LỜI RU KHÔNG QUÊN VỀ NÚI THÁI CÔNG CHA VÀ SUỐI NGUỒN NGHĨA MẸ

Từ thuở lọt lòng, tôi đã được nghe câu ca dao ngọt lành như hương lúa:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Câu ca dao xưa nay đã trở thành làn điệu ru con phổ biến ở vùng Bắc Bộ. Nhưng có lẽ không chỉ riêng ở miền Bắc mà người mẹ, người con nào trên đất Việt cũng thuộc nằm lòng lời ru bao đời này. Tuy nhiên, mấy ai hiểu rõ, ngọn núi Thái công Cha và dòng suối Nguồn nghĩa Mẹ trong câu ca dao là ở đâu? Lời ru của cha, của mẹ ấy nhắn gửi tới chúng ta điều gì?

Suoi Cuu tuyen

Suối Bát Nhã đoạn trên đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo.

1. Tiếp tục đàm đạo với sư thầy Tâm Hiệp về hành trình khám phá và vén những lớp sương mờ của thời gian để tìm về nguồn cội. Lần này, những gì sư thầy Tâm Hiệp cho tôi biết về câu ca dao công cha nghĩa mẹ, thực sự đã làm tôi bất ngờ và ngạc nhiên bởi sự mộc mạc nhưng chân xác của những thông điệp mà tiền nhân người Việt đã để lại.

Thầy Tâm Hiệp giải thích, trong câu ca dao này Cha và Mẹ là nguồn cội của người Việt, là những người đã dựng nên đất nước này, dân tộc này. Vì thế đây là những vị vua Hùng đầu tiên của người Việt mà sự tôn thờ họ đã được lưu truyền trong các bản Ngọc phả Hùng Vương cũng như trong các di tích tín ngưỡng bao đời nay trên mảnh đất Việt này.

Tuong DNCS

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở xã Hiền Lương.

Hiện nay tại xã Hiền Lương của huyện Hạ Hòa, Phú Thọ còn giữ được một pho tượng thờ vua Hùng đầu tiên là đức Đột Ngột Cao Sơn. Bức tượng này được thể hiện một cách uy nghi, Vua ngự trên long ngai bệ sư, đầu đội mũ bình thiên hình vuông, trán miện có hình mặt trời rực rỡ, khoác áo cổn có vẽ rồng chầu, hổ phục, phượng vũ, trang hoàng bằng hình sóng nước, núi non, hoa lá và cả chữ viết nữa. Hai tay đức vua chắp lại, cầm ngọc khuê. Đây có lẽ là bức tượng Hùng Vương cổ nhất còn bảo tồn tới nay. Xã Hiền Lương cũng là nơi có đền thờ Mẫu, mà bức tượng mẹ Âu Cơ trong đó đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Bức tượng Đột Ngột Cao Sơn ở đây được tạo tác cùng thời với tượng mẹ Âu Cơ, quãng vào đầu triều Nguyễn.

Theo thầy Tâm Hiệp, công Cha là công đức sáng lập của các vua Hùng. Vậy ngọn núi Thái của các vua Hùng là ở đâu? Bản Nam Việt Hùng Vương sử ký kể chuyện đức vua cha Lạc Long Quân khi đang còn là Thái tử như sau:

“Thái tử lên núi tìm kiếm mạch rồng, đến châu Thu Vật, châu Tụ Long ở xứ Tuyên Quang, nhận thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng. Lại qua giáp với thượng lưu sông Hoàng, sông Nhị. Đầu sông Hán, sông Lô là đầu nguồn nước một nhánh sâu thẳm, dẫn mạch nước Nam. Tạo dưỡng hai mạch rồng chạy tới từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn, trên dưới hai đỉnh, cho đến Ải Môn Thủy Đỗ. Mạch từ Ngũ Nhạc, Côn Lôn Thái tổ của đất nước, là đất tổ Linh Sơn Phong Thứu.

Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, giống như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc Đại quốc làm núi Thái tổ cha mẹ, cùng đầu núi góc biển vạn nước, trùng trùng các nhánh, một mối quy đồng.

Ngọc phả này cho biết ngọn núi tổ của người Việt là núi Côn Lôn Ngũ Nhạc ở vùng Bắc Việt ngày nay. Núi này chạy từ ải môn cửa sông Hồng (Vân Nam – Lào Cai) qua Tuyên Quang đổ về Việt Trì. Tức là Côn Lôn Ngũ Lĩnh là dải núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, nơi có đỉnh Phan Xi Păng cao hơn 3.452m, được ví như nóc nhà Đông Dương.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền cũng ghi: “Đời đời các triều vua giữ quyền chính, khi thay tên sửa chỗ cho cơ đồ, đều có xe loan ngự giá đến điện Hùng Vương trên núi, phụng tế trời đất, đốt lửa vọng về núi Thái để tế các bậc tiền hoàng đế tiên vương đời trước cùng trăm thần nước Nam.

Các đời vua khi lên ngôi đều lên núi Nghĩa Lĩnh ở Việt Trì mà hướng vọng Thái Sơn. Ngọn Thái Sơn núi tổ người Việt là dải núi Hoàng Liên vời vợi. Câu ca dao lưu truyền của cha ông chắc chắn không ví công cha với ngọn núi nào ở tận phương Bắc, không có liên hệ gì với nguồn gốc người Việt.

2. Ngọn núi Thái tổ công cha người Việt là dãy núi Hoàng Liên, nơi các vua Hùng mở nước. Vậy còn dòng suối nguồn nghĩa mẹ là ở đâu?

Thầy Tâm Hiệp kể, cách đây không lâu, thầy cùng với Nhóm nghiên cứu di sản Đền miếu Việt đã có dịp khảo sát kỹ lưỡng khu vực núi Tam Đảo là nơi có tục thờ Tây Thiên quốc mẫu. Khi đến hành lễ tại đền Hóa ở xã Đại Đình, Nhóm đã bất ngờ phát hiện trong khám thờ Quốc mẫu còn lưu giữ một cuốn ngọc phả chữ Nho chép tay có tựa đề Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ. Đây là một ngọc phả hiếm có vì trong hầu hết các nơi thờ quốc mẫu Tây Thiên hiện nay đều không còn lưu lại được thần tích chữ Nho.

Ngoc pha Tay Thien

Bản Ngọc phả Quốc Mẫu Tây Thiên ở đền Hóa.

Khác với Ngọc phả Hùng Vương ở Phú Thọ, bản Ngọc phả đền Hóa Tây Thiên kể lại sự tích vị quốc mẫu có tên Thẩm, húy là Nhược Cảm. Đức quốc mẫu giáng sinh ở thôn Đông Lộ chân núi Tam Đảo. Khi đất nước có giặc, bà đã tập hợp quân binh trong vùng, kéo về Phong Châu giúp vua Hùng dẹp yên giặc dữ. Do có công phù Hùng diệt Ngô Thục nên bà được phong là Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu, tức là vị mẫu trụ quốc họ Hùng ở núi Tam Đảo.

Cũng ngay ở chính điện tiền tế của đền Hóa Tây Thiên có một đôi câu đối đặc biệt:

Nghĩa Lĩnh Cao Sơn phụ lập quốc

Bát Tuyền trường thủy mẫu nghĩa dân.

Ý nghĩa của câu đối này hoàn toàn tương đồng với câu ca dao về công cha nghĩa mẹ, nhưng cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng hơn. Theo đó, Nghĩa Lĩnh là ngọn núi có đền Hùng, nơi thờ đức Đột Ngột Cao Sơn. Cao Sơn là vị Thái tổ đã lập ra quốc gia họ Hùng. Núi Nghĩa Lĩnh như thế chính là ngọn Thái Sơn của người Việt.

“Bát tuyền” là con suối mang tên Bát Nhã, bắt nguồn từ trên đỉnh Phù Nghi của núi Tam Đảo, chảy qua 9 khúc suối thì tới chân núi. Dòng suối này nước trong vắt, quanh năm không bao giờ cạn, được gọi là “cửu khúc hồi hoàn” hay là suối Cửu tuyền. Đây là dòng suối nguồn gắn liền với sự tích Mẹ Tây Thiên, đã tụ nghĩa giúp muôn dân trong buổi đầu dựng nước. Lấy theo tên núi Phù Nghi thì dòng suối Nghĩa là dòng suối linh thiêng, mạch nguồn của dân tộc, chảy từ trên Trời (ngọn Kim Thiên là đỉnh cao nhất của núi Tam Đảo) hàng ngàn năm qua vẫn không ngừng tuôn chảy.

Bia Bat Nha tuyen

Tảng đá có khắc bia “Bát Nhã tuyền” bên dòng suối ở đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo.

3. Núi Nghĩa Lĩnh còn đền thờ cha Cao Sơn và dòng suối nguồn Cửu tuyền từ đỉnh Phù Nghĩa đến nay vẫn là nơi thờ mẹ. Câu ca dao mộc mạc, gần gũi mà thực thà giản dị như ngọn nguồn lịch sử dân tộc mình. Chính bởi nếp sống trọng về ân nghĩa, lấy hiếu đạo làm nền tảng mà ông cha ta đã đời đời thờ phụng, thương tưởng và kính ngưỡng tổ tiên. Nếp sống ấy từ bao đời nay được tiền nhân trao truyền và cháu con tiếp nối, trở thành nếp nhà với ban thờ gia tiên và sự sum vầy đoàn tụ trong những ngày lễ kỵ, trở thành nếp làng xã nơi đình, đền, miếu và các lễ hội. Rồi nó lại trở thành nếp sống của cả dân tộc với việc thờ kính vị quốc tổ Hùng Vương ngàn đời.

Cả dân tộc gọi nhau là anh em, chú bác, cháu con như một đại gia đình cùng chung một mẹ cha. Người Việt có chung một đạo, chính là Đạo Hiếu, làm nền tảng cho việc hình thành tinh hoa văn hóa Việt. Cho nên, mới có câu “Ly hương, bất ly tổ”, hay “Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn có mắt ông cha không thờ”. “Đạo nhà” là nếp sống, là hồn nước và tính dân tộc của người Việt. Cũng nhờ ở quan niệm vì kính ngưỡng, thương tưởng mà lập ra thờ tự nên có những mảng ghép lịch sử xa xưa thật may mắn vẫn còn lưu lại được đến ngày nay qua. Lịch sử từ thời Cha sinh Mẹ đẻ vẫn như còn sống động qua từng di tích.

Minh Thi

335

Thần tích thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ (Thiên Cổ miếu)

Phả lục về vị Đại vương Đô Chấu thời Hùng Vương

Xưa nước Việt có Thánh tổ trời Nam khởi dựng cơ đồ, trải xem chỗ lợi của núi sông hình thế mà kiến lập thành đô ở thắng địa Hoan Châu, nơi đất Nghĩa Lĩnh trùng tu cung điện, cha truyền con nối hơn hai ngàn năm. Trăm họ vui hát, Thiên hạ thái bình.

Thời tiên tổ ba đời của Đại vương là người Mộ Trạch, Hải Dương, họ Vũ, thơ văn xử thế, hiếu thảo giữ nhà. Đến tổ ba đời gặp bất hạnh, cha mẹ mất sớm, gia sản trống không, bữa đực bữa cái, trông vào vay mượn. Vợ chồng cùng nói rằng:

–       Nghèo nàn như thế này, không có cách sinh nhai, biết lấy gì để bớt đi nỗi khổ này?

Do vậy gói ghém chút tư trang hành lý sơ sài, tìm tới Đông Ngạn, Kinh Bắc, nhà của người bạn thân họ Nguyễn, cũng không thể chu cấp được. Nên bèn đi đến cung thành Việt Trì, trú ở bên ngoài thành.

Nhân xem phong thủy để cầu việc dạy học làm kế sống qua ngày. Đến trại Hương Lan, thấy núi hình chữ Vương, các nhánh sông tụ ở trước mặt, tuy là một mạch đất nhỏ mà tưởng như là ngọn núi ngọc có dư khí. Bèn chọn ở chỗ đó. Hàng ngày lấy việc dạy học cho trẻ con làm nghề nghiệp. Ở được quãng ba năm thì người dân trong thôn cho chỗ đó để làm nơi dạy học. Vợ chồng chăm chỉ chuyên cần. Ngày tháng qua nhanh, sinh hạ được một người con trai tên là Thê, tức là vị tổ đời thứ hai vậy.

Đến khi trưởng thành lại tìm về người bạn cũ ở Đông Ngạn, cưới con gái thứ của ông Nguyễn tên là Thục làm vợ, rồi trở về thôn nơi dạy học. Ông theo sự cấy cày, ra sức làm việc nhân nghĩa, gia tư trở nên đầy đủ, làm trưởng thôn dân.

Năm Đinh Tỵ tháng tư bà Nguyễn đến chùa Việt Trì hành hương làm lễ Phật, lúc về đến đêm nằm mộng thấy một ngư phủ thân hình to lớn, cầm lên núi một con cá ba đuôi dài hơn một thước, đến trước sân mà dâng cho bà Nguyễn lấy để ăn. Mùi vị thật hấp dẫn. Bà Nguyễn hỏi là vật gì. Ngư phủ nói rằng đây là đồ ăn rất tốt. Rồi người đó bỗng biến mất. Bà Nguyễn tỉnh dậy mới viết là một giấc mộng Kê Vàng.

Bà đem kể với Ông. Ông cho đó tất có điềm tốt lành. Bà Nguyễn từ đó có mang, đến năm Mậu Ngọ ngày 11 tháng 1 sinh được một người con trai. Ông nhân giấc mộng dâng cá cho rằng đó là ứng điềm quỷ thần nên đặt tên là Rô (ngày lệ của vị trưởng là tháng Giêng từ mồng 9 đến 12).

Sau đó 2 năm, bà Nguyễn lại sinh đôi hai người con trai. Ông vô cùng vui mừng thấy rằng đúng là thần đã ban cho. Đến năm Quý Dậu ngày 2 tháng 2, Ông cùng bà Nguyễn không bệnh mà mất. Ba người con cùng với các môn đệ thôn dân làm lễ chôn cất. Sau ba năm tang lễ hoàn tất (ngày lệ giỗ ông bà là mồng 2 tháng 2).

Truyền kể rằng ba anh em có tài sức dũng mãnh, lại kiêm cả việc tập bắn cung. Còn người anh hay xuống nước hàng ngày lấy việc đánh cá làm vui.

Một ngày vào cuối tiết xuân, vạn cảnh đều yên hòa, Duệ Vương lệnh cho thuyền đi trên sông Bạch Hạc để ngắm xem cá nước. Chiêng kêu hòa với tiếng trống, lọng vàng thuyền rồng dàn khắp dọc ngang trên sông nước, đan kết thành vân, trên dưới các đầu đường tấp nập vẻ đi lại, trông như đám hỷ chật nghẽn bên bến sông Lô.

Các anh em bèn vui mừng đến xem, trông thấy nghi vệ thái bình thì kêu lên:

–       Than ôi! Đại trượng phu thì phải như vậy.

Duệ Vương nghe thấy lấy làm lạ liền lệnh triệu kiến. Thấy hình dạng trang nghiêm, thân thể cường tráng đó, Vua hỏi tên họ. Các anh em cứ theo thật mà trả lời.

Nhân đó Vua lệnh lấy tên là Chàng Chấu để gọi (ngay hôm đó quyết cho các Chàng Chấu theo sau kiệu làm tùy tùng). Được vài tháng cử chỉ trở nên thân mật, mọi việc đều chu toàn. Vua lấy làm lạ, cho làm Đô sĩ. Một năm trong ba lần đi hộ giá thị tòng, thấm sâu thánh trạch ưu ái thiên ân, hương lửa cùng có duyên vậy.

Đến lúc lòng Trời có hạn, cơ nhà Hùng kết thúc. Duệ Vương tự vì giàu mạnh mà không tu chính đức, lấy ấn kiếm làm đồ giữ nước, lấy tửu sắc làm nền móng cho việc thủ thành, việc võ bị phế buông. Ngày đêm yến ẩm ở trong cung đình.

Thục Vương thừa cơ đến xâm lấn. Tướng sĩ đều cùng tử nạn. Thư từ biên thùy báo gấp mà Vua không nghe. Đến khi quân Thục đã đến gần, Vua còn đang say chưa tỉnh. Tướng sĩ trong nước hàng Thục nên cơ đồ họ Hùng đã hết. Than ôi, không có điều gì để nói về sự này nữa. Bể dâu đổi thay. Thế cuộc xoay vần. Thế này cũng đã không còn như vậy được nữa.

Các anh em từ đó dắt díu nhau về quê cũ, rời bỏ khăn mũ, phú quý rũ trần. Lấy ngày yên bình với nơi sông nước. Núi rành rành, nước rào rào, nhớ đến ngòi nước nhỏ trong xanh. Bèn chuyên việc đánh cá uống rượu, thực là những người nhàn hạ bậc nhất, không quan tâm đến thế sự.

Được năm sáu tháng khi Thục Vương lấy được nước, cho xây thành ở Việt Trì, rộng hơn ngàn trượng, cuốn quanh như vỏ ốc, tên gọi là Loa thành. Cứ xây lại đổ. Thục Vương lệnh tìm người để làm phu. Theo lệnh chỉ thi hành, sai quan tìm bắt các anh em. Các anh em đều nói rằng:

–       Chúng ta đều đã nhận ân sâu của Hùng Vương, chưa kịp báo đáp. Nay còn có tấm thân lại bắt theo triều khác. Cam tâm để người sau sai khiến được sao?

Liền cùng nhau trốn ra nơi thường câu cá, rập đầu trước trời mà nói:

–       Trời xanh trăng sáng, núi cao nước trong, các thánh họ Hùng nguyện giám cho lòng thành.

Khi đó là ngày 10 tháng 10. Bèn ôm đá cùng nhau nhảy xuống sông mà chết. Hôm sau người dân trong thôn trang vội vớt di hài mà an táng. Bỗng thấy mối đùn thành một gò đất lớn (ngày 9 đến 12 tháng 10 là ngày lệ hóa thần). Gò đất đó tức là khu Đồng Bò.

Thục Vương nghe việc này mới than rằng:

–       Các quan tướng của Duệ Vương đều theo sự sai khiến của ta. Chỉ có các Đô sĩ lại có nhân phẩm cao, chịu ơn vua mà cùng quyên sinh vì nghĩa như vậy.

Liền trong ngày lệnh lấy tên gọi trước đây mà Duệ Vương đã đặt để phong làm Đại vương. Sai người trong trang lập miếu để phụng thờ. Qua các thời họ Triệu, Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần đều cảm lòng trung mà có mệnh phong cho sáng tỏ.

Đệ nhất vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Đệ nhị vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Đệ tam vị Linh Lang Chàng Chấu đại vương;

Trang Hương Lan phụng thờ.

Hồng Phúc năm thứ 2, ngày tốt cuối xuân, Đông các đại học sĩ Nguyễn phụng soạn.

Tự Đức năm thứ 1, ngày tốt giữa thu, Học trò bản trang họ Nguyễn phụng viết./.

Tháng 8 năm 2020, Quản trị viên Nhóm Đền miếu Việt, Thạc sĩ Nguyễn Đức Tố Lưu dịch nghĩa.

20200618_085723

Ngọc phả Hùng Vương và Hồng Bàng Thị kỷ

Hùng Vương Ngọc phả là những ghi chép lịch sử về thời kỳ khởi đầu của sử Việt, đồng thời cũng là về các “lịch đại đế vương” mà mỗi triều đại phong kiến xưa khi theo mệnh trời lên ngôi đều phải tôn sùng. Chính vì thế mà Ngọc phả Hùng Vương trong mỗi một triều đại chỉ có 1 lần biên soạn và được chính thức coi là quốc sử của triều đại mình. Nếu kể từ khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi Hoàng đế tới 1945 chế độ phong kiến đã trải qua hơn 1000 năm lịch sử, nhưng thực tế không có nhiều Ngọc phả về quốc tổ được soạn. Tổng hợp các Ngọc phả Hùng Vương hiện nay còn sưu tầm được, chỉ có 3 lần biên soạn Ngọc phả như sau:

– Lần 1: vào năm Thiên Phúc thứ nhất (Lê Đại Hành). Bản I này có tên là Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền miêu duệ tôn điệt ức vạn niên hương hỏa tự điển tôn sùng. Tựa đề lớn của bản này là Hồng Bàng Thị kỷ. Ngay từ tên gọi cho thấy đây là bản “tự điển”, tức là ghi chép các điển để thờ. Nội dung của bản này bao gồm tên gọi, tên hiệu, mỹ tự truy phong, các ngày sinh, ngày hóa, tuổi thọ, số cung phi, hoàng tử, công chúa… của Đế Minh và 18 chi Hùng Vương, cùng thông tin ngắn gọn về một số sự kiện quan trọng nhất ở mỗi đời. Bản tự điển Hùng Vương này được ghi là “thuộc thư ký Lê Đại Hành“, mà theo thiền sư Lê Mạnh Thát, vị thư ký của vua Lê Đại Hành là quốc sư Pháp Thuận.

NVHVNP013
Thiên Phúc nguyên niên chính nguyệt nhị thập ngũ nhật. Thuộc Lê Đại Hành thư ký
.

– Lần 2: vào năm Hồng Đức nguyên niên (Lê Thánh Tông) do Hàn lâm trực Học sĩ Nguyễn Cố biên soạn. Bản II này có tên Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền. Tựa đề lớn là Cổ Việt Hùng Thị nhất thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền. Bản này là các truyện kể về các đời vua Hùng từ Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ cho đến khi Triệu Đà diệt An Dương Vương thì kết thúc.

Ban IIHùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền

– Lần 3: vào năm “Hùng Vương thứ 32” do Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn biên soạn. Đây là Ngọc phả được soạn vào đầu thời Nguyễn, có khả năng là dưới thời vua Minh Mạng. Bản III này có tên là Hùng Vương kim ngọc bảo giám thực lục. Nội dung của cuốn thực lục này có 3 phần. Phần 1 là sao chép lại bản Tự điển Hùng Vương của thời Lê Đại Hành. Phần 2 nói về các điển thờ Hùng Vương như bài trí bài vị, vị trí các lăng huyệt mộ Hùng Vương, các nơi tạo lệ và có bài tựa dẫn về sách. Phần 3 có tên là Nam Việt Hùng Thị sử ký với nội dung là các truyện kế các đời Hùng Vương từ Đế Minh cho tới khi An Dương Vương lên tiếp ngôi.

Trang 103Hùng Vương tam thập nhị niên Mạnh xuân nguyệt nhật. Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn.

Bản I của Hùng Vương Ngọc phả thời Lê Đại Hành tới nay không còn bản gốc mà nó chỉ được biết qua phần 1 của Bản III. Bản II thời Lê Thánh Tông cũng không còn bản gốc, mà còn bản sao năm Hoằng Định thứ nhất (Lê Kính Tông) hiện lưu tại bảo tàng đền Hùng. Bản II cũng là bản thường được sao lưu ở các thư viện quốc gia từ thời Pháp tới nay. Do đó đây là bản thường được giới nghiên cứu biết đến nhiều nhất.

Bản III của thời Nguyễn cũng chỉ còn được sao lưu ở một số nơi thờ Hùng Vương, đặc biệt đầy đủ nhất là bản chép tay lưu tại đền Vân Luông, phường Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ. Bản III này như nói trên, đã bao gồm cả Bản I thời Lê Đại Hành và phần 3 là phần soạn lại từ Bản II của thời Lê Thánh Tông, gồm chỉnh thế thứ các vua Hùng cho phù hợp về với tự điển của thời Lê Đại Hành, bổ sung thêm một số đoạn văn mô tả, nhưng lại chỉ dừng lại ở An Dương Vương mà không nói tới thời Triệu Đà.

Bản III Hùng Vương kim ngọc bảo giám thực lục là bản Ngọc phả chính thức của quốc triều Nguyễn, là bản Ngọc phả đầy đủ nhất đã gồm cả Bản I và Bản II. Bản này theo ghi chép là sau khi soạn xong đã được khâm chỉ chuyển cho các quan đứng đầu các bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình, bộ Lễ và phó sứ (ngoại giao) để tuân mệnh sử dụng. Hiện nay, trên thực tế những phần khác nhau của Bản III đã được lưu tại những nơi sau thờ Hùng Vương:

– Đền Vân Luông, Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ. Bản lưu tại đền.
– Thần tích xã Vi Cương, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ ký hiệu AEa9/26.
– Thần tích xã Hạ Lộc, huyện Sơn Vi, ký hiệu AE a9/27.
– Thần tích thôn Yên Lãng, xã Hạ Giáp, huyện Phù Ninh, ký hiệu AE a9/17.
– Xã Hoàng Xá Hạ, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Bản này bị chép là do Nguyễn Bính soạn.
– Đền Vân Cù, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thường được gọi là Ngọc phả Hùng Vương bản Nam Định.

Ngoài ra rải rác các phần có thể vẫn còn được sao lưu ở các di tích thờ Hùng Vương vốn dĩ dày đặc trên vùng đất tổ Phú Thọ, Vĩnh Phúc do Bản III là bản dùng để thờ tự.

HVTTNgọc phả Hùng Vương là sự tổng hợp thông tin từ các phong tục và di tích thờ Hùng Vương ở nhiều nơi, lưu giữ qua nhiều thời gian. Ngọc phả đến lượt mình lại là nguồn sử liệu để cho các cuốn sử chính thống như Đại Việt sử ký toàn thư dựa vào khi viết về Hồng Bàng Thị. Do đó, tìm hiểu về thời đại Hùng Vương mà không xem Ngọc phả thì có thể coi như chưa biết đến nơi đến chốn. Không đọc Ngọc phả Hùng Vương làm sao biết được thế thứ và lịch sử các vua Hùng?

Đại Việt sử ký toàn thư chia Kỷ Hồng Bàng Thị thành 3 thời là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. So xét với Ngọc phả Hùng Vương thì đây cũng là 3 giai đoạn phát triển xã hội thời Hùng Vương, tương ứng là:

  1. Thời tiền sử: được sử sách gọi là thời Tam Hoàng Ngũ Đế từ khi Bàn Cổ vươn mình tạo ra Trời Đất đến thời Phục Hy và Thần Nông. Đây là thời kỳ Thần thoại. Thời kỳ này không được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Về khảo cổ là nền văn hóa Hòa Bình trở về trước.
  2. Thời mở sử: từ Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ đến Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình. Tương ứng trong Đại Việt sử ký toàn thư là thời “Kinh Dương Vương”. Tương ứng trong Kinh Thư là phần Ngu thư về các vị Nghiêu Thuấn Vũ. Đây là thời kỳ xã hội bắt đầu có thủ lĩnh. Về khảo cổ là nền văn hóa Phùng Nguyên.
  3. Thời sơ sử: từ Lạc Long Quân đến Âu Cơ. Tương ứng trong Hoa sử là thời nhà Hạ và Thương. Đây là thời kỳ của chế độ phụ đạo. Về khảo cổ là nền văn hóa Đồng Đậu.
  4. Thời lịch sử: từ khi người con trưởng Hùng Quốc Vương lập ra nước Văn Lang đến khi nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Đây là thời kỳ của chế độ phong kiến. Tương ứng trong Hoa sử là nhà Chu, gồm 2 giai đoạn Tây Chu và Đông Chu. Về khảo cổ là các nền văn hóa Gò Mun và Đông Sơn.

IMG_1088

Đôi câu đối từng ở Đền Hùng:

啟我南郊鴻貉千秋尊帝國
顯丁西土傘瀘一带壽新祠

Khải ngã Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển đinh Tây Thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch nghĩa:

Mở đất Nam Giao của ta, Hồng Lạc nghìn thu xưng đế quốc
Sáng vùng Tây Thổ vững mạnh, Tản Lô một dải mãi lưu đền.

Trích Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, Lịch kỷ Hùng Vương:

Xét như tiếng đức tiền hoàng đế thời Thái cổ, từ kỷ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, theo nguyên mệnh của xuân thu, bao gồm thời mở mang hồng hoang trước trời đất. Trời ban đầu mở vào Giáp Tí. Đất tụ mang ở Ất Sửu. Vận người sinh ở Giáp Dần. Vạn vật ra đời ở gian Ất Mão. Từ thời Bàn Cổ, Thái cực sinh Lưỡng Nghi, là Thiên Địa. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Tứ tượng biến hóa thành nhiều hình trạng…

Trải thời gian từ kỷ Tuần Phỉ về sau, từ Nghiêu Thuấn Ngũ Đế tới nay đã hơn ba ngàn năm. Trước Tam Đại không như thời Đường Ngu. Sau Hán Đường Tống không như Tam Đại. Đạo đời lên xuống, không quá hai ba trăm năm mới có một sự biến. Rồi hai trăm năm có một biến, ba trăm năm có một biến trung bình, năm trăm năm có một biến lớn. Từ lúc khai mở về sau bốn năm vạn năm lúc phong khí chưa mở văn minh, chưa có đất nước, chưa yên, tới Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, thay nhau mà hưng vượng về sau, lấy vương đạo mà trị.

Xưa thời Hy Nông trở về đời Bàn Cổ, chưa có lịch, gộp các tộc có tên phủ thế trị dân, tất cả là hai mươi hai chi hệ được xét. Từ Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, Ngũ Đế là các nguyên thánh trị thiên hạ. Đế là vua, thiên hạ chúa tể ngự thế, theo càn khôn mà khởi tạo ra lòng nhân, là đức dưỡng sinh thay tạo hóa vậy.

Thần tích thần sắc làng Áng Phao, tổng Thủy Cam, phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông

Phụng sao tích thánh

Bản phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế và hai vị Đại vương âm phù

Xưa nguyên Thánh tổ Hùng Vương mở vận lịch đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương lập nước núi xanh vạn dăm, dựng nền cung điện đô thành, nước xanh một dải, khởi đầu đạo các đế thánh vua sáng, độ vật giúp người, thống trị 15 bộ, gọi là khởi tổ của Bách Việt.

Hùng đồ 18 đời truyền nối khi vận mạt, ý lớn kết thúc, trải qua các triều đại tới thời nhà Tây Hán, ở đất Long Biên có một người gốc Quảng Tín Thương Ngô. Ông họ Dương, có tổ tiên được phong ơn lộc, lấy người địa phương làm vợ là Tạ Thị, húy Cẩn, cũng là một gia đình có truyền thống thi lễ trâm anh, môn đăng hộ đối. Ông tinh thông y thuật, hay hành thiện giúp người. Cả hai vợ chồng đều làm việc thiện, cứu người. Ông tuổi đã 50 còn Tạ Thị ngoài bốn mươi mà chưa có con trai.

Một tối Tạ Thị nằm mơ thấy một tinh rắn nhập vào. Từ đó thấy trong người có mang. (Ngày 8 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ) sinh được một con trai, tư chất lạ thường. Vợ chồng ông rất yêu quý. Nuôi nấng được 3 năm, tính cách hình dạng đã nên. Ông mới đặt tên là Cư Sĩ, để có thể biết lễ nghĩa, biết kính nhường, biết học văn, nghe hiểu âm nhạc. Bảy tuổi đi học, sách vở đọc một lần là nhớ, lại thông kinh sử, biết võ nghệ. Các học trò đương thời đều rất thán phục, cùng gọi là Thánh đồng.

18 tuổi, cha mẹ đều mất. Sĩ Công tìm đất tốt làm lễ an táng. Ba năm chịu tang, hương lửa trong nhà phụng thờ theo nghi lễ. Ông lại có tâm khuyến khích sự học, dạy giỗ người dân. Thấy sự giáo hóa ở Giao Châu chưa được mạnh đủ, Ông dần dần khuyên dụ lễ nghĩa trong dân. Phong tục tốt đẹp của Nam Châu là công của Ông vậy. Nhân dân đều kính mộ, tôn Ông là Châu trưởng.

Khi Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu, nghe nói Sĩ Công giáo hóa phục dân đã dâng biểu tấu. Vua bèn phong cho Ông là Liệt hầu. Ông nhận tước phong, theo mệnh Vua đi các huyện ấp, xem xét phong tục nhân dân.

Một ngày Sĩ Công đến trại Áng Phao, huyệnThanh Oai, phủ Phụng Thiên, thấy phong tục nhân dân còn lạc hậu, việc học còn yếu. Ông bèn xem xét vùng đất này, thấy một địa thế có thế cục sông núi cùng chầu, rồng bao xung quanh, cũng là một nơi phong quang thắng cảnh. Ông liền truyền cho quân sĩ cùng nhân dân lập một học đường ở trại Áng Phao để dạy dân văn tự. Được một năm, nhân dân kính mộ, trở thành một làng có lễ nghĩa.

Khi đó các tù trường 7 quận Chu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lãnh làm loạn, xáo động nhân dân. Do đó Vua nghe vậy hỏi vấn các đình thần để định kế sách. Vua mới phong Sĩ Công làm Thái thú ở châu. Vua cử Công có đức cao phục người, tất có khả năng yên định, có thể dẹp giặc. Một ngày Ông về học đường ở trại Áng Phao, truyền quân sĩ cùng với người trong trang mổ trâu làm lễ tế cáo trời đất, cầu đảo núi sông trăm thần đến hưởng. Sĩ tử các trang, nhân dân nơi nơi đều tin phục. Tối đó, Ông nằm trong học đường, tới đầu canh 4, thấy mông lung vào mộng,

Thấy hai người nam, quần áo chỉnh tề, hình dáng cao lớn, tay cầm kiếm, theo đường trên mà tới, tự xưng chúng tôi là dòng dõi nhà họ Hùng, tên một người là Tri Huyễn, người thứ hai là Đông Tẩy. Thấy Ông có đức lớn dạy dân chữ viết, lễ nghĩa có oai. Nay Ông vâng mệnh Hoàng đế cử Ông đi dẹp giặc. Ông lại về học đường bái yết trời đất trăm thần, lòng Trời cảm động, đã sai anh em chúng tôi linh thiêng phụng mệnh Thiên đình, chúng tôi hiện đến, tự nguyện kết làm anh em, âm phù trợ giúp. Dẹp được giặc dữ. Ngày sau xin được cùng phối phụng thờ.

Thần nhân dứt lời thì bay lên không mà biến (thần mộng ngày 10 tháng 3). Sau khoảnh khắc Ông tỉnh lại, biết có 2 vị linh thần âm phù trợ giúp. Rạng ngày Ông làm lễ bái tạ. Phụ lão ở trại tâu rằng:

– Từ khi Ông làm ở học đường dạy dân mà được yên ổn, lấy đức phục người. Trang này xin được báo đáp. Nhân nay thỉnh lấy chỗ đang là học đường, sau là nơi thờ cúng.

Ông đồng ý, và nói:

– Trại của các ngươi đã có lòng sâu với ta, sẽ trọng mệnh của ta muôn năm sau ở trại này.

Tối qua ta nằm mộng thấy 2 vị linh thần âm phù trợ giúp, tự xưng tên một người là Tri Huyễn, một người là Đông Tẩy, giúp ta dẹp giặc. Ta cho các ngươi 10 hốt vàng để ngày sau dùng cho việc thờ phụng. Cũng cung thỉnh cả 2 vị linh thần tên như vậy cùng phối thờ.

Ông tuyển lấy ở trại các sĩ tử cùng các đệ tử cường tráng trong trang, được 300 người, lấy làm gia thần theo Ông dẹp giặc.

Rạng ngày thấy sứ thần mang chiếu thư đến triệu Ông đem binh về kinh. Vua mới ủy quyền cho Ông truyền hịch đi các phủ huyện để nhân dân giúp lương gạo. Trong ngày đó Thái thú Sĩ Công xuất 2 vạn binh đến thẳng quận Cửu Chân. Ông truyền cho tướng sĩ phân các nơi giữ yên thế thủ, không được khiêu chiến.

Một này Ông soạn văn rồi sai mang chiếu dụ về việc tín nghĩa và họa phúc. Giặc đều xem văn mà sợ, đều bỏ giáp lại hàng. Từ đó quận được yên. Vua triệu Ông khải hoàn trở về, mở tiệc lớn chiêu đãi, phong cấp cho các tướng sĩ có công. Sĩ Công tâu rằng:

– Bảy quận được dẹp yên là nhờ có thần âm phù trợ giúp.

Vua nghe được việc này là đang chờ được phong hậu. Vua liền phong cho Sĩ Công làm Thái thú ở nhậm sở tại huyện Thanh Oai, phủ Phụng Thiên, đạo Sơn Nam Thượng (sau đổi sang thành Thăng Long).

Một ngày trời mùa đông, Ông đang ngồi ở phủ đường bỗng thấy trời đất hiện một đám mây vàng lớn, như hình một dải lụa đỏ, từ trên trời mà giáng hạ vào trong doanh trại. Bỗng thấy Ông thân theo mây mà bay đi. Cho tới khi trên lầu không nhìn không thấy nữa tức là Ông đã hóa (vào ngày 10 tháng 11). Nhân dân và quân sĩ đều kinh sợ hành lễ, tấu lên triều đình. Hán Đế sai sứ đến sắc phong cùng với dụ chỉ tế văn đến nơi. Sắc phong tên gốc thần hiệu cùng với thần hiệu của 2 vị âm phù, sai sứ sắc phong thần hiệu cho ba vị:

Phong Cư Sĩ Hiển ứng Đại vương. Tặng phong Phúc nhân Tế thế Hộ quốc Khang dân Thượng đẳng phúc thần.

Phong Tri Huyễn Linh quang Đại vương.

Phong Đông Tẩy Linh ứng Đại vương

Tặng phong hai vị Linh thông Bảo khao Hiển hữu Trợ thắng Đại vương.

Từ đó về sau đều có nhiều sự linh ứng, cũng có nhiều đời đế vương gia phong thê mỹ tự

Cho trại Áng Phao cùng các sĩ tử ở trong các khu trang phụng thờ lâu dài. Tốt thay!

Đến hoàng triều Cảnh Hưng năm thứ 44 ngày 16 tháng 7 sắc phong.

Hoàng triều Cảnh Thịnh năm thứ 2, ngày 26 tháng 1 sắc phong.

Hoàng triều Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7 sắc phong.

Hoàng triều Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 1 sắc phong.

Hoàng triều Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8 sắc phong.

Hoàng triều Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7 sắc phong.

Phụng sao tích thánh y như bản cũ.

Chính hương hội xã Áng Phao Nguyễn Thư Thành

Xã trưởng Nguyễn Thư Thiện

Văn tế Hùng Vương tiết Quý đông

Văn tế của làng Trẹo, Hy Cương cho thánh tổ Hùng Vương ngày 26 tháng 12 âm lịch.
IMG_1087
Vị tiền viết lệ lễ hữu Quý Đông kỳ phúc tất cáo lễ dã.
Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương thánh vị
Viễn Sơn Thánh vương thánh vị
Ất Sơn Thánh vương thánh vị
Thiên Tiên công chúa nhị vị.
 
Cung duy Thánh vương
Đông thiên hàn lãnh, băng giá liên ngưng.
Nhật dạ bất phân, hà vân u ám.
Thượng đài ảm đạm, dao chấn Nam thiên.
Quốc tặc ngang nhiên, thoán Hùng Thị vị.
Dân tình oán nộ, vương tổ ưu phiền.
Nãi tị kinh thành, phó quyền quốc tế.
Đăng sơn hạ chiếu, dục ngộ dân hiền.
Vương chiếu quảng truyền, biên toàn bản hạt.
Thừa tuân chiếu đạt, nghinh đắc vương quy.
Tỷ dương quang chiếu, vân ám tán phi.
Thắm tình dân quốc, nghĩa trọng ân thâm.
Truyền ban Ngọc phả, phong trưởng tử dân.
Túc diện quân thần, thiết đàn an vị.
Vương tổ phán truyền, khôi hài bách nghệ.
Đái niên đái lệ, vi kỷ niệm kỳ.
Hợp đồng dân bản, tu thiết lễ nghi.
Thượng hiến thánh vương, chứng minh công đức.
Toàn dân túc trực, linh thánh tổ truyền.
Tự thử lĩnh quyền, trưởng tạo lệ dân.
Bảo toàn miếu vũ, di tích thượng sơn.
Tôn phụng tổ tiên, thủ phân hương hoả.
Bảo vệ giang sơn, an ninh xã tắc.
Tận trừ quốc tặc, tha đẳng ngoại xâm.
Đoàn kết nhất tâm, trung thành hộ quốc.
Di ngôn sở ước, dân tượng thừa tuân.
Phụng chiếu thánh vương, vạn niên ký ức.
Thực lại.
Thánh vương thượng đại, ban phúc độ trì, chi đại huệ dã.
Nguyên văn
位前曰例礼有季冬祈福必告礼也.
𥤮屹高山古粵雄氏十八世聖王聖位
遠山聖王聖位
乙山聖王聖位
天僊公主二位
恭惟聖王,冬天寒冷,冰這連凝.
日夜不分,霞雲幽暗.
上臺愔惔,搖振南天.
國賊昂然,篡雄氏位.
民情怨怒,王祖憂㥧.
乃避京城,付權國婿.
登山下詔,欲遇民賢.
王詔廣傳,編全本轄.
承遵詔達,迎得王皈.
比暘光照,雲暗散飞.
𧺀情民國,義重恩深.
傳頒玉譜,封長子民.
足面君臣,設坛安位.
王祖詊傳,詼諧百藝.
逓年逓例,為紀念祈.
合仝民本,修設礼儀.
上献聖王,証明功德.
全民肅直,聆聖祖傳.
自此領權,長造例民.
保全廟宇,遺跡上山.
尊奉祖先,守分香火.
保衛江山,安寧社稷.
盡除國賊,他等外侵.
團結一心,忠誠護國.
貽言所約,民象承遵.
奉詔聖王,萬年記憶.
寔賴
聖王上大,頒福度持,之大惠也.

Lịch rùa cống vua Nghiêu

Có nhiều thư tịch cổ ghi lại sự kiện họ Việt Thường cống một con rùa lớn cho vua Nghiêu, trên lưng có khắc chữ, được vua Nghiêu chép làm Quy lịch (lịch rùa). Ví dụ, Thuật dị kí của Nhậm Phưởng (thời Nam Bắc triều) viết:
Thời Đào Đường, nước Việt Thường dâng rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn ba thước. Trên lưng có hoa văn, đều là chữ khoa đẩu, ghi lịch rùa từ thủa mới mở mang đến nay.
Sự tích này thường được sách sử hiện nay coi là sự kiện “ngoại giao” đầu tiên của người Việt. Tuy nhiên, với những dữ liệu và thông tin mới, sự kiện này được nhìn nhận thực chất là một việc khác.
Chua An LichChùa An Lịch ở chân núi Lịch.
Xem phần Ngu thư trong Thượng Thư (Kinh Thư) chép Đế Nghiêu đã sai Hy Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí. Lúc ngày dài nhất, sao Hỏa đầu hôm ở đỉnh đầu sẽ là ngày trọng Hạ (giữa mùa Hạ).
Đế Nghiêu đã sai người đi 4 phương, quan sát trời đất thiên văn để định làm lịch. Người được cử đi phương Nam là Hy Thúc đã đến Nam Giao để đảm nhận việc làm lịch này. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng đất Bắc Việt ngày nay, cũng có tên gọi là Việt Thường Thị. Đối chiếu 2 ghi chép thời Đế Nghiêu ở trên ta thấy Việt Thường Thị ở Nam Giao là ông Hy Thúc, người đã dâng lịch rùa lên cho Đế Nghiêu.
Việt Thường có nghĩa là vùng phía Nam đất Việt vì Thường – Thẳng, đối lập với Cong, là 2 dịch tượng chỉ hướng Bắc Nam. Việt Thường do đó tương ứng với Nam Giao hay Nam Man Giao Chỉ (từ dùng của Ngọc phả Hùng Vương).
Lich Son
Núi Lịch ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục đã ghi chép khá rõ về núi Lịch Sơn ở vùng Tuyên Quang, có đền thờ Đế Nghiêu và là nơi Đế Thuấn đi cày bên đầm Lôi Trạch. Tên gọi Lịch Sơn, quê hương của Đế Thuấn đã cho thấy Đế Thuấn chính là Hy Thúc, người đã cống lịch rùa cho Đế Nghiêu. Ngọn núi Lịch ngày nay ở huyện Sơn Dương của Tuyên Quang vẫn còn lưu dấu tích. Ngọn núi này có một đỉnh nhọn dựng đứng, giống như một tấm bia đá được dựng trên lưng một con rùa lớn. Trên đỉnh núi còn di tích Ao Trời, tương truyền là nơi ngự của Đế Thuấn.
Sách Thuật Đế cống nguyệt minh của Phục Thao viết: “Văn lịch rùa là chữ của người Hồ Man”. Đế Thuấn được coi là một dòng người Di dưới thời Đế Nghiêu. Tới nay, ở khu vực Bắc Việt người Mường vẫn còn lưu truyền và sử dụng loại lịch gọi là “Trừ đá rò”, tương truyền có từ thời Hùng Vương. Trừ đá rò có thể chính là loại lịch rùa được Đế Thuấn tạo ra.
Chính sự phát triển của sản xuất nông nghiệp mà Đế Thuấn đại diện với sự tích đi cày Lịch Sơn người Việt đã sáng tạo ra Lịch pháp, gắn với đời sống sản xuất lúa nước.
Bia RuaBia chùa An Lịch.
Bài trước đã xác định, Đế Thuấn được Ngọc phả Hùng Vương ghi là Ất Sơn Thánh vương. Đế Nghiêu là Viễn Sơn hay U Sơn Thánh vương. 2 vị được thờ phổ biển ở vùng chân núi Lịch trong bộ Tam vị Hùng Vương Thánh tổ.
Đế Thuấn vì công khai mở đất Nam Giao, cày ruộng, đánh cá, săn bắt, làm gốm, lại có công sáng chế ra lịch pháp nên đã được Đế Nghiêu gả 2 con gái và truyền ngôi vị cho. Ngọc phả Hùng vương chép là chuyện vua Hùng gả công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung cho Sơn Tinh sau cuộc kén rể ở bến Việt Trì. Do đó, tục thờ Tam Sơn Hùng vương ở vùng đất tổ luôn kèm theo thờ ban Hai Cô công chúa hoặc 2 vị Long thần, Thành hoàng.
Ban do
Bản đồ thời Nguyễn vẽ núi Lịch có một đỉnh dựng đứng như tấm bia.