Lâm Ấp và Giao Châu (phần 2)

Vào thời Hán Mạt, tại khu vực Giao Châu Đô Dương Khu Liên đã tiếp nối sự nghiệp của Nhị Trưng Vương, chặn Hán quân tại khu vực Tượng Lâm, là vùng đất nằm giữa Cửu Chân và Nhật Nam hay Quý Châu và Quảng Tây. Khu Liên có lẽ đã tử trận trong cuộc chiến này, nhưng cả một vùng đất phương Nam rộng lớn từ Nhật Nam đổ về đã thoát khỏi sự thống trị của Hán tộc.
Đối với vùng đất Lâm Ấp, nhà Hán thực hiện theo chính sách mà Lý Cố đề ra (Hậu Hán thư):
Quân ta ở Nhật Nam đơn chiếc và thiếu lương, giữ không được, đánh cũng không xong, chỉ có thể dời hết cả lại dân (người Trung Quốc) về Bắc để dựa vào Giao Chỉ. Việc yên rồi sẽ khiến trở về. Mộ người Man Di khiến họ tự đánh họ, lại chở vàng, lụa để tự cấp cho họ. Kẻ nào có thể phản gián, khiến giặc đầu thú được thì hứa thưởng bằng cách phong hầu cấp đất.
Nhà Đông Hán đã không thể đánh dẹp được những cuộc khởi nghĩa ở phương Nam, đành phải rút hết người Hán về, để quyền quản lý cho người bản xứ, chấp nhận phong hầu cấp đất. Chính tình thế này đã làm xuất hiện Sĩ Nhiếp ở Giao Châu.
Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ Sĩ Vương chép: Đinh Mão năm thứ 1 (187) (Hán Trung Bình năm thứ 4). Vương có 3 người em trai là Nhất, Vĩ và Vũ. Bấy giờ thứ sử Chu Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương (Sĩ Nhiếp) bèn dâng biểu cử Nhất làm thái thú Hợp Phố, Vĩ làm thái thú Cửu Chân, Vũ làm thái thú Nam Hải.
Thứ sử Chu Phù đã bị giết chết trong cuộc khởi nghĩa của Khu Liên. Anh em Sĩ Nhiếp nhân đó đã được phong nhận làm thái thú các quận của Giao Châu (Giao Chỉ, Nhật Nam, Hợp Phố, Cửu Chân, Nam Hải). Theo như chính sách mà Lý Cố đã đề ra thì có thể thấy anh em Sĩ Nhiếp là những người bản xứ, được phủ dụ phong hầu cấp đất tại Giao Châu. Năm 203 theo đề nghị của Sĩ Nhiếp, nhà Đông Hán đã buộc phải công nhận 7 quận phía Nam gộp lại thành Giao Châu, do Sĩ Nhiếp quản lý. Nhìn từ góc độ của người Việt ở phương Nam thì Sĩ Nhiếp chính là người đã tiếp quản nước Lâm Ấp của Khu Liên, dưới danh nghĩa chư hầu của nhà Đông Hán. Vì vậy mặc dù Sĩ Nhiếp không lên ngôi nhưng sử Việt vẫn gọi là Sĩ Vương và dành hẳn một kỷ trong sách sử cho thời kỳ này.
Trong khi đó nhà Đông Hán suy sụp sau khởi nghĩa Khăn Vàng của Trưng Trắc Trưng Nhị (Trương Giác, Trương Lương). Người Bách Việt ở Hoa Nam đã dành thắng lợi trước quân Hán ở khu vực Nam Trường Giang. Tôn Quyền dựng nên nước Ngô ở phía Đông. Anh em Lưu Biểu Lưu Bị làm nên nước Thục ở vùng Kinh Châu, Quý Châu và Ích Châu. Năm 210 Sĩ Nhiếp đem Giao Châu về với Ngô Quyền, được phong làm Tả tướng quân, rồi Long Biên hầu.
Truyền thuyết Việt lưu lại công đức của Sĩ Nhiếp dưới tên danh tướng Phạm Tu của Lý Nam Đế. Lý Nam Đế ở đây là Khu Liên, người khởi dựng nước Nam – Lâm Ấp. Phạm Tu cũng có các danh phong Tả tướng quân, Long Biên hầu. Sĩ Nhiếp mang họ Phạm vì sử sách cho biết người kế tục ở Lâm Ấp là cháu bên ngoại của Khu Liên họ Phạm.
Câu đối ở cổng đền thờ Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á, xã Gia Đông, Thuận Thành, Bắc Ninh:
豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.
Với ân đức của Sĩ Nhiếp duy trì yên ổn Giao Châu trong 40 năm trong vòng vây của quân Hán và dưới thời Ngô, Sĩ Nhiếp còn được dân gian tôn thần, trở thành vị thành hoàng của thành Thăng Long. Thần Long Đỗ thực ra là danh phong Long Độ đình hầu của Sĩ Nhiếp. Vị thần sông Tô Lịch là Phạm Tu hay Phạm Tô, cũng chính là Sĩ Nhiếp.
Sĩ Nhiếp trở thành một vị thủy thần, bảo hộ cho thành Thăng Long. Hơn nữa Sĩ Nhiếp còn là người tác lập nên tục thờ Tứ pháp, đứng đầu là Pháp Vân (thần Mây) ở khu vực Luy Lâu cũ (Bắc Ninh – Hưng Yên). Phạm Tu Sĩ Nhiếp cũng là vua Mây họ Phạm ở đất Đằng Châu (Hưng Yên).

Me DauBan thờ Sĩ Nhiếp ở đình Mễ Đậu, Việt Hưng, Văn Lâm, Hưng Yên.

Trong khi ở phía Đông Giao Chỉ Sĩ Nhiếp nắm quyền cai quản thì ở phía Tây, trên các khu vực miền núi Mường Mán, người lãnh đạo lúc này là Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch là dòng dõi của nhà Triệu Nam Việt, sau khởi nghĩa của Trưng Vương họ Lữ không thành, vẫn hoạt động ở các khu vực miền núi Tây Bắc, Lào và Thanh Nghệ như trong Truyện Nam Chiếu chép:
Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà. Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu.
Không rõ Mạnh Hoạch có tham gia trong khởi nghĩa của Khu Liên hay không, nhưng chắc chắn khu vực Tây Bắc Việt vẫn bất phục Đông Hán từ trước. Phải mãi tới khi Vũ Hầu Gia Cát dẫn binh xuống và dùng chính sách chiêu dụ thì Mạnh Hoạch mới phục tùng nhà Thục, nhưng vẫn giữ quyền tự trị ở phương Nam.
Tộc phả họ Phạm Công ở Quảng Ngãi cung cấp những thông tin rất xác đáng về thời kỳ này: Cuối đời Hùng Duệ Vương con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái Châu (Bình Trị Thiên) và Trung Châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung Bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 TCN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 TCN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).
Đời Hùng Duệ Vương ở đây có thể hiểu là thời Vương Mãng. Vương Mãng nghĩa là vị vua cuối cùng (Mãn) của họ Hùng (người Bách Việt). Cuối thời Tân của Vương Mãng là thời Đông Hán. Phạm Duy Minh trong tộc phả này là Đằng Châu Sĩ Nhiếp Phạm Tu. Lý Thành là đại diện cho nước Nam Triệu ở vùng Tây Bắc, hay Mạnh Hoạch. Vùng Nam Trung Bộ do con của Sĩ Nhiếp là Phạm Duy Hinh vào trấn thủ. Cả 3 khu vực này đều bắt đầu từ nước Lâm Ấp của Khu Liên khởi dựng trước đó, có quan hệ mật thiết với nhau, cùng là đồng minh chống Hán.

Lam Ap Tam quoc

Lâm Ấp thời Tam quốc.

Câu đối ở đình Mễ Đậu (Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên) về Sĩ Nhiếp:
於北朝當吳蜀之衝保全一境
衍南海以孔孟之道徳澤千秋
Ư Bắc triều đương Ngô Thục chi xung, bảo toàn nhất cảnh
Diễn Nam Hải dĩ Khổng Mạnh chi đạo, đức trạch thiên thu.
Dịch:
Đối đầu Ngô Thục ở Bắc triều, giữ vẹn toàn cảnh sắc
Lấy đạo Khổng Mạnh truyền Nam Hải, thấm công đức ngàn thu.
Sĩ Nhiếp, vị tướng họ Phạm đã kế tục sự nghiệp của Khu Liên tại Lâm Ấp không thể bị lãng quên. Mối liên hệ Giao Châu và Lâm Ấp rất gắn bó trong thời kỳ này.

Lâm Ấp và Giao Châu (phần 1)

Dưới thời Hiếu Vũ Đế Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công tiêu diệt nước Nam Việt của nhà Triệu. Đất Nam Việt cũ được chia thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô, Đam Nhĩ, Châu Nhai. Theo sử sách hiện tại vào năm 40 tại Giao Chỉ đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống lại nhà Hán. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai Bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.
Câu đối ở cổng đền thờ Trưng Vương tại Hát Môn, tương truyền do Cao Bá Quát đề:
縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Trong vế đối thứ nhất có cụm từ “kim đao” 金刀 là chiết tự của chữ Lưu 劉, họ của các vua Hán. Câu đối này có thể được dịch như sau:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.
Vế đối thứ nhất nói tới chí khí của Trưng Vương đã khởi nghĩa chống quân Hán, lập nên một “thiên hạ”, một mảnh trời riêng của mình. Vế đối thứ hai nói tới cột đồng do Mã Viện nhà Đông Hán dựng nên, nhưng ở đây lại là để đánh dấu phân giới đất đai với Trưng Vương. Trưng Vương thậm chí còn không bằng lòng với vị trí cột đồng phân giới này.

IMG_8025 (2)Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội).

Quan niệm rằng đồng trụ Mã Viện là dùng để phân giới hai nước Hán – Trưng cũng được Thiên Nam ngữ lục nhắc tới:

Viện bèn cắt giới phân cho
Man Thành đắp lũy ấy là Tư Minh
Đồng trụ cắm ở Man Thành
Hán – Trưng hai nước dẫn binh cùng về.

Khởi nghĩa Trưng Vương đã không thất bại mà đã buộc nhà Hán phải giảng hòa và đắp lũy, dựng cột phân biên. Biên giới nước của Trưng Vương lúc đó là ở Man Thành – phía Bắc Quảng Tây.
Tấn thư chép: Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm thời Hán, là nơi Mã Viện dựng cột đồng.
Như vậy cột đồng Mã Viện dựng ở Tượng Lâm là ở phía Bắc Quảng Tây. Phía Nam cột đồng là nước Lâm Ấp. Tức là Lâm Ấp chính là nước hình thành từ khởi nghĩa của Trưng Vương thời Đông Hán.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Quý Mão, mùa xuân, tháng Giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.
Cư Phong được chú là ở Cửu Chân – Thanh Hóa. Mã Viện tiến quân đến đất Cửu Chân thì dừng lại, dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng. Như vậy khu vực từ Nghệ An đổ về Nam Trung Bộ không bị Mã Viện tấn công, hay không nằm trong đất của nhà Đông Hán từ sau cuộc tấn công của Mã Viện. Khu vực Trung Bộ Việt này được cho là quận Nhật Nam, là quận đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương. Điều lạ là cũng tại Nhật Nam sau đó Khu Liên đã khởi nghĩa lập nước Lâm Ấp. Quận “Nhật Nam” ở miền Trung Việt chưa hề bị quân Đông Hán chiếm, thì làm sao Khu Liên, con của công tào địa phương lại phải khởi nghĩa giết huyện lệnh?
Hậu Hán thư chép: Năm thứ 12 hiệu Vĩnh Nguyên (100)… hơn 2.000 người Man Di huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam cướp bóc trăm họ, đốt phá chùa, công quán, quận, huyện phát binh đánh, chém được bọn tướng giặc còn dư chúng thì đầu hàng. Bấy giờ đặt chức Tướng binh trưởng sự ở Tượng Lâm để phòng hậu họa…
Năm thứ 2 hiệu Vĩnh Hòa (137) người Man Di ngoài cõi là bọn Khu Liên ở Tượng Lâm, quận Nhật Nam, mấy nghìn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành và chùa, giết trưởng lại, thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn phát binh 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân hơn vạn người đến cứu. Quân sĩ sợ đi xa bèn phản trở lại đánh bản phủ. Hai quân tuy đánh phá được bọn làm phản nhưng thế giặc trở lại thịnh. Gặp có quan Thị lang sứ là Giã Xương đương đi sứ ở quận Nhật Nam, bèn cùng với chây quận hợp sức đánh giặc. Đánh không được lại bị giặc vây, hơn 1 năm mà binh khí lương thực đều không gửi đến được. Vua Hán lấy làm lo. Năm sau bèn vời công khanh bách quan cùng các thuộc quan 4 phủ để hỏi phương lược mọi người đều bàn nên sai đại tướng phát 4 vạn quân các châu Kinh Dương Duyên Dự đi đánh, nhưng quan Đại tướng quân tòng sự trung lang là Lý Cố bác đi nói rằng: “… Quân ta ở Nhật Nam đơn chiếc và thiếu lương, giữ không được, đánh cũng không xong, chỉ có thể dời hết cả lại dân (người Trung Quốc) về Bắc để dựa vào Giao Chỉ. Việc yên rồi sẽ khiến trở về. Mộ người Man Di khiến họ tự đánh họ, lại chở vàng, lụa để tự cấp cho họ. Kẻ nào có thể phản gián, khiến giặc đầu thú được thì hứa thưởng bằng cách phong hầu cấp đất…”. Theo lời bàn của Lý Cố, lấy Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân… Lương đến Cửu Chân một mình vào giữa giặc, bày phương lược, lấy uy tín mà chiêu hàng, kẻ hàng có hơn vạn người, đều vì Lương mà xây dựng lại thành và chùa…
Năm đầu hiệu Kiến Phong (144) hơn nghìn người Man Di quận Nhật Nam lại đánh đốt huyện ấp, rồi phiến động cả dân Cửu Chân, liên kết với họ. Thứ sử Giao Chỉ là Hạ Phương, người Chử Giang, mở ơn chiêu dụ, giặc đều hàng phục…
Năm thứ 3 hiệu Vĩnh Thọ (157) huyện lệnh Cư Phong tham bạo vô độ, người trong huyện là bọn Chu Đạt cùng người Man Di họp đánh giết huyện lệnh đông đến 4.000 – 5.000 người, rồi tiến đánh quận Cửu Chân. Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức tử trận… Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng đánh phá được…
Bọn tướng của giặc còn đóng quân giữ Nhật Nam, chúng lại trở nên cường thịnh. Năm thứ 3 hiệu Diên Hy (160) (vua Hán) lại bổ Hạ Phương làm Thứ sử Giao Chỉ. Phương vốn uy tín đã nổi tiếng, quân giặc ở Nhật Nam nghe tiếng thì rủ nhau đến hàng Phương đến hơn 2 vạn người…
Năm đầu hiệu Quang Hòa (178) người Man ở Giao Chỉ, Hợp Phố, Ô Hử làm phản, chiêu dụ người Cửu Chân và Nhật Nam mấy vạn người đánh lấy quận huyện. Năm thứ 4 Thứ sử Chu Tuấn đánh phá được. Năm thứ 6, nước ở ngoài cõi Nhật Nam lại trở lại triều cống.
Những thông tin của Hậu Hán thư cho thấy suốt thời Đông Hán khu vực Giao Châu không lúc nào yên. Bắt đầu từ khi quân Đông Hán chiếm được Giao Châu từ tay các thái thú châu mục Đặng Nhượng Tích Quang, người Việt luôn quật cường nổi dậy. Đọc lịch sử lúc này mới hiểu thế nào là lấy máu xương đắp đổi núi sông. Hàng ngàn, hàng vạn người nối tiếp nhau đứng dậy, ngã xuống vì độc lập ở các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
Căn cứ theo các thông tin trên thì quận Nhật Nam là một quận lớn nằm trong đất nhà Đông Hán. Như vậy Nhật Nam không thể là khu vực vùng Trung và Nam Trung Bộ ngày nay được vì Mã Viện đã xác nhận mốc giới nhà Đông Hán ở Cửu Chân, nằm phía Bắc hơn nhiều so với miền Trung.
Nhật Nam phải là khu vực Quảng Tây. Huyện Tượng Lâm nơi Khu Liên khởi nghĩa là vùng đất nằm giữa Tượng Quận và Quế Lâm, tức là quãng giữa Vân Nam – Quý Châu – Quảng Tây. Quý Châu được chép thành Cửu Chân, không phải ở đất Thanh Hóa. Có như vậy thì mới có thể hiểu cột đồng Mã Viện trên đất Cửu Chân – Tượng Lâm lại là ở Man Thành – Quảng Tây.

Lam ApVí trí các quận phía Nam nhà Đông Hán.

Thời điểm Khu Liên lập quốc qua các sử liệu không rõ ràng. Lúc thì là năm 137 Khu Liên khởi nghĩa. Lúc thì tới tận năm 192 mới giết Thứ sử Chu Phù, lập nước Lâm Ấp. Hai thời gian này cách nhau tới 55 năm. Khu Liên khởi nghĩa từ năm 137 tới năm 192 thì đã ngoài 80 tuổi rồi, còn làm vua gì nữa?
Cũng trong quãng thời gian giữa 137 và 192 ở Cửu Chân và Nhật Nam lại có khởi nghĩa lớn hàng vạn người của Chu Đạt. Vậy lúc đó Khu Liên ở đâu? Rõ ràng chỉ có thể Chu Đạt chính là Khu Liên (còn có tên là Khu Đạt).
Cột đồng mà Mã Viện làm mốc giữa hai nước Hán và Lâm Ấp như vậy phải là được dựng ở thời kỳ này. Đô Dương cũng là Khu Liên – Chu Đạt, người đã buộc quân Hán phải dừng bước ở Cửu Chân (Quý Châu), cắm cột đồng ở Tượng Lâm (Quảng Tây). Nước Lâm Ấp từ Khu Liên là toàn bộ khu vực phía Nam từ Quảng Tây tới miền Trung Việt.
Tùy thư xác nhận mối liên quan giữa Khu Liên và khởi nghĩa Trưng Vương: Lâm Ấp trước đây, nhân loạn người con gái Trưng Trắc ở Giao Chỉ thời Hán Mạt, con viên công tào trong huyện là Khu Liên giết huyện lệnh tư xưng làm vua.
Khu Liên chính là Đô Dương, người đã tiếp nối thành công sự nghiệp của Trưng Vương trên đất Lâm Ấp, khởi dựng một quốc gia phương Nam rộng lớn không thuộc Hán. Thắng lợi của Khu Liên làm tiền đề cho các vùng đất phương Nam thoát khỏi sự xâm lược của Hán tộc trong hàng trăm năm tiếp theo.

Họ Vi và họ Đồng

Họ Vi là dòng họ lớn của người Tày ở vùng ven biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng. Họ này từng có những người làm các chức quan tộc nhiều đời ở đây như tổng đốc Vi Văn Định thời trước cách mạng tháng Tám. Nguồn gốc họ Vi theo sách Thất tộc thổ ty của Lã Văn Lô như sau:
Xét gia phả họ Vi, nguyên tổ tiên là họ Hàn tên là Nhân, dòng dõi của Hoài Âm hầu Hàn Tín. Lã Hậu nghi Hàn Tín mật thông với Trần Hy làm phản, nên cùng lập mưu với Tiêu Hà diệt trừ Hàn Tín. (khoảng năm 110 trước CN). Lúc bấy giờ một người thiếp của Hàn Tín có thai, Tiêu Hà mật gửi cho Triệu úy Đà ở Lĩnh Nam nhận nuôi. Đà làm Long châu lệnh (Long châu nguyên là đất Việt ta, thời Tần Vua sai Triệu Đà theo Nhâm Thao sang chia cai trị, đất ấy đến bây giờ thuộc Hán), nuôi nhận (tức là con người thiếp của Hàn Tín) rất chu đáo. Khi Nhân trưởng thành, giúp Đà làm việc, Đà chia đất cho từ Thượng Thạch trở đi, lấy phía Đông làm giới hạn. Đà sai Nhân bỏ nửa chữ Hàn đi trở thành họ Vi từ đó (để tránh chu di Tam tộc). Từ khi Nhân ở đất Long châu, từ Thượng Thạch về phía Đông, Cổ Lân, Tư Lãng về phía Bắc đều giao cho Nhân quản trị. Đến lúc họ Triệu suy, Nhân chiếm ức đất Long châu, sai con thứ chín là Vi Tiết Nghiêm, giúp cai trị. Sau Nghiêm kiêu ngạo làm bậy bị Hồ giết chết (Hồ là cháu Triệu Đà, con Trọng Thủy lấy Mỵ nương nước Việt sinh ra). Họ hàng con cháu lánh nạn về đất Nhật Nam, trở thành một dòng họ quý tộc ở đất này. Như thế đủ thấy phúc trạch họ Vi đầy đặn và lâu dài.
Đoạn tộc phả trên chứa đựng những thông tin khá lạ về giai đoạn Lưu Bang – Triệu Đà trên đất Việt. Hoài Âm Hầu Hán Tín là mưu sĩ đại công thần của Lưu Bang trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng. Khi Lưu Bang lên ngôi hoàng đế đã tìm cách diệt trừ các công thần có quyền thế lớn, trong đó có Hàn Tín. Tiêu Hà, một cận thần của Lưu Bang đã ra tay cứu vớt dòng họ Hàn, gửi gắm vợ con của Hàn Tín cho Triệu Đà ở đất Lĩnh Nam. Họ Hàn (韩) bỏ đi nửa chữ, đổi thành họ Vi (韦) để tránh nạn chu di và được Triệu Đà trọng dụng cho cai quản một vùng đất lớn ở Long Châu…
Chỗ lạ của chuyện này là việc Tiêu Hà gửi gắm dòng máu của Hàn Tín cho nhà Triệu. Triệu Đà và Lưu Bang theo sách sử ngày nay khởi nghĩa thành công cùng một năm ở 2 miền Nam Bắc riêng biệt. Nam Việt và Tây Hán có liên quan gì đến nhau đâu mà Tiêu Hà lại thân thiết với Triệu Đà đến mức có thể giao phó một chuyện lớn như vậy? Họ Vi bắt đầu từ con của Hàn Tín người Hán sao lại cuối cùng thành ra một dòng họ của người Tày?
Đoạn tộc phả trên có thể giải thích theo cách nhìn mới về thời kỳ lịch sử nhà Tây Hán và Nam Việt. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang vốn xuất thân là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái. Từ lúc thả dân phu đi Lịch Sơn Lưu Bang bỏ vào vùng rừng núi Mang Đường (= Mường) ẩn náu. Khi Tần Thủy Hoàng mất, loạn lạc nổi lên khắp nơi. Viên huyện lệnh đất Bái theo lời “tư vấn” của Tiêu Hà mời Lưu Bang về trợ giúp, song sau lại đổi ý, dẫn đến kết cục bị nhân dân đất Bái nổi dậy giết chết, tôn Lưu Bang làm Bái Công, cầm đầu khởi nghĩa kháng Tần…
Từ góc nhìn của dòng sử dân gian Việt chuyện này được chép là Triệu Đà người Chân Định (Kiến Xương) ở đất Thái Bình (Thái Bình phiên thiết Bái), thay chức Nhâm Ngao, rồi khởi nghĩa ở huyện Long Xuyên hay Long Biên. Tộc phả họ Vi chép Long Xuyên là Long Châu. Thực ra Long Châu hay Long Xuyên là quận Tam Xuyên thời Tần vì Tam và Long đều là những dịch tượng chỉ hướng Đông. Nhâm Ngao theo như tộc phả trên là người từng cai quản đất Long Châu – Long Xuyên này, không phải Nhâm Ngao là quận thủ của quận Nam Hải như sách sử vẫn chép. Từ quận Tam Xuyên Lưu Bang – Triệu Vũ Đế mới đánh chiếm Quế Lâm, Nam Hải và quận Tượng, làm chủ toàn bộ vùng đất mà nhà Tần thiết lập trên đất Việt trước đó.
Tiêu Hà là cận thần theo Lưu Bang từ khi khởi nghĩa còn đang trứng nước ở đất Bái – Long Xuyên. Vì thế quan hệ Tiêu Hà với vùng Long Châu mới rất gần gũi như trong tộc phả họ Vi đã kể. Triệu Đà lập nước Nam Việt sau khi Lữ Hậu mất là một người cháu của Lưu Bang, nên Lưu Bang được nhà Triệu Nam Việt tôn là Vũ Đế. Con cháu của đại tướng quân Hàn Tín như vậy mới được trọng dụng ở Nam Việt, nhằm đối đầu với triều Hiếu (Tây Hán) ở phía Bắc, được dựng nên bởi các cận thần của Lưu Bang sau khi Lữ Hậu mất.
Tộc phả họ Vi còn cung cấp một chi tiết nữa. Con cháu họ Vi lánh nạn ở đất Nhật Nam. Nhật Nam nếu theo định vị hiện tại nằm ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, lấy đâu ra dòng họ Vi? Trong khi đó dòng họ Vi tới nay vẫn là một dòng họ lớn, có vai vế ở vùng Lạng Sơn và Quảng Tây. Như vậy vùng đất Nhật Nam được nói tới không phải là ở miền Trung mà là khu vực phía Nam Quảng Tây và một phần giáp ranh Bắc Việt. Vị trí quận Nhật Nam cũng là nơi Khu Liên khởi nghĩa cuối thời Đông Hán, không phải ở miền Trung Việt Nam mà là ở Quảng Tây.
Một dòng họ khác cũng có nguồn gốc bắt đầu từ thời Tây Hán là họ Đồng. Theo các tài liệu do chị Đồng Hồng Hoàn thu thập thì họ Đồng là hậu duệ của sử gia nhà Tây Hán Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên vì bị liên luỵ trong vụ án Lý Lăng nên đã phải chịu cung hình. Để bảo toàn gia tộc, 2 người con của ông buộc phải đổi họ. Người con trưởng là Tư Mã Lâm (司马临) từ họ phức là Tư Mã (司马) đã lấy chữ Mã (马) đồng thời thêm 2 chấm bên trái đổi thành họ Phùng (冯). Người con thứ là Tư Mã Quan (司马观) từ họ phức Tư Mã (司马) lấy chữ Tư (司) đồng thời thêm một nét sổ bên trái chữ Tư đổi thành họ Đồng (同). Hiện nay tại thôn Trại Từ Long Môn thuộc Hàn Thành, Thiểm Tây, quê hương của Tư Mã Thiên tuy không còn họ Tư Mã, nhưng người họ Phùng, họ Đồng rất đông, họ đều là con cháu đời sau của Tư Mã Thiên. Cả ngàn năm nay hai họ Phùng và Đồng vì cùng tế chung một ông tổ nên không bao giờ thông hôn, họ đều là người một nhà.
Còn gia phả họ Đồng ở Cổ Loa, Đông Anh thì cho biết: Tương truyền rằng trước đây tổ tiên là người Trung Quốc – họ Đồng Mã, nhưng không truyền tại duyên cớ gì sang bản quốc cư trú tại xã Nam Gián, tỉnh Hải Dương; Họ là từ chữ Tư (司) rồi thêm một nét sổ thành chữ Đồng (同)…
Vấn đề muốn bàn ở đây là tổ tiên họ Đồng đã sang định cư ở Hải Dương vào thời gian nào, vì duyên cớ gì?
Họ Tư Mã là một trong bách gia tính Trung Hoa, tức là người Bách Việt. Vốn Trình Bá thời Chu làm chức Tư mã rồi lấy đó làm họ. Như vậy Tư Mã Thiên là một sử gia người Hoa Việt, chép sử dưới thời Hiếu Vũ Đế, cũng là một triều đại Việt. Đây hoàn toàn không phải họ của người Hán như việc đánh lẫn họ của vua Tấn (Tư Mã Chiêu) với họ của Tư Mã Thiên. Tấn là chữ phiên thiết của Tây Hán, là người Hán chứ không phải người Hoa, nên không thể chung họ với Tư Mã Thiên được. Vả lại con cháu Tư Mã Thiên đều đã đổi sang họ Phùng và họ Đồng, làm gì còn ai mang họ Tư Mã mà sau này làm vua Tây Hán – Tấn.
Khi xác định họ Đồng VN bắt đầu từ Tư Mã Thiên thì việc có một người họ Đồng Trung Quốc đến Nam Gián, Hải Dương nhiều khả năng sẽ là dưới thời Sĩ Nhiếp, khi “danh sĩ nhà Hán sang nương nhờ có hàng trăm người“. Sĩ Nhiếp này là các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang của triều Tân chống lại giặc Hán, chứ không phải Sĩ Nhiếp thời Tam quốc.
Cuối thời Tân, đám Lục Lâm thảo khấu (được gọi là Hán quân) nhân cơ hội Trung Hoa suy yếu sau cải cách của Vương Mãng đã cướp được chủ quyền Trung Hoa. Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đã tôn một người cháu của Lý Bôn – Lưu Bang là Lưu Bồn Tử (Lý Bôn Tử) lên ngôi và phát động cuộc khởi nghĩa Xích My đánh dẹp quân Lục Lâm. Phàn Sùng chiếm được Trường An (kinh đô thời nhà Hiếu) nhưng sau đó bị thất bại bởi quân của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Trường An là nơi có nhà Tư Mã = Đồng + Phùng. Trong khởi nghĩa của họ Phùng này hẳn con cháu Tư Mã Thiên họ Đồng đã tham gia.
Họ Tư Mã vốn là những danh sĩ của nhà Hiếu, tiếp là triều Tân của Vương Mãng, nên sau khi khởi nghĩa của họ Phùng (Phàn Sùng) thất bại hẳn người họ Đồng đã phải chạy giặc xuống phương Nam, nương nhờ các thái thú châu mục ở đây lúc này là Đặng Nhượng và Tích Quang. Đặng Nhượng là người Việt quê ở Gia Lâm nên việc họ Đồng tới vùng Hải Dương rất liên quan đến thời điểm này.
Qua 2 câu chuyện của họ Vi và họ Đồng có thể thấy triều đại của nhà Hiếu (sử ngày nay gọi là Tây Hán) có liên quan trực tiếp đến vùng đất Giao Chỉ. Đây là nơi các danh sĩ nhà Hiếu, nhà Tân đã tìm về để ẩn náu do những biến động của thời cuộc bởi vì đây là đất gốc tổ của người Hoa Việt, của Hiếu Cao Lưu Bang và là nơi được các vị nhân sĩ trí thức yêu nước kiên cường chống giặc Hán xâm lược ngay cả khi triều đình trung ương đã rơi vào tay giặc (thời Sĩ Nhiếp). Mảnh đất Giao Chỉ do vậy là nơi hội tụ và bảo giữ được những dòng máu, những văn hóa cổ xưa nhất của người Bách Việt.

Khởi nghĩa Trưng Vương thời Tây Hán

Theo chính sử hiện tại, khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra vào năm 40 khi chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách bị thái thú Tô Định của nhà Đông Hán giết chết. Trưng Trắc lập đàn ở cửa sông Hát thề đền nợ nước, trả thù nhà. Từ vùng Phong Châu Hai Bà Trưng Trắc Trưng Nhị đánh xuống Long Biên, đuổi Tô Định, chiếm được 65 thành ở vùng Lĩnh Ngoại. Trưng Trắc lên ngôi, làm vua được 3 năm thì nhà Đông Hán cử Mã Viện làm Phục Ba tướng quân dẫn quân thủy bộ tiến vào. Sau một số trận đánh lớn như ở Lãng Bạc, Hai Bà đã tử tiết tại Cấm Khê, kết thúc một cuộc khởi nghĩa hào hùng và bi tráng của 2 nữ vương.

Trong khi sử sách Trung Quốc có rất ít thông tin về khởi nghĩa của Trưng Vương tại Giao Chỉ thì trong dân gian có rất nhiều tướng lĩnh của khởi nghĩa Hai Bà Trưng được thờ ở khắp miền Bắc nước ta. Tuy nhiên, những thần tích về các tướng lĩnh của Trưng Vương lại có những thông tin rất lạ về thời điểm của cuộc khởi nghĩa. Ví dụ như thần tích đình Lạc Cầu (Giai Phạm, Yên Mỹ, Hưng Yên) kể về 2 vị thành hoàng là Trương Công Tuấn và Lý Công Mẫn là tướng Tham tán của Trưng Vương, nhưng lại bắt đầu thần tích vào thời Tây Hán, Tô Định được cử làm thái thú nước ta… Tô Định là thái thú nhà Tây Hán, vậy Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào lúc nào?

Đình Nôm (Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên).

Cũng ở Hưng Yên có đình Đại Đồng (Văn Lâm) hay còn gọi là đình Nôm, thờ vị thành hoàng là đức thánh Tam Giang thời Hai Bà Trưng. Làng Nôm là một làng còn lưu được nhiều nét văn hóa cổ của vùng đất Phố Hiến. Đình có kiến trúc theo phong cách hội quán Phúc Kiến. Thần tích đình Nôm kể (Theo cuốn Di tích lịch sử – văn hóa Hưng Yên):
Vào thời Tây Hán ở trang Vân Mẫu thuộc đạo Bắc Giang có người con gái họ Phạm húy là Tĩnh. Năm 18 tuổi nổi tiếng về tài sắc nhưng nàng không muốn lấy chồng, chỉ một lòng theo đạo Phật. Nàng đến chùa Pháp Vân thấy cảnh chùa linh ứng phù hợp với tâm linh của mình liền xin tu ở chùa. Cò lần nàng ra sông Nguyệt Đức tắm, bỗng trời đất tối sầm, sóng gió nổi lên một con thuồng luồng quấn chặt lấy nàng. Đêm ấy nàng nằm mơ thấy mình nuốt vầng trăng vào bụng, từ đó mang thai. Đến ngày 10 tháng 2 năm Nhâm Thìn nàng sinh được người con trai khôi ngô tuấn tú, tướng mạo khác thường, đặt tên là Tam Giang.
Lớn lên Tam Giang trở thành trang nam nhi dũng lược, văn võ kiêm toàn. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, Tam Giang đứng lên chiêu mộ trai tráng quanh vùng tham gia và được cử làm Điện tiền chỉ huy tướng quân…
Sau một thời gian quân của Hai Bà Trưng đánh thắng giặc Hán… Tam Giang trở về trấn sở ở trại Đồng Cân, trang Đồng Xá sinh cơ lập nghiệp. Thấy cháu gái Triệu Đà là Triệu Mỵ Nương xinh đẹp nết na, Tam Giang lấy làm vợ. Từ đó nhân dân trại Đồng Cân được sống yên vui.
Ba năm sau nhà Hán cử Mã Viện sang xâm lược. Tam Giang ra trận nhưng thế giặc mạnh, quân ta bị thua. Tam Giang cùng mẹ và vợ xuống thuyền ở bến đò sông Nguyệt Đức rồi vùng tuẫn nạn trên sông.
Hiện đình Nôm thờ thánh Tam Giang, còn bà mẹ Phạm Tĩnh và vợ ông là Triệu Mỵ Nương được thờ tại chùa Nôm. Câu đối ở nghi môn đình Nôm:
生為將死為神萬古英靈桐嶺峙
功在徴名在漢一心忠義徳江清
Sinh vi tướng tử vi thần vạn cổ anh linh Đồng lĩnh trĩ
Công tại Trưng danh tại Hán nhất tâm trung nghĩa Đức giang thanh.
Dịch:
Sinh là tướng chết là thần, vạn cổ anh linh cao Đồng Lĩnh
Công ở Trưng danh ở Hán, một lòng trung nghĩa sáng Đức Giang.
Hay câu đối khác:
六十城東洛大都漢氏山河幾可轉
百千載南朝名蹟徵家義烈豈能磨
Lục thập thành Đông Lạc đại đô, Hán thị sơn hà ki khả chuyển
Bách thiên tải Nam triều danh tích, Trưng gia nghĩa liệt khải năng ma.
Dịch:
Sáu mươi thành đô lớn Đông Lạc, thời Hán núi sông mà lay chuyển
Trăm ngàn năm tích nổi Nam triều, nhà Trưng công nghĩa chẳng từ nan.

Ban thờ mẹ và vợ thánh Tam Giang ở chùa Nôm.

Vấn đề là một “Điền tiền chỉ huy tướng”, tức là chức vụ cầm đầu quân đội, của Hai Bà Trưng lại lấy vợ và cháu gái Triệu Đà. Triệu Đà là vua nước Nam Việt từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, thời Tây Hán. Cháu gái Triệu Đà đến năm 40 sau Công nguyên đã ngoài trăm tuổi, sao lại còn lấy chồng là đại tướng của Trưng Vương? Liên hệ giữa nhà Triệu Nam Việt và Trưng Vương là như thế nào?
Ở Hưng Yên còn một di tích khác vời thần tích nêu cụ thể về thời gian giữa nhà Triệu và Trưng Vương. Đình và đền thôn Thượng Bùi ở xã Trung Hòa, Yên Mỹ kể:
Ở động Hoa Lư, huyện An Khánh, phủ Trường An, châu Ái có người tên là Ngô Thông vốn dòng dõi thế gia. Ngô Thông làm đến chức Phủ doãn phủ Hà Trung. Lại có người tên là Phạm Cầu, người động Nga Sơn, huyện Thanh Sơn, phủ Hà Trung, làm đến chức Thái phó ở đời Triệu Ai Vương, được bổ nhiệm làm Bộ chúa Hải Dương… Hai họ Ngô Phạm thân thiết với nhau và có giao ước sẽ kết gả con cho nhau.
Ngô Công sinh con trai đặt tên là Ngọ. Nhà họ Phạm sinh hai con gái, đặt tên là Nga Nương và Châu Nương…
Năm Ngọ Công 11 tuổi cha bị quân Hán giết hại, mẹ sau cũng mất theo. Ngọ Công trở thành mồ côi, tìm đến nhà Phạm Công nương nhờ. Khi Ngọ Công 17 tuổi Phạm Công gả Nga Nương cho Ngọ Công. Lúc ất Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh Tô Định. Ngọ Công và Nga Nương đem quân tướng bái yết Trưng Vương. Trưng Vương phong cho Ngọ Công làm Than tán quốc chính thượng tướng quân Ngọ Phong Hầu và Nga Nương là Thống Lĩnh tả hữu nội vệ nữ tốt Nguyệt Nga công chúa…
Như vậy, Phạm Công người Thanh Hóa, làm chức Thái phó đời Triệu Ai Vương (117 TCN – 112 TCN). Thế mà con là Nguyệt Nga khi mười bảy đôi mươi lại là tướng thống lĩnh nội vệ của Trưng Vương. Tất cả những thần tích nêu trên ở Hưng Yên chỉ ra rõ ràng rằng có một khởi nghĩa Trưng Vương xảy ra không phải vào thời Đông Hán sau Công nguyên, mà là ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt bị nhà Tây Hán diệt. Chuyện này là thế nào?
Nhà Triệu Nam Việt thành lập từ thế kỷ 2 trước công nguyên, đô đóng Phiên Ngung (Quảng Đông), truyền tới Triệu Vệ Dương Vương thì bị nhà Tây Hán tấn công. Thừa tướng ba đời nhà Triệu là Lữ Gia cùng với vua Triệu và gia quyến đã lên thuyền rời kinh đô đi về phía Tây, tức là về vùng duyên hải Giao Chỉ lúc đó. Lữ Gia và Triệu Vệ Dương Vương bị quân Hán truy sát, bị bắt và tử tiết ở cửa sông Đáy đổ ra biển. Truyền thuyết Việt chép thành chuyện Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục) bị Lý Phật Tử đuổi, ra đến cửa Đại Nha thì đi ra biển mà mất. Còn thừa tướng Lữ Gia là tướng Lý Phục Man của Lý Nam Đế, sau khi tử trận đã được tùy tướng là Trương Hống Trương Hát đem về chôn cốt ở làng Giá – Yên Sở đầu sông Đáy.
Trương Hống Trương Hát chính là Nhị Trưng Vương, làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo ở Phong Châu. Nhị Trưng Vương là con gái thừa tướng Lữ Gia và là hoàng phi của Triệu Vệ Dương Vương. Vì vậy Trưng nữ vương mới lấy cửa sông Đáy (Hát Môn) làm nơi phất cờ khởi nghĩa đền nợ nước Nam Việt đã mất và trả thù nhà là vua Triệu đã bị chết ở cửa Đại Nha. Các tướng lĩnh của Trưng Vương do vậy mới có thân phụ làm quan cho nhà Triệu còn con thì cùng Trưng Vương trả thù nhà, đền nợ nước.
Thánh Tam Giang ở đình Nôm lấy cháu gái Triệu Đà tức là hoàng thân quốc thích của nhà Triệu Nam Việt và của Trưng Vương. Đức thánh do vậy nhận chức Điện tiền chỉ huy, tổng quản quân đội là hợp lý. Tam Giang thực ra là Tam Xuyên, là quận mà nhà Tần đã lập ra khi chiếm đất nhà Chu ở Giao Chỉ. Thánh Tam Giang là vị tướng cai quản vùng Tam Xuyên (Giao Chỉ) thời Trưng Vương.
Tư liệu dân gian cho thấy sử Việt đã chép thiếu khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương dưới thời Tây Hán. Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Phong Châu là nhằm phục quốc Nam Việt của nhà Triệu, nối tiếp ý chí chống Hán của thừa tướng Lữ Gia. Quốc thống và dòng dõi nhà Triệu, triều đại xưng Nam đế, xưng Việt đế đầu tiên trong lịch sử, không mất mà còn nối tiếp bởi các hoàng phi họ Lữ và sau đó là nước Nam Triệu ở vùng Tây Bắc Việt.

Ngũ vị tôn quan

Trong các ban thờ công đồng Tứ phủ hiện nay thì ngoài lớp tượng vua cha Ngọc hoàng thượng đế luôn có tượng 5 vị tôn quan trong 5 màu sắc áo đỏ, xanh lá cây, trắng, vàng và xanh tím. Sau các đức vua cha và thánh mẫu thì 5 vị quan lớn này là những nhân vật quan trọng hàng đầu của tín ngưỡng Tứ phủ. Tên gọi và chức danh của Ngũ vị tôn quan như sau:
1. Quan đệ nhất thượng thiên. Tước phong Đào tiên đệ nhất – Điều thất hoàng thái tử.
2. Quan đệ nhị giám sát. Tước phong Nhạc thần đại vương – Đô đài giám.
3. Quan đệ tam ở đền Lảnh Giang. Tước phong Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương.
4. Quan đệ tứ khâm sai. Tước phong Thiên Hựu đại vương.
5. Quan đệ ngũ tuần Tranh.

Ngu vi ton quan

Ngũ vị tôn quan, tượng ở đền Lê Chân, Hải Phòng

Thân thế các vị tôn quan theo các thần tích ở đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) hay đền Lảnh Giang (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam) được biết là con vua cha Bát Hải (vua cha Thoải phủ), đã đầu thai sinh cùng một trứng, hóa thành các thần rắn, rồi lên trần gian phù giúp vua Hùng đánh Thục.
Trong bài viết Bạch Hạc Tam Giang đã chỉ ra rằng truyện về các vị thần sông Bạch Hạc (Lĩnh Nam chích quái) là Thổ Lệnh và Thạch Khanh hay tục thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương ở vùng Phú Xuyên có quan hệ với Ngũ vị tôn quan của tín ngưỡng Tứ phủ. Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh là Quan lớn đệ tam, thác hóa ở khu vực thôn Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên), gần đền Lảnh Giang. Lảnh có thể là từ đọc khác của Lệnh.
Còn vị thần Bạch Hạc thứ hai Thạch Khanh là Quan đệ ngũ tuần Tranh. Cái tên Thạch Khanh và Tranh cận âm. Vị thần này còn được nhắc đến ở làng Đống Tranh (Minh Cường, Thường Tín) trong tục thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương.
Trong thần tích ở làng Đa Chất thì 3 người anh em con của Đào Công Bột là ông Cự, Hồng và Quý Lân sau khi đánh Thục ở lần đầu đã hóa trước. Tiếp theo chỉ còn Trưởng Lệnh và Thạch Khanh lập công đánh Thục. Đây là điều giúp lý giải việc hai vị quan đệ tam và quan đệ ngũ là hai giá đồng thường gặp, trong khi ba vị quan còn lại rất hiếm khi giáng đồng.
Tiếp tục truy tìm vết tích của 3 người anh em họ Đào đã hóa trước này. Sự tích về các vị quan lớn của Tứ phủ có cho biết: Quan đệ nhất là Đức Thánh Cả, Quan đệ nhị là Đức Thánh Trung và Quan đệ tứ là Đức Thánh Hạ, đã thác hóa ở sông Đáy tại Vân Đình. Hiện ở khu vực Vân Đình (Ứng Hòa, Hà Nội) có các đền thờ 3 vị thánh này. Đền Đức Thánh Cả nằm ở thôn Thái Bình với sự tích kể rằng đây là một vị tướng giúp vua Hùng đánh giặc nhà Ân ở vùng châu Hoan châu Ái. Đức Thánh Cả ở Thái Bình có tên được thờ là Bột Hải hoàng đế.

IMG_3784 (2)Đền Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội.

Câu đối tại đền Thái Bình:
第六代雄王神將揮刀鯨刳鰐断
幾千秋東海殷兵絶命戟折舟沉
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số kích gãy thuyền chìm.
Cái tên Bột Hải hoàng đế của Đức Thánh Cả đã xác nhận mối liên hệ vị thánh này với Ngũ vị tôn quan con vua Bát Hải và 5 anh em con ông Đào Công Bột. Bột hay Bát là số 8, chỉ hướng Đông. Trong câu đối trên cũng nói rõ nơi Đức Thánh Cả lập công trạng là biển Đông. Bột Hải hay Bát Hải là biển Đông, là nơi xuất thế của vua cha Bát Hải Động Đình hay nơi trị nhậm của Đào Công Bột (Hải Dương).
Khác với thần tích về Ngũ vị tôn quan, Đức Thánh Cả ở Vân Đình không phải giúp vua Hùng 18 đánh Thục mà là giúp vua Hùng thứ 6 đánh giặc Ân, nhưng lại ở “châu Hoan, châu Ái”. Rõ ràng trận thủy chiến đánh giặc Ân ở châu Hoan, châu Ái này không phải trận chiến trên cạn của Thánh Gióng diệt giặc Ân ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh.
Để lý giải sự khác biệt này cần nhắc lại bản chất cuộc chiến Hùng Thục thời vua cha Bát Hải Động Đình. Đây là cuộc chiến tranh giành vương vị của ông Khải – Lạc Long Quân với ông Ích sau khi Đại Vũ – Kinh Dương Vương mất. Ích cũng là Ất, là số 2 trong thập can (Giáp, Ất…). Địa bàn gốc của tộc người theo Bá Ích là vùng cựu đô Ngàn Hống ở châu Hoan từ thời Hoàng Đế – Đế Minh. Vì thế thần tích về Đức Thánh Cả ở Thái Bình đã kể thành Hùng Vương thứ sáu (Hùng Lục Vương hay Lạc Vương) đánh giặc Ân ở Hoan Ái. Ân hay ơn là số 2. Ái cũng là từ biến âm của Ích – Ất.
Dòng tộc theo Bá Ích do cuộc chiến này đã phải chạy sang phía Tây, sau nhiều đợt di cư đến đất Kỳ Sơn ở Quý Châu. Do đó dòng tộc này được gọi là Thục (thục nghĩa là chín, cùng âm với số 9, chỉ hướng Tây) hay Di Hạ (Di Hạ phiên thiết cho từ Dạ, là nước Dạ Lang ở vùng Vân Nam Quý Châu). Lạc Long Quân giành chiến thắng, khởi đầu nhà Hạ ở vùng ven biển Đông, được truyền thuyết và tín ngưỡng Việt tôn là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ, mở mang Hoa Đào Trang ở đất Thái Bình.
Ngũ vị tôn quan như vậy là 5 vị đại công thần lập quốc của Lạc Long Quân, được tôn thờ thành các thủy thần trên các dòng sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tranh,… và là những vị quan “trị sự” hàng đầu trong Tứ phủ công đồng.

Bạch Hạc Tam Giang và Lạc Long Quân

Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển là đi đâu? Lạc Long Quân mất ở chỗ nào? Lần tìm trong truyền thuyết và tín ngưỡng thờ thần của người Việt hé lộ thêm thông tin về cha Rồng và lịch sử của thời kỳ này.

Truyện thần sông Bạch Hạc trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam thanh bở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước… Đời Trần phong làm Trung Dực võ liệt phụ quốc hiển uy vương…
Truyện kể về Thổ Lệnh và Thạch Khanh đã hiển ứng ở thời Đường không cho biết gì về nguồn gốc, xuất xứ và công tích gì của 2 vị thần này. Cũng vì thế nhiều người cho rằng đây chẳng qua là hai thần đất (Thổ) thần đá (Thạch) được tôn sùng mà thành. Nhưng thần đất và thần đá sao lại tranh nhau làm thủy thần là thế nào?
Thổ Lệnh được thờ không chỉ ở vùng Bạch Hạc Phong Châu mà đây là vị thần được thờ ở rất nhiều nơi, từ khu vực đầu sông Nhuệ (Tây Tựu, Phú Diễn) tới vùng Thường Tín, tập trung nhất ở Phú Xuyên (Hà Nội) và một số nơi ở Hà Nam. Theo thống kê của Viện nghiên cứu văn hóa thì chỉ riêng trong số 153 làng xã có thần tích của Phú Xuyên đã có 28 làng thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương (tên gọi của Thổ Lệnh ở vùng này). Còn theo thần phả ở đình Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên) thì từng có tới 172 nơi thờ vị thần này. Có thể thấy Trung Thành Phổ Tế đại vương hay Bạch Hạc Tam Giang là một vị thần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian. Đây chắc chắn là một nhân thần có công trạng to lớn trong lịch sử dân tộc.

P1140203Đình Đa Chất, Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội, nơi hóa của Trưởng Lệnh họ Đào.

Đền thờ chính của Trung Thành Phổ Tế đại vương vốn là đền Ba Lương ở thôn Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên), nơi thần hóa. Đền này nay không còn, nhưng thần tích vẫn được lưu giữ ở đình Đa Chất. Bản thần tích này kể, thời Hùng Duệ Vương ở châu Cửu Giang, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, Ái Châu có một nhà quý tộc là ông Đào Bột lấy bà Phạm Thị Điểm người bản huyện làm vợ. Ông được Duệ Vương bổ làm chức Bộ trưởng Hoan Châu, sau đó do có công dẹp giặc ở Hải Dương nên được vua phong làm Bộ trưởng coi giữ đất Hải Dương.
Chính phi của Bột công không may qua đời, ông tái giá với bà Nguyễn Thị Hương, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam…
Mấy năm sau, khi ở Hải Dương ông bà gặp sự lạ, vớt được 5 quả trứng nổi trên mặt nước, rồi nửa đêm có rồng báo mộng về trứng thần. Bà vợ mang thai, sinh một bọc, nở ra năm người con trai, diện mạo khôi ngô, thân thể rộng dài, lưng trông như vảy cá một rẻo… Bột công đặt tên cho các con là Cự, Hồng, Trưởng, Thạch Khanh và Quý Lân.
Lớn lên, năm anh em vào chầu vua và được phong tước trọng. Cự Công làm Đông Long thái sư. Hồng Công làm Tây Long thái phó. Trưởng Công làm Nam Long Trưởng lệnh, quyền tể tướng, làm Thổ lệnh cai quản 50 Thuỷ thần. Khanh Công làm Bắc Long Thái Bảo quyền nắm thuyền rồng. Quý Công là Thiếu Long, nắm giữ đài rồng nơi nhà vua ngự. Lại thêm chức cho Bột công là Đại vương.
Nhà vua cắt cử ngũ công trấn giữ năm phương, kiêm chủ tể nắm các ngả sông để bảo vệ dân. Đệ nhất công làm chủ tể Hải Dương quận. Đệ nhị công làm chủ tể Sơn Tây đạo. Đệ tam công Trưởng lệnh công làm chủ tể Sơn Nam quân, xây thành ở xã Tông Chất tại ngã ba sông Lương giang, Du giang và Tô giang. Đệ tứ Quý công xây dựng thành cung ở Kinh Bắc. Đệ ngũ công xây thành tại Nam Trực.

Như vậy hai vị thần sông Bạch Hạc Thổ Lệnh và Thạch Khanh là hai anh em, cùng một bọc sinh ra. Thổ Lệnh trong thần tích này gọi là Trưởng Lệnh. Có thể Thổ Lệnh đúng phải là Thủ Lệnh, tương đương với tên Trưởng Lệnh.
Công trạng chính của 5 anh em họ Đào là giúp vua Hùng đánh Thục. Sau khi đánh quân Thục lần đầu 3 vị Cự, Hồng, Quý Lân đã hóa trước. Trong trận tiếp theo Trưởng Lệnh và Thạch Khanh cầm thủy quân đánh quân Thục toàn thắng. Sau đó Trưởng Lệnh còn dẹp giặc Thái Thịnh ở Hồng Châu. Khi về đến ngã ba Lương Giang, mở tiệc mừng công thì ngài cưỡi cá chép theo dòng nước mà hóa về trời.
Câu đối ở đình Đa Chất:
靈夢感唐臣白鶴三江傳勝蹟
皇圖開越甸鴻庞千載沐王庥
Linh mộng cảm Đường thần, Bạch Hạc Tam Giang truyền thắng tích
Hoàng đồ khai Việt Điện, Hồng Bàng thiên tải mộc vương hưu.
Dịch:
Mộng thiêng cảm tướng Đường, Bạch Hạc Tam Giang truyền thắng tích
Hoàng đồ mở điện Việt, Hồng Bàng nghìn thủa thấm ơn vua.

Ở Phú Xuyên có câu “sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” nói về Trung Thành Phổ Tế đại vương. Làng Tông Chất nơi thần hóa sau đổi thành Đa Chất. Làng này rất đặc biệt bởi tới giờ vẫn dùng một thứ ngôn ngữ cổ riêng mà chỉ người trong làng với nhau mới hiểu. Liệu Tông Chất có phải nghĩa là nơi “vị tông tổ bị chết”? Tông Chất là làng được dành riêng để thờ phụng, chăm sóc mộ phần và hương hỏa của Trung Thành Phổ Tế đại vương nên có tên như vậy và vẫn giữ một ngôn ngữ riêng trong làng.
Mặc dù thần tích về Bạch Hạc Tam Giang hay Trung Thành Phổ Tế đại vương kể khá chi tiết, đầy đủ các sự kiện nhưng việc nhận diện đúng các nhân vật này trong lịch sử vẫn cần được lý giải hơn nữa. Tại sao một vị thần thời Hùng Vương lại là được thờ rộng rãi như vậy? Giặc Thục trong câu chuyện Bạch Hạc Tam Giang là Thục nào?
Khi xét kỹ thần tích kể về anh em Thổ Lệnh và Thạch Khanh thì thấy chuyện này hoàn toàn trùng khớp với chuyện kể về sự xuất hiện và công trạng của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Vĩnh Công cũng là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Ở cả 2 sự tích đều nói về những anh em sinh cùng một bọc trứng, con của rồng. Khi đất nước có giặc Thục những anh em này đã tập hợp lại cùng chống giặc. Trong chuyện Bát Hải Động Đình thì con Hoàng xà lớn (tức Vĩnh Công) đã tập hợp anh em thành 10 vị quan lớn, mỗi vị trấn giữ một vùng để đánh Thục.
Liên hệ rõ nhất giữa 2 sự tích là tên của vị phụ thân Đào Công Bột. Vị họ Đào này sau khi hóa được phong là Bột Hải đại vương. Bột là đọc khác của Bát, là số 8 chỉ hướng Đông. Bột Hải = Bát Hải = biển Đông. Đào Công Bột từng làm Bộ trưởng đất Hải Dương, tức là phụ trách khu vực phía Đông giáp biển, cũng là vùng đất xuất phát của Vĩnh Công Bát Hải Động Đình.
Bát Hải Động Đình lập Hoa Đào Trang ở vùng Thái Bình. Thông tin này là giải nghĩa cho họ Đào của Bột Công. Đào hay Hoa, hay Hạ đều chỉ màu đỏ, màu của xứ nóng. Đất Đào là Hoa Hạ. Bát Hải Động Đình hay Đào Công Bột chính là Hạ Khải, người đã mở đầu Hoa Hạ ở vùng biển Đông. Hạ Khải cũng là Lạc Long Quân, vị vua của Thủy phủ trong truyền thuyết Việt. Đó là lý do vì sao anh em họ Đào lại được thờ phổ biến đến vậy trong dân gian.
Vì Đào Công Bột là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ nên năm anh em họ Đào trấn giữ ngũ phương là Ngũ vị tôn ông (Thập vị quan lớn) trong tín ngưỡng Tứ phủ. Đặc biệt, một trong những nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương là làng Đống Tranh ở xã Minh Cường (Thường Tín, Hà Nội), có câu đối ở cổng đình:
突屼靈鐘標棟宇
瓏玲英毓瑩崢江
Đột ngột linh chung tiêu đống trụ
Lung linh anh dục oánh Tranh giang.
Dịch
Ngất cao thiêng đúc nêu mái đống
Lung linh đẹp dưỡng sáng sông Tranh.
Câu đối này nói tới Tranh giang, một con sông không hề chảy qua khu vực Thường Tín – Phú Xuyên. Sông Tranh là đoạn sông ở phía Nam tỉnh Hải Dương, con sông của vị quan lớn Đệ ngũ tuần Tranh trong Tứ phủ. Câu đối và cái tên làng Đống Tranh đã cho thấy liên hệ trực tiếp giữa anh em họ Đào với các vị quan lớn trong Tứ phủ.

Dong TranhĐình Đống Tranh, Minh Cường, Thường Tín, Hà Nội.

Bản thân nơi Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất không cách xa Lảnh Giang, nơi có đền thờ quan Đệ tam của Tứ phủ là mấy. Trưởng Lệnh là Đệ tam công họ Đào. Còn quan lớn Đệ tam cũng tử tiết tại Lảnh Giang. Liệu có phải Lương giang và Lảnh giang là một, là đoạn sông Châu Giang đổ vào sông Hồng?
Câu đối khác ở đình Đống Tranh:
良水三岐異夢巍燃南土建崇祠
峰州萬里長城凜烈北方留正氣
Lương thủy tam kỳ dị mộng, nguy nhiên Nam thổ kiến sùng từ
Phong Châu vạn lí trường thành, lẫm liệt Bắc phương lưu chính khí.
Dịch:
Mộng lạ ngã ba sông Lương, nguy nga đất Nam dựng đền lớn
Thành dài Phong Châu vạn dặm, lẫm liệt phương Bắc giữ khí ngay.
Ngã ba sông Lương được gọi là Tam Kỳ, nơi có đền Ba Lương, chỗ hóa của Trung Thành Phổ Tế đại vương. Tam Kỳ còn tương ứng với Tam Giang. Hơn nữa Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng được sắc phong là Trấn Tây An Tam Kỳ linh ứng đại vương. Sự khớp nhau giữa tên gọi, công tích cho thấy hai chuyện Bát Hải Động Đình cùng Ngũ vị tôn ông và Đào Công Bột cùng 5 anh em Trưởng Lệnh, Thạch Khanh chỉ là một.

Co CheMảng chạm tiên rồng ở đình Cổ Chế, một nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương ở Phúc Tiến, Phú Xuyên, Hà Nội.

Cuộc chiến Hùng – Thục được nói tới ở đây là cuộc chiến giữa ông Khải và ông Ích trong cổ sử Hoa Hạ thời kỳ 4.000 năm trước. Ông Khải là con của Đại Vũ và Long Nữ Động Đình, cũng là Lạc Long Quân của truyền thuyết Việt. Khi Đại Vũ mất, ông Khải không chấp nhận di mệnh truyền ngôi cho Bá Ích của Đại Vũ, đã liên kết các bộ tộc bên cha (Lạc) và mẹ (Long), làm cuộc đảo chính, đánh đuổi Bá Ích chạy về phía Tây. Thục là từ chỉ hướng Tây nên dòng Bá Ích được truyền thuyết Việt chép là quân Thục, gây chiến tranh kéo dài với dòng của Lạc Long – Hùng Vương.
Ông Ích còn được sự ủng hộ của bộ tộc Hữu Hộ Thị ở phía Nam (nay) trong cuộc chiến này. Vì vậy mới có chuyện Trưởng Lệnh (dòng Lạc Long – Hùng Vương) đã phải dẹp giặc Hồng Châu. Hồng Châu hay Hồng Lĩnh là nơi có cố đô Ngàn Hống xưa. Hay trong thần tích đình Nhật Tân (Kim Bảng, Hà Nam) ghi Trưởng Lệnh đi đánh dẹp giặc Tôn Tinh. Tôn Tinh là Hồ Tôn Tinh thời Hùng Vương, là nước ở phía Nam nước Văn Lang.
Cuối cùng không rõ sự tranh giành ngôi vị nơi thờ giữa Thổ Lệnh và Thạch Khanh ở Bạch Hạc có phải ngầm chỉ sự tranh giành vương vị giữa hai dòng Lạc Long và Thục không. Thạch là hành chỉ hướng Tây trong Ngũ hành. Thạch Khanh là vị khanh hầu phía Tây, tương ứng với Bá Ích. Xét kỹ thì Thổ Lệnh – Thạch Khanh và Hạ Khải – Bá Ích đều là anh em một dòng từ Hoàng Đế. Trong cuộc tranh giành ngôi vị ở Tam Giang Phong Châu, Hạ Khải – Lạc Long đã thắng, Bá Ích – Thục buộc phải “xếp sau” và di rời về phía Tây. Ích cũng là Ất hay thứ 2 (trong thập can).
Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất trong truyền thuyết Việt đánh dấu sự chia tách của người Việt theo hai hướng Đông Tây. Dấu vết, truyền tích của cuộc chiến thời lập quốc này vẫn còn in đậm, lưu giữ dưới câu chuyện về thần Bạch Hạc Tam Giang và vị thần họ Đào được thờ suốt một dải từ ngã ba sông Việt Trì tới vùng đồng bằng Bắc bộ. Sự tích các vị thần thời Hùng Vương đan xen lẫn nhau, nhưng ngẫm kỹ vẫn có thể sáng tỏ chuyện của 4000 năm trước.

Nước Lỗ của Khổng Tử nằm ở đâu?

Nhân thể chuyện xây văn miếu và thờ Khổng Tử ở Việt Nam đang được dư luận bàn tán rôm rả xin góp vui vài ý về sự thật nước Lỗ và quê hương của Khổng Tử.
Khổng Tử người nước Lỗ thì ai cũng biết, nhưng nước Lỗ này nằm ở đâu? Sử ký Tư Mã Thiên chép về quê hương của Khổng Tử  như sau: Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ. Tổ tiên trước kia là người nước Tống…
Thông tin gốc như vậy mà không biết căn cứ vào đâu cho rằng quê của Khổng Tử “nay là” huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc? Khổng Miếu ở Sơn Đông cho dù có là di sản văn hóa thế giới nhưng niên đại của cái miếu đó chắc không quá được thời Đường Tống đổ về, tức là xây cách thời Khổng Tử cỡ trên 1.500 năm.

Nước Lỗ vốn là đất phong của Chu Công Đán, vị đại công thần lập  quốc lớn nhất của nhà Chu. Nước Lỗ của Chu Công không hề nằm ở vùng Sơn Đông vì thời Ân Thương khu vực Sơn Đông là đất của dân Di, không phải của người Hoa. Chu Công còn phải vất vả đi đánh dẹp cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh liên kết với đám Hoài Di, Từ Nhung thời Chu Thành Vương. Như vậy làm gì có chuyện đất phong của Chu Công trước đó lại nằm trên đất của Di Địch được.
Trà kinh của Lục Vũ (học giả thời Đường) chép: Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị, truyền bởi Lỗ Chu Công, Tề có Án Anh… Vậy là 3.000 năm trước Chu Công nước Lỗ đã thích uống trà. Nhưng vùng Sơn Đông (hay vùng Hoàng Hà nói chung) làm gì có cây trà mà uống? Trà (chè) là loài cây gốc tự nhiên ở khu vực dãy Hymalaya, như ở Vân Nam và Bắc Việt. Làm gì có trà mọc ở bán đảo Sơn Đông băng giá.
Chuyện khác, Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng”.
Thì ra Khổng Tử chép Ngũ kinh bằng chữ Khoa đẩu. Chữ Khoa đẩu được biết là chữ của người Việt cổ. Khổng Tử soạn kinh bằng chữ Việt, hỏi Khổng Tử là người Việt hay người Tàu?
Chân lạp phong thổ ký do Chu Đạt Quan thời Nguyên đi sứ sang đất Chân Lạp (Cămpuchia) thì ghi nhận: Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angko Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Lỗ Ban, vị tổ nghề mộc và xây dựng người nước Lỗ cùng thời với Khổng Tử mà lại đi xây tháp ở Cămpuchia và mộ nằm ở Angko Wat. Hỏi nước Lỗ của Lỗ Ban và Khổng Tử phải nằm ở đâu?
Khổng Tử làm Kinh Xuân thu đến năm Lỗ Ai Công săn được con Lân thì dừng bút. Vì thế Kinh Xuân thu còn gọi là Lân kinh. Thế nhưng, Chu Hy (thế kỷ 12 thời Nam Tống) chú giải về con Lân như sau: Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống.
Loài thú đứng đầu các loài có lông mao (động vật có vú), trông giống hươu, đuôi bò, móng ngựa, có một sừng thì phải là con Tê giác. Con Lân là con Tê hay con Tây. Vấn đề là con Tê giác thì không thể nào có ở khu vực Sơn Đông được. Tê giác là loài vật của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, gặp ở Lào – Việt Nam – Cămpuchia. Nước Lỗ nơi Lỗ Ai Công săn được con Lân chắc chắn nằm ở khu vực bán đảo Đông Dương, chứ không phải bán đảo Sơn Đông của vùng ôn đới.

NhathohoCao

Nhà thờ họ Cao tại Nho Lâm, Diễn Thọ.

Thông tin từ văn hóa dân gian Việt cũng cho một số chỉ dẫn về vị trí nước Lỗ. Nhà thờ họ Cao ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An thờ tổ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí, sống vào quãng năm 1360. Gia phả họ Cao nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải. Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Thực ra Bột Hải hay Bát Hải nghĩa là biển ở phương số Tám (8), tức là phương Đông trong Hà thư. Bột Hải của họ Cao là vùng biển Đông ngày nay.
Ông Cao Thiện Trí còn được gia phả họ Cao ghi lấy vợ là bà Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An. Nước Lỗ ở gần Nghệ An và Bột Hải – biển Đông thì phải là khu vực nước Lào ngày nay. Đây mới là vị trí thực sự quê của Khổng Tử, nơi có những con Lân – Tê sinh sống, có những cây trà cổ thụ mọc trong tự nhiên, nơi người dân vốn dùng chữ Khoa đẩu mà chép sách truyền kinh.
Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Diễn Châu, Nghệ An thì có câu đối:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.
Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.
Họ Hồ, dòng họ của những vĩ nhân Hồ Quý Ly, Quang Trung và Hồ Chí Minh, là có nguồn gốc từ Đế Ngu Thuấn, theo lễ nghĩa của Khổng Tử. Người Việt thực sự đã bị lạc hướng và hiểu sai về nguồn gốc và văn hóa của mình. Những đóng góp to lớn của Khổng Tử cho nền văn hóa Trung Hoa chính đã tạo nên nền tảng của văn hóa Việt.
Có thơ:
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.

Lời cảm ơn độc giả sách BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI

rong tron

Tuyển tập các bài viết lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian với tựa đề BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI ra mắt bạn đọc tới nay đã được hơn một năm. Cho dù cuốn sách đã không thể bày bán trên các tiệm sách, nhà sách, nhưng một năm qua đã có nhiều bạn đọc tìm và mua cuốn sách chưa xuất bản này. Những gì bạn đọc dành cho cuốn sách thực sự là một nguồn động viên to lớn đối với tác giả. Xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn bạn đọc gần xa đã quan tâm và ủng hộ cho cuốn sách.

Trước hết xin cảm ơn tới 2 nhà văn Hồ Trung Tú và Nguyễn Xuân Hưng, những người đã góp nhiều ý kiến và đánh giá đối với cuốn sách. Anh Hồ Trung Tú trong bài viết trên báo Người lao động về “Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba” đã rất công tâm khi xếp cuốn sách này vào chung với các tác phẩm của tác gia nổi danh đương thời khác. Quả là một đánh giá đáng giá. Anh Nguyễn Xuân Hưng thì có riêng một bài phát biểu cảm tưởng về cuốn sách, lời văn nhẹ nhàng nhưng rất hấp dẫn và đúng vấn đề, đúng với phong cách của một nhà văn.

Lời cảm ơn thứ hai dành cho các thành viên Diễn đàn Lý học phương Đông đã rất quan tâm tới cuốn sách. Đàn chủ Thiên Sứ đã ngỏ lời mua sách ngay từ đầu khi sách mới trình làng. Tiếc là do hoàn cảnh nên chưa được gặp anh để trao tặng sách. Tuy nhiên, sự nhiệt tình của đàn chủ đã là gương cho những thành viên có tiếng khác như anh Thiên Bồng ở miền Nam, tìm đặt mua sách. Đặc biệt là bác Lãn Miên, tuổi tuy đã cao mà đã 2 lần hạ cố tới “thảo lư” mua sách, tuy cả 2 lần “thảo dân” đều vắng nhà. Có lẽ duyên số… phải đợi đến lần thứ ba mới có dịp hội ngộ chăng?

Một bác có tuổi khác ở TP Hồ Chí Minh ngay trong lần ra sách đầu đã đặt mua ngay 10 cuốn. Sách này chắc không phải thứ ăn được để mua số lượng nhiều mà dùng dần khi đói. 10 cuốn sách mua về hẳn là để tặng bạn tặng bè, giúp tác giả đưa được nội dung tới nhiều người đọc hơn. Chân tình này đối với cuốn sách thật đáng quý.

Kỷ lục về số lượng mua sách thuộc về một độc giả đặt mua tới 3 lần, tổng cộng 21 cuốn sách. Độc giả này là Tổng giám đốc một Công ty cổ phần chứng khoán có tiếng. Một doanh nhân lại có hứng thú, tâm huyết đến vậy thật hiếm có. Cách suy nghĩ thực tế, chín chắn của một doanh nhân đối với vấn đề được nêu ra còn có tinh thần khoa học hơn nhiều so với các giáo sư tiến sĩ mà từng được lấy ý kiến tham khảo khi soạn sách.

Còn nhiều độc giả khác, người đến tận nơi, người gửi qua bưu điện,… đã nhận được cuốn sách. Hy vọng những gì cuốn sách đem lại cho độc giả không chỉ là sự giải trí trong đôi chốc, mà là sự giải phóng tư duy để tìm về chân lý đúng đắn hơn cho lịch sử và văn hóa nước nhà. Tìm hiểu nguồn gốc tổ tiên của mình là việc không ai không cần làm. Có lẽ vì vậy mà cuốn sách đã nhận được sự quan tâm đến vậy của bạn đọc.

Có nhiều người có những ý tưởng hay, muốn viết thành sách, nhưng lại không đủ kiên trì mà viết ra. Nhưng đáng trách hơn, có những người thấy sách hay nhưng lại không đủ nhiệt tình bỏ công ra đặt sách. Nếu bạn muốn có cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI xin đừng ngại liên hệ theo địa chỉ bachviet18@yahoo.com.

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử…“. Một lần nữa xin cảm ơn những người dân Việt đã gìn giữ những tư liệu lịch sử quý báu trong dân gian, trong thần tích, trong tín ngưỡng. Đó cũng gìn giữ để là hồn Việt còn sống mãi và tỏa sáng.

Hồn sông núi nước Nam còn mãi
Để hôm nay ta lại là ta
Hé mây trời sáng bao la
Anh linh tiên tổ Hùng ca đời đời.

Bia tap 1

Tóm tắt 18 bài viết trong cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI

1. Ông trời Bà trời
Ông Trời là Hoàng Đế Hiên Viên, cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt. Bà Trời hay Mẫu Thượng thiên là Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, cầm đầu bộ tộc Cao Sơn ở núi Côn Lôn – Tam Đảo.
2. Đế quốc Lạc Hồng
Lạc Hồng là hai vùng đất Đào – Đường thời Đế Nghiêu – Đế Nghi. Đế Nghi làm vua phương Bắc (Hồng), Lộc Tục làm vua phương Nam (Lạc), là thời kỳ Nam Giao mở nước của người Việt.
3. Tản Viên Sơn Thánh
Vị thần đứng đầu trong các thần linh Việt là Sơn Tinh – Đại Vũ, người đã phát huy ứng dụng Hà Lạc trong công cuộc trị thủy và tập hợp các bộ tộc ở bốn phương, dựng nên nước Việt thời sơ sử.
4. Rồng bay biển Bát
Cha rồng Lạc Long Quân xuất thế nơi biển Động Đình – biển Đông là vua cha của Thoải phủ, là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ của 4.000 năm trước.
5. Non sông Bách Việt
Mẹ Âu Cơ dựng nước Văn Lang ở đất Phong là Văn Vương Cơ Xương. Người sinh Bách Việt là Chu Vũ Vương sau khi diệt Ân Trụ Vương với sự phò tá của thần Phù Đổng. Những cổ vật đồ đồng thời Thương Chu hiện hữu ở vùng Đông Dương minh chứng cho những sự kiện này.
6. Lão Tử hóa Việt kinh
Vị giáo chủ Đạo Giáo Lão Tử không ai khác là Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần đã sai khiến Rùa Vàng giúp vua Chu An Dương Vương dời đô từ Tây sang Đông, xây thành ở Cổ Loa.
7. Nhân duyên Tần Việt
Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là mối lương duyên Chu – Tần, sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng, thống nhất Trung Hoa thời cổ đại.
8. Hương Bổng Đổng Đằng
Hương là đức thánh Chiêm Lý Ông Trọng trấn Hoa Di. Bổng là Phù Đổng Thiên vương đánh giặc Ân. Đổng là Huyền Thiên Đại Thánh khiển quy xà. Đằng là vua Mây họ Phạm trấn giữ miền duyên hải.
9. Thiên Nam đế thủy
Người khởi đầu nước Nam Việt là Triệu Vũ Đế, cũng là Cao Tổ Lưu Bang và là Long Hưng Lý Bôn, xuất Thái Bình, khởi nghĩa ở Long Biên mà nên nghiệp đế vương.
10. Nam quốc sơn hà
Nước Nam Việt của nhà Triệu là chuyện Triệu Quang Phục trong truyền thuyết. 4 đời vua Triệu gắn liền với tên họ của Lữ Gia, hay Lữ tộc từ Lữ Hậu.
11. Lời thề sông Hát
Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương hay Trương Hống Trương Hát nối tiếp ý chí Phục Man của Lữ Gia, lấy sông Hát làm nơi dựng cờ đền nợ nước Nam Việt, trả thù nhà cho Triệu Việt Vương.
12. Những anh hùng thời loạn
Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đánh đuổi Lục Lâm Hán quân xâm lược. Huynh đệ Sĩ Vương 40 năm tự quản Giao Châu, chống giặc giữ là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang. Sĩ Nhiếp thứ hai là Đô Hồ Phạm Tu, cũng là thần Long Đỗ, thành hoàng Thăng Long.
13. Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Ngọn cờ của khởi nghĩa Khăn Vàng trên đất Tượng Lâm của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh đã chặn đứng bước tiến của Hán quân Mã Viện xuống phương Nam, làm tiền đề cho Lý Bí dựng nên nước Tây Đồ Di – Tây Thục.
14. Sáu trăm năm Lâm Ấp
Thục Ngô mất nhưng Lâm Ấp của Mạnh Hoạch vẫn còn. 600 năm độc lập của con cháu Triệu Vũ Đế tính đến khi Lý Phật Tử về với nhà Tùy. Tấm bia cổ phát hiện ở Bắc Ninh xác nhận chùa Dâu là chùa Thiền Chúng, nơi Tùy Văn Đế xây tháp xá lợi ngay trên kinh đô của Lý Phật Tử.
15. Bố Cái đại vương
Lâm Ấp – Nam Chiếu lại phục hưng từ Bố Cái đại vương họ Phùng, là Khun Borom, tổ của người Thái ở Tây Bắc, Lào, Thái Lan và Vân Nam.
16. Giang Tây sứ quân
Cao Vương Biền người Bột Hải – biển Đông đã dẹp được quân Lâm Ấp khỏi miền Đông Giao Chỉ, trở thành Tiết độ sứ Giang Tây – Tĩnh Hải đầu tiên. Những viên gạch Giang Tây xây La Thành là gạch của Tĩnh Hải quân.
17. Đại Việt Đại Hưng
Tam vị chủ họ Khúc kiến lập nước Đại Việt đầu tiên, từ Long Thành chiếm Nghiễm Châu, đóng đô ở Hưng Vương phủ, thống nhất 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo là vật chứng rõ ràng của thời đại này.
18. Truyền thuyết Đinh Lê
12 sứ quân là các tiết độ sứ thời Mạt Đường, là Thập quốc thời Ngũ quý. Họ Lý ẩn họ Lê, âm thầm phục quốc trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, tới Lý Thánh Tông dời đô về Thăng Long và xưng Đại Việt ngàn năm độc lập.

Thánh Gióng là ai?

P1060325

Lời hát của phường Ải Lao trong lễ hội Gióng ở Phù Đổng:

Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài…

Lễ hội Phù Đổng đã được tôn vinh công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, nhưng Thánh Gióng là ai thì vẫn mỗi người một ý. Điểm qua vài quan điểm về thánh Gióng của các chuyên gia ngày nay.
Tạ Chí Đại Trường trong cuốn Thần và người đất Việt đã cố công biến hết “người đất Việt” thành “thần”. Thánh Gióng bị cho là thần đá vì chữ Phù Đổng được thấy giống chữ pù – đống, trong tiếng Tày Thái nghĩa là đống đá… Một nhân vật lịch sử lâu đời như vậy mà bị cho “hóa thạch”, thật là bậy bạ hết chỗ nói… Thế mà vẫn có những “sử gia” thuộc vào hàng đáng kính viết lời giới thiệu quảng bá cho sách…
Khá khẩm hơn có tiến sĩ Đinh Hồng Hải mới xuất bản cuốn sách Các vị thần, nhưng cũng chỉ thấy mới “thần” mà không thấy “thánh”. Thánh Gióng ở đây được “xếp hạng” ngang hàng với Thần tài, Thần bếp…?! Tác giả đã “truy nguyên” hình tượng Phù Đổng Thiên Vương là được nhà Lý dựng nên vào thế kỷ 11, lấy nguyên mẫu từ Tỳ Sa Môn Thiên Vương, một vị hộ pháp của nhà Phật…!?
Nước ta “độc lập” kể từ nhà Lý, truyền tích, di vật để lại thì không từ thời Lý thì còn từ thời nào nữa. Nhưng chuyện Thánh Gióng được kể có từ thời nhà Ân, từ trên 3.000 năm trước. Lúc đó Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời thì làm sao Thánh Gióng lại là tướng nhà Phật được? Trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương cũng có chỗ nào nói đến Phật đâu mà có thể cho là chép từ Phật tích ra.
Các “Phật tử” du học ở Tây, ở Ấn về hơi ngộ nhận về ảnh hưởng của Phật Giáo đối với cổ sử Việt. Cũng như thiền sư Lê Mạnh Thát biến chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa thành chuyện… gì đó ở trong kinh Phật… Có biết đâu là có chuyện Lão Tử hóa Hồ… Đạo Lão của người Việt còn có trước Đạo Phật, và Đạo Phật có thể đã chịu ảnh hưởng của Đạo Lão ở một số mô típ và quan niệm.
Tư duy biện chứng hơn phải kể đến tác giả Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt người Mường. Tạ Đức cho rằng Thánh Gióng là hình ảnh của thần chiến tranh Xuy Vưu. Cuộc chiến chống giặc Ân là sự đụng độ của nước Quỷ Phương với Ân Cao Tông. Nước Quỷ Phương được cho là nước Xích Quỷ của người Việt cổ, được giải thích là nghĩa đen là “Quỷ đỏ” vì… Xuy Vưu ở một số nơi bên Hàn quốc được thờ với áo màu đỏ…
Quan điểm của Tạ Đức đúng ở chỗ cho rằng Thánh Gióng là một nhân vật lịch sử có thật trong trận chiến với nhà Ân. Có điều truyền thuyết cho biết Thánh Gióng đã đánh thắng giặc Ân, vua Ân chết trận ở Trâu Sơn, vua Hùng thứ sáu sau đó lên ngôi còn duy trì quốc gia dài dài… Cuộc chinh phạt nước Quỷ Phương của Ân Cao Tông có phần thắng thuộc về nhà Ân, chứ không phải thuộc về nước Quỷ Phương.
Tạ Chí Đại Trường đã nhận xét có lý rằng chuyện Thánh Gióng thắng giặc Ân là chỉ nhà Chu, vì Chu thiên tử mới là triều đại đã đánh đổ nhà Ân. Đây không phải sự sao chép hay học đòi, “tự sướng” của người Việt, mà là lịch sử thật sự. Chính Hùng Vương Vũ Ninh đã đánh thắng Ân Trụ Vương chứ chẳng phải ai khác.
Lễ hội làng Phù Đổng và truyền thuyết về người anh hùng Gióng vẫn còn mang đậm hơi thở lịch sử của 3.000 năm trước. Câu trả lời Thánh Gióng là ai nằm ngay ở trong những truyền thuyết lễ hội dân gian. Câu hát Ải Lào hội Gióng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Nu nhung

Nữ tướng Ân trong lễ hội Phù Đổng (Ảnh Nguyễn Hồng Quân).

Trong ngày hội Gióng 28 cô gái trẻ (vị thành niên, dưới 13 tuổi) đóng vai làm 28 tướng Ân, diễn lại trận đánh với Thánh Gióng. Một bên là một cậu bé 3 tuổi, ăn cơm cà của cả làng mà lớn nhanh như thổi, cầm gậy cưỡi ngựa ra trận. Một bên là 28 thiếu nữ… Có lẽ chẳng có lễ hội nào trên thế giới lâu đời, kỳ lạ và khó hiểu đến vậy.

Tác giả Văn nhân đã giải thích rõ tập tục trong lễ hội này. Số 2 trong Hoa ngữ còn gọi là Ơn, biến thành Ân. Hoặc trong thập can Ất là số 2 (Giáp – Ất). Ất biến ra Ân. Còn 8 là con số chỉ phương Đông (như trong từ Bát Hải – biến Đông). Phương Đông lấy tượng là màu xanh = thanh = thương. Phương Đông là phương của tình cảm – tình thương. 28 như vậy là tên gọi đã số hóa của nhà Ân Thương. Nhà Thương từ khi Bàn Canh dời đô vượt sông được gọi là nhà Ân, nghĩa là nhà Thương thứ hai.
28 nữ tướng Ân yểu điệu ám chỉ nhà Ân Thương còn đang ở thời kỳ mẫu hệ, kém văn minh so với nhà Chu. Sau cuộc chiến của Vũ Vương diệt Ân, lập nên nhà Chu, Trung Hoa bước vào giai đoạn quân chủ phong kiến chính thức. Chu Công tiếp đó đặt nên lễ nhạc, hình thành nền tảng phong hóa Trung Hoa cho hàng ngàn năm sau. Vũ Ninh, nơi Thánh Gióng thắng giặc Ân là tên của Chu Vũ Vương. Vũ Vương trước khi lên ngôi có danh là Ninh Vương Cơ Phát.
Đặc biệt sự có mặt của phường hát Ải Lào với người đội lốt hổ chỉ rõ mối liên hệ nguồn gốc của nhà Chu với tộc người Ai Lao Di ở vùng Vân Nam Quý Châu, tộc người lấy con hổ làm con thần thú của mình. Ải Lào thiết Âu. Hai khu vực Âu của người Ai Lao Di và Lạc (Hùng Vương thứ sáu = Hùng Lục Vương = Hùng Lạc Vương) nơi Thánh Gióng xuất thế, đã cùng nhau đánh đổ triều Ân, lập nên nước Âu Lạc. Hai dòng tộc của cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ lại gặp nhau, hòa hợp trong một thời đại mới.
Cuối cùng, là Thánh Gióng không phải là ông Đổng, ông Khổng lồ, để có những “phát hiện” kiểu Thánh Gióng mang họ Đổng nhưng lại diệt thủy quái dựa theo thần tích đền Bộ Đầu (Thường Tín). Đền Bộ Đầu thờ Đổng Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh bị gộp chung với các di tích của Thánh Gióng ở Phù Đổng và Sóc Sơn thành di sản văn hóa thế giới. Ông Đổng là một nhân vật khác với Phù Đổng. Phù Đổng thiết Phổng hay Bổng, chính xác Thánh Gióng là thần Bổng. Cậu bé ba tuổi làng Phù Đổng đã lớn phổng, cưỡi ngựa nhổ tre đánh giặc rồi bay bổng về trời trên núi Sóc. Bắt đầu từ Ninh Vương Cơ Phát sinh Bách Việt, lịch sử Âu Lạc sang một trang mới, một thời đại bay bổng tuyệt vời của xã hội Việt.

… Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lựa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.

Long Hưng phi Kiền ngũ

Một trong những di tích hiếm hoi được cho là thờ tướng Phạm Tu thời Tiền Lý Nam Đế là đình làng Ngọc Than (Ngọc Mỹ, Quốc Oai, Hà Nội). Đình Ngọc Than là di tích từ thời Lê Trung Hưng, được xây dựng với quy mô khá đồ sộ. Theo ghi chép ở Ngọc Than thì hai vị thành hoàng được thờ ở đây là Tiền Lý Nam Đế và tướng của ông là Phạm Chí.

Câu đối cổ nhất nằm ở gian giữa tòa đại bái tại đình Ngọc Than ghi:
龍興飛乾五天德建元丁黎陳紀年始有號
鯤躍拱離三神符濟渡東西北効順静無波
Long Hưng phi kiền ngũ Thiên Đức kiến nguyên Đinh Lê Trần kỷ niên thủy hữu hiệu
Côn dược củng ly tam thần phù tế độ Đông Tây Bắc hiệu thuận tĩnh vô ba.

Ngoc ThanCâu đối này đọc qua thì khá trúc trắc, khó hiểu. Sách Văn hóa làng Ngọc Than dịch thành nghĩa như “năm tầng trời” (ngũ Thiên), “ba vị thần” (tam thần)… Tuy nhiên dịch vậy không ổn vì làm gì có 5 tầng trời (nếu là tầng trời thì phải là 9 – cửu trùng). Cũng làm gì có 3 vị thần nào (chỉ có 2 vị Lý Bôn và Phạm Chí được thờ ở đây).

Câu đối trên khó hiểu vì nó sử dụng hình tượng trong 2 quẻ của Kinh Dịch là quẻ Kiền và quẻ Ly, cùng với những dữ liệu lịch sử của thời Tiền Lý. Vế đối đầu được tách đoạn và diễn giải như sau:
– “Long Hưng phi kiền ngũ“. Long Hưng là quê của Lý Nam Đế (phủ Long Hưng – Thái Bình), hoặc chính là cách gọi Lý Nam Đế (Long Hưng = lang Hưng hay chúa Hưng).
Long Hưng phi kiền ngũ” là Hào ngũ (Hào thứ năm) của quẻ Kiền trong Kinh Dịch: “Phi long tại thiên, lợi, kiến đại nhân“. Hào ngũ của quẻ Kiền chỉ rồng bay lên, điềm tốt, “gặp đại nhân”, tức là nên công nghiệp lớn. Ý của đoạn này chỉ Lý Nam Đế là người đã Long Hưng, lập nên công nghiệp đế vương.
– “Thiên Đức kiến nguyên“: Thiên Đức là niên hiệu của triều Lý Nam Đế. Thiên Đức kiến nguyên nghĩa là mở đầu triều Thiên Đức.
– “Đinh Lê Trần kỷ niên thủy hữu hiệu“: Đinh – Lê – Trần, không có Lý vì Lý chính là Lý Nam Đế rồi. Đoạn này nói Lý Nam Đế là người mở đầu, khởi thủy cho các triều đại có niên hiệu độc lập (“hữu hiệu”) của nước ta.
Vế đối thứ hai tương xứng có thể diễn giải như sau:
– “Côn dược củng ly tam“: Cá côn nhảy ngưỡng kính Hào tam của quẻ Ly. Hào tam quẻ Ly viết “Nhật trắc chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, tắt đại diệt chi ta, hung“. Tức là: ánh nắng ngả chiều, không có tiếng nhạc lời ca, phải chăng thảm họa đang rình rập, xấu lắm. Quẻ Ly ở Hào tam là hình tượng của ánh nắng. Cá côn ngưỡng “Ly tam” liệu có phải là cá côn cung kính trước ánh hào quang của thần?
– “Thần phù tế độ“: hiểu đơn giản là phép thần cứu vớt chúng sinh.
– “Đông Tây Bắc hiệu thuận tĩnh vô ba“: Đông – Tây – Bắc, thiếu hướng Nam, vì nhà Lý là hướng Nam rồi. Lý Bôn và Phạm Chí ở Ngọc Than được phong là Nam Hải đại vương. Vì có “Hải” ở đây nên mới có cá côn và khắp 3 hướng đều yên lặng không chút sóng (“tĩnh vô ba“).
Vế sau của câu đối sử dụng Hào tam của quẻ Ly để chỉ ánh sáng, ánh hào quang. Tác giả Nguyễn Quang Nhật trong loạt bài viết Dịch học Việt đã nhận định:
Quẻ Ly hết sực đặc biệt. Hào sơ, hào nhị: Ly là lý lẽ. Hào tam: Ly là ánh nắng. Hào tứ, hào ngũ: Ly là lửa khói. Hào thượng: Ly là lý (do). Ly âm gốc là lửa, tiếng Việt chỉ ánh sáng, mặt trời, lý lẽ.
Câu đối ở đình Ngọc Than xác nhận thêm nhận định này, rằng mỗi Hào của quẻ Ly mang một nghĩa khác nhau, nên mới có thể dùng chính xác “Ly tam” để chỉ ánh sáng.
Dịch câu đối ở đình Ngọc Than:
Long Hưng bay Kiền ngũ, Thiên Đức dựng nền, niên sử Đinh Lê Trần khai quốc hiệu
Cá côn kính Ly tam, phép thần cứu vớt, cùng thuận Đông Tây Bắc lặng sóng không.
Câu đối này khá gần với câu đối cũng về Lý Nam Đế ở Giang Xá (Hoài Đức):
洪惟南越肇基貉雄吳蜀以前赫濯殾靈天德紀元初一綂
歷考帝王世祀丁趙陳黎而後焜煌彞典萬春建國閌千秋
Hồng duy Nam Việt triệu cơ, Lạc Hùng Ngô Thục dĩ tiền, hách trạc tuấn linh, Thiên Đức kỷ nguyên sơ nhất thống
Lịch khảo đế vương thế tự, Đinh Triệu Trần Lê nhi hậu, hỗn hoàng di điển, Vạn Xuân kiến quốc kháng thiên thu.
Dịch câu đối:
Rộng suy Nam Việt mở nền, Lạc Hùng Ngô Thục thủa đầu, loáng bóng trúc thần, Thiên Đức kỷ nguyên ban sơ thống nhất
Xét lịch Đế Vương thứ tự, Đinh Triệu Trần Lê sau đó, chói vàng sách miếu, Vạn Xuân dựng nước sừng sững ngàn thu.
Lý Nam Đế ở Giang Xá được gọi với tên Cử Long Hưng. Còn ở Ngọc Than dùng “Long Hưng phi Kiền ngũ” để chỉ vị vua này. Long Hưng như vậy không phải chỉ là tên quê quán của Lý Nam Đế mà là tên gọi của vua, là vua Hưng hay chúa Hưng. Hưng Vương Lý Bôn là người được thờ ở khu vực Sơn Tây xưa.

P1110052

Đình Ngọc Than

Các sắc phong cho Lý Nam Đế ở đình Ngọc Than phong danh: “Quốc vương thiên tử cương minh linh đạt phổ hựu hiển ứng Lý Nam Đế Nam Hải tráng tiết sùng huân thịnh liệt thông minh…
Tất cả các sắc phong ở Ngọc Than đều là phong cho Lý Nam Đế. Như vậy người mang danh Nam Hải đại vương ở Ngọc Than là Lý Nam Đế, không phải tướng Phạm Chí. Câu đối ở đình cũng cho thấy người được thờ chính ở đây là Lý Nam Đế. Tướng Phạm Chí không được nhắc tới. Phạm Chí ở Ngọc Than có thể không phải là lão tướng Phạm Tu như ở đình Thanh Liệt.
Lý Nam Đế được phong là Nam Hải đại vương, đây là danh xưng đáng suy nghĩ. Tại sao lại là Nam Hải? Lý Nam Đế thì có đánh trận nào trên biển đâu? Còn Nam Hải là địa danh đất liền thì là chỉ quận Nam Hải thời Tần, là vùng đất Phiên Ngung – Quảng Đông. Nam Hải đại vương Lý Bôn là người đã nổi lên ở đất Nam Hải. Đây là một chỉ dẫn nữa cho nhận định Lý Bôn là Triệu Vũ Đế, người đã khởi nghĩa ban đầu ở Thái Bình (đất Bái, Thái Bình thiết Bái), lập đô ở Nam Hải (nơi Triệu Đà tiếp nhận vị trí của Nhâm Ngao).

Long ngheỔ rồng mẹ rồng con ở đình Ngọc Than.

Nơi thờ Long Hưng Lý Bôn ở Ngọc Than được trang trí bằng nhiều bức chạm rồng rất độc đáo. Những con rồng ở đây có hình dáng khá lạ, không dữ tợn mà tai to, thân ngắn. Không nhe nanh múa vuốt mà như có các ngón tay mềm mại. Mỗi bức chạm thường là một ổ 5 con, trong đó có 1 con mẹ lớn và các con rồng con xung quanh. Đặc biệt trong số đó có 1 con được thể hiện không có tai có vảy, hẳn là rồng con mới nở, chưa mọc lông mọc cánh, trông giống như một con thằn lằn lớn.
Ổ rồng 5 con, con lớn, con nhỏ có thể là thể hiện quan niệm Ngũ hành tương sinh, diễn tiếp không ngừng. Long Hưng Lý Bôn là người đã khai mở triều đại độc lập đầu tiên của nước Nam, để từ đó rồng mẹ sinh rồng con, các triều đại Đinh Trần Lê nối nhau duy trì quốc hiệu như trong câu đối tại đình Ngọc Than.