Chống ngoại xâm

Giặc Kim Mãn hoành hành phương Bắc
Vó ngựa Nguyên dày xéo giang sơn
Tống hàng, Đại Lý mất luôn
Chỉ còn Đại Việt kiên cường kháng Mông.
Tiếng sát thát Diên Hồng vang tỏa
Mỏi chân bon ngựa đá ba phen
Quê cha đất tổ giữ yên
Chặn quân hung hãn xuống miền phương Nam.
Lửa lại cháy ngút ngàn đất Việt
Lũ giặc Minh tìm diệt văn minh
Đàn áp Làng Cả điêu linh
Tứ đại khí phá tan tành mới cam.
Nhánh tộc La núi Lam khởi nghĩa
Tiếp ý trời Lê Lợi dấy binh
Mười năm kháng chiến chống Minh
Bình Ngô đại cáo yên bình non sông.

Đạm Nhĩ Chu Nhai

Sau khi Lộ Bác Đức chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán chia đất Nam Việt thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Uất Lâm, Nhật Nam, Hợp Phố, Nam Hải, Thương Ngô, Đam Nhĩ và Chu Nhai. Hai quận Đam Nhĩ và Chu Nhai được định vị là đều nằm ở đảo Hải Nam ngày nay. Nhưng… đảo Hải Nam cách đây không lâu cũng mới là một huyện đảo của tỉnh Quảng Đông, liệu vào đầu Công nguyên có được bao nhiêu dân mà lập tới 2 quận? (Văn nhân)

Mở đầu bài minh Mộ Chí tiến sĩ Thái Đình Lan của Lâm Hào đời nhà Thanh soạn:
Miền Chu Nhai hoang phục xa xôi, đất Quỳnh Sơn tích học, khởi nghiệp. Tường Kha vùng sông hẻo lánh, Doãn Trân giỏi kinh truyện mà danh tiếng xa truyền. Nhờ khôn linh hun đúc mà biết địa mạch rộng dài. Nhân văn tuỳ khí vận mà sinh, ấp ủ lâu tất hào kiệt đột phát, phải đâu thời tục có thể cản ngăn, tự phát tiếng kêu cho người đời kinh hãi! Ta đã thấy điều đó ở Thu Viên tiên sinh.
Thu Viên tiên sinh là Thái Đình Lan, tiến sĩ người Bành Hồ – Đài Loan, đã từng bị nạn thuyền lưu lạc sang Việt Nam thời vua Minh Mạng. Trên đường từ Việt Nam về ông đã viết tác phẩm Hải Nam tạp trứ, một tài liệu ghi chép về tình hình Việt Nam lúc đó còn lưu tới nay.
Trong bài minh trên cho thấy rõ quê của Thái Đình Lan Bành Hồ – Đài Loan được gọi là miền Chu Nhai. Như vậy Chu Nhai là đất Phúc Kiến xưa chứ không phải ở đảo Hải Nam.

Bài thơ Cư Đam Nhĩ (Ở Đam Nhĩ) của Tô Đông Pha thời Tống có câu:
Cửu từ nam hoang ngô bất hận
Tư du kỳ tuyệt quán bình sinh
Dịch nghĩa
Chín chết phương nam ta không hận
Chuyến này kỳ tuyệt nhất bình sinh

Chuyện Tô Đông Pha bị đi lưu trú ở Đam Nhĩ cũng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong bài Tặng con cháu ba họ: Khổng, Nhan, Mạnh dạy học ở Thái Bình:
Nhân sinh thập lự cửu thường quai
Thạnh thế thùy tri hữu khí tài
Pha lão tích tằng Đam Nhĩ khứ
Trường Canh diệc hướng Dạ Lang lai.

Dịch
Nghĩ mười, sai chín người đời
Bỏ quên tài lúc thịnh thời biết không
Lão Pha, Đam Nhĩ đã từng
Trường Canh cũng phải hướng vùng Dạ Lang.

Tuy nhiên khi xem đến tiểu sử của Tô Đông Pha thì lại thấy Tô Đông Pha do mâu thuẫn với Vương An Thạch đã bị chuyển đi lưu trú ở Hàng Châu (Triết Giang). Như vậy Đam Nhĩ có thể không phải ở đảo Hải Nam mà chính là tỉnh Triết Giang ngày nay.

Nếu Đam Nhĩ và Chu Nhai thời Tây Hán là Phúc Kiến và Triết Giang thì đất của Nam Việt Triệu Đà phải là toàn bộ vùng Nam Dương Tử.  Không biết ai đó đã cố ý ép 2 quận lớn ven biển này vào hòn đảo Hải Nam hoang vu, mục đích rõ ràng để dấu đi qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên vùng Hoa Nam.

Mã Viện khi đánh Hai Bà Trưng đuợc phong là Phục Ba tướng quân, tức là danh hiệu của Lộ Bác
Đức nhà Tây Hán khi tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà. Chỉ danh hiệu này cũng cho thấy qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng không kém gì Triệu Đà xưng đế Nam Việt xưa.

Đền thờ Cao Lỗ ở Diễn Châu

NhathohoCao

Cách Mộ Dạ không xa, ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An có một ngôi đền thờ họ được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đó là đền thờ họ Cao, tương truyền thờ Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương. Cao Lỗ được gọi là Tiền viễn tổ của họ Cao từ Nho Lâm. Họ Cao nổi tiếng về truyền thống hiếu học, có nhiều nhân vật dòng họ có danh tiếng xưa và nay như Cao Bá Quát, Cao Sỹ Kiêm, Cao Đức Phát, …
Theo gia phả của họ thì họ Cao ở Nho Lâm có gốc là từ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí vào khoảng năm 1360, lập làng Tùng Lâm, sau đổi thành Nho Lâm. Có điều không hiểu sao họ Cao lại nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải (?). Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Theo Bách gia tính thì họ Cao của Trung Quốc cũng có xuất xứ ở Bột Hải.
Kỳ lạ nữa là ông Cao Thiện Trí lấy vợ là Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An (!). Thật hết biết các nước thời Chiến Quốc của Trung Hoa là ở chỗ nào.
Câu đối trước cửa đền thờ họ Cao:
Vạn phái thiên lưu nguyên Bột Hải
Kim hoa cổ thụ mạn Tùng Lâm.
Dịch:
Vạn chi lưu dời đều từ Bột Hải
Gốc cổ thụ xưa nay vẫn ở Tùng Lâm.

Dạ luyện sơn đầu ngô tổ triệu
Tranh hùng địa hậu ngạ tiên phù
(Không biết dịch thế nào)

Những câu đối kỳ lạ

Đọc sách Hoành phi câu đối Hán Nôm tinh tuyển của Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam, Phạm Đức Duật ta thấy có những câu đối khá lý thú.

Trang 96:
Sơn tú thủy giai như họa cao thanh Tản Nhĩ
Địa linh nhân kiệt kiêm ưu thao lược Tôn Ngô

Dịch:
Tản Nhĩ cao trong, nước biếc non xanh như vẽ
Tôn Ngô thao lược, người kiệt đất linh gồm tài.

Tiếc là sách không dẫn nguồn của câu đối trên. Lịch sử Việt Nam không có ai có tên họ là Tôn cả. Tôn Ngô rõ ràng chỉ Ngô Quyền, nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.

Trang 104:
Nhất trận hắc vân trừ Hán khấu
Thiên thu hương hỏa ứng Châu khu

Dịch
Một trận mây đen trừ giặc Hán
Ngàn năm hương hỏa ứng trời Nam.

Không hiểu sao các tác giả lại dịch Châu khu là trời Nam? Liệu Châu khu có phải là đất nhà Chu không, đối lại với giặc Hán?

Trang 154:
Hưng vương vỹ lược lưu thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân

Dịch:
Hưng vương, mưu lược lưu thiên cổ
Cứu thế, công lao chép Vạn Xuân.

(Đền Lý Nam Đế – Phủ Giầy)
Câu này cũng nói tới Lý Nam Đế nhưng đáng chú ý ở đâu là gọi Lý Nam Đế là Hưng vương. Hưng chuyển thành Hán, Vạn Thọ thành Trường An và Lý Bôn thành Lưu Bang…

Trang 156
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Dịch:
Tùng bách Chiêu lăng đâu chốn cũ
Nước Thục non sông vẫn cung xưa.

(Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa)
Thục quốc trong sử Việt là nước An Dương Vương. Nhưng sao lại gọi là Chiêu lăng? Có phải Chiêu là Chu, Chiêu lăng là mộ vua Chu không?

Trang 165:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

(Am Trang Vương – Hương Sơn)
Trang Vương của nước Sở, rồi Trần tử nước Trần là ở chỗ nào mà có am thờ ở Việt Nam?

Trang 264:
Dực Chẩn sơn hà cao chính khí
Lạc Hồng vũ trụ lẫm linh thanh.

Dịch:
Dực Chẩn non sông cao chính khí
Lạc Hồng trời đất dấy linh thanh.

Câu này cho biết nước Lạc Hồng định biên giới giữa sao Dực, sao Chẩn. Liên hệ với câu trong Đằng vương các tự của Vương Bột: Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hoành Lư. Như vậy vùng đất tinh phân Dực Chẩn chẳng phải Việt Nam hay sao?

Tài liệu Hán Nôm Việt Nam càng đọc càng thấy lạ…

Thảo luận
Về thao lược Tôn Ngô có thể nói đến Tôn Vũ và Ngô Khởi thời chiến quốc.

Văn nhân:
Bạn Bách Việt trùng cửu thân.
Tôi nghĩ: Tản nhĩ là 1 vùng đất thì Tôn Ngô không thể là 2 nhân vật Tôn Vũ và Ngô Khởi được vì họ sống cách nhau cả trăm năm, sinh ở 2 nơi khác nhau và nhất là đã thành danh ở 2 nơi khác nhau.
Chìa khóa để giải vấn đề là tìm ra đất Tản Nhĩ nằm ở đâu?

Bách Việt trùng cửu
Có lẽ Tản là núi Tản Viên, Nhĩ là sông Nhị Hà. Núi cao, sông xanh. Tản Nhĩ là vùng đất nào đó quanh chân núi Tản Viên. Câu đối này có thể là ở làng Đường Lâm ở Hà Tây. Nếu đúng câu này ghi ở khu vực này hay trên lăng mộ Ngô Quyền thì ý nghĩa chữ Tôn Ngô chắc không phải bàn cãi. Tôi cũng nghĩ là thật vô lý khi một câu đối đang ở vùng đất Tản Nhĩ của Việt Nam, nói đến Địa linh nhân kiệt mà lại phải đi lấy điển tích Tôn Vũ, Ngô Khởi ở đâu đâu.

Văn nhân:
Tôn trong Tôn Quyền không phải là họ mà nghĩa là đấng cao cả hay bậc trưởng thượng, chữ Tôn được dùng trong miếu hiệu của các vua Trung Hoa từ đời nhà Đường, Việt Nam từ thời nhà Lý … như Cao tôn, Nhân tôn, Minh tôn v.v.
Tôn Ngô cấu trúc Việt ngữ nghĩa là bậc trưởng thượng của nước Ngô, theo tôi là chỉ Ngô Quyền, cũng chính là Tôn Quyền – vua Đông Ngô trong Hoa sử.

Nhannamphi
“nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.”
Cá nhân Tôi là tán đồng quãng điểm nầy. Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán là trận Xích Bích, tôi có đọc qua tài liệu ghi chép bằng chữ Vuông: quân lính của Ngô / Tôn Quyền là người Việt; Và xa xưa hơn nữa thì thành Cổ Loa là ở tỉnh Phước Kiến. Chữ “Kiến” – ngày xưa là “kén”, thành cái” Kén” hay thành Cổ Loa trở nên tên là Phước Kiến thành, ngày nay, người dân tỉnh Phước Kiến vẫn còn đọc chữ “kiến” là “kén”.

Bách Việt trùng cửu
Quân của Tôn Quyền thì rõ là người Việt vì ở Nam Dương Tử. Họ Tôn Ngô xuất phát từ Trường Sa (Tôn Kiên là thái thú Trường Sa). Nếu theo anh Văn nhân thì quận Trường Sa xưa là Nhật (Nhất) Nam hay Hồ Nam ngày nay. Nhất Nam cùng nghĩa với Đường Lâm (Nhất thành Đường, Nam thành Lâm) quê Ngô Quyền.

Văn nhân:
Thưa các bạn ,theo suy nghĩ của tôi thì câu:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

Trang vương ở đây là Chu Trang vương – Cơ Đà (696-682 trước 0) vì vua khá nổi tiếng ở Việt Nam khi nhiều nhà nghiên cứu sử căn cứ vào đoạn sách cổ: “…thời Trang vương nhà Chu … có người dùng ‘ảo thuật’ áp phục các bộ lạc chung quanh xưng là HÙNG vương …”, lấy đó làm mốc cho niên đại lập quốc của người Việt.
Trang vương là vì vua thứ 2 nhà Đông Chu lên ngôi ở Lạc ấp.
Trần tử ở đây chỉ Quân Trần vị toàn quyền kế nghiệp Chu công thống quản kinh đô phía đông của nhà Chu tức Lạc ấp hay đại ấp Lạc.
Việc thờ kính Trang vương và Trần tử trên đất Việt đã bổ chứng cho Sử thuyết họ Hùng khi cho rằng Lạc ấp hay đại ấp Lạc chính là đất trung tâm của dòng Lạc Việt tiền nhân của người Việt Nam ngày nay.

Bách Việt trùng cửu
Am Trang Vương có câu đối trên nằm cạnh chùa Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh – Hà Tĩnh. Nơi đây tương truyền là nơi tu hành và nơi hoá của công chúa con Sở (?) Trang Vương. Am Trang Vương được dựng trên nền nhà nơi nghỉ của Trang Vương khi đến thăm con gái.
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) thăm chùa có đề bài thơ Du Hương Tích Tự:
Hương Tích Trần triều tự
Hồng Sơn đệ nhất phong
Di am không bạch thạch
Cố chỉ đản thanh tùng.

Dịch:
Chùa Trần tên Hương Tích
Cao nhất dãy núi Hồng
Am xưa phơi đá trắng
Nền cũ rợp ngàn thông.

Chữ Trần ở đây trong sách hiện tại được giải thích là chùa xây từ thời nhà Trần trong sử Việt. Nhưng như vậy đúng là quá khó hiểu vì trong cả câu đối lẫn bài thơ trên đều gọi đích danh là Trần tử am và Chùa Trần. Chẳng nhẽ nhà Trần vừa dựng am, chùa thờ người xưa (cách cả ngàn năm) lại vừa làm câu đối về chính mình?
Nhiều người cho rằng sử Việt bắt đầu từ khoảng ngang với đầu đời Đông Chu (Hùng Tạo hay Chu Trang Vương) có lẽ ngoài mấy dòng trong sách cổ về người làm “ảo thuật” thời Chu Trang Vương, còn do vào thời điểm này nhà Chu chuyển đô về Lạc Ấp – Bắc Việt, tạo ra một số thay đổi có thể nhận thấy đuợc trong khảo cổ ở vùng châu thổ sông Hồng.

Nhannamphi
– Chữ 宗 Tôn nầy đọc là Tôn 宗 hay là Tông 宗 . Tôn nầy là Tôn miếu 宗廟 hay Tông miếu 宗廟, còn dùng gọi vua là Thái Tông, Cao Tông hoàng đế v v…, còn dùng trong tông 宗 tộc 族/ cùng tông 宗 cùng tộc 族.
– Chữ Tôn 孫 nầy là Tử tôn/ 子孫/ con cháu; Tôn Quyền họ Tôn là chử Tôn 孫 Nầy.
– Gia phả của dòng vua họ Tôn/ Tôn Quyền 孫權 còn giữ và truyền cho đến ngày nay. Con cháu – truyền nhân rất là đông thành cả 1 ngôi làng.
– Gia phả của “Tây Thi” 西施 là họ Thi 施 cũng được giữ và truyền cho cho đến ngày. Xem Thi Bội Quân 施佩君 … vai cháu của Tây Thi ở đời thứ 55 ngày nay: http://www.youtube.com/watch?v=FxVd43KnZTo
– Gia phả của Khổng Minh và Châu Du đều truyền và giữ bỡi truyền nhân sau nầy: http://tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xfile/431541/index.html
Tôn 宗 / tông 宗 và Tôn 孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau.

Văn nhân:
Bạn Nhan nam Phi và các bạn thân :
Tôn宗 / tông宗 và Tôn孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau. Tôi cũng biết điều này …nhưng nếu chỉ thế thôi thì đâu có đặt thành vấn đề cần xem sét .
Tạo ra chữ là con người , dùng chữ cũng là con người , tráo đổi chữ để thực hiện mục đích nào đó cũng là con người…., vấn đề đặt ra chính là vì chữ ‘tráo’ này ….

Nhannamphi
– Tất cả lập luận đúng hay sai khi nghiên cứu ngôn ngữ theo tinh thần khoa học đều đáng trân quí trong qúa trình nghiên cứu, vì nó sẽ tạo ra con đường dẫn đến điểm sáng tỏ vấn đề. Anh Văn Nhân nhấn mạnh “Tạo ra chữ là con người, dùng chữ cũng là con người.. .”. Nói cách khác thì trong họ và tên, thì tạo ra họ tên là con người và dùng họ và tên cũng là con người…
– Triều đình nhà Nguyễn tạo ra họ ” Tôn-thất ” và ” Tôn-Nữ “.
– Họ La hay họ Lai ngày nay đều là họ Lạc của Vua Việt ngày xưa, chỉ là “biến âm” và con người tạo ra chữ và dùng chữ.
-Họ Phạm và họ Đỗ là cùng 1 họ, những chuyện như vậy cần phổ biến để những thế hệ mai sau khi kết hôn thì có thể tránh được tình trạng “cận Huyết thống”.
– Họ Khổng và họ Tôn ngày xưa … đều là Con ông cháu cha của vua chúa mới được gọi là ông con và ông cháu và trở thành Họ rất là “tôn nghiêm” và “quí phái”! Thử tưởng tượng 1 cách khoa học là ngày xưa ở thời nguyên thủy thì nhân loại ở trong hang động… làm gì có “Hoàng đế “??? mà chỉ có ông bố và bà mẹ, và có người rất có uy tính được xem là cha chung … được gọi là “Ông Tía” hay là “ông địa” / biến âm… lâu dần thì biến thành từ ngữ “Hoàng đế”. “Hoàng đế ” ngày nay tiếng Bắc Kinh đọc là “Hoãng Tía”, tiếng Quảng Đông đọc là “Qoàn tây”, và tiếng Triều Châu đọc là “Oan tịa ” – Rất giống như và còn giống như là Ông Địa hay ông Tía !!!

Bách Việt trùng cửu
Tôi một chữ Hán bẻ đôi không biết nên lại có cơ may hiểu được ý của anh Văn nhân. Trong chuyện này không thể xét bằng mặt chữ được mà chỉ xét về thanh ngôn và ý nghĩa. Lịch sử Hoa Việt và lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm quá dài, quá phức tạp, mặt chữ ghi âm chắc gì là đúng. Ghi âm tiếng Hán là ghi theo cái hiểu của người viết, hoặc theo chủ ý của người viết, không chắc đã đúng với ý nghĩa gốc. Ví dụ mấy chữ Châu, Chiêu, Chu , chẳng cần biết tiếng Hán cũng biết sẽ là những chữ khác nhau. Đến tiếng quốc ngữ ngày nay cũng còn ghi khác nữa là… Những điều đó không ảnh hưởng đến nghĩa của Châu=Chiêu=Chu .

Thịnh Đường

Đất Thái Nguyên dựng cờ khởi nghĩa
Đây Lý Uyên cùng Lý Thế Dân
Ra tay sức dẹp phong trần
Xích huyện một mối, châu Thần lại yên.
Cửa Huyền Vũ anh em ân oán
Xứng ngai rồng Trinh Quán đăng quang
Đại Đường đất nước mở mang
Phá quân Đột Quyết, chiêu an Thổ Phồn.
Nguyễn Đạo Thành thỉnh kinh Tam Tạng
Cứu chúng sinh tìm đạo Tây Thiên
Thiện ác ở cõi dương tuyền
Biết đâu là Phật ở miền nhân gian?
Gái hái dâu Ỷ Lan nhiếp chính
Đoạt ngôi Đường xưng Võ Tắc Thiên
Trị nước độc đoán, chuyên quyền
Trọng nhân tài, đãi người hiền, lạ thay!
Chu Hậu mất, Đường triều tái lập
Sùng đạo Nho, phát triển thi ca
Thơ Đường thanh điệu ngân hòa
Đỉnh cao văn hóa nước nhà một chương.
Loạn An Sử từ phương đất Bắc
Nước mắt rơi này lúc biệt ly
Minh Hoàng thương tiếc Quí Phi
Non sông nghiêng ngả cũng vì giai nhân.

Thần châu xích huyện

Câu đối ở đền Thượng:
Quá cố quốc, miến Lô Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc
Đăng tư đình, bái lăng tẩm, do thị Thần châu Xích huyện, sơn hà tứ diện khổng Chu Diên

Dịch nghĩa:
Qua nước cũ, ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, sông nước hai dải bao quanh chầu Bạch Hạc
Lên đền này, vái lăng tẩm kìa Xích huyện Thần châu còn đó, núi sông bốn bên quay lại giữ Chu Diên

Chỗ khó hiểu ở đây là từ Thần châu Xích huyện. Có thể hiểu theo nhiều nghĩa:
1. Thân châu xích huyện là nước Việt, bắt nguồn từ nước Xích Quỷ của Lạc Long Quân (Long là Thần).
– Trong tác phẩm Sơ kính tân trang của nhà thơ Phạm Thái (đầu thế kỷ 18) cũng có nói đến con gái sau của nhà họ Trương, nổi tiếng khắp “châu Thần huyện Xích“:

Tiếng thơm lừng lẫy trong ngoài
Dậy vùng huyện Xích, nức nơi châu Thần

Câu này được các nhà nghiên cứu chú thích: Châu Thần là cửa biển Thần Phù, huyện Xích là Kiến Xương (hai địa danh ở quê của họ Trương). Chú thích như vậy quá gượng ép. Rõ ràng phải hiểu châu Thần huyện Xích đây là Việt Nam.
– Chuyện về Lê Quí Đôn gặp một ông lão đọc câu đối:
Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kim thượng tại.
Tại tại sổ thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chi

Dịch nghĩa:
Thấm thoắt hơn ba chục năm, xích huyện, hồng châu nay vẫn đó.
Hỡi ôi xa ngoài vạn dặm, đào hoa, nước chảy, bác về đâu?.
2. Thần Châu Xích Huyện là Trung Quốc

– Sử ký Tư Mã Thiên trong Mạnh Tử, Tuấn Khanh liệt truyện: Trâu Diễn nói: “… Trung Quốc tên là Thần Châu Xích Huyện…”
– Theo Vương Hồng Sển, ở Nghĩa nhuận Hội quán, đường Gò Công, thành lập năm 1872, có câu đối nói về Quan Vũ:
Sanh Bồ Châu, sự Dự Châu, chiến Từ Châu, thủ Kinh Châu, vạn cổ Thần Châu hữu nhứt;
Huynh Huyền Đức, đệ Dực Đức, xá Bàng Đức, thích Mạnh Đức, thiên thu thánh đức vô song.

Tức là Thần Châu là đất nước của Quan Vũ (Trung Hoa).
3. Một số kinh phật cũng cho biết Thần Châu Xích Huyện là Trung Quốc.
– Có chuyện Bồ đề đạt ma đến Trung Quốc gặp Lương Vũ Đế. Sư nói: “Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người.”
– Trong số Tứ đại bộ châu của Phật giáo có Đông thắng thần châu, nơi sinh của Tề Thiên Đại Thánh (Tôn Ngộ Không). Thần Châu ở phương Đông rõ ràng là chỉ Trung Hoa.

Vậy Thần châu Xích huyện trong câu đối trên đền Thượng là nói nước Việt Nam hay Trung Quốc? Chỉ có cách giải thích hợp lý nhất là … Việt chính là Hoa trong cổ sử.

Văn Nhân bổ sung :
Trong cuộc vận động phong trào Văn thân hoàng giáp Phạm Như Xương thảo “Hịch Văn thân Quảng Nam” có câu:
 “Tủi là tủi cơ nghiệp thần tông, thánh tổ, lúc trung hưng, khi sáng nghiệp, xưa gian truân mới có cõi bờ nay;
Thương là thương dân nơi xích huyện thần châu, đạo đã lấn, mọi lại giành, cương luân hãm đâu còn trời đất cũ.

Vì tính chất đặc biệt của bài hịch nên chắc chắn không thể có sự sai lầm:
– Đối tượng nhận bài văn này là giới sĩ phu , là những nhà khoa bảng hàng đầu trong làng văn học thời bấy giờ, có thể có cá nhân sai lầm trong sự nhìn nhận về lịch sử quốc gia nhưng không thể nào cả tập thể là tinh hoa 1 nước lại mắc sai lầm ấu trĩ … về danh xưng của nước mình.

– Vì tính chất đặc thù của bài viết là vận động kháng chiến kêu gọi người ta xả thân vì nước nên không thể nào sai tình tiết quan trọng bậc nhất là danh xưng của tổ quốc … Nếu ‘Xích huyện thần châu’ là danh xưng của Trung Quốc – Hán thì bài hịch Văn Thân này trở thành lố bịch … làm trò cười cho thiên
hạ và dĩ nhiên chẳng có sĩ phu ngu dại xả thân vì … nước Tàu…

– Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của Bách Việt 18. ‘Thần châu Xích huyện’là những mỹ từ người ta dành ca tụng quê hương đất nước mình, trong đó châu và huyện là những đơn vị hành chánh phân chia lãnh thổ. Nói Thần châu là nói đến:
– Châu ở về phía đông, thần là Thìn là con rồng có lẽ ở đây chỉ miền đất của Thần long – Động Đình quân, cha của Long nữ và ông ngoại của Lạc Long Quân.
Nghĩa khác bóng bảy hơn chỉ miền đất thần tiên nơi đó con người tràn trề hạnh phúc.
Xích trong Xích huyện nghĩa là màu đỏ của quẻ Ly tượng trưng cho sự văn minh ngoài ra trên thực tế địa lý Xích chỉ miền nhiệt đới; phía Xích đạo mà theo truyền thuyết là đất của Viêm đế Thần nông thủy tổ của cả dòng giống Việt.

Tóm lại: ‘Thần châu Xích huyện’ có 2 nghĩa , nghĩa đen là những thông tin lịch sử và địa lý liên quan đến khởi nguồn tộc Việt. Còn nghĩa bóng chỉ xứ sở thần tiên nơi con người có cuộc sống văn minh và hạnh phúc.

Mạt Đường

Sông Trường Giang khúc trong khúc đục
Thế triều Đường lúc thịnh lúc suy
Sau loạn giặc giã li bì
Phiên trấn lại nổi đe nguy kinh thành.
Giặc chưa dứt hoạn quan lộng thế
Vua cùng thần lập kế diệt trừ
Cam lộ bày chuyện thực hư
Chút sơ sẩy để thất cơ thiệt đời.
Thời vận mạt xót ngôi thiên tử
Vua không quyền bất quá bù nhìn
Quan lại tranh chấp liên miên
Khắp nơi hỗn loạn, dân đen cơ hàn.
Giận trước cảnh điêu tàn thế sự
Múa thước gươm xung phá Trường An
Hoàng Sào lớn chí to gan
Tiếc thay đại nghiệp mưu toan chẳng thành.

Lào và Xiêm trong thơ Hồ Chủ Tịch

Bài thơ Lịch Sử nước ta của Hồ Chủ Tịch (xin trích đoạn liên quan đến Căm pu chia và Lào):


Lê Đại Hành nối lên ngôi
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành

Lý Thường Kiệt là hiền thần
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn…


NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG
… 1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
… Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Như vậy đầu thế kỷ 19 Chiêm Thành vẫn gọi là Xiêm Thành, còn Thái Lan là Xiêm.
Và Sầm Nưa, một tỉnh ở Hạ Lào còn được xếp vào sử Việt Nam.

Thẻ ngọc An Dương

Nguồn Đào Duy Anh:
Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa số 23:
“Chủ tịch phủ vừa giao cho chúng tôi một tài liệu mới nhận được sau ngày 1-12-1956 về một thẻ ngọc gọi là “An Dương ngọc giản” (thẻ ngọc An Dương), do nhà khảo cổ học Trung Quốc Dư Duy Cương ở Quảng Châu gửi tới. “Thẻ ngọc này … nguyên khổ 111×84. Nó hình trái tim, dày chừng nửa ngón tay trỏ, phía trên có một lỗ nhỏ, phía dưới có một lỗ to hơn. Về mặt phải, ở bốn góc, có bốn chữ “An Dương Hành Bảo”, chữ viết khá lớn: chữ thì viết theo lối “cổ trựu”, tức là lối cổ trựu văn từ đời Chu Tuyên Vương (thế kỷ thứ IX TCN); chữ thì viết theo lối “tiểu triện”, lối chữ thông dụng từ đời Chiến Quốc (thế kỷ thứ III TCN); chữ thì viết theo lối “đại triện”, lối chữ dùng từ đời Tần Hán (thế kỷ thứ II TCN)… “Bảng này viết đủ sáu mươi giáp tí, … và viết theo lối chữ giáp cốt
đời Ân (thế kỷ thứ XVIII TCN)… Nhà học giả họ Dư cho biết thêm tấm ấy đã tìm thấy ở Quảng Châu, … đã đào được hàng ngàn cái ngọc giản, miếng nào cũng khắc hơn một trăm chữ..

Nhận xét của Đào Duy Anh:
– “… Đối chiếu với những lối chữ cổ … ba chữ “Dương Hành Bảo” là chính xác. Còn chữ “An” thì còn ngờ…” – “Những chữ trên thẻ ngọc không phải là bằng chứng đầy đủ để tỏ rằng xã hội Lạc Việt đã biết dùng văn tự. Chữ đó toàn là chữ của Trung Quốc…
Chúng tôi cho rằng An Dương Vương Thục Phán chính là hậu duệ của vua nước Thục ở thời Chiến Quốc … có thể biết dùng lối chữ cổ trựu … và cả lối tiểu triện… Song sự có mặt của kiểu chữ đại triện thì hơi khó giải thích …”*
*Bài viết của Đào Duy Anh khá dài nên không tiện chép đầy đủ, chỉ trích những ý quan trọng nhất.

Bình luận:
Từ những năm 1950 chúng ta đã được gửi cho “Thẻ ngọc An Dương“, một bằng chứng rõ ràng về thời Thục Phán An Dương Vương, nhưng ngay học giả hàng đầu lúc bấy giờ như Đào Duy Anh cũng không dám tin vào bằng chứng này mà lại giải thích thành ra Thục Phán chạy từ nước Thục tận Tứ Xuyên mang theo đủ loại chữ viết từ đời Ân Thương vào nước ta…

Khảo cổ Việt Nam đã cho biết rõ ràng không hề có sự đột biến nào về văn hóa khảo cổ khi chuyển từ thời Hùng Vương sang An Dương Vương theo như niên đại chính sử hiện nay. Vậy làm sao mà Thục Phán với một nền văn hóa và chữ viết hoàn toàn xa lạ từ tận Tứ Xuyên có thể làm vua hàng chục
năm ở Việt Nam được?
Thẻ ngọc An Dương cho thấy:
– Thời đại của An Dương Vương bắt đầu sớm hơn nhiều so với sử sách đã ghi, ngang ngửa với thời bắt đầu của của nhà Chu (cuối nhà Ân).
– An Dương Vương dùng đủ loại chữ mà văn hóa Trung Hoa cổ có, từ chữ trên giáp cốt của Ân Thương, chữ thời Chiến Quốc và chữ đời Tần Hán.
– Chữ “An” trong “An Dương Hành Bảo” có thể không phải là “An”, như nghi ngờ của Đào Duy Anh. Thực ra đó là chữ “Âm”, tức Âm Dương Hành Bảo. Thẻ ngọc chép đủ can chi, chứng tỏ có liên quan trực tiếp đến thuyết âm dương.
Nhìn theo sử thuyết mới càng rõ ràng An Dương Vương hay Âm Dương Vương chính là Chu Văn Vương, một triều đại Hùng Vương Việt Nam (Hùng Chiêu Vương). Và chữ viết của Trung Hoa, kể cả chữ đời Ân Thương trên giáp cốt là thành tựu của người Việt.

Nam Giao

Với sự giải thích của Tàu và của không ít “nhà khoa học” Việt Nam, Giao Chỉ nghĩa là dân tộc có 2 ngón chân cái bành ra, giao chạm nhau. Họ dẫn chứng ở Quảng Bình ngày nay vẫn còn những người như thế… Nhưng cũng ở đấy bố mẹ thì đúng là ngón chân giao nhau, nhưng con cái lại không. Họ
giải thích là do “gen lặn” (?). “Lặn” gì mà mới đời bố sang đời con đã hiện ra? Chẳng qua con cái người dân tộc bây giờ được ra ngoài xuôi ăn học, không phải leo núi nữa nên ngón chân bình thường như bao người khác.


Nếu Giao Chỉ là tộc người có ngón chân giao nhau thì Nam Giao là gì? Ngón chân phía Nam chạm vào nhau chăng (!?).
Trong khi đó cả Giao Chỉ và Nam Giao là những địa danh có từ thời Thái cổ. Hoa sử chép vua Nghiêu “… mệnh Hy thúc trạch Nam Giao…”, nghĩa là đã cho ông Thuấn đi mở cõi Nam Giao. Vậy Nghiêu Thuấn ở đâu mà biết đến Nam Giao?

Câu đối ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ

Dịch nghĩa
Khởi nơi Nam Giao, Hồng Lạc nghìn năm là đất đế vương
Hiển linh Tây Thổ, Tản Lô một giải chốn miếu đền.

Câu đối nói tớiHồng Lạc khởi Nam Giao, hay vua Hùng dựng nước khởi đầu ở cõi Nam Giao.

Khi vua Minh Mạng cho rước bài vị Hùng Vương về thờ ở Huế có làm bài thơ đặt trên chính điện Thái Hoà:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bang khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu

Câu “
Nam phục nhất Đường Ngu” đã đánh đố nhiều bậc nho giả. Chẳng nhẽ Đường Nghiêu và Ngu Thuấn lại đi mở nước Nam cho Hồng Bàng người Việt?
Hai tư liệu trên đều cho thấy Nghiêu, Thuấn chính là những đời vua Hùng, đã mở nước Hồng Bàng ở ngả Nam Giao. Nam Giao là Bắc Việt và một phần Quảng Tây ngày nay…