Lan man chuyện quả bầu và mẹ Âu Cơ

Đi qua vùng Suối Giàng ở Yên Bái bắt gặp các cửa hàng chế tác đá tự nhiên. Khu vực Yên Bái có tiếng nhiều đá vân đẹp nguyên gốc lấy từ núi Hoàng Liên về. Trong số các đồ làm ở đây có loại quả bầu đá phong thủy, rất ít gặp ở các nơi khác. Không giống như bầu hồ lô mang nặng mùi Đạo Lão, quả bầu đá ở Nghĩa Lộ được làm đơn giản, rất dân dã, trông giống như quả bí ngô mọc trên nóc nhà của người dân tộc ở khu vực này.

Chẳng thấy sách nào cho biết quả bầu bí dạng này thì có nghĩa phong thủy là gì nên đành tự nhận xét. Với hình dạng đầy đặn, lại có màu xanh ngả vàng thì có thể hiểu quả “bầu bĩnh” này có thể giúp mang lại sự giàu sang, phú quí, nhiều vàng bạc cho chủ nhà.

Một cách hiểu khác quả bầu hay “bào” là hình tượng của người mẹ. Người Việt ai mà không biết chuyện mẹ Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra trăm trai Bách Việt. Vì thế người Việt gọi nhau là “đồng bào”, tức là cùng một bầu mà ra. Còn có từ “bầu đoàn” có lẽ cũng với nghĩa những người sinh từ cùng một mẹ, một bầu, một bào hay một bọc mà ra.

Về thăm đền thờ quốc mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương – Hạ Hòa – Phú Thọ gặp câu đối tại chính điện thờ:
溯鴻厖締結以來仙種永傳留國祖
歷家郡肇修而後人群緬墓播炎邦
Tố hồng mang/ đế kết dĩ lai/ tiên chủng vĩnh truyền lưu Quốc tổ
Lịch cô quận/ triệu tu nhi hậu/ nhân quần miễn mộ bá Viêm bang.

Diễn dịch lại nghĩa:
Nhớ thủa hồng mang gắn bó tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ
Trải đất cô quận dựng sửa sau này, bầu dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.

Theo thần tích đền Hiền Lương thì nàng Âu Cơ là con của Ngọc Nương phu nhân quê ở động Lăng Xương… Lăng Xương đọc khác là Lang Xương, hay vua Xương. Âu Cơ ở Lang Xương tức là… Cơ Xương. Cơ Xương chính là tên của Chu Văn Vương, người khởi đầu nhà Chu trong Hoa sử.

Âu Cơ lấy Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm … Cơ Xương đánh Sùng Hầu Hổ của nước Sùng, khởi đầu cơ nghiệp nhà Chu… Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi dựng nước Văn Lang ở đất Phong Châu… Cơ Xương lập đô ở đất Phong, được gọi là Chu Văn Vương… So sánh 2 dòng sử Hoa – Việt thì thấy rõ mẹ Âu Cơ chính là Cơ Xương Chu Văn Vương, dân gian gọi là Lang Văn hay Lang Xương.

Âu Cơ nòi tiên bởi vì tiên là số 1, con số chỉ phương Bắc và màu đen. Màu đen hay màu ô = Âu. Gọi là Âu bởi vì Cơ Xương là Tây Bá hầu của nhà Thương ở đất Quảng Tây, nằm ở hướng Bắc của Lạc Việt. Mẹ Âu Cơ lấy cha Lạc Long lập ra nước Văn Lang. Đây cũng là truyền thuyết An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu – Lạc, thống nhất 2 tộc người Âu ở Quảng Tây – Vân Nam và người Lạc ở Giao Chỉ. Văn Lang và Âu Lạc là 2 tên của cùng một nước, gọi theo tên vị vua khai sáng hoặc theo các tộc người mà thôi.

Xã Hiền Lương ở Hạ Hòa – Phú Thọ, tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ bay về trời, rất có thể là nơi mất của Chu Văn Vương. Hạ Hòa tên cũ là Hạ Hoa, không biết có phải chỉ thiên tử của Trung Hoa xưa không.

Den mau
Đền mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương – Hạ Hòa – Phú Thọ

Mẹ Âu Cơ sinh bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, là tổ tiên của Bách Việt. Người “sinh” Bách Việt này là Cơ Phát, con của Cơ Xương. Sau khi Cơ Xương mất Cơ Phát kêu gọi các chư hầu nổi lên diệt Ân Trụ Vương. Trong truyền tích Việt còn ghi lại cuộc chiến này cuộc chiến chống giặc Ân của Hùng Vương với sự trợ giúp của Thánh Gióng:

Nhớ xưa đang thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài…

Vũ Ninh hay vua Ninh, Ninh Vương là tên của Cơ Phát trước khi lên ngôi.

Cơ Phát sau khi thắng giặc Ân về núi Nghĩa Lĩnh đất Phong Châu, nơi Lang Văn Cơ Xương định đô trước đó, lập cột đá thề với tổ tiên, rồi lên ngôi thiên tử của Trung Hoa, xưng là Chu Vũ Vương, truy phong cho cha mình là Chu Văn Vương, bắt đầu vương triều Chu của Trung Hoa kéo dài gần 1000 năm.

Cũng ở núi Nghĩa Lĩnh, Vũ Vương đã phân phong cho các công thần đất đai ở các nơi. Các đất phong này về sau thành các nước chư hầu của nhà Chu, là các chi Việt khác nhau trong đại tộc Việt ban đầu. Đây chính là sự kiện sinh bọc đồng bào trăm trứng của mẹ Âu Cơ, được truyền là tại đền Hạ của khu di tích đền Hùng.

Hai đại công thần khai quốc của Chu Vũ Vương là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích. Chu Công Đán là em của Chu Vũ Vương, được phong ở đất Lỗ. Thiệu Công Thích cũng là người cùng họ Cơ, được phong ở đất Yên. Thực ấp của hai vị này là Lào Cai (Lão Cai – Lỗ Cai) và Yên Bái (Yên Bá). Đây là 2 vùng đất trong Quốc phong của Kinh Thi gọi là Chu Nam và Thiệu Nam.

Đất Phong Châu – Vĩnh Phú xưa thuộc lộ Tam Giang, là nơi ba con sông lớn gặp nhau. Sông Đà chảy qua Hòa Bình. Sông Thao chạy dọc Lào Cai, Yên Bái. Sông Lô đổ vào nước ta ở Hà Giang. Cảnh đẹp sông núi trời đất dọc 3 con sông này đúng như câu thơ của Phạm Sư Mạnh:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng

Dịch là:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang


Hà Giang, Hòa Bình, Yên Bái tụ về linh địa Vĩnh Phú. Lô Giang, Thao Giang, Đà Giang hợp lưu ở Việt Trì. Việt Trì nghĩa là Bách Việt mãi vững bền…

Chu lân chỉ

Trên vùng đất tỉnh Hà Giang hiện nay còn lưu lại 2 hiện vật thời Trần, còn tồn tại qua thời gian tàn phá tứ đại khí và đập bia của giặc Minh. Đó là bia đá chùa Sùng Khánh và chiếc chuông đồng chùa Bình Lâm. Cả hai hiện vật này đều nằm ở huyện Vị Xuyên, cách không xa thành phố Hà Giang.

Chuong
Chuông chùa Bình Lâm

Trích phần dịch bài minh trên chuông chùa Bình Lâm:
Nước Đại Việt, châu Thượng Bà Động ở giáp giới Bắc trường Phú Linh. Vua thứ 5 nhà Trần kế theo các bậc hoàng đế anh minh cao quí lập họ Nguyễn ở Cổ Nhất từng có công làm sáng đức sáng hơn người; vậy báo rõ cho được vâng nhận các mỹ tự: Thọ kiên kiên trinh trinh phúc.
Nay để báo đáp, kẻ nối sau là thủ lĩnh Nguyễn Anh, vợ Nguyễn Thị Ninh cùng các ông già bà cả, thiện nam tín nữ, chứng minh đại sa môn sư chịu gánh việc khó, phát tâm đúc một quả chuông lớn vào giờ Ngọ, ngày Rằm tháng Ba năm Ất Mùi (1295) ở mái hiên Tiểu Thượng Niên, Viện Đại Bi trong thành; để lưu giữ mãi mãi ở chùa Bình Lâm, tiện cho việc cúng đường tam bảo…
Cốt sao làm rõ vết dấu dài lâu. Họ tộc vốn là gót lân nhà Chu, đã được phong lãnh địa ở địa giới phía Bắc, theo đó mà cháu con thừa hưởng đến muôn đời không dứt để nối tiếp mãi với trời đất, vậy nên mới làm bài văn này ghi lại…
Thiền tăng Mật Vân ở Lịch Sơn soạn vào ngày mùng Một, tháng Năm, năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ tư (1296).

(Người dịch: Lại Văn Hùng – Viện Văn học, theo Bảo tàng Hà Giang)

Bài minh trên có một số thông tin đáng chú ý. Minh văn cho biết chuông chùa được đúc bởi sự phát tâm của vị thủ lĩnh họ Nguyễn là Nguyễn Anh, dòng dõi “Cổ Nhất Nguyễn”. Cổ Nhất có thể không phải là tên địa danh như dịch ở trên. Rất có thể “Cổ Nhất” nghĩa là vị “Cả một”, tức là người mở đầu dòng họ Nguyễn, là người có công lớn đã được nhà Trần phong mỹ tự “Thọ kiên kiên trinh trinh”.

Điều lạ nhất trong bài minh về dòng họ Nguyễn này là cụm từ “Chu lân chỉ”, tức là gót lân nhà Chu. Chữ này lấy từ Kinh Thi, Chu Nam, bài Lân chi chỉ. Nghĩa vẫn hay được chú giải là “chân con lân không đạp lên cỏ tưới, không dẫm lên côn trùng còn sống, là loài vật rất hiền lành…”. Có điều, giải thích vậy thì “trán lân” và “sừng lân” (2 bài thi Lân chi đính Lân chi giác trong Chu Nam) nghĩa là gì? Là con lân không húc sừng vào cây cỏ sao?!

Thực ra con lân chẳng hề hiền lành đến mức không dẫm lên côn trùng cây cỏ. Kỳ lân  là loài thần thú được pha trộn giữa hổ (con ly) và … tê giác. Cả hổ và tê giác đều là những con vật của phương Nam chính gốc. Loài tê giác Java một sừng ở Việt Nam vừa mới bị tuyệt chủng cách đâu không lâu. Thời xưa thì đất Việt Nam nổi tiếng là nơi có nhiều sừng tê.

Kỳ lân là thần vật, là biểu tượng của nhà Chu. Điều này chỉ ra nguồn gốc phương Nam của nhà Chu. Chu Nam là phong dao vùng đất của Chu Công, chú của thiên tử Chu, tức cũng là dòng dõi nhà Chu. “Gót lân” (“Lân chỉ”) nghĩa là nói đến dòng dõi đế vương thiên tử.

Hiểu chữ “lân chỉ” trong Kinh Thi thì mới giải nghĩa được đoạn minh văn trên của chuông chùa Bình Lâm. Họ Nguyễn phụ đạo châu Thượng Bà Động, vốn là dòng dõi đế vương (Chu lân chỉ). Không rõ dòng họ này có liên hệ tới tận thiên tử Chu không, nhưng có thể ở đây ám chỉ họ Nguyễn chính là họ Lý đã bị nhà Trần đổi họ và đẩy lên vùng biên giới phía Bắc này. Nguyễn Cổ Nhất có thể là một hoàng tộc nhà Lý đã thay họ, được phong đất ở vùng Hà Giang.

Tên gọi Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến là trên minh văn của quả chuông chùa Sùng Khánh khắc vào thời Lê Dụ Tông (năm 1705). Nhưng một số tài liệu còn nói đến tên Hà Dương. Ví dụ, trong câu đối tại đền Đôi Cô tại Cầu Má – Vị Xuyên:
Hà Dương Bắc Lệ Hòa Bình tam vị chủ
Thiên tiên thần nữ anh linh Đôi Cô từ.

Tên khác của vùng đất này trong lịch sử là châu Vị Xuyên. Rất có thể Giang = Dương = Xuyên, không phải nghĩa là sông, mà là tượng Nước, hay số 1 (Giêng), chỉ hướng Bắc. Hà Giang có nghĩa tương tự như Hà Bắc, vùng đất nằm phía Bắc của sông Lô. Điều này cũng ứng với từ “Bắc giới” được nhắc lại vài lần trong bài minh trên chuông chùa Bình Lâm.

Câu cuối cùng trên bài minh chuông chùa Bình Lâm nói đến “Lịch Sơn Thiền tăng Mật Vân”. Địa danh Lịch Sơn là ở Hà Giang. Đây có phải là nơi vua Thuấn đi cày thời cổ theo truyền tích không? Vùng biên cương phía Bắc này là một phần đất Nam Giao của vua Thuấn xưa.

Văn Nhân góp ý:
Tôi tán thành việc Bách Việt 18 dịch cụm từ “Chu lân chỉ” là “gót lân nhà Chu”.
Con Lân người Việt thường gọi đủ là Kỳ lân nghĩa là lân đất Kỳ. Đất Kỳ nơi có Kỳ sơn là đất gốc tổ nhà Châu thời Thái vương – Cổ công đản phủ dừng chân lập nghiệp. Như thế Chu lân và Kỳ lân là một.

Kỳ sơn thuộc Kỳ châu, Kỳ châu = Cùi chu = Quý  châu ngày nay.
Lân là con thú thần được con người tạo ra dựa trên hình tượng gốc là con Hổ.
Hổ ↔hỏa = lửa↔Ly.

Tứ linh của 4 phương Trung hoa là: long – ly – quy – phụng … không có con lân. Phương tây là Bạch hổ đối với phương đông là Thanh long (không phải rồng xanh hổ trắng).
Vậy Lân ở đâu nhảy ra mà trở thành thú linh thay cho Ly của nhà Châu phía Tây Trung hoa?
Phải chăng lại là thủ thuật ‘chữ nghĩa’, xóa thông tin mang trong bản thân từ ngữ?

Theo phép phiên thiết: Lân tri thiết ly.
Người ta đã thay tên Ly bằng phiên thiết ‘lân tri’. Lâu dần về sau rụng mất chữ tri chỉ còn lại mỗi chữ ‘lân’???
Ở vùng Côn Minh ngày nay người ta vẫn tôn sùng Hổ. Phải chăng đất ấy có liên quan căn cơ với Chu lân – Kỳ lân?

Bách Việt trùng cửu:
Nguyên gốc ba bài thơ trong Chu Nam, Kinh Thi là: Lân chi chỉ, Lân chi đính và Lân chi giác (gót Lân, trán Lân và sừng Lân). Nếu tên con vật này là Lân thì chữ “chi” 之 trong ba bài thơ trên là thừa và thậm chí có khi còn sai về ngữ pháp. Hoàn toàn có thể nói Lân chỉ, Lân đính hay Lân giác như trong quả chuông chùa Bình Lâm (Chu lân chỉ), mà không cần tới chữ “chi”.
Nay với giải thích của anh Văn Nhân thì phải đọc chính xác là”Lân chi” thiết Ly. Tên của 3 bài thơ trong Kinh Thi cần đọc là Ly chỉ, Ly đính và Ly giác. Tên con thần thú của nhà Chu này như vậy gốc là con Ly.

Lão Tử hóa … Việt kinh

Dinh Tho Ha
Đình Thổ Hà – xã Vân Hà – Việt Yên – Bắc Giang

Bên bờ sông Cầu, quê hương của những làn điệu quan họ, di sản văn hóa thế giới, có một ngôi đình làng cổ nổi tiếng. Đình Thổ Hà đã có trong danh sách xếp hạng di tích của Viện Viễn Đông Bác Cổ từ thời Pháp. Đình này nổi bật bởi nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc rất tinh xảo của xứ Kinh Bắc. Có điều khi xem đến vị thành hoàng được thờ ở đây thì mới thực sự là điều bất ngờ. Thành hoàng làng Thổ Hà tên là … Lão Tử, Thái Thượng Lão Quân. Trích thần tích chép từ văn bia Cung sao sự tích thánh tại  đình:
Đời vua Thục An Dương Vương phả lục chép rằng có một vị đại vương cấp bậc Thượng đẳng thần thuộc bộ Càn Hào. Sau khi Hùng Vương thứ 18 mất ngôi, vua An Dương Vương nối ngôi. Có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học.
Một hôm Người bảo học trò rằng: ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.
Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ, một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: “Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma”. Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn.
Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. Bấy giờ là năm Giáp Tý ngày 22 tháng 2 (đời vua An Dương Vương) Người đã hóa…
Mặc dù thần tích không hề nói Thái Thượng Lão Quân của làng Thổ Hà là Lão Tử nổi tiếng của Trung Hoa, nhưng tên của vị thành hoàng này hoàn toàn trùng với tên Lý Lão Đam – Lý Bá Dương. Lão Tử Trung Hoa lập công nghiệp rồi hóa thần ở Việt Nam, chuyện này phải giải thích sao đây?
Xem vào câu đối cổ trong đình Thổ Hà:
Đẳng Thích Già nhân tế quần sinh, phật pháp thiên cổ / thần tiên thiên cổ
Dữ Khổng thánh công thùy vạn thế, Xuân Thu nhất kinh / Đạo Đức nhất kinh.
Dịch:
Sánh Thích Ca nhân nghĩa giúp chúng sinh, phật pháp nghìn đời kiếp / thần tiên nghìn đời kiếp
Cùng Thánh Khổng công đức trùm vạn thế, Xuân Thu một bộ kinh / Đạo Đức một bộ kinh.
Câu đối này dùng hình thức trình bày khá hiếm gặp. Trong một vế đối có đoạn được tách làm 2 một cách song song. Hình thức và nội dung này nêu bật quan niệm Tam giáo đồng nguyên: Đạo giáo của Lão Tử, Nho giáo của Khổng Tử và Phật giáo của Thích Ca sánh cùng nhau, song hành trong dân gian.
Một câu đối khác:
Huyền tham Thích điển công tỉ Vô Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo
Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung.
Dịch:
Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Vô Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật.
Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, thần tiên tự cổ xưa sáng dấu linh.
Câu đối nói tới sự hiện diện của Lão Tử trong phật điển. Đây là truyện “Lão Tử hóa hồ kinh”, kể rằng Lão Tử sau khi xuất quan ải đã đi sang Ấn Độ mở đầu phật giáo ở đó. Chuyện “Lão Tử hóa hồ” đã là đề tài tranh cãi của hai phái Đạo và Phật trong nhiều thời đại.
Vế sau ở câu đối trên còn nêu một điển tích khác, nói tới pháp thuật của Khương Thái Công Lã Vọng, người giúp Chu Vũ Vương nên nghiệp thiên tử ngàn năm. Khương Thái Công sau lại hóa hình là Hoàng Thạch Công, truyền sách binh pháp cho Trương Lương phò trợ Lưu Bang lập nhà Hiếu (Sử ký).
Qua những câu đối trên thì không còn nghi ngờ gì nữa: vị thành hoàng thờ ở Thổ Hà chính là Lão Tử, người mở đầu Đạo giáo, viết Đạo Đức kinh, cùng Khổng Tử dựng nên nền văn hóa tín ngưỡng Trung Hoa xưa. Thực ra đình Thổ Hà không chỉ là đình của làng mà đây là nơi từng được xuân thu quốc tế, tức là Thái Thượng Lão Quân ở đây là một vị thần mang tầm quốc gia của các triều đại Việt Nam xưa.
Theo Hoa sử thì Lão Tử sống muộn lắm cũng là vào đầu thời Đông Chu (thời Xuân Thu). Nhà Chu bị Tần Chiêu Tương Vương diệt vào năm 256 TCN. Còn nhà Thục của Việt Nam theo sử sách chép sớm lắm cũng chỉ bắt đầu từ năm 257 TCN. Từ thời Xuân Thu tới thời Thục An Dương Vương có cả vài trăm năm. Vậy làm thế nào Lão Tử của nhà Chu lại có thể giúp vua Thục ở nước Việt trừ yêu dẹp quỉ được?

Nam VietDong Chu

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.
Dịch:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng tay nắm chốn thanh hư, khai mở đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một mình truyền phép màu nhiệm, tạo tác thần tiên.
Vế đầu câu đối trên cho biết Lão Tử, người mở đạo Giáo sống vào thời “Đông Chu” của Hoa sử. Còn vế dưới lại nói rõ “Nam Việt” là nơi “duy thử địa”, vùng đất duy nhất mà Lão Tử đã hóa thần tiên. Kết hợp hai vế đối này thì chỉ có cách hiểu hợp lý duy nhất là: nhà Chu của Hoa sử chính là nhà Thục của Nam Việt. Chỉ có vậy mới có thể giải thích vì sao Lão Tử Trung Hoa lại có mặt trong một triều đại ở Việt Nam.
Xem lại tiểu sử của Lão Tử được chép trong Sử ký Tư Mã Thiên, nguyên văn như sau:
Lão tử giả, Sở Khổ huyện, Lệ hương, Khúc Nhân lý nhân dã. Tính Lý thị, danh Nhĩ, tự Bá Dương. Thụy viết Đam. Chu thủ tàng thất chi sử dã. Khổng tử thích Chu, tương vấn lễ ư Lão tử…
Thường được dịch là:
Lão Tử là người thôn Khúc Nhân, làng Lệ  huyện Khổ, nước Sở. Ngài họ Lý, tên Nhĩ, tự Bá Dương, thụy là Đam. Làm quản thủ thư viện nhà Chu. Khổng Tử đến Chu, hỏi Lão Tử về lễ…
Phần dịch trên đã không theo sát nguyên văn về quê hương của Lão Tử. Sử ký chép “Lão Tử người huyện Sở Khổ”, chứ không hề nói Lão Tử là người nước Sở. Đọc phần tiếp theo, Lão Tử “làm quản thủ thư viện nhà Chu”. Nhà Chu là thiên tử, là triều đại chính của thời Lão Tử nên trong đoạn văn không cần nêu “trong triều Chu” thì vẫn phải hiểu Lão Tử là người nước Chu, huyện Sở Khổ. Vì Lão Tử ở nước Chu nên Khổng Tử mới đến Chu tìm gặp.
Một sách khác là Lão Tử Minh chép về xuất xứ của Lão Tử, nguyên văn như sau:
Lão tử tính Lý, tự Bá Dương, Sở Tương huyện nhân dã. Xuân thu chi hậu, Chu phân vi nhị, xưng Đông, Tây quân. Tấn lục khanh chuyên chinh, dữ Tề Sở tịnh tiếm hiệu vi vương. Dĩ đại tính tiểu, Tương huyện hư hoang, kim thuộc Khổ. Cố thành do tại. Tại Lại hương chi đông oa thủy xứ kỳ dương, kỳ thổ địa uất ông cao tệ, nghi sinh hữu đức quân tử yên.
Dịch:
Lão Tử tính Lý, tự Bá Dương, người huyện Tương nước Sở. Sau thời Xuân thu, Chu triều chia làm hai gọi là Đông quân, Tây quân. Lục khanh nước Tấn tự ý động binh gây chinh chiến. Tấn cùng với Tề, Sở tự xưng vương. Nước lớn thôn tính nước nhỏ. Huyện Tương trở nên hoang vu, ngày nay thuộc Khổ. Thành lũy cũ nay hãy còn. Phía đông làng Lại có con sông chảy qua. Vùng này là một khu đất cao cỏ cây tươi tốt, dễ sinh ra một bậc thượng nhân tài đức.
Tương tự như Sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử Minh cũng không nói Lão Tử người “Sở quốc” mà nói Lão Tử người “Sở Tương huyện”. Câu tiếp theo ở xuất xứ này lại một lần nữa nói tới nhà Chu. Rõ ràng phải hiểu Lão Tử là người nước Chu ở huyện Sở Tương.
Đoạn trên trong Lão Tử Minh còn có nói “Sở tự xưng vương”, thế mà “huyện Tương” lại “trở nên hoang vu”? Nước Sở xưng vương thì huyện Tương nước Sở phải thịnh vượng mới đúng chứ sao lại trở nên hoang vu?… Huyện Tương hoang vu bởi vì huyện này không nằm ở Sở, mà nằm ở Chu.
Chữ Sở trong Sở Khổ hay Sở Tương huyện có thể chỉ là từ chỉ phương hướng: Sở = Sủy = Thủy = nước là tượng của phương Bắc ngày nay. Như vậy lai lịch của Lão Tử theo Sử kýLão Tử Minh trùng với thần tích của đình Thổ Hà về việc có một nhà hiền triết đến từ phương Bắc. Mạnh dạn hơn nữa, có thể Sở Khổ hay Thủy Khổ phiên thiết cho chữ Thổ, chính là Thổ Hà, tên làng thờ Lão Tử ngày nay. Làng này có con sông Cầu chảy qua đúng như sách Lão Tử Minh chép.
Câu đối ở đình Thổ Hà:
Do Chu ngật kim, nhất kinh truyền đạo đức
Tại hà chi tứ, vạn cổ chấn anh linh.
Dịch:
Từ thời Chu tới nay, một bộ kinh truyền đạo đức
Cạnh sông Cầu bên bến, chục ngàn đời chấn linh thiêng.
Về hàng trạng của Lão Tử trong Lão Tử Minh chép:
Lão tử vi Chu tử tàng thất sử. Đương U vương thời, tam xuyên thật chấn dĩ Hạ Ân chi quí, âm dương chi sự, giám dụ thời vương.
Dịch:
Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Nhà Chu có vùng Tam Xuyên (ba sông) như trong sách dẫn trên. Tam Xuyên là đất Đông Chu, nơi Tần Thủy Hoàng sau khi diệt Chu đã lập quận Tam Xuyên. Nhưng: Tam Xuyên = Tam Giang. Tên này còn lưu trong tên thánh Tam Giang, tức Trương Hống – Trương Hát, hai vị thần bên dòng sông Như Nguyệt, con sông chảy qua làng Thổ Hà.
Thần tích ở đình Thổ Hà về Lão Tử:
Vua (Thục An Dương Vương) xây thành (Cổ Loa) có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng trống đồng).
Có thể thấy truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa và cơn “địa chấn” lúc giao thời Tây – Đông Chu chỉ là một. Diễn biến việc này có thể như sau: Lão Tử sống vào cuối thời Tây Chu (Chu U Vương) sang tới đầu thời Đông Chu. Khi nhà Chu chuyển về phía Đông, tới vùng Tam Xuyên – Tam Giang, thì gặp trận động đất lớn. Thanh lang thành (Lạc Dương) bị rung chuyển. Lão Tử nhân đó nói là âm khí của thời Hạ Thương phát hại, nhằm răn khuyên thiên tử Chu. Truyền thuyết Việt chép thành vua Thục (vua Chủ) xây thành Cổ Loa bị đổ, phải nhờ Lão Tử phái Thanh Giang sứ giả (Thương sứ) tới giúp dẹp yêu quỉ thì thành mới xây được.

Cua vong

Cửa võng đình Thổ Hà

Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà:
Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Thần tích, câu đối trong dân gian Việt chính là những “bộ kinh” còn truyền thiên thu về lịch sử Hoa Việt chói ngời. Nhà Chu từ lúc Khương Thái Công câu cá bên sông … Tô Lịch,  Chu Vũ Vương cùng … Thánh Gióng đánh giặc Ân, tới Lão Tử người … “huyện Thổ Hà” khai mở Đạo giáo, Chu Bình Vương dời đô về Cổ Loa… Tất cả đều còn lưu trong bia đá, bia gạch, bia gỗ, bia giấy, bia miệng … ở Việt Nam.

Văn nhân góp ý:
Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu, kinh đô phía đông nhà Chu gọi là Đông đô. Đông đô là tên gọi khác của Hà thành … vì thế … mới có …
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Dịch:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng tay nắm chốn thanh hư, khai mở đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một mình truyền phép màu nhiệm, tạo tác thần tiên.

Suy nghĩ về khảo cổ và lịch sử Trung Quốc

Bản đồ lãnh thổ lịch sử Trung Quốc theo như quan niệm hiện nay:

M_Hist

Phần đen đậm là khu vực được cho là khởi nguồn của Trung Quốc. Thế nhưng có thể thấy ở đây có 2 khu:
– Khu thứ nhất là dọc sông Hoàng Hà với các địa điểm khảo cổ từ thời đồ đá như Ngưỡng Thiều, Bán Pha, Từ Sơn. Khảo cổ cho thấy đây là khu vực nông nghiệp trồng kê ở ruộng cạn.
– Khu vực thứ hai được biết qua di chỉ Hà Mẫu Độ ở phía Nam cửa sông Dương Tử. Đây là khu vực trồng lúa nay được coi là sớm nhất (7000 năm trước CN). Nhiều nhà khoa học đã nhất trí cho rằng khu vực này thuộc văn hóa Bách Việt, với tộc người là Monglonoid phương Nam. Khảo cổ ở phần
Nam Trung Hoa xa hơn hiện còn chưa nhiều, và ít khi được công bố vì…

Như vậy Trung Quốc đã cố tình nhận vơ cả khu vực trồng lúa nước ở Nam Dương Tử thành nguồn gốc của Hán tộc ở Hoàng Hà. Xét đời Thần Nông dậy dân trồng lúa, vua Nghiêu thúc trạch Nam Giao, vua Thuấn tuần du chết ở Thương Ngô (trung lưu Nam sông Dương Tử) thì không thể nói khác những vị vua tiền sử này phải là thuộc khu vực lúa nước Nam Dương Tử.
Hà Mẫu Độ ở Phúc Kiến Chiết Giang có thể là đất Cối Kê, nơi vua cùng dân con cháu Hạ Vũ lội nước, đắp đê để khai phá thời Hạ trung hưng.

Bản đồ tập hợp những địa điểm khảo cổ đồ đồng ở Trung Quốc:

KhaocoTQ2

Trung Quốc thường dựa vào địa điểm khảo cổ ở Ân Khư – An Dương đời Thương để khẳng định lịch sử nhà Thương là ở Hoàng Hà. Chữ viết trên giáp cốt cũng bắt đầu từ đây. Nhưng An Dương là khu vực Hậu Thương. Các di chỉ đồ đồng đời Thương còn có ở Bàn Long Thành và Tân Can ở tận phía
Nam sông Dương Tử. Những di chỉ này lại có phần sớm hơn cả ở Ân Khư. Một cách hợp lý thì đồng khí Thương phải phát triển từ khu vực đồ đá mới Hà Mẫu Độ ở Nam Dương Tử, chứ không phải từ Hoàng Hà.
Như vậy phải hiểu: nhà Thương bắt đầu từ khu vực sông Dương Tử rồi mới tiến lên Hoàng Hà, chứ không phải ngược lại. Trong lịch sử được ghi nhận là chuyện Bàn Canh năm lần bảy lượt dời đô, lập nên một triều đại tương đối riêng biệt là nhà Ân (tức là nhà Thương thứ hai).
Ở Ân Khư có những đồ đồng có hình mặt người và được xác định là kiểu người Nam Á. Như vậy Ân Khư là di chỉ của người Nam Á chứ không phải của Hán tộc, là dân Monglonoid phương Bắc.
Tân Can có thể là nơi đóng đô của Thành Thang khi mở đầu nhà Thương. Những kinh đô khác khi Bàn Canh dời đô dần dần lên hướng bắc là Bàn Long Thành (Long Thành có nghĩa là thành nơi vua ở), Trịnh Châu. An Dương là thủ đô của Trụ Vương nhà Ân.
Hán tộc nằm vào phức hợp đồng khí phương Bắc cùng với Hung Nô, Mãn. Tuy nằm ngay sát Ân Khư nhưng Hán tộc chẳng có liên quan gì đến đồ đồng đời Thương cả. Hán tộc chính là Đông Di, Nhung Địch trong Hoa sử, là những tộc người bị Trụ vương đuổi ra khi nhà Ân vượt Hoàng Hà.

Đền thờ Cao Lỗ ở Diễn Châu

NhathohoCao

Cách Mộ Dạ không xa, ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An có một ngôi đền thờ họ được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đó là đền thờ họ Cao, tương truyền thờ Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương. Cao Lỗ được gọi là Tiền viễn tổ của họ Cao từ Nho Lâm. Họ Cao nổi tiếng về truyền thống hiếu học, có nhiều nhân vật dòng họ có danh tiếng xưa và nay như Cao Bá Quát, Cao Sỹ Kiêm, Cao Đức Phát, …
Theo gia phả của họ thì họ Cao ở Nho Lâm có gốc là từ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí vào khoảng năm 1360, lập làng Tùng Lâm, sau đổi thành Nho Lâm. Có điều không hiểu sao họ Cao lại nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải (?). Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Theo Bách gia tính thì họ Cao của Trung Quốc cũng có xuất xứ ở Bột Hải.
Kỳ lạ nữa là ông Cao Thiện Trí lấy vợ là Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An (!). Thật hết biết các nước thời Chiến Quốc của Trung Hoa là ở chỗ nào.
Câu đối trước cửa đền thờ họ Cao:
Vạn phái thiên lưu nguyên Bột Hải
Kim hoa cổ thụ mạn Tùng Lâm.
Dịch:
Vạn chi lưu dời đều từ Bột Hải
Gốc cổ thụ xưa nay vẫn ở Tùng Lâm.

Dạ luyện sơn đầu ngô tổ triệu
Tranh hùng địa hậu ngạ tiên phù
(Không biết dịch thế nào)

Thẻ ngọc An Dương

Nguồn Đào Duy Anh:
Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa số 23:
“Chủ tịch phủ vừa giao cho chúng tôi một tài liệu mới nhận được sau ngày 1-12-1956 về một thẻ ngọc gọi là “An Dương ngọc giản” (thẻ ngọc An Dương), do nhà khảo cổ học Trung Quốc Dư Duy Cương ở Quảng Châu gửi tới. “Thẻ ngọc này … nguyên khổ 111×84. Nó hình trái tim, dày chừng nửa ngón tay trỏ, phía trên có một lỗ nhỏ, phía dưới có một lỗ to hơn. Về mặt phải, ở bốn góc, có bốn chữ “An Dương Hành Bảo”, chữ viết khá lớn: chữ thì viết theo lối “cổ trựu”, tức là lối cổ trựu văn từ đời Chu Tuyên Vương (thế kỷ thứ IX TCN); chữ thì viết theo lối “tiểu triện”, lối chữ thông dụng từ đời Chiến Quốc (thế kỷ thứ III TCN); chữ thì viết theo lối “đại triện”, lối chữ dùng từ đời Tần Hán (thế kỷ thứ II TCN)… “Bảng này viết đủ sáu mươi giáp tí, … và viết theo lối chữ giáp cốt
đời Ân (thế kỷ thứ XVIII TCN)… Nhà học giả họ Dư cho biết thêm tấm ấy đã tìm thấy ở Quảng Châu, … đã đào được hàng ngàn cái ngọc giản, miếng nào cũng khắc hơn một trăm chữ..

Nhận xét của Đào Duy Anh:
– “… Đối chiếu với những lối chữ cổ … ba chữ “Dương Hành Bảo” là chính xác. Còn chữ “An” thì còn ngờ…” – “Những chữ trên thẻ ngọc không phải là bằng chứng đầy đủ để tỏ rằng xã hội Lạc Việt đã biết dùng văn tự. Chữ đó toàn là chữ của Trung Quốc…
Chúng tôi cho rằng An Dương Vương Thục Phán chính là hậu duệ của vua nước Thục ở thời Chiến Quốc … có thể biết dùng lối chữ cổ trựu … và cả lối tiểu triện… Song sự có mặt của kiểu chữ đại triện thì hơi khó giải thích …”*
*Bài viết của Đào Duy Anh khá dài nên không tiện chép đầy đủ, chỉ trích những ý quan trọng nhất.

Bình luận:
Từ những năm 1950 chúng ta đã được gửi cho “Thẻ ngọc An Dương“, một bằng chứng rõ ràng về thời Thục Phán An Dương Vương, nhưng ngay học giả hàng đầu lúc bấy giờ như Đào Duy Anh cũng không dám tin vào bằng chứng này mà lại giải thích thành ra Thục Phán chạy từ nước Thục tận Tứ Xuyên mang theo đủ loại chữ viết từ đời Ân Thương vào nước ta…

Khảo cổ Việt Nam đã cho biết rõ ràng không hề có sự đột biến nào về văn hóa khảo cổ khi chuyển từ thời Hùng Vương sang An Dương Vương theo như niên đại chính sử hiện nay. Vậy làm sao mà Thục Phán với một nền văn hóa và chữ viết hoàn toàn xa lạ từ tận Tứ Xuyên có thể làm vua hàng chục
năm ở Việt Nam được?
Thẻ ngọc An Dương cho thấy:
– Thời đại của An Dương Vương bắt đầu sớm hơn nhiều so với sử sách đã ghi, ngang ngửa với thời bắt đầu của của nhà Chu (cuối nhà Ân).
– An Dương Vương dùng đủ loại chữ mà văn hóa Trung Hoa cổ có, từ chữ trên giáp cốt của Ân Thương, chữ thời Chiến Quốc và chữ đời Tần Hán.
– Chữ “An” trong “An Dương Hành Bảo” có thể không phải là “An”, như nghi ngờ của Đào Duy Anh. Thực ra đó là chữ “Âm”, tức Âm Dương Hành Bảo. Thẻ ngọc chép đủ can chi, chứng tỏ có liên quan trực tiếp đến thuyết âm dương.
Nhìn theo sử thuyết mới càng rõ ràng An Dương Vương hay Âm Dương Vương chính là Chu Văn Vương, một triều đại Hùng Vương Việt Nam (Hùng Chiêu Vương). Và chữ viết của Trung Hoa, kể cả chữ đời Ân Thương trên giáp cốt là thành tựu của người Việt.