Những sự tích trên miền đất tổ

Vùng đất Phong Châu ở Vĩnh Phúc – Phú Thọ theo truyền thống được chia  thành 3 khu vực văn hóa dân gian (folklore) chính, bao gồm:
– Khu vực Hùng Vương
– Khu vực Thánh Tản
– Khu vực Hai Bà Trưng.
Cách chia này tỏ ra hợp lý vì nó phản ánh được sự phong phú của những phong tục, lễ hội, truyền thuyết trên vùng đất tổ. Những di tích, sự tích lưu lại ở vùng đất này cũng là những minh chứng cho những thời kỳ lịch sử của dân tộc mà Phong Châu đóng vai trò trung tâm chính trị văn hóa trong quá khứ.

Vinh Phu

Vị trí các địa danh trong bài viết.

HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC
Rất không chính xác khi cho rằng những vị Hùng Vương được thờ ở vùng Phong Châu đều là hàng con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Thời đại Hùng Vương không phải bắt đầu từ vị Hùng Quốc Vương, con cả của Âu Cơ. Vị vua Hùng đầu tiên phải là Đế Minh, cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông, người mở sử Việt như được chép trong Truyện họ Hồng Bàng:
Cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần thú phương Nam, tới miền Ngũ Lĩnh, gặp con gái bà Vụ Tiên, đem lòng yêu thích, lấy về, sinh ra Lộc Tục.
Tại vùng Vĩnh Phú Đế Minh được thờ với cái tên Đột ngột Cao Sơn. Chính vị thờ ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh (Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ) có bài vị ghi Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương. “Đột ngột” nghĩa là bất ngờ xuất hiện, ý nói tới người đầu tiên. Cao = Cả là từ chỉ thủ lĩnh. Sơn là núi, là quẻ Cấn trong Bát quái, chỉ phương Nam xưa (Bắc nay). Đột ngột Cao Sơn hiểu nôm na là vị vua đầu tiên của trời Nam. Vị vua đầu tiên của trời Nam, mở đầu 18 đời Hùng Vương thì phải là Đế Minh.

IMG_0176Hùng Vương miếu ở Đình Chu.

Ở xã Đình Chu (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) có đình và miếu Hùng Vương, đặc biệt chỉ thờ riêng Đột Ngột Cao Sơn. Câu đối ở miếu Hùng Vương tại Đình Chu:
十 八 葉 璽 符南 國 初 頭 第 一
億 萬 年 香 火 西 天 上 等 最 靈
Thập bát diệp tỉ phù, Nam quốc sơ đầu đệ nhất
Ức vạn niên hương hỏa, Tây thiên thượng đẳng tối linh.
Dịch:
Mười tám đời ấn phù, nước Nam ban đầu thứ nhất
Ức vạn năm hương khói, trời Tây thượng đẳng tối linh.
Trời Tây được nói tới đây là vùng đất Phong Châu hay vùng Tây Thổ của các vua Hùng. Bản thân chữ Chu trong tên Đình Chu cũng có nghĩa là hướng Tây vì Chu = Châu = Chiêu = Chiều. Chu Đề (tên cũ của xã này) nghĩa nôm na là vị đế của vùng trời Tây. Đình Chu là cái “đình” hay nơi đóng quân phía Tây.
Đất Phong Châu là nơi Đế Minh đóng đô dựng nước đầu tiên nên còn gọi là Minh Đô. Còn Tây Thiên cũng là vùng đất của bà Tây Thiên Quốc Mẫu, vị nữ thần núi Tam Đảo. Tây Thiên Quốc Mẫu có tên Lăng Thị Tiêu, chính là “con gái bà Vụ Tiên” được nhắc tới trong chuyện của Đế Minh. Vùng chân núi Tam Đảo là phạm vi của tín ngưỡng thờ Tây Thiên Quốc Mẫu với hàng chục các di tích khác nhau. Cách không xa Hùng Vương miếu của xã Đình Chu là đền Đại Lữ (Đồng Ích, Lập Thạch, Vĩnh Phú), tương truyền là nơi Tây Thiên quốc mẫu đã tập hợp quân đội giúp vua Hùng đánh giặc. Như vậy Đình Chu chính là nơi tưởng nhớ sự gặp gỡ của vua Hùng Đế Minh với Tây Thiên quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, dẫn đến lập đô ở đất Phong Châu, mở ra thời đại Hùng Vương của người Việt.

P1210820Tam Đảo linh từ ở Đại Lữ.

Đế Minh cũng là Hoàng Đế Hiên Viên, người mở đầu của Hoa sử. Còn bà Tây Thiên là Mẫu chủ của Thiên phủ hay Cửu Thiên Huyền Nữ, cũng là Tây Vương Mẫu trong Đạo Giáo. Hoàng Đế và Tây Vương Mẫu được người Hoa và người Việt tôn là ông Trời, bà Trời vì là những vị tiên tổ đầu tiên khai sinh ra quốc gia, giống nòi.
Câu đối khác ở miếu Đình Chu:
西 州 堯 舜 垂 衣 日
南 粤 鴻 厖 拓 土 年
Tây Châu Nghiêu Thuấn thùy y nhật
Nam Việt Hồng Bàng thác thổ niên.
Dịch:
Tây Châu rủ áo ngày Nghiêu Thuấn
Nam Việt năm mở đất Hồng Bàng.
Thành ngữ “thùy y củng thủ” nghĩa là “chắp tay rủ áo”, chỉ sự cai trị thiên hạ một cách thái bình, yên vui. Nghiêu Thuấn là Đế Nghiêu và Đế Thuấn, những vị vua thời thịnh trị của cổ sử Trung Hoa. Tưởng là ở đây chỉ dùng điển ngữ để nói tới sự thịnh trị thời Hùng Vương, nhưng sự thực thì…
Truyện họ Hồng Bàng tiếp: Đế Minh thấy thế, lấy làm lạ, cho nối vua, nhưng Lộc Tộc cố nhường cho anh là Đế Nghi, không dám vâng mệnh. Đế Minh vì vậy lập Đế Nghi thay mình cai trị đất Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ.
Đế Nghi là Đế Nghiêu của Hoa sử, người đã tiếp ngôi Hoàng Đế – Đế Minh. Còn Lộc Tục, con của Đế Minh với dòng Vụ Tiên là Đế Thuấn. Đế Nghi và Lộc Tục hay Đế Nghiêu và Đế Thuấn được thờ ở vùng Phong Châu cùng với Đế Minh dưới tên Ất SơnViễn Sơn, như trong bài vị tại Đền Hùng (Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ). Người Việt tôn 3 vị vua Hùng đầu tiên này làm quốc tổ của mình, thành kính thờ cúng hàng năm trong quốc lễ.

P1210805Lịch Sơn (núi Sáng) và Lôi Trạch (hồ Suối Sỏi ở xã Lãng Công, Lập Thạch).

Lộc Tục hay Đế Thuấn là dòng của Tây Thiên quốc mẫu ở dãy Tam Đảo. Di tích còn lại ở đây khẳng định thêm điều này. Phía bắc liền dãy với Tây Thiên Tam Đảo là dãy Lịch Sơn, nằm giữa huyện Sơn Dương của Tuyên Quang và huyện Sông Lô của Vĩnh Phúc. Ngọn núi cao nhất của dãy Lịch Sơn là núi Sáng, trên có cánh đồng Bách Bung nơi Đế Thuấn đi cày và chân núi có hồ Lôi Trạch nơi Đế Thuấn bắt cá…
Như vậy tục thờ Hùng Vương ở vùng đất Phong Châu trước hết là thờ 3 vị thánh tổ khai mở đầu tiên của nước Nam gồm 2 dòng Nam và Bắc thời cổ. Đế Minh và Đế Nghi – Đế Nghiêu là dòng Viêm Đế Thần Nông ở phương nóng bức (phương Bắc xưa). Bà Tây Thiên và Lộc Tục – Đế Thuấn là dòng phương Nam xưa. Phong Châu là vùng Minh đô thời Hùng Vương, nơi hội tụ của 2 dòng Nam Bắc thời mở nước.

SƠN TINH – THỦY TINH
Sự tích về Tản Viên Sơn Thánh ở vùng Phong Châu không chỉ bó hẹp ở mỗi nhân vật Tản Viên. Đây là giai đoạn tiếp theo của thời Hùng Vương dựng nước trong Truyện họ Hồng Bàng:
Kinh Dương Vương có tài xuống Thủy Phủ, lấy con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, ấy là Lạc Long Quân, thay cha trị nước.
Kinh Dương Vương ở đây là Tản Viên Sơn Thánh, hay vua Đại Vũ, người đã nhận lại ngôi từ Đế Thuấn theo lối truyền hiền (con rể vua Hùng). Một số hành cung Tản Viên như đền Thính và đền Tranh (Yên Lạc) nằm trên đất Vĩnh Phúc. Quê hương Tản Viên là Lăng Xương ở Thanh Thủy, Phú Thọ.
Sơn Thánh sau khi được cây gậy thần đầu sinh đầu tử trên núi Tản đã cứu sống con rắn thần bên sông, là Thủy Tinh, con của Long Vương Động Đình. Đây là chuyện Kinh Dương Vương lấy Long Nữ Động Đình được kể đến, là sự kết hợp của Lạc tộc (Lộc Tục) với Long tộc để hội tụ đầy đủ 4 phương Đông Tây Nam Bắc trong buổi đầu dựng nước. Thần Long Hồng Đăng Ngạn, bà mẹ của Lạc Long Quân, được thờ là Mẫu Thoải trong tín ngưỡng Tứ phủ và có đền thờ riêng là đền Tiên Cát ở Việt Trì.

IMG_8998Đền Tiên Cát ở Việt Trì.

Diễn biến tiếp theo của thời kỳ này là sự xuất hiện của Lạc Long Quân. Truyện họ Hồng Bàng kể: Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Nhân khi phương Bắc vô sự, nhớ đến chuyện ông mình là Đế Minh đi tuần thú phương Nam gặp được tiên nữ, Đế Lai bèn bảo kẻ bề tôi thân cận là Xuy Vưu, thay mình giữ nước, rồi đi tuần du nước Xích Quỷ ở phương Nam. Đến nơi, Đế Lai thấy Lạc Long Quân đã về Thủy Phủ, trong nước vô chủ, bèn để cho ái nữ Âu Cơ và những kẻ hầu hạ ở lại nơi hành tại, còn mình thì đi dạo chơi trong thiên hạ, xem khắp các nơi hình thắng. Thấy những hoa kỳ cỏ lạ, trân cầm dị thú, tê tượng đồi mồi, bạc vàng châu ngọc, tiêu quế nhũ hương, trầm đàn các vị, cùng sơn hào hải vật không thiếu một thứ nào. Bốn mùa khí hậu lại không lạnh không nóng, Đế Lai lòng yêu thích, quên cả chuyện về. Nhân dân nước Nam khổ vì cảnh phiền nhiễu, không được yên lành như xưa, ngày đêm mong Long Quân trở lại, bèn cùng nhau cất tiếng gọi rằng: “Bố ở nơi nao, hãy mau về cứu chúng con!”. Long Quân thoát nhiên trở về, thấy Âu Cơ đang một mình, dung mạo tuyệt mỹ. Long Quân lấy làm yêu thích, bèn hóa thành một chàng trai hình dáng xinh đẹp, tả hữu trước sau có đông đảo kẻ hầu người hạ, tiếng ca tiếng nhạc vang lừng đến nơi hành tại. Âu Cơ thấy Long Quân, lòng cũng xiêu xiêu. Long Quân đón về ở động Long Trang. Đến lúc Đế Lai trở về, không thấy Âu Cơ sai quần thần đi tìm khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần, biến hóa ra trăm hình vạn vẻ, nào yêu tinh quỷ mị, nào rồng rắn hổ voi, làm cho kẻ đi tìm sợ hãi không dám lục sạo, Đế Lai đành phải trở về phương Bắc.
Tản Viên Sơn Thánh do nhận ngôi từ dòng vua Hùng Đế Minh nên khi mất muốn truyền lại cho con cháu dòng này là Đế Lai. Đế Lai tức là Đế Lửa, hoặc còn gọi là Đế Ai, tức là Đế Hai (Ất, Ích, số 2 chỉ phương xích đạo). Đế Lai thuộc dòng tộc phương Nóng (phương Bắc xưa của Viêm Đế Thần Nông). Tuy nhiên, con của Tản Viên là Long Quân không đồng ý, đã làm ra cuộc chiến với Đế Lai để đoạt lấy nàng Âu Cơ (hình ảnh của vương vị). Nhờ sự trợ giúp của dòng tộc bên mẹ là Long Nữ Động Đình, Long Quân đã dành chiến thắng. Dòng Đế Lai thất bại phải bỏ xứ mà đi.
Dấu tích của cuộc nội chiến giữa 2 dòng tộc này được truyền thuyết ở vùng Vĩnh Phú kể lại dưới một loạt các hình ảnh:
– Âu Cơ và Lạc Long Quân thủy hỏa xung khắc, chia đàn con Bách Việt làm 2, kẻ lên rừng, người xuống biển.
– Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh đoạt Mỵ Nương (vương vị), gây ra cuộc chiến dữ dội liên miên.
– Vua Hùng đánh thắng giặc Thục với sự giúp đỡ của Sơn Tinh.
Trong nhóm sự tích về Sơn Tinh – Thủy Tinh có chuyện Hùng Hải trị nước như ở đình Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ). Hùng Hải chính là Hải Lang Lạc Long Quân. Tam Công, ba người con của Hùng Hải là các vị quan lớn đã giúp Long Quân trong cuộc chiến Hùng – Thục. Những sự tích về các thủy thần, sinh ra trong một bọc trứng, giúp vua Hùng đánh Thục ở vùng Phong Châu về thực chất là chuyện Lạc Long Quân đánh dòng Đế Lai – Âu Cơ. Hai vị thần sông Bạch Hạc là Thổ Lệnh và Thạch Khanh cũng là 2 vị quan lớn đệ Tam và đệ Ngũ trong Thoải phủ, là những anh em đã giúp Lạc Long quân trong cuộc chiến Hùng Thục.

P1220064Tranh bơi thuyền rồng ở đền Tam Công tại Đào Xá.

Trong tam vị Tản Viên (Ba Vì) thì ngoài Tản Viên còn có các vị Cao Sơn và Quý Minh. Cao Sơn ở đây chỉ dòng Lạc tộc từ Tây Thiên quốc mẫu ở núi cao Tam Đảo phía Nam xưa. Còn Quý Minh là chỉ dòng dõi Long tộc của Long Nữ Động Đình vì Quý là số 3 (trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý), chỉ phương Đông, Thoải phủ (phủ Tam). Bản thân bà Mẫu Thoải gọi là Quý Nương.
Trong cuộc chiến Hùng – Thục dòng Đế Lai – Âu Cơ tuy thất bại, phải rời xứ nhưng cuộc chiến giữa 2 dòng tộc này như chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh vẫn xảy ra hàng năm không dứt. 1000 năm sau, kết thúc thắng lợi của Thục An Dương Vương trước Hùng Vương là sự tích Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi lập nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Đền thờ mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương (Phú Thọ). 2 dòng tộc Âu và Lạc lại một lần nữa hòa hợp thành nước Âu Lạc. Thục An Dương Vương lên ngôi ở núi Nghĩa Lĩnh, dựng cột đá thề thề trung thành nối tiếp cơ nghiệp của dòng họ Hùng từ Hoàng Đế Đế Minh.

LỮ GIA VÀ TRƯNG VƯƠNG
Sau nước Văn Lang của mẹ Âu Cơ có một quãng thời gian khá dài đất Phong Châu không đóng vai trò trung tâm chính trị của nước Nam. Phải tới khi nhà Triệu Nam Việt sụp đổ, Trưng nữ Vương phất cờ khởi nghĩa ở đất Phong Châu thì vùng đất này lại dày đặc những sự tích, di tích của cuộc khởi nghĩa kỳ lạ này.
Chuyện về khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Phong Châu phải kể từ thừa tướng nhà Triệu là Lữ Gia. Sau khi kinh đô của Nam Việt ở Phiên Ngung thất thủ Lữ Gia đã rút về vùng đất Phong Châu tiếp tục chống giặc. Những di tích của Lữ Gia gặp ở nhiều nơi hai bên bờ sông Lô, tương truyền là phòng tuyến cuối cùng của họ Lữ.
Một di tích thờ Lữ Gia là đình Sen Hồ (Thái Hòa, Lập Thạch, Vĩnh Phúc). Căn cứ vào các sắc phong thì đình Sen Hồ thờ hai vị thành hoàng là:
1. Ông Nguyễn Triêu Lệ, tướng nhà Triệu
2. Bà An Bình Phu Nhân, tức bà Quý Lan là tướng của Trưng Trắc.
Nguyễn Triêu Lệ là tên thờ của Lữ Gia ở vùng Vĩnh Phúc.
Ở chính gian đình Sen Hồ có câu đối:
宮粧戚譜聫輝世紀二徴存野史
廟貌山容相映地隣三島壯神居
Cung trang thích phả liên huy, thế kỷ nhị Trưng tồn dã sử
Miếu mạo sơn dung tương ánh, địa lân Tam Đảo tráng thần cư.
Dịch:
Phả ngoại trang cung nối ngời, thời kỷ Hai Trưng còn dã sử
Dáng núi mặt đền cùng rọi, đất bên Tam Đảo mạnh nơi thần.
Thông tin của câu đối nói tới “thích phả”, nghĩa là gia phả dòng tộc bên ngoại. Bên ngoại ở đây là như thế nào? Liên quan gì tới Lữ Gia và vị phu nhân thời Hai Bà Trưng?
Nhà Triệu Nam Việt từ Triệu Vũ Đế tồn tại tới năm 111 TCN thì bị tướng Lộ Bác Đức của nhà Hiếu (Tây Hán) dẫn quân tấn công kinh đô Phiêng Ngung ở Quảng Đông. Lữ Gia cùng vua Triệu Vệ Dương Vương và gia quyến lên thuyền chạy về đất Giao Chỉ. Triệu Vệ Dương Vương bị truy sát, bị bắt giết ở vùng cửa sông Đáy đổ ra biển. Truyền thuyết Việt lưu giữ sự kiện này dưới truyện Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử đuổi, chạy tới cửa Đại Ác thì đi ra biển mà mất. Lữ Gia về vùng Phong Châu, chiến đấu một thời gian rồi cũng hy sinh.
Tuy nhiên, con gái Lữ Gia là Ả Lã, cũng là hoàng phi của vua Triệu đã nối tiếp ý chí của cha, dựng cờ khởi nghĩa ở cửa Hát thề đền nợ nước (Nam Việt) trả thù nhà (cho vua Triệu). Ả Lã là Trưng nữ Vương. Vì vậy Lữ Gia mới là dòng dõi bên ngoại được nói đến trong câu đối ở đình Sen Hồ. Cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương tại Phong Châu không phải chống lại nhà Đông Hán, mà là chống lại nhà Hiếu (Tây Hán) sau khi nước Nam Việt thất thủ.

P1250850Đình Sen Hồ và dải núi Tây Thiên.

Theo tư liệu của nhà nghiên cứu dân gian Lê Kim Thuyên tại Vĩnh Phúc:
Vào thời Triệu Võ đế huý là Đà, ở bộ Cửu Chân, huyện Lôi Dương, phủ Nghệ An có một gia đình ông họ Lữ tên huý là Tạo, có nghề làm thuốc trị bệnh cứu người. Vợ là con gái nhà họ Trương tên là Châu, gọi là Trương Thị Ninh người bộ Vũ Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Hai người sinh được 07 người con nhưng đều đã mất sớm. Đến năm ông ở tuổi 60, mới sinh tiếp một con trai vào ngày 10 tháng 02 năm Tân Hợi (?), đặt tên là Gia. Khi lớn lên lại đặt tên là Lệ. Đến năm 15 tuổi thì cha mẹ đều qua đời…
Bởi thế ông mới qua bờ Bắc sông Nhĩ Hà đến nhờ người cậu ruột là Trương Viêm. Được tròn 03 năm, ông Viêm bị người bộ trưởng ở Vũ Ninh là Đào Trịnh mưu sát hại, chí muốn báo thù nhưng vì tuổi còn nhỏ, sức mỏng nên chưa thể làm nổi. Bởi vậy mới chuyển đến ở đất Ô – Lí thuộc Lâm Ấp, nương nhờ vào vị Thiền sư chùa Hoàng Long đạo hiệu là Huyền tông.
Ở đất Ô – Lí Gia ngày đêm vẫn mưu tính báo thù cho người cậu. Tự thân ông khổ công không nguôi, mới chiêu nạp được độ vài trăm người nghĩa binh, rồi dùng thuyền từ Linh Giang huyện Chí Linh tiến xuống cửa sông Bạch Đằng, bỏ thuyền lên bờ, gặp ngay bọn Đào Trịnh ở khe núi Chung Sơn. Ông hăng hái tiến đánh một trận giết chết bọn chúng. Rồi ông quay trở lại chỗ nhà người cậu, bàn bạc với người nhà làm lễ tế cậu chu tất. Rồi mới trở lại đất Lâm Ấp. Rồi cũng ở Lâm Ấp, ông kết hôn với 02 con gái nhà bộ trưởng đất ấy họ Hùng là Lâu Bảo Hoa và Nhĩ Bảo Hoa, rồi xin trở về quê nhà…
Đoạn tư liệu trên cung cấp thông tin liên quan giữa Lữ Gia với họ Trương. Đây là liên hệ để sau đó có cuộc khởi nghĩa của Trương Hống, Trương Hát hay Nhị Trưng Vương, là con của tể tướng Lữ Gia. Đoạn trên cũng đề cập tới quan hệ giữa Lữ Gia với đất Lâm Ấp. Chuyện này được kể đến trong sự tích Lý Phục Man, người đã đánh dẹp Lâm Ấp thời Tiền Lý. Lý Phục Man cũng là một cách kể khác của câu chuyện về Lữ Gia nhà Triệu.
Tể tướng Lữ Gia còn được truyền thuyết Việt lưu giữ dưới tên Đỗ Động tướng quân, tức tướng quân Đỗ Cảnh Thạc. Ở Vĩnh Phúc có khu vực đình Hương Canh, Ngọc Canh và Tiên Canh (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) thờ 6 vị thành hoàng là:
– Chính vị: Ngô Xương Ngập (Thiên Sách hoàng đế) và mẹ (Linh Quang thái hậu)
– Đông vị: Ngô Xương Văn (Quốc vương thiên tử) và vợ (Ả Lã nương nương)
– Tây vị: Đỗ Cảnh Thạc và vợ (Thị Tùng phu nhân)
Khu vực Vĩnh Phúc không phải là vùng đất liên quan tới nhà Ngô của Ngô Quyền. Nhà Ngô ở đây là chỉ Phiên Ngô, Phiên Ngu ở phía Bắc, tức nhà Triệu Nam Việt. Nhận diện những vị thành hoàng được thờ ở cụm di tích Tam Canh như sau:
– Đỗ Động tướng quân là thừa tướng Lữ Gia. Di tích thành Quèn ở Quốc Oai (Hà Nội) với những di vật thời Hán xác nhận việc này.
– Ả Lã Nương Nương, chính xác hơn là Ả Lã Nương Đề, hay Ả Lữ Lang Tề, chính là Trưng Vương họ Lữ làm thủ lĩnh phương Tây (Lang Tề = Lang Tây hay Tây Vu Vương).
– Ngô Xương Văn chồng của Ả Lã như vậy ứng với vua Triệu Vệ Dương Vương.
– Linh Quang thái hậu chỉ Thái hậu Cù Thị của nhà Triệu, hay nàng Cảo Nương trong truyền thuyết Triệu Quang Phục, liên quan tới cái móng rồng (Linh Quang thần trảo) bị đánh tráo.
– Ngô Xương Ngập ở đây như vậy là Triệu Ai Vương, con của Cù hậu.
Di tích và tục thờ các nhân vật triều Ngô ở Tam Canh như vậy là gợi ý để xác định lại thông tin về nhà Ngô trong sử Việt, thực chất là chuyện của nhà Triệu nước Nam Việt.
Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, không phải chỉ là vùng huyện Mê Linh ngày nay. Mê Linh đọc thiết âm là Minh, là vùng Minh đô của vua Hùng từ thời Đế Minh dựng nước. Mê Linh là đất Phong Châu của thời Hùng Vương. Vùng đất Tây Thổ Phong Châu, từ Minh Đô của vua Hùng đến Mê Linh của Trưng Vương là nơi ghi dấu của những triều đại, những cuộc khởi nghĩa, đấu tranh dựng nước và giữ nước oanh liệt trong lịch sử nước Nam.

Tể tướng Lữ Gia

Bài viết của nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên ở Vĩnh Phúc.

Có môt thời kì lịch sử mà giới sử học Việt Nam tranh cãi là có nên chép vào lịch sử nước Việt Nam hay không, đó là kỉ Nhà Triệu của Triệu Đà. Ở thế kỉ XV Nguyễn Trãi viết câu đầu trong bài Bình Ngô đại cáo:
 … Xét như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến
Cõi bờ sông núi đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lí, Trần, Lê nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt không bao giờ thiếu.
Sang thế kỉ XVIII, nhà sử học Ngô Thì Sĩ trong sách “ Việt sử tiêu án” lại chưa tán đồng quan điểm này. Nhưng đó là truyện của lịch sử.

1. Nước Nam Việt của Triệu Đà
Họ Triệu, tên là Đà là viên quan uý, người huyện Chân Định nước Hán,  nhân lúc nhà Tần ở phía bắc suy yếu đã nổi dậy cướp lấy đất Quế Lâm và Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương, xưng đế đóng đô ở Phiên Ngung tức đất Quảng Châu Trung Quốc ngày nay. Đất đai của Đà  chiều ngang có hàng vạn dặm, gồm cả đất đai của nước Âu Lạc thời Thục An Dương vương, đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “ chế”, chẳng kém gì hoàng đế Trung Hoa. Truyền 05 đời làm vua: Trỉệu Vũ vương ( 207-136Tcn), Triệu Văn vương ( 136-124Tcn), Triệu Minh Vương (124-112Tcn), Triệu Ai vương (112Tcn), Triệu Thuật Dương vương ( 111Tcn). Việt sử thông giám tổng luận của Lê Tung in lên đầu sách Toàn thư của họ Ngô có đoạn viết: Triệu Vũ đế nhân loạn nhà Tần, chiếm lấy đất Lĩnh Biểu, đóng đô ở Phiên Ngung, cùng với Hán Cao Tổ, đều làm đế một phương; có lòng nhân thương dân, có mưu trí giữ nước. Vũ công khiến Tàm Tùng phải kính sợ, văn giáo khiến Tượng quận được chấn hưng, lấy thi thư mà biến đổi tục nước, lấy nhân nghĩa mà cố kết lòng người, dạy dân cày trồng, nước giầu binh mạnh, đến như các việc sai sứ (sang nhà Hán) thì lời lẽ khiêm tốn, Nam Bắc chung vui, thiên hạ vô sự, hưởng nước hơn trăm năm, đúng là bậc vua anh hùng tài lược. Còn có một nhân vật lịch sử thời thời nhà Triệu trước công nguyên được nhắc đến nhiều ở huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, đó là ông Lữ Gia, vị tể tướng thuộc kỉ nhà Triệu.
Vậy ông là ai?

2. Ông Lữ Gia là người Việt
Vào thời Triệu Võ đế huý là Đà, ở bộ Cửu Chân, huyện Lôi Dương, phủ Nghệ An có một gia đình ông họ Lữ tên huý là Tạo, có nghề làm thuốc trị bệnh cứu người. Vợ là con gái nhà họ Trương tên là Châu, gọi là Trương Thị Ninh người bộ Vũ Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Hai người sinh được 07 người con nhưng đều đã mất sớm. Đến năm ông ở tuổi 60, mới sinh tiếp một con trai vào ngày 10 tháng 02 năm Tân Hợi (?), đặt tên là Gia. Khi lớn lên lại đặt tên là Lệ. Đến năm 15 tuổi thì cha mẹ đều qua đời, mà nhà thì quá nghèo nàn, chẳng có gì lo việc tang ma. Mới tự than rằng: Cha ta có tài, làm thuốc chữa được hàng nghìn con người, thế mà chẳng thể cứu được bệnh nghèo của con mình. Người xưa có câu rằng “ lương y chi tử, tất tử hồ”, nghĩa là chữ “ tử” là con của lương y cũng đồng nghĩa với chữ “ tử” là chết vậy!
Bởi thế ông mới qua bờ bắc sông Nhĩ Hà đến nhờ người cậu ruột là Trương Viêm. Được tròn 03 năm, ông Viêm bị người bộ trưởng ở Vũ Ninh là Đào Trịnh mưu sát hại, chí muốn báo thù nhưng vì tuổi còn nhỏ, sức mỏng nên chưa thể làm nổi. Bởi vậy mới chuyển đến ở đất Ô – Lí thuộc Lâm Ấp, nương nhờ vào vị Thiền sư chùa Hoàng Long đạo hiệu là Huyền tông.
Ở đất Ô – Lí Gia ngày đêm vẫn mưu tính báo thù cho người cậu. Tự thân ông khổ công không nguôi, mới chiêu nạp được độ vài trăm người nghiã binh, rồi dùng thuyền từ Linh Giang huyện Chí Linh tiến xuống cửa sông Bạch Đằng, bỏ thuyền lên bờ, gặp ngay bọn Đào Trịnh ở khe núi Chung Sơn. Ông hăng hái tiến đánh một trận giết chết bọn chúng. Rồi ông quay trở lại chỗ nhà người cậu, bàn bạc với người nhà làm lễ tế cậu chu tất. Rồi mới trở lại đất Lâm Ấp. Rồi cũng ở Lâm Ấp, ông kết hôn với 02 con gái nhà bộ trưởng đất ấy họ Hùng là Lâu Bảo Hoa và Nhĩ Bảo Hoa, rồi xin trở về quê nhà.
Ở quê được 02 năm thì gặp lúc Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) thăng hà, Triệu Văn vương lên nối nghiệp (136 Tcn), các châu quận cử những người ngay thẳng, có trình độ hiếu liêm (người có học hạnh mà do địa phương tiến cử), văn võ đầy đủ học vấn rộng rãi về bộ Cửu Chân cùng dự thi tuyển ở trường Nghệ An. Đến khi vào gặp nhà vua, ông lại có tài ứng đối nên được phong làm chức “Thị tòng tham quan” dùng để rèn luyện nghi thức chính sự trong triều. Lại kiêm chức “Đốc lĩnh thuỷ đạo Long chu, tả súy đô thống chế đại vương”. Sáu năm sau, lại được bái phong làm tể tướng (Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép, vào năm 124 Tcn Minh vương nhà Triệu lấy Lữ Gia làm chức Thái phó, tức là vào hàng “tam công” của triều đình nhà Triệu). Bia đền Cả xã Liễn Sơn chép: Cùng với Triệu Minh vương, vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình, muôn dân no đủ, bốn biển yên vui phồn thịnh, Triệu Minh vương vì ông có công nên ban cho một chiếc búa “phủ việt”, tỏ ý trường tồn cùng đất nước.

3. Vai trò của Lữ Gia trong triều đình nhà Triệu
Về việc này, Sử kí của Tư Mã Thiên chép khá tường tận: Lữ Gia là thừa tướng 03 đời vua, tuổi cao, chức trọng. Họ hàng làm quan trường lại đến hơn 70 người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở Thương Ngô. Ông ở trong nước rất được tôn trọng. Người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông. Ông được lòng dân hơn vương.

4. Những lục đục trong triều đình
Năm 113 Tcn, Minh vương khi còn làm thế tử, sang làm con tin cho nhà Hán ở Trường An có lấy người con gái họ Cù ở Hàm Đan. Đến khi về nước lên ngôi, giấu ấn của tiên đế là Triệu Đà, dâng thư sang nhà Hán xin lập Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thế tử. Năm ấy Minh ương mất, con thứ là Hưng lên nối ngôi, tức là Ai vương, tôn mẹ làm thái hậu.
Khi trước, ở nước Hán, khi chưa lấy Minh vương, hậu đã từng thông dâm với người ở Bá Lăng họ tên là An Quốc Thiếu Quý. Năm này, nhà Hán sai Thiếu Quý sang dụ nhà vua và thái hậu vào chầu. Khi ấy vua còn ít tuổi, Cù hậu đến là người Hán, Thiếu Quý đến lại tư thông. Người trong nước biết, phần nhiều không theo thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên vua và các quan xin nội phụ nhà Hán. Bèn nhờ sứ giả dâng thư, xin theo như các chư hầu ở trong, cứ 03 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới.
Năm 112 Tcn, thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để vào chầu, Lữ Gia nhiều lần dâng thư can ngăn, vua không nghe, nhân thế có lòng muốn phản lại thái hậu, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Sử Toàn thư chép tiếp: Các sứ giả nhà Hán, đều chú ý đến Gia, nhưng chưa thể giết được. Vua và thái hậu cũng sợ bọn Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết bọn Gia. Thái hậu bày tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo Gia rằng: Nam Việt nội thuộc (Trung Quốc) là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao? Cốt để chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đang hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận muốn lấy giáo đâm Gia, vua ngăn lại. Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả. Ngầm cùng các đại thần mưu làm loạn. Vua vẫn không có ý giết Gia. Gia cũng biết thế, vì vậy đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi.

5. Binh biến trong triều đình
Trước tình trạng đó, thiên tử nhà Hán sai Hàn Thiên Thu và em của Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2000 quân tiến vào đất Việt. Thấy vậy, Lữ Gia  bèn hạ lệnh cho người trong nước biết rằng: “Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của tiên vương (Triệu Đà) dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời”. Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, gọi là Thuật Dương vương vào năm 111 Tcn.

6. Phá Hàn Thiên Thu
Tháng 11 mùa đông, quân của Hàn Thiên Thu đã vào cõi, đánh phá một vài ấp nhỏ. Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cắp lương cho quân. Khi quân của nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 4o dặm (mỗi dặm bằng 444,44m), thì Lữ Gia xuất quân đánh giết được bọn Hàn Thiên Thu. Sai người đem cờ tiết sứ giả của Thiên Thu cho vào hòm để ở trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ), dùng lời khéo để tạ tội vói thiên tử nhà Hán, mặt khác, lại phát binh giữ các chỗ hiểm yếu,  lập trận, chất đá ở giữa sông gọi là Thạch Môn.

7. Thế yếu bại binh
Nghe tin sứ giả Hàn Thiên Thu bị giết, Hán Vũ đế sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xất phát từ Quế Dương; Lâu thuyền tướng quân xuát phát từ Dự Chương; Qua thuyền tướng quân tên là Nghiêm xuất phát từ Linh Lăng; Hạ lại tướng quân tên là Giáp đem quân xuống Thương Ngô; Trì Nghĩa hầu tên là Quý đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội ở cả Phiên Ngung.
Mùa đông năm 111 Tcn, tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 quân tinh nhuệ vay hãm Tam Hiệp, phá tan trận Thạch Môn, lấy được thuyền thóc của Nam Việt, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung. Bấy giờ Bác Đức có hơn 1000 người cùng tiến với số quân đi trước của Dương Bộc, gặp vương và Lữ Gia đang giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện ở mặt đông nam, Bác Đức đóng ở mặt tây bắc. Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít, bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì trong thành đầu hàng. Vua và Lữ Gia cùng vài trăm người đang đêm chạy ra biển. Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia bèn sai người đuổi theo.
Về phần này bản ngọc phả ở đình Nhân Lạc chép: Nước Việt đã mất, ông mưu tính việc khôi phục, mới đem theo số nghĩa binh mới mộ vài nghìn người, giữ vững miền thượng lưu sông Lô, cùng với hai phu nhân đóng doanh riêng cố thủ. Dựa vào thế hiểm của núi Long Động trên núi Thét (núi ở xã Quang Yên huyện Sông Lô) bí mật lẻn ra đánh tập kích quân Hán. Quân Hán mấy lần bị thua, buộc phải trở lại kinh thành, Lộ Bác Đức sai người kết giao với bộ tướng của ông là Chu Năng, bàn với Năng phản lại ông, hứa rằng sau sẽ cho Năng làm Toàn Việt vương. Năng cùng quân Hán đánh lại ông ở bên sông Nhân Mục trên sông Lô, nhưng trận chẳng thành. Chu Năng lại theo đường núi Lãng Sơn (núi Sáng) đánh úp, ông phải rút lui về bến Bạch Hạc (Phong Châu) đóng quân. Ngày hôm sau, Lộ Bác Đức đem quân đến vây, quân giặc cả bốn bề xông lên. Ngựa không còn dùng được quân Việt tán loạn, chỉ còn một mình ông tả xung hữu đột, thế khó đương nổi. Ông mới ngửa mặt lên giời than rằng:
出師為捷申先死
長史英雄淚滿衾
Xuất sư vi tiệp, thân tiên tử
Trường sứ anh hùng lệ mãn khâm.
Nghĩa là:
Ra quân chưa thắng, thân đã chết
Khiến bậc anh hùng lệ chứa chan.
Ông đánh tiếp một hồi, liền sau đó ông bị một viên tướng Hán chém một đao sát thương ngay trong trận. Lữ Gia chết, nước Nam Việt cũng mất.
Bình luận về việc này, trong sách Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận in lên đầu sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của sử thần Ngô Sĩ Liên do Lê Tung biên soạn có đoạn: Minh vương buổi đầu nối nghiệp, yên vui buông thả. Cù Hậu được yêu, vợ Việt bị bỏ, trong nước không hoà, kỉ cương đại loạn. Ai vương tuổi ấu thơ, chưa biết lẽ trị nước, mẫu hậu kiêu dâm, quyền thần chấp chính, mà cơ nghiệp họ Triệu rút cuộc lụn bại. Thuật Dương vương là anh Ai Vương, lập nên bởi tay quyền thần, trí kém sức yếu, giặc mạnh xâm lấn mà cơ đồ nhà Triệu từ đấy xụp đổ. Xét tai hoạ của Ai Vương, tuy ở Lữ Gia, nhưng thực ra là do ở Minh Vương yêu chiều Cù Hậu mà gây ra. Nữ sắc làm nghiêng đổ nước nhà như thế, phải lấy làm răn.
Bình luận như thế là đúng với thời cục lúc đó của triều đinh nhà Triệu, nhưng có phần khe khắt với Lữ Gia vì dù sao ông cũng chỉ là vị tướng già có lòng rất biết tự tôn và xả thân vì nước đến cuối cùng.
Từ đó, nhà Hán lấy nước Nam Việt chia làm 09 quận là: Nam Hải (quận của nhà Tần, sau là đất Quảng Đông của nhà Minh). Thương Ngô (nhà Đường gọi là Ích Châu, xưa là đất Âu Lạc, đất của nước Việt ta). Uất Lâm (nhà Tần là quận Quế Lâm, Hán Vũ đế đổi là tên này). Hợp Phố (nhà Tần là Tượng Quận, đời Minh thuộc Liêm Châu). Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đều là Tượng Quận đời Tần). Châu Nhai, Đạm Nhĩ (nay là vùng đất đảo Hải Nam). Bắt đầu đặt chức Thứ sử cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận. Quận là cấp dưới của châu.

8. Câu truyện hậu Lữ Gia ở Sông Lô
Truyện trong ngọc phả đình làng Nhân Lạc chép lại rằng: Sau khi bị một viên tướng Hán chém một nhát trọng thương, Ông Lữ Gia vẫn cứ tả xung hữu đột phá vòng vây, chạy đến thôn Lữ Chỉ huyện Thiên Bản (nay thuộc tỉnh Nam Định), gặp một bà lão. Ông mới hỏi rằng:
– Từ xưa đến nay, nguời không có đầu sống được chăng?

Bà lão liền trả lời:
– Người ta có sống được là nhờ ở thân thể được toàn vẹn. Chưa từng nghe thấy người không có đầu mà có thể sống được bao giờ!
Bà lão vừa nói dứt lời, ông từ trên mình ngựa thét lên một tiếng, rồi nói:
一言封得英雄骨
萬古遺來恨淚長
Nhất ngôn phong đắc anh hùng cốt
Vạn cổ di lai hận lệ trường.
Nghĩa là:
Một lời nói đổ xương anh kiệt
Muôn năm mắt lệ hận còn dài.
Nói xong đổ gục ngay xuống chỗ đất ấy. Trong chốc lát mối đã đùn lên thành ngôi mộ lớn. Nhân dân thôn Lữ Chỉ dựng ngôi miếu thờ cúng ông. Sau khi Tể tướng đa hi sinh nơi chiến trường, như các tổng, huyện, xã nơi ông từng đi qua từ nơi chiến trận, những địa phương ngựa chạy máu rơi đầm đìa, nhân dân đều lập đền thờ phụng. Người đời sau có thơ vịnh rằng:
生為名將死為忠臣
萬古綱常係一身
江上土堆秋月桉影
往來人說呂公墳
Sinh vi danh tướng, tử vi trung thần
Vạn cổ cương thường hệ nhất thân
Giang thượng thổ đôi thu nguyệt ảnh
Vãng lai nhân thuyết Lã công phần.
Nghĩa là:
Sống là danh tướng, chết làm trung thần
Muôn thủa cương thường một tấm thân
Gò đống trên sông trăng sáng tỏ
Người qua ngắm mãi Lã công phần.
Truyền thuyết ở huyện Sông Lô kể lại rằng: Khi Lữ Gia chết trận, có một con  “chó ngao” ngậm lấy đầu, chạy đến đầu núi trang Yên Thiết (tức núi Thét), liền bị thần núi ấy hiện lên lấy lại, chôn cất ở phía nam núi ấy.
Do là con “ chó ngao” là con vật mà ông rất yêu mến. Phàm mỗi khi hành quân hay dừng lại ở đâu, đều dắt theo “ chó ngao” cùng đến đó. Cho nên khi ông bị chém, con “ chó ngao” cảm nhớ ơn đức ấy, ngậm lấy đầu mà chạy trốn đi, đến khi thần núi lấy lại, chôn cất ở phía Nam núi ấy, con “chó ngao” tự vẫn chết. Ngày hôm ấy xã Yên Thiết lập miếu thờ phụng, gọi là ‘Đền Am”, địa điểm ở xứ “Gò Chùa”, di tích đến nay hãy còn. Năm 2012. UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp băng di tích LS – VH cấp Tỉnh – Thành phố.
Lại nói, hai phu nhân họ Hùng của ông cùng với ba thị nữ đem 300 quân đi trên 05 chiếc thuyền theo sông Lô mà theo sau. Đến làng Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang (nay là Phù Ninh) rồi đỗ lại đấy. Đó là ngày 12 tháng 05. Vừa thiêm thiếp đi, hai bà bỗng thấy một người học trò, mình mặc áo xanh, tay cầm cờ vuông có đề chữ rằng:
天本瀘江已顯神
扶康立石望邊津
Thiên Bản, Lô Giang dĩ hiển thần
Phù Khang, Lập Thạch vọng biên tân.
Nghĩa là:
Thiên Bản, Lô Giang đã hiển thần
Phù Khang, Lập Thạch ngóng bên sông.
Chính phu nhân choàng tỉnh dậy mới biết là vừa nằm mơ. Hai phu nhân phán đoán chưa rõ là điềm gì thì ngay lúc đó dời thuyền lên bờ ở bến Thượng Nha, truyền binh sĩ thiết lập đồn luỹ doanh trại đợi tin tức. Đến ngày 30 tháng 05 bỗng thấy quân Hán kéo đến ngày một mhiều, cờ xí rợp đất, khí giới đầy trời, rồi vây kín hai phu nhân vào giữa. Hai phu nhân không thể giải vây, ứa nước mắt mà than rằng: Tướng công ở nơi nao, nay sự việc xảy ra với thiếp là cùng đường rồi.
Tin tức ngầm cũng không thông do những người qua lại đưa tin đều bị quân Hán giết chết. Đến giữa canh ba đêm đó, bỗng thấy mưa to gió lớn nổi lên kín trời, sấm vang dậy đất, thấy ông từ phương đông bắc lọt vào giữa vòng vây của quân Hán, gặp gỡ hai phu nhân nói cho biết rằng ông đã bị quân Hán giết hại rồi. Nay hai phu nhân lại bị vây khốn ở nơi đây, cho nên hiển linh để cứu giúp.
Giờ dần (03 – 05 h) ngày hôm sau, ông sai một đạo quân thuỷ đến tổng Nhân Mục lấy 10 con trâu đem về doanh trại ở Thượng Nha, mở tiệc khao quân. Lại giết ba con gà trống, lấy máu ăn thề, cùng nhau giết giặc để rửa sạch mối hận anh hùng. Xong tiệc khao quân, ông biến thành đám sương trắng bay ngang qua sông từ bến Nhân Mục đến bến Thượng Nha thẳng lên trời. Rồi lại thấy ông cưỡi ngựa, đội mũ hoa, thân mang giáp, tay cầm thương vàng dài 10 thước từ trên không trung miệng thét lớn xuống dưới quân Hán:

-Ta sinh làm tôi trung, chết làm thần. Ngày nay chúng bay sao phản lại được ta, thát sao khỏi lưới trời!
Nói xong ông cầm đao “ thất hoả” xông vào giữa vòng vây quân Hán, chém tướng Hán là Chu Năng và các quân sĩ tới hơn trăm người. Quân Hán rối loạn ở sông Lô, phải rút lui tan tác. Rồi ông bay lên không mà đi.
Đến vùng trên bến sông Nhân Mục, bỗng thấy có hai chiếc thuyền con, hai phu nhân bước lên thuyền rồi nhìn theo. Bỗng thấy chiếc thuyền bị vỡ ra một mảnh, phu nhân nhặt lấy nhìn xem chỉ thấy 04 chữ “phục ẩn thánh thần” (dấu ở trong có thánh thần), hai phu nhân cảm tưởng như có dẫn đường mới trở lại bến Thượng Nha, đến giữa dòng mới cùng nhau nhảy xuống sông tự vẫn.
Dân hai bên bến sông lập miếu phụng thờ hai bà. Bốn thôn Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang lập đền chính. Đền miếu nơi đây linh ứng rõ ràng. Hàng năm cúng giỗ chính vào ngày 01 tháng 06.

Còn như đầu của ông, từ khi chó ngao ngậm lấy, về sau máu chảy thấm những nơi chạy qua, tất cả đều lập miếu thờ. Còn ở Phong Châu nơi chính sảy ra chiến trận xưa, nhân dân lập đền thờ phụng. Lễ chính vào ngày 20 tháng 05.
Khi trở về trang Nhân Mục huyện Lập Thạch (nay là huyện Sông Lô), sau khi ông mất, dân lập lại đền thờ chính, huý là Nguyễn Triêu Lệ đại vương. Lệ tiệc giỗ chính vào ngày 10 tháng 05.
Xã Yên Thiết tổng Bạch Lưu nơi mộ chính chôn đầu ông, lập miếu thờ phụng. Còn các xã của tổng Đạo Kỉ, tổng Nhân Mục, các xã tổng Bạch Lưu nơi máu chảy đều lập miếu thờ. Các di tích hiện còn.
Đời sau có thơ vịnh rằng:
生為忠將死為神
萬古綱常舊更新
夫婦一心同此節
留傳祠宇兩邊津
Sinh vi trung tướng, tử vi thần
Vạn cổ cương thường cựu canh tân
Phu phụ nhất tâm đồng thử tiết
Lưu truyền từ vũ lưỡng biên tân.
Dịch là:
Sống làm trung tướng, chết làm thần
Muôn thủa cương thường chẳng đổi thay
Chồng vợ một lòng cùng khí tiết
Lưu tuyền đền miếu hai bên sông.
Cũng vì sự tích ông chọn lấy 10 con trâu ở tổng Nhân Mục mở tiệc khao quân, mà ở tổng này có tục giết trâu hiến tế. Sử sách ghi lại rằng: Xã Bạch Lưu Hạ huyện Lập Thạch , hàng năm nuôi 20 con trâu, cứ ngày 18 tháng giêng hoặc ngày 28 tháng 12 đặt đàn tế thần ở ngoài nội, cho trâu uống rượu, rồi lùa vào trong cái chuồng có tường đất xung quanh cho trâu chọi nhau, con nào bị thua thì giết lấy thịt để tế thần.
Còn làng Nhân Mục có tục thi bơi để tưởng lệ hai phu nhân. Có ngôi “đền Bơi” để tổ chức các cuộc thi bơi đó.
Năm 2002, tục hội chọi trâu đẫ được khôi phục lại, gọi là “Hội chọi trâu xã Hải Lựu” để tưởng nhớ Lữ Gia. Tổ chức vào ngày 17 tháng giêng, có bài chúc văn làm theo lối mới tuyên đọc rất nhiều ý nghĩa. Bài văn ấy có đoạn mở đầu như thế này:
Nhớ Đại vương xưa,
Sinh vi tướng, tử vi thần
Đức sánh càn khôn, tài xoay vũ trụ.
Trung dũng vẹn toàn, võ văn gồm đủ.
Lòng trung ái trong triều, ngoài nội, thương xót muôn dân
Chí kinh luân dọc đất, ngang trời, giúp vì nước Tổ.
Bao trận sông Lô sôi nổi, giặc Hán hồn kinh
Mấy năm núi Thét vang lừng, trời Nam mặt tỏ.
Dư uy mặt nước réo ầm ầm
Chính khí đỉnh non soi rực rỡ.
Đầu dẫu mất, thề không thua giặc, một thời lẫm liệt oai động lân bang
Kiếm chưa mòn, sông núi reo thiêng, danh truyền lịch sử…
Sơn Đông. Ngày 30 tháng 08 năm 2011

Tài liệu chính dùng để viết bài:
1. SỬ KÝ. Tư Mã Thiên.  Đời Hán (Trung Hoa).
2. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ. Ngô Sĩ Liên. Thế kỉ 15.
3. Việt sử tiêu án. Ngô Thì Sĩ. Thế kỉ 18.
4. Bia thần tích Đền Cả xã Liễn Sơn Huyện Lập Thạch, Có tên: VIỆT THƯỜNG THỊ ĐẠI LA THÀNH PHÙ KÍ TỨC HÀ THƯỢNG CỔ ĐẠI PHU HỰU PHỤ MINH PHU NHÂN NGỌC PHẢ CỔ LỤC CHÍNH BẢN.
5. Ngọc phả đình Nhân Lạc xã Đôn Nhân huyện Sông Lô: VIỆT THƯỜNG ĐẠI LA THÀNH DŨNG THÁNH ĐẠI VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỀN.

Địa chỉ:  Thôn Quan Tử xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
ĐT;  02113828069. DĐ:  0984550547. Email: thuyenlk@gmail.com

Mục lục BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, phiên bản 7

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian. Cập nhật tháng 7/2016. Tổng số 490 trang.

Tôi viết bài thơ đất nước tôi
Gian nan từ thủa mới ra đời
Ngọn gió Động Đình ru ta lớn

Trăng chiếu sông Đường nước đầy vơi
Trăm trứng mẹ sinh dòng Bách Việt
Diệt quái cha Rồng mở biển khởi
Lang thang dân tiến chinh phương Bắc
Âu Lạc văn minh mãi rạng ngời.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.
P1210324 (2)

 

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ĐỐI CHIẾU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ

ÔNG TRỜI BÀ TRỜI
—-Viêm Giao Bàn Cổ
—-Ngọc Hoàng thượng đế
—-Quốc mẫu Tây Thiên
—-Thần châu Xích huyện

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG
—-Mở sử Hoa Việt
—-Kinh Dương Vương
—-Đi cày Lịch Sơn
—-Lên núi xuống biển

TẢN VIÊN SƠN THÁNH
—-Gậy thần sách ước
—-Ngũ hành cung
—-Sơn Tinh – Thủy Tinh
—-Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT
—-Mẫu Thoải
—-Bát Hải Động Đình
—-Bạch Hạc Tam Giang
—-Hùng Hải trị nước
—-Đầm Nhất dạ
—-Giếng Việt

NON SÔNG BÁCH VIỆT
—-Mẹ Âu Cơ
—-Sinh Bách Việt
—-Thần Bổng
—-Chim bạch trĩ
—-Linh Lang đại vương
—-Thủy tổ họ Phan
—-Cổ vật Thương Chu

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH
—-Mưa gió Đông Chu
—-Huyền Thiên Trấn Vũ
—-Ông Đổng
—-Thiên Tôn và Độc Cước
—-Nam thiên Tứ bất tử

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT
—-Mỵ Châu – Trọng Thủy
—-Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
—-Cao Lỗ tướng quân
—-Họ Chu Việt Nam
—-Tần An Dương Vương

HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG
—-Đức thánh Chiêm
—-Bến Vĩnh Khang
—-Vua Mây họ Phạm
—-Kỳ Lân và nước Lỗ

THIÊN NAM ĐẾ THỦY
—-Người Tuấn kiệt
—-Nhâm Ngao
—-Thăng Long
—-Nam Việt Đế

NAM QUỐC SƠN HÀ
—-Mũ đâu mâu
—-Thừa tướng Lữ Gia
—-Đỗ Động tướng quân
—-Chân Định linh thần
—-Bảy quận nước Nam

LỜI THỀ SÔNG HÁT
—-Tây Lý Vương
—-Ả Lã Nàng Đê
—-Mẫu vì Dương Vương
—-Tam Giang nhị thánh
—-Nợ nước thù nhà

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN
—-Tiền nhân họ Phùng
—-Nam Giao học tổ
—-Giao Châu Đặng cư sĩ
—-Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG
—-Tiếp Lạc khai Đinh
—-Đô Dương Mã bất tiến
—-Thì chi Đông Hán dám hung hăng
—-Khu Linh người nước Nam ta
—-Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP
—-Mạnh Hoạch
—-Nam Triệu
—-Đào liệt hầu
—-Bia cổ nói
—-Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
—-Tây Hưng đại vương
—-Khun Borom
—-Tộc người Thái
—-Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN
—-Bột Hải triều Nam
—-Dẹp Lâm Ấp
—-Gạch Giang Tây
—-Đằng Vương các tự

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG
—-Khúc tam vị chủ
—-Hạt Lý nảy năm cây
—-Đại Hưng bình bảo
—-Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ
—-Mười hai sứ quân
—-Thủ lĩnh Đinh Bộ
—-Những bài sấm ký
—-Diễn Châu thái thú
—-Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ

PHỤ LỤC
—-Dịch tượng và ngôn ngữ
—-Thơ Sử thuyết họ Hùng
—-Chỉ dẫn di tích và địa danh
—-Tài liệu tham khảo

Những bài sấm ký thời Đinh – Lê – Lý

Thiền uyển tập anh là một cuốn sách cổ của Phật giáo Việt Nam ghi lại các tông phái thiền học và sự tích các vị thiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời đầu độc lập. Trong truyện về các nhà sư dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi của sách này có kể đến những bài thơ dạng sấm ký, tiên tri sự lên ngôi của Lý Công Uẩn từ đất Cổ Pháp (Bắc Ninh). Những bài sấm này nay thử giải nghĩa theo một cách nhìn mới về thời kỳ lập quốc nước Đại Việt.
Đầu tiên là truyện về thiền sư Định Không, tu ở “chùa Thiện Chúng, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức”. Thiện Chúng không phải tên riêng của chùa. Thiện Chúng phản thiết là Chiền, chỉ một ngôi chùa nói chung. Chùa Thiện Chúng của dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở phủ Thiên Đức là chùa Pháp Vân (chùa Dâu) ở Thuận Thành, Bắc Ninh. Đây là nơi Tùy Văn Đế cho nhập xá lợi và xây tháp năm Nhân Thọ nguyên niên (601) theo như tấm bia cổ nhà Tùy mới phát hiện ở khu vực này.
Thiền sư [Định Không] người hương Cổ Pháp, họ Nguyễn, thuộc dòng vọng tộc… Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên [785-805] sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất (thổ) mới nằm im. Sư giải rằng:
– “Thập khẩu” [十口] là chữ Cổ [古]; “Thủy khứ”[氵去] (xuống sông) là chữ Pháp [法]. Còn “thổ” (土 đất) là chỉ vào hương ta.
Nhân đó đổi tên là hương Cổ Pháp (trước tên là hương Diên Uẩn).
Sư có làm mấy bài thơ tụng, một trong số đó như sau:
Thập khẩu thủy thổ khứ
Cổ Pháp danh hương hiệu
Kê cư loan nguyệt hậu
Chính thị hưng tam bảo.
Câu “Kê cư loan nguyệt hậu” hiện dịch là “Gà ngồi lưng loan phượng” và cho rằng đây là lời sấm chỉ sự kiện Lý Công Uẩn lên ngôi năm Kỷ Dậu (1009). Tuy nhiên, câu sấm này cũng có thể hiểu một cách khác.
“Gà” (Kê) vẫn là chỉ họ Lý. “Nguyệt” là mặt trăng, chỉ hướng Tây, đối lập với mặt trời chỉ hướng Đông. Phía Tây thời kỳ này là đất Tĩnh Hải hay gọi là Đinh Bộ. Thời kỳ này có đồng tiền Thuận Thiên đại bảo mặt sau có chữ Nguyệt 月, và đồng tiền Đại Hưng bình bảo có chữ Đinh丁 ở mặt sau. Nguyệt và Đinh cùng có nghĩa là phần đất phía Tây, là vùng Tĩnh Hải quân.
“Loan” là chỉ triều đại của nước Đại Hưng từ Lưu Cung. “Kê cư loan nguyệt hậu” có thể hiểu là “Họ Lý ở vùng đất phía Tây sau thời Lưu Cung”, chỉ sự lên ngôi của nhà Lý ở vùng đất Tĩnh Hải sau thời kỳ nước Đại Hưng.
Cũng thiền sư Định Không còn một bài thơ sấm khác:
Pháp khí xuất hiện
Thập khẩu đồng chung
Lý hưng vương
Tam phẩm thành công.
Dịch:
Pháp khí hiện ra
Khánh đồng mười tấm
Họ Lý làm vua
Tam phẩm thành công.
Chữ “tam phẩm” hiện được cho là Lý Công Uẩn đang ở chức hàm Tam phẩm mà lên ngôi vua. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng “Tam phẩm thành công” là 3 đời họ Lý mới nên nghiệp. Nếu hiểu vậy thì đây là ứng với chuyện từ Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông ẩn họ Lê, tới Lý Thánh Tông mới chính thức xưng vương và lấy quốc hiệu Đại Việt.
Tiếp theo trong Thiền Uyển tập anh kể chuyện về Trưởng lão La Quý An.
Chân nhân họ Đinh, từ nhỏ đã nhiều năm đi khắp nơi tham thiền học đạo nhưng pháp duyên chưa gặp nên sắp thoái chí. Sau nghe một lời thuyết pháp của thiền sư Thông Thiện ở chùa Thiện Chúng mà mở tâm lĩnh ngộ. Từ đó sư thờ Thông Thiện làm thầy. Trước khi viên tịch, Thông Thiện bảo sư:
– Trước đây thầy ta là Định Không dặn ta giữ gìn đạo pháp của thầy, khi gặp người họ Đinh thì truyền lại. Ngươi hãy nhận lấy sự uỷ thác ấy. Nay đã đến lúc ta phải ra đi rồi.
Sư đắc pháp, bèn đi diễn hóa các nơi, chọn đất dựng chùa. Những lời sư nói ra phần nhiều đều hợp với lời sấm ngữ. Sư từng đúc tượng Lục Tổ Huệ Năng bằng vàng đặt ở chùa Lục Tổ. Sau vì sợ cướp, sư đem chôn tượng ở chùa, dặn đệ tử:
– Gặp minh chúa đào lên, gặp hôn quân thì cất giấu.
Trước khi thị tịch, sư gọi đệ tử là Thiền Ông đến bảo rằng:
– Trước đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả mười chín nơi. Ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ đất bị cắt long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp đất, dựng nhiều bảo tháp, dùng pháp thuật mà yểm tàng, không để cho người ngoài biết…
Thông tin trong truyện về trưởng lão La Quý khá hay, liên hệ rất nhiều địa danh và nhân vật của thời kỳ này. Đầu tiên là chuyện Cao Biền đào sông Điềm Giang và đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch. Sông Điềm và Phù Chẩn là ở chỗ nào? Ở khu vực Bắc Ninh xung quanh Cổ Pháp không hề có những địa danh này.

Dinh Gia PhuongĐình Gia Phương ở Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình).

Điềm Giang và Phù Chẩn lại là những địa danh ở quê của Đinh Bộ Lĩnh tại Ninh Bình. Điềm hay Đàm giang là sông Hoàng Long. Phù Chẩn đọc thiết âm là Phấn, là âm khác của sách Bông, quê Đinh Bộ Lĩnh ở Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình). Câu đối ở đình Đại Hữu còn ghi lại địa danh này:
粉鄉爼豆千秋在
桂海輿圖一統初
Phấn hương trở đậu thiên thu tại
Quế Hải dư đồ nhất thống sơ.
Dịch:
Làng Phấn nghìn thu dâng cúng lễ
Quế Hải thu về một địa đồ.
Ở vùng Gia Viễn còn có câu: Đại Hữu sinh vương, Điềm Dương sinh thánh. Đại Hữu là quê Đinh Bộ Lĩnh, Điềm Giang (dương) là quê của thánh Nguyễn Minh Không.
Khu vực Ninh Bình cũng là nơi có sự tích về Cao Biền, cưỡi diều đi xem đất, bị một pháp sư địa phương bắn, con diều rơi xuống hóa thành núi Cánh Diều. Đây là những liên hệ cho thấy nơi Cao Biền cắt yểm long mạch nước Nam không phải ở Cổ Pháp mà là ở Ninh Bình. Điều này gián tiếp cho biết bài sấm của thiền sư họ Đinh thực ra là nói về sự xuất hiện của Đinh Bộ Lĩnh. Trong dòng sử mới thì Đinh Bộ Lĩnh cũng là Lý Công Uẩn nên 2 chuyện này mới thành một.
Thiên Nam ngữ lục kể mẹ của Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị khi mất ở ngoài đồng (Mả Báng) cũng đúng nơi có long mạch đế vương do Cao Biền xác định:
Rằng xưa thứ sử Cao Vương
Chính chi huyết mạch đế vương chốn này.
Chi tiết này tương tự chuyện mả táng hàm rồng ở sông Hoàng Long của Đinh Bộ Lĩnh.

Den MieuĐền Miễu, nơi thờ bà Phạm Thị, mẹ Lý Công Uẩn ở Dương Lôi (Từ Sơn, Bắc Ninh).

Đặc biệt trong truyện xuất hiện một nhân vật là Khúc Lãm, người đã được sư La Quý khuyên lấp lại các long mạch. Xét việc Khúc Lãm chữa long mạch thì phải nhằm để họ Khúc lên làm vua, chứ không phải để đợi cho họ Lý. Chi tiết này cho biết những hành động của sư La Quý liên quan đến sự lên ngôi của họ Khúc và họ Đinh.
Sư Đinh La Quý năm Bính Thân niên hiệu Thanh Thái thứ 3 (836) thời thuộc Đường, khi trồng cây gạo, có đọc bài kệ như sau:
Đại sơn long đầu khởi
Cù vĩ ẩn Chu Minh
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thổ kê thử nguyệt nội
Định kiến nhật xuất thanh.
Bài thơ này được cho là lời sấm với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn sau sự kiện “sét đánh cây gạo” và vào năm Kỷ Dậu (1009). Tuy nhiên, như xét ở trên sư La Quý có liên hệ với họ Khúc và họ Đinh thì bài thơ sấm này cần phải hiểu khác.
Đại Sơn không phải là ngọn núi nào đó ở vùng Bắc Ninh. Sơn là quẻ Cấn, chỉ hướng Bắc. Đầu rồng khởi lên ở phương Bắc là chỉ sự kiện Lưu Cung lập nước Đại Việt ở Phiên Ngu (Quảng Đông). Sử thuyết Hùng Việt cho rằng Lưu Cung cũng là Khúc Thừa Mỹ nên sự kiện này mới có liên hệ trực tiếp tới việc Khúc Lãm chữa long mạch. Bản thân Lưu Cung khi lên ngôi đã thấy rồng hiện lên trong cung nên đổi tên thành Nghiễm, hoàn toàn ứng với câu “Đại Sơn long đầu khởi”.
Châu Minh không phải là ngôi chùa. Chùa Minh Châu ở Dương Lôi (Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh) tên đúng là chùa Cha Lư. Một ngôi chùa không đủ lớn để cho “rồng ẩn”. Châu Minh là chỉ phương Nam, phương của ánh sáng. Hoặc châu Minh là đất Minh đô thời vua Hùng hay Mê Linh thời Hai Bà Trưng.
Ý 2 câu thơ đầu trong bài thơ của sư Đinh La Quý như vậy là chỉ sự việc Lưu Cung (Khúc Thừa Mỹ) xưng vương ở phía Bắc. Sau đó Đinh Bộ Lĩnh (họ Lý) còn ẩn ở phía Nam.
2 câu tiếp theo:
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thập bát tử 十八子 là chiết tự của họ Lý 李. Nghĩa là họ Lý ở phía Nam dựng nghiệp, cây gạo hiện hình rồng.
Câu tiếp theo “Thổ kê thử nguyệt nội” hiện được dịch là “Thỏ gà trong tháng chuột”, với nghĩa chỉ ngày tháng năm Lý Công Uẩn lên ngôi. Nhưng nếu hiểu “Nguyệt” là chỉ hướng Tây, tương đương với Tĩnh Hải – Đinh Bộ, như trong bài sấm của sư Định Không thì câu này có nghĩa khác. Thổ – kê – thử (thỏ – gà – chuột) ở vùng đất phía Tây (“nguyệt nội”) có thể ám chỉ 3 đời vua Lý đầu tiên ở trên đất Tĩnh Hải. Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông là Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, ẩn họ, ẩn danh ở phương Nam, chịu sự sắc phong của nhà Tống. Tới Lý Thánh Tông mới xưng vương chính thức, lập nước Đại Việt, mới là lúc “Định kiến nhật xuất thanh”, mặt trời hiện rõ trước thanh thiên bạch nhật.
Bài thơ sấm của thiền sư Đinh La Quý như vậy đã nói tới sự kiện họ Khúc lập nước Đại Hưng ở phía Bắc, họ Lý sau 3 đời vua ở phía Nam mới chính thức xưng vương, lập quốc.

P1250188Tượng sư Vạn Hạnh ở chùa Đồng Ngọ (Tiền Tiến, Thanh Hà, Hải Dương).

Sang vị thiền sư nổi tiếng tiếp theo là sư Vạn Hạnh. Sư tu ở chùa Lục Tổ, có bài sấm:
Tật lê trầm Bắc thủy
Lý tử thụ Nam thiên
Tứ phương can qua tỉnh
Bát biểu hạ bình an.
Dịch:
Tật lê chìm biển Bắc
Cây Lý mọc trời Nam
Bốn phương binh đao lặng
Tám hướng chúc bình an.
Trong bài sấm này nói rõ họ Lê ở biển Bắc bị chìm, họ Lý ở trời Nam lên ngôi. Như vậy họ Lê đây không phải thời Lê Hoàn – Lê Long Đĩnh vì nhà Tiền Lê này không hề ở “Bắc thủy”. Đôi câu thờ này khẳng định thêm nhận định đối với bài thơ sấm của sư Đinh La Quý. Họ Lê ở phía Bắc (Đại Sơn) là triều đại nước Đại Hưng từ Lưu Cung. Họ Lý ở phía Nam (Châu Minh) là từ Đinh Bộ Lĩnh – Lê Hoàn sang Lý Thánh Tông, ba đời “tam phẩm” mới xưng vua.
Những ghi chép lịch sử của giai đoạn này thật rắc rối, đầy ám ngữ. Để hiểu được những bài thơ sấm này xin tóm tắt lại những gì mới biết về lịch sử thật sự của giai đoạn này.
Dưới thời Đường, Lưu Tri Khiêm nhờ có công dẹp loạn Hoàng Sào được làm Phong Châu thứ sử. Phong Châu là vùng đất phía Tây, tức là Tĩnh Hải quân. Sử Việt gọi Lưu Tri Khiêm là Tiên chủ Khúc Thừa Dụ. Sang tới Lưu Ẩn đã chiếm vùng Nghiễm Châu (Phiên Ngu), xưng là Nam Hải vương. Sử Việt chép Lưu Ẩn là Trung chủ Khúc Hạo. Lưu Cung thay anh, xưng vương lập nước Đại Việt, đóng đô ở Phiên Ngu, một thời gian sau đổi thành Đại Hưng, bị sử Tàu chép thành nước Nam Hán. Lưu Cung là Hậu chủ Khúc Thừa Mỹ.
Lưu Tri thiết Li – Lê. Tam vị chủ nước Đại Việt Đại Hưng thực ra mang họ Lê, dựng nước đóng đô ở phía Bắc tại Phiên Ngu (Quảng Đông). Dòng họ Lê từ Lưu Cung (Lê Cung) truyền tới đời thứ 4 là Lưu Sưởng (Lê Sưởng) thì bị nhà Tống tiến đánh. “Tật Lê trầm Bắc thủy”, nhà Lê – Lưu – Khúc ở phía Bắc bị diệt.
Nhưng trước đó, phò mã của nhà Lê là Lý Tiến, sử Việt chép là Đinh Liễn (Lý Tiến thiết Liễn) đã được cử cai quản vùng đất Tĩnh Hải ở phía Tây. Đinh Liễn hay thủ lĩnh Đinh Bộ (Đinh Bộ Lĩnh) đã xây dựng căn cứ ở Hoa Lư. Hoa Lư là nơi Cao Vương Biền từng cho xây dựng một vị trí hành chính chiến lược cùng thời với thành Đại La. Truyền thuyết chép thành Cao Biền “đào sông Điềm và đầm Phù Chẩn” để trấm yểm long mạch.
Thiên Nam ngữ lục kể Thái hậu nhà Lê cử Lý Công Uẩn đi canh Quy lăng cho chúa (vua Lê), sau 3 năm đoạn tang về được tôn lên ngôi vua:
Công Uẩn công cả quốc gia
Giữ lăng hết thảo, thờ vua hết lòng
Ứng điềm thập bát tử thành
Cho chàng đại thống để dành làm chi.
Nói cách khác, Công Uẩn là người cai quản miền quê cha đất tổ của họ Lê (tức là vùng Tĩnh Hải), sau khi vua Lê ở phương Bắc mất, đã lên ngôi vua ở đất này.
Đinh Bộ Lĩnh cũng là Lý Công Uẩn, người thôn Cổ Pháp. Khi nhà Lê – Lưu ở phía Bắc bị Tống diệt, Lý Công Uẩn phụ trách đất Tĩnh Hải, nhận ẩn họ Lê, chịu sắc phong Tiết độ sứ của nhà Tống. Sang thời Lê Hoàn, là vị vua Lý thứ hai, vẫn tiếp tục chính sách này. Phải tới vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông, khi đất Tĩnh Hải – “Nguyệt nội” đã đủ mạnh, mới chính thức tuyên bố độc lập, lấy lại tên nước là Đại Việt, truy phong hai vị họ Lý trước đó là Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông.
Những bài sấm ký có thể là những ghi chép của những người cùng thời, được gán vào cho các vị thiền sư ở Cổ Pháp, ghi lại những sự kiện thay đổi này. Đây không phải là những lời tiên tri, mà là những ghi chép lịch sử thật sự. Vì lịch sử thời kỳ này đã bị xuyên tạc, bóp méo nên mới dẫn đến sự kỳ bí, khó hiểu, biến những bài thơ “vịnh sử” thành những lời “sấm ký”.

Vang bóng anh hùng

Lữ Gia, cái tên của vị tướng nước Nam Việt tận trung vì nước, kiên quyết chống lại Hán quân xâm lăng, được người Việt qua các thời đại tôn vinh, cho dù không ít người vẫn đặt nghi ngờ về tính chính thống của nhà Triệu. Ngọn nguồn của thừa tướng Lữ Gia phải kể bắt đầu từ Triệu Vũ Đế, người sáng lập ra nước Nam Việt.
Vũ Đế họ Triệu tại làng Đồng Xâm (Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình) đã kết duyên với bà Trình Thị. Trình Thị không phải là người con gái họ Trình, ở khu vực Đồng Xâm không hề có gia tộc họ Trình. Trình Thị đọc thiết âm là Trĩ. Đây là tên cúng cơm của Lữ Hậu, người vợ đã cùng Lưu Bang dựng nghiệp. Lưu Bang và Lữ Hậu mới là khởi nguồn thực sự câu chuyện về thừa tướng Lữ Gia.

IMG_4207-1024x683Đền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm.

Đất Thái Bình chẳng phải địa danh xa lạ gì trong cổ sử Trung Hoa vì Thái Bình đọc phản thiết là Bái, là nơi Lưu Bang dựng cờ khởi nghĩa. Dưới chế độ hà khắc của nhà Tần, Lưu Bang được nhân dân đất Bái tôn làm Bái Công, là “người tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc nổi dậy chống Tần của người Việt.
Triệu Vũ Đế ở Thái Bình là Bái Công Lưu Bang, người đã dẫn quân vào Quan Trung của nhà Tần năm 206 TCN, chiếm lại 3 quận lớn mà Tần Thủy Hoàng lập ra trên đất Việt trước đó (Quế Lâm, Tượng và Nam Hải). Triều đại nhà Hiếu bắt đầu được tính từ đây. Năm 206 TCN là năm Hiếu Cao Tổ thứ nhất. Sử Tàu tráo đổi, biến triều Hiếu thành Hán, gọi triều đại do Lưu Bang lập nên là Tây Hán, cho dù Lưu Bang khởi nghĩa từ đất Thái Bình, là một người Việt chính cống.
Lưu Bang còn được sử Việt chép thành Nam Việt đế Lý Bôn người ở phủ Long Hưng đất Thái Bình. Hiện ở Thái Bình còn lưu đậm đặc các di tích, thần tích về thời kỳ Tiền Lý này vì đây là nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Tần của Lý Bôn – Lưu Bang. Hoàng hậu của Lý Bôn ở Thái Bình được các thần tích chép là bà Đỗ Thị Khương. Đỗ Thị Khương hay Trình Thị thực chất đều là Lữ Hậu, người đã giúp Lý Bôn – Triệu Vũ Đế – Lưu Bang diệt Tần phá Sở, lên ngôi đế vương của thiên hạ Trung Hoa.

Ly-Bon-1-1024x692
Tranh thờ Lý Bôn và hoàng hậu Đỗ Thị Khương ở Thái Bình.

Họ Lữ là những đại công thần khởi lập của triều Hiếu nên đều đã được phong tước hầu. Những người anh của Lữ Hậu là Lữ Thai được phong là Lịch hầu, còn Lữ Sản là Giao hầu. Lịch là đọc sai của Lạc. 2 chức vụ Lịch hầu và Giao hầu của anh em họ Lữ càng cho thấy Giao Chỉ – Lạc Việt là vùng đất khởi nghiệp của Lưu Bang – Lữ Hậu.
Hiếu Cao Lưu Bang mất, Lữ Hậu lên nắm toàn quyền triều chính, phế lập các vị đế họ Lưu theo ý mình. Lữ Hậu đã nhiều lần muốn phá bỏ cam kết ăn thề từ thời Lưu Bang “Ai không phải họ Lưu mà làm vương thì thiên hạ cùng nhau đánh nó”. Bà thái hậu này đã ép các quân thần và phong vương cho gia tộc họ Lữ. Tước vương đầu tiên được phong cho Lịch hầu Lữ Thai là Lữ vương, tức là vua của vùng đất Lữ.
Đất Lữ là quê của Lữ Hậu, tức là vùng đất Bái – Thái Bình. Lữ Vương là một vị trí chức vụ rất quan trọng dưới thời Lữ Hậu vì đó là người phụ trách hậu phương của họ Lữ. Người đầu tiên nắm chức Lữ Vương là Lữ Thai, anh của Lữ Hậu. Lữ Thai mất, thái tử Gia thay thế được lập làm Vương. Sau đó, Gia ăn ở kiêu ngạo hống hách, nên bị phế truất, cho Lữ Sản… làm Lữ Vương”. Mấy tháng sau, Lữ Sản được dời làm Lương Vương và làm thái phó. Lữ Hậu lập Bình Xương hầu Lữ Thai làm Lữ Vương, đổi tên đất Lương gọi là đất Lữ và đất Lữ đổi là Tế Xuyên (Sử ký Tư Mã Thiên, Lữ Hậu bản kỷ).
Việc đổi Lữ Sản làm Lương Vương và đổi tên đất Lương thành đất Lữ cho thấy thực chất Lữ Sản vẫn giữ vai trò của Lữ Vương (vua đất Lữ). Còn vùng đất Lữ trước đây đổi thành Tế Xuyên (Tam Xuyên?) do một vị hầu tước khác cai quản.
Khi Lữ Hậu mất, Lữ Sản làm binh biến định dành ngôi vị nhưng không thành, bị đám cận thần trung thành với họ Lưu giết chết. Trong sự kiện này “những người họ Lữ không kể trai gái, già trẻ đều chém hết”. Tuy vậy, Sử ký không nói gì đến vị Lữ Vương cuối cùng là Bình Xương hầu Lữ Thai sau cuộc binh biến này ra sao. Một vị vương chủ chốt, nắm toàn bộ hậu phương của họ Lữ, do chính Lữ Hậu quan tâm gây lập nên qua mấy đời chắc chắn phải có vai trò rất lớn đối với sự nghiệp của họ Lữ. Vậy mà tung tích của vị này lại không hề được nhắc tới.
Sử ký bàn: “Cao Hậu người đàn bà làm chủ, gọi mệnh lệnh của mình là “chế” nhưng việc chính sự không ta khỏi nhà, thiên hạ yên lành”. Có thật là “thiên hạ yên lành”, không ảnh hưởng gì bởi sự tiếm quyền của họ Lữ? Yên lành gì mà ngay sau khi Lữ Hậu mất ở phương Nam bỗng nhiên nổi lên nước Nam Việt của Triệu Đà, chiếm mất cả nửa diện tích Trung Quốc:
“Cao Hậu mất… Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc”.
Đặc biệt hơn nữa lúc này trong triều Nam Việt nhà Triệu bỗng xuất hiện Thừa tướng Lữ Gia. Theo Sử ký thì Lữ Gia dưới thời Triệu Anh Tề đã làm thừa tướng tới ba đời vua, tức là từ Triệu Vũ Đế, Triệu Văn Đế tới Triệu Minh Vương (Anh Tề). Như vậy Lữ Gia là thừa tướng của nhà Triệu ngay từ vị vua Triệu lập quốc đầu tiên sau khi Lữ Hậu mất.
Sử sách của nhà Hiếu (Sử ký Tư Mã Thiên) đã dấu đi hoặc đã cố ý không nói tới một sự thật. Sự tiếm ngôi của họ Lữ đã không hề kết thúc một cách yên lành sau khi Lữ Hậu mất. Họ Lữ ở kinh thành Trường An bị giết hết nhưng vẫn còn vị Lữ Vương cuối cùng, người nắm giữ vùng đất Lữ ở phương Nam. Đây chính là thừa tướng Lữ Gia của Nam Việt. Vị Lữ Vương này đã lập một người cháu của Lưu Bang lên làm vua Triệu của nước Nam Việt, bắt đầu thế đối kháng Nam Bắc. Vua Triệu xưng đế ngang với nhà Hiếu ở phương Bắc.
Diễn biến tiếp theo của nước Nam Việt thì như đã biết, sau khi Minh Vương Triệu Anh Tề mất, thái tử Hưng lên ngôi là Triệu Ai Vương. Thái hậu Cù Thị, truyền thuyết Việt gọi là Cảo Nương, con của Triệu Quang Phục, có ý theo về với nhà Hiếu ở phương Bắc. Tất nhiên thừa tướng Lữ Gia không đời nào đồng ý việc này vì mối thù diệt tộc khi Lữ Hậu mất vẫn còn đó, và họ Lữ đã mất công mấy đời gây dựng nước Nam Việt để có lãnh thổ riêng, vương quyền riêng, không thể nào lại hàng nhà Hiếu. Lữ Gia nhanh chóng giết mẹ con Cù Hậu, lập Triệu Kiến Đức lên ngôi và tích cực chiến đấu chống quân nhà Hiếu.
Khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ, vua Triệu Kiến Đức cùng Lữ Gia và cả gia đình hoàng thân quốc thích hàng trăm người đã lên thuyền đi về phía Tây. Phía Tây của Phiên Ngung (Quảng Đông) tức là đất Giao Chỉ, là miền đất gốc của họ Lữ từ thời Lữ Hậu (đất Bái). Không may, khi thuyền vừa mới tới miền đất cũ của họ Lữ, vua Triệu cùng Lữ Gia bị quân nhà Hiếu truy sát bắt được.

IMG_4785-1024x683
Đền thờ Lữ Gia ở chân núi Gôi.

Câu chuyện thảm thương, kết thúc một triều đại này trong sử Việt được truyền thuyết kể thành chuyện Triệu Việt Vương bị Hậu Lý Nam Đế đuổi, chạy đến cửa Đại Ác thì đường cùng, ra biển mà mất. Đại Ác là cửa sông Đáy đổ ra biển, nay còn di tích đền Độc Bộ (Ý Yên, Nam Định) thờ Triệu Quang Phục, “cháu đời xa của Triệu Vũ Đế”. Gần đó ở chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định) là nơi thừa tướng Lữ Gia tử trận. Ngôi đền thờ vị tể tướng 4 đời vua Triệu này còn lưu câu đối, nói tới chí khí kiên cường chống giặc của Lữ Gia:
趙氏有天存社稷
漢人無地出楼船
Triệu thị hữu thiên tồn xã tắc
Hán nhân vô địa xuất lâu thuyền.
Dịch:
Còn trời họ Triệu còn xã tắc
Không Hán, lên thuyền đất chẳng chung.
Trong truyền thuyết Việt câu chuyện Lữ Gia không kết thúc ở đây. Sau thất bại ở Phiên Ngung Lữ Gia đã lui về vùng phía Tây dựng phòng tuyến chống lại quân nhà Hiếu. Đó là phòng tuyến bên sông Lô với các di tích về Lữ Gia ở 2 bên bờ sông ở Việt Trì và Lập Thạch. Cũng có chỗ là ở vùng đất Hà Tây (cũ), như các di tích Linh Tiên quán (Hoài Đức), nơi tương truyền Lữ Gia đã gặp tiên đánh cờ.

P1010119-1024x768
Nghi môn Linh Tiên quán.

Câu đối ở quán Linh Tiên :
聖駕仙棋趙承留勝跡
靈僊古觀三教顯名藍
Thánh giá tiên kỳ Triệu thừa lưu thắng tích
Linh tiên cổ quán tam giáo hiển danh lam.
Dịch
Thánh giá cờ tiên, Triệu tướng lưu thắng tích
Linh Tiên quán cổ, Tam giáo tỏ danh lam.
Trong sử Việt Lữ Gia còn được kể dưới một loạt các tên khác nữa. Đó là Đỗ Động tướng quân Đỗ Cảnh Thạc ở vùng Thanh Oai – Quốc Oai (Đỗ động). Họ Đỗ ở đây cũng giống như trường hợp Lữ Hậu ở Thái Bình được gọi là Đỗ Thị Khương. Đỗ Cảnh Thạc bị sử Việt ghép thành 1 trong 12 sứ quân của thời Đinh Bộ Lĩnh, cách sau đó hơn nghìn năm.

P1130096-1024x768
Đình Giá ở Yên Sở trong ngày hội.

Truyền thuyết Việt còn kể về thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu dưới tên nhân vật Lý Phục Man. Lý Phục Man là đại tướng của Lý Nam Đế, khi tử trận được người nhà là Trương Hống, Trương Hát đưa về an táng tại làng Yên Sở (Hoài Đức, Hà Nội). Lý Phục Man cũng được gọi là Đỗ Động tướng quân. Nơi mất của Lữ Gia – Lý Phục Man – Đỗ Cảnh Thạc đều ở dưới chân Sài Sơn là chứng thực rõ nhất rằng cả 3 sự tích này đều là về vị thừa tướng họ Lữ lẫy lừng của nhà Triệu Nam Việt.
Về Lữ Gia còn có thêm một dẫn chứng liên hệ nữa. Ở thôn Mai Trung xã Mai Đình (Hiệp Hòa, Bắc Giang) có đình Lợ hay gọi là đình Mới thờ Lữ tể tướng nhà Triệu. Bản thân tên đình Lợ có thể là đọc tránh của họ Lữ. Tương tự ở vùng này có vùng Đông Lỗ nhưng lại có chợ Lữ.
Là đình thờ Lữ Gia nhưng đình Lợ lại nằm trong trong cụm di tích làng Mai thờ anh em Trương Hống, Hát, Lẫy, Lừng và Đạm Nương cùng con thứ của Trương Hống là Trương Kiều. Lễ hội Mai Thượng ở Hiệp Hòa bên dòng sông Cầu tới nay vẫn là một lễ hội lớn, đặc sắc bởi màn tung hoa (bánh dày) để tưởng nhớ tới thánh Trương Kiều, hy sinh theo cha lúc mới 8 tuổi tại đây. Theo sự tích ở thôn Mai Trung thì Lữ Gia là thầy dạy của 5 vị thánh họ Trương.
Sự tích về thánh Tam Giang ở Vân Mẫu (Quế Võ, Bắc Ninh) cũng kể anh em họ Trương đã theo học tiên sinh Lã Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang. Tới khi Triệu Quang Phục khởi nghĩa ở đầm Dạ Trạch thì cả nhà họ Trương cùng dấy binh theo về… Triệu Quang Phục phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách đánh giặc.
Thật khó hiểu vì sao thừa tướng nước Nam Việt ở thời kỳ trước Công nguyên lại làm “thầy” của các vị tướng thời Triệu Việt Vương, mà theo chính sử ngày nay là vào thế kỷ 6 sau Công nguyên. Chỉ khi xác định Triệu Quang Phục là vua Triệu nước Nam Việt thì thừa tướng Lữ Gia mới là cùng thời với anh em họ Trương.

P1240859-1024x768
Đình Lợ ở thôn Mai Trung thờ Lữ Gia, thầy dạy của Trương Hống, Trương Hát.

Lữ Gia là “thầy” của Trương Hống, Trương Hát. Chữ “thầy” ở đây không phải là thầy dạy học. Thầy nghĩa là cha. Lữ Gia là bố của anh em họ Trương, hay anh em Trương Hống Trương Hát mang họ Lữ. Cũng chính Trương Hống, Trương Hát là “người nhà” đã đem thi hài của Lữ Gia về an táng dưới chân núi Sài trong thần tích về Lý Phục Man ở Yên Sở.
Và cũng Trương Hống, Trương Hát là những người tiếp tục sự nghiệp của cha mình để làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo ở đất Phong Châu. Trương Hống, Trương Hát chính là Trưng Trắc, Trưng Nhị. Các vị nữ vương này mang họ Lữ/Lã của gia tộc họ Lữ và nối tiếp truyền thống “quần thoa anh kiệt” từ tiền nhân là Lữ Hậu. Sông Như Nguyệt (sông Cầu) của thánh Tam Giang mới là dòng Lãng Bạc nơi nổ ra cuộc chiến ác liệt giữa quân của Trưng Vương và Phục Ba tướng quân.
Dòng họ Lữ của nhà Triệu Nam Việt sau thất bại của Trưng Vương vẫn còn cầm đầu các cuộc nổi dậy tiếp theo với sự kiện Triệu Quốc Đạt – Triệu Thị Trinh chống Mã Viện nhà Đông Hán. Họ Triệu của anh em Bà Triệu cho liên hệ với nhà Triệu Nam Việt. Lệ Hải bà vương Triệu Ẩu có thể mang họ Lữ/Lã vì Lệ Hải thiết . Khu vực khởi nghĩa của Bà Triệu được gọi là nước Nam Triệu, là tiền thân của nước Nam Chiếu thời kỳ sau này (Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái).
Lịch sử luôn diễn biến theo quy luật, không có gì tự nhiên mà có. Các triều đại, các cuộc khởi nghĩa thời đầu Công nguyên ở nước Nam đã nối tiếp nhau và được xuyên suốt bởi một dòng họ Lữ từ khi Lữ Hậu theo Lưu Bang thấy rồng vàng bay lên trên sông Nhị Hà tới khi Bà Triệu tử tiết ở Tượng Sơn. Cái khí tiết anh hùng “mẹ truyền con nối” ấy thật đáng khâm phục, để lại cho đời sau cả một trang sử hào hùng, phát triển nền tảng của nước Nam người Việt qua mấy trăm năm.

Vài điều bàn về Cao Lỗ tướng quân

Về Cao Lỗ tướng quân của Thục An Dương Vương, người đã chế tạo nỏ thần chống giặc, có ý kiến cho rằng đây chẳng qua nguyên là tục “thờ đá” vì Cao Lỗ còn được gọi là Thạch thần. Di tích lăng mộ và đền thờ Cao Lỗ ở Gia Bình, Bắc Ninh bị cho là “nhầm” vì Cao Lỗ là người từ đất Thục sang nước ta, không phải quê hương bản quán ở đây và không đúng là thủy tổ họ Cao. Những ý kiến này thực ra không có cơ sở, chỉ là lấy cách nhìn “ngày nay” để bài bác chuyện xưa chứ chưa hiểu đúng bản chất của nhân vật Cao Lỗ trong bối cảnh lịch sử của thời nhà Thục.

IMG_9266Lăng mộ Cao Lỗ ở Đại Than.

Thần tích làng Vũ Dương Vũ (Hưng Hà, Thái Bình) kể (trích theo Đặng Đình Hùng, Họ Đinh thời Hùng Vương trên đất Thái Bình):
Đức Không Thuyền đại vương tên là Phẩm họ Đinh quê ở Bạch Hạc, Thành Phong Châu, tỉnh Sơn Tây, bà vợ là Trần Thị Anh. Ngài là người thi thư quán thế, hiếu đễ thuyền gia. Rất giỏi việc dùng binh, giỏi cả thi thư xạ ngự, bói toán. Khi ấy ở đời vua Hùng Duệ Vương, nghe tiếng của ngài nhà vua đã mời ngài ra giúp việc và cho ngài làm tri huyện nhưng ngài có tính khăng khái cương trực, từng không kiêng sợ. Đương thời ngài nhận chức tri huyện, có lập doanh cừ ở làng Vũ Xá, gặp năm đói kém ngài thương dân đói khát, bèn lấy tiền thuế phát chẩn cho dân. Có kẻ dèm pha tố giác với triều đình: ngài tiêu tiền thuế để làm phúc riêng cho mình. Vua bèn phế người xuống làm thứ dân, bắt ngài đi chèo đò ở bến Thần Vũ ngài không giám chối mệnh. Từ khi ngài phải về chèo đò, nhân dân đều tôn kính, thường xưng hiệu là Không Thuyền Ông.
Thời ấy ở đất Ai Lao bộ có họ Thục tên Ban (Bạn) là Thục Chúa, nghe tin vua Duệ Vương định nhường ngôi cho con rể là ông Tản Viên Sơn, bèn đem quân đánh họ Hùng. Vua sai Tản Viên Sơn đem quân ra nghênh chiến. Quân Thục bị thua, Thục Chúa chạy đến bến Hồng Vũ thì đã gần sáng, đương hồi tháng 6, tháng 7. Nước của sông to, quân của đức Tản Viên đã đuổi gần tới nơi. Trong lúc cấp bách đường cùng, Thục Chúa trông thấy ở mé sông có thuyền của Không Thuyền liền gọi cầu cứu chở qua sông. Không Thuyền cũng nghĩ thầm hẳn Thục Chúa thua trận chạy trốn, ta mà bắt được đem nộp thì được công to. Nhưng lại nghĩ rằng: “Chấp nhân ư nguy cấp chi trung, khởi vô nghĩa hồ cứu nhân ư hoạn nạn, chi chính thị nhân dã”. Ngài bảo rằng ngày nay quân của Hùng gia còn đương canh hàng nghiêm ngặt, Minh Công tạm trú gia thôn sở nguyệt. Thục Chúa còn nghi ngại chẳng giám nghe lời, ngài phải chỉ trời mà thề rằng: nếu tôi có lòng bất chính thì trời sẽ hại tôi. Thục Chúa thấy ngài quả có lòng thành thực, liền theo ngài về nhà, ngài để Thục Chúa ở chùa Vũ Xá hơn một tháng. Thấy quân Hùng gia không còn truy lùng nữa, hai ba lần Thục Chúa mời ngài cùng về bản quốc, để báo đại ân. Ngài từ chối không chịu đi, nói rằng tôi đã ăn lộc Hùng gia mà nay lại về với Minh Quân là vô đạo. Một đêm ngài nằm mộng thấy thần báo một bài thơ rằng:
Hữu thời quân tất hữu thời thần
Hà tất phu phu tác đạo nhân
Nghi giữ Thục Vương hồi Thục quốc
Công danh tái đắc ức liên thân.
Khi ấy ngài mới vui lòng về Ai Lao. Thục Chúa phong ngài là Bảo Hựu Không Thuyền đại đô đốc, thực ấp vạn hộ. Thục Chúa gọi em là bà Phượng Hoa công chúa gả cho ngài. Được 5 đến 6 tháng bà nằm mộng thấy 3 con lân nhập hoài mà có thai, đến ngày 10 tháng 2 năm Giáp Dần sinh ra một bọc, phá ra 3 người con trai. Khi đang sinh thấy hương hoa thơm ngát ở phòng sinh. Sinh được hơn trăm ngày, ngài đặt tên con trưởng là Nam Công, con thứ là Chiều Công, thứ ba là Hàn Công, đến năm 14 tuổi, bà mẹ hốt nhiên không ốm mà chết.
Đến khi Tam Công 18 tuổi, thiên kinh vạn quyển qua tay thuộc lòng. Thục Chúa đều phong tước cho. Khi ấy cha con ngài đều khuyên Thục Chúa cầu hòa cùng Duệ vương. Duệ vương được tin Thục Chúa xin cầu hòa, bèn triệu Thục Chúa lại nhường ngôi cho. Thục Chúa lên ngôi đóng đô ở thành Cổ Loa, phong Bảo Hựu làm Bảo Hựu Không Thuyền đại tướng, trưởng tử Nam Công làm quản Nam Đô phụng sự, thứ tử Chiều Công làm Phụng thị tả hữu. Quý tử Hàn công làm Chính hàn giáo thiên hạ tứ phương trí sĩ.
Từ khi ấy cha con ngài thường đi lại làng Vũ Xá. Ngài sai làm một nhà hội đồng cung để cho 3 con cùng ở. Một ngày 3 cha con cùng ngồi ở hội đồng cung chợt thấy một người đầu râu tóc bạc, đầu đội mũ hoa từ ngoài đi vào, cha con trông thấy mời vào cùng ngồi chơi nói chuyện thiên văn địa lý, văn chương thi phú thấy rất hợp liền kết làm nhất bái huynh đệ. Lão nhân đến tối thì đi, sáng sớm lại đến, đã ba, bốn ngày vẫn như thế. Đến hôm ấy lão nhân đi ra thì cha con ngài cùng đi theo, thấy lão nhân rẽ nước mà xuống sông, đến sáng sớm hôm sau cha con đi ra thì lại trông thấy lão nhân rẽ nước mà đi lên, rồi vào hội đồng cung. Thấy mọi người ngạc nhiên, lão nhân cười mà nói rằng, ta trước là con nhà Hùng gia cai trị ở Giang Khẩu, nay thấy cha con nhà ngươi là người anh tài đạo đức khí cao chí trung cho nên không lấy âm dương làm cách biệt mà đến chơi. Cha con ngài nói rằng tôn nhân đã không lấy âm dương làm cách biệt giám kết làm chi lan, có việc gì nguy cấp thì xin cấp cứu, lão nhân vâng dạ bảo rằng ta từ nay có việc triều đình không hay đi lại như trước, ngươi có việc gì muốn cầu cứu thì ta cho thần hiệu. Khi có việc gì thì hô thần hiệu ta sẽ tới, nói rồi viết hai chữ “Giang Khẩu” đưa cho cha con ngài, rồi đi.
Thời Thục Chúa tại vị đã được 32 năm có người ở Chân Định tên là Triệu Đà cử binh lại xâm chiếm, đồn trú ở Bắc Ninh Thiên Đức Giang. Thục Chúa sai sứ triệu cha con ngài về triều rồi đem quân đánh giặc. Khi ấy ngài đang thiết ban ở hội đồng cung để cầu Giang Khẩu đại vương, nghe thấy sứ triệu, ngài bèn gọi nhân dân ở làng Vũ Xá cắt cử coi giữ cung sở lập tức ngài xuất bản bộ binh mã và chọn những người tráng kiện ở làng Vũ Xá được 35 người để làm gia nô thủ túc. Thục Vương kíp sai đem một trăm nghìn quân ra đánh Triệu Đà, cha con ngài bái tạ Thục Vương rồi đem quân đường đường trực tuyến đến thiên đức giang thiết đầu sở rồi cùng Triệu Đà kháng cự. Cha con ngài cùng cha con Triệu Đà đánh nhau vài mươi trận, cha con ngài đều toàn thắng bắt được nhiều lương thực khí giới. Triệu Đà thấy cha con ngài uy dũng không dám ra đánh, đem quân về danh sở cố thủ không xuất chiến nữa.
Than ôi số mệnh tại thiên, Không Thuyền ở chốn chiến trường chợt bị bệnh nặng rồi chết vào ngày 19 tháng chạp. Ba vị Tam Công sai gia nhân về tâu Thục Vương. Vua Thục nghe tâu rất là thương tiếc, gấp sai xa giá ra chỗ quân trung đem Không Thuyền về thành đô. Khi ấy Triệu Đà gọi con cùng chư tướng bàn rằng nay Thục Vương đã mất một viên chúa tướng, Thục Vương xa giá đến đây, ta cố đánh một trận toàn thắng. Ngay đêm ấy chia làm bốn phía cùng tấn công. Đương khi 3 vị Tam Công còn đang sầu lão cùng với vua Thục và Quách Quàn thân phụ ở trong trại chợt thấy quân Triệu Đà vây bốn mặt giáp chiến. Quân Thục bị chết vô số, ba vị Tam Công ra đánh khi ấy quân Triệu phấn dũng, Tam Công không địch nổi lại chạy về trại cố thủ. Chúa Thục cả sợ, Tam Công nói rằng bệ hạ đừng lo, tôi đã có Giang Khẩu thần cấp cứu, nói rồi rồi đốt hương cầu Giang Khẩu xin lại cấp cứu ta. Vừa cầu xong chợt nổi: một trận gió to gẫy cây tốc nhà, bay sỏi đá, có tiếng gọi to rằng ta đã lại cứu lũ ngươi sao không đem quân ra đánh. Tam Công nghe thấy lập tức đem quân ra đánh. Triệu binh thất điên bát đảo bị chết vê số, Triệu Đà chạy về doanh sở.
Ba vị Tam Công mời Đức Giang Khẩu về lầu Thục Vương. Đức Giang Khẩu nói rằng ta muốn lại thăm Không Thuyền Vương rồi cùng về lầu bái yết Thục Vương. Đức Giang Khẩu thăm vị Không Thuyền Vương đã khuất rồi từ tạ mà đi, Thục Vương sai rước Không Thuyền Vương về táng ở thành Cổ Loa, lại gia tăng ở mỹ tự 6 chữ “bảo hộ, dục vận, chiến lưu”, sắc chỉ về làng Vũ Xá lập miếu ở hành cung bên chùa để thờ cúng. Thục Vương lại sai sứ đem Kim Quy thần cung giao cho ba vị Tam Công khiến lui quân Triệu Đà. Tam Quân được thần cung ấy liền thắng vài mươi trận. Triệu Đà từ ấy chạy về Chân Định, ba vị Tam Công bái tạ Thục Vương xin về làng Vũ Xá, túc trực tại nhà hội đồng cung ở làng Vũ Xá, chúc thỉnh Đức Giang Khẩu tới để mở tiệc khánh hạ.
Đương khoảng tháng 6, tháng 7, trong một ngày 3 vị Tam Công đương ngồi ở hội đồng cung sở thấy Đức Giang Khẩu rẽ nước đi lên cười mà tụng rằng:
Ngũ thập nhiên gian tại Thục Vương
Hựu quy Triệu thị khá tuy tường
Kim nai đặc thỉnh tam công đảng
Hồi thủy vân vương kết nghĩa trường.
Đương khoảng giời đất yên tĩnh ba vị Tam Công cùng hóa cả.
Câu chuyện về Không Thuyền đại vương và Giang Khẩu thần giúp Thục Vương đánh giặc đọc kỹ thấy có rất nhiều tư liệu mới mẻ đối với giai đoạn khúc mắc này của sử Việt. Tên của Thục Vương ở đây chép là Thục Ban (Bạn). Vì 2 phụ âm B và P đổi cho nhau nên Thục Bạn là tương đương với tên Thục Phán trong chính sử.
Thần tích chép Không Thuyền đại vương đánh giặc ở Thiên Đức giang. Thiên Đức là tên cổ của sông Đuống. Vị Giang thần sông Đuống ở đây gọi là Giang Khẩu hoặc Đức Giang Khẩu. Cửa sông Đuống là cửa Lục Đầu ở Bắc Ninh. Vị thần Giang Khẩu như vậy tương đương với Thanh Giang sứ giả trong truyền thuyết Kim Quy. Thanh Giang sứ là thần sông chứ không phải thần biển.
Khi nhận ra thần Giang Khẩu là thần Kim Quy thì Không Thuyền đại vương được kể phải là Cao Lỗ, vị tướng giúp vua Thục đánh giặc và chế tác nỏ thần. Cao Lỗ còn gọi là Cao Thông. Không Thuyền đọc thiết âm là Thông, trùng với tên của Cao Lỗ.
Tướng Cao Lỗ có đền thờ chính và lăng mộ tại thôn Đại Trung (Cao Đức, Gia Bình, Bắc Ninh). Khu vực này chính là nơi sông Đuống đổ vào Lục Đầu, gọi là bãi Đại Than. Sự trùng khớp vị trí của lăng Cao Lỗ và bến đò trên cửa sông Đuống trong thần tích Không Thuyền đại vương khẳng định thêm Không Thuyền chính là tướng Cao Lỗ.
Câu đối ở lăng Cao Lỗ tại Đại Than
愼密弩機萬代時君皆倚重
艱難農事千秋上帝憫精忠
Thận mật nỗ cơ vạn đại thời quân giai ỷ trọng
Gian nan nông sự thiên thu thượng đế mẫn tinh trung.
Dịch:
Cẩn mật nỏ thần, vạn đời các vua đều coi trọng
Gian nan nông nghiệp, nghìn thu thượng đế cảm lòng trung.
Cao Lỗ được biết đến là một vị tướng tài giỏi và là một nghệ nhân về các nghề thủ công, nông nghiệp. Ông là người chế tạo ra nỏ thần của nhà Thục, được coi là “ông tổ chế tạo vũ khí” của nước Nam.
Để nhận rõ Cao Lỗ là ai cần điểm lại lịch sử nhà Thục ở nước ta. Truyền thuyết về Thục An Dương Vương kể về cả một thời đại nhà Thục từ lúc dựng nước tới lúc mất nước. Đoạn đầu Thục Phán đánh Hùng Vương và lên ngôi đã được biết là chuyện Cơ Phát đánh giặc Ân, lập nên nhà Chu trong Hoa sử. Đoạn An Dương Vương xây thành Cổ Loa là sự kiện Chu Bình Vương dời đô từ Tây Kinh về Đông Kinh ở Đông Ngàn Cổ Loa. Đoạn cuối về Mỵ Châu – Trọng Thủy là việc nhà Tần diệt Chu Noãn Vương, kết thúc vương triều Chu kéo dài gần 1000 năm.
Xét trên một giai đoạn lịch sử dài như vậy, thật khó xác định Cao Lỗ là vị tướng ở thời gian nào. Chắc chắn một điều là tướng Cao Lỗ không liên quan tới việc trừ yêu diệt quỷ xây thành Cổ Loa như vẫn nhiều người lầm tưởng vì việc xây thành Cổ Loa là công tích của Huyền Thiên Lão Tử ở Đông Anh. Như vậy Cao Lỗ chỉ có thể là vị tướng ở thời kỳ đầu hoặc ở giai đoạn cuối của nhà Chu Thục.
Cao Lỗ chỉ một vị tướng người nước … Lỗ. Lỗ là nước chư hầu nằm ở phía Tây của nhà Chu. Lỗ hay Lẽ, Lý là tính chất lý lẽ của phương Tây, đối lập với tính chất tình thương, từ ái của phương Đông trong Dịch học. Cao là từ dùng để chỉ người lãnh đạo. Như thế Cao Lỗ tức là vị thủ lĩnh phía Tây.
Một loạt các tên gọi khác của Cao Lỗ khẳng định điểm này. Cao Lỗ còn gọi là Thạch thần. Hay trong thần tích ở Thái Bình Cao Lỗ trở thành Không Thuyền đại vương mang họ Đinh. Thạch hay Đinh đều là những dịch tượng chỉ hướng Tây, với tính chất tĩnh lặng, cương định.
Thần tích đền Đại Than cho biết Cao Lỗ khi sinh ra trên người có chữ Cao Lỗ Thiên, được đặt tên là Lỗ Công. Cao Lỗ Thiên không phải là “ông trời họ Cao tên Lỗ” mà là vị thủ lĩnh của trời Tây (Lỗ).
Giả thuyết như vậy thì Cao Lỗ có thể là vị tướng ở một trong 2 thời điểm. Ở thời lập quốc nhà Chu thì Cao Lỗ là Chu Công Đán, người em của Chu Vũ Vương được phong ở đất Lỗ. Chu Công hay Lỗ Công đã không về đất phong mà ở lại kinh thành nhà Chu phò tá cháu còn nhỏ là Chu Thành Vương. Sau khi dẹp loạn Vũ Canh và Tam Thúc, Chu Công đã đưa đám quý tộc nhà Ân cũ về an trí tại thành Lạc Dương, tức là ở thành Cổ Loa.
Thần tích ở Đại Than cho biết Cao Lỗ khi giúp Thục Vương đã dẫn quân như sau:
Chỉ đạo theo đường từ châu Minh Linh Bố Cánh đi ra, một đạo theo đường núi từ Quỳnh Nhai Hoàng Tùng thập châu đi ra, một đạo theo đường Tuyên Tiên Tụ Long đi ra, một đạo theo đường núi Tam Điệp Ái Châu đi ra, một đạo theo đường Hoan Châu hội quân ở cửa biển, dựng cờ lớn ở đất Mộc Châu.
Tất cả những địa danh trên cho thấy khu vực cai quản của Cao Lỗ là vùng rừng núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay. Đây chính là địa phận nước Lỗ, đất phong của đại công thần Chu Công Đán của nhà Chu.
Giả thuyết thứ hai nếu Cao Lỗ ở vào cuối thời Chu Thục, đã từng giúp Thục kháng Tần (Triệu), thì khả dĩ nhất Cao Lỗ là ông Lỗ Ban. Cao Lỗ được thờ là tổ nghề rèn (dưới tên Lư Cao Sơn). Lỗ Ban cũng là người nước Lỗ và được tôn là ông tổ nghề xây dựng, nghề mộc. Truyện kể về Lỗ Ban từng chế tạo các máy móc dùng trong chiến trận, như truyện Công Thâu Ban và Mặc Gia bày sa bàn đấu với nhau chín ngày đêm.
Không Thuyền đại vương ở Thái Bình họ Đinh tên Phẩm. Rất có thể chữ Phẩm là biến âm của chữ Ban, tương tự trường hợp tên Thục Ban trong thần tích so với tên Thục Phán. Đinh là hướng Tây, giống như Lỗ. Như thế Đinh Phẩm tương đương với Lỗ Ban.

P1240478

Đền Phnom Bakheng, nơi có truyền thuyết về Lỗ Ban ở Angkor.

Không rõ làm sao, trong sách Chân Lạp phong thổ ký của viên công sứ nhà Nguyên là Châu Đạt Quan ở thế kỷ 13 lại kể ở Angkor Wat trên đất Cămpuchia có mộ của Lỗ Ban:
Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angkor Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, trong một vòng thành gần mười dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Bậc thầy về xây dựng Lỗ Ban của Trung Hoa lại ở Cămpuchia. Nước Lỗ rõ ràng không ở đâu xa tận bán đảo Sơn Đông, mà là khu vực nước Lào ngày nay. Có vậy thì mộ của Lỗ Ban mới nằm trong quần thể Angkor.
Bản thân trong cách bố trí số các ngọn tháp ở Angkor đều dùng số 5 với khái niệm tương tự như Ngũ hành. Ví dụ như ở ngôi đền Phnom Bakheng được nói đến có 5 bậc tháp khi đi lên.

P1240483

5 bậc tháp ở đền Phnom Bakheng.

Trong truyện kể về Lỗ Ban (Nghiên cứu của Lỗ Ban) có thể thấy ông đã rất ủng hộ nhà Chu. Thậm chí có chỗ kể ông có người chị ở đất Chu. Lỗ Ban chế tạo ra con chim gỗ để đi tìm chị ở nước Chu. Bố của ông không biết dùng chim gỗ nên bị rơi ở nước Vũ, sau đó bị giết ở đây…
Nước Lỗ vốn là nước của Chu Công, vị đại công thần của hoàng tộc nhà Chu nên với nước Chu có quan hệ đặc biệt, luôn luôn ủng hộ nhà Chu. Tới tận cuối thời Chiến Quốc nước Lỗ vẫn còn kẻ sĩ như Lỗ Trọng Liên, thà nhảy xuống biển Đông mà chết chứ không chịu theo Tần.
Quay lại vấn đề về Cao Lỗ, người mà danh tích và sự nghiệp gắn với việc chế tạo chiếc nỏ thần. Câu đối về Cao Lỗ ở đình Đại Trung:
名振螺城昭聖跡
靈揚龟弩赫神威
Danh chấn Loa thành chiêu thánh tích
Linh dương quy nỗ hách thần uy.
Dịch:
Danh dội Loa thành rạng thánh tích
Linh thiêng Quy nỏ tỏ uy thần.
Nỏ thần của Cao Lỗ thật sự là gì thật khó biết nhưng bí quyết của nỏ nằm ở chiếc lẫy nỏ do thần Kim Quy trao tặng. Lẫy nỏ thần này được gọi thần cơ. Chữ Cơ 機 còn có nghĩa là điều then chốt, cốt yếu, chứ không nhất thiết chỉ nghĩa là chiếc lẫy để bắn nỏ. Xét về ý nghĩa của bí quyết “móng rùa” này chắc chắn phải liên quan tới Dịch học. Rùa là loài vật có mai giáp dùng để chép Dịch thời cổ (Quy tàng dịch).

IMG_9258Đình Đại Trung ở Gia Bình, Bắc Ninh.

Ngay xem trong thần tích về Không Thuyền đại vương ở Thái Bình, 3 vị con của Không Thuyền (Cao Lỗ) là Chiều Công, Nam Công và Hàn Công cùng với Giang Khẩu thần dùng nỏ thần Kim Quy thắng giặc. Tên của các vị này xếp thành đủ 4 phương. Nam Công là hướng Nam. Chiều Công là hướng Tây, hướng buổi chiều mặt trời lặn. Hàn Công là hướng Bắc, hướng của xứ lạnh (hàn). Còn Giang Khẩu thần hay Thanh Giang sứ là hướng Đông (Thanh là màu xanh, màu của phương Đông). Cùng với Không Thuyền đại vương 4 phương này hợp thành Ngũ hành.
Lỗ Ban cũng là một bậc thầy về phong thủy (Dịch học). Tới ngày nay còn truyền lại dụng cụ “thước Lỗ Ban” được sử dụng rộng rãi trong thuật phong thủy. Phải chăng bí kíp móng rùa của Cao Lỗ chính là nằm ở chiếc “thước Lỗ Ban” này? Hiểu một cách rộng hơn thì Cao Lỗ đã tạo ra một mực thước tốt nhờ vận dụng Dịch học để thiết kế các công cụ tác chiến, nhờ đó giúp cho Thục An Dương Vương chống giặc.
Thay cho lời kết bài viết, xin dẫn thêm đôi câu đối ở cổng lăng mộ Cao Lỗ tại Đại Than:
文武兼全神機妙造無雙將
龍韜虎畧却趙抗秦第壹功
Văn vũ kiêm toàn, thần cơ diệu tạo vô song tướng
Long thao hổ lược khước Triệu kháng Tần đệ nhất công.
Dịch:
Đủ gồm văn võ, sáng tạo lẫy thần kỳ diệu, vị tướng có một không hai
Tài trí hổ rồng, đánh đuổi Triệu chống giữ Tần, công lao đứng hàng thứ nhất.

Lão Tử hóa … Cao Sơn Độc Cước

Tóm tắt lại những gì đã biết về thân thế và sự nghiệp của Lão Tử. Lão Tử, vị giáo chủ của Đạo giáo, tác giả của cuốn triết học Đạo Đức kinh nổi tiếng, xuất xứ không ở đâu xa. Những di tích, sự tích ở Việt Nam cho thấy quê hương của Lão Tử chính là ở miền Bắc Việt.
Làng Thổ Hà (Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang) là nơi Lão Tử từng tu luyện, cứu chữa dân lành và hóa về trời. Thái Thượng Lão Quân, thành hoàng làng Thổ Hà, được biết là người đã cử thần Kim Quy tới giúp vua An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ trên núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa trong huyền sử Việt. Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà kể lại những sự tích này của Lão Tử:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Người đã giúp An Dương Vương diệt tinh gà trắng trên núi Thất Diệu còn là Huyền Thiên Trấn Vũ, có đền thờ chính nằm ở núi Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội). Huyền Thiên là Lão Tử vì thời nhà Đường coi Lão Tử là tổ tiên họ Lý nên tôn là Thái thượng Huyền Nguyên hoàng đế. Núi Sái ở Đông Anh còn có tên là núi Vũ Đương, ngọn núi thánh của Đạo Giáo.
Huyền Thiên đại thánh còn có đền thờ ở khu vực ven sông Hồng. Tại đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội) Huyền Thiên được thể hiện là một vị thần to lớn, diệt trừ giao long ở đoạn sông này. Ở đền Bộ Đầu, Huyền Thiên được gọi là Đổng Thiên vương. Tức là Huyền Thiên Lão Tử là một trong Tứ linh thần “Hương Bổng Đổng Đằng” và trong Tứ bất tử của nước Nam. Đổng là ghi âm Đùng của tiếng Nôm, chỉ người khổng lồ cao lớn. Hình tượng của Huyền Thiên là một vị thần to lớn kỳ dị, có khả năng điểu khiển rắn rùa và trấn phương Bắc (Huyền phương, Trấn Vũ).
Trong Đạo Giáo Lão Tử được tôn là Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, một trong ba ngôi chí tôn Tam thanh. Ở Ninh Bình có đức Thiên Tôn trong Hoa Lư tứ trấn cũng chính là Lão Tử. Lão Tử còn có thể ở ngôi Ngọc Hoàng Thượng Đế, thần chủ của Thiên phủ trong tín ngưỡng Tam tứ phủ.
Theo sự tích ở Hoa Lư thì Ninh Bình là quê hương chôn rau cắt rốn của Lão Tử. Lão Tử là người sinh ở vùng Ninh Bình, tu luyện cứu thế ở Thổ Hà (Bắc Giang), khiển rắn rùa ở ven sông Hồng, thành nghiệp trên núi Vũ Đương qua việc trừ yêu quỷ giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Là thần chủ của Đạo giáo và là một trong Tứ bất tử nước Nam nên các ngôi của Lão Tử gặp rất đa dạng. Mỗi địa phương lại kể về Lão Tử dưới một cái tên khác nhau. Chỉ khi so sánh sự tích thì mới nhận ra đó đều là một nhân vật.

P1240973Đền Núi ở Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh.

Ở Yên Phụ (Yên Phong, Băc Ninh) có ngôi đền Núi nằm trên một gò đồi, có tên là núi Thất Diệu. Đền Núi thờ 3 vị thần gồm Cao Sơn đại vương, đức vua bà Ngọc Hậu phi và một vị thần bản thổ. Ngọn đồi này cũng là nơi đóng đại bản doanh của Lý Thường Kiệt trong trận chiến chống Tống trên sông Như Nguyệt.
Đôi câu đối cổ còn lưu lại qua năm tháng ở đền Núi:
龍御臨辰曜嶺草花増氣色
鸞車止 處德江波浪弄清光
Long ngự lâm thời Diệu Lĩnh thảo hoa tăng khí sắc
Loan xa chỉ xứ Đức Giang ba lãng lộng thanh quang.
Dịch:
Rồng ngự kíp thời, Diệu Lĩnh cỏ hoa thêm khí sắc
Xe loan tới chốn, Đức Giang sóng nước ánh hào quang.
Vế đầu câu đối nói tới một vị vua đã từng ngự giá đến núi Thất Diệu. Còn vế sau nói tới xe loan của vị nữ thần (đức Hậu phi?) trên sông Nguyệt Đức (sông Cầu). Tuy nhiên, điều lạ là xét trong số 3 vị thần được thờ ở đền Núi thì không có vị nào là vua mà lại hiển linh ở núi Thất Diệu cả. Vế đối trước chỉ có thể nói tới sự tích liên quan tới thần Cao Sơn đại vương được thờ ở đây. Đây là chuyện thần đã giúp An Dương Vương thân ngự diệt quỷ ở núi Thất Diệu.
Một câu đối cổ khác ở chính điện đền Núi:
退虜助奇功李將驚囬秋夜夣
除妖揚正氣曜山全現北辰光
Thoái lỗ trợ kỳ công, Lý tướng kinh hồi thu dạ mộng
Trừ yêu dương chính khí, Diệu sơn toàn hiện bắc thần quang.
Dịch:
Trợ giúp kỳ công lui giặc, tướng Lý bàng hoàng mộng đêm thu
Nêu cao chính khí trừ yêu, núi Diệu tỏ tường ánh thần Bắc.
Vế đối đầu nói tới thần được thờ ở đền Núi đã trợ giúp Lý Thường Kiệt phá Tống. Còn vế đối sau nói rõ hơn chuyện trừ yêu diệt quỷ ở núi Thất Diệu. Rõ ràng những câu đối này đang kể về sự tích thần được thờ tại đây giúp vua diệt yêu quái trên núi Thất Diệu. Thần ở đây là Cao Sơn đại vương. Đặc biệt thông tin về “Bắc thần quang” đã chỉ rõ thần Cao Sơn ở đây là vị thần trấn phương Bắc. Với những thông tin này thì có thể thấy chắc chắn vị Cao Sơn đại vương ở đền Núi chính là Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền Núi nằm không xa núi Sái, nơi thờ chính của Huyền Thiên.

Gieng Co TienGiếng Cô Tiên trên núi Thất Diệu (Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh).

Đền Núi ở Yên Phụ như vậy liên quan trực tiếp tới sự tích Huyền Thiên giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Trong cụm di tích ở đây còn có miếu Bạch Kê thờ vị tiên cô Bạch Kê đã gánh đất đắp thành Cổ Loa. Trên núi có giếng Cô Tiên, tương truyền là dấu vết tiên ở núi Thất Diệu. Rất có thể, vị thần thổ địa hay vị Ngọ hậu phi được thờ ở đền Núi chính là Mẫu Bạch Kê.
Trong câu đối trên kể về việc thần ở đền Núi trợ giúp Lý Thường Kiệt đánh lui quân Tống. Đây cũng là một trong những chuyện kể về sự hiển linh của đức Huyền Thiên ở đền Sái. Dưới chân đền Sái về phía Đông có đền Thượng, là nơi làm lễ bái vọng Huyền Thiên trong ngày hội đền Sái. Tuy nhiên đền Thượng này lại thờ Cao Sơn đại vương. Đặc biệt chính trong đền Thượng ở chân núi Sái cũng có một đôi câu đối như đôi câu đối đã dẫn của đền Núi Yên Phụ. Thông tin này một lần nữa cho thấy Huyền Thiên đại thánh còn được gọi là Cao Sơn ở khu vực này.
Việc xác định Huyền Thiên Lão Tử còn được gọi là Cao Sơn dẫn đến một phát hiện khác. Cao Sơn hay Tiêu Sơn cũng là tên của thần Độc Cước, vị thần được thờ phổ biến ở Thanh Hóa. So sánh giữa thần Độc Cước và Huyền Thiên cho thấy 2 vị thần này thực chất là một. Cả hai đều là dạng thiên thần hay nửa nhân thân nửa thiên thần. Thần Độc Cước được kể dưới hình ảnh vị thần chỉ có 1 bên thân.

P1240193.jpgTượng thần Độc Cước ở Linh Tiên Quán (Hoài Đức, Hà Nội).

Độc Cước chân nhân và Huyền Thiên đại thánh đều là đạo sĩ, có phép trừ yêu diệt quỷ. Thần Độc Cước ở Thanh Hóa được kể là dẹp quỷ Đỏ (thần tích làng Núi phường Trường Sơn, Sầm Sơn) hoặc Ma Nhung (truyền thuyết làng Vân Trai, Cẩm Vân, Cẩm Thủy). Còn Lão Tử theo thần tích ở làng Thổ Hà thì từng dẹp giặc Xích Tỵ (giặc Mũi đỏ). Thực ra đây là việc Lão Tử đã chữa bệnh giúp nhân dân. Bệnh dịch hạch xưa kia rất phổ biến, người bệnh nổi các nốt hạch đỏ. Truyền thuyết gọi thành quỷ Đỏ hay giặc Xích Tỵ. Nhờ việc chữa trị bệnh dịch này mà Lão Tử đã được nhân dân tôn thờ khắp nơi.
Tên của thần Độc Cước là Cao Sơn hay Tiêu Sơn. Những nơi thờ thần thường gọi địa danh là Núi. Như đã thấy ở trên Cao Sơn cũng là tên của Huyền Thiên. Đây không phải là những vị thần núi như nhầm tưởng. Tên gọi Núi hay Sơn là quẻ Cấn, chỉ hướng Bắc trong Bát quái. Tiêu Sơn nghĩa là hướng chính Bắc, là hướng của Huyền Thiên Trấn Vũ.
Bản thân hình ảnh Độc Cước về một vị thần chỉ có nửa người, một chân cũng là xuất phát từ nghĩa này. Độc là số 1, con số chỉ phương Bắc trong Hà thư. Thánh Độc tương đương với Tiêu Sơn hay Huyền Thiên, là vị thần trấn phương Bắc.
Hình ảnh của dấu chân to lớn như của thần Độc Cước để lại như ở núi Cổ Giải tại Sầm Sơn cũng gặp trong sự tích Huyền Thiên ở đền Bộ Đầu. Cổ Giải là núi rùa. Còn ở nghè Hạ làng Nhân Cao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) có tượng thần Độc Cước cưỡi trên một con rắn lớn, tay cầm búa bắt nó phải khuất phục. Hình ảnh này liên tưởng tới biểu trưng của Huyền Thiên Trấn Vũ với tài khiển rắn rùa.
Ở núi Sái khi thần Kim Quy dẫn An Dương Vương đi dẹp yêu quỷ, lúc về thấy có một hốc đá lớn trên núi Sái, thần Kim Quy nói đó là dấu chân của đức Huyền Thiên Trấn Vũ, vì thế An Dương Vương cho lập đền thờ thần trên núi Vũ Đương này. Hình ảnh một dấu chân lớn của thần Huyền Thiên tương tự như của Cao Sơn Độc Cước.
Theo sách Bắc Ninh địa dư chí thì ở trại Bông Thắng, phường Phú Thứ, làng Yên Sơn, huyện Phong Phú (Yên Phong) cũng có sự tích thần Tiêu Sơn Độc Cước. Đây là khu vực gần núi Thất Diệu tại Yên Phong.
Ở Việt Yên, Bắc Giang, ngay gần làng Thổ Hà còn có ngôi đền nhỏ gọi là đền Núi Lùn (thôn Lát Thượng, xã Tiên Sơn). Đền thờ Tiêu Sơn Độc Cước. Đền thờ này nằm cạnh chùa Tư Ân (Bổ Đà), nơi còn tượng thờ Lão Tử và Khổng Tử. Câu đối ở chùa Tư Ân về Khổng – Lão:
楚邦鹿梦地鍾靈萬年僊主
魯邑鱗書天瑞表千載素王
Sở bang lộc mộng địa chung linh, vạn niên tiên chủ
Lỗ ấp lân thư thiên thụy biểu, thiên tải tố vương.
Dịch:
Nước Sở mộng hươu đất đúc linh thiêng, vạn năm tiên chủ
Ấp Lỗ sách lân trời soi áng rạng, ngàn thu tố vương.

P1320071
Tượng Lão Tử ở chùa Tư Ân.

Từ sự đồng nhất về sự tích, vai trò tín ngưỡng, tên gọi, địa điểm di tích, hình ảnh thể hiện trong truyền thuyết có thể thấy rõ Tiêu Sơn Độc Cước chính là Huyền Thiên, là một ngôi, một cách gọi, cách thờ khác của Lão Tử. Nguồn gốc của Lão Tử ở nước Nam lại thêm lần nữa được xác quyết với hình ảnh Cao Sơn – Độc Cước.
Tài liệu tham khảo:
1. Tục thờ thần Độc Cước ở một số làng ven sông biển tỉnh Thanh Hóa. Hoàng Minh Tường. NXB KHXH, 2015.
2. Các vị thần làng thờ ở Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh. Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.209-223.

Khảo cứu mới về Hoa Lư tứ trấn

Cố đô Hoa Lư của thời Đinh Lê tại Ninh Bình có 4 vị thần được tôn là Tứ trấn, tương tự như ở đất Thăng Long. Hiện nay việc sắp xếp trấn phương của các vị thần này như sau: Trấn Đông là thần Thiên Tôn, Trấn Tây là thần Cao Sơn, Trấn Bắc là thần Không Lộ, Trấn Nam là thần Quý Minh. Người ta cho rằng như vậy trong tứ trấn thì có 3 thiên thần và 1 nhân thần.
Thực sự thì những vị thần này là ai và phương vị của họ nêu trên có đúng không? Khảo cứu những tư liệu dân gian ở đây cho hiểu biết thêm về thời kỳ cổ sử ở khu vực Ninh Bình cũng như cho toàn miền Bắc Việt Nam.

Hoa_Lu_tu_tran-ModelBản đồ Hoa Lư tứ trấn (theo Wikipedia).

Trấn Bắc: Thiên Tôn
Thần Thiên Tôn ở Hoa Lư có nơi thờ chính là bản quán của thần tại thôn Đa Giá (Ninh Mỹ, Hoa Lư). Tại đây có động Thiên Tôn và đền Đa Giá thờ thần. Thiên Tôn là Huyền Thiên Trấn Vũ với sự tích tương tự như ở Trấn Vũ Quán của thôn Ngọc Trì (Thạch Bàn, Gia Lâm, Hà Nội). Thần là Huyền Thiên Thượng Đế Đăng Ma Thiên Tôn, bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian. Thần đã đầu thai nhiều kiếp, sau đó làm hoàng tử ở Tĩnh Lạc Quốc, rồi đi vào Vũ Đương Sơn tu luyện…

Cong chua Thien TonCổng chùa Thiên Tôn.

Thực ra Huyền Thiên Trấn Vũ chẳng phải ai khác chính là Lão Tử, vị giáo chủ của Đạo Giáo. Trong Đạo Giáo Lão Tử được tôn làm Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn. Còn Tĩnh Lạc quốc của Huyền Thiên là Tĩnh Hải Lạc Việt, tức là khu vực nước Nam thời nhà Đường.
Điều đáng ghi nhận là truyền thuyết ở Hoa Lư cho biết làng Đa Giá chính là quê hương của thần Thiên Tôn. Rất có thể đây chính là quê hương của Lão Tử. Một số thần tích ở Hà Nam (đình Phù Vân, Phủ Lý) cũng cho biết Thái Thượng Lão Quân (tức Lão Tử) cũng là người ở vùng này.
Trong đền Đa Giá có bức hoàng phi cổ: “Bắc phương chính khí”. Huyền Thiên là phương trời phía Bắc, có màu đen. Do đó thần Thiên Tôn ở Hoa Lư phải là trấn Bắc chứ không phải trấn Đông.
Động Thiên Tôn là di tích cổ, tương truyền do “Cao Đô Đường Thái sư” cho xây dựng. Cao Đô Đường thái sư tức là Cao Biền. Cũng ở khu vực động Thiên Tôn khảo cổ đã tìm thấy 2 loại gạch: Giang Tây quânĐại Việt quốc quân thành chuyên. Giang Tây quân là gạch của Tĩnh Hải quân nhà Đường, điều này khẳng định truyền thuyết về Cao Biền xây di tích này thờ thần Thiên Tôn.

Bac phuong chinh khiHoành phi “Bắc phương chính khí” ở đền Đa Giá.

Tấm bia đá ở ngoài cửa động khắc bài ký của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805-1881) có đoạn:
Nước Nam ta thờ thần (Thiên Tôn) từ thời An Dương Vương. Thần trừ diệt yêu ma, được xếp vào bậc nhất danh thần. Tại động núi Vũ Đương xã Đa Giá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình trước đây có tượng đế quân bằng gỗ, tay chống lên kiếm, chân đạp lên rùa và rắn. Phía Đông có ngôi đền thờ rất linh ứng.”
Động Thiên Tôn nằm ở chân núi Dũng Đương. Chữ Dũng hẳn là lấy từ từ ghép “vũ dũng”. Dũng Đương cũng là Vũ Đương. Ngọn Vũ Đương hay Võ Đang của Lão Tử lại nằm ở Ninh Bình.
Câu đối ở chùa Thiên Tôn:
Thiên Tôn động cổ lưu danh thần Trấn Vũ
Hoa Lư thành ngoại điển tích núi Dũng Đương.

Nha bia Thien Ton
Nhà bia động Thiên Tôn và sử tử đá thời Lý.

Bài thơ khắc trên vách núi ở bên trái cửa động Thiên Tôn do Đoan trai Lương Quy Chính đề năm Thành Thái thứ 12 (1900):
Cửu du trùng phỏng Thiên Tôn động
Linh tích cung chiêm Trấn Võ thần
Thục đế sơn hà kim tạc mộng
Hà Nam thủ kiếm diệt yêu phân.
Dịch (Trần Lâm Bình):
Thiên Tôn động cổ trở về thăm
Dấu thiêng Trấn Vũ bái vọng thần
Thục đế non sông qua giấc mộng
Tay kiếm trừ yêu mấy khó khăn.
Cả trong văn bia và bài thơ vách núi đều nói tới chuyện thần Thiên Tôn Trấn Vũ đã giúp Thục An Dương trừ yêu diệt quỷ. Bởi vì Huyền Thiên Trấn Vũ cũng là người được thờ ở đền Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội) với công trạng là giúp An Dương Vương trừ Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Như vậy sự hiện diện của Huyền Thiên hay Lão Tử trong chuyện thời An Dương Vương không phải chỉ có ở Cổ Loa. Đây là chứng tích cho thấy Lão Tử là người đã giúp An Dương Vương xây thành. Vua Chủ An Dương Vương không phải ai khác ngoài thiên tử Chu của thời Lão Tử. Lão Tử quê ở Ninh Bình, tu luyện ở núi Sái, là vị thầy thuốc chữa dịch bệnh cho nhân dân và giúp vua Chu dời đô về Cổ Loa.

Den Da GiaĐền Đa Giá và những chạm trổ cầu kỳ trên gỗ, đá.

Trấn Đông: Quý Minh
Nơi thờ chính của Quý Minh ở Hoa Lư là đền Trần hay đền Nội Lâm trong khu danh thắng Tràng An. Đức Thánh Quý Minh Đại Vương ở Hoa Lư được coi là một vị thủy thần, là người có công trấn giữ vùng chiêm trũng ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước thời vua Hùng 18.
Theo thần tích làng Ngâm Mạc (Gia Bình, Bắc Ninh): vào đời Hùng Duệ Vương có hai vợ chồng người Hồng Châu đến chùa Thiên Thai cầu tự. Từ đấy sinh ra một bọc hai con trai, đặt tên là Cao Sơn và Quý Minh. Khi Hùng Duệ Vương cho tìm người tài, cả hai bèn đến chầu, Vua phong cho làm Đô chỉ huy sứ Tướng quân. Thục Phán dấy quân, vua sai hai người đem quân đi bình giặc. Hai người cùng đem quân đến núi Sóc Sơn, đạo Kinh Bắc, mới đánh một trận giặc Thục thua chạy…
Hội đền Trần được tổ chức với hàng trăm chiếc thuyền bơi dọc sông, rước nước tế thần.
Câu đối ở cột đá đền Nội Lâm:
Khuông phù Hùng quý trung hưng tướng
Tĩnh trấn Nam thiên thượng đẳng thần.
Dịch:
Phù giúp thời Hùng trung hưng tướng
Yên trấn trời Nam thượng đẳng thần.
Chuyện Quý Minh sinh ra trong bọc trứng và là thủy thần có công đánh Thục cho thấy đây là chuyện thời vua cha Bát Hải Động Đình hay Lạc Long Quân của Thoải phủ (Thủy phủ). Ngay trong đền Nội Lâm còn có tượng thờ Hoàng phi Quý Nương. Quý Nương là tên của bà mẹ đã sinh 3 con Hoàng xà, sau là Vĩnh Công Bát Hải và 2 người em.
Quý Minh nghĩa là người con thứ 3 vì Quý là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý. Nói cách khác thần Quý Minh ở Hoa Lư là vị Quan lớn đệ Tam ở đền Lảnh (Duy Tiên, Hà Nam), cũng là thần Thổ Lệnh trong truyện Bạch Hạc Tam Giang và là Trung thành phổ tế đại vương của vùng Phú Xuyên – Hà Nam.
Khi đã xác định như vậy thì phương vị trấn của Quý Minh không thể là trấn phương Nam. Quan đệ Tam là trấn Đông vì 3 là con số chỉ hướng Đông trong Hà thư. Ngay bản thân cái tên của đền thờ Quý Minh là đền Trần (trong khi không hề thờ vua Trần) cho thấy đây là thần trấn Đông vì Trần là Đông A, tức là vùng đất phía Đông.

Den Noi LamKhu vực Tràng An.

Trấn Nam: Cao Sơn
Thần Cao Sơn được thờ trong khu vực chùa Bái Đính. Nhưng chính đền thì phải ở đất Nho Quan. Thần tích của đền Kim Liên, trấn Nam của Thăng Long cho biết quê của Cao Sơn ở Phụng Hóa (Nho Quan, Ninh Bình). Nay là đền Láo tại xã Văn Phú của huyện Nho Quan.
Theo thần phả đình làng Lỗi Sơn (Gia Phong, Gia Viễn, Ninh Bình), thì Tản Viên Sơn Thánh đã đưa quân về vùng Tràng An lập đồn. Tản Viên Sơn Thánh truyền binh sĩ chia làm ba chủ: Sùng Công đóng đồn ở khu Ðồi Khoai (thuộc xã Yên Lão, Phụng Hóa, Nho Quan). Hiền Công lập đồn ở xã Vân Cái làm phòng tuyến, còn Sơn Thánh lập đồn ở xã Sơn Dược.
Sùng Công là Cao Sơn vì chữ Sùng là dịch Nho của chữ Cao. Hiển Công là Quý Minh vì Hiển là dịch Nho của chữ Minh.
Trong các thần tích thì Cao Sơn được gọi là Lạc tướng Vũ Lâm. Tên này có thể giải nghĩa như sau. Sơn là quẻ Cấn trong Bát quái, chỉ hướng Nam xưa, nay là hướng Bắc. Cao nghĩa là thủ lĩnh, vua. Vì thế Cao Sơn tương đương với một loạt các từ Lạc Vương, Nam vương. Vũ Lâm như vậy là ghi âm của từ “vua Nam”.
Truyền tích Cao Sơn ở Ninh Bình còn gắn với loài cây búng báng là loài cây được Cao Sơn phát hiện có thể dùng làm bột bánh thay bột gạo cho nhân dân ở đây. Vì thế loài cây này được gọi là Quang Lang… Thực ra Quang Lang hay Quan Lang nghĩa là vua Nom (Quan là nhìn, là nom), cũng là Nam vương ở trên.
Những cái tên Vũ Lâm, Quan Lang trong truyền tích Cao Sơn khẳng định thêm nhận định Cao Sơn là thủ lĩnh phương Nam. Vì thế phương trấn của Cao Sơn phải là phía Nam, không phải phía Tây như vẫn nghĩ.

Trấn Tây: Không Lộ
Đền thờ Không Lộ thiền sư Nguyễn Minh Không là đền đức thánh Nguyễn ở xã Gia Thắng (Gia Viễn). Nguyễn Minh Không có tên là Chí Thành, đã được phong là Lý Triều Quốc Sư với sự tích chữa bệnh cho Lý Thần Tông. Các văn bia tại đền đức thánh Nguyễn đều gọi là Minh Không Quốc Sư. Tuy nhiên có vấn đề là Hoa Lư là kinh đô của hai nhà Đinh và Tiền Lê, tới Lý Thái Tổ đã dời đô về Thăng Long. Vậy tại sao một “Lý triều quốc sư” lại thành một trấn của Hoa Lư được?

Nghi mon thanh NguyenNgoại môn đền đức thánh Nguyễn “Lý triều quốc sư” ở Đàm Xá.

Câu đối ở nghi môn đền đức thánh Nguyễn:
海笠囊銅奇事傳聞南以北
象山龍水靈臺屹對古而今
Hải lạp nang đồng, kỳ sự truyền văn Nam dĩ Bắc
Tượng sơn long thủy, linh đài ngật đối cổ nhi kim.
Dịch:
Biển nón túi đồng, kỳ sự truyền lan Nam đến Bắc
Núi Tượng sông Long, đài thiêng cao đối cổ tới nay.
Sự tích về Nguyễn Minh Không còn có nhiều điều kỳ lạ và lẫn lộn. Rất khó phân biệt Nguyễn Minh Không ở Hoa Lư và Dương Không Lộ ở Thái Bình – Nam Định. Cả hai đều là những nhà sư thời Lý, chữa bệnh cho vua Lý. Cả hai đều được thờ là ông tổ của nghề đúc đồng vì chuyện ông Khổng Lồ sang phương Bắc, thu đồng đen trong túi mang về, đúc chuông. Khi chuông đánh lên Trâu Vàng nghe tiếng chạy theo về, thành đầm Kim Ngưu (Hồ Tây)… An Nam tứ đại khí đồ đồng cũng liên quan tới Không Lộ thiền sư.
Câu đối khác ở chính điện đền đức thánh Nguyễn
瞿越降生覺海心如海
太平出世通玄道亦玄
Cồ Việt giáng sinh, Giác Hải tâm như hải
Thái Bình xuất thế, Thông Huyền đạo diệc huyền.
Theo câu đối này thì Nguyễn Minh Không đã giáng sinh từ thời nước Cồ Việt, tức là nước của Đinh Bộ Lĩnh lập và đóng đô ở Hoa Lư. Đoạn nói về Giác Hải và Thông Huyền là theo bài thơ của vua Lý Nhân Tông được chép trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải.
Cần nói thêm là khái niệm Tứ trấn chỉ áp dụng cho kinh thành vì 4 trấn là 4 vị tướng ở 4 hướng, còn ở trung tâm phải là nơi có vua ngự, khi kết hợp lại thì mới thành 5 phương vị của Ngũ hành. Vì thể không thể có một thần trấn phương mà lại xuất hiện khi nơi chính không còn là kinh đô nữa.
Như vậy Lý triều quốc sư Nguyễn Minh Không phải là một nhân vật ít nhất là từ thời Đinh Lê. Điều này chỉ có thể hiểu từ nhận định mới về lịch sử của giai đoạn này. Hai nhà Đinh Lê là hai vị vua Lý đầu tiên, còn đang ẩn họ Lê tại Hoa Lư. Lý Thái Tổ – Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tông – Lê Hoàn vẫn nhận chức Tiết độ sứ của nhà Tống. Đến vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông mới dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và xưng nước Đại Việt độc lập.
Tham khảo thêm bài thơ Trường An thành hoài cổ của Nguyễn Trung Ngạn thời nhà Trần:
Mộc lạc hòa đao đế nghiệp di,
Lý gia thu đắc bản đồ quy.
Sơn vi cố quốc quy mô tiểu,
Thảo ám hoang thành cảnh vật phi.
Cổ tự tăng chung xao lạc nhật,
Đoạn khê ngưu địch lộng tà huy.
Anh hùng cựu sự vô tầm xứ,
Độc ỷ giang đình khán thúy vi.
Bản dịch của Nguyễn Huệ Chi như sau:
Cơ nghiệp Tiền Lê đã đổi thay,
Bản đồ, nhà Lý nắm vào tay.
Đô xưa bé nhỏ non vây kín,
Thành bỏ hoang vu cỏ lấp đầy.
Chùa cổ chuông khua vầng ác lặn,
Ngòi ngăn, sáo giỡn bóng chiều rây.
Anh hùng dấu cũ tìm đâu thấy,
Đứng tựa đình sông ngắm núi mây.
Mộc lạc hòa đao” là chiết tự của họ Lê 梨. Hai câu đầu chỉ Hoa Lư là kinh đô của nhà Tiền Lê, sau chuyển sang nhà Lý.
Câu “Sơn vi cố quốc quy mô tiểu” cho giải thích về cái tên nước Cồ Việt của thời Đinh Lê. Cồ hay Cù thực ra nghĩa Nôm là Cổ, Cũ. Đại Cồ Việt nghĩa là nước Đại Việt cũ, vì đó là nước Đại Việt được lập bởi Lưu Cung, với bằng chứng là những viên gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên ở Hoa Lư và ở Hoàng thành Thăng Long.
Câu thơ:
Cổ tự tăng chung xao lạc nhật,
Đoạn khê ngưu địch lộng tà huy.
Là nói tới chùa Địch Lộng. Chùa này cũng là nơi chính thờ Nguyễn Minh Không ở đất Hoa Lư.

Den thanh NguyenĐền đức thánh Nguyễn.

Sau khi xét phương vị của 3 vị thần trong Hoa Lư tứ trấn đều phải xoay lại một góc 90 độ thì phương vị của thần Không Lộ cũng phải chỉnh lại. Vị thần này phải là Trấn Tây. Nguyễn Minh Không cùng quê với Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn (Ninh Bình). Có câu: “Đại Hữu sinh vương, Đàm gia sinh thánh”. Đại Hữu là quê của Đinh Bộ Lĩnh. Đàm Xá là quê của Nguyễn Minh Không. Lý triều quốc sư thời Đinh Lê trên đất Tĩnh Hải. Đinh và Tĩnh đều chỉ hướng Tây.
Khi xác định Đinh Bộ Lĩnh là Lý Thái Tổ thì Lý triều quốc sư cùng quê cùng thời với Đinh Bộ Lĩnh thì phải là thiền sư Vạn Hạnh, người đã phò tá Lý Thái Tổ lên ngôi. Thiền sư Vạn Hạnh theo truyền tích ở Cổ Pháp cũng mang họ Nguyễn. Liên hệ giữa Nguyễn Minh Không và Nguyễn Vạn Hạnh cho phép hiểu thêm, tại sao Nguyễn Minh Không lại được các triều đại Đinh Lê Lý coi trọng như vậy. Hợp lý mà nói thì Vạn Hạnh mới xứng đáng tôn là Lý triều quốc sư vì là công thần khởi lập của triều Lý. Vạn Hạnh là vị thiền sư từ thời Lê Đại Hành nên chắc chắn ở Hoa Lư phải có di tích thờ ông. Thời gian đã làm lu mờ sự tích, dẫn đến thiền sư Vạn Hạnh được thờ dưới tên Đức thánh Nguyễn ở Hoa Lư.
Câu đối ở đền đức thánh Nguyễn:
神遊天上三靈化
福在人間四寳傳
Thần du thiên thượng tam linh hóa
Phúc tại nhân gian tứ bảo truyền.

Gac chuong thanh NguyenGác chuông ở đền đức thánh Nguyễn.

Các vị thánh được nói đến đều có phép bay trên trời như chuyện Nguyễn Minh Không đưa thuyền của quân lính từ Hoa Lư về kinh thành chầu vua trong 1 đêm. Không Lộ nghĩa là con đường trên không, là sự giác ngộ đạt đến cảnh giới, thân hình tự nhiên nhẹ nhàng, có thể bay lên không (chuyện về Dương Không Lộ). Có thể đó cũng là hình ảnh của một vị thiền sư đã “mở đường” cho sự lên ngôi của một triều đại.
Nguyễn Minh Không còn là một vị thần trong Tứ bất tử. Thần bất tử nghĩa là một nhân vật có phép, có khả năng “bất tử”, tái sinh chuyển thể. Chữ “tam linh hóa” ở câu đối không rõ chỉ những hóa thân nào của thần (có thể là Nguyễn Minh Không – Dương Không Lộ – Vạn Hạnh). Nhưng rõ ràng sự tích của Nguyễn Minh Không không phải chỉ ở một thân, trong một thời.
Tóm tắt lại, Tứ trấn là khái niệm các thần trấn phương của kinh thành. Hoa Lư tứ trấn chỉ 4 vị thần trấn 4 phương của kinh thành Hoa Lư thời Đinh Lê, bao gồm:
Trấn Bắc: Thiên Tôn Huyền Thiên Lão Tử, người đã khiển quy xà, giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa thời Chu. Quê hương của Lão Tử ở làng Đa Giá, nay gần thị trấn Thiên Tôn, Hoa Lư.
Trấn Đông: Quý Minh Đại Vương, người anh em của Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình thời nhà Hạ, là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ.
Trấn Nam: Cao Sơn Lạc tướng Vũ Lâm, là Sùng Công, cai quản vùng đất Cao – Sùng thời Thương.
Trấn Tây: Lý triều quốc sư Nguyễn Minh Không thời Đinh Lê, có thể chính là thiền sư Vạn Hạnh, công thần lập quốc của nhà Lý.

Những vị thần Cao Sơn và cổ sử Việt

Trong thần điện Việt thì Cao Sơn là một vị thần rất phổ biến, gặp ở hầu hết các khu vực trên miền Bắc nước ta. Tuy nhiên cái tên này không phải chỉ là 1 nhân vật, mà có nhiều vị thần Cao Sơn ở các thời khác nhau. Ở đây không bàn đến những vị Cao Sơn của thời kỳ sau Công nguyên mà thông qua xem xét sự tích các vị thần Cao Sơn của thời cổ sử cũng đã đủ hình dung về thời kỳ dựng nước của người Việt.
Nhiều người nghĩ rằng đã gọi là Cao Sơn thì nghĩa là tục thờ thần núi. Điều này hoàn toàn sai. Người Việt không thờ các nhiên thần, mà thờ những nhân vật lịch sử có thật, có công đức với nhân dân, tôn sùng mà thờ. Sự tích của những nhân vật này càng xa so với nay thì càng mờ ảo, càng mang tính huyền thoại. Nhưng không phải vì thế mà cốt lõi con người và lịch sử của thần tích bị biến mất.
Truyện Họ Hồng Bàng, truyền thuyết khởi nguồn của dân tộc Việt chép: Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước.
Tam quan den ThuongNghi môn đền Thượng trên núi Hùng (Phú Thọ).
Đế Minh, vị nguyên thủy tổ của người Việt được thờ với tên Đột Ngột Cao Sơn tại đền Hùng (Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ) và các vùng lân cận trên miền đất Phong Châu. Các thần tích Việt thường được bắt đầu bằng Hùng Vương Thánh Tổ Cao Sơn Minh Vương Hoàng Đế hay Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ, là người mở vận trời Nam nước ta. Vị Cao Sơn thứ nhất là vua Hùng Đế Minh, hoàn toàn chẳng phải thần núi thần non nào cả.
Đế Minh được thờ như vị vua Hùng khai thủy bởi vì là người đầu tiên lập nên nước của họ Hùng. Thiên nam ngữ lục chép về Đế Minh:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.
Trong Hoa sử Đế Mình được chép là Hoàng Đế Hiên Viên, vua của nước Hữu Hùng. Chữ Minh dịch ra tiếng Hán là Hiển nên Đế Minh – Minh Vương tam sao thất bản biến thành Hiên Viên.
Ở đền Hùng, ngoài Đột Ngột Cao Sơn còn thờ 2 vị là Ất Sơn thánh vươngViễn Sơn thánh vương. Khi đã xác định Đột Ngột Cao Sơn là thánh tổ Đế Minh thì hai vị được thờ ở đền Hùng phải là 2 vị vua kế tiếp, là Đế Nghi và Lộc Tục trong truyền thuyết.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài đã đối chiếu hiệu thờ 3 vị thần thờ ở đền Hùng với bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền của đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ) và cho biết: Viễn Sơn thánh vương có tên là Hùng Nghi Vương, còn Ất Sơn thánh vương là Hùng Huy Vương. Đây là chỉ dẫn cho thấy Viễn Sơn là Đế Nghi hay Đế Nghiêu. Còn Ất Sơn là Hy Thị hay Đế Thuấn, người đã được Đế Nghiêu cử đi “định Nam Giao”. Hy hay Huy chỉ là biến âm của Hai, cũng là Ất trong thập can.
Thần tích xã Nhạn Tái (Đông Anh, Hà Nội) mở đầu như sau: “Xét xưa kia nước Việt gây dựng cơ đồ bờ cõi, phương nam phân chia theo địa phận sao Dực sao Chẩn, non sông thống nhất một mối xa thư, các châu thuộc địa phận An Nam đều phụ thuộc cả vào đó, còn phía Bắc phân phong theo địa phận sao Ngưu sao Đẩu. Kinh đô của nước Giao Chỉ thuộc hàng Thi Lễ, Ngũ đế thay nhau cai trị trải dài rộng khắp, nói rõ trong thiên Nghiêu điển ban mệnh cho Hy Thúc đến lập nghiệp ở vùng Giao Nam có ghi rõ đất bằng hai chữ Minh Đô.”
Đất Giao Chỉ có mặt trong truyền thuyết về Hoàng Đế. Nam Giao là nơi Hy Thúc lập nghiệp. Minh đô là nơi Đế Minh định đô ở Phong Châu. Thời Ngũ đế của Trung Hoa chính là giai đoạn mở đầu của quốc gia họ Hùng tại vùng đất Việt ngày nay.
Truyền thuyết Việt chép Đế Minh lấy con gái bà Vụ Tiên. Còn Sử ký Tư Mã Thiên, Ngũ đế bản kỷ cho biết “Hoàng Đế ở gò Hiên Viên, cưới vợ là người con gái của Tây Lăng”.
Người con gái Tây Lăng là Tây Thiên Lăng Thị Tiêu, cũng là con gái bà Vụ Tiên, được người Việt tôn làm Tây Thiên quốc mẫu, làm Mẫu thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ. Bà Tây Thiên là Tam Đảo sơn trụ quốc mẫu, cầm đầu bộ tộc phía Bắc (nay) là Lang Tiên thị, đã giúp vua Hùng (Đế Minh) đánh bại bộ tộc Cửu Lê của Xuy Vưu, lập quốc gia đầu tiên của người họ Hùng.
Chữ Tiên 仙 gồm một chữ Nhân 人và chữ Sơn 山 ghép lại. Người ở trên núi là Tiên. Do vậy bộ tộc của Vua Tiên (Lang Tiên thị) còn có tên là Cao Sơn.
Ca dao xưa:
Tam Đảo núi mẹ
Tản Viên núi cha
Cùng tổ Nghĩa Lĩnh là ba trường thành.
Đế Minh, vị Cao Sơn đầu tiên (Đột Ngột Cao Sơn), đóng đô ở núi Hùng Nghĩa Lĩnh. Tam Đảo là ngọn núi Côn Lôn của bà mẹ trời Lang Tiên. Còn núi Tản là nơi ngự trị của Tản Viên Sơn Thánh. Theo thần tích về Sơn Thánh thì Tản Viên được mẹ nuôi là bà Ma Thị Cao Sơn làm di chúc để lại cho toàn bộ vùng núi Tản sông Đà. Đây có thể là hình ảnh Đại Vũ kế ngôi của Đế Thuấn theo phép truyền hiền. Vùng đất đai của Cao Sơn Đế Minh gây dựng được truyền lại cho Lộc Tục Kinh Dương Vương, cũng là Tản Viên Sơn Thánh.
Den ThuongĐền Trung trên núi Tản (Ba Vì).
Trong các thần tích về Tản Viên còn chép thánh Tản có 2 người anh em là Cao Sơn và Quý Minh. 3 người hợp lại cho cái tên Ba Vì. Quý Minh tức là bộ tộc từ dòng của Đế Minh ở hướng Nam. Còn Cao Sơn là bộ tộc của dòng Lang Tiên ở núi Tam Đảo phía Bắc. Cùng với Tản Viên Nguyễn Tuấn, là dòng tộc ở phía Tây, 3 dòng tộc đã hợp sức trong công cuộc trị thủy, xây dựng đất nước thời lập quốc.
Lộc Tục Kinh Dương Vương lấy Long nữ Động Đình hay Tản Viên Sơn Thánh đã “cùng vui ở với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh”, cứu con rắn con Long Vương là Thủy tinh. Long nữ Động Đình là bộ tộc ở phía Đông. Như vậy người Việt cổ đã đi hết một giai đoạn lập quốc đầu tiên, hội đủ 4 phương, bắt đầu một thời đại mà Hoa sử gọi là nhà Hạ.
Hạ Vũ Sơn Tinh mất, ngôi báu định truyền lại cho dòng dõi của Hoàng Đế (Cao Sơn Đế Minh) là ông Bá Ích. Nhưng con của Đại Vũ là Hạ Khải không thuận. Hạ Khải với sự giúp đỡ của các vị quan lớn bên dòng mẹ ở Động Đình (biển Đông) đã tấn công lật đổ, buộc Bá Ích và dòng dõi phương Nam của Hoàng Đế ly tán đi bốn phương (Tứ Di). Hạ Khải lên ngôi, chấm dứt thời kỳ truyền hiền. Xã hội Việt Hoa chính thức bước vào chế độ thế tập, cha truyền con nối. Hạ Khải được người Việt gọi là cha Lạc Long Quân vì là vị quân chủ của cả 2 vùng đất: đất Lạc từ thời Kinh Dương Vương và đất Long của Long nữ Động Đình.
Dòng Hoa Hạ từ Lạc Long Quân phát triển dọc theo biển, tiến lên phía Đông Bắc. Con cháu nhà Hạ thời Trung Hưng khai phá vùng cửa sông Dương Tử (Phúc Kiến Chiết Giang), lấy đó làm đất thờ Hạ Vũ. Vùng đất này sau thành nước Việt, với Việt Câu Tiễn, một trong Xuân Thu Ngũ Bá. Đây cũng là dẫn chứng cho thấy Hoa Hạ là Việt, chứ không hề đồng nghĩa với Hán. Hán tộc thời kỳ này còn chưa ra đời.
Nhà Thương thay nhà Hạ, tiếp tục tiến lên phía Bắc. Dân chúng theo Bàn Canh vượt sông Dương Tử, sau nhiều lần đã tới định đô ở Hà Nam, bắt đầu thời Ân Thương.
Dưới thời Ân vùng đất tổ Giao Chỉ (đất Lạc xưa) do các vị chúa họ Sùng cai quản. Sùng Hầu Hổ là vị hầu tước dưới thời Trụ Vương đã dèm pha làm Cơ Xương bị Trụ Vương bắt nhốt ở Dĩu Lý. Truyền thuyết Việt cũng không bỏ quên lưu lại thông tin về giai đoạn này.Kim LienĐền Kim Liên (Hà Nội).
Sùng là chữ dịch của chữ Cao. Ví dụ Cao Sơn, anh em của Tản Viên, còn có tên là Sùng Công. Vì thế còn có thần Cao Sơn ứng với thời kỳ đất Sùng của nhà Ân Thương. Thần tích ở Bình Đà (Thanh Oai) cho biết Lạc Long Quân có 4 người anh em là:
– Hùng Nghiêm tự là Pháp Phong
– Hùng Quyền tự là Pháp Vân
– Hùng Lãm tự là Pháp Lôi
– Hùng Huề tự là Pháp Điện.
Pháp Lôi Hùng Lãm là Lạc Long Quân. Truyền thuyết họ Hồng Bàng chép Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm. 4 đời chúa họ Sùng như vậy có tên Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm, được tôn là Tứ Pháp.
Vì Sùng = Cao nên đây là thần Cao Sơn trấn Nam ở kinh thành Thăng Long. Theo thần tích đền Kim Liên (Hà Nội) thì Cao Sơn đại vương có gia đình (vợ và mẹ) ở gần đó và quê gốc ở Nho Quan (Ninh Bình). Thần Cao Sơn cũng là một trong Hoa Lư tứ trấn, ở Hoa Lư được gọi là Lạc tướng Vũ Lâm. Vì đất Sùng là vùng đất Lạc xưa nên Cao Sơn được gọi là Lạc tướng.
Tóm tắt lại nhận diện 3 vị thần Cao Sơn trong cổ sử:
– Đột Ngột Cao Sơn là Đế Minh hay Hoàng Đế Hiên Viên ở vùng đất tổ Phong Châu
– Cao Sơn Ba Vì là bộ tộc của bà Lang Tiên hay Tây Thiên quốc mẫu.
– Cao Sơn Lạc tướng trong tứ trấn là chúa đất Sùng ở phía Nam của nhà Ân Thương.

Hùng Hải trị nước

Truyền thuyết Việt kể Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh trăm trứng, nở ra trăm trai. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu, lên ngôi là vua Hùng, dựng nước Văn Lang… Vậy vết tích nào của quốc tổ Lạc Long còn lưu lại ở vùng đất Phong Châu của các vua Hùng?

P1220130

Đình Đào Xá ở Thanh Thủy, Phú Thọ.

Truyền thuyết thời Hùng Vương ở Phong Châu thường kể tới một nhân vật mang tên Hùng Hải đại vương. Vị thần này được thờ ở nhiều làng tại Phú Thọ, như ở tại làng Đào Xá (Thanh Thủy). Sự tích của Hùng Hải tóm tắt như sau (theo thần tích Cấn thủy thần chi bộ của làng Đào Xá):
Lạc Long Quân xuống biển giao nước lại cho con trai cả là Hùng Quốc Vương. Miền Hưng Hóa các châu, trang, động, sách thường bị loài thủy quái dâng nước làm cho mất người mất của. Vua Hùng sai em là Hùng Hải, con tra thứ 19 của Lạc Long Quân, về Hưng Hóa chủ giữ các sông. Đức Hải Công sau gọi là “Hải Vân Long Vương Động Đình thủy tề”. Hùng Hải nhận mệnh xong liền thả hịch xuống các đầu sông ngọn nguồn, các nơi thác ghềnh hiểm dữ. Trong ba ngày nước vỡ thành khe ngòi chảy đi hết.
Mùa xuân Hùng Hải lấy Trang Hoa làm vợ. Trang Hoa rất xinh đẹp, quê ở Châu Mai, là con gái Lạc hầu. Hùng Hải thường đi tuần thú xem xét các sông từ sông Đà, sông Thao tới sông Lô, sông Hát, thấy chỗ nào khuyết lở thì truyền sức cho nhân dân bồi đắp.
Một hôm Hùng Hải cùng vợ từ đầm Thọ Xuyên sang Đào Xá, dựng lầu nghỉ ở đây một đêm. Sau đó bà Trang Hoa có thai, sinh ra ba bọc trứng, nở ra 3 con rồng, rồi hóa thành 3 người con trai, đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Bà Trang Hoa hóa ở cửa sông Nhị sau đó.
Hùng Hải dạy dân trị thuỷ làm ăn và nuôi dạy các con khôn lớn. Rồi ông giao miền đất này cho 3 con cai quản, còn mình về trông nom cửa sông Nhị tỉnh Hải Dương. Vua Hùng thấy ông là người có công lớn đã ban thưởng cho 2 thớt voi chiến làm phương tiện đi lại…
Ba vị Long hầu, con trai của Hùng Hải được trị nhậm ở vùng sông Đà, sông Thao, chia nhau ở các khu Thọ Xuyên, Ngọc Tháp và Đào Xá.
Làng Đào Xá lập đức Hải Công làm thành hoàng thờ tại đình làng. Trong làng còn có đền Tam công thờ ba con trai của Hải Công. Đến ngày hội có tục rước voi hướng về phía Đông, hướng Hùng Hải đi ra Hải Dương trị nhậm và tục bơi chải trên 2 chiếc thuyền rồng lớn trong vùng đầm Đào Xá.
Câu đối ở đình Đào Xá
興化千秋秀氣凝髙配天厚配地
平原一境財源湊浩如泉暴如邱
Hưng Hóa thiên thu, tú khí ngưng cao, phối thiên hậu phối địa
Bình nguyên nhất cảnh, tài nguyên thấu hạo, như tuyền bộc như khâu.
Dịch:
Hưng Hóa ngàn thu, khí đẹp tụ cao, hợp trời cùng hợp đất
Bình nguyên một cảnh, nguồn tài hội sáng, như suối mạnh như đồi.

P1220016 (2)Đầu kèo chạm rồng ở Đào Xá.

Nay so sánh chuyện Hùng Hải trị nước ở vùng Tam Giang Phong Châu thì thấy rõ đây cũng là chuyện của vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bát Hải Động Đình là vị vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Trước hết Hùng Hải được gọi là Động Đình thủy tề, tức là trùng khớp với tên Bát Hải Động Đình. Tên “Hải” còn gặp ở di tích An Cố tại Thái Thụy, Thái Bình, nơi thờ Phạm Hải hay Hải Công. Đức Hải Công ở vùng Phú Thọ như vậy là Bát Hải hay Phạm Hải ở Thái Bình.
Hùng Hải lấy vợ là Trang Hoa, đóng trụ sở ở Đào Xá. Còn vua cha Bát Hải Động Đình thì xây dựng Hoa Đào Trang ở vùng cửa Động (Thái Bình). Tên bà Trang Hoa và tên làng Đào Xá đã chỉ rõ Hùng Hải cũng là vị vua của Hoa Đào Trang ở Thái Bình. Ngọc phả đền Hùng ở Phú Thọ còn nhắc tới một trong 18 đời Hùng Vương là Hùng Hoa với tên Hải Lang Vương. Hùng Hoa – Hải Lang đều chỉ một người, là Hải Công ở Đào Xá và Bát Hải Động Đình ở Hoa Đào Trang.
Hùng Hải không phải ai khác chính là Lạc Long Quân, vị vua cha của Thủy phủ, được kể đến trong truyền thuyết khởi nguồn của người Việt. Đó cũng là lý do tại sao Hùng Hải lại được thờ rất tôn kính ở nhiều nơi tại vùng Phong Châu. “Hùng Hải trị nước” còn có nghĩa là cai trị quốc gia (đất nước). Chữ Nước biến âm thành Nác – Lạc. Hùng Hải là một vị Lạc Vương, làm chủ đất nước thời Hùng.
Bà Trang Hoa hay Hoa Đào Trang ở Thái Bình thực ra ám chỉ Hùng Hải – Lạc Long là vua chủ của triều đại mang tên… Hoa, hay Hạ. Lạc Long Quân là Hạ Khải, người khởi đầu nhà Hạ trong Hoa sử.

Bat Hai

Vị trí các di tích của Hùng Hải – Lạc Long và Ngũ vị tôn ông.

Hùng Hải được cử đi trị nhậm ở cửa sông Nhị Hà tỉnh Hải Dương. Thực ra Hải Dương chỉ có nghĩa là vùng đất phía Đông (Dương là hướng mặt trời mọc) giáp biển. Cửa sông Nhị Hà đổ ra biển chính là sông Thái Bình. Ở đó gọi sông Nhị là sông Đào, như trong câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình:
桃江洞口祁千跡
生化神仙萬古傳
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Dịch:
Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
Động Đình trong chuyện này có nghĩa là biển Đông, chứ không phải vùng đầm Hưng Hóa ở Phong Châu. Cửa Động là vùng cửa sông Hồng (sông Đào hay sông Nhị đổ ra biển).

P1220058 (2)

Cửa cung đền Tam Công ở Đào Xá.

Luôn gắn liền với vua cha Bát Hải Động Đình là sự tích 3 anh em cùng bọc trứng, như trong chuyện Vĩnh Công (vua cha Bát Hải) ở Thái Bình, trở thành các vị tôn quan trong Tứ phủ. Như đã từng biết, vị quan lớn đệ tam ở đền Lảnh là Trung thành phổ tế đại vương vùng Phú Xuyên – Hà Nam, cũng là thần Thổ Lệnh ở sông Bạch Hạc. Vị quan lớn đệ ngũ ở sông Tranh là thần Thạch Khanh trong chuyện Bạch Hạc Tam Giang.
Như vậy, nếu Hùng Hải là vua cha Bát Hải thì ba vị Long hầu ở Đào Xá phải là các vị tôn quan của Tứ phủ. Hai vị trong số đó là các thần Thổ Lệnh, Thạch Khanh đã hiển ứng ở ngã ba Bạch Hạc. Mọi sự tích và tên gọi đều trùng khớp giữa 2 khu vực ở Phong Châu và ở cửa sông Hồng đổ ra biển.

P1220180Đền Giếng Giá ở Do Nghĩa, Sơn Vi, Phú Thọ thờ Đại Hải Long Vương.

Tục thờ 3 vị thủy thần đại vương còn gặp ở một số nơi tại Phú Thọ, như ở làng Chu Khống (xã Chu Hóa, Việt Trì) tại chân núi Hùng. Xã này nay có đền thờ Lạc Long Quân mới được xây dựng. Ở Chu Hóa 3 vị thành hoàng được phong là Đông Hải đại vương, đã sinh ra từ trứng, nở thành 3 con rắn, sau hóa thành tướng giúp vua Hùng đánh Thục. Hay ở làng Do Nghĩa (Sơn Vi, Phú Thọ) thờ Đại Hải Long Vương, có công đánh Thục giúp vua Hùng. Những chuyện này hoàn toàn tương tự như chuyện về anh em Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở miền Đồng Bằng phá Thục.
Cuộc chiến Hùng – Thục xảy ra giữa Lạc Long Quân (Hùng Hải) với quân Thục là hình ảnh của cuộc chiến giữa Hạ Khải và Bá Ích, tranh dành vương vị sau khi Hạ Vũ mất trong Hoa sử. Hạ Khải – Lạc Long với sự trợ giúp của các vị tôn quan trong dòng tộc bên mẹ ở Động Đình (bà Trang Hoa) đã chiến thắng, lên ngôi cai quản cả 2 vùng đất Lạc (vùng trung du Phong Châu) và đất Long (vùng đồng bằng sông Hồng ven biển). Hùng Hoa Hải Lang là vị vua khởi đầu sử Việt, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối, thần truyền thánh kế nên được tôn làm quốc tổ muôn đời của người Việt. Dấu vết của cha Rồng còn in đậm trong ký ức dân gian, trải dài từ miền đất tổ Phong Châu tới bờ biển Động Đình bao la…