Sơn Tinh – Thủy Tinh. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Sơn Tinh – Thủy Tinh

Tượng công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung ở Việt Trì

Lại kể, khi đó cơ đồ họ Hùng đến lúc mạt suy, quốc thế cáo chung. Duệ Vương ở ngôi sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt theo nhau về cõi tiên. Sau đó Đế xa giá đến núi Tam Đảo cầu tự, mộng thấy điềm rắn lớn, rồi sinh được 2 con gái, đều có đức tinh hiền, phong tư tuấn nhã như Tề Khương, Tống Nữ, có dáng vẻ cùng cả con vua cốt tiên. Một người tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung. Một người là công chúa Mị Nương Ngọc Hoa. Vua rất yêu quý. Công chúa Tiên Dung về sau gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam, sau vợ chồng cùng bay lên trời giữa ban ngày mà hóa sinh bất diệt, để lại di tích riêng). Còn lại công chúa Mị Nương (tên húy Ngọc Mỹ), cung trăng đang khóa, nhụy ngọc hiện che, nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”, biển đề “Ngắm trăng cầu hiền”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi của Trẫm thì sẽ gả công chúa cho.
Ngày đó thuyền bè tấp nập bên sông, trước lầu nhộn nhịn xe ngựa. Bút văn múa mà hình rồng động, sao đẩu rơi, sông mưa lạnh. Trận võ bày mà hổ báo khiếp, tiếng sấm kinh, góc bể trào. Một mối nước nhà mà bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận là thơ Đào yêu, còn chưa thổi được đàn ngâm vậy. Người đời sau lấy đó mà có thơ làm chứng:
Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào biết
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Lại nói lúc đó có Tản Viên Sơn Tinh (tức là Nguyễn Tuấn Công, hiệu là Thần Vương) với Động Đình Thủy Tinh hai người là bạn học cùng nhau, có nhiều phép thuật thông thiên mà chưa đến ứng tuyển. Hôm sau Sơn Tinh gửi lời đến Thủy Tinh rằng:
– Người xưa nói giai nhân khó được, nam tử đã khó gặp, huống chi lại là việc cưới công chúa làm vợ. Tôi với anh âm dương hai đường khác biệt, mà lại có cùng tình bạn học. Ngày này ở dương thế cung vua đang thật là bậc khuynh thành như trướng Đường buồng Ngu, chưa chọn được ngưới xứng tuyển. Chúng ta chẳng quản ở xa mà tới, để cầu lấy duyên này. Ngoài chúng ta ra thì còn ai xứng nữa.
Thủy Tinh từ khi được tình ý đó, ngay hôm ấy sửa sang quần áo, tu tập quan quân, lập tức đến núi Tản Viên. Sơn Tinh gặp đón đủ lễ khách. Việc xong thì Sơn Tinh với Thủy Tinh cùng đến kinh thành, cung kính trước ngự tiền tâu rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vương rất vui mừng, bèn rời xa giá đến sông Bạch Hạc để thi tài. Sơn Tinh đến đứng ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước. Phút chốc bỗng thấy giữa sông mây mưa, mặt nước sóng dồn, ngã ba sông tràn nước, tiếng sấm nổi đến làm kình côn lạc phách, cuồng phong vạn dặm thổi tung, sóng dựng kinh hồn rùa cá. Trùng trùng trắng đỏ, gieo khắp cõi trần. Xúm xít xanh vàng, mịt mờ trời đất. Thiên hình vạn trạng, quỷ xuất thần chìm, biến hóa u minh. Hễ trông thấy đó là run tim mất mật.
Sơn Tinh ở nơi ấy tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ vào. Tức thì mọi thứ kỳ lạ đều theo đầu trượng mà quét sạch. Bỗng lại có núi Ngũ nhạc di đến ở giữa sông, cao ngàn vạn trượng, đứng sừng sững giữa trời đất. Thú chạy đến chầu, chim bay cùng họp.
Thủy Tinh ở giữa sông lại gọi sóng to gió dữ. Vạn vật mất hình tiêu biến trong nước. Biến biến hóa hóa. Phép đều cùng là huyền diệu.
Vua không biết phải gả công chúa cho người nào. Ngày hôm đó mới xa giá về cung, cử sứ giả gọi hai người lại nói rằng:
– Trẫm chí có một viên ngọc Lam Điền, trước giờ chưa chọn được ai để kết đôi. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, không biết phân định thế nào. Vậy ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả công chúa cho người đó.
Thế là Thủy Tinh về cung Động Đình để cầu tìm vật lạ (nguyên là sách ước đã đem cho Sơn Tinh). Sơn Tinh ra ngay dưới lầu, lấy trong tay áo ra cuốn sách thần, đọc chúc với trời mà ước được đồ sính lễ. Bỗng thấy, voi trắng chín ngà, kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Sơn Thinh thu lấy đó, ban đêm vào giữa giờ Tý đem sính lễ vào đến lầu rồng. Vương bèn gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh. Trong hôm ấy đón về ra khỏi cổng thành. Sơn Tinh lấy gậy chỉ lên trên trời, tay cầm sách ước mở ra mà cầu chúc. Bỗng thấy mây bay năm sắc, rồng vàng, phượng đỏ, lân, rùa hạ thẳng tới đón giá. Cùng với mãnh hổ bách thú bầy hơn vài ngàn con đến chầu sau giá, cùng hội rước về động núi Tản Viên. Vua ở đó thấy mà kinh động.
Đến giờ Mão Vua thấy Thủy Tinh mới đem lễ tới. Binh cá rùa rắn ngoài ngàn con cùng đến. Vua nói:
– Trẫm như đã hẹn. Sơn Tinh đã đem sính lễ đến.
Thủy Tinh ân hận mới về thủy cung, tấu lên triều đình xin dẫn quân đánh Sơn Tinh.
Bản cũ còn thêm một đoạn nên soạn chép ở đây:
Cùng ngày Thủy Tinh chỉnh đốn quân nhu, tụ họp thủy tộc, bày trận ngàn hàng côn sấu, lập binh vạn đội kình nghê, thuyền rồng dốc tiến ra giữa sông, trống rùa gõ vang rung đáy nước, hàng hàng thẳng tiến. Đi được nửa đường thì Sơn Tinh nghe tin, bèn cùng với Duệ Vương giăng lưới võng sắt ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm để ngăn quân thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mở ngang một dải sông nhỏ từ Lị Nhân đến vùng chân núi Quảng Oai, kéo lên bờ trên của cửa sông Hát mà ra sông Cái, vào sông Đà để tập kích núi Tản Viên ở mặt sau. Lại mở một con sông ngang nhỏ gọi là sông Bờ, tấn công núi Tản Viên ở hướng mặt trước. Vì thế Sơn Tinh mới dùng phép thần biến hóa, liền gọi người trong núi lại, lấy tre đan thành rào chắn ở trên núi. Lại bảo cho dân rằng:
–    Các ngươi nếu thấy quân địch tấn công dưới nước ở trước rào thì đều bắn và chém đi.
Nhân dân tin theo lời đó. Trong khoảnh khắc thủy tộc tiến quân đến đánh. Nhân dân cùng nhau chém chết rất nhiều. Khi ấy các loài kình nghê côn miết chết đều dạt vào bên sông. Thủy Tinh căm phẫn oán hận.

Từ đó mỗi năm đến tháng bảy tháng tám Sơn Tinh và Thủy Tinh lại giao chiến ở núi Tản Viên. Nhân dân sống gần nơi đó bị mưa gió lũ lụt gây hại rất nhiều (những nơi mà Sơn Tinh cùng Thủy Tinh giao chiến các trận, người dân địa phương sau lập thành miếu phụng thờ, nên còn có các di tích riêng để lại).
Bản cũ còn thêm một đoạn có cùng phần đầu như đã ghi:
Nguyên là Sơn Tinh được quyển sách thần, có bí thuật phép tiên, nên quân thủy tộc không thể gây hại. Người bấy giờ có thơ rằng:   
Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần
Muốn viết thơ này để hậu nhân
Bể ái gương treo đôi mắt gửi
Ham tình động sóng giữa thu phân
Sách ước đủ rồi đền nợ trước?
Má hồng sao chịu ganh phu quân
Trường Sa ngày ấy mà không gặp
Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?
Lại nói khi ấy Duệ Vương hưởng quốc
(Bản cũ còn thêm một đoạn là: bốn biển thanh bình. Con vua cháu ông đều đã rời xa. Núi sông Thần Phù, Yên Tử cao thấp trời rạng mây bay. Trăng náu Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc. Hoặc lúc dạo sông Tiểu Hoành ngoạn xem thú vui đánh cá, đi đến các nơi Cổ Đằng, Tam Vật Lại của huyện Ma Nghĩa, nhìn ngắm núi sông thanh tú, lập làm hành cung, nay là cung điện Trung Chấn cung. Lại đi qua 8 xã Thụy Phiêu, Tam Sơn, Lễ Tuyền, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, lập lại Nam Chấn cung ở cửa 12 khe nước của Bể Cạn. Lại thường đi săn đến xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung điện Mang Sơn, rồi để lại ruộng thờ 72 mẫu ở xã An Diệu. Còn 200 mẫu nay ở xã Đông Triều, nay là dân tạo lệ cho cung ấy mà hậu thế phụng thờ hương lửa.
Lại quay về động cũ nơi núi Tản Viên, mà xem đất ấy ba ngọn chót vót vạn nhận cao thay, đẹp đẽ sáng lặng, không thể tả được. Chỗ thôn Cốc người ở đông đúc, phong tục thuần hậu, rất lấy làm yêu mến, bèn thiết lập một cung điện ở trên đỉnh núi thuộc đất 22 xóm của Thủ Pháp, nay là Thượng Chấn cung, tọa Cấn hướng Khôn, làm chính điện. Trung Hạ Chấn cung là nơi cầu đảo. Đông Chấn cung là nơi tề tựu bái yết. Nam Chấn cung là nơi nghỉ ngơi. Từ đó khâm phụng mệnh Hoàng thượng, thường cùng với Tứ phủ hội đồng non biển đi xem xét vạn sự trong nhân gian
).
 

Trống đá ở chùa Hoa Lonng bên bến Việt Trì

Chúc thư Ma Thị Cao Sơn Thần nữ. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chúc thư Ma Thị Cao Sơn Thần nữ

Đền Trung Tản Viên

Lại nói Thần Vương trở về động Lăng Sương, dùng gậy đọc chú mà cầu, giở sách thần mà ước, tự nhiên hóa thành đài các đủ muôn vạn vật, đến làm lễ ở lăng mộ thân mẫu và tổ tiên. Thần Vương lại về núi thiêng Ngọc Tản, nói với Lão bà rằng:
– Từ thủa nhỏ con đã ở cùng với mẹ. Công đức của mẹ cao như trời vậy. Mẹ sinh mười tháng mang thai, công đức như núi Thái sông Hoàng. Mẹ nuôi ơn sâu đức dày, đều cùng là tấm lòng đức lớn. Sao có thể quên được tình cảm đó. Ngày nay con về đây xin nguyện thần vận quỷ dẫn cho một chút để báo đáp công đức ấy.
Bèn lấy sách thần mà ngầm cầu trời đất, đọc ước mọi bề. Tự nhiên chốc lát nổi một trận mây bay mưa rơi, sấm đuổi gió xua, khắp trời nổi sấm đùng đùng, mưa rơi như châu ngọc trên mặt đất. Cho tới nửa canh giờ sau thấy tiền đồng khoảng trăm vạn quan. Thần Vương lấy đó mang vào dâng tạ ơn mẹ nuôi. Ma Thái bà thấy tấm lòng thành thật đó, thầm mong vạn sự được đủ đầy, bèn lấy những vật rừng núi của mình đem trao cho Thần Vương lưu giữ để sau khi trăm tuổi có nơi thờ phụng hưởng thần. Nên bèn lập một đạo chúc thư để lưu mãi ngàn vạn đời nơi quản giữ miếu đường hương lửa.
Chúc thư này viết rằng:
Nước Văn Lang, xứ Hưng Hóa phủ Gia Hưng huyện Thanh Xuyên sách Thủ Pháp, thôn Mang Bồi xóm Cốc, thần nữ Ma Thị Cao Sơn, tên húy là Bạch, lập chúc thư. Sự là tôi nguyên sống ở động này, núi sông ruộng vườn, khe ngòi miếu mạo, cỏ cây rừng rú từ trước tới nay đều là của tôi. Song lại nghĩ, mình sau khi trăm tuổi, thân về chốn Bồng Lai, việc hương lửa xuân thu không ai phó thác, không biết lấy ai phụng thờ gia đường. Đương lúc năm Quý Dậu, tôi có người con nuôi quê ở huyện nhà Lăng Sương tên là Nguyễn Tuấn, từ nhỏ đã cùng chung sống, coi như con đẻ. Ma Thị tôi tuổi đã ngoài 90, chỉ sợ mệnh trời chưa biết sớm hay chiều nên mới kê khai các vật, nhất nhất ghi rõ trong chúc thư, giao cho con nuôi gìn giữ, lưu truyền vạn đời không đổi, để phụng thờ hương lửa. Sự người thường xem trong các luật điển xưa nay mà lập một đạo chúc thư, để lại toan tính ấy cho người đời sau mà tuân theo. Núi sông ruộng đất, khe ngòi miếu mạo mà tôi có, cao rộng bao nhiêu trượng thước tấc đều kê khai sau đây, để căn chiếu vào đó mà sử dụng. Kê:
– Núi thiêng Ngọc Tản Thứu Lĩnh ở sách Thủ Pháp, dân thôn các xứ cộng là 22 xóm. Đỉnh núi Ngọc cao 112.300 trượng, chu vi cộng 10.000, dài 10.680 trượng. Cùng các khe ngòi gồm 6 đoạn, cộng là 12.300 trượng.
– Một đoạn từ thượng điện trên đỉnh núi đến hạ điện là khe Lăng Cốc, cửa cuối ngòi Bùi (trước đây là nơi ở của Ma Thị, nhân đó gọi là Bùi Nương) ra tới sông lớn dài một vạn trượng.
– Một đoạn trên từ đỉnh núi Mũi Miêu, tục gọi là ngòi Bô, cửa đổ tới bờ sông dài ba trăm trượng.
– Một đoạn từ Ba Dương, thường gọi là ngòi Lông, tới bờ sông dài năm trăm trượng.
– Một đường dài ngàn dặm từ trang Cẩm Đới xứ Hàm Rồng dài tám ngàn năm trăm trượng.
Đông giáp hai huyện Ma Nghĩa
(sau đổi là Minh Nghĩa), Thạch Thất. Nam giáp hai huyện Mỹ Lương, Phúc Lộc. Tây giáp huyện Thanh Xuyên. Bắc giáp huyện Bất Bạt. Mặt tiền ở hướng chính Tây, tọa Cấn hướng Khôn.
Lại có Đại Giang – Tả Kiên Thần
(tức là cháu của bà Ma Thị, cũng có tên tích riêng), Ma Lãng Sơn – Hữu Kiên Thần (cũng là cháu của bà Ma Thị), Non Sơn Tây Nam Kỹ Động Thần – Trấn Đồng Long Đại Vương, Tây Bắc Hậu Phi Cung – Bạch Y Thần Nữ Đại Vương (cũng đều có các tích riêng).
Cùng với ruộng đất tế tự cộng là 270 mẫu 4 sào 1 thước 1 tấc
(các nơi thờ này cùng với ruộng thờ đều có tên bộ hạn mức riêng), từ sông Đà cho tới sông Bình, lấy ngã ba làm mốc giới, bốn mặt Đông Tây y như ruộng đất trong chúc văn đã lập.
Hùng Duệ Vương năm thứ mười tám ngày 18 tháng 2 lập chúc thư.
Ma Thị Cao Sơn thần nữ đã ký.

Lập chúc thư xong, Thần Vương bái tạ, rồi với mẹ nuôi Ma Thị cùng sống. Được một năm Ma Thị mắc bệnh mới gọi Thần Vương lại mà dặn lại rằng:
–    Sau khi mẹ Ma Thị mất, Vương nên lập một cỗ thọ đường đặt ở miếu đường phụng thờ cho tỏ đạo hiếu.
Thần Vương dập đầu lĩnh mệnh. Hôm ấy bà Ma Thị mất. Thần Vương bày lễ chôn cất, thiết lập miếu đường, lại đặt cỗ thọ đường ở bên trái miếu đường, bốn mùa phụng sự hương lửa như phép tắc, tới nay vẫn còn. Về sau có người  kẻ sĩ khen rằng:
Cơ đồ tạo dựng
Nghiệp đế lâu dài
Mười tám đời dằng dặc
Bao ngàn năm qua lâu
Bấy giờ có Thánh Tản
Chăm Ma Thị mẹ nuôi
Lão bà lâm mệnh mất
Truyền lại bức di thư
Lập miếu thiêng trên núi
Bên trái đặt thọ đường
Nhà cửa đều giao lại
Đạo hiếu cho vạn toàn
Anh hùng trăm đời mãi
Núi sông gom một trời
Đáng yêu thay, thần tiên vạn cổ
Lạ kỳ thay, mẹ con một nhà.

Lăng mộ đó táng ở núi cạn Vực Nham sách Phương Giao, huyện Thanh Xuyên, tới nay hiện vẫn còn.
Lại kể rằng từ sau khi an táng bà Ma Thị, Thần Vương lại trở về nơi động Lăng Sương cùng với Tả Hữu Kiên Thần (Tả Hữu Kiên Thần là cháu chắt của bà Ma Thị) xem như anh em cùng một bọc, phù tá hai vai, không chút sao nhãng giao tình. Khi ấy Thần Vương về nhà ở động Lăng Sương, đi qua một dải sông Đà, đến chợ Lăng Sương xem xét quê ngoại tổ tiên, cảm đức lớn của tiên tổ cùng với ơn sâu của thân mẹ, ngày hôm đó (ngày 12 tháng 1 bắt đầu cho tới ngày 25) bèn truyền nhân dân thiết lập 2 bệ cùng với 2 cột đồng ở tại nơi (đất ấy có dòng suối nhỏ sông Đà phía sau, lại có núi như hình rồng, voi, rùa trùng trùng điệp điệp, hai vai đỡ trái phải phía sau, cùng là nơi cao chân thoáng, tới đất bằng giữa chợ là lăng, trái phải hai bên đối nhau, mặt trước nhìn ra núi Tản Viên, có sông Đà làm nội minh đường như vậy) lăng (tức mộ tổ của Đinh Công và Nguyễn Công – chồng của Thái bà trước đây) mà tuyên biểu công đức của gia tiên, lập làm gốc cho phong hóa, vạn cổ lưu truyền làm kỷ cương. Việc xây sửa đất quê gia phần hoàn thành thì tới ngày giỗ (tức ngày 5 tháng 2), lại rước bài vị của mẹ cùng đến nơi cột đồng làm lế tế. Việc xong Công trở về cung sở, làm lễ tạ ở lăng của thân mẫu. Từ đó các châu động trang sách đều là thần tử (về sau nhân dân các nơi phụng thờ Thánh đều lấy đất này làm nơi riêng thờ bên ngoài). Hàng ngày đi ngắm cảnh săn bắn. Lúc lúc hứng khởi đàn ngâm. Hoặc luyện thuốc trường sinh (đất trang Đan Vân, sau cải là đất trại Túc Luận xã Đa Vân, chính là nơi Thần Vương luyện thuốc, nhân đó gọi là Đan Vân, cũng là đất của Thần Vương), đi du ngoạm non xanh nước biếc, hoặc dạo nơi Bồng Lai Đảo Lĩnh, hoặc quay về bay lên núi thiêng Tản Lĩnh, biến hóa vô cùng, thật là bậc thánh trên đời vậy.

Gậy thần sách ước. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Gậy thần sách ước

Tượng đá cổ ở đền Thượng Tản Viên

Khi đó Tùng Công còn đang lên núi Tản hái củi đem về bán mà nuôi mẹ, nên không có ở nhà. Những người trong động thấy việc như vậy bèn cùng ra nơi ấy (tức là bên góc ruộng nơi nhà Thái bà ở) mà làm lễ. Lúc ấy Tùng Công mới trở về đến nơi, thấy Thái bà còn đang nằm ở nơi đó, gió mưa mù mịt, nổi vù vù bốn mặt tựa như sấm vậy. Tùng Công cùng với người trong động khi đang tìm nơi làm lễ táng thì thấy mối đùn thành mộ (chính ở tại nơi góc ruộng có miệng giếng, có bàn thạch chính nơi dựng nhà, trước đây là chỗ sinh Tùng Công).
Lại kể rằng Tùng Công từ khi Thái bà tạ thế trong trăm ngày đều ở đó, nhà cửa cùng quẫn, tứ cố vô thân, sống trong căn nhà nhỏ ở chỗ xa xôi. Một hôm gần tối, thấy một lão bà từ bên ngoài đi vào, không biết từ đâu tới, là người rất kỳ lạ, đứng ở trước sân mà rằng:
Người con côi! Người con côi!
Quân tử vốn khó khăn
Hồng nhan nhiều gian nan
Con hiếu sẽ được yên
Muốn lập thân thành nên
Hãy về với mẹ nuôi
Dựa vào núi Tản thiêng.

Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn làm một lễ nhỏ, cẩn thận đặt trước mộ nhà rồi đi. Sau cùng về với lão bà Ma Thị mà ở.
Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bồi) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt như nguyên. Nguyễn Tùng lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt khăn đỏ, chân đi giày mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong dong bước đi như hoa gấm đùa phượng, bút ngọc vờn rồng, nếu không là nơi Vườn Kỳ thì cũng thành vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, sắc mây đê mê. Tinh thần hội đồng nơi đỉnh núi biến loạn. Mắt mày trời đất chao đảo quay cuồng. Cái cây lớn hồi sinh.
Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn đứng dậy chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng:
– Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân đói lạnh?
Ông lão rằng:
– Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, lầu phượng dựng nên, chính là trời sinh mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được. Trái lại, ta phải giúp giữ cây này để cầu cho non sông vững mạnh, đất nước bền lâu, vua trị được thấy có ngày thái bình vậy.
Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói:
– Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Lại bàn bụi trần khói bay, kiếp người phù du, có có không không, sinh sinh hóa hóa, cơ diệu khó đoán, sự biến khôn lường. Cả trời đất đều chung lý ấy. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là có thể cầu được phúc vậy. Khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa.
Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng:
– Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn, phép thật linh nghiệm, cơ thật diệu huyền. Nếu chỉ trời thì khắc mây bay mưa tạnh, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi Tản Linh, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng:
– Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu rõ được sinh tử thế gian.
Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần Vương. Mọi người trong động (tức là động Lăng Sương) đều kính phục. Tùng Công sửa sang lại nhà cửa lăng mộ, làm lễ bái yết các tiền nhân, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều làm lễ nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4).
Xong việc Thần Vương (tức Tùng Công) cùng ngày lên đường. Đi qua chỗ đất sách Thủ Pháp (thôn Cốc). Sách Thủ Pháp hay có nạn voi hổ hại, nhân dân rất khổ sở. Thần Vương đến nơi đất ấy, bỗng thấy một đám voi hổ hơn trăm con đang ngậm ba bốn người của sách Thủ Pháp. Lối về bị chắn mất bởi đàn trăm con thú chạy qua lại. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hổ Bắc voi Nam, cùng bỏ người ở nơi đất đầu gậy mà chạy mất. Thần Vương lại chỉ gậy ở đầu sinh. Những người đó đều sống lại. Nhân dân nơi ấy (tức sách Thủ Pháp) đều thấy việc lạ ấy, ngay hôm đó (ngày 5 tháng 5) cùng đến làm lễ bái hạ, xin làm thần tử. Thần Vương đồng ý. Từ đó voi hổ không dám xâm phạm, nhân dân đều được yên ổn nơi ruộng vườn đó. Thần Vương lại đi tiếp đến bên bờ sông, nhìn thấy sông lớn một màu, sương mù bay phủ mờ mịt. Bến sông không một chiếc thuyền. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì nước rẽ mở thông suốt thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy.
Vương đi đến trang Ma Xá châu Trung Độ (còn gọi là Trường Sa). Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen rồi cùng đem mà reo đùa. Thần Vương thấy vậy động lòng thương xót muốn cứu, bèn nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
– Các ngươi sao lại đùa nghịch như vậy. Nay hãy bán lại con rắn này cho ta.
Lũ trẻ chăn trâu cười mà bằng lòng. Thần Vương lấy 36 văn tiền để mua, đem đến phía trên bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú, dùng gậy thiêng chỉ vào. Tức thì như mộng mị chạy dẫn ở đầu gậy, con rắn sống lại. Rắn đen dập đầu bái tạ Thần Vương, trên đầu rắn có chữ Vương. Thần Vương đứng đó xem thì thấy rắn đen trở đi, giữa sông tách thành đường nước, mới biết đó là con của Long Vương (khi đó người ở Ma Xá thấy sự lạ đó đều đến làm lễ bái, xin làm thần tử).
Từ đó Thần Vương lại trở về nhà ở động Lăng Sương (tức là nhà và lăng của mẹ đẻ). Rắn đen trở về đến Động Đình, đem sự việc tâu lên. Đế Quân cảm công đức ấy bèn sai Thái tử (tức là con rắn đen) cùng với đô đốc Giao long đến đón Thần Vương ở động. Thần Vương tạ từ mẹ nuôi Ma Thị rồi theo sứ giả mà đến Thủy cung. Đi qua tường gấm cửa son, thấy gác ngọc lầu châu trùng trùng điệp điệp, tướng côn ngao ba ba lớp lớp hàng hàng, cùng với quân binh tôm, cá, rùa vây quanh hai bên. Đế Quân ngồi ngự ở chính giữa, mời Thần Sư đến ngồi ở long sàng bên phải, phán rằng:
– Gót rồng Đông Cung chính là Thái tử của Trẫm. Hôm trước đi dạo ở Tùng đài Linh điện, chẳng may gặp biến ở châu Trường Sa, may nhờ Ngài cứu khỏi, thật là ơn lớn. Hôm nay mời đến là muốn báo đáp tấm lòng ấy.
Thần Vương tâu rằng:
– Thủy phủ dương gian hai đường khác biệt. Cốt rồng sâu rộng, đâu chạm đến thổ địa. Nhà tôi vốn làm việc thiện đạo âm thầm, lại được thần phép. Buổi trước cũng có đi dạo mà cứu được sự biến, đó là bởi ở lòng người. Đâu ngờ hôm nay được gần dung nghi sáng rỡ. Không dám mong báo đáp vậy.
Cùng ngày khắp trong cung mở tiệc hội lớn, bày trải chiếu hoa rồng, thắp sáng bởi đèn dầu phượng, bình hương trướng ngọc, vàng bạc mã não, kỳ trân dị vật, đều là những thứ trên trần thế không có được. Tất cả bày ra la liệt trước mắt đều là cỗ ngọc đồ ngon. Đế Quân tự tay rót rượu mời. Thần Vương phục tâu rằng:
– Tôi thường vẫn mong gặp được những nơi kỳ khoáng. Nay may mắn đi xa vượt sóng mà tới được cảnh đây. Bình sinh chưa từng mơ thấy sự vui như vậy. Đâu dám không uống rượu cho say hết mình.
Tiệc xong, Đế Quân cảm tạ bằng vàng bạc châu báu. Thần Vương cố từ chối không nhận. Thái tử mới nói riêng rằng:
– Nay đã thấy mặt rồng, đúng là cơ hội ngàn năm có một. Công đức của Thần Sư như biển kình núi ngao, tiền tài đều nhẹ như lông hồng, báo đáp bao nhiêu cũng không đủ được công đức ấy. Nay Đế Quân có một quyển sách thần, truyền đủ phép lạ, nguyên gốc thông đất thấu trời đều ở trong cuốn sách thần ấy. Nếu Thần Sư muốn cầu, tôi sẽ tâu riêng với Đế Quân để xin cho được.
Thần Vương nói: Được. Thế là Thái tử tâu lên. Đế Quân cảm công đức của Thần Vương, liền mới lấy cuốn sách ấy ban cho. Thần Vương xem kỹ sách đó, rồi từ biệt. Long Quân sai Thái tử cùng dẫn quân tiễn tới tận bãi sông mới quay lại. Đời sau có người làm thơ khen làm chứng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Tiền Thánh mẫu. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Trung

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Trung

Hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và trong nhà

Lại kể rằng triều Kinh truyền 18 nhánh tới Duệ Vương, ngự ở đô thành Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có tư chất thánh triết anh hùng, nối thừa sự nghiệp khai mở của tổ tông, vun đắp của các thế hệ, cơ đồ thịnh trị 17 đời, trong luyện võ lược, ngoài giữ biên phương, cố gắng hưng bình cho yên Trung Quốc, theo gương trị vì của các đời vua trước, khâm sùng đạo trời, kính sự quỷ thần, trời giáng điềm lành cùng với quốc gia. Người đời đều gọi là vị vua hiền vậy.
Trong thời của Duệ Vương ở động Thuận Bình, phủ Triệu Châu, xứ Thuận Hóa có một nhà trưởng bộ, họ Đinh tên Bích, Lấy vợ ở trang Hạ, xã Cao Quần, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam, họ Dương tên Hằng. Vợ chồng kết tóc, cầm sắt thanh hòa. Ngày tháng đi qua, Trưởng ông tuổi ngoài 50, Thái bà đã hơn 40 mà chưa thấy lan quế trước nhà nhập mộng. Trưởng ông vốn có đức hậu lòng nhân, trọng nghĩa khinh tài, rộng thí giúp người, không hề có chút hại người, tham tưởng vật lợi, tâm sáng cho việc cứu nhân, không gì là không có ý giúp đỡ, điều thanh kỳ thực là bậc chân thế hiền nhân, bản tính là người trong giới tuấn kiệt. Thái bà lại có lòng nhân ái, kính thuận khiêm tốn, ăn ở ôn hòa mà có đủ tứ đức, phong cách kính yên như Nam Giản, nhất nhất theo nhà họ Đinh, nối tiếp nét đẹp bóng tốt Cam Đường, đúng như Hằng Nga trên mặt trăng, thực là bậc nữ trung Nghiêu Thuấn.
Lại nói tới việc ngọc sứ, lan quế khi đó còn chưa thấy sinh. Một hôm Trưởng ông nói với Thái bà rằng:
– Vợ chồng chúng ta, tuổi nay đã cao, giọt sành chưa ứng, chưa động lòng trời thì không đạt được việc người, hẳn là còn thiếu. Chi bằng lúc này cố tìm đền thiêng mà trai giới thành tâm, làm lễ cầu đảo các thần kỳ tinh túy, núi sông trời đất, may thì có thể được ban rủ phúc lớn.
Dứt lời liền chuẩn bị lễ vật, hai vợ chồng cùng lên chùa Tây Thiên núi Tam Đảo, dâng hương cầu nguyện, cầu đảo mong được điềm lành giáng ứng, mong thấm ơn ban, vạn nhờ trời đất thần phật giúp cho được vậy. Khấn chúc xong thì mặt trời đã khuất sau núi, trời trở tối. Bèn lưu nằm tại đó để cầu ứng mộng. Đến cuối canh ba, Thái bà mơ màng như mộng, bỗng thấy trong chùa mây khói từ trên trời cao giáng xuống, bao phủ mù mịt. Trong chùa thấy một ông lão râu tóc bạch phơ, mình mặc áo xanh, đầu đội mũ trăm sao sáng láng, chân đi giày hình rùa tỏa sáng vạn nhẫn, tướng mạo đường đường, thầm oai lẫm liệt, tay cầm một cây gậy ngọc. Theo sao có 5-6 tiểu đồng mang đàn, sách, quạt lông cùng với một bầu rượu, tiến thẳng vào trong chùa, nói với Thái bà rằng:
– Hãy nghe mệnh! Thiên Đế lệnh cho ta đến. Vợ chồng bà quả là những người có lòng tốt. Hoàng Thiên đã thấy, xem xét cơ duyên, mới lệnh cho ta đem một viên ngọc trắng giao xuống.
Lão ông ném cho Thái bà, lại ngâm tụng rằng:
Trời cao có nẻo chiếu nhân gian
Có phúc đều do phúc báo hoàn
Ngọc báu nay ban cho đến chỗ
Đảo Sơn, Tản Lĩnh đối cùng ngang.

Ngâm xong lão ông bay lên trời cùng các đồng tử biến mất. Thái bà cầm ngọc cất vào trong bụng. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mộng. Bèn đem việc này kể lại với Trưởng ông. Sau khi dập đầu bái tạ trước điện Phật, vợ chồng quay về. Mới được trăm ngày, một hôm, đang khi giữa giờ Ngọ, bỗng thấy một con chim lạ lông cánh năm sắc, chân mỏ màu đỏ, từ trên trời hạ xuống, bay thẳng vào trong nhà, đậu ở trên nóc. Xung quanh phòng trong nhà trong chốc lát đều sáng bừng lên vậy. Thái bà thấy vậy tự nhiên chuyển ý mà hoài thai. Tới ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu vào buổi tối cuối canh năm Thái bà đang ngủ bỗng thấy một đám mây hồng từ trên trời hạ thẳng xuống trước sân. Thái bà nhìn ra xem thì thấy trong đường mây có một người con gái rất đẹp, áo xiêm sáng lạn, cân đai huy hoàng, cưỡi trên xe mây, hai bên trái phải là quạt gấm, cùng với các thanh đồng, trinh nữ hơn mười người, cùng theo hai bên. Tiếng đàn sáo Tiêu Thiều, Nhã Nhạc vang lên. Từ từ mà hạ xuống trước sân, đi thẳng vào trong nhà. Thái bà cất hỏi thì bỗng nhiên tỉnh dậy thấy trời đã sáng.
Tới ngày mồng 7 đến lúc đầy kỳ sinh hạ một người con gái, phong tư đẹp lạ, cốt cách thanh kỳ, môi như hoa hợp dạ, sắc tựa vẻ phù dung, nét mặt như gương ngọc bình bạc, má hồng như lầu châu tường họa, thân tự phát ra mùi hương thơm ngào ngạt. Vào lúc đó khi sinh gió mưa mờ mịt, mặt trời như bị che khuất. Chỉ có nơi sinh nhà mái vẫn sáng quang, bốn bề vang vọng tiếng nhạc tiếng ca. Ba ngày sau mới thấy bầu trời sáng lên, tiếng ca mới ngừng.
Cha mẹ rất yêu quý. Được trăm ngày mới đặt tên là Đinh Thị Ngọc. Lúc Nương lên 3 tuổi trong động có một gia tộc lớn họ Mãn, tên là Trương, nhà có nhiều gia đinh nên sinh kiêu ngạo ngang ngược. Trưởng ông vốn tính thanh liêm, có lòng từ ái, tuy làm trưởng bộ mọi người trong động nhưng không hề phạm tơ hào hối lộ. Còn họ Mãn vốn hay có tâm nhũng hại, tham tài sắc, thấy Công thanh liêm chính trực, người trong động đều yêu kính mến mộ theo tâm đức của Công nên họ Mãn sinh lòng gây ác, thầm viện người ở động bên, kết bè đảng muốn gây hại, mưu giết Công. Có người báo với Công. Công trong lòng còn chưa tin.
Tới sau đó nửa tháng, vào lúc trời tối, bỗng thấy ông Mãn Trương cùng với hơn trăm người cầm theo khí giới sắc nhọn, tiến thẳng đến nhà Công. Công biết ý đó nên liền dắt Ngọc Nương chạy thoát. Khi đó ông có người em gái ruột (tên là Đinh Thị Điên) cùng theo ông đi trốn, cùng với Thái bà cộng là 4 người cùng chạy. Còn những người hầu trong nhà đều trốn đi các nơi. Mãn Trương tìm kiếm trong nhà không thấy một ai, rất là tức giận, liền đốt hủy cả nhà, lấy hết tài sản, dẫn quân binh trở về. Tới nửa đường gặp đàn hổ đón bắt Mãn Trương mà ăn thịt.
Lại nói Công từ lúc bị nhà họ Mãn gây hại thì chạy vào trong núi sâu mà đi, không quay trở lại. Công dẫn con cái cùng với em gái chạy bộ, cứ theo chân núi mà đi. Hơn mười ngày đêm đến các châu động xin ăn, trú ở ngoài dưới các gốc cây to hoặc đêm ở những nơi đó. Thái bà ôm Nương ngồi ở đâu thì thấy ở đó ánh sáng chiếu lên, cả khu sáng tỏ.
Một hôm ông đang đi trong chân núi, bỗng lạc mất đường. Cây cối rậm rạp, cây to chọc trời, các khe nước bao quanh, hổ báo chạy tới lui mà gầm rú, nhìn bốn phía có tới hơn trăm con chạy đến. Trưởng công nghĩ tưởng khó có thể thoát được nơi mãnh thú này. Chỗ đó rừng sâu rậm rạp, không có lối ra. Ông thấy thảng thốt bàng hoàng, rất kinh sợ, mới ôm dẫn vợ con cùng với em gái nhảy vào trong chỗ đó. Hổ thú chim chóc bao vây bốn phía, tiếng kêu như sấm nổi lên. Trưởng công và Thái bà đều than khóc. Duy chỉ có Ngọc Nương là vẻ mặt không đổi, cất tiếng cười, hô chỉ mắng chửi. Mãnh hổ tất cả đầu quay đầu không dám nhìn vào Nương (khi đó Ngọc Nương mới 5 tuổi). Đám hổ dần dần tiến lại. Trưởng ông rất sợ hãi mới ngửa mặt lên trời mà than rằng:
– Hoàng Thiên sao lại phụ người có lòng nhân mà không cứu vậy!
Ông vừa than xong, bỗng nổi lên một trận gió lớn, trời đất trong khoảnh khắc tối mờ. Rồi trong phút chốc trời đất sáng trở lại. Lũ hổ đều đã biến lui.
Lại thấy một lão ông thân dài 7 thước, quần áo vân gấm màu xanh, đầu đội mũ đốm, râu tóc bạc phơ, tay cầm một chiếc quạt lá cỏ và gậy trúc. Theo sao có 1 thanh đồng, tay cầm bầu rượu, không biết từ đâu tới. Chỉ thấy ở nơi đó vừa đi vừa cười, đọc bài thơ rằng:
Trong thân có ngọc cớ sao lo
Còn cười trời được, thật là ngô
Người lòng trong sạch đâu sợ nạn
Cuối cùng sẽ được việc không ngờ.
Ông nghe lão ông đọc ngâm biết là lòng trời muốn đùa với Công mà cho đàn hổ đến xem ý ra sao, mới có nạn đó vậy. Nên lão ông này tất là bậc thần tiên, thấy ông lúc cùng quẫn kêu đến trời mới giáng xuống mà báo giúp, chứ trên trần thế không có người nào như vậy. Ông mới vui mừng mà hỏi rằng:
– Lão ông từ đâu tới? Xin cho hỏi, chỗ này không có đường xá, bốn bề là khe vách cây cỏ, chỉ toàn là thú dữ, cây xơ xác, không thấy tiếng nhân dân ở đâu. Đường quay lại bị cản trở, mây móc tối tăm. Không biết đường đến đâu mới ra được chỗ có dân cư. Xin lão ông biết đường ở hướng nào chỉ giúp thoát khỏi chỗ tối tăm này.
Lão ông ngửa mặt lên trời cười mà đọc ngâm:
Đường mây lớp núi thấy trùng trùng
Người được ý này dễ thoát chung
Một phiến mây trùm trên bảo ngọc
Hướng Tây đi tới chỗ người cùng.

Lão ông đọc xong thì bay lên không mà đi. Ông bèn ngửa mặt lên xem xét, thấy một đám mây màu nhạt phủ bay trên trời phía trên đầu Ngọc Nương. Đám mây trôi đi trước. Công cùng Thái bà và em gái dắt Ngọc Nương nhìn mây mà đi theo hướng Tây. Được vài bộ thì thấy một tảng đá lớn chắn đường, không có lối đi. Công bèn xem xét ở quanh tảng đá, thấy một hang đá. Công chui vào hang đá lại thấy trong hang có một con đường nhỏ. Công cùng vợ con lách người mà đi, vượt qua hang đá thì mở thành đường lớn. Trong khoảnh khắc đã tới châu Hoan (tức là Nghệ An sau này), qua đền Khổng Tước (tức là đền Cuông). Công lại thấy lão ông ở đó, báo vào trong cửa đền. Công bèn đi theo để làm lễ tạ. Khi vào trong thì không thấy đâu nữa. Ngửa lên xem phía trên đền có dòng chữ lớn khắc trên biển được trang trí bằng vàng sáng láng, đề rằng:
Hùng Vương điện, Nam Thiên Thánh tổ”.
Công biết đấy là Hùng Vương đã xuống răn dạy. Công bèn làm lễ bái tạ trước điện.
Lại đi tới châu Ái, đến châu Đà Bắc. Công bèn ở đất đó. Công vốn thạo nghề phong thủy, thường đi tìm xem đất. Người dân ở các châu động tại Đà Bắc đều kính phục, cử làm thầy tướng địa lý. Công cùng với vợ ở đó, qua được 7-8 năm, trở nên giàu có phong lưu.
Khi ấy ở động Lăng Sương có một trưởng bộ, họ Nguyễn Cao tên Hành, gia thế giàu có, tính tình nhân ái, kính mến người trong động, lại thạo việc cung tên, thường đi săn bắn. Ông tuổi đã cao mà nhưng chưa thấy mộng lan quế. Thái bà mất sớm. Lúc ấy Cao Công nghe tiếng Đinh Công ở Đà Bắc là người có đức lớn, thường dùng gia tài đãi khách, giúp đỡ mọi người, thật là một người tốt. Cao Công đi săn ở nơi ấy (tức Đà Bắc), kết bạn với Đinh Công, giao tình thân sâu.  Một hôm Cao Công thấy em gái của Đinh Công (tức là bà Thị Điên), có ý yêu mến, nhờ mai mối đến hỏi cưới. Đinh Công vốn trọng tình cảm với Cao Công nên đã gả cho. Hôn lễ xong Cao Công bèn đón về nhà ở động Lăng Sương ở.
Vào lúc trời xuân hòa khí, Đinh Công cùng người thân đi ngắm sông núi, xem xét địa hình phong thủy, tới động Lăng Sương (động Lăng Sương bốn ở tại đất huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây). Công đi ngắm phong cảnh đồng nội, lại thấy núi cao muôn vẻ, sông chảy miên man, non nước như vẽ, cây cối sum xuê, chim ca vượn hót véo von, đài phượng gác mây lung linh, thành một cảnh đệ nhất trời Nam. Đinh Công thấy quý cuộc của vùng đất, phong tục nhân dân thuần hậu, sơn thủy hữu tình, Công hứng khởi mới làm một bài thơ rằng:
Tạo hoá sinh thành tú khí linh
Lăng Sương đất ấy bốn kỳ hình
Lầu rồng gác phượng sinh hiền chúa
Voi phục lân chầu xuất thánh minh
Giếng ngọc giấu châu, sinh bất diệt
Ấn đeo chuôi bạc, thọ mà vinh
Dân phong thuần hậu cùng vui vẻ
Khắp chốn chầu tôn đất tối linh.

Lại nói Công đến chơi với ông Cao Hành được vài chục ngày thì quay về Đà Bắc. Khi ấy Ngọc Nương đã 16 tuổi. Một hôm (tức là ngày mồng 2 tháng 2), Thái bà không bệnh tự nhiên nằm trong nhà mà hóa. Công làm lễ an táng tại đó (tức động Thanh Khê, châu Đà Bắc). Qua mấy năm sau, ông Cao Hành đến đón Đinh Công trở về ở động Lăng Sương. Từ đó Công chuyển đến ở Lăng Sương. Ông là người có đức tính rất tốt, hiền, độ lượng hơn người, xứ ấy ai ai cũng phục, động Lăng Sương đều kính mến. Ông Hành tuy là em rể (lấy em gái nhà họ Đinh), nhưng đối xử với anh như cha mẹ sinh ra vậy. Khi đó Ngọc Nương tuổi đã 16, hoa xuân hương nhị, trăng thu đang rằm, có dung nhan chim sa cá lặn, có nét vẻ hoa thẹn nguyệt nhường, tính đức hiền hòa, là một người con gái hiếu thuận, trên đời khi ấy không có ai được như Nương. Trên lưng ở người Nương có điểm sao Thất diệu, không dùng nước lan mà tự có hương thơm, bẩm tính như tiên, dung mạo không như người phàm trần có được.Lại nói Đinh Công ở đất đó được quãng 3-4 năm. Than ôi, đạo trời gây nên bất hạnh! Em gái của Công qua đời (tức là vợ của ông Cao Hành, em ruột của Đinh Công, tên Đinh Thị Điên). Bà Đinh trước lúc lâm chung có dặn lại với anh trai (tức là Đinh Công) cùng với ông Nguyễn Cao (tức là chồng) rằng:
– Niệm tình bạn của anh, chồng của em mà xin lại gả cháu cho ông Nguyễn Cao để giữ quyền trông nom việc nhà. Em tất như thế mới được nhắm mắt yên lòng.
Đinh Công rất thương xót em gái, lại biết ông Nguyễn Cao là người có tình nghĩa, bèn đồng ý gả cho để nối tiếp vị trí của cô ruột. Từ đó Ngọc Nương lập gia thất, chỉ theo một thuyền, hiền thảo đảm đương việc nhà, sánh như thánh nữ Hằng Nga, cùng ngang vợ hiền Khương Phụ, duyên hài cầm sắt, tình như loan phượng, thấy điềm gót lân sắp có.
Ngày tháng đi qua, được hai năm rưỡi. Một hôm (ngày 15 tháng 4) trời đẹp hai vị Công (tức Đinh Công và Cao Công) đi ra ngoài săn bắn, ngắm cảnh núi sông, ngao du tìm rồng bắt hổ, bắn thỏ đuổi cáo làm thú vui. Nhân đó đi về đến Đà Bắc, thăm lại mộ của Thái bà.
Sau đó khoảng một tháng, lại trở về ở nhà. Tới trời mùa Đông tháng 12, một hôm (tức ngày 15) hai ông đi săn bắn, thầy trò trở về tới nơi chợ (tức là chợ Lăng Sương). Hai ông (tức Đinh Công và Cao Công) ngồi nghỉ, vui đùa uống rượu ở trong chợ. Rượu say bèn cùng nhau xuống khe nước mà tắm (khi đó ở gần chợ có một cửa khe giếng nhỏ). Tắm xong lại vào quán trong chợ thì bỗng nhiên thấy đau đầu rồi cùng nhau mất (khi đó Đinh Công đã 78 tuổi, Cao Công cũng đã 72 tuổi, ngày 15 tháng 12 cùng hóa).
Các gia nhân của hai ông thấy sự đó đều sợ hãi, chạy về động, gọi Thái bà (tức Ngọc Nương) cùng với người trong động cùng đến trong quán chợ, thì thấy hai ông đã hóa. Thái bà bèn làm lễ an táng ở nơi đất đó (tức là chợ Lăng Sương, đất An Bắc). Trong 3 năm các tiết, đều làm lễ tuần chay 49 ngày, làm trọn lễ hiếu. Ruộng đất của nhà chia mười phần, chỉ giữ lại một. Thái bà thật là người làm việc đức, giúp người nghèo, dưỡng người già, cứu người khi chìm đắm, giúp người lúc nguy nan, trọng nghĩa khinh tài. Hàng ngày thường giúp đỡ người dân các gia đình trong động. Không lấy tiền công, chỉ ăn cơm đủ bữa mà khi đi về dù nắng hạn mưa sương đều không rơi trên đầu. Hoặc đi kiếm củi phát cỏ, hoặc gánh nước cấy lúa, thì nơi bà ở trên trời có một áng mây màu nhạt tròn như một cái ô lớn che ngay trên đầu của Thái bà. Dù là vào những khi nắng lớn thì nơi Thái bá vẫn giâm mát. Hoặc khi mưa to giáng lũ thì chỗ Thái bà vẫn quang tạnh.
Một hôm Thái bà đang cấy ở ngoài đồng, bỗng nhiên thấy trên trời có tiếng kêu hô, bốn bề ảm đạm huy hoàng. Thái bà bèn ngước mắt lên nhìn thì thấy ở cái giếng trong nơi động (nơi đó có tên là xứ Đồng Cốc, tại chỗ ruộng lúa của Thái bà), mây lành khắp chốn, sương mù tỏa sáng. Có một con rồng cuốn lấy nước ở bên miệng giếng, phun sóng như châu ngọc.Từ đáy giếng bỗng chốc bốc lên mù mịt như mây khắp không trung, tỏa che mặt đất. Mùi hương đầu núi ngào ngạt. Rồng bay lên không mà đi.
Thái bà (tức là Đinh Thị Ngọc Nương) liền bỏ lúa đang cấy ở ruộng, đứng dậy nhìn lên trên trời. Lại thấy một đám mây năm sắc hình như một con chim điêu lớn bay trên trời, tiếng kêu như tiếng chuông đồng, từ từ từ trên trời mà hạ thẳng xuống đầu Thái bà. Một làn gió mát nổi lên, nhập vào trong thân như là đón người. Thái bà tự nhiên nhẹ bước đi trên không, đến bên giếng chỗ một bàn đá trắng (chỗ đó có một bàn đá trắng), bước lên đó mà tắm gội. Thân mình tự như bao bởi nước hương, khói mây thơm phức, khí lành dày đặc, núi sông anh dưỡng, sông biển đúc lành, cảm thấy khắp người như mây lành bao phục không dứt. Sau đó tự nhiên hoài ý mà có thai.
Khi ấy có người hào phú là Lê Hùng, cai quản trong động, muốn lấy Nương nhưng không được. Nay lại thấy Nương có mang thai thì trong lòng rất tức giận. Liền cùng với người trong động đến tụ tập ở ngoài quán, ngay hôm đó truyền mõ làng đến nhà bắt Thái bà ra quán để các chức sắc hỏi sự tình, bắt ăn phạt vạ họa hoang dâm. Thái bà nghe vậy mới đi theo người mõ ra tới quán. Thấy Lê Hùng và các hương chức hơn mười người, đều là họ hàng của Lê Hùng. Đám người trước là ra oai, truyền mõ cùng với Đinh Thị đến nhà Thái bà, lấy hết gia tài, bán đi khu đất. Thật là họa phạt vạ rất ô nhục. Phạt vạ được ba ngày, bỗng thấy một đàn hổ hơn mười con xông vào thẳng trong khu dân cư của động mà bắt hết bè đảng Lê Hùng, tất cả hơn mười người, đem tha xác lên trên đỉnh núi Thu Tinh rồi tản đi. Nhân dân trong động khi ấy đều kinh sợ chạy trốn. Những người đã mua đất đai đều đem trả lại cho Thái bà, không dám chiếm giữ. Nhưng Thái bà đã rất hận những người láng giềng xấu mặt, không ở tại đất đó nữa mà dựng nên một gian nhà cỏ ở ngoài khu dân cư nơi đầu ruộng cạnh chỗ giếng nước (giếng này là nơi Rồng vàng đã lấy nước cho Thái bà tắm gội, có đất đẹp quý cuộc, mạch dẫn Canh Tân, thế hợp Đinh Quý, trái phải có voi ngựa rồng hổ phượng chim, hình người đang bái, rùa rắn trống cờ, nhất nhất quay đầu cùng lại chầu, ở ngay phía sau có một động cao làm đài lầu, phía trước có dòng nước ở minh đường, cùng với giếng thành hình chữ Ngọc).
Lại nói Thái bà từ khi đến ở đất đó, mỗi tháng hai kỳ sóc vọng đều thấy hổ về nơi đó nằm chầu trước sân một lúc rồi đi. Thái bà có mang 14 tháng tới năm Đinh Tỵ vào ngày 14 tháng 1 đúng vào giữa đêm Thái bà đang nằm ngủ say, mơ màng như mộng, bỗng thấy một ánh hào quang xán lạn, lại thấy một vị quan y phục cân đai chỉnh tề, cưỡi một con ngựa trắng đến thẳng nơi Thái bà đang nằm, tay cầm một bức chiếu chỉ rồng, quỳ trước mặt Thái bà mà tuyên đọc rằng:
– Thời gian hạn định Thiên thần xuất thế đã đến. Khâm mệnh Thiên tào, báo sự này cho hiền nhân Đinh Thị biết. Nay sẽ sinh Thánh, quyền chưởng các thần kỳ ở Lăng Sương.
Quan nhân đọc xong cưỡi ngựa biến mất. Thái bà tỉnh lại thì trời đã sáng. Hôm ấy (ngày 15 tháng 1) Thái bà đang ngồi ở trên bàn đá trắng, bỗng thấy mây bay năm sắc, ánh hào quang chiếu xuống, chim phượng hổ báo trăm loài thú đến chầu ở nơi đó. Đến giờ Thìn sinh được một người con trai, hình dạng tuấn chỉnh, khí mạo khôi ngô, ba ngôi cân xứng, năm gò chầu về, cao vượt hơn hẳn bình thường, mắt như sao đẩu chiếu sáng, mặt như thái dương xán lạn. Vào lúc ra đời, trời đất mờ mịt, sấm sét ầm ầm, đáy giếng nổi sóng to, rồng vàng hạ xuống phun nước tắm rửa. Lại thấy chim điêu bay trên trời che cho chỗ sinh. Tiếng kêu tựa như âm nhạc Tiêu Thiều réo rắt, sáo trúc ca vịnh. Hổ ngậm đá nén bụng của Thái bà (tới nay hai tảng đá mà Thái bà nằm sinh cùng với bàn đá hiện còn ở bên cạnh giếng trong đền, tảng đá này vẫn còn dấu răng hổ ngậm đá nén).
Lại kể được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn (tuy rằng ông Nguyễn Hành không sinh ra nhưng Thái bá thủ tiết theo chồng cho nên tuân theo dòng họ bên chồng mới đặt là Nguyễn). Khi Công được 6 tuổi, Thái bà một mình cô đơn không có người nương tựa. Nhân dân trong động tuy có cấp dưỡng nhưng vì sự sỉ nhục trước đây nên lòng vẫn còn oán hận. Ngày tháng đó không có cách sinh nhai nên mẹ con cùng dẫn nhau tới núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (tức là chính ở tại xứ Mang Bồi, châu Thủy Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Thanh Xuyên) trú ở nơi đó. Lại cùng với một lão bà kia trên núi tên là Ma Thị (do ở nơi đất là Bùi nên người ta gọi là bà Bùi) Cao Sơn thần nữ (cha của Ma Thị Cao Sơn thần nữ là Ma Linh, mẹ là Hán Thị Ngạn, quê ở châu Bố Chính, do chạy loạn đến ở đất này, làm chủ quản một châu, nằm mộng thấy nuốt sao Thái dương, lại được điềm chim trắng trên núi cao mà sinh ra Ma Thị Cao Sơn thần nữ. Chính sinh ở đất Mang Bồi, châu Thủ Pháp, nay vẫn còn tồn nhà ở xưa), cùng kết giao. Được ba năm vì nhớ phần mộ của người thân nên mẹ con quay về động cũ Lăng Sương (sau đổi là Tuấn Công. Khi Công 2 năm 11 tháng nguyên có tên là Nguyễn Tùng), bắt đầu thụ mệnh theo học Lý Đường tiên sinh tên là Nhã. Năm 15 tuổi có chí cho việc học hành. Tuy cảnh nghèo sách mọn nhưng tính tình trời sinh lại vui vẻ, không thay đổi. Ngày ngày tha hồ bầu gió, sắc trăng mà tiêu dao, lấy rìu búa làm kế sinh nhai. Ban đêm tối theo đèn huỳnh án tuyết, rượu một bầu lấy làm thú vị. An bần lạc đạo, thật là có đại chí vậy.
Tuy nhiên đôi khi thấy mẹ cần lao khó nhọc, thương mẹ cùng khổ nên thường ôm sách thở dài, gạt lệ mà rằng:
– Sinh ra ta, chăm sóc ta, nuôi nấng ta, dưỡng dục ta là tình mẹ hiền vậy, đến ba lần chuyển dời chỗ ở. Tình cảnh nay như thế biết lấy gì an ủi cho lòng mẹ.
Năm tháng thường đến núi thiêng Ngọc Lĩnh cùng với lão bà Ma Thị than rằng:
– Than ôi! Than ôi! Vận trời tuần hoàn, sự người thường biến. Gần đây còn có thể cố ở động Lăng Sương, tạm sống an nhàn. Ngày nay rừng đã kiệt củi, không có cách để nuôi dưỡng mẹ già. Là người con có hiếu thì biết làm sao đây? Nên muốn nguyện làm nghĩa tử của lão bà, hàng ngày tiện việc kiếm củi, sau là có thể chăm sóc cho mẹ của con.
Lão bà nghe lời đó liền đồng ý. Nguyễn Tùng mới dẫn Lão mẫu đến ở cùng Lão bà tại núi Tản Viên. Được một năm rưỡi thì một hôm Thái bà (tức là mẹ đẻ của Công) đang ngủ bỗng thấy một đám mây mây hồng bay trên không trung, hạ thẳng xuống quanh Thái bà, tự nhiên nhẹ bước mà quay về nơi ở xưa tại động Lăng Sương (tức là ở nơi nhà cạnh giếng nước). Lại thấy có một dấu ấn rồng đóng lên tường trúc trong nhà, bên trên có tiếng đọc các chữ đó rằng:
Một áng mây hồng đến nhân gian
Mới gọi Tiên nương lên Quảng Hàn
Việc đời qua đi còn là thánh
Núi thiêng hương lửa mãi muôn vàn.

Tiếng đọc dứt thì Thái bà tỉnh lại, thấy dưới đầu gối có một tấm màu hồng như mây. Thái bà lấy làm lạ bèn nói lại sự mộng cho Nguyễn Tùng. Nguyễn Tùng thấy mẹ nói vậy bèn chào tạ Ma Thái bà rồi mẹ con lại quay về nhà ở Lăng Sương. Ở được bốn năm ngày thì một hôm (tức ngày 12 tháng 6) trong động có nhà cụ già nhờ Thái bà đi cấy lúa. Thái bà xuống ruộng cấy được một lúc, bỗng thấy trên trời mây đen nổi lên bốn bề, mưa gió lớn kéo đến. Tất cả những người đang cấy đều lên bờ chạy về. Thái bà cũng leo lên bờ mà về nhà (tức là ở nhà ở tại chỗ giếng nước). Mới đến sân thì bỗng thấy một đám mây trắng từ trên trời hạ thẳng xuồng đầu, tự nhiên mà hóa.

Bài thơ về Tản Viên Sơn Thánh trong thần tích làng Tang Ma

Mười tám nhánh Hùng đồ củng cố
Hai ngàn năm cuồn cuộn khí lành.

Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Khí mạo to cao còn tỏ thánh
Phong tư đẹp gọn khác người thường.

Ba sinh hương lửa vừa mới thấy
Phong lưu một nét cổ gia đường
Sáu tuổi mẹ cha về vực thọ
Bảy năm phụng tự chốn yên hương.

Trở học chuyên cần nơi động cũ
Linh sơn hái củi lúc khi đang
Ngô đồng chặt hạ gặp tiên lão
Gậy thần thu nhận cứu dân làng.

Lũ trẻ bên đường xem giết rắn
Thần chú đọc ngay cạnh bến phương
Động Đình cùng tới đền công đức
Chia tay Ngọc Tản nghĩa bao nhường.

Muôn đồ vạn bạc đều không đủ
Một cuốn sách thần vật dị thường
Trời cao cơ diệu nên linh ứng
Phép lạ hiếm truyền từ đế vương.

Vàng bạc ngọc ngà cầu được ước
Gió mưa sấm chớp nổi khôn lường
Chí hiếu mẹ cha tuân phép đạo
Dưỡng mẫu tạ ơn cung kính dâng.

Lão mẫu non khe di chúc lại
Thần nữ khói hương để miếu đường
Mẹ con một nhà, đời khó sánh
Thần tiên vạn cổ cũng không thường.

Nơi núi thảnh thơi ngàn vạn trượng
An nhàn ba sáu điện cung quang
Thế thời vua trị, Đường Nghiêu thịnh
Quảng đại Sơn Tinh, Ngu Thuấn vang.

Nhường ngôi mới tìm cầu Hoa Mị
Thủy Tinh thù kết một mối trường
Côn kình nhằm chém nơi đầu núi
Thủy thổ tách phân, rùa sấu quăng.

Theo trời là Tiên, người là Thánh
Trung thần với nước, hiếu gia đường
Búa việt giao cầm, vua bái tướng
Dẹp giặc hai đàng rơi tuyết sương.

Vách đá núi cao khắc sự nghiệp  
Vẻ vang ghi trúc bến sông Tương
Không ham làm khách trên trần thế
Muốn thành người ở chốn tiên phương.

Giúp nước một thời lo việc lớn
Hóa sinh cảnh hội lúc phi thăng
Hưng thịnh non sông cùng giữ mãi
Âm phù hộ quốc đạo thần vương.

Gió bụi đi qua nhàn một cuộc
Còn mãi đền đài giữ khói hương
Ngựa sắt thiên vương danh Phù Đổng
Đúc tướng người đồng thánh Thụy Hương.

Kìa như Tản Linh Sơn Thánh
là thánh, là tướng, là vua, là thầy, là tiên, là thần,
Lồng lộng sao! Vòi vọi sao!
Thật khó tả nổi.

Thuận việc cảnh đó ngàn vạn bái
Nguyện cùng trời đất phúc ghi văn.
 

Phiên âm

Thập bát diệp Hùng đồ củng cố
Nhị thiên niên(?) thuỵ khí uân nhân.

Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần
Bả thác Long linh giáng hạ trần
Khí mạo khôi ngang hỗn hiển thánh
Phong tư tuấn chỉnh dị thường nhân.

Tam sinh hương hoả tân tài kiến
Nhất chẩm phong lưu túc hữu nhân
Lục tuế nghiêm đường vi(?) thọ vực
Thất niên lăng lĩnh chỉ từ thân.

Thì hồi cố động tu cần học
Nhàn đáo Linh sơn tiện thái tân
Tiễn phạt ngô đồng phùng lão tẩu
Khâm thừa trúc trượng cứu sinh dân.

Lộ kiến hắc xà niêm mục thụ
Khẩu ngâm thần chú thố giang tân
Động Đình tương đáo thường công đức
Ngọc Tản nghinh lai tạ nghĩa nhân.

Trùng hoá vạn kim thường bất túc
Thần thư nhất quyển thụ kỳ chân
Huyền cơ linh ứng do thiên thượng
Bí pháp hy truyền tự đế quân.
 
Ước tức đắc kim ngân ngọc bảo
Chúc thi lai vũ điện phong vân
Tạ ân dưỡng mẫu tiên cung hiến
Chí hiếu từ thân địch phỉ cần.

Nhạc độc lão bà di chúc khế
Miếu đường thần nữ phó hương yên
Nhất môn mẫu tử trần vô đối
Vạn cổ thần tiên tục vị hoàn(?).
 
Sái lạc ức thiên vạn trượng nhạc
Tiêu dao tam thập lục cung xuân
Quốc vương long đại Đường Nghiêu? thịnh
Sơn thánh hồng hoằng Thuấn Ngu nhân.

Tốn vị phương cầu Hoa Mị phối
Kết nhân quang bản thuỷ tinh thần
Kình côn nhậm hướng sơn đầu đoạn
Miết ngạc không đầu thảo lý phân.

Thiên tắc tiên hề nhân tắc thánh
Gia vi hiếu tử quốc trung thần
Tuyết sương lưỡng lộ bình Man khấu
Phủ việt bát trì bái tướng quân.
 
Trúc bạch kiêm tương minh thịnh liệt
Sơn hà đới lệ ký nguyên huân
Lãn vi thế thượng trần ai khách
Hảo tác tiên bồng ngọc nhuận nhân.

Hộ quốc đẳng nhàn gian đại sự
Thăng thiên cảnh hội hoá sinh thân
Bảo đề tương dữ hưng đại? nhạ
Hộ quốc âm phù hữu đạo quân.
 
Xa giá phong trần nhàn nhất cục
Cung đài hương hoả thọ trường xuân
Phù Đổng thiên vương(?) dương thiết mã
Thuỵ Hương thánh tướng chú đồng nhân.
 
Kỷ hữu như Tản Linh Sơn Thánh
vi thánh vi tướng vi quân vi sư vi tiên vi thần,
đãng đãng hồ, nguy nguy hồ,
nan danh chi hỹ.

Tình cảnh niệm thuận thiên vạn bái
Nguyện đồng thiên địa phúc tư văn.

Thần tích Đinh Phi quốc mẫu của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ.

Nguyên văn chữ Nho

十八葉雄圖鞏固二千千瑞氣氲氤
凌霜骨格玉精神把托龍靈降下陳氣冒魁昂渾顯聖丰姿俊整異常人

三生香火辛纔見一枕風流夙有姻六歲嚴堂為壽域七年崚嶺祇慈親

時回故峒須勤學閑到灵山便採薪剪伐梧桐逢老叟欽承竹杖救生民

路見黑蛇𢫈牧竖口吟神咒措江津洞庭相到償功德玉傘迎来謝義仁

重貨萬金償不足神書一卷授其真玄机灵應由天上秘法希傳自帝君

約即得金銀玉宝祝施来雨電風雲謝恩養母先供献至孝慈親迪棐勤

岳瀆老婆遺嘱契庙堂神女付香煙一門母子塵無对萬古神仙俗未回

洒落億年干萬丈岳逍遙三十六宮春國王隆大唐卢(堯?)盛山聖洪弘舜禺仁

遜位方求花媚配結仁光本水晶神鯨鯤任向山頭断鱉鱷空投草裡分

天則仙兮人則聖家為孝子國忠臣雪霜兩路平蛮窛斧越癶持拜將軍

竹帛縑湘銘盛烈山河帶礪記元勳懶為世上陈哀客好作仙蓬玉潤人

護國等閒艱大事升天景會化生身保題相與興?偌護國陰扶有道君

車駕風塵閒一局宫臺香火壽長春扶董天?揚鐵馬瑞香聖將鑄銅人

幾有如傘靈聖山聖為聖為將為君為師為仙為神蕩蕩乎巍巍乎難名之矣

情景念㥧千萬拜
願同天地福斯文

Sử tích Sơn Tinh

Thủa Hoàng Đế mở muôn nước, Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ sau khi đã sát nhập được bộ tộc của Viêm Đế ở phương Nam, đánh đuổi tộc Cửu Lê của Xi Vưu – Ngô Thục ở miền Tây Bắc Việt và kết hợp Tiên tộc của bà Tây Thiên – Vụ Tiên ở dải núi Tam Đảo. Hoàng Đế Hữu Hùng Đế Minh dời từ cựu đô Ngàn Hống về vùng Phong Châu, lập Minh đô ở chân núi Thái Sơn trên miền Bắc Việt ngày nay. Vùng đất này trở thành đất tổ muôn đời của dòng họ Hùng dân Việt.

Kế nghiệp Hữu Hùng Hiên Viên là Đế Nghi hay Đế Nghiêu, thuộc dòng Viêm tộc, đóng đô ở 2 vùng đất chính là Đào và Đường, tức là ở Nghệ An và Phú Thọ. Đế Thuấn là một người thuộc Tiên tộc theo dòng dõi bà Vụ Tiên trên dải núi Tây Thiên, vì có lòng hiếu thuận động thiên tâm nên đã được Đế Nghiêu tín nhiệm, gả cho 2 người con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh, rồi nhường ngôi cho. Truyền thuyết Việt chép là Sơn Tinh lấy 2 vị công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung rước về Lịch Sơn ở Tuyên Quang.

Ba vị vua Hùng đầu tiên ở vùng đất tổ được thờ dưới “thụy hiệu” là Đột Ngột Cao Sơn (Hoàng Đế Đế Minh), Viễn Sơn (Đường Nghiêu Đế Nghi) và Ất Sơn (Ngu Thuấn Lộc Tục). Tam Sơn Thánh Tổ là 3 bộ tộc đã hợp nhất trong thời kỳ lập quốc họ Hùng, gồm Viêm tộc, Lạc tộc và Tiên tộc.

Núi Ba Vì nhìn từ động Lăng Sương

Tiếp theo, lịch sử Việt được lưu lại dưới truyền thuyết của Tản Viên Sơn, mà sự ra đời và sự nghiệp của vị Thánh tổ này hết sức phức tạp và đa dạng. Tản Viên Sơn có cha là ông Nguyễn Cao Hành, mẹ là bà Đinh Thị Đen, nhưng khi ông Hành tuổi đã 70, bà Đen khi đi tắm gội ở ngoài đồng thì có Rồng vàng xuất hiện phun nước, về cảm động có thai, sinh ra Thánh Tản. Như vậy, Rồng vàng mới thực sự là “bố đẻ” của Nguyễn Tuấn.

Không chỉ vậy, trong số các bậc “phụ huynh” của Tản Viên Sơn còn có bà dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, người sau đó đã lập chúc thư để lại toàn bộ khu vực Sơn Tây núi Tản lại cho con nuôi là Nguyễn Tuấn. Có tới 4 “phụ huynh” như vậy, Tản Viên Sơn Thánh thực chất là hình tượng của sự hợp nhất 4 dòng tộc, ngoài 3 dòng tộc của Tam Sơn Thánh tổ Hùng Vương đã thêm dòng Long tộc Rồng thiêng vùng ven biển Động Đình.

Năm tộc Việt thời Hùng Vương

Hoa sử kể, ông Cổn là thủ lĩnh đất Sùng nên gọi là Sùng Bá Cổn. Bá Cổn là cháu chính hệ của Hoàng Đế Hiên Viên. Thời Nghiêu Thuấn, Sùng Cổn được phân lo việc trị thủy nhưng không thành công, do ông tập trung vào việc đắp bờ đập ngăn hồng thủy. Cái tên “Cổn” thực ra tiếng Việt nghĩa là Cản, xuất phát từ cách “trị thủy” không hợp lý này của ông. Đế Thuấn đã bỏ Bá Cổn mà thay vào đó lấy con của ông là Vũ để lo việc trị thủy. Ông Vũ thay đổi cách làm của cha, không đắp bờ ngăn nước nữa mà đã khởi thông các dòng chảy để thoát nước. Nổi bất nhất là sự kiện ông Vũ đục bạt vách đá chắn trên sông Hắc Thủy ở Long Môn, dẫn nước con sông này qua núi Tam Nguy mà ra biển Nam Hải.

Còn sự tích Tản Viên Sơn thì chép: Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy.

Cây gậy thần mà Tản Viên có được từ Thái Bạch Thần Tinh trên đỉnh núi Tản đã dùng để đục đá, khơi cạn nước hồng thủy bên thác Vạn Bờ ở Hòa Bình. Tản Viên Sơn là Đại Vũ trị thủy, còn lưu truyền trong câu ca dao:

Mồng Bốn cá đi ăn thề
Mồng Tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Sự tích khác về Tản Viên Sơn chép Vương là một trong những người con của bà Âu Cơ và Lạc Long Quân. Đền Lăng Sương, nơi bà Đinh Thị Đen cảm động Rồng vàng mà sinh Thánh cũng là nơi thờ Tổ mẫu Âu Cơ, theo như ghi chép của cuốn Di tích thờ Tản Viên lưu tại làng Ngọc Nhị. Đen cũng là Ô, hay Âu trong tên Âu Cơ. Quốc mẫu Hoàng bà Đinh Thị Đen chính là Tổ mẫu Âu Cơ, hay là chính hệ của Hữu Hùng Hoàng Đế, tức là Sùng Bá Cổn.

Đình làng Ngọc Nhị, làng tạo lệ đền Thượng Ba Vì.

Ông Nguyễn Cao Hành trong chuyện này được chép có xuất xứ từ Hoan Châu, tức là dòng dõi của Viêm tộc theo hướng của Đế Nghiêu. Còn bà dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn đã di chúc “nhường ngôi” lại cho Tản Viên là Sơn Tinh Đế Thuấn, dòng dõi Tiên tộc ở vùng núi cao Tam Đảo.

Tản Viên Sơn sau khi có được cây gậy đầu sinh đầu tử đã đi xuống chân núi, gặp đàn voi hổ quấy phá ở xóm Cốc của đất Thủ Pháp. Thần Vương đã chỉ gậy niệm thần chú, chốc lát hổ Bắc voi Nam tụ ở 2 đầu gậy. Nay chỗ này là khu vực đền Hạ Tản Viên, vẫn còn tượng đá hình một con quái thú nửa Voi nửa Hổ kích thước khá lơn đang chầu.

Quái thú đền Hạ Tản Viên

Thần Vương vượt sông Đà (cũng bằng cây gậy thần chỉ nước nước cạn như việc đục đá trị thủy ở trên), sang bãi Trường Sa và cứu được con rắn thần bị trẻ mục đồng đánh chết. Con rắn đen này là Thủy Tinh con vua Động Đình. Bãi Trường Sa ở Ma Xá, Trung Độ xưa có tên là bãi Tang Ma ở gần cầu Trung Hà bây giờ. Tại đây có sự tích y hệt về việc một con rắn đã được mua lại của lũ trẻ mục đồng mà hóa kiếp thành bà Phan Thị, rồi bà Phan lấy con rồng là vua Thủy Tề Động Đình, sinh nhất bào ngũ tử, được 5 người con, 2 gái 3 trai. Bà Phan được thờ là Thủy Tinh Động Đình Tang Ma Thánh mẫu, tức chính là con rắn Thủy Tinh đã được Tản Viên Sơn cứu sống ở bãi Trường Sa.

Chính điện đình La Phù ở Thanh Thủy, Phú Thọ, nơi thờ Tản Viên Sơn, Thủy Tinh Động Đình Tang Ma Thánh mẫu, Quý Minh Đại vương.

Sự kiện Đại Vũ trị thủy đã được truyền thuyết hóa thành cuộc giao tranh Sơn Tinh – Thủy Tinh vô cùng ác liệt dưới chân núi Tản. Từ đó mà gắn với tên những quả đồi, núi ở đây như núi Chẹ, núi Đùng, núi Sọt… mà Sơn Tinh dùng để chặn nước chế ngự thủy tai. Rồi với sông Tiểu Hoàng, tức là sông Tích, là đường tiến quân của Thủy Tinh. Đầm Đượng ở khu vực Suối Hai ngày nay là nơi mà Thủy Tinh thua trận, phải rút về theo 16 cửa nước. Đông cung Tản Viên ở xã An Vệ nay là đền Và là nơi trấn thủy trên lối thoát nước từ vùng Bể Cạn xưa (Đầm Đượng Suối Hai) ra sông Tích.

Đình Thụy Phiêu, bên đầm Đượng, ngôi đình cổ nhất Việt Nam hiện nay.

Nhờ công lao trị thủy to lớn mà Nguyễn Tuấn được tôn là Tản Viên Sơn Tam Vị Quốc chủ Đại vương. Tam Vị không phải là 3 vị thánh khác nhau mà chỉ có 1 vị Quốc chủ, lấy theo tên núi Ba Vì, mà cổ sử Trung Hoa gọi là Tam Nguy. Đúng ra tên thánh phải là Tam Nguy Sơn Tốn Vương Quốc chủ, vị vua chủ của vùng phía Tây (quẻ Tốn chỉ hướng Tây) ở núi Tam Nguy.

Cùng với công lớn trị nạn hồng thủy cứu dân, Đại Vũ Tản Viên còn là người đã khai sáng văn hóa và tạo ra các nghề nghiệp khác nhau. Lúc thì là Tản Viên Sơn dạy dân đi săn ở khu vực Mang Sơn (núi Mường), lập hành cung tại đó. Lúc thì ra Tiểu Hoành giang xem đánh cá, lập cung điện ở Liệp Tuyến (Khánh Xuân điện). Lúc thì Vương đến khu Cổ Đằng, là vùng “hạ điền” – ruộng hè mênh mông xưa, lập Nam cung điện, nay là đền Lác ở xã Đồng Thái, Ba Vì. Cày ruộng, đánh cá, săn bắt, khơi sông trị thủy, sáng tạo ra Hà đồ Lạc thư (gậy thần sách ước)…

Bia đình Đồng Bảng, xã Đồng Thái, là nơi có Bắc thần cung Tản Viên Sơn Tam Vị Quốc chủ.

Tản Viên Sơn hay Vua tổ phía Tây như vậy đã nối dõi 3 dòng tộc của thời Hùng Vương Thánh Tổ trên đất Phong Châu (Tây Thổ) rồi kết hợp thêm dòng tộc phía Đông của Thần Long Động Đình mà sinh ra các thần Rồng, anh em Ngũ vị của Lạc Long Quân. Dòng phía Đông này được đại diện bằng ngôi vị của Hữu kiên thần Quý Minh đại vương, vì Quý là thứ Ba, chỉ hướng Đông. Quý Minh cũng là vị thủy thẩn Trưởng Lệnh đã ở lại cai quản sông Đà (Đà Giang tôn thần) tại đất quê mẹ Thủy Tinh bên bãi Tang Ma, nơi ghềnh Bợ.

Đền Thượng núi Ba Vì xưa tới nay chỉ còn lưu lại 3 pho tượng đá cổ. Theo thần tích của làng Ngọc Nhị (làng tạo lệ của đền Thượng Tản Viên) thì đây là Tản Viên Sơn Tam Vị Quốc chủ Đại vương, Tả thánh Quý Minh Đại vương và Thái Bạch Thần Tinh (cũng là Sơn Tinh hay Cao Sơn).

Tản Viên Sơn cũng chính là Kinh Dương Vương, người có tài đi dưới Thủy phủ rồi lấy con gái Thần Long Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đi qua bãi Trường Sa, thấy nàng Âu Cơ, ái thiếp của Đế Lai ở đó mà đem lòng yêu mến… Đây là đoạn Rồng vàng phún thủy khi bà Đinh Thị Đen cảm động hoài thai ở Lăng Sương. Do đó Đế Lai là ông Nguyễn Cao Hành, theo dòng Viêm tộc của Đế Nghiêu, mà Hoa sử gọi là Bá Ích. Bà Đinh Thị Đen là chính dòng Hoàng Đế họ Cơ, tức Âu Cơ. Lạc Long Quân là con của Đại Vũ, mang tên Khải, người đã đánh đuổi Bá Ích, cướp lấy ngôi vị thống trị vạn bang, khởi đầu (Khải) nhà Hạ, triều đại thế tập đầu tiên trong lịch sử Hoa Việt.

Rồng vàng và Đinh Phi Thánh mẫu ở đền Lăng Sương.

Đền Lăng Sương tới giờ vẫn có tượng thờ Rồng vàng ở chính cung sau tượng Đinh Phi Thánh mẫu. Bài thơ của đền Lăng Sương, nơi sinh thánh Tản và quê của tổ mẫu Âu Cơ ghi rõ việc này:

Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần
Bả thác Long linh giáng hạ trần
Thái Thủy diệc vi Thiên Thượng Mẫu
Cửu hoài hà nhược thế gian nhân.

Dịch thơ:

Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu
Hoài thai lâu lạ khác bao thường.

Quá trình “sinh nở” hợp nhất 4 tộc người giữa cha Rồng mẹ Tiên để thành một thiên hạ thống nhất tất nhiên là lâu và khác thường. Thời sơ sử Hùng Vương của Nghiêu Thuấn Vũ kết thúc để bước sang thời lịch sử từ nhà Hạ, bắt đầu với bước tiến khai phá vùng duyên hải ven biển Đông.

Bốn ngàn năm nước gọi Thượng thần, biển Bát Rồng bay truyền tích lạ…

Ngũ tộc Hoa thời Tam Đại

Di tích thờ Tản Viên Sơn

Thư tịch của làng Ngọc Nhị, tổng Cẩm Đái, huyện Bất Bạt, tinh Sơn Tây (dịch từ bản khai năm 1938).

Xưa thời Hồng Bàng Thị, Kinh Dương Vương là dòng Thần Nông Thị. Kinh Dương Vương húy là Khư (quốc sử chép thành Lộc Tục), sinh ra Lạc Long Quân, húy là Nghi (quốc sử chép thành Sùng Lãm). Thời đó con gái của Đế Lai là Âu Cơ, tên là Mỹ (còn có tên là Thầm) ở tại động Lăng Sương (có thuyết cho rằng tổ của Vương Mẫu ở tại đó, thuộc huyện Thanh Nguyên), đi ra bãi Trường Sa (có thuyết cho rằng Vương Mẫu đi hái dâu ở bãi đó tại xã Sơn Bạn, huyện Bất Bạt). Long Quân yêu thích nhan sắc đó nên đã cùng quyến luyến. Mười tháng mang thai sinh ra trăm trứng. Sau khoảng một tháng (có chỗ cho là bảy ngày), trăm trứng nở ra những người con trai, không cần bú mớm mà vẫn lớn lên. Lúc mới sinh ra là ở Mộc Châu nên Mộc Châu là đất tổ.

Một ngày Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, không cùng chủng loại, khó bề hợp tính, nên phải chia biêt, phân 50 người con theo cha về biển là Thủy tinh:

Lân Lang, Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Đổng Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Diệu Lang, Tĩnh Lang, Vân Lang, Tập Lang, Ngõ Lang, Cấp Lang, Tiếu Lang, Chẩn Lang, Hoan Lang, Chiêm Lang, Khương Lang, La Lang, Thăng Lang, Tán Lang, Quyền Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hạn Lang, Liệt Lang, Ưu Lang, Thống Lang, Lý Lang, Thế Lang, Tường Lang, Tróc Lang, Tang Lang, Cốc Lang, Minh Lang, Tửu Lang, Chiểu Lang, Kết Lang, Điểm Lang, Trưởng Lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Thai Lang, Triệu Lang, Ích Lang.

50 người con theo mẹ lên núi là Sơn tinh:

Hương Lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Võ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Hắc Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế Lang, Thỉnh Lang, Mã Lang, Chiếu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Cẩm Lang, Xuyến Lang, Yêu Lang, Yếu Lang, Phái Lang, Tài Lang, Lạm Lang, Triệu Lang, Quốc Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Nhị Lang, Huyền Lang, Á Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Biện Lang, Triều Lang, Quản Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Thuật Lang, Mãn Lang, Long Lang, Tỷ Lang, Tuấn Lang, Ninh Lang

Lên núi xuống biển, có sự thì cùng gọi nhau.

Vương tên Hương Lang, tức là tôn húy Tản Viên Tam Vị Đại vương vậy.

Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy.

Đến khi quân Ngô nước Tần khởi binh, thỉnh Vương đến giúp, quả nhiên được đại thắng (hai chuyện này theo y như bản cũ mà không thể khảo được), tấu mừng.

Sau Đại vương theo miền biển mà về, vào cửa biển Thần Phù, lại qua các quận, muốn tìm được đất tốt, lên núi Đông Nhạc, Yên Tử, xem cảnh trí, nhân qua ở Phạm Xá, Hoa Quật. Rồi đó ngược sông Cái mà qua đất Long Biên (có chỗ cho là Đỗ). Tiếp tới bến Chấn, muốn ở lại đó nhưng rồi lại ngược sông Lô lên thượng nguồn, qua huyện Phúc Lộc, tới bến Bạn Phiên, nhìn về núi xanh Tam Đảo, đất quý hội loan là đô thành cũ của Hùng Vương. Nhân đó về Mộc Châu xem ngắm phong thủy, theo thế rồng uốn lượn cho đến núi Tản Viên, thấy có 3 ngọn cao vót hơn vạn nhận, thật là đẹp thay, mờ tỏ không thể gọi tên được. Lại thêm nhiều xóm thôn dân cư trù phú tập trung, bất giác thấy lòng trong sáng, chất phác mà thích thú vô cùng. Bèn mới mở một con đường lên, lập cung ở đỉnh đó, thuộc đất của sách Thủ Pháp (nay là Thượng thần cung theo hướng Cấn – Khôn làm chỗ ngự chính, còn Hạ thần cung là nơi để cầu đảo, cung Đông Tây là nơi cáo chúc, Nam Bắc thần cung là nơi tạm trú).

Vương lúc thì đi ra sông Tiểu Hoành xem đánh cá, qua các huyện Ma Nghĩa, Phúc Lộc, lạc tới xứ Bi Bi xã Cổ Đằng, thường tạm trú ở đó. Đến xã Tam Vật Lại thấy phong cảnh đẹp mà lập hành cung. Lại đi xem đánh cá ở sông Tiểu Hoành, qua tám xã Thuỵ Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, rồi xa giá trở về cung, xa trông cửa biển Thần Phù, sai người dân không được làm tắc đường thủy.

Lại thường đi săn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung Mang Sơn, lưu ruộng thờ để cho việc thờ cúng, định việc hàng năm tiết Xuân, tiết Đông nhân dân các xã theo như lệ đánh cá cùng nhau thờ phụng. Tháng 8, tháng 9 xã Tam Vật Lại phụng đón tới xã Khả Lê, lập làm điện thờ bằng tranh cỏ, đánh cá để tế các thần, cùng người dân địa phương đều đến đền để làm lễ phụng thờ.

Trước đó, Hùng Vương có một người con gái là Mị Nương, dung nhan tuyệt đẹp. Thục Vương Phán đến cầu hôn mà không được. Đến khi Vương gặp thấy thích mà cầu hôn. Đang lúc Thủy Tinh cũng đến tranh cưới, nên cùng đua thử phép tiên. Vương tay cầm gậy sắt, chỉ núi núi lở, chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn. Lại có thể ra vào trong đá như không. Thủy Tinh muốn chống với Vương, nhằm Vương, niệm thần chú, phun nước thần. Trong chớp mắt không trung hóa thành mây mưa, trời đất chuyển động.

Hùng Vương nói: Ta chỉ có một con gái, giờ có hai người hiền. Ai mà có sính lễ đem đến trước, ta sẽ gả cho.

Vương bèn chuẩn bị sính lễ đến trước, đón Mị Nương về động trên núi. Sau ba ngày, Thủy Tinh mới tới, tức giận không được nên dẫn các loài thủy tộc mà đánh đến mà chiếm lấy. Vương và Hùng Vương ngầm buông lưới sắt ở bến Thụy Hương của huyện Từ Liêm mà ngăn binh thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mới mở riêng một dải sông nhỏ cắt ngang từ Lị Nhân tới vùng sơn cước Quảng Oai nối lên thượng ngạn cửa sông Hát, ra sông Cái nhập vào sông Đà mà tấn công sau núi Tản Viên. Lại mở một sông nhỏ cắt ngang, gọi là sông Bờ theo mặt trước của núi Tản Viên.

Vương mới dùng phép thần, gọi người dân trên núi lấy tre làm rào giắt trên núi để ngăn. Lệnh cho người dân cứ thấy mai ngạnh nổi trên nước trước rào thì đều chém. Thây rắn, cá, ba ba, thuồng luồng nổi tắc cả dòng sông. Thủy Tinh lấy làm thù hận, nuôi quân tích oán, mỗi năm tháng Bảy tháng Tám thường đến khiêu chiến ở dưới núi, nên dân thường bị gió to nước lớn làm hại. Nguyên là Vương có một cuốn sách ước có phép tiên trường sinh, pháp lực rất lớn nên quân thủy tộc không thể gây họa.

Vương có tài dẹp loạn, giữ nước giúp dân, gìn giữ xã tắc nên người đời đều xưng là Chúa tể quốc gia Phúc thần đệ nhất. Mỗi khi lập triều đại mới thường mong có âm trợ nên sai sứ giả đến phong tặng thêm.

Vương đệ là Quý, mọi đức đều tốt, quảng đại khoan hòa, có tài lạ chí lớn, giúp nước yên dân, giúp vững xã tắc, ở bên đỉnh núi Nam, tên hiệu là Quý Vương Cao Sơn Tứ vị.

Lại tham khảo Giao Châu ký của Lỗ Công nói đến sự việc xưa tương truyền rằng Đại vương thường nói:

– Ta vốn là Sơn Tinh, nơi sống ở Nam Việt, gọi là Quốc chủ Đại Vương, cùng với Thủy Tinh ra trận giao chiến, thắng ở Phong Châu, nên nhân đó sống ở núi Gia Ninh. Lại xưng là cháu họ Nguyễn, sinh vào thời Chu Noãn Vương.

Vương thọ 109 tuổi, ngày 4 tháng 5 năm Giáp Tí bay lên hóa sinh. Trước đây Vương thường đi vãng du săn bắn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, nghỉ ngơi tại đó, lập thành cung xá tên gọi là điện Mang Sơn. Lấy xã An Diệu làm dân tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn hai con để làm nghi thức cúng tế.

Vương thường đi vãng du đến sông Tiểu Hoành xem đánh cá tới xã An Vệ huyện Ma Nghĩa thấy một khu Thanh Lan Bảo Sơn, có hình rồng chầu về tổ, mới lập làm cung xá để ở, lấy xã An Vệ làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.

Vương thường đi săn bắn tới xã Cổ Đằng huyện Ma Nghĩa nghỉ ngơi, lập cung xá gọi là Nam cung điện, ở xứ Bi Bi lập 4 cột đá, 8 con lợn đá gồm 1 lợn mẹ và 7 lợn con để lưu làm di tích. Lấy xã Cổ Đằng làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.

Vương thường đi vãng du sông Tiểu Hoành xe đánh cá đến xã Tam Sơn huyện Phúc Lộc lập làm cung xá một dãy, tạm trú ở đó, nay gọi là điện Cửu Miếu. Hàng nằm các xã Tam Sơn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, Lễ Toàn, An Phúc, Tung Cao lấy ngày 10 tháng 10 phụng nghênh tại điện Quán Thánh đến điện Cửu Miếu, cùng nhau thờ cúng, tới ngày 15 đánh cá để làm lễ cúng tế.

Đại mẫu của Vương thường du ở bãi Trường Sa, gặp Lạc Long Quân đi đến đó (tới xã Bạn Sơn tạo đền một dãy để phụng thờ, gọi là đền Trung cung, lấy xã Sơn Bạn làm tạo lệ phụng thờ hương hỏa, hàng năm mỗi xuân tháng 2 dùng lợn một đầu để làm nghi lễ cúng tế).

Các triều đại có phong mỹ tự. Các đạo sắc chỉ này được đựng trong 10 kiện…

(phần dưới là kê nội dung các sắc chỉ phong tặng mỹ tự, thời gian tu sửa các miếu điện, bạn tặng các tế phẩm cho các cung điện khác nhau thờ Tản Viên Sơn).

Đợi tuần tháng Tám cá ăn thề

Truyền thuyết cổ đại kể rằng, thời Đường Nghiêu hồng thủy mênh mông, nước ngập tới lưng trời. Vua Đại Vũ đi xem xét các nơi rồi đến đoạn hiểm trở nhất của sông Hắc Thủy, đục đá phá mỏm núi chắn ngang sông, khơi thông nước lũ. Thiên Vũ Cống của Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”. Nơi Đại Vũ phá đá trị thủy gọi là Vũ Môn. Vũ Môn có nước chảy xiết, hằng năm cá chép tập trung đến đây, con nào vượt qua được Vũ Môn thì hóa rồng. Nên nơi đây còn gọi là Long Môn hay Vũ Long Môn.

Đối với người Việt, Cá vượt Vũ Môn là hình tượng rất thân thuộc, đã đi vào thơ văn, vào tranh dân gian, vào các mảng chạm khắc trang trí trong các đình làng quê lối xóm. Người Việt có câu ca dao:

Mồng bốn cá đi ăn thề

Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Vũ Môn là nơi nào mà ca dao người Việt lại nói tới rõ ràng cả ngày tháng như một phong tục lâu đời vậy?

Chạm khắc cá hóa rồng ở đình Đông Viên, xã Đông Quang, huyện Ba Vì

Cuốn sách thờ cổ lưu truyền ở vùng chân núi Ba Vì là “Tản Viên Sơn từ di tích” có đoạn sau: “Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Tản Viên đại vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, bèn đọc ước chú làm cho đá vỡ tung, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai liền hết.”

So sánh đoạn sự tích này với truyền thuyết Trung Hoa cổ đại thì bất ngờ nhận ra rằng vua Đại Vũ trị thủy thời Đường Nghiêu chính là Tản Viên Sơn Thánh ở vùng núi Ba Vì. Sông Hắc Thủy, nơi Đại Vũ dùng “thuật thần tiên” bạt đá trừ thủy hoạn, vốn là tên của dòng sông Đà. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách “Kiến văn tiểu lục” đã ghi:

Dòng chính có một nhánh chảy xuống thành sông Hắc Thủy vào nước ta… đến sông Kim Tử thì nhập lại thành sông Đà. Sông này nước rất trong… Đường thủy khó đi với 83 ghềnh thác có tiếng hiểm trở mà Vạn Bờ là khó khăn hiểm trở nhất.

Còn nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, người mà quê hương và bút danh gắn với vùng núi Tản sông Đà có bài thơ “Tự thuật” như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy (sông Đen) của dòng sông Đà:

Văn chương thời nôm na,

Thú chơi có sơn hà,

Ba Vì ở trước mặt,

Hắc Giang bên cạnh nhà.”

Một đoạn sông Đà ở khu vực Vạn Bờ.

Long Môn, nơi vua Vũ đã đục thông lòng sông Hắc Thủy, khơi dòng dẫn nước qua núi Tam Nguy về Nam Hải, là đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi vòng qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển. Sách “Đại Nam nhất thống chí” đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long Thuỷ. Hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua bờ Long Thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5-6 trượng, người ta gọi là Ao Vua, tức là bến sông Vạn Bờ xưa, thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc.”

Mỏm đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” (Chinh phạt Đèo Cát Hãn về qua bờ Long Thủy) của Lê Thái Tổ đề khắc tháng ba năm Nhâm Tý (1432) nay vẫn còn lưu trong khu di tích đền Thác Bờ. Đây là những minh chứng rõ ràng cho tên gọi Long Môn xưa của Thác Bờ trên sông Đà.

Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn còn chép: “Thác Bờ ở địa phận động Dĩ Lý và Hào Trang thuộc Mộc Châu. Một ngọn núi đứng sững giữa dòng sông Đà. Đá lớn lởm chởm. Mỗi năm đến ngày 8 tháng 4 từng đàn cá ngược dòng bơi lên những chỉ có vài con cá chép là lên được. Sách Giao Châu ký viết rằng: Có Long Môn nước sâu đến trăm tầm, cá lớn vượt lên đến đấy sẽ hóa thành rồng. Sách Sơn Đường dị khảo viết: Sông Long Môn ở huyện Mông, phủ Gia Hưng, nước An Nam. Nước sông chảy đến đấy thì hai bên bờ đá lớn chắn ngang, nguy hiểm. Ở giữa mở ra ba đường, nước tung tóe, bay xa đến mấy trượng, ầm ầm như sấm dội trống vang, xa hơn trăm dặm mà vẫn còn nghe được. Đến đây thuyền phải kéo lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang lắm cá Anh Vũ. [Chỗ các sách trên nói tới] chính là đây… Hạ lưu của Vạn Bờ… có núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Vũ Long Môn là Thác Bờ trên sông Đà, nơi Tản Viên Sơn Thánh đã khơi dòng trị thủy. Xứ Ngòi Lạt là quê hương của Sơn Thánh, nằm 2 bên bờ sông Đà ở đoạn giáp núi Ba Vì, thời Nguyễn thuộc tổng Tu Vũ. Ngày nay con ngòi này vẫn còn mang tên Ngòi Lạt chảy từ ở địa phận huyện Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình sang huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ.

Truyền thuyết ở Ba Vì kể Ngòi Lạt là đường nước mà Thủy Tinh đã mở để đánh tập hậu vào mặt Tây núi Tản. Nơi đây Sơn Tinh dùng lạt hóa ra lũy tre, cắm chông đá (Đá Chông) để chặn quân của Thủy Tinh. Cửa Ngòi Lạt chảy từ núi Tản ra sông Đà nay là Xóm Lặt, nơi có đền Hạ thờ Tản Viên Sơn Thánh ở xã Minh Quang, huyện Ba Vì. 

Núi Tản nhìn từ sông Đà.

Núi Tản như thế là ngọn núi có cây ngải tiên, hoa rơi xuống ngòi, cá đớp được vượt Thác Bờ sẽ hóa rồng. Ở khúc sông Đà này có nhiều cá Anh Vũ, là loài cá có hình dáng tựa như cá chép nhưng có chiếc mõm rất dày, cong, có màu sắc như mỏ vẹt. Cá Anh Vũ dùng chiếc mõm dày khỏe này để bám vào vách đá, ăn rêu nơi nước chảy xiết. Đến mùa sinh sản tháng 3-4, loài cá này bơi ngược dòng để tìm những hốc đá nước sâu mà đẻ trứng. Hình ảnh những con cá Anh Vũ vượt ghềnh Thác Bờ đã được điển tích hóa thành cá hóa rồng ở Vũ Môn.

Cá đi ăn thề còn là hình tượng của việc Sơn Tinh cùng hẹn với Thủy Tinh đến Phong Châu nơi vua Hùng kén rể để thi tài. Cá vượt Vũ Môn cũng là việc vua Đại Vũ trị thủy, khơi thông dòng sông, vượt qua được nạn hồng thủy, chiến thắng Thủy Tinh.

Tương truyền vua Đại Vũ khi trị thủy đã nhìn hình vẽ trên lưng một con Long mã mà sáng tạo ra Hà đồ. Theo đồ hình này thì số 4 là con số chỉ hướng Tây, số 8 chỉ hướng Đông, số 5 chỉ trung cung. Trong câu ca dao, cá tụ họp ăn thề vào ngày mồng 4 ở hướng Tây (Sơn Tây), để đi sang hướng Đông (mồng 8), vượt qua trung cung (số 5 – ngũ – Vũ môn) mà ra biển lớn mà hóa rồng. 

Long mã cõng Hà đồ.

Trong Ngũ hành, cá thuộc về hành Thủy (nước), Rồng thuộc về hành Mộc. Thủy sinh Mộc là một giai đoạn trong Ngũ hành tương sinh, nói về sự phát triển từ những nền tảng vật chất (hành Thủy) mà đạt được sự thăng hoa trong xã hội (hành Mộc). Đại Vũ Sơn Tinh thật sự là “cá hóa rồng” khi khơi dòng Hắc Thủy Đà Giang ở Long Môn Thác Bờ, rồi lên làm chủ thiên hạ họ Hùng của người Việt.

Hình tượng cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương ngàn năm của Tản Viên Sơn Thánh, vị vua lớn thời lập quốc, đã tìm tòi sáng tạo ra những tri thức về thế giới và nhân sinh (Hà đồ, Ngũ hành), nhờ đó nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

Một lần nữa xin dẫn lời của Tản Đà, người được nhà văn Hoài Thanh xếp hàng đầu trong “Thi nhân Việt Nam”. Bài thơ “Thề non nước” với lời nguyện nước thề non lấy từ điển tích cá đi ăn thề và truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh ở vùng núi Tản sông Đà.

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi, không về cùng non

Nhớ lời “nguyện nước thề non”

Nước đi chưa lại, non còn đứng không…

Bài viết đăng báo Lao động cuối tuần ngày 27/9/2020.

https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/doi-tuan-thang-tam-ca-an-the-839005.ldo

Sự tích các vị thành hoàng xã Quế Lâm

IMG_0062

Sự tích các vị thành hoàng xã Quế Lâm (nay đổi là xã Quế Trạo)

Năm Hưng Long thứ tư, ngày 15 tháng 1, lương thần phụng sao một cuốn thần tích bản chính.

Chủ bộ quan triều Hùng Chính Lâm Đại vương họ Đặng húy Hồng, cùng với bà họ Trần húy Đoan, sinh một bọc nở được ba người con trai, con đầu tên là Cốt Sơn, thứ hai là Giao Sơn, thứ ba là Húc Sơn. Năm 24 tuổi cùng với cha cùng giúp vua Hùng thứ 18 là Duệ Vương đánh Thục Vương. Bản phả cổ, Trung bộ, hào thứ 6 quẻ Khôn.

Xưa nước Việt ta triều Hùng khai mở thánh đồ, mười tám đời vận đế thánh vua sáng, núi xanh vạn dặm dựng nên dáng đô thành cung điện, giữ phép trị nước hơn hai ngàn năm, mãi mãi giúp dòng dõi vững như bàn đá, mở vật giúp người quản mười lăm bộ, thế lớn mạnh trước phiên thần, hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, lưu truyền hương lửa ở núi Hùng, đời đời cha truyền con nối, cùng xưng tên là Hùng Vương, ngọc trắng xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của Bách Việt. Người đời sau có thơ ca ngợi rằng:

Triều Hùng một mối các vương hầu

Mười tám đời truyền tên giống nhau

Năm lẻ hai ngàn dòng nhánh mãi

Lệ trời điện đẹp vững dài lâu.

Kể rằng thời cơ đồ họ Hùng mười tám lá truyền tới Duệ Vương đóng đô ở Bạch Hạc bên sông Việt Trì, đặt tên là nước Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Vua có tài hùng mưu lớn, tư chất minh thánh, kế nghiệp tổ dựng tông bồi, vững mạnh mười bảy đời Hùng đồ, trong sửa đức văn, ngoài phòng biên giới, lấy việc hưng bình làm chí hướng mà yên định Trung Quốc. Đương khi đó ở xứ Sơn Tây có một Chủ bộ quan, quê ở xứ Tuyên Quang, người châu Tụ Long, là dòng dõi danh tướng nhà họ Hùng, được Duệ Vương khi ấy phong là Chủ bộ quan. Khi đó triều Hùng yên sự, bồn biển thanh bình. Vua ở quê người núi Tiên, núi sông nước cũ, thấp cao Thần Phù Yên Tử, ngày hồng mây trắng, gió trăng hoa quả lúc lên khi xuống, trên dưới núi xanh nước biếc, bốn biển yên ninh.

Chủ bộ quan cũng đi chu du khắp phong cảnh thiên hạ, núi sông bốn hướng, qua sông ra bến, tản bộ dạo núi. Hoặc lúc đàn reo trúc múa, thơ văn gói cả đất trời, nhạc phượng ca loan, sắc tiếng Bồng Lai, thích gặp khi Tam Giang chủ trương câu cá, đón trăng nơi Ngũ Hồ theo dấu tiên, chơi ngắm tới lúc sương ráng hội cảnh, mây bay vạn hình như cổ, nước chảy quanh núi xanh, cuộn đẹp rời đi như đất trời hé lộ, thánh Nam, thần Bắc, ra vào phong cảnh chốn Trời Nam.

Một ngày Chủ bộ quan đi đến xã Quế Lâm (tức Quế Trạo), huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới. Ông thấy xã Quế Lâm có địa thế nước dạt dào, núi vời vợi, đá nghiêng nghiêng, rồng bay hổ giữ, sông vạch núi theo. Phía trước có sông như hình rồng lại chầu. Phía sau có dãy núi cúi phục. Kim tinh dẫn mạch, tất cả đều quay về chầu ở đất này. Khi đó đang mùa xuân, khí trời ấm áp, khắp nơi khoe sắc. Ông nhận thấy là một vùng có thế cục quý giá, mới lập hành cung ở đất này, gọi tên là cung Thưởng Xuân, rồi ở lại đó.

Khi đó Chủ bộ quan lấy một người con gái là dòng dõi đời thứ sáu của họ Hùng, tên là Đạm Nương, lập làm đệ nhất cung phi, rước về cung Thưởng Xuân. Ở được vài năm thì bà Đạm Nương không bệnh mà mất. Lúc đó Chủ bộ quan đã 38 tuổi. Ông xem chọn được đất tốt để chôn cất tại đó (chôn tại đất Đông Thụy). Ông trở về cung ở xã Quế Lâm. Được ba bốn tháng, một hôm Bộ quan đi chơi đến xã Hoa Ngạc. Khi đó xã Hoa Ngạc có một người họ Trần tên Bảo, lấy người ở xã Quế Lâm là bà Nguyễn Thị Đường. Uyên ương hợp bạn, loan phượng vui bầy, tiếng đàn tiếng thơ đẹp vần, chiêng trống múa ca, vẻ mê ngày xuân bướm lượn, tình thư cưu thanh tốt. Thế rồi sinh được một con gái tên là Thụy Nương. Tuổi 20 mặt phấn má đào, ánh sắc như nước, nhan sắc tươi đẹp, phong tư yểu điệu, lại là người có bốn đức công dung ngôn hạnh không thiếu đức nào, thực là Hằng Nga trên thượng thế, là bậc quốc sắc đương thời.

Lúc ấy Chủ bộ quan du ngoạn nơi đất đó (tức là xã Quế Lâm), bỗng gặp Thụy Nương ở trên đường. Nhìn thấy nhan sắc của Thụy Nương, lòng vô cùng thích thú. Ông triệu nhân dân Quế Lâm đến hỏi. Dân nói đó là con gái nhà họ Trần, tuổi đã 24, thơ Đào Yêu chưa có người nghe ngâm. Ông nghe nhân dân nói vậy mới mời triệu ông Bảo đến, đãi tiệc thật hậu, xin được cùng Thụy Nương kết làm vợ chồng. Ông Bảo đồng ý, trở về nhà nói với Thụy Nương. Thụy Nương cũng vui lòng, đợi ngày lành tháng tốt định hôn lễ, sánh duyên lành kết hợp. Bộ quan mới cưới đón về nơi cung Quế Lâm. Được vài năm, tình nồng loan phượng, hòa hợp thư cưu, chú chuyên vào lầu nguyệt, tưởng vui buồn như giấc mộng trên đời, nhã hứng duyên hảo hợp phòng khuê. Tất thêm kỹ duyên tới điềm rắn ấu, ngắm trông điều lành mà chưa hề thấy.

Một hôm đang lúc ngày giỗ tiên tổ, vợ chồng mới cùng nhau than rằng:

– Ngoài ba mươi mà chưa có con là tội lớn bất hiếu. Nhà ta nay tuổi đã cao mà chưa mộng được điềm gấu rắn. Hay là do phạm phải điều dặn dò của cha mẹ, tổ tông nào đó. Chi bằng chia của để cầu phúc, yên được lòng người, trời mới có thương cho.

Do đó mới đem chia hết gia tài vào các đền thần chùa phật, chỗ nào chưa có nơi đều tu sửa, để cầu sinh được con. Khi ấy Bộ quan cho lập một ngôi chùa ở xã Quế Lâm, gọi là chùa Phù Long. Ngày thì tiến cúng hương hoa. Đêm thì tụng niệm chân kinh. Được ba bốn tháng, một hôm buổi tối Ông cùng với Thụy Nương đang ngồi ở trong chùa, cảm thấy mông lung. Bỗng thấy trước chùa có ba quả núi dựng cao, ở giữa có một thần tướng cưỡi hổ đen, đứng trên ba ngọn núi mà gọi Thụy Nương ra, nói rằng:

– Ba quả núi này tên một là Cốt Sơn, một là Giao Sơn, nữa là Húc Sơn. Hôm nay gia đình các ngươi có đức cầu đã nhiều. Ta đem ba ngọn núi này cho nhà các ngươi. Ngày sau tất sinh được ba con trai theo như mệnh này.

Dứt lời, lại thấy ở trên núi có một tiếng động lớn.  Chốc lát trong núi bay ra ba con rồng trắng, bay thẳng đến nằm bên thân Thụy Nương. Thụy Nương giật mình tỉnh dậy, mới biết là một giấc mộng Kê Vàng, tai vừa nghe bầy gà gáy sáng, phương Đông trắng dần. Bèn đem những điều trong mộng kể với Bộ quan. Bộ quan liền nói rằng:

Nhà ta phúc dày nên Trời đã biết thấu đó. Mộng này tất là Trời giáng điềm lành, sẽ sinh được quý tử. Dứt lời, Ông mới ngâm một bài thơ luật:

Tích thiện nhiều năm tất có nền

Hoàng Thiên ứng mộng đẹp cho điềm

Ba rồng chầu đến, tỏ điều tốt

Thêm đức nhà ta mừng sắp nên.

Ngâm xong Ông thuật lại sự việc trong mộng bằng cách viết lên vải lụa để cất cho mai sau. Lại thấy Thụy Nương có mang thai. Mang thai được 13 tháng tới năm Giáp Tý ngày 11 tháng 1. Tối đó Bộ quan nằm ở trong cung sở (tức cung Thưởng Xuân ở xã Quế Lâm), hồi hồi như mộng, bỗng thấy bên ngoài cửa vang lên ba tiếng kêu lớn, gọi Bộ quan rằng:

– Xin hãy mau mở cửa.

Ông bàng hoàng liền mở cửa đi ra. Nhìn khắp nơi không thấy ai, nhìn xa như từ trên trời có khí trời thanh hòa, chỉ thấy một đám mây trắng từ phương Tây bay đến. Trong khoảnh khắc đám mây lại biến mất. Ông lấy đó làm lạ mà không biết là điều gì.

Tới ngày hôm sau (tức ngày 12 tháng 1) mới thấy Thụy Nương sinh được một bọc, nở ra ba người con trai. Lúc đang sinh trên trời có ba tiếng sấm nổ, khí lành bay khắp, mùi hương thơm nức. Sinh được một trăm ngày sau thì Bộ quan theo sự việc trong mộng mới đặt tên người con trưởng là Cốt Sơn, người con thứ là Giao Sơn, người con út là Húc Sơn.

Năm 8 tuổi được vào học với Hiên Đường tiên sinh, xưng rằng:

Đây là một gia đình vững mạnh mới có điều phúc thế này, sinh được những người con trai có học vậy. Có ngày sẽ kiêm toàn văn võ, là những người con làm nổi danh gia đình.

Đến khi 15 tuổi, những người con không có sách vở của bách gia nào chưa xem. Người người cùng gọi là thánh đồng. Lại rất giỏi đấu cung tên, đọc binh sách Thái Công. Mỗi khi ngồi đàm thoại nghị luận, bạn bè hai bên không ai không kinh phục, đều xưng là lạ, cho là kỳ tài trong thiên hạ. Những bậc tuấn tú của thế gian so như kém cỏi. Các vị như rồng gặp mây mưa, những người khác như vật trong ao tù. Nên mới sáng tác một bài thơ vịnh ba ông rằng:

Sông dài bao dẫn hội màu trời

Sinh xuất chân Nho há ở nơi

Khen rộng sớm khuya cao tiếng giá

Cùng như huynh đệ ít trên đời.

Một ngày khí trời trong xanh, mặt trời mới ló, khi đang vui chơi với bạn bè, ba ông có hứng làm bài thơ luật vịnh rằng:

Mặt trời mới ló vạn dặm xuân

Ví như chúng tớ há lo bần?

Râu tóc mắt tai trời nào thiếu

Nam Dương nằm đợi giúp thánh quân.

Khi đó cuộc sống người dân xã Quế Lâm còn hoang sơ, phong tục chưa thuần. Ba ông đã lấy nhân nghĩa là cố kết lòng dân, lấy sự hòa thuận đúc thành mỹ tục. Lại dạy dân làm nông tang, ra sức chuyên cần. Do đó nhân dân được giàu có, phong tục trở nên thuần hậu. Thật là có công lớn với dân.

Khi ba ông tuổi được 22, Thụy Nương tự nhiên bị sốt nóng liên miên, hơn mười ngày dùng thuốc mà không đỡ, cầu khấn không linh hiệu. Thụy Nương mất ở tại nhà. Ba ông liền làm lễ tìm đất tốt chôn cất. Việc cúng tế hương khói trong gia đường ba năm liền, rất đỗi hiếu kính.

Lại rằng, thời đã đến lúc kết thúc, cơ đồ họ Hùng cận cuối. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa, đều lần lượt theo về với tiên tổ. Chỉ còn lại 2 người con gái, một tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung, sau được gả cho Chử Đồng Tử. Người thứ hai tên là công chúa Mị Nương Ngọc Hoa. Cung trăng một vẻ, ngọc nhụy đương thì, lương duyên tốt đẹp chưa được định ước. Vua muốn tìm người tài đến lấy để nhường ngôi báu, bèn lập một lầu ở cửa thành Việt Trì, xuống chiếu truyền thần dân thiên hạ, ai có tài trí thông minh, anh hùng đức độ có thể tiếp được ngôi vua thì sẽ gả con gái cho.

Khắp bên sông thuyền bè, trước lầu xe ngựa, viết văn múa võ như hình động rắn rồng, sao đẩu lạc lạnh sông, trận võ về mà kinh hồn hổ báo, một trường sấm sét bay bạt biển. Anh hùng bốn biển trong nước đều lỡ mất duyên kia. Những người có duyên thì đều không có toàn tài, khó xưng đạt ý chỉ. Chỉ có Tản Viên Sơn Thánh, có kỳ tài thông trời thấu đất, phép thuật dời non lấp biển. Vua cho là nhân tài đứng đầu, bèn mời công chúa Ngọc Hoa đến gả cho Tản Viên Sơn Thánh. Khi đó, Vua đã ở ngôi 105 năm.

Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, mới nghe Duệ Vương tuổi trời đã đến lúc, mà 20 hoàng tử đều đã quy tiên, không có người lập trưởng, nên đã thừa cơ âm thầm phát động binh đao, từ phương Tây đến muốn tấn công để chiếm lấy nước này. Vua mới triệu Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh nói rằng:

– Đã hơn hai ngàn năm, mười bảy thánh quân, ơn sâu dày đã thấm vào trong xương tủy lòng người. Nay nước giàu quân mạnh. Oai đức của Bệ hạ vang cả ngoài cõi. Mà người Thục đã không tự thủ giữ, lại dám chống lại thì cơ sự thua bại đã rõ. Một khi Bệ hạ kêu gọi trừ dẹp Thục thì dân ta sẽ đều vì Bệ hạ mà chống lại giặc thù, phá họa này, Thục không thể thắng.

Vua nghe thế vô cùng vui mừng. Ngày hôm đó Sơn Thánh sai sứ đi truyền hịch tới triệu các phiên thần phụ đạo, dẫn quân về triều chống giặc. Một ngày tới xã Quế Lâm. Quan bộ chủ cùng với Ba ông đều được mời đến. Ba ông bèn tập hợp được 78 người dân xã Quế Lâm, 60 người dân xã Quế Nham cùng với binh phu ở huyện và bản bộ binh mã, được năm ngàn người, ngay trong ngày tiến quân hướng về kinh thành để bái yết. Vua thấy Ba ông, tức là con trai của Bộ quan, có tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt, bèn nói rằng:

– Nước ta trời đã sinh được người con rể Tản Viên Sơn Thánh, thật là bậc thánh thần trên cao, lại có nhiều bậc kỳ tài để bảo hộ cho nhà họ Hùng của ta không gặp họa.

Hôm đó Sơn Thánh cùng với các tướng Bộ quan và Ba ông làm lễ bái tạ lĩnh mệnh, đường đường mà quay về. Người đời sau có thơ vịnh là:

Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ

Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ

Việc công vó ngựa bay trong gió

Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ

Ly biệt một lần chia cách núi

Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ

Kiếm cung từ cổ anh hùng sự

Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Khi quân Thục đã đến núi Mạn Nhai Châu (nay là địa phận miếu Yên Tây), Sơn Thánh cùng với các tướng tiến quân đến bản châu, nổ một tiếng lớn để phát lệnh, lập trận đóng quân ở đó. Sơn Thánh mới sai hai vạn quân mạnh tiến thẳng đến núi Mạn Nhai Châu, ở ngoài xa 50 dặm cho nổi trống khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền đưa 30 vạn quân đến tấn công quân Hùng. Quân Sơn Thánh giả vờ không đánh lại mà chạy về phục ở Thiên Táo. Quân Thục truy kích đến bản châu. Sơn Thánh mới đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn vào đó. Quân phục kích vây lại, đại chiến với tướng Thục. Một trận chém hơn 5.000 quân. Quân Thục thua to, chạy trốn. Ba ông đuổi theo mà chém. Đám quân Thục không thể quay phát binh nữa. Mới gửi tấu về cho Duệ Vương. Vua mới ban chiếu cho rút về. Sơn Thánh và các tường phụng nghênh chiếu triệu hồi, khải hoàn trở về nước bái tạ.

Hôm đó Vua cho giết mổ để khao thưởng tướng sĩ, luận công mà ban thường, phong cho Sơn Thánh là Thượng đẳng thần phụ trách Nhạc phủ.  Phong cho Chủ bộ quan là Chính Lâm Đại vương từ đó (do vậy mà từ đấy xã Quế Lâm đổi thành xã Quế Trạo). Phong cho Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn đều là Đại vương. Từ đó phúc thánh thấm sâu, ơn vua hưởng nặng, có duyên hương lửa sáng rạng.

Một hôm Chính Lâm Đại vương và Ba ông mới xin Vua cho được trở về cung quán. Vua đồng ý. Chính Lâm Đại vương mới trở về mở tiệc khao thưởng quân sĩ (tức ngày 12 tháng 8). Nhân dân xã Quế Lâm làm lễ bái, xin làm thần tử. Khi Chính Lâm Đại vương thọ 78 tuổi thì một hôm bỗng thấy bị đau quặn bụng mà mất (ngày 1 tháng 1. Chính Lâm Đại vương họ Đặng húy Hồng, sinh vào năm Canh Thìn ngày 10 tháng 6, sống thọ được 78 năm thì hóa). Ba ông mới dâng biểu tấu lên triều đình, làm lễ chôn cất, lập miếu ở xứ gò (tức là phần gò Đông Thụy) để phụng thờ về sau.

Lại kể rằng, được 3 năm, Thục Vương lại chuẩn bị cho cuộc chiến, đi xem xét cầu viện các nước láng giềng, chỉnh đốn quân đội trăm vạn, ngựa khỏe tám ngàn, chia thành 5 đạo. Chính binh 30 vạn, 5000 ngựa, theo đường núi Mạn Nhai châu Hoàng Tế mà đi. Đạo thứ hai ở cánh tả quân số 10 vạn, ngựa ngàn con, theo đường núi Lạng Sơn châu Văn Giản mà vào. Hậu quân 20 vạn, ngựa ngàn con, theo đường Đại Man mà đi. Ba đạo ở cánh phải có quân 10 vạn, ngựa 500 con đi theo châu Bố Chính Minh Linh. Một đạo thủy quân tàu thuyền 3000 chiếc, quân thạo thủy chiến 20 vạn tiến theo cửa Hội Thống châu Hoan. Thủy bộ cùng tiến, tiếng quân vang động.

Duệ Vương rất lo lắng, hỏi các đình thần thì đều nhìn nhau không có kế sách gì khả thi. Sơn Thánh mới tâu rằng:

– Trước đây Thục Vương ngông cuồng đã dẫn quân, tưởng oai như trời, xuất binh lẫm liệt, nhưng thất bại thảm hại. Hoàng đế Bệ hạ đã khoan hồng độ lượng, miễn cho không lật tổ phá đô. Nay lại không biết hối cải, tội muốn tái chiếm cơ đồ. Như thế trời đã định chắc phải vong vậy. Bệ hạ không phải lo nữa. Hiện nay đầu tiên cần bảo vệ thánh giá. Thần xin được lĩnh các tướng tài cùng với 30 vạn quân mạnh. Thiên hạ khắc sẽ được được định đoạt.

Vua đồng ý. Như vậy, Sơn Thánh điều hai vị tả hữu kiên thần ở động Lăng Sương trợ giúp. Lại truyền hịch triệu Ba ông dẫn quân theo đánh trận. Ba ông nghe hịch bèn chỉnh đốn binh mã đến hội quân với Sơn Thánh. Hôm đó, Ba ông đến gặp đại binh của Sơn Thánh tiến tới địa phận xã Lãng Sơn ở cùng huyện. Các ông bèn điều động nhân dân (nhân dân xã Quế Lâm) cùng với các binh sĩ từ cung sở của mình đến để làm lễ đón tiếp, xin được theo ra chinh chiến (Sau này hai xã Lãng Sơn, Quế Lâm mỗi năm ngày 27 tháng 8 quét dọn từ chốn đình ra đến bãi triền để hội tế, mổ trâu và ca hát vui chơi để tưởng nhớ sự tích Ba vị Đại vương làm lễ đón Sơn Thánh vậy).

Sơn Thánh cùng với hai vị thần tả hữu và Tam công Đại vương dẫn quân tiến thẳng đến kinh đô Thục cùng đánh chặn, thế như sấm sét. Sơn Thánh mới cử Tam công đánh hậu binh của quân Thục. Ba ông đánh một trận đại phá, bắt được một số quân Thục thì quay về giao hiến cho Sơn Thánh. Sơn Thánh mới giả viết một bức thư của Thục Vương, sai một quân địch đã đầu hàng biết việc, tự xưng là do Thục Vương sai khiến, cưỡi ngựa đưa đến đồn của cánh quân chính, mang thư cho tướng Thục rằng: Phía bên quân nhà Hùng có một thần nhân. Lệnh cho tướng quân phụng mệnh đến đánh nước người, chớ nên khinh động. Đợi có thư báo lại thì mới quyết định.

Tướng Thục từ khi nhận được thư đó lại tăng thêm phòng thủ. Từ đó khi các cánh quân giao chiến đều không dâng thư báo gấp về. Sơn Thánh mới tiến quân ngày đêm hơn 50 dặm đến thẳng kinh đô của Thục, chia quân tập kích. Nước Thục cáo cấp không ngừng. Sơn Thánh ước sách thần, hô gậy thần, đại phá được tướng cánh chính của địch. Binh mã đều bị bắt sống cả. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên chạy tan tác. Ba ông bèn truy sát, chém được ngàn đầu, treo dưới cổ ngựa. Quân Thục bị phá tan, chạy trốn về phương Bắc. Nhờ đó, Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch cánh quân chính của địch, rồi binh mã trở về kinh tấu báo.

Hôm đó Vua bèn nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Nhân đó dâng lời can Vua rằng:

18 triều Hùng đều cơ căn cơ của lòng trời. Nay xem Bệ hạ sinh được 20 hoàng tử, đều đã thoát đi phiêu du chốn Bồng Lãng, không còn ở trên trần thế để mong kế tục ngôi vị. Đó là cơ đồ nhà Hùng đã mạt, vận nước kết hồi, ý trời quả nhiên như vậy, nay biết làm sao. Thục Vương vốn là Bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái của nhà họ Hùng. Vua không nên vì mến một cảnh phương Nam mà cưỡng lại ý trời. Chi bằng triệu Thục Vương đến truyền lại ngôi sự. Còn thần xin cùng Bệ hạ chuyên vào thuật thần tiên, hưởng một cuộc sống thân ở chốn Lãng Uyển, Bồng Hồ, trường xuân sánh cùng năm tháng. Lầu rồng gác phượng chẳng nhiễm bụi trần. Non xanh nước biếc thưởng ngoạn. Quân tử vui vầy là vậy!

Vua nghe lời nói ấy liền triệu Thục Vương đến nhường ngôi cho.

Lại kể rằng Tam Công nghe chính lệnh về việc Vua nhường nước cho Thục bèn tạ triều đình xin được về cung sở an nhàn. Vua bèn thưởng cho 500 hốt vàng. Từ đó Tam Công chu du bốn biển, hoặc lúc bắt thỏ săn cáo, ngăm trăng sáng trên dòng nước, hoặc lúc làm ruộng, săn bắt, gió mát ngoài bãi triền. Một hôm Tam Công trở về chốn cung sở. Hôm ấy nhân dân đến lễ bái. Ba ông mới bày tiệc ở từ đường ngoài gò, làm lễ báo yết. Xong việc mới mời nhân dân phụ lão xã Quế Lâm đến uống rượu. Rót rượu mà nói với nhân dân rằng:

– Chúng tôi cùng với dân đã thành nghĩa lâu năm, không thể chỉ một ngày mà mất đi. Nay chúng tôi là những danh tướng của triều Hùng, không phải gia thần của chúa Thục. Bây giờ hoàng gia đã nhường ngôi cho Thục, tức là mọi nơi nhân dân đều là chỗ của chúa Thục. Thục chúa nhận ngôi tất sẽ triệu các cự thần, dòng dõi hoàng gia về giao việc. Chúng tôi chắc cũng sẽ bị gọi. Thờ 2 chủ là bất trung. Chúng tôi thà giao du ở núi trúc rừng đào, chứ không thể vì Thục. Chúng tôi có cung sở ở đây, là để phụng thờ cha mẹ tổ tiên. Sau này chúng tôi ngoài trăm tuổi, xin nhân dân cũng phụng thờ chung cho một chỗ. Lại có 500 hốt vàng ở đây xin gửi nhân dân dùng bày tỏ tấm lòng, để sau này làm việc hương lửa, cúng thần có chỗ cầu chúc vậy.

Nhân dân phụ lão đều nhận mệnh bái tạ. Tiệc xong, Ba ông mới vịnh một bài thơ rằng:

Một nhà tụ hội giáo tinh thần

Vạn cổ hương đèn tại xã dân

Ấy đó khi say vui lời rượu

Tình lưu thôn ấp muôn năm xuân.

Ngâm xong, ngày hôm sau bỗng thấy một đám mây trắng đên ở trên chỗ cung. Chốc lát gió mưa như sấm sét nổi lên. Lại thấy trên giữa cung có ba tiếng gọi lớn, kêu Ba ông nhanh chóng trở về lên Thiên đình (tức là ngày 19 tháng 11). Ba ông cùng hóa.

Hôm đó xã Quế Lâm đều ra ngoài nghênh đón Tam Công về cùng chôn cốt ở lăng Chính Lâm, tức lăng Đông Thụy. Chôn cất xong nhân dân lập miếu cùng với Chính Lâm Đại vương để thờ một chỗ. Xong xuôi, nhân dân làm lễ an vị. Khi đang làm lễ bỗng thấy sứ giả Thục đến triệu Tam Công. Thấy nhân dân đều đang việc tang, sứ thần bèn làm lễ bái tạ, gia phong Thượng đẳng thần. Khi ấy bỗng nhiên trời đất u ám, kinh trời động đất, trên gác nghe tiếng ầm ầm như sấm sét sắp nổi lên. Sứ thần mới biết đó là rất linh dị, bèn về triều tâu với Thục Vương. Thục Vương bèn theo mỹ tục của triều Hùng (tức là coi Tam Công đúng là trung thần) mà phong tặng sắc chỉ, cho đem về nhân dân được bảo hộ ở xã Quế Lâm để phụng thờ hương lửa, vạn đời cùng thịnh với đất nước. Gia phong các tên hiệu chức vị là Chính Lâm Đại vương, Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn cùng là Đại vương. Còn như Quế Lâm, Quế Nham truyền đời sự tích, xã Hoa Ngạc có miếu thờ. Còn các xã có thờ phụng cộng tất cả 36 xã.

Lại kể rằng thời Trưng nữ vương tên Trắc, là bậc thượng thánh thần, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh trừ Tô Định, có hành quân qua chỗ cung Quế Lâm, trú đêm tại đây, truyền cho quân làm lễ cầu đảo ở cung Quế Lâm nơi chính đền phụng thờ 4 vị đại vương. Tối ấy, Trưng Vương lưu nghỉ ở trong cung. Tới nửa đêm mơ màng như mộng, bỗng thấy 4 người từ phương Tây đến, một người cưỡi hổ đen còn ba người cưỡi hổ trắng, thân mặc áo vàng áo trắng. Theo sau có binh sĩ giáo mác hàng ngàn, cờ xí rợp trời, tinh khí khắp đất, đến hội đứng trước Trưng nữ vương, tự nguyện phù giúp dẹp giặc, ra trận giúp nước. Vua Trưng mới hỏi tính danh thì tự xưng là Chính Lâm Đại vương và các Đại vương Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn,

Là phúc thần của xã Quế Lâm. Vừa dứt lời thì bỗng tỉnh lại, mới biết là mộng, nghĩ là điềm tất thành công. Bèn làm lễ bái, khởi binh tiến đánh một trận. Tô Định đại bại, chạy trốn. Trưng nữ vương lên ngôi mới bao phong là Chính Lâm Phù vận Hộ quốc, lại phong Cốt Sơn Anh linh Dực thánh, phong Giao Sơn Tế thế Hiển ứng, phong Húc Sơn Hùng lược An dân là các Đại vương cùng quốc gia hưởng phúc. Lại ban sắc chỉ về trùng tu miếu điện, sai sứ thần đến tế, bốn mùa hương lửa, vạn đời không ngừng. Từ đó về sau, nước cầu dân cúng, đều rất linh thiêng, có nhiều linh ứng. Sau này các đời đế vương có phong thêm mĩ tự, vạn đời hưởng cúng cùng với trời đất mãi còn.

Thật tốt thay! Đẹp thay!

Cuối cùng:

Chính Lâm Đại vương, ngày sinh là ngày 1 tháng 1, ngày hóa là 10 tháng 6.

Tam công Đại vương, ngày sinh là ngày 12 tháng 1, ngày hóa là ngày 19 tháng 11.

Ngày 27 tháng 8 Tam Công làm lễ bái đón Tản Viên tại chốn bãi bằng tiếp giáp với xã Lãng Sơn. Hàng năm đúng ngày tháng đó hai xã Quế Lâm, Lãng Sơn làm lễ tới chỗ bãi đó cúng tế. Trên bày bài vị Tản Viên Sơn Thánh. Bên trái là bài vị của Tam công Đại vương. Bên phải là bài vị của một vị thành hoàng Đại vương của xã Lãng Sơn.

IMG_0065