“Trống đồng lập thể” ở Lào

Một trong những hiện vật đồ đồng cổ gặp ở Lào là chiếc thùng đựng vỏ sò (tiền cổ). Chiếc thùng này mang đặc trưng của văn hóa Điền ở Vân Nam với những tượng đúc theo phương pháp thất lạp (đúc nguyên khối bằng khuôn sáp ong). Những chiếc thùng giống vậy cũng đã được tìm thấy ở Vân Nam, được cho là cổ vật thời Chiến Quốc.

Người Điền được biết là sinh sống ở vùng Vân Nam do ở đây đã tìm thấy chiếc “Điền vương chi ấn”. Vân Nam như vậy là khu vực có nền văn hóa đồ đồng rất phát triển ở thời kỳ trước công nguyên, cũng là một trong những trung tâm xuất hiện sớm nhất của trống đồng.

Thung vo so Toàn cảnh chiếc thùng đựng sò thời Chiến Quốc ở Lào
Trên nắp thùng có đúc một con bò lớn đứng ở giữa và ba con nai cùng một con hổ ở xung quanh. Con bò dường như đang liếm láp trên lưng hổ. Phần thùng ở dưới được trang trí thành 2 vòng tròn xếp thành 2 tầng. Tầng trên là 6 con chim phượng, khá giống với con chim phượng trên thân chiếc quang tê giác ở trên. Tầng dưới là cảnh săn bắn gồm một con hươu sao ngửa cổ lên trên, một con bò cúi đầu húc xuống và một người cầm gậy quay về phía con bò. Cảnh này được lặp lại 4 lần ở tầng dưới. Thùng đựng có 3 chân, cũng là 3 bức tượng người giống nhau đang nâng tay đỡ thùng.

Những tượng và hoa văn trên chiếc thùng này làm ta liên tưởng tới hình ảnh của … Trống đồng trong văn hóa Đông Sơn. Cũng là cảnh đàn chim, đàn hươu, người, … Nếu có thể xòe ngang phần thân và chân thùng ra thành một mặt phẳng với nắp thùng thì đúng là thành những vòng tròn đồng tâm giống như trên trống đồng. Mặt trống đồng là những hoa văn trên mặt phẳng, còn chiếc thùng đựng vỏ sò này là hoa văn hình khối sắp xếp trong không gian ba chiều.

Nap thung Nắp thùng
Ở trung tâm những “vòng tròn” này là một con bò lớn, cặp sừng dài. Các nhà khảo cổ gọi là con bò Zebu, đặc trưng cho văn hóa Điền. Hiện các chuyên gia cho rằng đây là con vật nuôi quen thuộc của dân tộc Điền nên thường gặp trong các hiện vật đồ đồng của họ ở Vân Nam. Nhưng như vậy không hợp lý. Con vật nuôi bình thường sao lại được đặt ở ví trí trang trọng chính giữa đồ vật như vậy?

Con bò nằm ở vị trí trung tâm của cả thế giới, nó phải tượng trưng cho một thứ khác quan trọng hơn, linh thiêng hơn. Khi so sánh chiếc thùng này với trống đồng Đông Sơn cùng thời thì vị trí trung tâm phải là mặt trời. Rất có thể con hoàng ngưu Zebu này là hình ảnh của mặt trời.

Trên chiếc hộp đựng chỉ cùng thời Chiến Quốc ở Bảo tàng Vân Nam con bò Zebu được đặt ở giữa một đàn bò, dường như đang đứng trên một đỉnh núi cao. Con bò vàng trên đỉnh núi thì hẳn là hình ảnh của mặt trời, nguồn sống của muôn loài.

Ở vòng thứ hai của thùng đựng vỏ sò gồm 3 con hươu và một con hổ đứng đối xứng theo 4 phương. 4 tượng thú vật này cùng con bò Zebu ở giữa tạo nên biểu tượng của Ngũ hành. Trong đó có một phương vị là con hổ, được nhấn mạnh. Hình ảnh bò – hổ còn thấy ở những hiện vật khác của người Điền như án cúng hình hổ bò ở Bảo tàng Vân Nam. Con hổ có ý nghĩa gì ở đây?

Vân Nam (và Lào) được biết là khu vực của người Ai Lao Di hay nước Dạ Lang. Dạ Lang là chữ phiên thiết của Di Hạ, tức là người Di từ thời nhà Hạ. Đây là bộ tộc Hữu Hộ Thị đã phải “di” cư về phía Tây trong cuộc chiến tranh đoạt vương vị giữa Hạ Khải và Bá Ích sau khi Đại Vũ mất. Hữu Hộ Thị, chính xác là thị tộc Họ Hổ, lấy con hổ làm con thần thú của mình, thể hiện tộc người xuất phát từ phương Nam.

Hình ảnh Hổ và Bò đùa giỡn với nhau trên cổ vật là hình ảnh tộc người Di Hạ đang sống thanh bình dưới ánh mặt trời.

   Than thung  Thân thùng
Ở vòng thứ ba, tầng trên của phần thân thùng có 6 con chim phượng nối đuôi nhau bay. Những con chim lớn ở trên cao là biểu tượng của bầu trời (Hà). Số 6 là con số chỉ phương Bắc (ngày nay) trong Hà thư. Phương Bắc có tượng màu đen, màu ô, hay âu. 6 con chim như vậy là chỉ tộc Âu ở Vân Nam và Lào. Âu cũng là từ phiên thiết của Ai Lao. Người Điền – Ai Lao – Dạ Lang là tộc Âu của mẹ Âu Cơ (với hình tượng chim phượng, nòi tiên) trong cổ sử Việt.

Vòng thứ tư ở tầng dưới của phần thân thùng gồm cảnh hươu – bò – người lặp lại 4 lần. Hình ảnh hươu, bò là hình ảnh của mặt đất (Lạc). Số 4 là số chỉ hướng Tây trong Hà thư. Liệu có phải vòng này muốn nói tới tộc người ở phía Tây hay không?

Kết hợp 2 vòng tròn trên thân thùng ta có đủ Hà – Lạc (bầu trời và mặt đất) và Tây – Âu. Hai vòng tròn này đã xưng danh dân tộc Tây Âu ở Vân Nam – Bắc Lào thời Chiến Quốc.

Không rõ tại sao người Ai Lao Di hay Di Hạ ở Vân Nam tới cuối thời Chu (thời Chiến Quốc) lại gọi là người Điền? Có thể vùng này vốn là đất “tế điền” của nhà Chu để lại khi chuyển dời từ Tây về Lạc Ấp ở phía Đông.

Chan thung Chân thùng
3 chân của thùng đựng vỏ sò là 3 tượng người nâng tay đỡ thùng. Con người ở đây được thể hiện rõ ràng, với y phục áo cổ chéo, có dây lưng đầy đủ. Không rõ 3 người ăn mặc trang trọng ở vòng ngoài cùng này có ý nghĩa gì, nhưng rõ ràng là người ở đây không có chuyện còn đang “cởi trần đóng khổ” như hình ảnh thể hiện đơn giản lúc đi săn ở vòng trên.

Niên đại của những loại thùng đựng vỏ sò tương tự cũng cần xem xét lại. Tới thời Hậu Chu (Chiến Quốc) đã có những loại đao tiền, bố tiền bằng đồng, đâu còn dùng vỏ sò nữa. Những loại tiền của nhà Chu này thật kỳ lạ là cũng bắt gặp ở Lào. Nếu đúng như suy đoán này thì thùng đựng vỏ sò phải phổ biến hơn ở thời kỳ đầu của nhà Chu (Tây Chu). Khu vực Điền của người Tây Âu chính là khu vực phát tích của nhà Chu.

Chiếc thùng đựng vỏ sò ở Lào đã cho thấy vùng Vân Nam – Bắc Lào cũng là khu vực của văn hóa trống đồng. Một dân tộc thờ mặt trời, với những khái niệm Hà Lạc, Ngũ hành của Dịch học Trung Hoa. Một dân tộc xưng danh Tây – Âu rõ ràng.

Đồ đồng thời Thương Chu ở Lào

Sang Lào để xem cổ vật thời Thương Chu của Trung Hoa, nghe vậy ai cũng bảo là chỉ có mà đồ rởm, đồ nhái từ Tàu mang về. Thật giả khó phân, nhưng cầm sách Đồ đồng thau Trung Quốc (tác giả Lý Tùng, Phó viện trưởng Viện mỹ thuật Viêm Hoàng) sang Lào thì gặp rất nhiều cổ vật được kể trong các bảo tàng của Trung Quốc lại thấy bán ngoài chợ của Lào.

Đồ thời Thương Chu là đỉnh cao của nghệ thuật đồng thau phương Đông. Ở thời kỳ này những đồ đồng đều là những đồ vật thuộc về tầng lớp quí tộc, vua chúa, thể hiện thần quyền và quân quyền nên thường là những đồ to, nặng, tạo hình và hoa văn mang vẻ nghiêm trang, kỳ bí.

Một trong những đồ đồng Thương Chu có thể gặp ở Lào là những chiếc hủy quang đựng rượu. Quang là dạng cốc đựng rượu lớn, có 3 hay 4 chân, được trang trí bằng các hình chim thú. Trong Kinh Thi và những tài liệu cổ đại khác đều có nhắc đến dụng cụ đựng rượu hủy quang này. Những chiếc quang chỉ làm vào thời Thương và Tây Chu. Từ cuối Tây Chu trở đi hủy quang không còn được đúc nữa.
Quang
Điền hình gặp ở Lào là chiếc quang hình chim thú đời nhà Thương. Một chiếc quang giống như thế này được bảo quản ở Bảo tàng mỹ thuật Freer Hòa Kỳ, nhưng ở Lào lại có thể thấy có vài chiếc. Chiếc quang này được trang trí bằng hơn 30 hoa văn lập thể hình động vật. Phần nắp đậy phía trước là hình con quỳ long có sừng cong đang nhe răng. Phần sau lại là một quái thú mõm cá có sừng nhọn. Phần lưng hai bên là cảnh hổ và cá rượt đuổi nhau. Trên lưng là một loài bò sát có chân như thằn lằn nhưng có 2 râu dài tròn như ốc sên.

Trên phần cốc đầu trước là một con chim mỏ nhọn. Phần quai cầm là một con chim khổng lồ đang đứng, có mào lớn rộng, mỏ tù. Hai bên cốc có một loạt những hình động vật kỳ lạ như một con rắn đầu có tai, một con dạng như nòng nọc, nhưng cũng có đầu như đầu hổ, con tôm cong, con ốc. Với những hoa văn động vật lập thể, kỳ dị toàn chiếc quang toát ra một vẻ thần bí, nghiêm trang, có phần dữ tợn.

Trên chiếc quang có đủ các con vật trên trời (chim), dưới đất (thú, bò sát) và dưới nước (cá tôm). Sự có mặt của con người cũng không thiếu. Ở phần chân đế, 2 chân sau là 2 người thân rắn. Người có thân rắn trong truyền thuyết Trung Hoa là Nữ Oa và Phục Hy. Phục Hy và Nữ Oa được coi là những vị thần sáng tạo ra loài người. Hình Nữ Oa và Phục Hy trên chiếc quang như vậy сó lẽ là hình ảnh cổ nhất về hai vị này còn lưu lại được tới ngày nay. Chiếc quang là cả một thế giới sinh vật và con người thu nhỏ rất đầy đủ.

Dạng quang đựng rượu khác gặp ở Lào là hình các động vật bốn chân có sừng. Những loài vật này gần gũi, thực hơn, nhưng cũng không kém phần nghiêm trang, tinh tế. Trước hết phải nói đến chiếc quang hình con tê giác bằng đồng độc đáo. Con tê giác này có phần đầu rất lớn, một sừng to, cong, vươn ra phía trước. Sừng khác nhỏ hơn ở trên trán. Tai tê giác nhọn. Phần sau của nắp quang là hình mặt lợn, mõm rộng, tai cong.
Te giac 3
Con mắt của chú tê giác này to tròn, rất sống động. Cổ vật sau khi cạo phủi lớp đất gỉ bề mặt, lộ ra màu đồng thau óng ánh, như bước ra từ quá khứ 3000 năm trước.

Phần thân chiếc quang tê giác được trang trí bằng những hoa văn nổi. Dài theo thân quang ở mỗi bên là hình một con chim lớn, cách điệu, mỏ tù, đuôi dài, mào cong như con chim phượng trên chiếc quang chim thú ở trên. Phần ngực tê giác hai bên có hình con quì long nhỏ, có sừng, đang há miệng, quay đầu về phía con chim phượng.

Dạng quang hình động vật tương tự ở Lào còn gặp như hình con trâu, đuôi hình chim. Hay ở Thanh Hóa trong Bảo tàng cổ vật Hoàng Long cũng có chiếc quang hình con lợn có sừng tương tự.

Như vậy trên các chiếc quang đồng thời Thương Chu luôn bắt gắp họa tiết trang trí rồng – phượng đi đôi với nhau. Đây chẳng phải là hình ảnh Cha rồng Mẹ tiên trong truyền thuyết người Việt hay sao?

Điều lạ nữa là hình ảnh con tê lại gặp trong các cổ vật thời Thương Chu. Ví dụ như chiếc đôn đựng rượu Tiểu Thẩn Du đời Thương hiện bảo quản tại Bảo tàng nghệ thuật châu Á San Francisco mang hình con tê giác. Loài tê giác được thể hiện là loài tê giác một sừng Java rất rõ, với một sừng lớn ở phía trước và sừng nhỏ phía sau. Loài tê giác này này chỉ có phân bố hạn chế ở vùng phía Nam, không thể nào có ở khu vực Hoàng Hà (xem bản đồ). Vậy tại sao đồ đồng thời Thương lại biết thể hiện hình tê giác?

434px-Javan_Rhino_Range.svg
Bản đồ phân bố Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus) hiện tại và trong quá khứ (theo Foose và Van Strien, 1997)

Như đã nói trong bài trước, con Tê trong sử sách còn gọi là con Tây. Đây là con vật tượng trưng cho phía Tây của Trung Hoa, là thần thú của nước Tề. Nước Tề nằm ở vùng có nhiều Tê giác và Tê tê là khu vực trung và hạ lưu sông Mê Kông. Sông Mê Kông trong Hoa ngữ là Khung giang, hay con sông Khương chảy qua nước Tề, đất phong của Khương Thái Công nhà Chu. Con tê cuối cùng của khu vực này ở Nam Cát Tiên mới bị chết nhưng hình ảnh tê giác trong văn hóa Việt – Lào – Căm pu chia thì không thể xóa được.

Tương tự như Tê giác, con Voi là con vật không hề có trong tự nhiên ở khu vực “Trung Nguyên” quanh Hoàng Hà. Thế nhưng đồ đồng thời Thương lại thể hiện hình voi như chiếc đôn Lễ Lăng, hiện được giữ ở bảo tàng tỉnh Hồ Nam. Những con vật đồ đồng này là những “bằng chứng sống” rằng văn hóa Thương không chỉ nằm ở vùng Hoàng Hà mà ở xa hơn nhiều về phía Nam nơi có hàng triệu con voi (Lào) hàng ngàn con Tê (Căm pu chia).

Năm 1989 ở Đại Dương Châu, huyện Tân Can, tỉnh Giang Tây đã phát hiện một lăng mộ lớn thời Thương với 880 món đồ, trong đó có 480 đồ đồng. Trong số đồ đồng này có cả đỉnh đồng vuông hình hổ cao tới 95cm. Các nhà khoa học Trung Quốc chẳng biết giải thích thế nào về hàng loạt đồ đồng với trình độ đúc điêu luyện xuất hiện ở Nam sông Dương Tử, đành suy đoán đây là khu mộ của một thủ lĩnh nào đó ở miền Nam (!?), có ý cho rằng phương Nam còn đang ở thời kỳ bộ lạc, văn hóa đồ đồng chỉ là chịu ảnh hưởng của nhà Thương…

Sự phong phú và quí giá của đồ đồng tại di chỉ Đại Dương Châu với niên đại Thương sớm, sớm hơn di chỉ ở Trịnh Châu hay An Huy cho thấy đây chính là khu vực đóng đô ban đầu của nhà Thương, trước khi Bàn Canh dời đô lên phía Bắc. Lăng mộ ở Tân Can rất có thể là lăng mộ của Thành Thang (vị vua Thương đầu tiên) hay một vị vua Thương khác trước thời Bàn Canh.

Am chan voi
Những đồ đồng đựng rượu thời Thương Chu ở Lào còn thấy như những chiếc hòa (ấm), đôn, tước … đồng. Như chiếc ấm bốn chân voi sau, có phần thân hai mặt là hình Thao thiết tai hổ, có mõm như mõm lợn. Nắp ấm cũng là hình Thao thiết nhưng miệng rộng như đang cười. Tay cầm của ấm là hình rồng 2 đầu. Trang trí bằng hình Thao thiết (con vật có đầu mà không có thân) là nét đặc trưng của đồ đồng thời Thương.

Phải giải thích thế nào về sự hiện diện của những cổ vật thời Thương Chu ở Lào? Đất Lào chưa hề bao giờ bị Trung Quốc đánh chiếm, sao lại có những cổ vật Trung Hoa từ thời Tam Đại vậy? Liệu có phải là do dòng người di cư từ Trung Quốc sang mang đến hay không? Di cư từ Trung Quốc vào Lào thì chủ yếu là người Thái và người Mông. Nhưng xét kỹ, người Thái di cư sang Lào cỡ khoảng đầu công nguyên dưới thời Tây Hán. Còn người Mông chạy giặc sang Lào thì còn muộn hơn nhiều, dưới thời nhà Thanh sau này. Thời Thương Chu trước thời điểm di cư của người Thái vào Lào cả ngàn năm có lẻ. Người Thái và người Mông thì lấy đâu ra các đồ tế tự của nhà Thương nhà Chu vậy?

Sự có mặt một cách phong phú các cổ vật đồ đồng Thương Chu ở Lào không chỉ cho thấy một trình độ đúc đồng và văn hóa cao ở vùng này vào 2.000 – 3.000 năm trước mà còn chứng tỏ nơi đây chính là một trong những trung tâm của thiên hạ thời Thương Chu. Điều này hoàn toàn ủng hộ sử thuyết Hùng Việt cho rằng đất Lào là nước Lỗ, là vùng đất phong của Chu Công, nằm cạnh đất của thiên tử Chu.

Don think this one is going to sink in

cheap Air max shoes Have you ever listen or taste the “coffee baptized”? It is when you add some whisky to your coffee and you make it better than what it commonly is. The same happen with sports, some people like to add something to enjoy it more, bets can be the whisky of sports, and people used to bet just to enjoy in a special way. By the way, I promise you that you will never forget the amazing taste of the whisky on your coffee.. cheap Air max shoes

cheap jordans free shipping And the amount of sex you have, the lengths of your relationships and number of cheap jordans aliexpress partners could have a crucial bearing jordans cheap price on your ability to have cheap authentic jordans free shipping children. And the good news? If you want to have a baby. The longer you’ve been having sex the better But there cheap jordans 12 is a catch it has to be with the same cheapest place to buy jordans partner!. cheap jordans free shipping

cheap yeezys Hate is too great a burden to bear.” MLKWant cheap jordans real to submit a video which is not a documentary?Well generally in most cases where you see “raining” animals people rarely actually see them falling from the sky. Generally you have people coming out where to get cheap jordans of their houses/buildings right after an intense rainfall and noticing a sudden influx of animals that weren’t there before. Sometimes it’s things like fish that have cheap new jordans been cheap deadstock jordans carried or displaced by water spouts or cyclones, often it’s frogs or other animals being awakened from hibernating by the sudden presence of water. cheap yeezys

cheap jordans china The switch was made as a long term solution to cheap authentic retro jordans the hike in electricity bills owing to an increase in the number of electronic appliances used in the premises. cheapairmaxshoes2sale.com Taqwa Masjid solar plant will generate 95.8 units daily and 35,000 units annually. Comprising of 72 panels, electricity where can you get jordans for cheap is generated from a single inverter.. cheap jordans and nikes online cheap jordans china

cheap jordans online Zoya Akhtar’s multi starrer film Dil Dhadakne Do has sailed to safety in its opening weekend. The film, which opened to a lukewarm response on its opening day, has finally managed to get rake in some moolah at the box office. With a bevy of A listers making up for the star cast, the cheap youth jordans for sale film has been able to earn only Rs 37.05 crore in first three days.. cheap jordans online

cheap nike shoes Some analysts said the home sales numbers may have been skewed due to confusion caused by the government’s home tax credit, which was set to expire in November, cheap jordans size 9 womens but it was eventually extended to April. Market strategist at Cantor Fitzgerald Co. In San Francisco. cheap nike shoes

cheap jordan sneakers For many years the conventional wisdom was that you should read the first edition: it contained Darwin first thoughts, unvarnished by later hedging, backing, and filling to respond to criticism. cheap kid jordans for sale It the edition I first read as a graduate student, and it the one I had an undergraduate class read last year for a course on Darwin. More recently though, some people have noted that we shouldn discount the development of Darwin views, and that the best edition is the last one because it contains his final word on the subject. cheap jordan sneakers

cheap jordans shoes Batsman Kohler Cadmore, who shone with two vital centuries towards the end of the Championship campaign, won the Young Player of the Year award. Harrogate born Jonny Tattersall was awarded Fielder of the Year after an impressive first year with the gloves, while the Howard click for info Clayton Second Team Performance of the Year was presented to 17 year old opening batsman James Wharton. Academy Player of the Year cheap jordans india was awarded to Tom Loten.. cheap jordans shoes

Cheap jordans Had great success with the Darren Weir stable in last year TAB Everest and we again look forward to joining with him to promote our racing and the world richest race on turf. We believe Nature Strip is an excellent winning chance and will add cheap authentic jordans for sale to the quality and character of the race. Part of the ATC slot partnership, a percentage of prizemoney earned from TAB Everest will be donated to a worthy cause through the cheap jordans 13 ATC Foundation.. Cheap jordans

cheap jordans for sale Be No. 1 is something I dreamed of as a kid, Koepka said. Don think this one is going to sink in. This fragrance agarbattis plays a very important cheap jordan retro 3 role. It a natural healing process to reduce stress, tension etc. Join Reiki classes in Bangalore for natural energy healing. cheap jordans for sale

cheap air jordan The Health and Safety Executive (HSE) investigation found that on one of those occasions the director and an employee accessed the roof by standing on the prongs of a fork lift truck which had a wooden pallet attached to it. During the course of the works they were seen to toss waste materials to the ground. Two other incidents were detailed which related to works carried out primarily by the director with brief cheap authentic jordans assistance from an employee.. cheap air jordan

cheap air force The Cowboys are on the same page as Durant. After adding Ezekiel Elliott in the draft, they seeking to return to a dominating run game that will open up throwing lanes for Tony Romo and the offense. Stephen Jones also believes this defense has a chance to be good, with Orlando Scandrick returning and good cheap jordans several young pieces showing promise.. cheap air force

cheap jordans sale Replace batteries and smoke/carbon monoxide detectors. Many of us replace batteries when we set clocks ahead in the spring best cheap jordans website and back in the fall. If you forgot, do it now. Well, I’m sorry to say that if you want to use Vitamin E for scars you probably aren’t going to have that much success. The Vitamin does lots of really great things, such as blood thinning, however removing and fixing scars probably isn’t one of them. It’s claimed to because it can stimulate collagen (something which contributes to the elasticity of your skin) production, however in studies done, this just isn’t the case cheap jordans sale.

Tây Đồ Di

Thủy Kinh chú sớ chép: “Lâm Ấp ký nói: năm Kiến Vũ thứ 19 (năm 43) Mã Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, ranh giới của nhà Hán với nước Tây Đồ.

Cựu Đường Thư, Địa lý chí tứ viết: “Nhà Hậu Hán sai Mã Viện … mở đường bộ đến quận Nhật Nam, lại đi thêm hơn 400 dặm nữa đến nước Lâm Ấp, lại đi về phía Nam hơn 2000 dặm nữa đến nước Tây Đồ Di, đúc 2 trụ đồng ở biên giới nam Tượng Lâm phân chia biên giới với Tây Đồ Di để ghi lại công tích toàn thịnh của nhà Hán…

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục dẫn: “Theo sách Thông điển của Đỗ Hữu, từ nước Lâm Ấp đi về phía nam, đi thủy, đi bộ hơn hai nghìn dặm đến đấy có nước Tây Đồ Di là chỗ Mã Viện dựng hai cột đồng để nêu địa giới đấy…
Theo sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, Mã Viện đi đánh Lâm Ấp, đi từ Nhật Nam hơn 400 dặm đến Lâm Ấp, lại đi hơn 20 dặm nữa có nước Tây Đồ Di. Viện đến nước ấy rồi lập hai cái cột đồng ở nơi phân giới giữa Tượng Lâm và Tây Đồ Di.

Cách sách khác nhau nói về vị trí nước Tây Đồ Di khác nhau nhưng đều thống nhất cho biết Mã Viện đã trồng cột đồng làm mốc phân giới với nước Tây Đồ Di. Nước Tây Đồ Di nơi có cột đồng Mã Viện nằm ở đâu? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm vì xác định được nước Tây Đồ Di là xác định được nơi có cột đồng Mã Viện và biên giới phía Nam nhà Hán. Tuy nhiên tới nay các nhà sử học vẫn bó tay vì xét khắp khu vực từ Giao Chỉ tới Thiên Trúc chẳng có nước nào khả dĩ là Tây Đồ Di cả.

Trong khi đó Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái kể:
Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.

Dựa trên suy luận: Dạ là cây dừa, chỉ bộ lạc Dừa của người Chăm, Bà là từ cũng phổ biến ở khu vực Chăm, một số tác giả nhận định nước Tây Bà Dạ nằm ở miền Trung Việt Nam. Thậm chí có khi là ở Indonesia vì “Bà Dạ” nghe hơi giống Ja-va…

Tuy nhiên khi liên hệ nước Tây Đồ Di thời Đông Hán và Tây Bà Dạ thời Tấn thì định vị của nước này sẽ ở vị trí hoàn toàn khác.

Nước Tây Đồ Di nơi có cột đồng Mã Viện là đất của người Di Lão như trong Truyện Mã Tổng (Cựu Đường Thư) kể:
Mã Tổng tinh thông Nho học, giỏi thuật cai trị, ở Nam Hải nhiều năm mà thanh liêm không nao núng, Di Lão đều được yên ổn. Tại nơi mà nhà Hán dựng trụ đồng ông dùng 1500 cân đồng đúc 2 trụ, khắc chữ ghi công đức nhà Đường…

Nơi Mã Tổng thời Đường cai trị người Di Lão là nơi có trụ đồng Mã Viện. Người Di Lão sống ở vùng Vân Nam – Quí Châu. Đây cũng là vùng được biết với tên nước Dạ Lang. “Dạ” thực ra là chữ phiên thiết của “Di Hạ”, chỉ người Di thời nhà Hạ. Đất Di Hạ hay Dạ Lang là vùng Vân Nam – Quí Châu, nơi phát tích của Tây Bá hầu Cơ Xương nhà Chu.

Chữ Di trong Tây Đồ Di và Dạ trong Tây Bà Dạ như vậy cùng một nghĩa, chỉ định rõ nước này nằm ở vùng giáp ranh Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây ngày nay.

Chữ “Đồ” và “Bà” cũng cận nghĩa với liên hệ:
– Đồ = Đô = Đầu
– Bà = Bá = Bố.
Cả 2 từ đều có nghĩa chỉ thủ lĩnh. Đồ Di hay Bà Dạ nghĩa là Vua của người Di Hạ (Di Lão).

Truyện Nam Chiếu còn cho biết: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.

Tây Bà Dạ là nước đã dàn xếp, phân chia lãnh địa cho Nam Triệu Ông Lý và Nam Chiếu. Một khi đã biết Nam Triệu là nước của Man Vương Mạnh Hoạch thời Tam Quốc thì nước Tây Bà Dạ không còn nước nào khác chính là nước Tây Thục của Lưu Bị. Việc Nam Triệu đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển và việc dàn xếp đất đai ở trên là chuyện Gia Cát Khổng Minh nhà Thục thu phục Mạnh Hoạch ở vùng Tây Bắc nước ta.

Tới đây đã cho phép hiểu chữ Tây trong tên nước Tây Bà Dạ và Tây Đồ Di. Tây và Thục là cùng nghĩa, chỉ phương Tây. Nước Thục của Lưu Bị như vậy là nước Tây Đồ Di, nằm ở vùng đất người Di Lão (Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây).

Nhận định về nước Tây Đồ Di – Tây Bà Dạ là nước Thục thời Tam Quốc dẫn đến một phát hiện: trong cuộc chinh nam Mã Viện đã buộc phải dựng cột đồng đánh mốc giới với … nước Thục ở vùng này. Việc Mã Viện dựng cột đồng như vậy không phải xảy ra vào đầu mà là vào cuối thời Đông Hán, khi nước Thục thời Tam Quốc bắt đầu khởi nghiệp.

Xuất phát điểm của nước Thục vậy là từ khởi nghĩa của Trưng Vương cuối thời Đông Hán. Người đã cầm cự và buộc Mã Viện phải cắm cột đồng phân giới sau khi Trưng Vương mất là Đô Dương. Truyền thuyết Việt chép là khởi nghĩa của Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh ở Cửu Chân. Triệu Quốc Đạt nghĩa là Chúa nước phía Tây vì Đạt = Đoạt là quẻ Đoài chỉ phương Tây, Triệu = Chúa. Tên Triệu Quốc Đạt cận nghĩa với tên nước Tây Đồ – Tây Đầu – Tây chúa.

Đô Dương cầm cự với Mã Viện ở Cửu Chân. Khởi nghĩa Triệu Quốc Đạt cũng ở Cửu Chân.
Còn Hậu Hán thư có hai lần nói đến những người “man” Dạ Lang tồn tại ở Cửu Chân. Một lần khi nói đến công trạng của Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú. Một lần khác vào năm thứ nhất niên hiệu Vĩnh Sơ đời Hán An đế (năm 107) khi nhắc đến man Dạ Lang bên ngoài Cửu Chân nổi dậy chiếm đất lập lãnh thổ rộng trên 1.000 dặm.

Cửu Chân nơi có người Dạ Lang như vậy hoàn toàn trùng với địa bàn nước Tây Bà Dạ. Triệu Quốc Đạt chính là vị Tây Bá của người Di Lão hay Dạ Lang, đã cản được bước tiến xuống phương Nam của Mã Viện cuối thời Đông Hán, buộc giặc Hán phải lập trụ đồng phân giới giữa Đông Hán và Tây Thục. Cột đồng Mã Viện không phải nằm ở miền Trung Việt mà là ở khu vực người Di Lão quanh vùng giáp ranh Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây.

Nước Thục thời Tam quốc được một số sách cổ gọi là Tây Kinh. Như sách Quảng Châu ký ghi: “Người Lý, người Lão đúc đồng làm trống, lấy cao lớn làm mặt quý, mặt rộng hơn 1 trượng, không biết đúc vào thời nào. Xét việc Mã Viện đánh Giao Chỉ được trống đồng Lạc Việt, đúc ngựa, có người cho rằng trống đồng đúc trước thời Tây Kinh…

Có thể tiếp theo kỳ tích chặn Hán quân của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh ở Dạ Lang, là việc Lý Thiên Bảo và Lý Bí hay Lưu Biểu và Lưu Bị đã kết hợp Kinh Châu với nước Tây Bà Dạ để hình thành nên nước Tây – Kinh. Việc này truyền thuyết Việt kể là Lý Thiên Bảo lập nước Dã Năng, xưng Đào Lang Vương. Dã Năng là Dạ Lang, Đào là đọc sai của Đoài, quẻ chỉ hướng Tây. Lý Thiên Bảo là vua nước Tây Bà Dạ nối tiếp anh em Bà Triệu.

Việc kết hợp hai khu vực Tây và Kinh để hình thành nước Thục thời Tam quốc còn thể hiện ở việc Lưu Bị từ Kinh Châu (đất của Lưu Biểu) tiến đánh Ích Châu (đất của Lưu Chương). Ích Châu là quận lập ra thời Hán trên đất Điền hay Vân Nam, tức chính là đất của Tây Bà Dạ. Sau đó Lưu Bị lên ngôi, có danh xưng Chiêu Liệt hoàng đế. Chiêu là hướng Tây, Liệt = Lạc, là hướng Bắc hay Kinh. Chiêu Liệt = Tây Kinh.

Tiếp theo là việc Gia Cát Vũ Hầu chinh Nam được truyền thuyết Việt chép tướng của Lý Bí là Lý Phục Man đã đi đánh dẹp Lâm Ấp. Gia Cát Khổng Minh đã không tiêu diệt “Lâm Ấp” mà đã “phục man”, thu phục thủ lĩnh của họ (Mạnh Hoạch), chia lãnh thổ Lâm Ấp làm 2 lộ Già La và Lâm An, giao cho Nam Triệu và Nam Chiếu cai quản như Lĩnh Nam chích quái kể…

Việc xác định nước Tây Đồ Di thời Đông Hán là nước Tây Bà Dạ thời Tam quốc (thời Tấn) góp phần nào sáng tỏ thêm những vấn đề đầy tranh cãi trong sử Việt của thời kỳ này.

I am a huge fan of babies if it’s with the right person

Years ago, I couldn walk down canada goose outlet toronto factory our street without avoiding a dozen piles of dogpoo. Yesterday, on my way to catch the bus, I canada goose outlet shop saw one pile and noticed it, because it become rare. And this is not just because it become illegal, but because it also become incorrect just like smoking indoors..

buy canada goose jacket cheap Brenner set out to understand why. She found that they saw themselves as activists: as people who were official canada goose outlet creating a new social order, free of the corruption of the West. They saw themselves as modern but godly. In Starlink, your starship can be customised as you canada goose outlet online see fit, which allows for freeform combination of ship parts. This includes wings placed upside down and weapons facing backwards. We wondered if this would mean players would be able to use their ships as intended or if the game would use it as an opportunity to teach players how to assemble a functional starship keeping the laws of physics in mind.. buy canada goose jacket cheap

buy canada goose jacket 1) Mussoorie ”The Queen of Hills” Mussoorie is a picturesque hill station situated in Dehradun district of Uttarakhand state. It is perched at an average altitude of 1,880 meters. The hill station is located at a favorable distance of 35 km from Dehradun and about 290 km from New Delhi. buy canada goose jacket

Canada Goose Jackets Except that is not what GRRM is trying to do. GRRM is not opposed to violence or just war. Randyll wanted Sam to be a typical fantasy warrior but that is not what actually makes a true warrior in GRRM world view. Use a goose outlet canada ruler and score two lines on the bricks 10″ ish apart. When they have dried out naturally (dont rush it) You can see how much the bricks have shrunk and cracked. The mix you choose should be hard and not crumble but not have not shrunk by more than 2% in length. Canada Goose Jackets

canada goose uk shop A follow up canada goose outlet new york city of a study done 23 years ago found that that domestic violence victims whose partners were arrested on misdemeanor charges (when no injuries resulted) were more likely to have died than those whose partners were merely warned by police. These were not the people who died because of an attack, but rather those who died years canada goose outlet black friday later of health related reasons, including heart disease, cancer or other internal disorders. Somehow, the study suggests, canada goose jacket outlet the emotional toll of having a partner arrested messed up their health in the years afterwards.. canada goose uk shop

Canada Goose Outlet As for our one size fits all denunciation of religion, Kloor still hasn absorbed the fact that almost no New Atheist denounces all religions as equally bad. Fundamentalist Christians and Catholics are far worse than Quakers. Scientologists are canada https://www.canadagooseonline.info canada goose outlet online goose outlet store far more harmful than Unitarian canada goose outlet reviews Universalists. Canada Goose Outlet

cheap canada goose uk Sex addicts represent only 4 percent of the population, so it unlikely your man is one. 2. Because childhood experiences influence sexuality as an adult, people are very idiosyncratic about what turns them on. Before it, America was a regional power; that war made us a global power. But that’s just canada goose outlet nyc the most obvious manifestation. Every facet of canada goose outlet life at home was changed by canada goose factory outlet the war, too, most of it permanently. cheap canada goose uk

canada goose clearance The Old Hymn of the Republic. Sincere in her desire to repent and be saved, she gets washed in the lamb blood, is redeemed, and sent on her way to live a mo life.BUT. One can do this only so many times before backsliding is eternally fatal, resulting in a permanent loss of grace. canada goose outlet canada canada goose clearance

canada goose factory sale Sex can solve the stresses of a relationship, but it often where the stresses show up. If we complain about a lack of sex (or your doing certain things only on our birthday), we may be overlooking serious issues that underpin such withholding. We need canada goose outlet uk sale you to enlighten us. canada goose factory sale

canada goose store But as ever, Austen puts it best herself. As she confided in a letter to her niece, Fanny Knight, written a canada goose outlet sale week after abandoning Sanditon: of perfection as you know make me sick wicked story is a part of BBC Britain a series focused on exploring this extraordinary island, one story at a time. Readers outside of the UK can see every BBC Britain story by heading to the Britain homepage; you also can see our latest stories by following us on Facebook and Twitter.. canada goose store

canadian goose jacket 5. You get pregnant. I am a huge fan of babies if it’s with the right person, during the right time and in right situation. I have a multi autographed version of Faith versus Fact that I also auction off for charity. But the money won be going to Doctors Without Borders: I find another organization that canada goose outlet uk does canada goose outlet in usa similar things. And I taking see this website canada goose black friday sale DWB out of my will, replacing them with an organization that doesn support terrorism. canadian goose jacket

cheap Canada Goose The Lego thing is so superficially similar (not really at all) that I would hope any legal action would be thrown out. Could be any dome and any tower. I suspect the racial aspect is in the imagination of the beholder. Maybe NBC need to keep leaning on Ye Olden Times and historically fuzzy star vehicles with no depth. canada goose outlet store uk Lord knows, I sat through much more of “Crossbones” than I would have had the Malk not worn a sea bleached vest, exerted his semi magical accent and said the word “chronometer” in such hypnotizing ways. You can have your sexposition, “Game of Thrones” have you got a scene of John Malkovich laying down a page or two explanatory dialogue while giving himself stitches on his own head? Not bloody likely.. cheap Canada Goose

Canada Goose sale The JBL SB450 also supports JBL Connect, which allows you to daisy chain two JBL Bluetooth speakers wirelessly and multiply the sound. The subwoofer canada goose outlet jackets is the highlight of the package and the fact that the soundbar works seamlessly with 4K TVs adds to its overall appeal.All is not smooth sailing though. The remote is is canada goose outlet parka cheap, tiny, and nearly impossible to use in darkness Canada Goose sale.

Tam vị Chúa Mường

Đạo mẫu Tứ phủ của Việt Nam quan niệm thế giới chia làm 4 miền, Thiên phủ, Địa phủ, Nhạc phủ và Thoải phủ. Mỗi phủ đều có một vị mẫu cai quản cùng với công đồng các quan lớn, ông hoàng, chầu bà, cô, cậu, … Một trong các giá đồng này là Tam vị chúa Mường, gồm Chúa đệ nhất Tây Thiên, Chúa đệ nhị Nguyệt Hồ và Chúa đệ tam Lâm Thao. Phần lớn các sách hiện nay không cho rằng ba vị chúa Mường này thuộc hệ thống Tứ phủ một cách chính thức. Tuy nhiên đây lại là những giá đồng hay được thỉnh đến trong thực hành tín ngưỡng này và Tam vị chúa Mường được coi là thuộc Nhạc phủ.

Trên thực tế hiện nay thường thấy các thanh đồng thỉnh Mẫu Cửu Trùng trong ngôi của Chúa Mường đệ nhất Tây Thiên. Việc này khá lạ, cần được giải thích, vì Mẫu Cửu Trùng đã là mẫu của Thiên phủ, sao lại còn ở ngôi Chúa Tây Thiên?

Văn chầu Chúa đệ nhất Tây Thiên bắt đầu như sau:
Dâng văn tam vị Chúa Mường
Thỉnh Chúa đệ nhất Hùng vương ngự về
Cổ triều Đinh, Lý, Trần,Lê
Sắc phong thượng đẳng biển đề tối linh
Tây Thiên,Tam Đảo địa linh
Thạch Bàn, Chúa ngự cảnh thanh nhiệm mầu
Nhang thơm thành kính quỳ tâu
Tiếng dâng một bản văn chầu Chúa Tiên
Chúa Bà đệ nhất Tây Thiên
Hùng Vương thánh tổ cầm quyền vào ra
Đại Đình, Tam Đảo quê nhà
Thông reo trúc hóa rườm rà tốt tươi…

Thực tế hầu đồng trên khẳng định thêm nhận xét Tây Thiên Quốc Mẫu ở Tam Đảo chính là Mẫu Cửu Trùng hay Mẫu Thượng Thiên, là bà mẹ Trời của người Việt. Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu hay con gái bà Vụ Tiên vốn đứng đầu một bộ tộc ở phía Bắc (Cao Sơn), giúp vua Hùng Đế Minh đánh giặc Thục phía Tây (bộ tộc Cửu Lê của Xuy Vưu), thống nhất 3 tộc người thời lập quốc cách đây 5.000 năm.

Việc Mẫu Thượng thiên xuất hiện trong cả 2 vị trí của Tam tòa thánh mẫu và Tam vị chúa Mường là có nguyên do từ lịch sử. Tam phủ công đồng xuất phát chủ yếu từ vùng đồng bằng sông Hồng. Do đó vai trò của Nhạc phủ khá mờ nhạt và tách biệt. Vùng mà ta gọi là “đất Mường” vốn là vùng phía Tây, trên các miền núi, có lịch sử khác biệt so với đồng bằng sông Hồng. Khu vực vùng núi Tây Bắc nước ta vốn không hề bị “1000 năm Bắc thuộc”, từ thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã được độc lập (“Ngàn Tây nổi áng phong trần“). Sau đó khu vực “Mường Mán” phía Tây này nằm lại trong vùng đất của Nam Triệu thời Tấn rồi Nam Chiếu thời Đường như Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái đã kể. Mãi tới thời Cao Vương Biền nhà Đường mới đánh đuổi được quân Nam Chiếu, nhập vùng Tây Bắc vào Tĩnh Hải quân.

Sự chia cắt về lịch sử giữa đồng bằng và miền núi ở miền Bắc Việt cả ngàn năm đã dẫn đến sự tách biệt người Mường và người Kinh, cho dù Kinh – Mường vốn cùng gốc cả.

Cuối thời Đường Lưu Cung dựng nước Đại Việt là lúc phần Đông và Tây Giao Chỉ lại hợp nhất, Kinh và Mường về một nhà. Tín ngưỡng 2 dân tộc anh em gần gũi này cũng trở nên hòa hợp. Tam tòa thánh mẫu là tín ngưỡng của người miền đồng bằng. Tam vị chúa Mường, cái tên cũng nói rất rõ, là tín ngưỡng của người vùng núi. Tín ngưỡng người Mường này được nhập vào Đạo Mẫu Việt Nam như vậy.

Trong khi đó Mẫu Tây Thiên vốn là quốc tổ từ thời Hùng Vương, khi mà Kinh và Mường chưa còn tách biệt. Việc chia tách Đông Tây dẫn đến người Kinh tôn thờ Mẫu Tây Thiên là Mẫu Cửu Trùng, còn người Mường là Chúa đệ nhất thượng thiên. Khi tín ngưỡng người Kinh và Mường hòa nhập đã dẫn đến cùng một nhân vật lịch sử nhưng gặp ở 2 ngôi khác nhau.

Với quan niệm như vậy thì Tam vị chúa Mường thực ra là “Tam tòa thánh mẫu” của người Mường Mán, hình thành trước khi miền núi và đồng bằng Giao Chỉ hợp nhất. Chúa đệ nhất Tây Thiên ở ngôi Thượng thiên của Thiên phủ. Chúa đệ nhị và đệ tam cai quản 2 phủ còn lại là Thoải phủ và Nhạc phủ.

Vùng Đại Đình – Tam Đảo, quê hương của Tây Thiên Quốc Mẫu lại là đất người dân tộc Sán Dìu. Người Sán Dìu thờ Mẫu Tây Thiên như là vị thần của dân tộc mình. Người Sán Dìu thực ra là một nhóm người “Mường Mán” miền núi. Mẫu Tây Thiên ở Tam Đảo như vậy đích thực là Chúa Mường đệ nhất Thượng thiên.

Văn chầu Chúa Tây Thiên tiếp:
Dạo chơi non nước đôi nơi
Khi sang Cao Mại, khi chơi Nguyệt Hồ.

Cao Mại là nơi thờ Chúa đệ tam ở Lâm Thao (Phú Thọ). Nguyệt Hồ là tên của Chúa đệ nhị, ở khu vực Lạng Giang. Chúa Mường đệ nhị Nguyệt Hồ và đệ tam Lâm Thao cũng là những nhân vật lịch sử từ thời Hùng Vương. “Nguyệt Hồ” không chỉ là tên mà còn là địa danh, như trong văn chầu Chúa Tây Thiên ở trên. Rất có thể Nguyệt Hồ nghĩa là vùng “nước” phía Tây, tức là Thoải phủ của người Mường Mán. Chúa đệ nhị là người cai quản Thoải phủ miền núi.

Chúa đệ nhị Nguyệt Hồ được thờ chính tại đền Nguyệt Hồ ở gần ga Kép, chợ Bố Hạ, tỉnh Bắc Giang. Truyền thuyết đền kể bà là người ở vùng này, đã gặp Lão Tổ Quỷ Cốc tiên sinh và được truyền cho thuật chiêm tinh, bói toán. Chúa Nguyệt Hồ do đó còn gọi là bà Chúa bói.
Den Nguyet Ho

Đền Nguyệt Hồ ở Yên Thế, Bắc Giang.
Quỷ Cốc tiên sinh là một nhân vật từ thời Chiến Quốc của Trung Hoa, là thầy của Tôn Tẫn, Bàng Quyên. Vậy mà sao Quỷ Cốc tiên sinh lại có mặt ở nước Nam ta? Chi tiết này cũng cho thấy bà Chúa Nguyệt Hồ phải sống vào đời Hùng Vương, ngang với thờ Chiến Quốc, chứ không phải đời Lê sau này như một số truyền thuyết chép.

Chúa đệ tam Lâm Thao còn gọi là bà Chúa Chữa dưới thời Hùng Vương. Bà còn có tên là Bà Chúa Ót. Theo một số ý kiến thì Chúa Ót nghĩa là út, đọc chệch đi. Tương truyền rằng bà là công chúa, con gái ruột của vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt. Tuy vậy bà vẫn một lòng giúp vua cha trị quốc, bà là người lo việc quân nhu quân lương trong các cuộc chiến trận, ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam, bà đi khắp vùng đem tài năng của mình để cứu giúp dân lành. Bà Chúa đệ tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm phật để cầu cho quốc thái dân an.

Đặc biệt trong văn chầu về Bà chúa Lâm Thao có nói bà đi tu ở Hương Tích:
Ngắm xem khắp hết gần xa
Vào chùa Hương Tích Phật Bà Quan Âm
Một lòng mộ đạo nhất tâm
Quy y Phật Tổ thần thông nhiệm màu.

So sánh với sự tích chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh. Chuyện kể rằng, vua Trang Vương sinh hạ được ba cô công chúa là Diệu Ân, Diệu Duyên và Diệu Thiện. Khi ba công chúa trưởng thành vua cha gả 2 người chị cho 2 ông quan trong triều. Đến lượt công chúa út Diệu Thiện, vua muốn gả cho một viên quan võ, nhưng nàng không tuân theo ý vua cha. Mặt khác Diệu Thiện đã thề non hẹn biển với quan ngự y Triệu Chấn, nhưng không được Trang Vương chấp nhận. Đứng trước tình thế không nghe theo sự sắp đặt của vua cha, bị ruồng rẫy, Diệu Thiện bỏ ra ở chùa đi tu. Viên quan võ theo lệnh vua đem quân trừng trị Diệu Thiện, phóng hỏa đốt chùa. Nhưng Diệu Thiện được Phật Tổ sai thần Bạch Hổ đưa nàng trốn sang đất Việt Thường thị, đến vùng núi Ngàn Hống. Diệu Thiện tiếp tục tu hành ở động Hương Tích, trở thành một vị sư cô từ bi bác ái nổi tiếng.

Giữa lúc đó Trang Vương mắc bệnh nan y. Thầy thuốc nói phải có tròng mắt và bàn tay của một người con gái tự nguyện hiến dâng mới cứu được tính mạng. Nghe tiếng ni cô ở đất Việt Thường vua liền sai người đến cầu xin. Diệu Thiện bèn móc mắt và cắt tay của mình đưa cho sứ giả để cứu cha… Đức Phật cảm về tấm lòng của Diệu Thiện bèn ban phép cho mắt nàng sáng lại, bàn tay mọc lại như cũ. Sau khi hóa Diệu Thiện trở thành Phật Quan Âm.

Cảm động trước tấm lòng và sự hy sinh của con gái út, Trang Vương đã xây chùa ở Ngàn Hống (“Trang Vương lập tự”). Quan ngự y Triệu Chấn cũng rời khỏi kinh thành đi tìm Diệu Thiện. Ông ở núi Ngàn Hống, ngày ngày cưỡi voi thần đi lên những đỉnh núi cao hoặc thung lũng hái lá rừng làm thuốc trị bệnh cứu người…

Am Dieu Thien

Am Phật Bà Diệu Thiện ở Hương Tích – Hồng Lĩnh.

Nay ở cạnh chùa Hương Tích trên dãy Hồng Lĩnh huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) còn nền Trang Vương, tương truyền là nơi Trang Vương tới thăm con gái. Tồn trai Bùi Dương Lịch (1757-1827) khi thăm Hương Tích viết bài thơ có câu:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ xuy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Trang Vương nền cũ mây còn đọng
Trần tử am xưa gió réo vù.

“Am Trần Tử” ở đây phải chăng là chỉ Am dược sư, thờ ngự y Triệu Chấn? Không rõ tại sao lại gọi Triệu Chấn là Trần Tử.

Rõ ràng sự tích Quan Âm Diệu Thiện và Bà Chúa Ót chỉ là một chuyện. Công chúa út của Trang Vương tu hành ở Hương Tích, lấy mắt mình cứu cha, làm thuốc chữa bệnh cho dân lành,… Vì thế Diệu Thiện đã được tôn làm Chúa Mường đệ tam, cai quản Lâm cung nhạc phủ.

Trong hệ thống Tam phủ thì Mẫu Thượng ngàn còn có tên là Lê Mại đại vương thiền sư Diệu Tín. Cái tên này chẳng ăn nhập gì với các truyền thuyết chính về Mẫu Thượng Ngàn là công chúa La Bình, con gái Sơn Tinh (đền Bắc Lệ), hay công chúa Quế Hoa của Hùng Định Vương (đền Suối Mỡ). Nhưng cái tên trên lại liên hệ rõ với bà Chúa Mường đệ tam.

“Lê Mại” chỉ là từ khác của “Cao Mại”, quê bà Chúa Lâm Thao mà thôi, vì Lê = Lửa, chỉ vua chúa, Cao = Cả, cũng là chỉ người lãnh đạo. “Mại” có thể là Mọi, từ chỉ người Mường Mán. Ở Lạng Sơn còn có bà chúa Mọi.

Lê Mại hay Cao Mại như vậy cùng có nghĩa là Chúa Mường. Mẫu Thượng ngàn trong Tứ phủ lại lẫn chung ngôi với Chúa Mường đệ tam Lâm Thao. Tương tự như trường hợp Chúa Mường Tây Thiên là Mẫu Cửu trùng, sự hợp nhất tín ngưỡng thờ Mẫu của Kinh và Mường thể hiện rất rõ.

Thượng ngàn Sơn Tinh công chúa văn
chầu Cô Đôi Thượng ngàn có câu về Mẫu Thượng ngàn:
Đất Trang Chu hiệu là Diệu Tín
Đức thiền sư nổi tiếng anh linh.

Thiền sư Diệu Tín là công chúa đất Trang Chu… thật quá chính xác. Trang Vương ở chùa Hương Tích không phải Sở Trang Vương. Nước Sở ở đâu mà lại có Sở Trang Vương sang tận Ngàn Hống – Hà Tĩnh được? Trang Vương như vậy chính là “Trang Chu”, tức là Chu Trang Vương.

Chu Trang Vương là vị vua được biết nhiều trong cổ sử vì Việt sử lược, bộ sử xưa nhất của nước ta còn lại đến nay, có chép:
Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương.

Trang Vương – Cơ Đà (696 – 681 TCN) là vị vua thứ 2 nhà Đông Chu lên ngôi ở Lạc Ấp. Các nhà sử gia đời nay căn cứ vào đó lấy làm mốc cho niên đại lập quốc của người Việt.

Theo truyền thuyết thì bà Chúa Lâm Thao là con gái Hùng Vương. Còn Quan Âm Diệu Thiện là con gái Trang Vương. So sánh 2 sự tích cho một nhận định: Chu Trang Vương là một vị vua Hùng, đô đóng ở Phú Thọ. Đây lại thêm một bằng chứng rõ ràng về triều đại Chu của Trung Hoa chính là nước Văn Lang của các vua Hùng.

Đất Ngàn Hống – Hà Tĩnh cũng vốn là “đất Mường” thời trước Đại Việt. Người Mường Mán (những người ở miền núi phía Tây) đã tôn 3 nhân vật nữ có công đức lớn từ thời Hùng Vương làm Chúa cai quan các cõi. Mẫu Tây Thiên là Chúa Mường Thượng thiên. Bà Nguyệt Hồ là Chúa Mường Thoải phủ. Công chúa Diệu Thiện là Chúa Mường Sơn Trang. Tín ngưỡng “Tam chúa” của người Mường khá tương đồng với tín ngưỡng Tam phủ của người Kinh vùng đồng bằng.

Tín ngưỡng, truyền thuyết là những tiếng vang của lịch sử, phản ánh qua những lăng kính khác nhau. Người Kinh có cách nhìn của người Kinh. Người Mường có cách nhìn của người Mường. Nhưng lịch sử cả tộc người từ thời cha sinh mẹ đẻ thì chỉ có một. Lắng nghe những tiếng vang trong truyền thuyết và tín ngưỡng sẽ nhận ra lịch sử chân thực của dân tộc.

Lời thề sông Hát

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bắt đầu từ việc ông Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc bị quân Hán giết. Theo sử sách thì vì nợ nước thù nhà mà Hai Bà đã tụ quân lập đàn thề ở Hát Môn, dựng cờ khởi nghĩa. Lời thề Hát Môn được ghi lại:
Một, xin rửa sạch quốc thù
Hai, xin khôi phục nghiệp xưa họ Hùng
Ba, kẻo oan ức lòng chồng
Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh này.

Dan the Hat Mon

Đàn thề Hát Môn

Tuy nhiên, nguyên nhân “vì chồng bị giết” mà dẫn đến cuộc khởi nghĩa lớn của Trưng Vương xem ra… không hợp lẽ cho lắm. Thi Sách chết trước hay sau khi Hai Bà khởi nghĩa thì các sử gia còn đang đặt nghi vấn. Ông Thi Sách họ gì thì lại càng là cả một điều bí ẩn…

Gần Hát Môn ở Nại Xá (xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội) xưa có miếu Đinh Nguyên thờ Thi Sách. Tương truyền nơi đây là Tử Khê, là nơi Thi Sách tử tiết. Khi Trưng Vương khởi nghĩa đã cho lập miếu thờ chồng ở đây. Thần tích miếu Nại Tử mở đầu như sau:

Xưa vào niên hiệu vua Quang Vũ triều Đông Hán có lạc tướng đất Mê Linh – Phong Châu tên là Trưng Nghĩa Dũng, tức là Phúc Bố, vợ là bà Hồng Thị Đào tuổi đã đều trên 40 mà khó sinh con đã sắm sanh lễ vào chùa Hương Tích cầu có con nối dõi. Lòng thành của họ đã được trời đất ban phúc báo mộng sẽ cho họ một bậc anh hùng quốc chủ giúp nước an dân. Quả nhiên sau đó vợ chồng sung sướng khi tin vui có thai và vào giờ sửu ngày 10 tháng 4 bà Hồng đã sinh ra Kim Tiên nữ dáng mạo đoan trang, cốt cách hơn người và đặt tên là Trắc thường gọi là Ả Lã và khi lớn gọi là nàng Đê có mày cong trăng non, mắt tựa như làn thu thủy…

Lúc đó có người Chu Diên cũng con của lạc tướng (Dương Thái Bình, mẹ là Hồ Thị Nhữ) tên là Dương Thi Sách tuổi đã 29, sinh ngày 10 tháng 6. Nghe nói Ả Lã nàng Đê có nhan sắc kiều diễm vẫn chưa lấy chồng. Chàng Dương Thi Sách thưa với bố sang xin kết duyên với nàng. Lạc tướng Dương Thái Bình nói rằng: Ta và Lạc tướng Phong Châu trước đã có nguyện ước nay nghe có nàng Ả đó phải chăng là duyên tiền định vậy và cho người đến hỏi đón về. Đất Chu Diên hai họ đến cùng vui mừng.

Thần tích này cho biết Thi Sách họ Dương, còn Trưng Trắc vốn có tên là Ả Lã. Thông tin về tên họ của Thi Sách và Trưng Vương đã chỉ ra mối liên hệ giữa khởi nghĩa Hai Bà Trưng với … nhà Triệu Nam Việt.

Thần tích Nại Xá cho biết Dương Công Thi Sách đã được tôn phong là “Quốc vương Thiên tử Đông Hán Đại vương”. Phải hiểu chữ “Đông Hán đại vương” ở đây là thế nào? Thi Sách sao lại là đại vương của Đông Hán?

Họ Dương của Thi Sách thực ra là chỉ hướng Đông. Đây cũng là chữ Dương trong tên của Vệ Dương Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu Nam Việt. “Đông Hán” là nước Nam Việt, có kinh đô đóng ở Dương Thành (Phiên Ngung – Quảng Đông) nên gọi là Đông. Còn gọi là “Hán” bởi vì Nam Việt và Tây Hán đều cùng một gốc từ Hán Cao Lưu Bang – Triệu Vũ Đế cả.

Khi Lộ Bác Đức nhà Tây Hán tấn công Dương Thành, Triệu Vệ Dương Vương cùng thừa tướng Lữ Gia đã lên thuyền đi về phía Tây, trở lại đất Phong Bái của Triệu Vũ Đế. Trong thần tích Nại Xá bố của Thi Sách tên là Dương Thái Bình, rất có thể Thái Bình đây chỉ đất Bái xưa.

Vệ Dương Vương bị bắt ở cửa Đại Nha, là cửa sông Đáy đổ ra biển tại Nghĩa Hưng, Nam Định ngày nay. Truyền thuyết Việt chép thành Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử đuổi chạy tới cửa Đại Nha thì mất. Nơi đây còn đền Độc Bộ lưu dấu sự kiện này.

Thần tích đền Độc Bộ có một chi tiết thêm so với những thần tích khác về Triệu Việt Vương. Thần tích này cho biết Triệu Quang Phục là “cháu đời xa của Triệu Vũ Đế”. Thông tin này thật chính xác. Triệu Vệ Dương Vương thì rõ là cháu mấy đời của Triệu Đà. Triệu Quang Phục cùng đường ở Đại Nha chính là Triệu Vệ Dương Vương.

Dương Thi Sách là Triệu Vệ Dương Vương, vậy Ả Lã Trưng Trắc là hoàng phi của vua Triệu.
Sách Thư mục thần tích thần sắc do Viện Thông tin khoa học xã hội biên soạn xuất bản năm 1996 thống kê ở 11 tỉnh thành trong cả nước có 56 làng thờ Ả Lã Nàng Đê làm thành hoàng. Nhân vật này được biết chủ yếu hoặc là một nữ tướng thời Trưng Vương hoặc là phi nhân của Triệu Quang Phục (các thần tích vùng Yên Lãng, Mê Linh, Hà Nội). Với nhận định Thi Sách là Triệu Quang Phục (Triệu Vệ Dương Vương), Ả Lã là Trưng Vương thì 2 tích về Ả Lã Nàng Đê trên đều chỉ là một chuyện.

Ả Lã mang họ Lã hay Lữ của thừa tướng Lữ Gia. Nhà họ Lữ có nhiều con gái được gả cho vua Triệu Nam Việt. Trưng Trắc hẳn là một trong số đó. Triệu Vệ Dương Vương bị bắt. Gia quyến nhà Triệu cùng Lữ Gia đã lui về châu Phong, từ đó làm nên của khởi nghĩa của Trưng nữ vương họ Lữ.

Lịch sử Việt Nam đã chép 2 cuộc khởi nghĩa khác nhau vào một khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa đầu nổ ra vào thời Tây Hán ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt thất thủ. Khởi nghĩa này đúng là đền nợ nước, trả thù nhà của các hoàng phi nhà Triệu họ Lữ. Vua Tây Hán lúc này là Hiếu Vũ Đế chứ không phải Hán Quang Vũ đã cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức đi dẹp loạn. Sau thất bại ở Lãng Bạc, Ả Lã tử tiết ở Cấm Khê.

Cuộc khởi nghĩa Trưng Vương thứ hai vào cuối thời Đông Hán là khởi nghĩa Khăn Vàng của anh em Trương Giác, Trương Lương, Trương Bào. Đây mới là cuộc khởi nghĩa nổ ra trên một diện rộng ở Lĩnh Nam. Khởi nghĩa đang thắng lợi thì thủ lĩnh Trương Giác ốm mất, đúng như Thiên Nam ngữ lục chép:
Chị em nhiễm bệnh yên hà
Nửa đêm bỏ đất ruổi ra lên trời.

Người lãnh đạo quân khởi nghĩa tiếp theo là Đô Dương Triệu Quốc Đạt cùng em là Triệu Thị Trinh đã “đầu voi phất ngọn cờ vàng”, chặn được quân Hán ở Cửu Chân, buộc Mã Viện phải cắm mốc phân giới ở Man Thành (Quảng Tây)…

Cua Dai Nha

Cửa sông Đáy bên đền Độc Bộ

Câu đối ở đền Độc Bộ:
Độc mộc phá Lương binh, Nam quốc đồng bào giai xích tử
Đồi ba chướng hải khẩu, phù sa thác thực hữu thanh xuân.

Dịch:
Độc mộc phá quân Lương, nòi giống nước Nam cùng máu đỏ
Sóng dồn che cửa bể, cỏ hoa bồi đắp hóa xuân xanh.

Câu chuyện bên cửa sông Đáy của hơn 2 ngàn năm trước nay đã bị sóng biển dồn che, phù sa bồi lấp. Anh hùng đã “thác hóa xuân xanh”, Triệu Vệ Dương Vương được gọi đổi thành Dương Thi Sách. Làng Nại Xá nơi có miếu thờ Thi Sách nay cũng đã lở trôi theo dòng nước sông Hồng. Trưng Trắc chọn Hát Môn làm nơi phát lời thề khởi nghĩa đền nợ nước, trả thù nhà cũng là có lý do. Hát Môn là nơi bắt đầu của sông Hát hay sông Đáy. Nơi kết thúc của sông Hát chính là cửa Đại Nha. Ả Lã Trưng Vương khởi nghĩa và lập miếu thờ chồng ở đầu sông Hát là để tưởng nhớ tới vua Triệu đã tử tiết ở cuối sông tại cửa Đại Nha.

Giếng Việt

Trong Lĩnh Nam chích quái có câu chuyện thần tiên khá kỳ lạ là Truyện Giếng Việt. Truyện mở đầu như sau:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Nhà Ân của Trung Hoa ở tận Hoàng Hà. “Nước ta” ở đâu mà Thánh Gióng lại có thể đánh giặc Ân? Các sử gia đành phải suy đoán, giặc Ân đây là một giặc Ân khác… Nhưng Truyện Giếng Việt viết tiếp:
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…
Ở đây truyện đã tính rất đấy đủ: “… Qua đời Chu tới đời Tần”, rõ ràng coi thời Ân là thời kỳ trước đời Chu của Trung Hoa.
Cũng trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Đổng Thiên Vương cho biết Ân Vương đã chết trong cuộc chiến ở Trâu Sơn. Ít người để ý đến chi tiết này nhưng Truyện Giếng Việt một lần nữa khẳng định: Vua Ân đã bỏ mạng trong trận đánh với Thánh Gióng. Người đã đánh đổ nhà Ân, buộc vua Ân bỏ mạng thì không ai khác phải là Ninh Vương Cơ Phát của nhà Chu. Truyền thuyết Việt chép thành nơi mất của vua Ân là Vũ Ninh. Thánh Gióng đã theo lời hiệu triệu của Ninh Vương diệt Trụ, lập nên cơ nghiệp thiên tử ngàn năm của triều Chu ở chính trên đất Việt.
Bài thơ do Thôi Lượng đề ở miếu Ân Vương:
Cổ nhân truyền đạo thị Ân Vương
Tuần thú đương niên đáo thử phương
Sơn tú thủy lưu không kiến miếu
Tinh thăng tích tại thượng văn hương
Nhất chiêu thắng bại vô Ân đức
Vạn tải linh thanh trấn Việt Thường
Bách tính lòng từ giai phụng sự
Mặc phù quốc tộ vĩnh vô cương.

Xin dịch:
Người xưa kể chuyện thủa Ân Vương
Tuần thú năm nay tới chốn đường
Nước chảy non xanh trơ miếu đó
Hóa thần lưu dấu tại văn hương
Thắng thua một cuộc không Ân đức
Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường
Trăm họ một lòng cùng thờ phụng
Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Thế nào mà vua Ân lại phù hộ cho nước “Việt Thường”? Vua Ân là “giặc” cơ mà? Bởi vì nước Việt Thường cũng chính là nước của nhà Ân Thương. Ân Vương là vua Việt, ở Giếng Việt là vậy.

P1130929 (2)Một chiếc quang hình chim thú thời Thương.

Một điều thu lượm nữa từ Truyện Giếng Việt là Thôi Lượng, “người nước ta”, nhưng lại làm quan cho nhà Tần đến chức “ngự sử đại phu”. Cũng tương tự như chuyện Lý Ông Trọng làm phò mã của nhà Tần, chuyện này cho thấy nhà Tần đã chiếm “nước Nam ta” và trọng dụng những người nước Nam làm những chức vụ quan trọng nhất trong triều Tần. Tần như vậy cũng là một triều đại Việt mà thôi.
Tiếp truyện Giếng Việt đề cập đến sự kiện: Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam (đời An Dương Vương) trú quân ở dưới núi, sai tu sửa lại miếu mạo, nghiêm cẩn khấn thờ.
Hóa ra ngay khi Nhâm Hiêu còn sống, Triệu Đà đã từng sang vùng núi Vũ Ninh ở Bắc Ninh ngày nay. Theo chính sử lúc đó Nhâm Hiêu là quan quận Nam Hải, Triệu Đà đang là huyện lệnh Long Xuyên, sao lại có mặt ở Vũ Ninh là thế nào? Thôi Lượng đã là ngự sử đại phu nhà Tần, sao lúc này lại còn An Dương Vương nào ở đây trên đất Việt?
Nhâm Hiêu theo như truyện này thì đóng ngay tại Vũ Ninh. Đoạn trên chỉ có thể hiểu khi Long Xuyên nơi Nhâm Hiêu làm quan lệnh hoặc quan úy, rồi nối tiếp Triệu Đà đảm nhận chức vụ này chính là vùng Long Biên – Bắc Ninh ngày nay. “Đời An Dương Vương” có Nhâm Hiêu, Triệu Đà lúc này phải là đời Tần. An Dương Vương là một cách gọi khác của nhà Tần khi dẹp yên Dương Việt.
Truyện Giếng Việt kể con Thôi Lượng là Thôi Vỹ đã chữa bệnh bướu cho Nhâm Hiêu và được Nhâm Hiêu trọng dụng. Thôi Vỹ gặp nạn ngã xuống hang sâu, gặp Ân hậu và được khoản đãi. Vừa kíp thì có người báo:
Ngày 13 tháng Giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”.
Sự kiện Nhâm Hiêu bị chết lại được Ân hậu rất quan tâm. Bởi vì sự kiện này đánh dấu sự suy vong của nhà Tần, khởi đầu của một triều đại mới của Trung Hoa. Ngày 13 tháng Giêng có lẽ là ngày mà Nhâm Hiêu đã bị nhân dân đất Bái nổi dậy giết chết để tôn Lưu Bang – Triệu Đà lên làm thủ lĩnh đất Long Xuyên, mở đầu cuộc khởi nghĩa của Bái công Lưu Bang chống Tần.
Ân hậu cho quan dê (Dương quan) đưa Thôi Vỹ về, rồi lại gả tiên nữ, tặng ngọc Long Tụy cho Thôi Vỹ. Viên ngọc Long Tụy này “suốt từ đời Hoàng Đế tới triều Ân vẫn được lưu truyền là vật quí ở đời. Trong cuộc chiến trận ở Trâu Sơn, Ân Vương đeo ngọc đó mà chết, ngọc bị vùi xuống đất mà hào quang của nó vẫn chiếu tỏa tới tận trời. Thời binh hỏa đời Tần, báu ngọc đều cháy hết, người ta xem linh khí mà biết rằng viên ngọc quý Long Tụy vẫn còn ở nước Nam.”
Ân Vương chết ở đất Việt Thường, ngọc báu từ đời Hoàng Đế Trung Hoa ngàn năm sau còn tỏa sáng là minh chứng cho gốc tích của Ân Vương. Một mối liên hệ xuyên suốt qua các triều đại Ân – Chu – Tần tới Nam Việt Triệu Đà được thể hiện trong tuyệt phẩm Truyện Giếng Việt. Tất cả những thời Tam – Tứ đại này đều là của người Việt cả, đều từ cùng một khơi nguồn Giếng Việt mà ra. Thần thánh luôn dõi theo những gì đang diễn ra trên trần thế. Vải thưa không thể che nổi mắt thánh. Những người có tâm đức như Thôi Lượng, Thôi Vỹ sẽ thấy được chân tướng lịch sử và gặp được thần tiên.

Cổ vật đồ đồng và lịch sử Đông Dương

Các nhà sử học và các nhà khảo cổ học không mấy quan tâm đến nhau lúc gặp rủi ro, nhưng sự rủi ro đối với các nhà sử học lớn hơn, khi có chứng cứ cụ thể phản bác lại một lý thuyết riêng về sự phát triển của lịch sử, không thể đơn giản cho qua và cuối cùng phải xem xét lại. Trong một số lĩnh vực điều tra nghiên cứu, hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, khoa học lịch sử và di vật khảo cổ phải phục vụ cho nhau bởi vì chỉ riêng một cái nào đó có thể không đủ.” (Stephen O’Harow, 1978)

Những gì nói trên rất đúng cho trường hợp Đông Dương thời kỳ trước Công nguyên. Cổ vật Lào, Khmer và Chăm pa thường được mường tượng theo phong cách của Ấn Độ với tượng các vị thần Hindu giáo, tượng phật, các chùa tháp, … Nhưng khảo cổ khu vực Đông Dương thời kỳ trước Công nguyên cho thấy một bức tranh khác hẳn về nguồn gốc của văn hóa và con người các nước này.

Lịch sử Trung Hoa ghi nhận khoảng năm 1124 TCN Cơ Phát tiếp cơ nghiệp của cha là Cơ Xương, phát động chư hầu tấn công Ân Trụ Vương ở Triều Ca. Trụ Vương thua, tự thiêu ở Lộc Đài. Cơ Phát về đất Phong, lên ngôi thiên tử của Trung Hoa là Chu Vũ Vương, phân phong cho các công thần. Ba đại công thần lớn nhất được phong là:
– Lã Vọng được phong ở đất Doanh Khâu, sau là nước Tề của Khương Thái Công
– Em trai là Cơ Đán được phong ở Khúc Phụ, sau là nước Lỗ của Chu Công
– Người trong họ Cơ là Cơ Thích được phong ở đất Thiệu, sau là nước Yên của Thiệu Công.

Đất của thiên tử Chu ở đâu? Tề, Yên, Lỗ ở đâu. Có lẽ nào Chu, Lỗ, Yên, Tề lại là tiền thân của 4 quốc gia vùng Đông Dương Việt, Lào, Chăm và Khmer? Những cổ vật văn hóa của vùng Đông Dương hé lộ những liên hệ trực tiếp của khu vực này với thời Chu của Trung Hoa.

Vu khi

Vũ khí đồng ở Căm-pu-chia, mang đậm phong cách của đồ đồng Đông Sơn

Nói tới đồ đồng Đông Dương trước hết phải nói tới trống đồng. Trống đồng không chỉ tập trung ở vùng Bắc Việt mà hàng loạt những trống đồng to, đẹp nhất tìm thấy khắp vùng Đông Dương, từ Lào tới vùng Nam Bộ và Căm-pu-chia.

Bronze drums

Bản đồ các địa điểm phát hiện trống đồng ở Căm-pu-chia (Bảo tàng lịch sử Phnom Penh)

Ví dụ gần đây trong đợt khảo cổ tại làng Prohear, tỉnh Prey Veng của Căm pu chia gần biên giới với Việt Nam đã phát hiện hàng chục trống đồng Heger loại I bị đào trộm. Niên đại của mộ táng có chiếc trống này xác định vào khoảng thế kỷ 3 tới thế kỷ 1 TCN. Giai đoạn này ở Căm-pu-chia được xếp vào thời kỳ “tiền sử” vì không có sách nào chép gì về thời gian này ở đây.

Các nhà khảo cổ đoán định đây là do ảnh hưởng của việc di cư của cư dân Đông Sơn xuống phía Nam dưới sự tấn công của nhà Tây Hán, ý không muốn công nhận đây là hiện vật của nền văn hóa bản địa. Biện luận như vậy không vững chắc vì đây là văn hóa bản địa và thời Tây Hán quá muộn so với niên đại của các cổ vật.

Prohear

Trống đồng Heger loại I trong mộ táng ở Prohear, Cam-pu-chia (Hiện vật tại Bảo tàng lịch sử Phnom Penh)

Thực ra những chiếc trống đồng Đông Sơn tìm thấy ở Nam Bộ và Căm-pu-chia cho thấy khu vực này có liên quan trực tiếp tới trung tâm đồ đồng Đông Sơn ở Bắc Việt. “Tiền sử” Căm-pu-chia là một phần trong lịch sử của cả Đông Dương dưới nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ.

Cũng trong khu vực, cách làng Prohear 60 km về phía Đông Bắc còn khai quật được khu mộ cổ có niên đại từ thế kỷ 4 đến thế 1 TCN. Trong số các hiện vật ở đây đặc biệt có một chiếc đĩa đồng, nhiều khả năng là gương. Gương đồng là đặc trưng của văn hóa Trung Hoa. Sự có mặt của gương đồng thời Chu ở Căm-pu-chia cho thấy mối liên hệ khu vực này với nhà Chu.

Dia dong

Gương đồng trong mộ cổ ở làng 10.8 (Bảo tàng lịch sử Phnom Penh)

Ở Lào cũng đã phát hiện rất nhiều trống đồng cổ và trống đồng là một phần trong văn hóa Lào cho tới tận bây giờ. Lạ hơn, ở Luang Phrabang còn thấy có nhiều hiện vật đồ đồng phong cách của Trung Hoa thời Thương Chu như tước ba chân, bình đựng, lư hương, …

Binh dung

Bình đồng cổ ở Luang Phra bang với hình rồng phong cách Chiến Quốc

Tại sao ở Lào lại có nhiều cổ vật thời Thương Chu đến vậy? Theo chính sử thì Trung Quốc chưa có thời kỳ nào tiến chiếm đất Lào, nói gì tới thời Thương Chu. Đất nhà Thương và Chu được xác định ở tận Hoàng Hà thì những cổ vật thời này làm thế nào có mặt ở Lào được?
Với việc nhìn nhận Lào là đất Lỗ của Trung Hoa xưa thì sự có mặt của đồ đồng thời Chu lại là bản địa của Lào trở nên dễ hiểu.

Te giac

Bình đựng rượu hình tê giác ở Luang Phrabang

Bình đựng rượu hình tê giác này mang đậm phong cách thời Thương Chu. Điều kỳ lạ là đồ đồng Thương Chu lại lấy con tê giác làm hình tượng. Tê giác là loài động vật chỉ gặp ở vùng nhiệt đới, không thể có ở vùng Hoàng Hà. Bình rượu này giúp khẳng định những đồ đồng thời Thương Chu ở Lào là đồ bản địa.

Tê giác ở Đông Dương gặp chủ yếu ở vùng rừng núi Đông Nam Bộ và đất Căm-pu-chia giáp với Việt Nam. Đây cũng chính là nơi tìm thấy những chiếc trống đồng Đông Sơn ở trên. Cho dù con tê giác cuối cùng của Đông Dương ở Nam Cát Tiên mới “qua đời” cách đây vài năm nhưng hình ảnh tê giác đã đi sâu vào văn hóa của vùng đất này.

Ngoài tê giác vùng Đông Nam Bộ và Căm-pu-chia còn có con “tê tê”, một loài bò sát có vảy dày, hiếm gặp. Có lẽ chữ “tê” ở đây chính là … Tề. Tê giác là loài động vật tượng trưng cho phương Tây, cùng với con voi (Tượng). Con “tê” là con linh thú của nước Tề ở phía Tây nhà Chu. Còn con voi, rất rõ, là linh thú của nước Lỗ bên Lào.

Nếu nước Lỗ của Chu Công nằm ở thượng lưu sông Mê Kông (Lào) và lưu vực sông Mã (Thanh Nghệ) thì nước Tề của Khương Thái Công nằm ở trung và hạ lưu sông Mê Kông. Sông Mê Kông được gọi trong Hán văn là sông Mễ Khang, tức là sông Khương, con sông chảy qua nước Tề của Khương Công.

Guong cu

Gương đồng dạng chiếc lá có hình chim cú thời Thương hoặc Tây Chu, tìm thấy tại Quảng Khê – Quảng Bình

Trên vùng đất của người Chăm cũng không thiếu hiện vật thời Thương Chu. Được biết đến nhiều và rõ ràng nhất là những chiếc gương đồng. Ở Quảng Bình, Quảng Trị từng phát hiện những chiếc gương đồng thời Tây và Đông Chu, mang cả cổ triện trên đó hoặc cả hình đồ Bát quái. Những chiếc gương tương tự thậm chí bên đất Trung Quốc còn hiếm gặp, vậy mà lại gặp nhiều ở miền Trung Việt Nam.

Hình ảnh các gương đồng trích từ sách Bí ẩn về những chiếc gương cổ được tìm thấy trong các di chỉ Champa ở miền Trung Việt Nam của Hồ Xuân Em và Hồ Anh Tuấn.

Guong 4 chu

Gương tròn có 4 cổ tự thời Đông Chu, tìm thấy ở Mỹ Đức – Quảng Bình

Phần miền Trung Việt từ Quảng Bình tới Bình Định được biết là nước Hồ Tôn, phía Nam nước Văn Lang thời Hùng Vương. Hồ Tôn là nước của người Hồ, người Hời, tức là người Chăm xưa. “Tôn” hay Tâng, là tính chất bốc lên của phương Nóng (phương Nam). Hồ Tôn là đất của người Hời ở phía Nam Văn Lang. Thành phố Đồng Hới của Quảng Bình đọc đúng là “Động Hời”, một trung tâm dân cư của người Hời, nên việc có hiện vật từ thời Thương Chu ở Quảng Bình cũng hợp lý.

Guong bat quai

Gương đồng có Bát quái thời Chiến Quốc, tìm thấy tại Hà Trung – Quảng Trị

Nước Hồ Tôn với cổ vật thời Thương Chu thì chính là nước Yên, đất phong của Thiệu Công nhà Chu. Đất này sau (thời Trần) được gọi là An Chiêm.

Khảo cổ đồ đồng thời “tiền Ấn Độ hóa” của Đông Dương cho thấy toàn bộ vùng này nằm trong khu vực văn hóa Trung Hoa. Theo chính sử hiện tại, sớm lắm thì tới tận thời Tần người Trung Quốc mới tấn công Bách Việt. Vậy mà ở khắp Việt, Lào, Căm-pu-chia, đâu cũng có hiện vật từ thời Thương Chu. Những bằng chứng vật chất này ngày càng buộc phải xem xét hoàn toàn lịch sử các quốc gia Đông Nam Á và chính lịch sử Trung Hoa.

Viết thêm:
Đồng tiền “quốc bảo kim quỹ”, một hiện vật quí thời Tân của Vương Mãng nhưng lại biết có ở Luang Phra Bang, Lào. Nước Lào theo chính sử chưa hề có thời kỳ nào thuộc Hán cả.

Quoc bao kim quy

 

Ngọc Hoàng thượng đế

Người Việt cứ có chuyện gì là lại kêu “Trời”. Nhưng ông Trời là ai? Tại sao người Việt lại tin vào ông Trời đến vậy?
Trong Đạo Giáo Trung Hoa ông Trời là Ngọc Hoàng thượng đế, người cai quản Thiên đình. Trong Đạo Mẫu Tứ phủ ở Việt Nam vua cha của Thiên phủ cũng là Ngọc Hoàng thượng đế. Các sử gia với cái nhìn thiên kiến về tính xác thực của các thông tin trong tín ngưỡng và tôn giáo đều không muốn tìm xem Ngọc Hoàng thượng đế là nhân vật lịch sử nào.

Thực ra Ngọc Hoàng thượng đế là Hoàng Đế, người được coi là ông tổ của Hoa sử. Gọi là “Ngọc” vì đây đang là còn thời kỳ đồ đá. Gọi là “Hoàng” vì là màu của trung tâm trong Ngũ hành, tương ứng với vua. Ngọc Hoàng nghĩa là vị vua của thời tiền sử.

Ngay Đại Việt sử ký toàn thư cũng coi Hoàng Đế là vị vua đầu tiên của nước ta. Câu mở đầu của chính sử Đại Việt ghi rõ: “Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt…”.

Hoàng Đế của Trung Hoa lại là ông Trời của người Việt. Ở nước ta tới giờ vẫn còn những nơi riêng thờ Ngọc Hoàng như đền Đậu An ở làng An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Theo thần tích còn lưu giữ trong đền, vào năm “Thiên Định nhị niên” có Thiên tiên, Địa tiên mở cổng trời xuống hướng dẫn nhân dân khai phá vùng sình lầy, dạy cách săn bắn, hái lượm và trồng lúa nước. Ngoài ra còn có Ngũ lão tiên ông huy động dân làng khai hoang, diệt trừ thú dữ và dựng Thụy Ứng quán thờ trời để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu…

Đền Đậu An nằm trên mảnh đất hình đầu rồng, xung quanh có hồ nước trong xanh bao bọc. Do đó câu đối ở đền chép:
Thiên Định kỷ nguyên, Thụy Ứng Ngọc Hoàng lai giáng hạ
Địa linh thiên cổ, điện đài thượng đế ngự long đầu.

Dịch:
Thiên Định năm xưa, Thụy Ứng Ngọc Hoàng xuống hạ thế
Đất thiêng nghìn tuổi, điện đài thượng đế ngự đầu rồng.

Thap

Tháp đất nung và điện thờ Ngọc Hoàng ở đền Đậu An, Hưng Yên

Ngọc Hoàng thượng đế ở đền Đậu An còn có cả niên hiệu “Thiên Định” như một triều đại thật sự. Theo thông tin ở đây thì ngôi đền này đã được dựng từ năm 226 trước Công nguyên. Rõ ràng tục thờ Ngọc Hoàng là tín ngưỡng bản địa của người Việt bởi vì lúc đó nước ta còn chưa chịu ảnh hưởng của phương Bắc. Theo chính sử thì mãi tới năm 218 TCN thì nhà Tần lần đầu mới đánh chiếm Bách Việt. Trước đó Văn Lang, Âu Lạc là những quốc gia hoàn toàn độc lập, không liên quan gì tới phương Bắc.

Hoàng Đế trong Hoa sử có tên là Hiên Viên, là vua nước Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục thì chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Họ Thần Nông được thay bằng họ Hữu Hùng. Đối chiếu hai dòng sử thì thấy rõ vua Hữu Hùng là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng vì sử Việt bắt đầu chính bằng “Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông…”.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xuy Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế.

Hoàng Đế được tôn là Minh chủ hay Minh Đế, tức là Đế Minh của truyền thuyết Việt. Minh nghĩa là sáng, là tỏ, tương ứng với chữ Hiển trong Hán văn. Chính vì vậy Hoàng Đế – Đế Minh được gọi là Hiển Vương, tam sao thất bản chép thành Hiên Viên.

Hoàng Đế là ông tổ của dân tộc Hoa Việt, là vị vua Hùng chính thức đầu tiên của nước họ Hùng (Hữu Hùng). Tên Hùng Hiển Vương trong Ngọc phả Hùng Vương được chép là của Lạc Long Quân. Đây là sự lẫn lộn thường thấy giữa 2 vị quốc tổ họ Hùng này khi chép theo 2 dòng sử Hoa và Việt.

Câu đối ở đền Hùng – Phú Thọ:
Thiên thư định phận chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Dịch:
Sách trời định chốn chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt duy có tổ
Núi tỏa linh thiêng cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Ngọc Hoàng – Đế Minh đã dựng Minh Đô tại nơi ba con sông Đà, Lô, Thao hội tụ ở Phong Châu – Phú Thọ, bắt đầu thời đại có quốc gia, có vua của người họ Hùng, của cộng đồng người Bách Việt. Là quốc tổ khai sinh họ Hùng nên Đế Minh mãi được tôn là ông Trời trong tâm thức của người Việt cũng như người Hoa.