “khai Đinh“.
Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cách thời Trưng Vương tới gần ngàn năm.
Trước đó là còn có Ngô Vương Quyền, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Triệu Việt
Vương, Lý Bí. Làm sao Hai Bà Trưng “khai Đinh” được?

Tôi nghĩ rằng “khai Đinh” đây không phải là mở triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng. Đọc kỹ vào câu đối ta thấy:
– Phần “tiếp Lạc khai Đinh” đối với “khu Tô kháng Mã“. Bao vây Tô Định và chống Mã Viện, cả hai chiến công này là nối tiếp nhau, cùng một thời. Như vậy vế đầu đối lại không thể dùng 2 ý “tiếp nối Lạc Hùng” với “khai mở triều Đinh” của Đinh Tiên Hoàng, là 2 sự kiện cách nhau cả ngàn năm được. “Khai Đinh” đây là khai triều đại ngay sau khi đã “tiếp Lạc“.
– Vế đầu của câu đối đã chỉ rõ, sau khi “tiếp Lạc khai Đinh” thì Hai Bà đã xưng vương trong 3 năm. Nói cách khác, Trưng Vương đã mở triều đại có tên là… Đinh trong 3 năm! Đinh là tên triều đại chưa hề được nhắc đến trong sử sách về Trưng Vương.

Cái tên Đinh của Trưng Vương có nghĩa là gì? Theo tôi từ “Lạc” trong câu trên không chỉ một triều đại cụ thể nào mà là chỉ một thời đại của dân Lạc Việt. Nếu không thì đã phải là tiếp Triệu (Triệu Đà) hay tiếp Thục (An Dương Vương) rồi. Lạc tức Lạc Việt, Lạc Hồng xưa.

Như vậy chữ Đinh cũng không phải chỉ tên một triều đại, mà là một từ chỉ … phương hướng. Đinh, hay Tĩnh là tính chất của phương Tây. Vì Hai Bà Trưng khởi nghĩa từ “Châu Phong”, là vùng đất Tây Thổ, nên có thể người xưa cho rằng triều đại của Trưng Vương có tên là Đinh (Tây):

Ngàn tây nổi áng phong trần.
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Trong lịch sử đã có vài lần nước ta được gọi là Đinh/Tĩnh. Dưới thời nhà Lương, Khúc Thừa Dụ được làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, tức là Tiết độ sứ vùng phía Tây của biển Đông. Phần phía Đông được gọi là Thanh Hải, chính là Quảng Đông – Quảng Tây, đất của Lưu Ẩn, Lưu Cung, người đã đánh Khúc
Thừa Mỹ, thống nhất Tĩnh Hải và Thanh Hải lập nên nước … Đại Việt.

Tiếp theo là Đinh Tiên Hoàng, hiểu theo từ ngữ tức là vị hoàng đế đầu tiên của phần đất Đinh (Tĩnh Hải – Giao Chỉ), vì khi đó phần Thanh Hải (Lưỡng Quảng) đã bị rơi vào tay nhà Tống. Ngay khi lập quốc Đinh Tiên Hoàng đã sai con đi sứ sang Tống. Nhà Tống phong cho Đinh Liễn làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ. Điều này cho thấy Tĩnh Hải hay Đinh vào thời gian này là chỉ phần Giao Chỉ.

Chữ “Đinh” ở mặt sau của đồng tiền Đại Hưng bình bảo phải chăng cũng là chỉ vùng đất này, với nghĩa tiền được đúc ở phần Tây của nước Đại Hưng?

Cuối cùng xin dịch lại câu đối:
Tiếp Lạc, khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô, kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương

Dịch là:
Tiếp Lạc Hồng mở Đinh Tây, áo mũ xưng vua ba mùa lưu sử sách
Đuổi Tô Định chống Mã Viện, núi sông thu lại vạn xuân truyền danh thơm.

Văn nhân góp ý:
Bách Việt thân,
Rất có thể chữ ‘Khai Đinh’ chỉ ra: Chính cuộc khởi nghĩa của 2 bà Trưng đã đưa đến việc lập ra nước Tây Thục của Lý Bí – Lưu Bị , triều đại sử Việt gọi là  hậu Lý Nam đế, tôi hoàn toàn tán thành kiến giải của bạn, từ Đinh ở đây chỉ có nghĩa là phía Tây đồng nghĩa với Thục.
Để Sử thuyết được chấp nhận và trở thành lịch sử thì còn rất nhiều việc phải làm, hy vọng với sức trẻ và nỗ lực không mệt mỏi của bạn rồi đây cũng có ngày chúng ta thành công.

Bách Việt trùng cửu:
Cảm ơn anh Văn nhân đã chỉ lối.
Tôi nghĩ cái gì thật thì không thể là giả. Cái gì giả thì không thể thành thật. Sự việc sớm muộn gì cũng sẽ rõ ràng.
Chúc anh mạnh khỏe để chúng ta cùng đi tới đích của chặng đường dài này

Nam minh, Tinh Vệ

Thiên Nam ngữ lục kể về việc kết hôn của Kinh Dương Vương:

Kinh Dương ngày ấy đi chơi
Thuyền trăng buồm gió tếch vời Nam minh.

Ở chốn Nam minh ấy Kinh Dương Vương gặp con gái Thần Long:

Nàng rằng: thiếp con Động Đình
Thần Long là hiệu, Nam minh là nhà.

Nam minh được chú dẫn là «bể rộng ở phía Nam».
Sách Trang Tử, Nam hoa kinh có câu «Bằng chi tỉ ư Nam minh đã, đoàn phù dạo nhi thường giả cửu vạn lý».
Dịch nghĩa: Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không.
Như vậy Nam minh chính là biển Nam. Trong lịch sử Hoa Việt thì rõ ràng đây là vùng biển Đông ngày nay. Theo Thiên Nam ngữ lục như trên thì Nam minh là nơi gặp gỡ của Kinh Dương Vương và con gái Thần Long Động Đình. Hay Động Đình chính là biển Đông, là biển chứ không phải hồ Vân Mộng ở Hồ Nam.
Thiên Nam ngữ lục tả cảnh con gái Thần Long khi xuất hiện ở Nam minh:

Nhơn nhơn có khí tự nhiên
Ngỡ nhìn Tinh vệ lại lên chơi bời.

Liên hệ với câu chuyện Tinh Vệ điền hải (Tinh Vệ lấp biển), có xuất xứ từ thiên Bắc Sơn Kinh thuộc sách Sơn Hải Kinh, là một bộ cổ tịch thời Tiên Tần của Trung Quốc :
«Núi Phát Cưu có nhiều cây dâu chá. Có loài chim đậu trên đó, trông như con quạ, đầu có hoa văn sặc sỡ, mỏ trắng, chân đỏ, tên là Tinh Vệ, tiếng kêu như gọi tên nó. Đó là người con gái trẻ của vua Viêm đế, tên là Nữ Oa. Nữ Oa đi chơi ở biển Đông, bị chết đuối không về được, hóa thành chim Tinh Vệ, thường ngậm gỗ đá ở núi Tây để lấp biển Đông».
Thần thoại Trung Hoa thời Viêm Đế mà lại có biển Đông thì Viêm Đế phải ở chỗ nào? Chắc chắn Viêm Đế không thể ở tận Hoàng Hà. Thậm chí Viêm Đế cũng không ở vùng sông Dương Tử, để có dòng «Thần Nông Bắc» là người Hoa, «Thần Nông Nam» là người Việt như ý kiến của một số nhà nghiên cứu. Viêm Đế Thần Nông ở ngay trên vùng «đất thiêng Khương Thủy chính tông», giáp với biển Đông, tức là vùng Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Đây đúng là đất gốc tổ của người Hoa Việt từ thời thần thoại.
Con của Kinh Dương Vương và Thần Long Động Đình là Lạc Long Quân, lấy nàng Âu Cơ sinh trăm trứng, nở trăm con trai:

Làm tổ Bách Việt từ đây
Đã gồm phúc thọ lại rày đa nam.

Cũng như các sách sử khác ở đây khẳng định Lạc Long Quân và Âu Cơ là quốc tổ của chung cộng đồng Bách Việt. Diễn giải cách khác thì dòng Lạc Việt là suối nguồn của cả Bách Việt.
Khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay, 50 người con theo cha xuống biển:

Cha con xuống ở thủy cung
Mở mang chế độ, quan phòng đông nam.

Câu này cho thấy Lạc Long Quân đã mở mang đất nước theo hướng Đông Nam, chính là vùng thủy cung Nam minh, quê mẫu Thần Long Động Đình. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, Lạc Long Quân đã mở nước theo vùng ven biển Đông lên phía Nam (phía Bắc ngày nay). Việc này trùng khớp với khu vực của văn hóa khảo cổ Hạ Long từ quanh vịnh Bắc Bộ sang Quảng Đông, Phúc Kiến, tới cả Philippin.
Còn 50 người con theo mẹ lên núi :

Mẹ đem lên ở Tản Viên
Sửa sang giếng mối, giữ gìn qui mô.

Sau đó con trai cả lên ngôi Hùng Vương ở Phong Châu:

Thốt sự Hùng Vương là anh
Thay cha lên trị cung xanh cửu trùng
Làm đô ở đất Phong Châu
Việt Trì thế khỏe muôn thu nước nhà.

Tản Viên – Phong Châu là vùng Tây thổ trong truyền thuyết Hùng Vương, hay là núi Tây trong chuyện Tinh vệ lấp biển ở trên. Việt Trì có thể không phải là Ao Việt như vẫn dịch, mà Trì có nghĩa là «thế khỏe muôn thu». Việt Trì là nước Việt vững bền.
Trang Tử, Nam Hoa kinh, Tiêu dao du:
Biển Bắc có con cá gọi là cá Côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim Bằng, lưng rộng khỏang biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển (Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Nam là Ao trời.”
Trang Tử sống vào thời Tiên Tần, lúc đó Trung Hoa theo chính sử còn chưa tiến xuống phương Nam. Vậy làm sao Trang Tử có thể biết có cõi biển Nam (Nam minh), lại còn có hình cái Ao (mô tả chính xác hình ảnh của biển Đông)?
Rất có thể Trang Tử người nước Tống, là vùng đất Quảng Đông bây giờ, phía Nam đất này giáp biển Đông. Vì vậy trong tác phẩm Nam hoa kinh ông thường dùng nhiều hình ảnh về biển Đông hoặc biển Nam Hải.

Bát Hải Động Đình

Trong tín ngưỡng Đạo giáo ở Việt Nam có một vị thần khá đặc biệt là vua cha Bát Hải Động Đình. Đền thờ vị thần này tới nay còn lưu lại ở nhiều nơi như đền Đồng Bằng ở Thái Bình:

Bát Hải Động Đình là vua cha của nhiều vị thần khác trong đạo giáo:
– Quan lớn đệ nhị thượng ngàn, là con thứ hai của vua cha Bát Hải Động Đình, cai quản miền núi.
– Đệ tam thoải phủ, là con thứ ba. Đây cũng là Mẫu Thoải, là thủy thần.
– Đệ ngũ Tuần tranh, con thứ năm, bị lưu đày và thờ ở đền Kỳ Cùng Lạng Sơn.
– Ông hoàng Mười ở Nghệ An.
Tất cả những vị thần Đạo giáo này đều là từ thời Hùng Vương. Như vậy thì Đạo giáo ở Việt Nam đã chẳng phái có từ lâu, trước khi bị 1000 năm Bắc thuộc hay sao?

Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là vùng biển chứ không phải hồ. Bát là 8, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Bát Hải tức là … biển Đông. Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là biển Đông của nước ta, chứ chẳng phải đầm Vân Mộng ở Hồ Nam bên Tàu.
Vua cha Bát Hải Động Đình như thế cũng chính là Thần Long Động Đình, người sinh ra con gái, cưới Kinh Dương Vương trong truyền thuyết. Nói cách khác đây là “ông ngoại” của Lạc Long Quân, hay là dòng máu “ngoại” của dân Bách Việt.

Có nơi còn gọi là Bạt Hải Long Vương, như ở đền thờ tại Tiên Lãng Hải Phòng. Bát hay Bạt chỉ là hai cách ghi âm khác nhau. Nhưng có lẽ bất ngờ hơn khi biết Bạt Hải chính là … Bột Hải trong cổ sử. Đền thờ Cao Lỗ, vị tướng của Thục An Dương Vương ở Nho Lâm Diễn Thọ (Nghệ An) ghi rõ họ Cao xuất xứ từ Bột Hải, với bức hoành phi “Bột Hải triều Nam” và nhiều câu đối trong đền như:
Vạn cổ anh linh nguyên Bột Hải
Ức niên miếu mạo đối Cao Sơn
Bột Hải triều Nam thì không thể còn có chỗ nào khác là biển Đông của nước ta.

Việc xác định Bột Hải là Bạt Hải – biển Đông – Động Đình cho thấy các đảo Bồng Lai, Doanh Châu trong Hoa sử nằm ở rìa Đông Bột Hải, tức là danh thắng Vịnh Hạ Long nước ta. Tần Thủy Hoàng phái Từ Phúc đi tìm chốn Bồng Lai cũng là đi ra biển Đông. Tất cả cho thấy… Hoa sử bắt đầu từ chính vùng ven biển Đông Việt Nam, đúng với truyền thuyết Việt Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình và Lạc Long quân dẫn 50 người con mở mang thủy phủ Nam minh về phía Đông Nam…

Văn nhân góp ý:
Trong tâm thức người Á đông RỒNG là 1 biểu tượng cực kỳ hùng vỹ , mỗi lần rồng hiện là rung chuyển trời đất , sóng gào gió thét …, hình tượng rồng không thể tách rời môi trường của Rồng là biển cả , trong tứ linh Long-Ly-Quy-Phụng thì Rồng trấn phương Đông …ghép 2 thông tin biển cả và phương đông ta được ‘biển đông’…thực vậy chỉ ‘biển Đông’ mới xứng đáng với tầm cỡ của Rồng – Long.
Long cung của Long vương không thể nào xây ở cái đầm nước ngọt nông tèn tẹt chỉ vài ba thước nước như ở đầm Vân mộng được vì vậy họ Thần Long Động đình của Long mẫu là tổ mẫu của người Việt không thể sống ở vùng Hồ nam Trung quốc ngày nay.
Thông tin về họ Thần long ở động đình hồ đã mặc nhiên khẳng định Động đình hồ không phải
là cái đầm nước ngọt mang tên Vân Mộng ở Hồ nam , chỉ có biển Đông mới xứng với họ Thần long do đó Động đình hồ … chốn cội nguồn của   người họ Hùng nay là người Việt chỉ có thể là miền đất nằm bên bờ Biển đông chứ không thể là bất kỳ nơi nào khác .

Thục An Dương Vương

Một đoạn trong Thiên Nam ngữ lục về “Thục Kỷ – An Dương Vương”:

Thủa ấy có An Dương Vương
Người quê Ba Thục ở đàng phương tây
Anh hùng trí lực ai tày
Mới sai trấn cõi giáp rày Văn Lang.
Dòm Hậu Hùng nghiệp trễ tràng
Lăm le ý sắm mở mang xa gần
Vân Nam bèn mới dấy quân
Của mượn tượng mã, lưới ngăn nhân tài.

 

Như vậy ở thế kỷ XVII người ta vẫn xác định An Dương Vương người nước Thục ở phương Tây, dấy binh đánh Hùng Vương từ Vân Nam. Thế mà chẳng hiểu sao thời nay các sử gia lại đoán già đoán non là nước Thục của An Dương Vương gốc ở Cao Bằng, cố tình lờ đi sự đồng nhất về văn hoá và khảo cổ của vùng Vân Nam, Quảng Tây với Bắc Việt (trống đồng) với thời Hùng Vương.

Còn có tư liệu cho rằng Thục Phán là người ở Ai Lao. Thực ra Ai Lao Di hay Di Lão là tên của tộc người sinh sống ở vùng Vân Nam Quí Châu. Thục Phán ở Ai Lao cũng đồng nghĩa với Thục Phán xuất phát từ vùng Vân Quí.

Thêm một chi tiết trong giải mã câu chuyện An Dương Vương trong Thiên Nam ngữ lục: Câu chuyện kết thúc với việc Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự tử và tương truyền ngọc trai biển (do Mỵ Châu hoá thành) rửa ở giếng này sẽ rất sáng. Trong TNNL về việc này có câu:

Vì chưng duyên cũ vợ chồng
Hiệu Tẩy Chu tỉnh ở trong Loa Thành.

Tẩy Chu tỉnh” chính là giếng ngọc (giếng rửa hạt châu).
Như vậy Mỵ Châu hoá thân thành hạt châu, và chữ Châu ở đây còn gọi là Chu như trong câu thơ trên. Điều này hoàn toàn phù hợp với giải thích Mỵ Châu là con gái vua Chu trong Sử thuyết họ Hùng.
Dùng nước giếng để rửa châu cũng ám chỉ chữ “Thuỷ” là nước trong Trọng Thuỷ. Nước giếng là hình tượng của Trọng Thuỷ, ngọc châu là Mỵ Châu. Thuỷ cũng là chỉ phương Bắc, như trong tên của Tần Thuỷ Hoàng.
Câu chuyện An Dương Vương đúng là đã gói một giai đoạn lịch sử rất dài của dân Hoa Việt, từ:
– Nhà Thương sang nhà Chu: An Dương Vương kế Hùng Vương. Rồi việc sứ giả Thanh Giang trao cho Thục Vương Qui Tàng Dịch (móng của Kinh Qui).
– Xây dựng nhà Chu: qua việc Cao Lỗ xây thành Cổ Loa.
– Nhà Chu sang nhà Tần: với chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thủy, hay giữa con gái vua Chu (vua Chủ Cổ Loa) và chàng rể phương Bắc.

Long Hưng

Đại Việt sử ký toàn thư chép về Tiền Lý Nam Đế:
Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình [phủ] Long Hưng“.

Theo thần phả Tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ truyền ở đền Giang Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội, bản chính do Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân (1572) thì “vua Lý tên Bí (còn gọi là Bôn), tên chữ là Cử Long Hưng. Bố ông tên Lý Toản, mẹ là Lê Thị Oánh…

Như vậy “Long Hưng” không chỉ là tên quê mà còn là tên gọi Lý Nam Đế. Long Hưng tương ứng với “Hưng vương” như trong câu đối trên đền thờ Lý Nam Đế:
Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân.

“Hưng” hay “Hên, Hơn”, đọc trệch ra thành “Hớn, Hán”.

Đại Nam quốc sử diễn ca (thế kỷ XIX) về sự xuất hiện của Lý Nam Đế:
Cỏ cây chan chứa bụi trần
Thái Bình mới có Lý Phần Hưng Vương.
Và khi vua lên ngôi:
Vạn Xuân mới đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên
Lịch đồ vừa mới kỷ niên
Hưng Vương khí tượng cũng nên một đời.
Thậm chí trong tác phẩm không hề nói tới tên Lý Nam Đế mà chỉ gọi là Hưng Vương. Không thể phủ nhận được, Hưng Vương chính là tên gọi của Lý Nam Đế cho mãi tới gần đây vẫn được sử dụng.

Văn nhân góp ý
Tôi nghĩ cụm từ Cử long Hưng không phải là họ và tên.
Cử là ký âm sai chữ Cả nghĩa là to nhất đứng đầu, tương tự Long là Lang nghĩa là chúa. Cử long Hưng chính xác là Cả lang Hưng tiếng Việt nghĩa là vua hay chúa đầu tiên tên Hưng.

Câu đối về Phùng Hưng

Theo sách Thần tích Việt Nam của Lê Xuân Quang, ở đền thờ Bố cái đại vương có câu đối:
Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam bang.

Tạm dịch:
Rung động nhà Lý Đường, năm Thuận Đức lừng oai kinh giặc Bắc
Nối vận vua Mai Đế, phủ lỵ Phong thành vững nước Nam.

Câu đối này cho một số thông tin liên quan đến Phùng Hưng:
– “Vận thừa Mai Đế“: cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng là tiếp nối khởi nghĩa của Mai Thúc Loan.
– “Phong thành phủ lỵ“: kinh thành chính của Phùng Hưng là Phong thành. Như vậy có thể Phùng là đọc sai của Phong.
– “Thuận Đức“: ở đây chính là chỉ triều đại của Phùng Hưng, đã làm giặc phương Bắc khiếp sợ. Phùng Hưng có niên hiệu là Thuận Đức.

Câu đối đã cho thông tin khá chi tiết về triều đại của Phùng Hưng: niên hiệu là Thuận Đức, thủ đô là Phong thành, tên nước là Nam bang.

Văn nhân góp ý:
Bách Việt trùng cửu và các bạn thân ,
Rất có thể … Vua hay chúa của Nam bang gọi là Nam chúa, ký âm Hán tự trệch đi thành Nam chiếu… và Nam Chiếu trở thành quốc hiệu, nước Nam Chiếu nghĩa là nước của vua phương Nam.