Sử thuyết Hùng Việt, 10 năm ra đời

Trang chủ Hùng Việt sử quán xin trân trọng giới thiệu ấn phẩm Sử thuyết Hùng Việt nhân 10 năm ra đời của công trình nghiên cứu có tầm ảnh hưởng to lớn đến văn hóa lịch sử phương Đông này.

LỜI NÓI ĐẦU (Trích)
Các bạn thân!
Sử thuyết Hùng Việt không phải là cuốn sử ký mà là tập hợp những bài nghiên cứu về nước Hùng Việt. Người viết đã sắp xếp thứ tự bài viết bám sát tiến trình lịch sử hầu tạo nên cái nhìn mới, dù chỉ là những nét sơ phác về một đất nước đã bị xóa tên trong ký ức nhân loại. Vì thế Sử thuyết Hùng Việt chỉ đề cập đến những sự kiện cần làm sáng tỏ, cần sửa đổi để trả lại sự chân xác cho lịch sử, không dám coi là viết lại cuốn sử mới cho dân tộc văn minh và quốc gia lâu đời bậc nhất trên hành tinh này.
Sự nhìn nhận của Sử thuyết Hùng Việt về Trung Hoa rất rõ ràng. Trên mảnh đất gọi là Trung Quốc ngày nay có 2 thành phần dân cư chính là Hoa và Hán. Hai thành phần này khác nhau hoàn toàn từ nhân chủng đến văn hóa và lịch sử. Mãi đến thời Nguyên vua Mông Cổ vẫn chia dân Trung Hoa thành người Hán và người Nam. Thực ra từ Hán chỉ là biến âm của “Hãn”, có nghĩa là vua theo ngôn ngữ của người Mongoloid. Người Hán là người gọi vua là Hãn thuộc chủng Mongoloid. Người Nam thuộc dòng Mongoloid phương Nam, gọi vua là Lang, ký âm hán tự sai thành Nam.
Người Nam chính là phần lớn người Bách Việt xưa, còn gọi là người Hoa, cùng với người Việt là chủ nhân đích thực của nền văn hóa văn minh Trung Hoa cổ xưa. Hán tộc chỉ là kẻ xâm lăng và chiếm đoạt.
Mục đích của Sử thuyết Hùng Việt là làm sáng tỏ nguồn gốc lịch sử và nền văn minh Bách Việt trong đó tiền nhân người Việt Nam xưa thuộc chi Lạc Việt có vai trò suối nguồn.
Ngày nay hầu như mọi người đều tưởng dân tộc và văn minh Trung Hoa xuất phát từ bờ Hoàng Hà. Như thế đương nhiên công nhận chủ thể lịch sử và văn minh Trung Hoa là Hán tộc. Sử thuyết Hùng Việt đưa ra quan điểm ngược lại. Người Hoa và người Việt, gọi chung là người họ Hùng, mới là chủ thể đích thực của lịch sử và văn minh Trung Hoa. Nơi xuất phát của dân tộc và nền văn minh ấy là miền Bắc – Trung Việt ngày nay, vùng đất có núi Đọ, sông Cả, sông Chu và sông Mã. Từ căn cứ xuất phát này dần dà qua từng triều đại người họ Hùng mở rộng lãnh thổ. Hướng Bắc (ngày nay) là hướng tiến chính, tới đời Ân lãnh thổ đã vượt bờ Hoàng Hà ở Bắc tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay, nơi có kinh đô đã được khảo cổ học khám phá. Đời Tần mở rộng tới Vạn lý trường thành… 

Bản in lần thứ nhất cuốn SỬ THUYẾT HÙNG VIỆT tháng 1/2017. Tổng số 568 trang.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

Bia-truoc

 

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Phần I. TRƯỚC KHI VÀO SỬ THUYẾT
—-Đông Nam Á và cổ sử
—-Cổ sử Trung Hoa và những dấu hỏi
—-Đôi điều về Hán sử
—-Lộn ngược
—-Cây cầu Hoa Hán
—-Vài hàng về dòng giống Hùng
—-Sự biến âm trong tiếng Việt, tiếng Hoa
—-Việt và China

Phần II. DỊCH HỌC VÀ LỊCH SỬ HÙNG VIỆT
—-Dịch học và đồ đồng Đông Sơn
—-Trống đồng và quê hương Dịch lý
—-Dịch học và thời lập quốc họ Hùng
—-Ngũ hành và lịch sử Hữu Hùng quốc
—-Bát quái và địa lý Việt
—-Hà thư và văn minh Việt
—-Kim chỉ Nam và ngũ sắc địa lý

Phần III. THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG
Thời thần thoại
—-Thời Bản Cả – Tựu Nhân
—-Thời Vũ Võng – Đế họ Sào

Thời dã sử
—-Đời Hùng Vương thứ 1
—-Đời Hùng Vương thứ 2
—-Đời Hùng Vương thứ 3
—-Đời Hùng Vương thứ 4
—-Đời Hùng Vương thứ 5

Thời sơ sử
—-Đời Hùng Vương thứ 6
—-Đời Hùng Vương thứ 7
—-Đời Hùng Vương thứ 8

Thời lịch sử Hùng Vương
—-Đời Hùng Vương thứ 9
—-Đời Hùng Vương thứ 10
—-Đời Hùng Vương thứ 11
—-Đời Hùng Vương thứ 12
—-Đời Hùng Vương thứ 13
—-Đời Hùng Vương thứ 14
—-Đời Hùng Vương thứ 15
—-Các cuộc khởi nghĩa chống lang Sói
—-Đời Hùng Vương thứ 16
—-Đời Hùng Vương thứ 17
—-Đời Hùng Vương thứ 18

Phần IV. HỌ HÙNG VONG QUỐC VÀ PHỤC HƯNG
Vong quốc họ Hùng
—-Thời nô lệ Hãn quốc (25 – 220)
—-Kẻ sĩ nhiếp chính
—-Cuộc khởi nghĩa của hai nữ vương
—-Lưỡng triều kháng Ngụy
—-Thời nô lệ nước Tấn
—-Tây – Nam sử

Họ Hùng phục hưng
—-Nhà Đinh
—-Nhà Tiền Lê
—-Triều Lý 1 – Lý Công Uẩn
—-Họ Hùng – Tam Quốc
—-Đại Việt khai quốc
—-Nam Chiếu 1 – Mai Hắc Đế
—-Nam Chiếu 2 – Bố Cái Đại Vương

Phần V. THÊM VÀO SỬ THUYẾT
—-Vài hàng về sử Việt
—-Miên man sử Việt
—-Sử thuyết Hùng Việt, những điều mới biết
—-Sử thuyết Hùng Việt nhìn lại
—-Xứ Nam – Hà
—-Nước có thủ đô là Lâm Ấp
—-Hướng nhìn mới về cuộc Nam tiến
—-Cái nhìn mới về nước Phù Nam
—-Chuyện khởi nghĩa núi Cham
—-Lý thú… tên vua

PHỤ CHƯƠNG
—-Huyền sử và truyện cổ tích Việt
—-Hùng triều ngọc phả
—-Tóm tắt một số truyện cổ tích Việt
—-Thơ sử
—-Những dòng sông lịch sử
—-Phân kỳ lịch sử Hùng Việt
—-Chú dẫn địa danh
—-Sách tham khảo

Bước ra từ huyền thoại. Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian

Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới.
Văn nhân Nguyễn Quang Nhật.

Tác giả Minh Xuân có một cuốn sách, giải mã các vấn đề lịch sử thông qua các truyền thuyết, huyền thoại dân gian. Căn cứ vào kết quả điền dã, khảo cứu các thần phả của các đền miếu cổ, Minh Xuân đã lý giải lại toàn bộ quá trình cổ sử của Việt Nam. Tôi tạm coi đó là những giả thuyết, mà khi đọc các giả thuyết này, tôi tin rằng đại đa số bạn đọc sẽ như bị ong đốt, nếu như bấy lâu nay chúng ta được dạy sử một cách một chiều, tiếp nhận văn bản kiểu tuyên truyền…
Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng.

cover_l

Bách Việt trùng cửu

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi những sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các danh nhân địa phương…
Lượm lặt, sắp xếp những thông tin từ văn thơ cổ, những truyền thuyết từ nơi đền miếu, chốn dân dã, tập sách nhỏ này có tham vọng lớn đi tìm sự thật cho giai đoạn lịch sử nước Nam từ thời khai thiên lập địa tới khi nước Đại Việt xứng tên độc lập. 18 bài viết về huyền thoại lịch sử, đúng hơn là về những con người đã làm nên huyền thoại, muốn góp phần nào chút ánh sáng soi tìm lịch sử chân xác của dân tộc đã chìm đắm sau hàng ngàn năm tăm tối. Người viết không sợ nêu lên những nhận định, suy đoán, mà muốn đưa những vấn đề lịch sử khúc mắc ra bàn dân thiên hạ cùng suy ngẫm. Mỗi cánh cửa hé mở thì sự thật lại càng gần hơn, tỏ hơn. Như vậy cũng là tâm nguyện của người viết đã thành.

Bạn đọc có quan tâm xin liên hệ mua sách theo địa chỉ bachviet18@yahoo.com.
Phiên bản lần thứ 10 dày 480 trang. Mục lục chi tiết xin xem ở đây. Bản số hóa có tại sách điện tử Alezaa.

Tóm tắt 18 bài viết trong cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI:
1. Ông trời Bà trời
Ông Trời là Hoàng Đế Hiên Viên, cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt. Bà Trời hay Mẫu Thượng thiên là Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, cầm đầu bộ tộc Cao Sơn ở núi Côn Lôn – Tam Đảo.
2. Đế quốc Lạc Hồng
Lạc Hồng là hai vùng đất Đào – Đường thời Đế Nghiêu – Đế Nghi. Đế Nghi làm vua phương Bắc (Hồng), Lộc Tục làm vua phương Nam (Lạc), là thời kỳ Nam Giao mở nước của người Việt.
3. Tản Viên Sơn Thánh
Vị thần đứng đầu trong các thần linh Việt là Sơn Tinh – Đại Vũ, người đã phát huy ứng dụng Hà Lạc trong công cuộc trị thủy và tập hợp các bộ tộc ở bốn phương, dựng nên nước Việt thời sơ sử.
4. Rồng bay biển Bát
Cha rồng Lạc Long Quân xuất thế nơi biển Động Đình – biển Đông là vua cha của Thoải phủ, là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ của 4.000 năm trước. Chử Đồng Tử, vị thần bất tử thứ hai của người Việt là Tông Bố Hậu Nghệ, người đã làm gián đoạn nhà Hạ thời Hạ Thái Khang.
5. Non sông Bách Việt
Mẹ Âu Cơ dựng nước Văn Lang ở đất Phong là Văn Vương Cơ Xương. Người sinh Bách Việt là Chu Vũ Vương sau khi diệt Ân Trụ Vương với sự phò tá của thần Phù Đổng. Những cổ vật đồ đồng thời Thương Chu hiện hữu ở vùng Đông Dương minh chứng cho những sự kiện này.
6. Thần minh Văn Lang
Những vị công thần lập quốc của nhà Chu như Chu Công, Tất Công được truyền thuyết Việt lưu truyền, nhân dân tôn thờ dưới tên Cao Lỗ, Phan Tây Nhạc.
7. Lão Tử hóa Việt kinh
Vị giáo chủ Đạo Giáo Lão Tử không ai khác là Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần đã sai khiến Rùa Vàng giúp vua Chu An Dương Vương dời đô từ Tây sang Đông, xây thành ở Cổ Loa.
8. Nhân duyên Tần Việt
Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là mối lương duyên Chu – Tần, sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng, thống nhất Trung Hoa thời cổ đại.
9. Thiên Nam đế thủy
Người khởi đầu nước Nam Việt là Triệu Vũ Đế, cũng là Cao Tổ Lưu Bang và là Long Hưng Lý Bôn, xuất Thái Bình, khởi nghĩa ở Long Biên mà nên nghiệp đế vương.
10. Nam quốc sơn hà
Nước Nam Việt của nhà Triệu là chuyện Triệu Quang Phục trong truyền thuyết. 4 đời vua Triệu gắn liền với tên họ của Lữ Gia, hay Lữ tộc từ Lữ Hậu.
11. Lời thề sông Hát
Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương hay Trương Hống Trương Hát nối tiếp ý chí Phục Man của Lữ Gia, lấy sông Hát làm nơi dựng cờ đền nợ nước Nam Việt, trả thù nhà cho Triệu Việt Vương.
12. Những anh hùng thời loạn
Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đánh đuổi Lục Lâm Hán quân xâm lược. Huynh đệ Sĩ Vương 40 năm tự quản Giao Châu, chống giặc giữ là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang. Sĩ Nhiếp thứ hai là Đô Hồ Phạm Tu, cũng là thần Long Đỗ, thành hoàng Thăng Long.
13. Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Ngọn cờ của khởi nghĩa Khăn Vàng trên đất Tượng Lâm của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh đã chặn đứng bước tiến của Hán quân Mã Viện xuống phương Nam, làm tiền đề cho Lý Bí dựng nên nước Tây Đồ Di – Tây Thục.
14. Sáu trăm năm Lâm Ấp
Thục Ngô mất nhưng Lâm Ấp của Mạnh Hoạch vẫn còn. 600 năm độc lập của con cháu Triệu Vũ Đế tính đến khi Lý Phật Tử về với nhà Tùy. Tấm bia cổ phát hiện ở Bắc Ninh xác nhận chùa Dâu là chùa Thiền Chúng, nơi Tùy Văn Đế xây tháp xá lợi ngay trên kinh đô của Lý Phật Tử.
15. Bố Cái đại vương
Lâm Ấp – Nam Chiếu lại phục hưng từ Bố Cái đại vương họ Phùng, là Khun Borom, tổ của người Thái ở Tây Bắc, Lào, Thái Lan và Vân Nam.
16. Giang Tây sứ quân
Cao Vương Biền người Bột Hải – biển Đông đã dẹp được quân Lâm Ấp khỏi miền Đông Giao Chỉ, trở thành Tiết độ sứ Giang Tây – Tĩnh Hải đầu tiên. Những viên gạch Giang Tây xây La Thành là gạch của Tĩnh Hải quân.
17. Đại Việt Đại Hưng
Tam vị chủ họ Khúc kiến lập nước Đại Việt đầu tiên, từ Long Thành chiếm Nghiễm Châu, đóng đô ở Hưng Vương phủ, thống nhất 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo là vật chứng rõ ràng của thời đại này.
18. Truyền thuyết Đinh Lê
12 sứ quân là các tiết độ sứ thời Mạt Đường, là Thập quốc thời Ngũ quý. Họ Lý ẩn họ Lê, âm thầm phục quốc trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, tới Lý Thánh Tông dời đô về Thăng Long và xưng Đại Việt ngàn năm độc lập.

Trung Hoa Dân Quốc – Đài Loan và góc nhìn về lịch sử Trung Quốc

Cái tên “Trung Quốc” thời hiện đại hoàn toàn không phải bắt đầu từ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với thủ đô Bắc Kinh ngày nay, mà là từ nước Trung Hoa Dân Quốc do Tôn Trung Sơn lập nên sau cách mạng Tân Hợi năm 1911. Nước Trung Quốc này cũng là nước tham gia thành lập và có chân trong Liên Hợp quốc đầu tiên, chứ không phải Trung Cộng. Trung Hoa Dân Quốc lúc đó cầm đầu là Tưởng Giới Thạch, người kế nhiệm lãnh đạo Quốc Dân Đảng sau Tôn Trung Sơn. Tưởng Giới Thạch sau thất bại ở Đại lục đã tiếp tục duy trì Trung Hoa Dân Quốc trên hòn đảo Bành Hồ – Đài Loan. Đài Loan ngày nay mới chính là Trung Quốc, theo tên gọi đặt ra từ thời Tôn Trung Sơn và bản thân Đài Loan vẫn gọi mình là Trung Hoa Dân Quốc.
So sánh lịch sử giữa Đài Loan và Việt Nam ta thấy sự giống nhau đến kỳ lạ. Thổ dân Đài Loan là những bộ tộc nói tiếng Nam Đảo, không phải người Hán. “Thổ dân” ở Việt Nam cũng vậy, chắc chắn không phải là người Hán rồi. Cư dân chính của Đài Loan ngày nay là người Hoa di cư từ vùng Quảng Đông, Phúc Kiến và Chiết Giang tới từ thời Minh – Thanh. Những vị khởi lập và lãnh đạo Đài Loan như Trịnh Thành Công là người xuất xứ từ Phúc Kiến, Lưu Vĩnh Phúc là người Quảng Đông (vị này cũng từng sang làm vương làm tướng ở Việt Nam với đội quân Cờ đen ở vùng Bắc Việt). Tưởng Giới Thạch là người Chiết Giang. Còn ở Việt Nam các vua Lý, Trần, Hồ, rồi Quang Trung (Hồ Thơm) cũng là những người có xuất xứ từ vùng đất Mân (Phúc Kiến, Chiết Giang). Như thế Đài Loan hay Việt Nam đều có thành phần dân tộc tương tự nhau và phi Hán, hay cùng là dân Bách Việt cả.

p1310750Tượng gỗ của bộ tộc Thao tại Đài Trung.

Tôn Trung Sơn khi lập nên Hưng Trung Hội (tiền thân của Quốc Dân Đảng) đã nêu cương lĩnh: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa”. Rõ ràng Tôn Trung Sơn, và cả nước Trung Hoa Dân Quốc do ông ta lập nên, coi triều đại Mãn Thanh là ngoại tộc người Thát giống như quân Mông Cổ, chứ không phải người Hoa chính gốc. Triều đại Mãn Thanh là thời kỳ Trung Hoa bị giặc Thát ngoại xâm thống trị.
Tương tự ở Việt Nam, việc nhà Trần không ít lần gọi mình là Trung Hoa trong các văn bản văn bia để lại và nêu cao “cương lĩnh” Sát Thát. Điều này là dễ hiểu vì thực sự nước Đại Việt lúc đó mới là Trung Hoa chính truyền, chứ không phải nhà Nguyên của người Mông Cổ.
Khi quân Mông Cổ tấn công nhà Nam Tống, một bộ phận quan quân nhà Tống đã sang Việt Nam cùng với nhà Trần làm nên cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông trên đất Đại Việt. Hoàng hậu Nam Tống trôi dạt vào bờ biển Nghệ An Việt Nam rồi được lập thờ thành tôn thần Đại Càn Nam Hải quốc gia Tứ vị hồng nương…
Tưởng Giới Thạch trước khi rút về Đài Loan đã cho di dời các báu vật của Trung Hoa về hòn đảo này. Tới nay Bảo tàng cung điện ở Đài Bắc lại là bảo tàng có nhiều hiện vật cổ đại của Trung Hoa nhất từ thời Hạ, Thương, Chu. Còn Bảo tàng lịch sử quốc gia Đài Loan thì lại toàn đồ vật đem từ bảo tàng Hà Nam về. Các chuyên gia văn vật Đài Loan rất sành đồ cổ Trung Hoa, mặc dù bản thân ở Đài Loan chẳng khai quật được thứ gì đáng gọi là cổ để trưng bày cả.

img_0341Chiếc đỉnh thời Thương ở Bảo tàng cung điện quốc gia Đài Loan.

Việc di dời các văn vật Trung Hoa một cách có hệ thống về Đài Loan của Tưởng Giới Thạch là theo đúng truyền thống Trung Hoa. Văn vật như Đỉnh đồng là tương trưng cho quyền lực của vua trước toàn thiên hạ. Ai giữ đỉnh người đó là vua. Ai có ngọc tỉ người đó là vua. Đỉnh nằm ở đâu thì đó chính là Trung Nguyên của thiên hạ, là nơi có thiên tử.
Nhà Nguyễn ở Việt Nam cũng theo truyền thống đó mà từng đúc Cửu đỉnh, nay còn đặt trước Thế miếu tại Thành nội cố đô Huế. Việc đúc Cửu đỉnh của vua Minh Mạng là sự khẳng định nước Đại Nam mới là Trung Hoa chính truyền, vua Đại Việt mới là thiên tử thực sự của Trung Hoa.
Lịch sử Việt Nam có thể đã có một cuộc di chuyển văn vật như thời Tưởng Giới Thạch, là khi Lưu Sưởng, vị vua cuối cùng của nước Đại Hưng (nước Nam Hán theo sử sách ngày nay), trước lúc bị quân Tống tấn công đã chuyển tiền tài về vùng Tĩnh Hải – Đinh Bộ ở Bắc Việt. Đây là tiền đề cho Lý Công Uẩn – Đinh Bộ Lĩnh gây dựng nước Đại Việt trong thời gian tiếp theo.
Tưởng Giới Thạch khi ra Đài Loan vẫn không quên quê cha đất tổ ở Trung Hoa đại lục. Ông ta và đến đời con ông ta vẫn có chính sách Quốc Quang, nhằm phản công chiếm lại Đại lục. Việc này cũng tương tự thời Lý ở Việt Nam, khi phần đất phía Đông (phần Thanh Hải quân) của nước Đại Hưng bị mất vào tay nhà Tống thì hết Nùng Trí Cao rồi Lý Thường Kiệt đã có những hành động tiến chiếm, đòi lại đất đai cũ của nước Đại Hưng. Rồi đến cả Quang Trung khi lên ngôi hoàng đế cũng đã bắt tay thực hiện việc đòi lại Lưỡng Quảng. Các hoàng đế Việt Nam luôn coi mình là Trung Hoa chính truyền và mang trong tâm trí việc khôi phục lại đất đai tổ tiên đã mất ở phương Bắc.
Đài Loan ngày nay vẫn dùng chữ Hoa phồn thể, tức là chữ Nho của thời xưa mà các triều đại Đại Việt dùng làm quốc văn, trong thi cử. Chẳng có ai thắc mắc là thứ chữ ấy không phải là chữ “Đài” cả. Trung Hoa Dân Quốc dùng Trung văn thì hoàn toàn hợp lý và đúng đắn.

van-vo-mieuVăn Võ miếu ở Đài Trung.

Đài Loan ngày nay lập các văn võ miếu thờ tiên thánh Quan Công, Khổng Tử,… cho dù các vị này chưa ra đảo Đài Loan bao giờ. Triều Nguyễn ở Việt Nam như thế có thờ Tam Hoàng Ngũ Đế hay Tam Đại Trung Hoa là hành động tôn thờ tổ tiên Trung Hoa của mình chứ chẳng phải ăn theo học đòi gì ở ai cả.
Người Đài Loan hoàn toàn không đặt ra vấn đề “Thoát Trung” vì họ chính là Trung – Trung Hoa Dân Quốc rồi còn thoát gì nữa. Trái lại họ biết tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa Trung Hoa truyền thống trong thời đại mới, từ tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật, nghề thủ công, văn vật,… Còn người Việt, bị thời gian phủ bụi, lịch sử khuất lấp, nay mới đề ra ý tưởng “Thoát Trung”. “Thoát Trung” là Trung nào? Trung Cộng hay Trung Hoa?
Cách nhìn lịch sử của Đài Loan ngày nay về Trung Quốc cũng giống như cái nhìn của các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn trên đất Việt đối với Trung Hoa. Lịch sử Trung Hoa cổ đại là lịch sử Việt. Người Hoa vốn là người Việt. Điều đó sẽ rất dễ hiểu nếu so sánh bối cảnh quốc gia, văn hóa và dân tộc của VIệt Nam với Đài Loan ngày nay. Tấm gương về cách phát triển, “hóa rồng”, thoát khỏi cái bóng “Trung Quốc” đè nặng lên văn hóa và suy nghĩ cho Việt Nam gần nhất, sát thực nhất không phải là Hàn Quốc hay Nhật Bản, mà là Trung Hoa Dân Quốc – Đài Loan.

Thiên Y Thánh Mẫu, hành trình của một nữ thần Chăm – Việt – Hoa

Thiên Y A Na là vị nữ thần được tôn sùng ở vùng Nam Trung Bộ bởi cả người Việt và người Chăm. Sự tích về vị nữ thần này được chép trong văn bia tại Tháp Poh Nagar, Nha Trang, do Lễ bộ Thượng thư Phan Thanh Giản soạn năm Tự Đức thứ 9 (1857), tóm tắt như sau:
Xưa kia tại núi Đại An (tức Đại Điền hiện nay) có hai vợ chông ông Tiều đến cất nhà và vỡ rẫy trồng dưa nơi triền núi. Dưa chín, thường hay bị mất. Một hôm, ông rình bắt gặp một thiếu nữ trạc mười chín tuổi hái dưa, dồi giỡn dưới trăng. Thấy cô gái dễ thương, ông đem về nuôi, hai ông bà vốn không con cái, nên đối với thiếu nữ thương yêu như con ruột.
Một hôm, trời mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, thiếu nữ lấy đá chất thành ba hòn giả sơn và hái hoa lá cắm vào, rồi ngắm làm vui. Cho rằng hành vi của con không hợp với khuê tắc, ông Tiều nặng tiếng rầy la. Không ngờ đó là một tiên nữ giáng trần đang nhớ cảnh Bồng lai. Đã buồn thêm bực! Nhân thấy khúc kỳ nam theo nguồn trôi đến, tiên nữ bèn biến thân vào khúc kỳ nam, để mặc cho sóng đưa đẩy. Khúc kỳ trôi ra biển cả, rồi tấp vào đất Trung Hoa. Mùi hương bay thơm ngào ngạt. Nhân dân địa phương lấy làm lạ, rủ đến xem. Thấy gỗ tốt xúm nhau khiên, nhưng người đông bao nhiêu cũng không giở nổi.
Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn, tìm đến xem hư thực. Thấy khúc gỗ không lớn lắm, lẽ gì nặng đến nổi không giở lên, Thái tử lấy tay nhắc thử. Chàng hết sức lạ lùng, vì thấy khúc gỗ nhẹ như tờ giấy! Bèn đem về cung, trân trọng như một bảo vật.
Một đêm, dưới bóng trăng mờ, Thái tử thấy có bóng người con gái thấp thoáng nơi để khúc kỳ nam. Nhưng lại gần xem thì tư bề vắng vẻ, bên mình chỉ phảng phất một mùi hương nhè nhẹ từ khúc kỳ nam bay ra. Chàng quyết rình xem, suốt mấy đêm liền, không hề thấy gì khác lạ. Chàng không nản chí. Rồi một hôm đêm vừa quá nửa, bốn bề im phăng phắc, một giai nhân tuyệt sắc theo ngọn gió hương ngào ngạt, từ trong khúc kỳ nam bước ra. Thái tử vụt chạy đến ôm choàng. Không biến kịp, giai nhân đành theo Thái tử về cung và cho biết rõ lai lịch. Giai nhân ấy chính là bà Thiên Y A Na.
Thái tử vốn đã trưởng thành, nhưng chưa có lứa đôi vì chưa chọn được người xứng ý. Nay thấy A Na xinh đẹp khác thường, bèn tâu cùng phụ hoàng xin cưới làm vợ. Nhà vua sai quan bói cát hung. Bói trúng quê “đại cát”, liền cử lễ thành hôn.
Vợ chồng Thái tử ăn ở với nhau rất tương đắc và sanh được hai con, một trai, một gái, trai tên là Trí, gái tên Quý, dung mạo khôi ngô. Thời gian qua, sống trong êm ấm. Nhưng một hôm, lòng quê thúc giục, Bà Thiên Y bồng hai con nhập vào khúc kỳ nam, trở về làng cũ.
Núi Đại An còn đó nhưng vợ chồng ông Tiều đã qua đời. Bà Thiên Y bèn đắp mồ mã cha mẹ nuôi và sửa sang nhà cửa để phụng tự. Thấy dân địa phương còn lạc hậu, Bà đem văn minh Trung Hoa ra giáo hoá: dạy dân cày cấy,  kéo vải, dệt sợi… và đặt ra lễ nghi… Từ ấy ruộng nương mở rộng, đời sống của nhân dân mỗi ngày thêm phú túc, phong lưu. Công khai hoá của Bà chẳng những ở trong địa phương, mà các vùng lân cận cũng được nhờ.
Rồi một năm sau, vào ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, một con chim hạc từ trên mây bay xuống, Bà cùng hai con lên lưng hạc bay về Tiên.
Nhân dân địa phương nhớ ơn đức, xây Tháp tạc tượng Bà phụng thờ. Và mỗi năm vào ngày Bà thăng thiên, tổ chức lễ tưởng niệm múa bóng, dâng hoa rất tôn nghiêm, long trọng.
Ở Bắc Hải, Thái tử trông đợi lâu ngày, không thấy vợ, con trở về, bèn đem một đạo binh dong thuyền sang Đại An tìm kiếm. Khi thuyền Thái tử đến nơi thì Bà đã cởi hạc quy Tiên. Bộ hạ của Thái tử đã tra khảo người dân rất dữ, vì ngỡ họ cố tình che giấu mẹ con Bà. Bị oan ức và đau đớn, nhân dân đã thắp hương khấn vái Bà. Liền đó, một trận cuồng phong nổi dậy, cát chạy đá bay, đất bằng dậy sóng… đánh đắm đoàn thuyền của Thái tử Bắc Hải.

p1160727Các cột lớn tại Tháp Bà, Nhà Trang.

Truyền thuyết về Thánh mẫu Thiên Y A Na do người Chăm kể lại cũng tương tự y như trên. Núi Đại An nơi bà giáng thế nằm ở huyện Diên Khánh của Khánh Hòa. Còn nơi thờ chính của bà là ở Tháp Bà, Nha Trang. Câu đối tại điện thờ Thiên Y A Na ở Tháp Bà tóm tắt sự tích về vị mẫu thần này:
琦筏駕長濤英靈莫測
瓜山彰異跡變化無邉
Kỳ phiệt giá trường đào, anh linh mạc trắc
Qua sơn chương dị tích biến hóa vô biên.
Dịch:
Kỳ nam vượt sóng dài, linh thiêng bát ngát
Núi dưa tỏ tích lạ, biến hóa không cùng.
Sự tích một vị nữ thần được cho vốn là gốc gác của người Chăm, vậy mà lại có những đoạn nói tới “Bắc Hải”, rồi lại còn “Trung Hoa” nữa. Thiên Y A Na đã “đem văn minh Trung Hoa ra giáo hoá: dạy dân cày cấy,  kéo vải, dệt sợi… và đặt ra lễ nghi…”  cho vùng Nam Trung Bộ. Khu vực Khánh Hòa thì liên quan thế nào đến Trung Hoa? Việc này phải hiểu như thế nào?

P1160732Quần thể Tháp Bà ở Nha Trang.

Gốc tích của vị Thiên Y Thánh Mẫu “người Chăm” này bất ngờ được bộc lộ qua ghi chép về núi Đại An thời Trần. Đây là ngọn núi mà Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã lưu lại trong thời gian đi du hóa ở Chiêm Thành. Thiền sư Thích Nguyên Minh ở chùa Sắc Tứ (Nha Trang, Khánh Hòa) đã khảo cứu cuốn Trung Châu nhân vật ký của Lam Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương kể lại sự tích như sau:
Đại Điền (gồm 4 thôn: Đại Điền Trung, Đại Điền Đông, Đại Điền Nam, Đại Điền Tây – nay là các xã Diên Điền, Diên Sơn huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hoà) là nơi lưu xuất và truyền tụng một câu chuyện (sự tích) có từ thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng: Vào thời các Vua Hùng có bà Tinh Vệ Mễ Nương – con gái đầu của Hùng Càng Vương – cùng chồng là Chấn Long Thần Phi “du hạ nam phương” có đem hạt dưa từ Trường Sa vào trồng tại vùng đất dưới chân Hòn Dữ (về sau, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông mới đặt tên cho núi là Đại An, và tên này tồn tại cho đến tận ngày nay). Do vùng đất này trồng rất nhiều dưa nên thường được gọi là xứ Đồng dưa (Qua điền xứ).
Núi rừng bao quanh xứ Đại Điền có rất nhiều lâm đặc sản quí, đặc biệt là cây trầm (trầm hương). Gặp lúc bão lụt nhiều cây trầm gãy đổ trôi xuống lại bị sóng biển đánh tấp lên đầy cả xứ Đồng dưa. Cư dân kéo lên chất thành từng đống đốt. Khói hương thơm tỏa ngào ngạt tẩy trừ mọi sơn lam, chướng khí, dịch bệnh. Cây trầm trở thành một loài cây hết sức quí giá. Từ đó xứ Đồng dưa còn có một biệt danh là xứ Trầm hương.
Vợ chồng bà Tinh Vệ Mễ Nương – Chấn Long Thần Phi hô hào dân chúng trong vùng đem đất cát lấp thành lũy dài gọi là trường sa lũy để ngăn sóng biển. Lũy này nối từ đèo Ninh Mã tới Cần Lương, tạo thành vịnh Vân Phong ở phía Bắc. Còn lũy Thủy Triều chạy dài từ mũi Cầu Hin, Bãi Dài đến mỏm Chà Đà, tạo thành vịnh Cam Ranh ở phía Nam. Trước mặt Bạch Hổ Sơn (còn gọi là đồi Trại Thủy ở giữa Nha Trang) là quần đảo có tên là Hòn Tre, do Chấn Long Thần Phi dời núi từ phía Tây ra làm tấm bình phong chắn gió cho Nha Trang (ngày đó đảo này được trồng toàn là tre nên có tên Hòn Tre). Được bao bọc bằng các lũy và các núi (đảo) chắn gió đó, cù lao Nha Trang rất an toàn, bình yên trên mặt biền hiền hòa. Do vậy mà NhaTrang cũng được gọi là Cù Huân…
Sau khi hoàn thành công nghiệp dời núi, đắp lũy tạo cuộc sống yên bình cho xứ Trầm hương, ông bà Tinh Vệ – Chấn Long theo sóng biển về nơi không dấu tích. Để ghi nhớ công ơn sự nghiệp của vợ chồng bà, dân chúng lập đền thờ Bà tại núi Đại An. Nhưng đến cuối triều Hùng Duệ Vương (258 trước Tây lịch). Thục Phán trị nước, bị ngoại tặc thôn tính, ngôi đền này bị triệt phá.
Khi lên xứ Trầm Hương – Đại Điền, nhớ lại tích xưa, tưởng niệm công đức của vợ chồng bà Tinh Vệ – Chấn Long Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là Thiên Y Thánh Mẫu, và bàn với chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi đền thờ ông bà Tinh Vệ. Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền. Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho Thiên Y Thánh Mẫu và 2 bên trụ đền tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngự đề:
Tinh Vệ hận chí năng điền hải
Chấn Long cừu lực khả di sơn.
Nghĩa là:
Chí Bà Tinh Vệ (giận) có thể lấp biển
Sức ông Chấn Long (thù) khả dĩ dời núi.
Cùng lúc với việc trùng tu đền thờ Thiên Y Thánh Mẫu là việc xây dựng một ngôi chùa dưới chân núi Đại An. Với tên chùa cũng do chính Đức Điều Ngự (Trần Nhân Tông) đặt là Đại An Tự. Chắc chắn việc đặt tên chùa là Đại An không phải là ngẫu nhiên. Hai chữ Đại An thể hiện rất rõ quyết sách của Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông là phục hưng quốc gia Đại Việt và tạo dựng cuộc sống yên bình tươi đẹp mãi mãi cho dân tộc Chiêm…
Sự tích này về vị Thiên Y Thánh Mẫu ở núi Đại Điền – Đại An không giống như sự tích thường kể như trong bia Tháp Bà ở trên. Thiên Y Thánh Mẫu là tên mà Thượng hoàng Trần Nhân Tông đề tặng phong cho bà Tinh Vệ, vốn là con gái vua Hùng, đã có công cùng chồng che chắn sóng biển, khai phá vùng đất ven vịnh Nha Trang từ thời xa xưa…
Truyện Tinh Vệ lấp biển lại là một truyện được chép trong Sơn Hải Kinh, một cuốn kinh cổ của Trung Hoa. Truyện này nguyên như sau:
Núi Phát Cưu có nhiều cây dâu chá. Có loài chim đậu trên đó, trông như con quạ, đầu có hoa văn sặc sỡ, mỏ trắng, chân đỏ, tên là Tinh Vệ, tiếng kêu như gọi tên nó. Đó là người con gái trẻ của vua Viêm Đế, tên là Nữ Oa. Nữ Oa đi chơi ở biển Đông, bị chết đuối không về được, hóa thành chim Tinh Vệ, thường ngậm gỗ đá ở núi Tây để lấp biển Đông.

p1160747Bốn chữ Thiên Y  Cổ Tháp trong điện thờ ở Tháp Bà, Nha Trang.

Phải chăng Tinh Vệ Nữ Oa tương đương với Tinh Vệ Mễ Nương?
Như thế 3 câu chuyện của người Chăm về Thiên Y A Na, của người Việt về Tinh Vệ – Chấn Long và của người Hoa về Tinh Vệ Nữ Oa đều là 1, chỉ 1 nhân vật nữ thời cổ đã tạo công đức ở vùng vịnh Nha Trang. So sánh 3 câu chuyện Chăm, Việt và Hoa về vị nữ thần Thiên Y – Tinh Vệ này để thấy được cái cốt của truyện.
– Núi Phát Cưu hay núi Tây, nơi xuất khởi của Tinh Vệ Nữ Oa chính là núi Đại Điền – Đại An ở Diên Khánh – Khánh Hòa.
– Cây “dâu chá” như thế hẳn chính là cây Dó bầu (Trầm hương,) vốn có rất nhiều trên các khu vực núi ở Nam Trung Bộ.
– Loài chim biển Tinh Vệ là loài chim Yến, nổi tiếng ở Khánh Hòa. Có thể Yến = Yên = An, loài chim đặc trưng của nước Yên?
– Vị nữ thần này là con vua Hùng (hay Viêm Đế) đã vào vùng miền Nam Trung Bộ lập nghiệp. Công nghiệp chính của vị nữ thần này là ở việc che chắn sóng biển (Tinh Vệ Nữ Oa lấp biển, Tinh Vệ – Chấn Long dời núi) và giáo hóa nhân dân vùng ven biển làm ăn sinh sống.
– “Trầm” trong Trầm hương nghĩa là “chìm”, nói tới sự việc Tinh Vệ bị chết đuối ngoài biển. Trong sự tích Thiên Y Thánh Mẫu là bà đã hóa thân vào gỗ Kỳ nam (gỗ Trầm) trôi trên biển.
– Bà Tinh Vệ của Trung Hoa chỉ có thể chết đuối ở biển Đông, tức là vùng ven biển của Việt Nam ngày nay, chứ thời vua Viêm Đế Trung Hoa theo định vị của sử Tàu đang ở tít trong vùng Thiểm Tây Hoàng Hà, làm gì có biển mà chết đuối.
– Do việc “trị hải” cho nhân dân mà bà Tinh Vệ đã bị chết đuối ngoài biển. Ý chí dời non lấp biển, chinh phục thiên nhiên của Tinh Vệ chưa bao giờ ngừng. Chính vì những công đức này mà Tinh Vệ đã được cả người Việt lẫn người Chăm tôn thờ thành Thiên Y Thánh Mẫu, tức là ngôi Thánh Mẫu tương đương với bà Mẹ Trời, Thượng Thiên của tín ngưỡng Tứ phủ.
Tại sao một nhân vật từ thời thượng cổ của Trung Hoa lại thành ra vị nữ thần của người Chăm ở tận miền Trung Việt? Tại sao một nữ thần Chăm lại là con gái vua Hùng?
Điều này chỉ có thể giải thích được nếu biết người Chăm vốn là nhánh phía Nam (hướng Xích đạo) của dòng họ Hùng. Truyền thuyết Việt Truyện họ Hồng Bàng kể vua Hùng Đế Minh cho Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Phương Bắc Nam nay đã bị đảo lộn. Dòng Đế Nghi là dòng tộc phát triển xuôi xuống hướng Xích đạo hay Viêm phương. Vì thế truyền thuyết mới chép Tinh Vệ là con gái Viêm Đế hay vua Viêm phương, xứ nóng.
Vua Trần Nhân Tông đã đặt tên cho núi Đại Điền là Đại An và tự tay ghi câu đối ở chùa Đại An:
Đại Việt cơ đồ tu hưng phục
An Chiêm sự nghiệp lại diên khang.
Tên núi Đại An và tên gọi trong câu đối này cho biết xứ Chiêm còn gọi là An Chiêm. Chính điểm này xác định khu vực Nam Trung Bộ là nước An hay Yên của thời Chu (Văn Lang). An = Ơn là số 2 chỉ Viêm phương trong Hà thư. An cũng là Ôn, chỉ phương nóng bức.
Thêm một so sánh nữa. Rất có thể tích Thiên Y Thánh Mẫu của người Chiêm được truyền thuyết Việt kể lại trong Sự tích quả dưa hấu về Mai An Tiêm. Tiêm = Chiêm, hoàn toàn hợp lý. An Tiêm tức là An Chiêm mà Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã nói. Việc trồng dưa và khai phá vùng đất ven biển cũng được nói rõ trong cả 2 sự tích về Mai An Tiêm và Thiên Y A Na.
Câu đối ở đền thờ Mai An Tiêm ở Nga Sơn (Thanh Hóa):
萬山發跡留瓜種
神浮濤鎮靜海波
Vạn Sơn phát tích lưu qua chủng
Thần Phù đào trấn tịnh hải ba.
Dịch:
Vạn Sơn phát tích còn dưa đỏ
Thần Phù trấn sóng lặng biển xanh.

IMG_4955Đền thờ vợ chồng Mai An Tiêm ở Nga Sơn, Thanh Hóa.

Vậy Mai An Tiên là Chấn Long Thần Phi và vợ chính là Thiên Y Thánh Mẫu. Mai là ban mai, phương mặt trời mọc, tức phương Đông. Còn Chấn Long đều có nghĩa là phía Đông, Chấn là quẻ Chấn chỉ phía Đông trong Bát quái, Long là con vật tượng trưng của phương Đông. Chấn Long Thần Phi hiểu đơn giản là vị phi thần phía Đông.
Bản thân cái tên Thiên Y a na rất có thể là cách đọc tam sao thất bản của Tiêm Yên hay An Tiêm. Mai An Tiêm còn là “Thái tử Bắc Hải” được nhắc đến trong truyền thuyết của người Chăm.
Sự tích Chấn Long – Tinh Vệ đã được phản ánh bằng một bài thơ rất hay ghi trong sách Trung Châu nhân vật ký:
Đại Điền cổ xứ thị trầm hương
Đông chí phong ba nịch thủy luân
Tinh Vệ, Chấn Long di thực hải
Hoằng khai gia lý phú diên khang.
Tạm dịch:
Đại Điền xưa ấy xứ Trầm hương
Đông tới phong ba nước ngập tràn
Tinh Vệ, Chấn Long dời chắn biển
Mở ra thôn xóm mãi yên lành.
Bài thơ này có chi tiết là vùng Đại Điền vào mùa Đông có nước lớn. Điều này rất chính xác vì vùng Nam Trung Bộ Việt (Trung Châu) có chế độ mưa thu đông, mùa đông mới là mùa mưa, khác hoàn toàn so với vùng miền Bắc Việt là mưa hè.
Dưa hấu được gọi là Tây Qua, vì theo sự tích Mai An Tiêm thì do loài chim mang từ phía Tây tới. Điều này trùng hợp với truyện Tinh Vệ lấy đá núi Tây mà lấp biển, còn Thiên Y A Na vốn trồng dưa ở núi Tây – Đại Điền.
Thật bất ngờ khi biết được rằng vị thánh mẫu Thiên chủ của người Chăm miền Trung lại chính là Tinh Vệ của Trung Hoa, là vợ Mai An Tiêm của người Việt thời Hùng Vương. Đây là câu truyện kể về người Việt – Chăm – Hoa đã khai phá vùng ven biển phương Nam. Tất cả càng thêm sáng rõ: Việt – Hoa – Chăm vốn là những dân tộc cùng nguồn gốc, cùng xuất phát từ dòng dõi các vua Hùng.

Lược sử chùa Sắc Tứ – Kim Sơn, núi Đại An ở Khánh Hòa

Nguồn: http://quangduc.com/a23871/chua-sac-tu-kim-son

Kim Sơn thiên cổ tự,
Bi Trí hiện tùy duyên,
Chân tâm vô sở trụ,
Điều Ngự Giác Hoàng viên.

Tại vị trí toạ lạc chùa Sắc Tứ Kim Sơn hiện nay thì trước đây – trước năm Tân Sửu, Niên hiệu Hưng Long, triều vua Trần Anh Tông (1301) – đã tồn tại một ngôi chùa. Nhưng ta chưa thể biết ngôi chùa có trước đấy do ai tạo lập và tạo lập vào lúc nào . Bởi vì cho đến nay chúng ta chưa có đủ những tài liệu đáng tin cậy ghi chép về việc này. Hơn nữa ngôi chùa có trước đó đã bị hư hại đến mức hầu như không còn bao nhiêu dấu tích ngay từ trước năm 1301. Do vậy, giới thiệu về lịch sử chùa Kim Sơn, xin bắt đầu từ cái mốc 1301 ấy.
Lần theo dấu chân Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông – Đức “ĐẠI THÁNH TRẦN TRIỀU TRÚC LÂM ĐẦU ĐÀ TĨNH TUỆ GIÁC HOÀNG ĐIỀU NGỰ TỔ PHẬT” – trong thời gian Ngài du hóa xứ Chiêm Thành (từ tháng 3 đến tháng 11 năm Tân Sửu – 1301), chúng ta sẽ thấy hiện rõ sự xác lập Kim Sơn Tự.
Như ta đã biết , sau khi lãnh đạo toàn dân Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và cuộc đấu tranh gìn giữ hòa bình, gây dựng cuộc sống ấm no cho dân chúng đang trên đà phát triển tốt đẹp, thì vua Trần Nhân Tông, theo truyền thống cực kì siêu việt của Vương Triều Nhà Trần là sớm trao quyền lại cho thế hệ trẻ. Ngài đã nhường Ngôi lại cho Thái tử Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Sự kiện này diễn ra vào tháng 3 năm Quí Tị (1293). Và trong sáu năm (1293 đến 1299) song song với việc trực tiếp cố vấn cho vua Trần Anh Tông còn non trẻ lãnh đạo quốc gia, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông thực hiện ý nguyện từ lâu của mình (và cũng là truyền thống của Cha Ông) là xuất gia tu hành. Thượng Hoàng đã thực tập cuộc sống của người xuất gia tại Vũ Lâm[1]. (Tại đây vốn đã có sẵn một hành cung của Nhân Tông. Chính vì Nhân Tông tập sự xuất gia ở đây nên hoàng cung trở thành chùa Vũ Lâm). Năm 1299 , Thượng Hoàng chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đầu đà (sau đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà, hay còn gọi là Trúc Lâm Đại Sĩ, Hương Vân Đại Đầu Đà) trở thành một vị cao tăng, là người kế thừa chính thức của Thiền phái Yên Tử, thế hệ thứ 6 tiếp nối vị Tổ sư thứ 5 là thiền sư Huệ Tuệ. Hơn thế nữa, chính Trúc Lâm là người khai sáng và xây dựng Thiền phái Trúc Lâm – một Thiền phái đậm đà bản sắc Phật giáo Việt Nam. Đồng thời, Trúc Lâm cũng là người thiết lập một Giáo Hội Phật Giáo thống nhất và nhập thế tích cực với tinh thần từ bi, cởi mở, khai phóng, bao dung và hòa hợp vốn là cốt tủy của sinh hoạt Phật giáo. Rồi cũng chính tinh thần từ bi, dung hợp, khai phóng ấy, chính sự mở rộng cánh cửa tâm thức và tấm lòng thiết tha với dân tộc ấy làm trụ cột tạo nên sức mạnh Đại Việt, và là yếu tố chính yếu thiết lập và duy trì nền thái bình thịnh trị của quốc gia, dân tộc thời Trần. Điều này cũng có nghĩa là truyền thống Vương triều Trần đều chủ động và tích cực dùng Chánh Pháp (Phật Pháp) trong sự nghiệp lãnh đạo quốc gia. Riêng trong lĩnh vực quan hệ giữa các dân tộc, các vị vua Trần, mà điển hình là Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông, đã triệt để dùng chánh pháp để giáo hóa, xây dựng và củng cố tình đoàn kết dân tộc, hóa giải mọi mâu thuẫn trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng, tương thân tương ái, nhầm đạt mục tiêu vì Nước (Nước mạnh) vì Dân (Dân giàu).
Với tâm nguyện củng cố và phát triển sự hòa hợp đoàn kết dân tộc một cách lâu dài, bền vững, và cũng để hoằng hóa Phật Pháp tại xứ Chiêm Thành, mà vào tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Trúc Lâm đi thăm Chiêm Thành. Ngài đi với tư cách một vị du tăng, với một số tăng sĩ tùy tùng. Trên đường đi xuống phía Nam, Trúc Lâm có ở tại am Tri Kiến của trại Bố Chính[2]. Rồi từ trại Bố Chính, Trúc Lâm đi sang Chiêm Thành. Thời gian Trúc Lâm vân du tại Chiêm Thành khá dài, từ tháng 3 đến tháng 11 Tân Sửu (1301) mới trở về Yên Tử. Và như vừa nêu, đây là một cuộc vân du của một vị cao tăng, đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo thống nhất Đại Việt, và được Chúa Chiêm Thành nghênh tiếp với tư cách ấy. Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, Trúc Lâm đã đàm đạo với Chúa Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc tiếp xúc này chắc chắn là cuộc tiếp xúc thân mật. Chúa Chiêm Chế Mân tiếp một vị cao tăng Đại Việt, nhưng đồng thời cũng là tiếp một vị lãnh đạo tinh thần tối cao, có uy lực rất lớn trong triều đình và toàn thể quốc dân. Vả lại, căn cứ trên quan hệ đoàn kết dân tộc giữa Triều đình Đại Việt (với tư cách dân tộc Kinh) và xứ Chiêm Thànnh (với tư cách là dân tộc Chăm – Chàm) trong giai đoạn Thượng Hoàng Trần Nhân Tông lãnh đạo Quốc gia Đại Việt, thì ta có thể biết chắc Chúa Chiêm lúc ấy là Chế Mân đã hết sức khâm phục và có tình cảm đậm đà với Trúc Lâm. Như ta cũng đã biết, khi quân xâm lược nhà Nguyên, do Toa Đô chỉ huy binh thuyền gây chiến và chiếm đánh Chiêm Thành vào cuối năm 1282, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã cử Tiến sĩ Nguyễn Khả Lạt (em ruột Trung Liệt Hầu Nguyễn Khoái) làm chánh tướng, thiền sư Phùng Đạo Phong làm tham tán quân vụ, chỉ huy 2 vạn quân và 500 chiến thuyền với đầy đủ quân trang, quân dụng vào sát cánh cùng quân dân Chiêm đánh tan quân Nguyên, tiêu diệt toàn bộ 300 chiến thuyền với trên 1 vạn rưỡi quân lính, quét sạnh doanh trại và quan quân của Toa Đô ở cửa biển Quy Nhơn, khiến tên bại tướng này phải thu nhặt tàn quân bỏ chạy ra hồ Đại Lãng, Ô Lý Việt Lý (Bình-Trị-Thiên ngày nay) vừa cướp bóc, vừa vỡ hoang trồng tỉa hoa màu mà sống [3]. Nước mắt, máu xương của quân dân Việt (Kinh) đã đổ xuống để bảov ệ dân tộc Chiêm, chiến thắng cuộc xâm lược của quân Nguyên vào xứ Chiêm Thành. Chính ơn nghĩa sâu dày này và những hành động xây đắp tình thân hữu bền chặt Việt (Kinh) – Chiêm khác nữa của Vương triều Trần đã khiến chúa Chiêm càng thêm kính mộ đối với Trúc Lâm. Nhân đây, cũng cần nhắc thêm lại một điều. Sau chiến thắng cuộc chiến tranh Nguyên – Chiêm (1283-1284), lo ngại giặc Nguyên sẽ quay lại đông hơn, mạnh hơn, quyết liệt hơn, chúa Chiêm Chế Mân đã xin vua Trần cho toàn bộ quân Việt (Kinh) tiếp tục ở lại đất Chiêm để chuẩn bị kháng chiến lâu dài và di chuyển vào phía Nam có vị thế thuận lợi hơn xây đắp thành trì , như xây thành Quan Đông (tức là cửa ải phía Đông, nay là xã Ninh Đông, huyện Ninh Hòa) và xây tháp Pô-klong – Grai (sau ta quen gọi là tháp Chàm) tại địa điểm nay thuộc thị xã Phan Rang tỉnh Ninh Thuận, để tăng cường thực lực và thu phục nhân tâm.
Cùng thời gian trên , ngoài 2 vạn quân Việt (Kinh) trụ lại, và thường dân Việt ra vào xứ Chiêm Thành để buôn bán ngày càng đông, còn có không ít quan, dân Nam Tống bại trận trước quân Nguyên vào năm Kỹ Mão (1279) và vô số người Hoa (gốc Bách Việt) vùng Giang Đông cùng chạy sang tá túc tại đất này. Trong số những người Hoa này có những môn đồ của thiền phái Lâm Tế – Thiếu Lâm Tự. Ngoài việc tạo lập nơi ăn chốn ở cû, để có nơi học hành, thi văn, luyện võ, học nghề, trị bệnh cứu người như đã có từ thời nhà Lý, cả người Việt (Kinh), người Hoa cùng lập khá nhiều chùa chiền ở khắp vùng Nam Hà, nhất là khu vực Trung Châu (từ nam đèo Hải Vân đến Đồng Nai) , mà tập trung nhiều ở xứ Trầm Hương (Khánh Hòa ngày nay). Việc xây dựng và phát triển ngày một nhiều chùa chiền như vậy chắc chắn là được chúa Chiêm tán thành và hỗ trợ. Mà sự tán thành hỗ trợ này của chúa Chiêm Chế Mân rõ ràng là một hệ quả tất yếu của tấm lòng kính mộ của Chế Mân đối vớ triều đình Đại Việt, mà đặc biệt là đối với thượng hoàng Trần Nhân Tông. Điều này cũng còn có nghĩa, Chế Mân có lòng kính mộ đối với phật giáo do mộ vị phật tổ Đại Việt (Đức Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông) hóa độ. Sự trạng này được Trần Chí Chính, trong lời đề từ bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ , viết : ”Có lúc Ngài (Trúc Lâm) viễn du hóa độ cho các lân ban, phía Nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực trong thành. Chúa nước Chiêm Thành biết được điều đó hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước và đem đất đai hai châu làm lễ cúng dàng cho Ngài. Ấy là Thuận Châu , Hóa Châu vậy.”[4]
Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, ngoài việc đàm đạo với vua quan, các vị tu hành, lãnh tụ tôn giáo… tại phủ Đồ Bàn (Quảng Nam ngày nay), Trúc Lâm còn đi thăm viếng, quan sát tình hình Phật giáo ở nhiều nơi trên đất Chiêm. Rất tiếc, cho đến nay chúng ta vẫn chưa biết được một cánh đầy đủ chi tiết hành trạng của Trúc Lâm trong suốt 7, 8 tháng lưu hóa tại Chiêm Thành. Gần đây, do phát hiện và sưu tầm được một số tư liệu quí (sách vở, các bản chép tay của Cử nhân Nguyễn Tạo…) và sau khi khảo sát lại các bộ sử sách hiện có (nhất là các bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , Đại Nam Nhất Thống Chí…) kể cả các bộ sách sử Phật giáo Việt Nam, cũng như sau khi trực tiếp khảo sát một số di tích Lịch sử – Văn hóa ở Khánh Hòa, đã phần nào giúp cho việc khôi phục lại ành trạng của Trúc Lâm tại xứ Trầm Hương (Khánh Hòa). Tất nhiên, ở đây chỉ trình bầy những việc nào của Trúc Lâm có liên quan trực tiếp đến chùa Kim Sơn.
Thời còn là xứ Chiêm Thành, vùng đất mà sau này có tên (theo tiếng Việt) là NhaTrang, được gọi theo tiếng dân tộc Chàm, phiên âm từ chữ Ya-Tran. Từ sau khi Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào thăm thì tên gọi chính thức vùng này theo chữ Việt – Nho là “NhaTrang”. Đây là một cửa biển phía đông xứ Trầm Hương (vì vậy mà sau này, Lê Quí Đôn gọi là Đông Hương, còn Tiến sĩ Lam Trà Nguyễn Văn Chương, trong sách Trung Châu Nhân Vật Kí gọi là Cù Huân Hải Khẩu [5]. Việc Thượng Hoàng Trần Nhân Tông gọi (đặt tên) cho khu vực cửa biển này là NhaTrang không đơn thuần vì âm của hai chữ Việt Nho này rất gần với hai âm tiếng Châm Ya-Tran, mà có lẽ quan trọng hơn cả, 2 chữ NhaTrang này có ý nghĩa xác định sự hình thành và phát triễn một cuộc sống sung túc, giao thương buôn bán hết sức nhộn nhịp của khu cửa biển này. Sau này , trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký, Lam Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương đã mô tả cửa biển NhaTrang đúng như sự tiên đoán, xác định của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngay từ năm 1301. Lam Trà Tiến sĩ cho biết : Xứ này, từ thời Hoàng đế Trần Nhân Tông vào thăm Chiêm Thành, gọi là cửa biển NhaTrang. Đến thời Lê Trung Hưng lại gọi là Đông Hương, cũng gọi là cửa biển Cù Huân ấy vậy. Tại cửa biển có đầm cù lao,cầu Bến Cá, tức là chợ NhaTrang. Thuyền buôn các nơi mỗi ngày ước khoảng hơn trăm chiếc, ra vào buôn bán sản vật. Chính vì sớm nhận ra cảnh sống sung túc nhộn nhịp như vậy mà Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã ngự đề 4 chữ Việt – Nho: ”NHATRANG TÂN THỊ” để gọi vùng đất giàu đẹp này. (NHA là mầm non, TRANG là một tụ điểm dân cư phong phú tươi đẹp, Tân là bến, THỊ chính là thị tứ , tức là chợ). Như vậy, chúng ta có thể xác định rằng tên gọi NHATRANG (một danh từ Việt – Nho) để chỉ vùng cửa biển này là Thành phố NhaTrang, chính thức có từ ngày đó (1301).
Địa điểm được Trúc Lâm đến thăm trước nhất có thể là nơi có tên gọi là Đại Điền (gồm 4 thôn : Đại Điền Trung, Đại Điền Đông, Đại Điền Nam, Đại Điền Tây – nay là các xã Diên Điền, Diên Sơn huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hoà). Địa điểm này chính là nơi lưu xuất và truyền tụng một câu chuyện (sự tích) có từ thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng : Vào thời các Vua Hùng có bà Tinh Vệ Mễ Nương – con gái đầu của Hùng Càng Vương – cùng chồng là Chấn Long Thần Phi “du hạ nam phương” có đem hạt dưa từ Trường Sa vào trồng tại vùng đất dưới chân Hòn Dữ (về sau, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông mới đặt tên cho núi là Đại An, và tên này tồn tại cho đến tận ngày nay). Do vùng đất này trồng rất nhiều dưa nên thường được gọi là xứ đồng dưa (qua điền xứ).
Núi rừng bao quanh xứ Đại Điền có rất nhiều lâm đặc sản quí, đặc biệt là cây trầm (trầm hương). Gặp lúc bão lụt nhiều cây trầm gãy đổ trôi xuống lại bị sóng biển đánh tấp lên đầy cả xứ Đồng dưa. Cư dân kéo lên chất thành từng đống đốt. Khói hương thơm tỏa ngào ngạt tẩy trừ mọi sơn lam, chướng khí, dịch bệnh. Cây trầm trở thành một loài cây hết sức quí giá. Từ đó xứ Đồng dưa còn có một biệt danh là xứ Trầm hương (sau này “Xứ Trầm Hương”trở thành biệt danh của tỉnh Khánh Hòa).
Vợ chồng bà Tinh Vệ Mễ Nương – Chấn Long Thần Phi hô hào dân chúng trong vùng đem đất cát lấp thành lũy dài gọi là trường sa lũy để ngăn sóng biển. Lũy này nối từ đèo Ninh Mã tới Cần Lương, tạo thành vịnh Vân Phong ở phía Bắc. Còn lũy Thủy Triều chạy dài từ mũi Cầu Hin, Bãi Dài đến mỏm Chà Đà, tạo thành vịnh Cam Ranh ở phía Nam. Trước mặt Bạch Hổ Sơn (còn gọi là đồi Trại Thủy ở giữa NhaTrang) là quần đảo có tên là Hòn Tre , do Chấn Long Thần Phi dời núi từ phía Tây ra làm tấm bình phong chắn gió cho NhaTrang (Ngày đó đảo này được trồng toàn là tre nên có tên Hòn Tre). Được bao bọc bằng các lũy và các núi (đảo ) chắn gió đó, cù lao NhaTrang [6] rất an toàn, bình yên trên mặt biền hiền hòa. Do vậy mà NhaTrang cũng được gọi là Cù Huân [7]. Sự tích xứ Đồng dưa – Trầm hương, dời núi, đắp lũy của vợ chồng bà Tinh Vệ được phản ánh bằng một bài thơ rất hay ghi trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký:
Đại Điền cổ xứ thị trầm hương,
Đông chí phong ba nịch thủy luân,
Tinh Vệ, Chấn Long di thực hải,
Hoằng khai gia lý phú diên khang.
Tạm dịch:
Đại Điền xưa ấy xứ Trầm Hương,
Đông tới phong ba nước ngập tràn.
Tinh Vệ, Chấn Long dời chắn biển,
Mở ra thôn xóm mãi yên lành.

Sau khi hoàn thành công nghiệp dời núi,đắp lũy tạo cuộc sống yên bình cho xứ Trầm Hương , ông bà Tinh Vệ – Chấn Long theo sóng biển về nơi không dấu tích. Để ghi nhớ công ơn sự nghiệp của vợ chồng bà, dân chúng lập đền thờ Bà tại núi Đại An. Nhưng đến cuối triều Hùng Duệ Vương (258 trước Tây lịch) Thục Phán trị nước, bị ngoại tặc thôn tính, ngôi đền này bị triệt phá.
Khi lên xứ Trầm Hương – Đại Điền, nhớ lại tích xưa, tưởng niệm công đức của vợ chồng Bà Tinh Vệ – Chấn Long Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là THIÊN Y THÁNH MẪU, và bàn với Chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi đền thờ ông bà Tinh Vệ. Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền. Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho THIÊN Y THÁNH MẪU [8] và 2 bên trụ đèn tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngự đề :
Tinh Vệ hận chí năng điền hải
Chấn Long cừu lực khả di sơn.
Nghĩa là:
Chí Bà Tinh Vệ (giận) có thể lấp biển,
Sức ông Chấn Long (thù) khả dĩ dời núi.
Cùng lúc với việc trùng tu đền thờ Thiên Y Thánh Mẫu là việc xây dựng một ngôi chùa dưới chân núi Đại An. Với tên chùa cũng do chính Đức Điều Ngự (Trần Nhân Tông) đặt là ĐẠI AN TỰ. Chắc chắn việc đặt tên chùa là ĐẠI AN không phải là ngẫu nhiên. Hai chữ ĐẠI AN thể hiện rất rõ quyết sách của Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông là phục hưng quốc gia Đại Việt và tạo dựng cuộc sống yên bình tươi đẹp mãi mãi cho dân tộc Chiêm. Điều này được khẳng định rất cụ thể rõ ràng trong đôi câu đối mà Đức Điều Ngự Trần Nhân Tông ngự đề cho chùa:
Đại Việt cơ đồ tu hưng phục
An Chiêm sự nghiệp lại diên khang.
Và như vậy Hoàng Đế Thiền Sư Trần Nhân Tông, cũng tức là Đức Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Đại Việt, là người đã khai sáng, lập chùa Đại An [9].
Đến ngày 12 tháng 7 năn Tân Sửu (1301), Trúc Lâm rời chùa Đại An trở lại thăm một di tích -thắng cảnh ở núi Gành – nằm sát cửa Đông Hương (Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Gành thuộc thôn Ngọc Toản, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh) cách Nha Trang Tân Thị (tức thành phố Nha Trang ngày nay) chừng 2 dặm (khoảng 3 km) về hướng Tây Bắc. Thấy phong cảnh nơi đây thật đẹp đẽ, thanh tịnh, núi Gành trông như chiếc bình bát bằng vàng (kim âu) của Phật Tổ, in bóng trên mặt biển xanh như ngọc [10], trên núi lại còn lưu dấu tích một ngôi chùa không rõ do ai khai sơn, lập chùa từ bao giờ. Đây đúng là một chốn A-Lan-Nhã lí tưởng cho tu hành, Trúc Lâm liền quyết định cho xây dựng lại thành một Thiền Tự và đặt tên là KIM SƠN TỰ và ngự đề đôi câu đối cho chùa:
Kim âu lãng thủy ngọc hoàn qui
Sơn tự thiền tông hội phước trì.
Nghĩa là:
Bát vàng soi bóng trên mặt nước ngọc qui tụ về
Ngôi chùa thiền (Phật) trên núi tụ hội phước đức mãi mãi.
Sự kiện vừa nêu được ghi chép khá rõ ràng, cụ thể trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký như sau: ”Tân Sửu niên, thất nguyệt, nhị thập nhật, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tự Đại An Tự đáo hải biên , quan kỳ cảnh vật hữu tình gian sơn hùng vĩ, mạng Thiền sư Thích Đạo Phong tái lập Phật tự vi KIM SƠN TỰ. Hựu ngự đề:
Kim âu lãng thủy ngọc hoàn qui
Sơn tự Thiền tông hội phước trì.”
Qua đoạn ghi chép trên cho chúng ta thấy: trước khi Đức Điều Ngự Trần Nhân Tông đến, nơi đây (núi Gành) đã có chùa nhưng rõ ràng ngôi chùa này đã đỗ nát, không người trông coi. Cho nên Đức Trần Nhân Tông đã cho xây dựng lại (tái lập Phật Tự), ban tên chùa là KIM SƠN TỰ, xác định chùa theo Thiền phái (mà đương nhiên là Thiền phái Trúc Lâm) và người được giao trọng trách”tái lập phật tự” là Thiền sư Thích Đạo Phong. như vậy ta có thể xác định được rằng chính Đức Việt Phật Trần Nhân Tông là người khai sinh, lập chùa Kim Sơn tại núi Gành (nay thuộc thôn Ngọc Hội, Xã Vĩnh Ngọc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Chấp nhận sự kiện này thì ngày 12 tháng 7 Âm lịch hàng năm sẽ là ngày kỉ niệm lập Chùa, còn ngày Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông thị hiện Niết Bàn sẽ là ngày giỗ Tổ Sư khai sáng chùa (?).

 

 

 

 

 

 

Ghi Chú : Đây là sơ lược lịch sử chùa . Do việc thu thập và xác minh các tài liệu lịch sử chưa thật đầy đủ và độ chính xác còn bị giới hạn , cho nên rất mong quí vị Thiện tri thức , các nhà nghiên cứu quan tâm giúp đỡ chỉ dẫn để trong tương lai chùa Sắc Tứ Kim Sơn sẽ có được một bản lịch sử chùa hoàn chỉnh .

[1]Làng Vũ Lâm, Phủ Diên Khánh – Ninh Bình. Nay thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

[2]Thánh Tăng Ngữ Lục chép: ”Sau ở chùa Phổ Minh của phủ Thiên Trường,Thượng Hoàng mời đến các danh tăng, mở lớn các trường giảng,trải mấy năm đèn vân du phương ngoài, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở.” ”Tri Kiến”, theo Ô Châu Cận Lục, là nơi đóng cơ quan hành chính của trại bố chính (Tri Kiến cố chi huyện kiến. Có thể nói đây là ngôi chùa đầu tiên được biết của vùng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính ,mà Lý Thánh Tông đã thu phục và định danh trên bản đồ Đại Việt, nay là Bố Trạch (Quảng Bình) và 2 huyện Vĩnh Linh,Gio Linh (Quảng Trị).

[3]Để rồi đến mùa hè năm Ất Dậu (1285), hắn ra Bắc làm Đại Nguyên soái đem 50 vạn quân của Vân Nam cùng 50 vạn quân do cái gọi là Trấn Nam Vương Thoát Hoan cầm đầu sang đánh nước ta. Cuộc xâm lăng qui mô cực lớn này như ta đã thấy, đã bị thất bại thảm hại. Gần 1 trệu quân Nguyên bị quân dân Đại Việt tiêu diệt, chỉ có Thoát Hoan thoát chết nhờ chui vào ống đồng để lính khiêng chạy trốn về Tư Minh (Quảng Tây).

[4]Châu Ô, Châu Lý được nhà Trần đặt tên là Thuận Châu, Hóa Châu vào năm 1307. Việc thu phục 2 châu này như vậy là diễn ra một cách hết sức hòa bình êm thắm.

Sách lược ngoại giao bình đẳng và đoàn kết dân tộc của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (trong đó phải kể cả đến việc gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân) đã đem lại những thành quả chính trị và an ninh thật to lớn cho quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ.

[5]Xin xem một bài thơ của Lam Trà Tiến sĩ trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký:
CÙ HUÂN XU HẢI TẶC.
Cù Việt kình thiên hận bạch đầu,
Huân chưng hạo thủy khí lăng châu,
Bạch Hổ triều dương xu hải tặc,
Thanh Long bảo đị thổ hoàng thâu.
Tạm dịch:
CÙ HUÂN ĐUỔI GIẶC BIỂN.
Trắng đầu Cù Việt đứng canh trời,
Giọt châu khói tỏa nước bốc hơi,
Bạch Hổ núi ngăn quân cướp biển
Rồng Xanh gò nổi giặc thân vùi.

[6]Nay gồm 14 phường xung quanh dòng sông Ngọc Hội, kéo dài từ cửa Hà La Sơn – Đồi La San, cho đến cửa bé.

[7]Cù: cù lao, Huân Chưng: chỉ sóng nổi lăn tăn như nước trong nồi mới bắt đầu sôi.

[8]Ngôi đền này đến thời Chế Bồng Nga dấy đông can qua chống phá triều đình Đại Việt, và cho triệt phá đình Đại An thờ bà Tinh Vệ tức là Thiên Y Thánh Mẫu. Đến thời nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản nhân đi qua đây, vì không rõ gốc tích bà Tinh Vệ Mễ Nương, nên viết về sự tích bà Chúa Chàm với tên gọi nửa Nho (Việt) nửa Chiêm (Chàm) là Thiên Y A Na, khiến mọi người lầm tưởng bà Chúa Chàm với Bà Chúa xứ Trầm Hương – Thiên Y Thánh Mẫu – là một.

[9]Rất tiếc , trải nhiều lần can qua dưới thời Chế Bồng Nga và sau đó, Đại An Tự đã bị phá hủy hoàn toàn. Chùa Đại An chỉ còn được ghi lại trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký.

[10]Thời bấy giờ bao quanh núi Gành toàn là biển.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong dòng sử dân gian

Cổ Lôi ngọc phả truyền thư cùng với Bách Việt triệu tổ cổ lục được dòng họ Nguyễn ở Thanh Oai cất như bảo vật, giữ kín, cấm con cháu không được tiết lộ ra ngoài trong nhiều năm. Ở cuối mỗi bài phả đều có thơ dặn lại: “Bất dụng tha nhân, biệt ngoại truyền”…
Tới nay nội dung chính của các cuốn phả ký này đã được một số học giả nghiên cứu trình bày, như trong những bài viết của TS. Lã Duy Lan. Tuy nhiên khi thông tin được nêu ra, cuốn ngọc phả này đã bị nhiều chỉ trích là “bịa đặt”, vì trong ngọc phả hầu hết các nhân vật lịch sử cổ của Việt Nam đều mang họ của Nguyễn, và các địa danh quan trọng trong cổ sử Việt đều nằm ở quanh khu vực Thanh Oai…
TS Lã Duy Lan cho biết, theo Cổ Lôi ngọc phả truyền thư thì sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, quan lại nhà Hán đi hỏi han, ghi chép về lai lịch của Hai Bà ở ngay tại vùng Cổ Lôi. Khi ấy, ông nội của Hai Bà Trưng cũng vẫn còn sống, là một vị trưởng lão mà khi hai vị còn bé, ông thường dạy cho các cháu hát và gõ trắc (hay phách), kéo nhị. Biết được ý đồ truy lùng của giặc, ông cùng dân trang bàn nhau dấu kín tung tích thật, tuyệt đối không hé lộ cho bọn giặc biết. Vì thế mà khi dân chúng được tập trung lại, quan lại nhà Hán hỏi nhà Hai Bà ở đâu thì họ chỉ nói là ở bến ong (tức bến nước ven sông được xếp bằng đá ong). Hỏi đến tên, thì họ chỉ nói là hai bà khi còn bé hay ca hát, bà chị gõ trắc, bà em kéo nhị và chồng bà chị bị quan Thái thú giết, không tìm thấy xác, còn ngoài ra, họ không nói thêm điều gì… Từ đó có tên bà Trưng Trắc, Trưng Nhị quê ở Phong Châu (bến ong) và ông Thi Sách (với nghĩa là mất xác)…
Cổ sử dân gian lưu truyền hàng ngàn năm, qua nhiều thời đại. Trong hoàn cảnh luôn bị kẻ thù truy tìm, truy sát, bằng mọi cách xóa đi dấu vết lịch sử thì người xưa đã buộc phải dồn nén các thông tin lịch sử thật sự vào trong một khu vực nhỏ xung quanh làng xã mình, phải giải thích các tên họ các anh hùng nghĩa sĩ một cách “nôm na”, dùng những từ đồng âm khác nghĩa mà ám chỉ nghĩa thật, phải diễn đạt các sự kiện lịch sử theo hình thức “nửa thật nửa hư”. Tuy nhiên nếu đọc kỹ những ghi chép này và so sánh đối chiếu, phân tích thì vẫn có thể thấy được “ngọc trong đá”. Những cuốn ngọc phả được gìn giữ và lưu truyền này thực sự mang những thông tin lịch sử quý báu, giúp chúng ta hiểu và có thể khôi phục lại được lịch sử của thời kỳ này.

dinh-leĐình Tri Lễ (Thanh Oai, Hà Nội) nơi thờ Lữ Gia.

Cổ Lôi ngọc phả truyền thư cung cấp nhiều chi tiết, nội dung mới và lạ so với chính sử, đặc biệt đối với thời kỳ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trước hết Ngọc phả cho biết nơi khởi nghĩa và đóng đô của Hai Bà Trưng là Phong Châu và Phong Châu cũng là Mê Linh. Tác giả Lã Duy Lan cũng đã trích dẫn các sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Đường thư, Văn hiến thông khảo của Mã Đoan Luân thời Nguyên đều chép: “Mê Linh là Phong Châu”.
Như thế Mê Linh là tên gọi khác của vùng đất Phong Châu, nơi có kinh đô nước ta thời các vua Hùng và là nơi Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Thực ra Mê Linh đọc thiết là Minh, mà Minh đô chính là kinh đô thời Hùng Vương, khởi dựng từ vị vua Hùng đầu tiên là Đế Minh. Những tài liệu trên thêm một lần nữa khẳng định điều này.
Đặc biệt về thân thế nguồn gốc và nguyên nhân cuộc khởi nghĩa của Hai Bà được bản Ngọc phả chép khá chi tiết, đầy đủ cả bên nội bên ngoại. Cụ thể:
Ông Lã Hùng Định (thuộc dòng dõi Lữ Gia, Tể tướng nhà Triệu), nguyên là Lạc tướng bản huyện (Mê Linh), bị nhà Hán ép nhận chức Giao Chỉ quận vương, trước lấy bà Trần Thị Đoan, sinh ra Lã Nam, sau lấy bà Đinh Thị Đào, người Mường, con gái Lạc tướng Vũ Ninh tên là Đinh Công Tạo, sinh ra cô Lý (Trưng Trắc), cô Huệ (Trưng Nhị) và chàng út hay Khổng Chủng.
Tiếp đó, cụ Nguyễn Năng Tế thuộc dòng dõi Triệu Vũ Đế Nguyễn Thận, nguyên là Lạc tướng huyện Chu Diên, khi ấy đã già (gần 70 tuổi), giao quyền lại cho con rể là Đặng Thành. Cụ Nguyễn Năng Tế, trước lấy cụ bà Đào Thị Dực sinh được 3 người con là Chiêu Nương, Nguyễn Khắc Trung (còn gọi Chiêu Trung), Nguyễn Đỗ Lý. Khi các con trưởng thành, cụ bà Đào Thị Dực qua đời. Nhiều năm sau, cụ Tế lấy vợ kế, là bà Tạ Cẩn Nương còn trẻ.
Con gái đầu của cụ Nguyễn Năng Tế là Chiêu Nương lấy ông Đặng Thành, sau được kế chức Huyện lệnh trưởng Chu Diên, sinh ra các vị (theo thứ tự) Đặng Xuân, Đặng Nghiêm, Đặng Tiến, Đặng Đình, Đặng Trần. Đặng Xuân (anh) lấy cô Huệ (Trưng Nhị) sinh hai con trai. Đặng Nghiêm (em) lấy cô Lý (Trưng Trắc) chưa có con.
Thông tin của Ngọc phả về xuất xứ và người thân của Hai Bà Trưng rất lạ. Hai Bà Trưng mang họ Lã của ông Lã Hùng Định, là dòng dõi tể tướng Lữ Gia nhà Triệu. Chồng Bà Trưng Trắc có họ Đặng, con trai của lệnh trưởng Chu Diên, cháu ngoại của ông Nguyễn Năng Tế. Ông Nguyễn Năng Tế, sau được coi là “linh hồn của cuộc khởi nghĩa” Hai Bà Trưng, lại là dòng dõi Triệu Vũ Đế (vua Triệu Nam Việt).
Chỉ xét những thông tin này cũng đã đủ thấy khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nói đến thực chất là cuộc khởi nghĩa “hậu” Nam Việt của nhà Triệu, với các tướng lĩnh cầm đầu đều là dòng dõi, họ hàng của tể tướng Lữ Gia và vua Triệu. Như vậy thì khởi nghĩa này không thể xảy ra vào thời Đông Hán sau Công nguyên được vì nhà Triệu Nam Việt kết thúc năm 111 TCN khi Lộ Bác Đức nhà Tây Hán bắt được vua Triệu Vệ Dương Vương, cách thời Đông Hán hơn 100 năm và cách cả một triều đại nhà Tân của Vương Mãng. Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng phải nổ ra vào thời điểm ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt sụp đổ, là sự phục thù, phục quốc của con cháu vua Triệu và họ Lữ.
Ngọc phả Cổ Lôi kể vị vua lập nên nhà Triệu (Triệu Đà) Nam Việt có tên ban đầu là Nguyễn Thận. Thực ra họ Nguyễn này (và họ Nguyễn có bộ tộc phả ở Thanh Oai nói chung) nguyên là họ Lý, sau mới đổi sang thành họ Nguyễn (dưới thời Trần?). Chỉ có họ Lý thì mới có lịch sử lâu đời như vậy, từ thời “Bách Việt triệu tổ”. Vì Lý là lửa, chỉ ánh sáng, chỉ thủ lĩnh. Họ Lý nghĩa là chỉ các vị vua trong cổ sử.
Như thế nhà Triệu Nam Việt từ ông Nguyễn Thận phải mang họ Lý. Lý Thận là tên của Triệu Vũ Đế. Rất có khả năng Lý Thận = Lý Bôn = Lưu Bang. Vị “cao tổ” đầu tiên của nhà Triệu mang họ Lý, tức là Lưu Bang.
Ngọc phả cũng cho biết có Tây Lý Vương là người đã cho xây thành ở Đông Anh (Cổ Loa) để chống lại quân Hán và Tây Lý Vương cũng thuộc dòng dõi nhà Triệu. Khởi nghĩa của Tây Lý Vương như thế về thực chất cũng nằm trong loạt khởi nghĩa thời hậu Nam Việt cùng với khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đây là dẫn chứng khác cho thấy các vua nhà Triệu vốn mang họ Lý nên mới gọi là Tây Lý Vương, tức là vua Lý của vùng Tây thổ (Phong Châu), đối lập (nối tiếp) triều đại Nam Việt ở phía Đông, kinh đô ở Dương Thành (Phiên Ngung – Quảng Đông).
Trong Cổ Lôi ngọc phả thì cụ Lã Hùng Định là người phụ trách Mê Linh và nắm chức Giao Chỉ quận vương. Bản thân chữ Định là thuộc tính trong Dịch học chỉ hướng Tây. Lã Hùng Định nghĩa là vị thủ lĩnh họ Lã ở phía Tây (tương đương với Tây Lý Vương?).
Còn cụ Nguyễn Năng Tế, dòng dõi Triệu Vũ Đế, làm chức huyện lệnh Chu Diên, sau đó nhường quyền cho con rể là Đặng Thành. Hiểu đúng thì Chu Diên là châu Dương, tức là vùng đất phía Đông hay chính là vùng Phiên Ngung thời Nam Việt. Nguyễn Năng Tế chuyển đọc thành Lý Lang Từ, có thể hiểu là vị vua phía Đông (Từ là thuộc tính từ ái của phương Đông).
Nguyễn Năng Tế là dòng dõi vua Triệu Nam Việt cai quản đất Châu Diên – miền Đông, rồi truyền lại cho Đặng Thành. Có thể cả Nguyễn Năng Tế và Đặng Thành đều chỉ những vị vua nhà Triệu Nam Việt. Cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng như vậy bắt đầu từ 2 dòng dõi và 2 khu vực: họ Lý (Triệu) ở phía Đông và họ Lã ở phía Tây.
Theo Cổ Lôi ngọc phả kể lại thì ban đầu các vị Lã Hùng Định, Đặng Thành và một số người khác bàn bạc với nhau, liên kết chống lại ách đô hộ, nhưng khi đang chuẩn bị lực lượng thì bị Tô Định phát hiện, giết chết. Mối thù nhà ấy, cùng với mối hận mất nước, đã được thế hệ con, cháu của họ tiếp tục nung nấu, để rồi chỉ mấy năm sau, đã bùng lên thành ngọn lửa khởi nghĩa dữ dội, mà những người hăng hái, nhiệt huyết nhất trong số đó, chính là hai chị em bà Trưng, con gái “Giao Chỉ quận vương” Lã Hùng Định.
Nguyên nhân khởi nghĩa của Trưng Vương đúng là vừa vì nước (Nam Việt) vừa trả thù nhà (cho cha là Lữ Gia và chồng là vua Triệu). Bà Trưng Trắc lấy chồng là Đặng Xuân, con của huyện lệnh Chu Diên Đặng Thành. Như thế Bà Trưng là con dâu hoàng gia nhà Triệu, cũng là dòng dõi (chính xác hơn là con gái) thừa tướng Lữ Gia.
Lữ Gia là chỉ cả gia tộc họ Lữ nói chung nên trong các ghi chép có nhiều Lữ Gia ở những nơi khác nhau. Theo chính sử thừa tướng đương triều Lữ Gia cùng vua Triệu cuối cùng là Triệu Vệ Dương Vương đã lên thuyền rút từ Phiên Ngung về Giao Chỉ khi bị quân nhà Hiếu tấn công. Lữ Gia hy sinh ở cửa biển Nam Định (núi Gôi, Vụ Bản) là vị này.
Còn Lữ Gia chống lại quân nhà Hiếu ở vùng Phong Châu (như ở Hà Tây cũ hay Vĩnh Phú) là con cháu của thừa tướng Lữ Gia trên. Cổ Lôi ngọc phả có nói đến Lã Nam, con trai đầu của cụ Lã Hùng Định ban đầu cũng tụ quân chống lại nhà Hán. Lã Nam có thể là vị Lữ Gia được thờ ở vùng Thanh Oai, Quốc Oai.

cua-vongCửa võng đình Tri Lễ (Thanh Oai, Hà Nội), nơi thờ Lữ Gia làm thành hoàng.

Trong Cổ Lôi ngọc phả còn nói đến nhiều tình tiết của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khác. Khi hiểu một cách rộng hơn việc dồn nén (sự giải thích của người ghi chép đời sau) các địa danh của cuộc khởi nghĩa vào 1 vùng ở Thanh Oai thì Ngọc phả này đúng là cuốn sử rất đầy đủ về khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trong đó điểm quan trọng nhất cần khẳng định: khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Phong Châu là cuộc khởi nghĩa của hậu quân nhà Triệu nước Nam Việt do con cháu họ Lữ và họ Lý cầm đầu, chống lại nhà Hiếu (Tây Hán), nhằm phục thù cho thân sinh phụ mẫu hay các phu quân chết trận trước đó và phục quốc Nam Việt với 2 phần Đông (Chu Diên) và Tây (Mê Linh).

Long và Ly

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Kiều Thu Hoạch đã so sánh quan niệm về con Rồng và hình tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Trong Tứ linh của người Việt 4 con vật thiêng được biết là Long, Ly, Quy, Phượng với loài Rồng (Long) đứng đầu. Nhưng sách Lễ ký của Khổng Tử, tài liệu sớm nhất nói về Tứ linh, lại cho một trật tự khác: Lân, Phụng, Quy, Long. Từ đó tác giả đi đến nhận định là người Trung Quốc không coi trọng con Rồng (xếp nó vào cuối cùng trong Tứ linh) mà đề cao con Lân…
Tại sao có sự khác biệt trong quan niệm về Tứ linh giữa Việt Nam và Trung Quốc? Các “linh vật” nghĩa là gì? Con Rồng – Long có mặt trong văn hóa phương Đông từ khi nào? Con Ly hay Lân là con gì? Những câu hỏi này thực sự chưa bao giờ được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, trong khi hình tượng Rồng và Kỳ Lân lại là hình ảnh thường gặp trong các vật phẩm kiến trúc, trang trí điêu khắc cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc.
Trước hết cần xác định Tứ linh là 4 loài vật biểu trưng trong văn hóa phương Đông từ rất lâu. Tứ linh là 4 loài đứng đầu 4 giới sinh vật. Khái niệm này bắt nguồn từ học thuyết Ngũ hành. Bảng kê đầy đủ về Ngũ hành được thấy trong sách Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi đời Tần, có thể tóm tắt như sau (4 mùa hay Tứ thời dùng 4 hành hay 4 đức để biểu hiện):
– Mộc đức: mùa Xuân, phương Đông, màu Xanh. Động vật tiêu biểu là loài có vảy.
– Hỏa đức: mùa Hè, phương Nam, màu Đỏ. Động vật tiêu biểu là loài chim có lông vũ.
– Kim đức: mùa Thu , phương Tây, màu Trắng. Động vật tiêu biểu là loài thú có lông mao.
– Thủy đức: mùa Đông, phương Bắc, màu Đen. Động vật tiêu biểu là loài giáp giới.
Phương vị về các loài vật và màu sắc tương tự cũng thấy trong quan niệm: “Hành tiền chu điểu nhi hậu huyền vũ, Tả thanh long nhi hữu bạch hổ” (Lễ ký). Chu – Huyền – Thanh – Bạch là 4 màu Đỏ – Đen – Xanh – Trắng, giống như trong Lã Thị xuân thu. Điểu – Vũ – Long – Hổ tương ứng là 4 loài vật đại diện cho 4 giới có lông vũ – giáp giới – vảy – lông mao (vũ, giáp, lân, mao). Các vị trí Tiền – Hậu – Tả – Hữu tương đương với các hướng Nam – Bắc – Đông – Tây (khi đứng quay mặt về phương Nam).
Bộ tứ Chu tước – Huyền vũ – Thanh long – Bạch hổ được xác thực bằng hiện vật trên các gương đồng Bát quái của thời Chiến Quốc. Ở Việt Nam cũng có những chiếc gương như vậy đã được phát hiện, trong khu vực khảo cổ miền Trung.

guong-bat-quaiGương Bát quái thời Chiến quốc (ảnh Hồ Xuân Em).

Về con Rồng Thuyết văn giải tự của Hứa Thận từ thời đầu Công nguyên ghi: Long, lân trùng chi trưởng. Rồng đứng đầu loài có vẩy. Hình ảnh con rồng xuất hiện rất sớm trên các đồ đồng từ thời Ân Thương dưới dạng Quỳ long (rồng 1 chân). Thường cặp đôi với rồng thời kỳ này là hình con Phượng (quỳ phượng). Như trên, Rồng là con vật biểu trưng của hướng Đông, màu xanh. Xanh hay Thanh – Thang, cũng là Thương, là màu biểu tượng của nhà Thương. Rồng còn là “Long vương”, gắn liền với biển. Ở cả Trung Quốc và Việt Nam thì chỉ có hướng Đông mới có biển.

lien-rongChiếc liễn đồng thời Đông Chu trang trí toàn bằng hình rồng.

Nguyên mẫu của rồng hẳn là loài Rắn. Chỉ cần “vẽ rắn thêm chân” là ra con rồng. Rồng là hình tượng kết hợp giữa loài rắn và cá sấu, dùng biểu tượng cho phương Đông.
Rồng đứng đầu các loài có vảy, Phượng là vua các loài chim. Còn Lân là loài vật đứng đầu các loài có lông mao, theo ngôn ngữ ngày nay nghĩa là động vật có vú. Ví dụ, Chu Hy (thế kỷ 12) trong chú thích cho bài Lân chi chỉ của Kinh Thi đã viết về con Lân như sau:
Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống… Con Lân có một sừng, đầu sừng có thịt, cho nên không thể húc cụng, ấy là nhân.
Bản thân chữ Lân 麟 trong dùng bộ Lộc 鹿, tức là một dạng như con hươu.
Mô tả của các thư tịch về con Lân rõ như vậy nhưng không hiểu sao ngày nay con Lân bị biến thành một con vật đầu rồng, mình ngựa, thân toàn vảy là vảy, chẳng thấy lông mao đâu. Con thần thú đứng đầu các loài lông mao mà mình lại mang toàn vẩy là thế nào? Rõ ràng đã có sự nhầm lẫn giữa Kỳ Lân và con Long mã. Kỳ Lân không thể nào là loài thú đầu rồng mình ngựa, thân toàn vảy được.
Sự lầm lẫn của Trung Quốc về con Lân xuất phát từ việc… ở Trung Quốc không hề có con Lân này. Mãi đến thời nhà Minh đoàn thuyền của Trịnh Hòa đi sang châu Phi mang về một con hươu cao cổ dâng vua Minh, cho rằng là con Lân… Đúng là “kỳ” Lân… Một loài linh vật đứng đầu Tứ linh Trung Hoa mà lại phải đi mượn ở tận châu Phi… Chả nhẽ Khổng Tử ngồi ở châu Phi để viết Lân kinh?
Kinh Xuân Thu do Khổng Tử soạn còn gọi là Lân kinh vì tương truyền Khổng Tử lúc sinh ra có Kỳ Lân xuất hiện nhả ngọc và khi soạn kinh đến đời Chu Kính Vương thì nước Lỗ săn được con Lân bị què chân trái phía trước. Khổng Tử thấy đó nghĩ đạo của mình đã cạn, liền dừng soạn kinh.
Vậy con Lân là con gì và vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh?
Xét bài Lân chi chỉ, một bài thơ trong chính phong của Kinh Thi. Đây là bài thơ ca ngợi dòng dõi Văn Vương nhà Chu:
Lân chi chỉ. Chân chân công tử. Hu ta lân hề.
Lân chí đính. Chân chân công tính. Hu ta lân hề.
Lân chi giác. Chân chân công tộc. Hu ta lân hề.
Dịch thơ (Tản Đà):
Chân con lân
Trán con lân
Sừng con lân
Công tử có nhân
Công tôn, công tộc có nhân.
Con lân chừ con lân!
Bài này nằm trong phần Chu Nam, tức là thơ phong dao của vùng đất phong của Chu Công. Chu Công là em trai của Chu Vũ Vương, người đã có công lớn trong việc diệt nhà Ân Thương, khởi lập nên vương triều Chu. Chu Công được phong ở nước Lỗ, chính là đất quê của Khổng Tử.
Bài thơ trên cho thấy rõ con Lân là biểu tượng của nhà Chu, là vương triều nối tiếp thời Ân Thương. Đây chính là lý do vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh. Lân là hình ảnh của thiên tử Chu, của thời Chu. Con Rồng ở thời Chu được xếp dưới cùng cũng dễ hiểu vì Long là biểu tượng của nhà Ân Thương như đã nói ở trên. Nhà Chu diệt Ân thì hiển nhiên con Lân sẽ phải đứng đầu Tứ linh và con Rồng xếp xuống hàng cuối.
Con Lân tượng trưng cho nhà Chu vì là con thần thú của hướng Tây (xem Lã Thị xuân thu ở trên). Nhà Chu cũng là triều đại xuất phát từ hướng Tây. Chu = Châu = Chiêu, hướng buổi chiều hay phía Tây. Như thế con Lân ở hướng Tây, chỉ nhà Chu, đối lập với con Rồng ở hướng Đông, chỉ nhà Thương.
Tiếng Việt gọi Lân là con Ly. Chữ Kỳ Lân đọc phản thiết cho âm Ly. Như thế Kỳ Lân hay Ly chỉ là một. Đặc biệt, chữ mang âm Ly (酈) còn là tên khác của nước Lỗ. Đây là chỉ dẫn vì sao các sự tích của con Lân – Ly lại liên quan đến nước Lỗ.
Ly thực ra là tên quẻ Ly, trong Hậu thiên bát quái dùng để chỉ hướng Tây. Nước Lỗ của Chu Công được biểu trưng bởi con Ly thì phải là nằm ở phía Tây của Trung Hoa, vì con Ly – Lân không thể là phía Đông được. Định vị nước Lỗ lại nằm ở bán đảo Sơn Đông là hoàn toàn không phù hợp với thư tịch, cũng như thực tế không hề có loài vật nào phù hợp ở đó để gọi là Lân – Ly cả.
Loài vật đứng đầu các loài thú lông mao tuy có thể là con Hổ hay Voi. Nhưng với mô tả là loài vật dạng như con hươu, có 1 sừng, không ăn các con vật khác, hiếm khi xuất hiện (sống đơn lẻ) thì Lân phải là con… Tê giác. Loài Voi thường sống thành bầy đàn, khá dễ gặp thời cổ, không khớp với mô tả về con Lân. Loài Hổ thì không có sừng và là loài hung dữ, ăn thịt.
Con Tê giác còn được gọi là con Tây (bản thân chữ Tây 西 còn âm đọc là Tê), hoàn toàn khớp với phương vị của con Lân – Ly.
Cũng trong Kinh Thi phần Chu Nam có bài Quyển nhĩ nói tới một loại cốc đựng rượu hình con Tê:
Trắc bỉ cao cương
Ngã mã huyền hoàng
Ngã cô chước bỉ tự quang
Duy dĩ bất vĩnh thương.
Dịch:
Muốn lên trên sống núi cao
Ngựa em quá bệnh, thế nào lên đây?
Chén sừng tự rót vơi đầy
Khỏi đau thương mãi uống say, say vùi.
Bà hậu phi nhà Chu lên núi, nhớ chồng đi xa nên rót rượu vào “tự quang” uống mà say.
Tự quang 兕觥, còn đọc là Hủy quang, thực ra không phải là chén rượu bằng sừng con Tê. Đây là một loại đồ vật bằng đồng mô phỏng hình Tê giác, dùng để đựng rượu, từng phổ biến ở thời Tây Chu. Một chiếc Hủy quang như vậy cũng được thấy ở Lào (xem hình).

huy-quangHủy quang thời Tây Chu ở Lào.

Loài Tê giác chỉ sinh sống ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Không thể có con Tê giác nào lại sống được ở vùng giá tuyết như đất Sơn Đông. Nước Lỗ nơi có nhiều con Tê – con Ly ở phía Tây thì chỉ có thể là khu vực nước Lào ngày nay. Và khi nước Lỗ ở đất Lào thì trung tâm của thiên hạ Trung Hoa thời Chu chỉ có thể là vùng Bắc Việt – Vân Nam – Quảng Tây.
Con Tê đúng là con thần thú một sừng, hình dáng như con hươu, đứng đầu các loài có lông mao, biểu trưng cho hướng Tây. Nhà Chu (thời Chu) lấy con Lân làm biểu tượng, xếp lên hàng đầu của Tứ linh. Cặp đối lập Long – Ly thực chất là sự đối lập của 2 dòng tộc trong lịch sử Trung Hoa theo trục Đông – Tây, giữa nhà Thương và nhà Chu, giữa dân Hoa và Di. Trong truyền thuyết Việt đó là cặp Âu (Âu Cơ) – Lạc (Lạc Long Quân), Sơn Tinh – Thủy Tinh và Hùng – Thục. Hiện vật của thời kỳ này là 2 dòng đồ đồng hiện hữu tại Việt Nam và Trung Quốc. Một là dòng đồ đồng Đông Sơn (trống đồng nói chung, ở vùng Vân Nam, Quảng Tây và Bắc Việt). Một dòng thứ hai là đồ đồng “Hán” hay đồ đồng Thương Chu của phía Đông Bắc Trung Hoa. Trong dòng đồng khí Tây Nam (Đông Sơn) rất ít khi gặp hình tượng con rồng, mà chủ yếu là hình ảnh hươu nai, bò mộng, hổ. Trong khi hình ảnh rồng gặp ở hầu hết các đồ vật của dòng đồ đồng Thương Chu phía Đông.

ngoc-ky-lanKỳ Lân ngọc tại Căm pu chia.

Người Việt ngày nay quan niệm cha Lạc Long Quân là tổ, theo dòng Lạc Long đi về phía Đông nên đặt con rồng lên đầu Tứ linh. Tuy nhiên, lịch sử và truyền thuyết ghi chép rằng nước Văn Lang bắt đầu bằng dòng những người con lên núi theo mẹ Âu Cơ, đặc trưng bởi trống đồng. Mà lên núi thì làm gì có Rồng, nên lấy con Lân làm chủ đạo mới là đúng.
Với việc phục hồi nguyên mẫu của con Lân – Ly là loài Tê – Tây thì định vị Trung Nguyên của Trung Hoa thời Chu chắc chắn phải dời xa về phương Nam, nơi có loài vật này sinh sống. Con Tê như thế đúng là một “linh vật Việt”, thậm chí còn là linh vật đứng đầu trong Tứ linh. Việc đúc, khắc con Lân thành ra con Long mã vừa làm nghèo nàn đi hình ảnh Tứ linh (bị trùng lặp giữa Long và Long mã), vừa có phần bất kính với tổ tiên, chạy theo “đồ Tàu” mà quên đi loài vật đặc trưng vốn có của văn hóa Việt là con Tê. Đã đến lúc cần phát động phong trào thay Long mã bằng Tê, di dời mấy con “sư tử ngựa” Tàu ra khỏi Tứ linh Việt, trả lại sự linh thiêng của lịch sử và văn hóa Việt cho người Việt.

te-chuong-dinh

Hình Tê giác trên Chương đỉnh ở Huế.

Nước Tây Âu và tướng Trang Kiểu

Sử ký Tư Mã Thiên, Tây Nam Di liệt truyện kể:
Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Kiểu đem quân dọc theo thượng nguồn sông, đánh lấy các vùng từ Ba, Kiềm Trung sang phía Tây. Trang Kiểu vốn là dòng dõi của Sở Trang Vương. Kiểu đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba, Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu.
Sử ký Tư Mã Thiên, Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện kể:
Bạch Khởi là người Mi, làm tướng cho Tần Chiêu Vương,… Bạch Khởi đánh Sở, phá Yên, được 5 thành. Cùng năm, đánh Sở, phá Dĩnh, đốt Di Lăng, tiến suốt đến Cánh Lăng. Sở Vương bỏ Dĩnh, chạy về phía Đông đến Trần. Tần lấy Dĩnh đặt làm Nam Quận. Bạch Khởi được phong là Vũ An Quân. Vũ An Quân lấy đất Sở định quận Vu, Kiềm Trung.
Dấu vết địa danh Kiềm Trung và Điền vẫn còn lại cho tới nay. Kiềm hay Kiềm Trung là Quý Châu, không có gì phải nghi ngờ vì tới nay Quý Châu còn gọi tắt là Kiềm và đây là địa danh Kiềm Trung đạo thời nhà Đường. Đất Điền cũng được xác định rõ ràng là vùng Vân Nam, nơi có văn hóa Điền và chiếc Điền vương chi ấn.
Tuy nhiên khi định vị 2 vùng đất này rõ như vậy thì thông tin trong Sử ký Tư Mã Thiên liên quan tới 2 vùng đất Kiềm và Điền trở nên vô cùng khó hiểu. Nước Sở vốn được định vị ban đầu ở Hồ Bắc và Hồ Nam. Vậy làm sao Sở lại có thể cử một tướng quân đánh xuống vùng Quý Châu, rồi sang tận Vân Nam? Còn nước Tần theo định vị ngày nay ở khu vực Thiểm Tây, sao lại có chuyện tướng Tần là Bạch Khởi đi đánh nước Sở lại vòng xuống chiếm vùng Kiềm Châu (Quý Châu) ở tận phương Nam? Hình như có “bàn tay vô hình” nào đó đã “lái” các tướng Tần và Sở xuống vùng phía Nam này… Sự thật chắc chắn không phải vậy. Chỉ có thể… các sử gia Tàu đã cố ý xác định sai vị trí của Tần và Sở nên mới ra nông nỗi vậy.
trang-kieuThứ nhất có thể thấy rõ, nước Tần có địa phận chính nằm ở vùng Tứ Xuyên chứ không phải Thiểm Tây. Có vậy thì tướng Bạch Khởi mới sang tiến chiếm vùng Quý Châu (Kiềm Trung). Vị trí Tứ Xuyên của Tần còn cho phép giải thích nhiều tư liệu khác liên quan sau này như chuyện Tần chiếm Việt, Tần Thủy Hoàng Đông du hay chuyện Triệu Đà – Lưu Bang khởi nghĩa kháng Tần…
Thứ hai, Trang Kiểu không phải tướng của nước Sở ở đất châu Kinh tại Hồ Nam Hồ Bắc mà phải là một nước khác, cũng gọi là Sở. Nước này là Lạc vì Lạc = Nác = Nước, còn Sở = Sủy = Thủy. Vì 2 từ này đồng nghĩa nên trong tư liệu cổ thư dễ nhầm lẫn. Lạc Sở mới là nước Sở được nói tới trong các câu “mênh mông bể Sở” hay “bể Sở sông Ngô”, vì nước Kinh Sở ở Hồ Nam Hồ Bắc vốn không hề có “bể”. Lạc là đất Lạc Việt, tức vùng Bắc Việt và Quảng Tây ngày nay. Nơi này trực tiếp có vùng bờ biển là vịnh Bắc Bộ hay biển Đông.
Thời Chiến Quốc đất Lạc là nơi nhà Chu đóng đô hay Lạc Ấp (Lạc Dương), tức Đông Đô của nhà Đông Chu. Trang Kiểu là “miêu duệ của Sở Trang Vương” thực ra nghĩa là dòng dõi của Chu Trang Vương. Chu Trang Vương là Cơ Đà, vị vua thứ ba của nhà Đông Chu, đóng đô ở đất Lạc.
Ở Việt Nam ngày nay còn di tích và di chỉ xác thực về vị Trang Vương này. Đó là chùa Hương ở trên dãy núi Hồng Lĩnh tại Hà Tĩnh. Ở đó có nền Trang Vương, tương truyền là nơi Trang Vương đến thăm con gái là Diệu Thiện tu tại Hương Tích… Câu thơ của Tồn trai Bùi Dương Lịch viết về chùa Hương:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ.
Dịch
Xe mây đâu chốn Trang Vương cũ…
Tác giả Văn nhân trong bài viết Điền quốc – Trang Kiểu đã chỉ ra rằng: Trang = Tlang = Lang, chỉ thủ lĩnh; Kiểu = Cảo = Cửu, là số 9 chỉ phía Tây. Trang Kiểu nghĩa là Lang Cửu hay thủ lĩnh phía Tây. Phía Tây hay Cảo – Kiểu là vùng đất của nhà Tây Chu, đóng đô ở đất Cảo.
Kiềm có nghĩa là màu đen, tương đương với từ Ô hay Âu. Kiềm như vậy là Âu. Quý Châu chính là đất Âu. Còn Vân Nam ở phía Tây Kiềm Trung nên gọi là đất Tây Âu.
Vùng đất Âu ở Vân Nam Quý Châu là vùng đất cũ của nhà Tây Chu. Đông Chu nằm trên đất Lạc, Tây Chu nằm trên đất Âu, hợp lại chính là nước Âu Lạc do An Dương Vương lập nên được kể đến trong truyền thuyết Việt. Triều đại An Dương Vương là vương triều Chu kéo dài bao gồm cả Tây và Đông Chu.
Trang Kiểu là tướng của nhà Đông Chu vào cuối thời Chiến Quốc, được cử đi trấn thủ chống Tần ở vùng Vân Nam và Quý Châu. Sau đó vùng Quý Châu (Kiềm Trung) bị tướng Tần là Bạch Khởi tấn công chiếm mất. Trang Kiểu chỉ còn lại vùng Vân Nam, lập nên quốc gia riêng là Điền quốc.
Như thế cuộc chiến Chu – Tần bắt đầu ngay từ lúc này, dưới thời Tần Chiêu Tương Vương. Truyền thuyết Việt chép là Triệu Đà khởi binh đánh An Dương Vương đến vùng Vũ Ninh thì bị chặn lại. Vũ Ninh tức là vùng đất của Ninh Vương Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người khởi đầu nhà Tây Chu. Vũ Ninh là đất Tây Chu, là vùng Vân Quý như đã nói ở trên.
Diễn biến tiếp theo thì như đã biết, Tần Chiêu Tương Vương cử hoàng thái tôn của mình là Doanh Tử Sở, truyền thuyết Việt gọi là Trọng Thủy, giả cầu hôn con gái vua Chu (= Châu) là Mỵ Châu. Sau đó Doanh Tử Sở đã dẫn quân Tần đánh Lạc Dương (Cổ Loa), đuổi vị vua cuối cùng là Chu Noãn Vương chạy xuống phía Nam đi ra biển mà mất. Nước Âu Lạc của nhà Chu (An Dương Vương) bị diệt vào năm 256 TCN dưới thời Tần Chiêu Tương Vương.
Vào lúc này Tần đã chiếm được đất Kiềm Trung (Quý Châu) và Lạc Việt (Bắc Việt và Quảng Tây). Vùng nước Âu Lạc cũ chỉ còn lại đất Điền hay Tây Âu do Trang Kiểu làm chủ là chưa bị Tần chiếm. Có thể sau đó tướng Đồ Thư của Tần đã tấn công đất Tây Âu vì sách Hoài Nam tử chép Tần phát binh “giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống”. Dịch Hu Tống hay Dịch Hậu Tông, tức là dòng dõi của Dịch Vương, tức Chu Văn Vương (người đã viết Chu Dịch). Trang Kiểu là miêu duệ của Chu Trang Vương nên cũng chính là dòng dõi sau này của Chu Văn Vương.
Không rõ diễn biến tiếp theo ra sao đối với vùng đất Điền nhưng qua thời Hán, khi Lữ Hậu mất, lại xuất hiện nước Tây Âu. Đây là nước mà Triệu Đà đã “dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót… để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Nam Việt Úy Đà liệt truyện).
Lịch sử nước Văn Lang – Âu Lạc của người Việt như thế đang từng bước sáng tỏ tới từng chi tiết trong sử thuyết Hùng Việt.

Sử kí – Tây Nam Di liệt truyện

Dịch giả: Tích Dã

Hán – Tư Mã Thiên soạn
Lưu Tống – Bùi Nhân tập giải
Đường – Tư Mã Trinh sách ẩn, Trương Thủ Tiết chính nghĩa.

Có hàng chục quân trưởng người Di ở miền tây nam, Chính nghĩa: Ở phía nam của quận Thục. trong đó lớn nhất là quân trưởng nước Dạ Lang. Sách ẩn: Tuân Duyệt nói: “Là nước thuộc quận Kiền Vi.” Vi Chiêu nói: “Nhà Hán đặt thành huyện, thuộc quận Tang Kha.” Xét: Hậu Hán thư chép: “Nước Dạ Lang phía đông liền quận Giao Chỉ, nước này ở phía nam hồ, có quân trưởng vốn sinh ra từ cây tre, nhân đó lấy làm họ Trúc.” Chính nghĩa: Là các châu Khúc-Hiệp ở bờ nam sông lớn của châu Lư, vốn là nước Dạ Lang. Phía tây nước ấy có hàng chục quân trưởng người Mi Mạc, Chính nghĩa: Ở phía nam đất Thục xuống phía dưới về phía tây. Huyện Mi Phi ở phía bắc châu Diêu, cách tây kinh bốn ngàn chín trăm ba mươi lăm dặm về phía nam là chỗ của người rợ Mi Mạc. Sách ẩn: Là tên ấp của người Di, quân trưởng ấp này cùng họ với quân trưởng nước Điền. lớn nhất là quân trưởng nước Điền. Tập giải: Như Thuần nói: Điền, đọc là ‘điên’. Ngựa điên có từ nước này.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Sau đặt thành huyện, là chỗ mà quan Thái thú quận Việt Tủy đóng sở trị.” Chính nghĩa: Các châu Côn-Lang vốn là nước Điền, cách tây kinh năm ngàn ba trăm bảy chục dặm. Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Điền lên phía bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Cung Đô, người ở đây đều búi tóc, cày ruộng, có làng ấp. Ở phía tây ngoài chỗ ấy từ huyện Đồng Sư về phía đông, Sách ẩn: Hán thư chép là huyện Đồng Hương. phía bắc đến huyện Diệp Du Tập giải: Vi Chiêu nói: “Tại quận Ích Châu. Diệp, đọc là ‘diệp’.” Chính nghĩa: Có đầm Diệp ở phía bắc châu Mi hơn một trăm dặm. Huyện Diệp Du thời Hán ở phía tây đầm Trạch. Huyện Mi Phi quận Ích Châu vốn là nước thuộc Diệp Du Vương. là chỗ của người Tủy, người Côn Minh, Tập giải: Từ Quảng nói: “Quận Vĩnh Xương có huyện Tủy Đường.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Là tên hai nước.” Vi Chiêu nói: “Tủy là huyện thuộc quận Ích Châu.” Chính nghĩa: Tủy, đọc là ‘tủy’, là châu Tủy ngày nay. Côn Minh là huyện thuộc châu Tủy, có lẽ phía nam liền huyện Côn Minh, nhân đó đặt tên ấy. người ở đây đều bện tóc, dời theo bầy vật nuôi, không thường ở một chỗ, không có quân trưởng, đất rộng khoảng mấy ngàn dặm. Có hàng chục quân trưởng ở từ chỗ của người Tủy về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Tư-Tạc. Tập giải: Từ Quảng nói: “Huyện Tư tại quận Hán Gia. Tạc, đọc là ‘tạc’, tại quận Việt Tủy.” Sách ẩn: Phục Kiền nói: “Là tên hai nước.” Vi Chiêu nói: ” Huyện Tư thuộc quận Thục, huyện Tạc thuộc quận Việt Tủy.” Chính nghĩa: Tư, đọc là ‘tư’. Quát địa chí chép: “Châu Tạc vốn là chỗ ngoài phía tây quận Thục, là chỗ của người Miêu Khương, người Tủy. Địa lí chí chép: “Có huyện Tư.” Hoa dương quốc chí chí chép: “Núi Cung Hiệp thuộc châu Nhã vốn là núi Cung Tạc, là chỗ của người nước Cung, người nước Tạc.Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Tạc Đô về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Nhiễm Mang, Sách ẩn: Xét: Ứng Thiệu nói: “Quận Vấn Giang vốn là nước Nhiễm Mang. Đọc là ‘vô giang’ phiên.” Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Là chỗ của người Khương ngoài phía tây quận Thục, các châu Mậu-Nhiễm vốn là nước Nhiễm Mang. Hậu Hán thư chép là trong núi nước Nhiễm Mang có sáu nhóm người Di, bảy nhóm người Khương, chín nhóm người Đê, đều có bộ lạc.” người dân ở đây có thói ở một chỗ hoặc di chuyển, chỗ này ở phía tây của quận Thục. Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Nhiễm Mang về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Bạch Mã, Sách ẩn: Là tên ấp của người rợ, là người Đê Bạch Mã. Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Các châu Thành-Vũ ở miền Lũng Hữu đều là chỗ của người Đê Bạch Mã, quân trưởng nước ấy là người họ Dương trú ở trên núi Cừu Trì châu Thành.” đều là người Đê. Đấy đêu là người Man-Di ở ngoài phía tây nam quận Ba-Thục.

Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Cược đem quân ngược theo sông Giang đánh lấy các nước từ quận Ba-Thục-Kiềm Trung về phía tây. Chính nghĩa: Đọc là ‘kì lược’ phiên. Các châu Lang-Côn là chỗ mà Trang Cược làm vua. Trang Cược vốn là dòng dõi của Trang Vương nước Sở. Sách ẩn: Cược, đọc là ‘cự chước’ phiên. Là em của Trang Vương nước Sở, từng làm kẻ cướp. Cược đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Quận Ích Châu có huyện Điền Trì, có đầm ở phía tây bắc.” Hậu Hán thư chép: “Nguồn nước đầm này sâu rộng, lại đổi thành nông hẹp như dòng nước chảy ngược, cho nên gọi là đầm Điền.” bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba-Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu. Thời nhà Tần thường mở đường năm thước, Sách ẩn: Là nói đường sàn rộng năm thước. Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Đường năm thước ở châu Lang.” Nhan Sư Cổ nói: “Chỗ ấy chật hẹp, cho nên đường chỉ rộng năm thước.” có đặt quan lại ở một số nước ấy. Được hơn chục năm thì nhà Tần mất. Kịp lúc nhà Hán nổi lên lại đều bỏ các nước ấy mà chỉ mở đường nhỏ ở quận Thục. Có người dân ở quận Ba-Thục lẻn ra buôn bán, thu mua ngựa của người Tạc, nô lệ và bò lông dài của người Bặc, Chính nghĩa: Các châu Ích-Nam Nhung ngày nay phía bắc kề núi lớn là nước Bặc xưa. Sách ẩn: Vi Chiêu nói: “Huyện Bặc thuộc quận Kiền Vi, đọc là ‘bồ bắc’ phiên. Phục Kiền nói: “Lúc trước ở kinh sư có kẻ hầu gái người Bặc.”, do đó người quận Ba-Thục giàu có.

Năm Kiến Nguyên thứ sáu (năm 135 TCN), quan Đại hành là Vương Khôi đánh nước Đông Việt, người nước Đông Việt giết vua của mình tên là Sĩnh để báo tin. Khôi nhân oai quân sai quan Lệnh huyện Bà Dương là Đường Môn đến báo cho vua nước Nam Việt biết. Vua nước Nam Việt mời Mông ăn món tương củ. Tập giải: Từ Quảng nói: Củ, đọc là ‘cũ’. Bùi Nhân xét: Hán thư âm nghĩa chép: “Cây củ giống cây lúa nhưng lá như lá cây dâu, lấy lá của nó để làm giấm tương, ngon, người quận Thục cho là món ăn quý.” Sách ẩn: Xét: Lưu Đức nói: “Cây củ như cây dâu, quả của nó dài hai-ba tấc, vị chua, lấy hạt của nó để làm tương, ngon.” Lại nói: “Cây củ leo cây khác mà lớn lên, không phải là cây gỗ. Người đất Thục ngày nay có trồng cây này, quả như quả dâu nhưng vị cay như gừng, không chua.” Lại chú rằng lá như lá cây dâu là sai. Quảng chí chép: “Quả màu đen, vị cay, trừ hơi tiêu cơm.” Mông hỏi từ đâu, nói: “Theo đường sông Tang Kha ở phía tây bắc, sông Tang Kha rộng mấy dặm, Chính nghĩa: Thôi Hạo nói: “‘Tang kha’ là cọc buộc thuyền.” Hoa dương quốc chí của họ Thường chép: “Vào thời Khoảnh Tương Vương nước Sở sai Trang Cược đánh nước Dạ Lang, đem quân đến nước Thư Lan, buộc thuyền ở bờ rồi lên đánh trên đất. Đã diệt nước Dạ Lang, cho là nước Thư Lan có cọc buộc thuyền, bèn đổi tên nước ấy thành nước Tang Kha. qua dưới thành Phiên Ngu.” Mông về đến thành Tràng An, hỏi nhà buôn đến từ quận Thục, nhà buôn nói: “Riêng quận Thục có món tương củ, lén đem nhiều ra bán ở nước Dạ Lang. Nước Dạ Lang kề sông Tang Kha, sông này rộng hơn một trăm bước, đủ để đi thuyền. Vua nước Nam Việt đem tiền của đến để sai khiến người nước Dạ Lang, phía tây đến ấp Đồng Sư, nhưng cũng không bắt người các nước ấy thần phục được.” Mông bèn dâng thư khuyên nhà vua rằng: “Vua nước Nam Việt ngồi xe lọng vàng cắm cờ tiết bên trái, có đất rộng hơn vạn dặm trải từ đông sang tây, mang tiếng là bầy tôi ở ngoài nhưng thực là chúa của một châu. Nay đem quân từ các quận Trường Sa-Dự Chương đến đánh thì đường sông có nhiều chỗ ngăn cách, khó đi. Thần trộm nghe nước Da Lang có được khoảng chục vạn quân mạnh, nếu chèo thuyền theo sông Tang Kha mà ra chỗ người ta không ngờ đến tới cũng là một cách hay để đánh người Việt vậy.” Nhà vua nghe theo. Bèn bái Mông làm Lang trung tướng đem một ngàn người, hơn một vạn người chở đồ dùng tiền lương theo từ đường cửa Tạc quận Ba-Thục đi vào, rồi gặp vua nước Dạ Lang tên là Đa Đồng. Mông ban cho nhiều đồ dùng, tỏ uy đức để dụ, hẹn đặt ra quan lại, sai con của Đa Đồng làm quan Lệnh. Người các ấp nhỏ kề nước Dạ Lang đều ham tơ lụa của nhà Hán, lại cho là con đường mà quân nhà Hán hiểm trở nên chẳng đánh lấy mình được, nèn nghe theo lời hẹn của Mông. Mông về báo, liền lập nên quận Kiền Vi, phát lính của quận Ba-Thục sửa đường từ nước Bặc thẳng đến sông Tang Kha. Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Nước Dạ Lang lại có sông Đồn, phía đông chảy đến huyện Tứ Hội quận Nam Hải mà vào biển, đấy là sông Tang Kha. Người quận Thục là Tư Mã Tương Như cũng nói nên đặt quận ở các nước Cung-Tạc của người Di miền tây nam. Bèn sai Tương Như làm Lang trung tướng đến dụ, cùng đến chỗ người Di miền tây nam, đặt ra một quan Đô úy, hơn chục huyện, thuộc vào quận Thục.

Vào lúc ấy, người bốn quận Ba-Thục Tập giải: Từ Quảng nói: “Là các quận Hán Trung-Ba-Quảng Hán-Thục.” mở đường đến chỗ người Di miền tây nam, chở lương ăn đến cấp. Được mấy năm mà đường chẳng thông, rất nhiều quân lính đói mệt gặp phải hơi ẩm mà chết; mà người Di miền tây nam lại nhiều lần làm phản, phát binh đến đánh cũng tổn hao không có công gì. Nhà vua lo, sai Công Tôn Hoằng đến hỏi xem việc ấy. Hoằng về báo nói là việc ấy không được lợi. Kịp lúc Hoằng làm Ngự sử đại phu là lúc lúc đang đắp thành Sóc Phương để dựa vào sông Hà đuổi rợ Hồ, Hoằng nhân đó nói người Di miền tây nam gây hại, nên tạm bỏ, dốc sức đánh nước Hung Nô. Nhà vua bèn bỏ việc đến chỗ người Di miền tây nam, chỉ đặt một quan Đô úy của hai huyện thuộc nước Dạ Lang ở miền tây nam, lại sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy. Chính nghĩa: Sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy mà dần dần tu sửa quận huyện của mình.

Kịp đến năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), Bác Vọng Hầu là Trương Khiên đi sứ nước Đại Hạ về nói là lúc ở nước Đại Hạ có thấy vải của người quận Thục, gậy tre của của người nước Cung, Tập giải: Vi Chiêu nói: “Là tre của người huyện Cung thuộc quận Thục.” Toản nói: “Cung là tên núi, đốt tre ở đấy cao mà ống đặc, làm gậy được.sai người hỏi đến từ đâu, nói: “Từ nước Thân Độc phía đông nam, Tập giải: Có bản Sử kí chép là nước Can Độc. Bùi Nhân xét: Hán thư âm nghĩa chép: “Còn có tên là nước Thiên Trúc, là nước của rợ Hồ có Phù Đồ.” cách khoảng mấy ngàn dặm, mua được từ nhà buôn quận Thục.” Có người nói là phía tây nước Cung khoảng hai ngàn dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nói to lên là nước Đại Hạ ở phía tây nam của nhà Hán rất thích đến Trung Quốc, nhưng lo người Hung Nô chặn đường đi. Nếu mở đường từ quận Thục đến nước Thân Độc lại gần mà có lợi không có hại. Do đó thiên tử liền sai bọn Vương Nhiên Vu, Bách Thủy Xương, Lữ Việt Nhân đi sứ, ra từ phía tây của chỗ người Di miền tây nam để đến nước Thân Độc. Đến nước Điền, vua nước Điền tên là Thường Khương bèn giữ lại, giúp cho hơn chục nhóm người tìm đường về phía tây. Hơn một năm đều bị người Côn Minh chặn lại, Tập giải: Như Thuần nói: “Bị người Côn Minh chặn đường.” Chính nghĩa: Người Côn Minh ở phía nam châu Tủy, là huyện Côn ngày nay. chẳng ai đến được nước Thân Độc.

Vua nước Điền nói chuyện với sứ giả của nhà Hán rằng: “Nhà Hán so với nước ta thì ai lớn hơn?” Kịp lúc đó vua nước Dạ Lang cũng hỏi như vậy. Là vì đường không thông, đều tự cho là chúa của một châu mà không biết nhà Hán rộng lớn đến nhường nào. Sứ giả về, đều nói to lên rằng nước Điền là nước lớn, đủ để thân thiết. Thiên tử cũng để ý đến nước ấy.

Kịp đến lúc vua nước Nam Việt làm phản, nhà vua sai Trì Nghĩa Hầu đến quận Kiền Vi phát quân người Di miền tây nam đi đánh. Vua nước Thư Lan sợ đi xa Sách ẩn: Thư, đọc là ‘tử dư’ phiên. Là tên nước nhỏ. Sau đặt thành huyện thuộc quận Tang Kha. thì người nước bên bắt lấy kẻ già yếu của mình, bèn dấy binh của nước mình làm phản, giết sứ giả và Thái thú quận Kiền Vi. Nhà Hán bèn sai tám viên Hiệu úy phát người có tội ở quận Ba-Thục từng đánh nước Nam Việt quay về đánh phá nước ấy. Gặp lúc nước Nam Việt đã bị phá, tám viên Hiệu úy của nhà Hán không xuống phía dưới, liền dẫn binh về đi đánh nước Thư Lan, là nước chặn đường đến nước Điền. Đã phá nước Thư Lan, rồi dẹp người Di miền tây nam đặt thành quận Tang Kha. Vua nước Dạ Lang lúc trước cậy thế của nước Nam Việt, kịp lúc quân Hán đã diệt nước Nam Việt mà quay về đánh các nước làm phản, vua nước Dạ Lang bèn vào chầu. Nhà vua cho làm Dạ Lang Vương.

Sau khi nước Nam Việt bị phá, kịp lúc quân Hán đánh diệt các nước Thư Lan-Cung Đô, lại giết vua của nước Tạc Đô, vua các nước Nhiễm Mang đều sợ hãi, xin thần phục đặt quan lại. Nhà Hán bèn lấy nước Cung Đô đặt thành quận Việt Tủy, lấy nước Tạc Đô đặt thành quận Thẩm Lê, lấy nước Nhiễm Mang đặt thành quận Vấn San, Tập giải: Ứng Thiệu nói: “Là huyện Mân Giang quận Thục ngày nay.” lấy đất của người Bạch Mã phía tây quận Quảng Hán lập nên quận Vũ Đô.

Nhà vua sai Vương Nhiên Vu đưa tin oai quân phá nước Nam Việt và người Di miền tây nam đến khuyên dụ vua nước Điền vào chầu. Vua nước Điền còn có mấy vạn quân, phía đông bắc kề mình có người các nước Lao Tẩm-Mi Mạc Sách ẩn: Lao Tẩm, Mi Mạc là hai nước có cùng họ với vua nước Điền. đều là người cùng họ giúp nhau, chưa chịu nghe theo. Người Lao Tẩm-Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả, quan quan. Năm Nguyên Phong thứ hai (năm 109 TCN), thiên tử phát quân của miền Ba-Thục đánh diệt các nước Lao Tẩm-Mi Mạc, đem quân đến nước Điền. Lúc ấy vua nước Điền mới chịu theo hàng, cho nên không giết. Vua nước Điền rời khỏi chỗ người Di miền tây nam, đem người cả nước ra hàng, xin đặt quan lại rồi vào chầu. Do đó lấy nước Điền đặt nên quận Ích Châu, bán ấn vương cho vua nước Điền, sai lại làm vua của dân mình như trước.

Có đến hàng trăm quân trưởng của người Di miền tây nam, nhưng chỉ có vua các nước Dạ Lang-Điền nhận ấn vương. Điền là nước nhỏ mà được sủng ái nhất.

Thái sử công nói: Tổ tiên của vua nước Sở há có lộc trời chăng? Vào thời nhà Chu thì làm thầy của Văn Vương, được phong ở nước Sở. Kịp lúc nhà Chu suy mà vẫn có đất rộng năm ngàn dặm. Nhà Tần diệt chư hầu mà riêng dòng dõi của vua nước Sở còn làm vua nước Điền. Nhà Hán diệt người Di miền tây nam, nhiều nước bị mất nhưng riêng nước Điền được sủng ái. Mầm mối đến chỗ người Di miền tây nam là việc thấy tương củ ở thành Phiên Ngu, gậy tre của nước Cung ở nước Đại Hạ. Sau đó người Di miền tây nam bị chia cắt thành hai miền, Sách ẩn: Ý nói sau này người Di miền tây nam bị xua đuổi đi, rồi chia ở hai miền góc tây nam, đều thuộc quận huyện. cuối cùng đặt thành bảy quận. Tập giải: Từ Quảng nói: “Là các quận Kiền Vi, Tang Kha, Việt Tủy, Ích Châu, Vũ Đô, Thẩm Lê, Vấn Sơn.”

Sách ẩn: Thuật tán rằng:

“Ngoài cõi tây nam,
Trang Cược mở đường,
Biết nước Đại Hạ,
Bèn sai Đường Mông,
Lao Tẩm, Mĩ Mạc,
Lạ tục khác phong,
Dạ Lang lớn nhất,
Cung-Tạc xưng hùng,
Kịp đặt quận huyện,
Muôn đời ghi công.”

Vài suy nghĩ về thân thế Lý Công Uẩn – Đinh Bộ Lĩnh

Vị vua đầu tiên của triều Lý là Lý Thái Tổ có thân thế xuất xứ khá mờ ảo. Qua truyền thuyết chỉ biết rằng ông là con của bà Phạm Thị, sinh ra ở thôn Cổ Pháp (Bắc Ninh), lúc nhỏ tá túc trong chùa tại đây… Điều khó hiểu nhất là tại sao một nhân vật không có xuất xứ rõ ràng, có thể nói là “mồ côi” cha mẹ từ nhỏ như vậy mà bỗng nhiên tiến đoạt ngôi của nhà Tiền Lê một cách dễ dàng. Ngôi báu mà Đinh Tiên Hoàng mất công dẹp loạn các sứ quân, Lê Hoàn nam chinh bắc chiến, Lê Long Đĩnh huynh đệ tương tàn tranh ngôi mới có được. Thế mà Lý Công Uẩn chỉ vì có công… ôm xác vua khóc than, lại có thể dành được không gặp một cản trở nào, không phải động đến binh đao… Rõ ràng xuất xứ và công nghiệp của Lý Công Uẩn còn ẩn chứa những diễn biến lớn chưa được làm sáng tỏ.
Vài dòng trong Ngọc phả các vua triều Lê ở các di tích cố đô Hoa Lư, Ninh Bình hé lộ: Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Lý Vạn Hạnh vào hầu vua Lê (Lê Đại Hành) ở thành Hoa Lư, Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là công chúa Lê Thị Phất Ngân, sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư. Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ.
Đây là một thông tin quan trọng vì nó cho biết Lý Công Uẩn là phò mã của vua Lê, được vua Lê gả con gái là Lê Thị Phất Ngân cho. Công chúa Lê Thị Phất Ngân hiện vẫn được thờ tại một số nơi ở vùng Ninh Bình, Hà Nam và Nghệ An vì bà là mẹ của các hoàng tử Lý Phật Mã (Lý Thái Tông) và Lý Nhật Quang. Phải là địa vị hoàng thân quốc thích như vậy thì Lý Công Uẩn mới có thể tiếp ngôi nhà Lê một cách dễ dàng, không gặp sự cản trở nào. Nhưng vấn đề lịch sử công nghiệp lập quốc của Lý Công Uẩn không dừng lại ở chỗ là phò mã của tiền triều. Thông tin này dẫn đến liên tưởng khác nữa…
Theo những điều mới biết trong sử thuyết Hùng Việt thì Lý Công Uẩn, vị vua đầu nhà Lý, cũng chính là Đinh Bộ Lĩnh, là thủ lĩnh của đất Đinh Bộ – Tĩnh Hải, đã gây dựng quốc gia sau khi triều đình Đại Việt – Đại Hưng ở Phiên Ngung bị nhà Tống tiến chiếm. Đinh Bộ Lĩnh theo sự tích hiện hành là con của Thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, đã đầu quân cho sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải khẩu, được Trần Lãm yêu mến như thân thuộc và giao cho binh quyền. Tư liệu dân gian còn cho biết Trần Lãm đã gả con gái của mình là Trần Nương cho Đinh Bộ Lĩnh, rồi tuyên cáo trao lại quyền bính quân binh, còn mình lui về vui thú điền viên, chu du thiên hạ…
So sánh 2 thông tin của Lý Công Uẩn và Đinh Bộ Lĩnh thì có thể thấy cả 2 đều là con rể của tiền triều. Lý Công Uẩn lấy công chúa Lê Thị Phất Ngân, con gái vua Lê. Đinh Bộ Lĩnh lấy Trần Nương, con gái sứ quân Trần Lãm. Vì Lý Công Uẩn cũng là Đinh Bộ Lĩnh nên suy ra sứ quân Trần Lãm chính là vua Lê được nói tới. Vua Lê đây không phải Lê Đại Hành mà là dòng họ Lê khác…
Tác giả Văn Nhân đã đưa ra nhận định Đinh Bộ Lĩnh là Lý Tiến, phò mã của vua Lưu Cung nước Đại Hưng ở Phiên Ngung. Lý Tiến đọc phiên thiết là Liễn, Đinh Liễn là Đinh Bộ Lĩnh. Lưu Cung thực ra mang họ Lê vì cha là Lưu Tri Khiêm, Lưu Tri thiết Li, Lê.
Kết hợp 3 dòng thông tin ta có Lý Công Uẩn = Đinh Liễn = Lý Tiến là phò mã của vua Lê. Sứ quân Trần Lãm cũng chính là Lưu Cung hay Lê Cung. Lưu Cung vốn có tên là Lưu Nham, đọc phiên thiết cho chữ Lãm. Anh của Lưu Cung là Lưu Ẩn từng là Tiết độ sứ Thanh Hải quân. Sau khi Lưu Ẩn mất Lưu Cung tiếp nhận chức này. Tiết độ sứ Thanh Hải quân Lưu Nham có thể được hiểu thành sứ quân Trần Lãm vì Trần là Đông A, chỉ hướng Đông, cũng là vùng Thanh Hải. Sứ quân Trần Lãm xưng Trần Minh Công, hiểu đơn giản nghĩa là vị minh chủ ở phía Đông.
Bản thân tiểu sử của Trần Lãm cho biết ông là người gốc Quảng Đông, cha là Trần Công Đức sang chiếm giữ, lập nghiệp ở vùng ven biển Bố Hải Khẩu. Trần Công Đức như vậy tương ứng với Lưu Tri Khiêm, vốn là Thứ sử đất Phong Châu. Còn Bố Hải Khẩu không phải chỉ là đất Thái Bình mà là vùng Thanh Hải, cửa biển ở Quảng Châu.
Đình Xám (hay đình Hát) ở xã Hồng Quang, Nam Trực, Nam Định nơi thờ Trần Lãm có câu đối:
Bố Hải thiếp kình ba, hùng cứ danh lưu thiên cổ lục
Trường Châu ninh nhạn tháp, mặc phù công tại tứ phương dân.
Dịch:
Biển Bố lặng sóng kình, hùng cứ danh còn lưu ngàn thủa
Châu Trường vững non nhạn, bao trùm công giúp dân bốn phương.
Vế đối đầu nói tới việc “hùng cứ” của sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải khẩu. Vế đối sau liên quan đến sự nghiệp công đức của Đinh Bộ Lĩnh ở Trường Châu (Ninh Bình).
Một đầu mối khác về sứ quân Trần Lãm là trong Thiền uyển tập anh có chuyện về Trưởng lão La Quý An:
Chân nhân họ Đinh… Trước khi thị tịch, sư gọi đệ tử là Thiền Ông đến bảo rằng:
– Trước đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả mười chín nơi. Ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ đất bị cắt long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp đất, dựng nhiều bảo tháp, dùng pháp thuật mà yểm tàng, không để cho người ngoài biết…
Nhân vật Khúc Lãm đã hồi phục long mạch do Cao Biền trấn yểm thì sẽ phải nhờ đó mà nên nghiệp vương. Khúc Lãm đã đắp lại chỗ trấn yểm ở Điềm Giang, không phải ở Cổ Pháp mà là sông Hoàng Long ở Hoa Lư. Phù Chẩn đọc thiết là Phấn, chính là sách Bông (biến âm thành Phấn), quê của Đinh Bộ Lĩnh
Sử thuyết Hùng Việt cho rằng Tiên chủ Khúc Thừa Dụ là Lưu Tri Khiêm, Trung chủ Khúc Hạo là Lưu Ẩn, còn Hậu chủ Khúc Thừa Mỹ là Lưu Cung. Như vậy Khúc Lãm cũng mang họ Lưu – Lê, chính là sứ quân Trần Lãm hay Lưu Nham (Lưu Cung). Đây là một dẫn chứng nữa về liên hệ của họ Khúc ở đất Hồng Châu và họ Lưu của nước Đại Hưng và là dẫn chứng xác nhận thêm nhận định rằng sứ quân Trần Lãm chính là Tiết độ sứ Lưu Nham, cũng như mối liên hệ giữa Lý Công Uẩn ở Cổ Pháp và Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư.
“Gia phả” triều đại Lê – Lý của Đại Hưng – Đại Việt nay viết thêm:

le-ly-2

Tới đây có thể tóm tắt lại giai đoạn lịch sử này như sau:
Cao Biền, vị Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân đầu tiên sau khi đánh dẹp quân Nam Chiếu đã cho xây dựng một số căn cứ quân sự, trong đó có La thành (Thăng Long) và Hoa Lư. Vì quân Nam Chiếu vốn xuất phát từ vùng phía Nam (Trung Bộ) nên Hoa Lư lúc này đóng một vai trò quan trọng trong việc trấn giữ phía Nam. Sự có mặt của lớp gạch Giang Tây quân ở Hoa Lư, Hoàng thành Thăng Long và đất An Tôn (thành nhà Hồ) là bằng chứng của thời này. Khu vực ven biển Thái Bình cũng có một tiền đồn quân sự của Tĩnh Hải quân lúc này, với di vật là gạch Giang Tây quân tìm thấy ở Thái Thụy.
Sang thời Mạt Đường, Lưu Tri Khiêm hay Khúc Thừa Dụ là thứ sử Phong Châu bắt đầu dựng nghiệp, đầu tiên nhận chức Tiết độ sứ Tĩnh Hải cai quản toàn bộ đất Giao Châu. Con của Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo hay Lưu Ẩn không dừng lại đó mà đã dẫn quân đánh chiếm vùng Quảng Đông (Nghiễm Châu, Triệu Khánh), nhận tiếp chức Tiết độ sứ của đất Thanh Hải. Sang tới thời Lưu Nham, vị sứ quân Thanh Hải này đã xưng đế vương, lập quốc gia riêng lấy tên là Đại Việt, sau một thời gian đổi thành Đại Hưng. Truyền sử Việt gọi Lưu Nham là sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải khẩu. Truyền thuyết dân gian (Thiền uyển tập anh) gọi là Khúc Lãm.
Lý Công Uẩn người ở châu Cổ Pháp (Bắc Ninh), con của thứ sử Hoan châu Đinh Công Trứ. Quê ngoại của Lý Công Uẩn như vậy là ở Cổ Pháp, còn quê nội là ở Hoa Lư. Lý Công Uẩn – Đinh Bộ Lĩnh đã “đầu quân” cho sứ quân Trần Lãm, tức là theo Hưng đế Lưu Nham, được Lưu Nham gả con gái cho là công chúa Lê Thị Phất Ngân hay Trần Nương.
Lý Công Uẩn tên thật là Liễn. Uẩn là chỉ làng Diên Uẩn, quê mẹ của ông. Lý Công Uẩn là vị tước công họ Lý ở làng Diên Uẩn. Lý Liễn hay Lý Tiến là phò mã của Lưu Nham, là người có công đánh Nam Chiếu và thu vùng Tây Bắc vào đất đai nước Đại Hưng. Lý Liễn được Lê Nham phong làm thứ sử Giao Châu, cai quản vùng đất phía Tây của nước Đại Hưng. Sử Việt chép thành Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp bọn Lã Xử Bình rồi tự lĩnh làm Giao Châu soái…
Nước Đại Việt – Đại Hưng truyền tới đời Hậu Chủ Lưu Sưởng – Lưu Kế Hưng thì bị nhà Tống tiến đánh. Tên vua Lưu Kế Hưng chỉ rõ nước mà Lưu Cung lập ra là nước Đại Hưng, không phải Đại Hán, được Lưu Sưởng kế tục. Khi kinh đô Hưng Vương phủ (Phiên Ngung) thất thủ, Lưu Sưởng bị bắt đưa về Tống. Những viên gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên ở Hoa Lư và Hoàng thành Thăng Long là minh chứng của thời kỳ Đại Việt – Đại Hưng này trên đất Việt.
Khi nước Đại Hưng bị diệt, phò mã Lý Liễn ở Giao Châu nhận mình là truyền nhân của họ Lê (Lê Nham – Lưu Cung), giả theo nhà Tống, nhận sắc phong Tiết độ sứ Tĩnh Hải và Giao Chỉ quận vương. Ở trong châu thực chất Đinh Bộ Lĩnh – Lý Thái Tổ âm thầm chuẩn bị phục quốc, nhằm đòi lại cơ đồ nước Đại Việt mà bố vợ (Lưu Nham) đã lập nên. Đời Đinh Bộ Lĩnh việc này chưa làm được, đến đời con là Lý Thái Tông, sử Việt gọi là Lê Đại Hành tiếp tục công nghiệp. Cuộc chiến phá Tống của Lê Đại Hành – Lý Thái Tông mới là bắt đầu sự đụng độ giữa Việt và Tống. Phải tới thời Lý Thánh Tông, vị vua thứ 3 của nhà Lý, thì đất Tĩnh Hải Giao Châu mới đủ mạnh để xưng đế, lập quốc gia độc lập, lấy lại tên nước cũ là Đại Việt. Lý Thánh Tông chính thức tuyên bố họ Lý xưng vương, truy phong cho ông mình Đinh Liễn là Lý Thái Tổ, và cha mình Lê Đại Hành là Lý Thái Tông, tiến hành dời đô từ trị sở Giao Châu ở Hoa Lư về kinh Thành Thăng Long. Lịch sử nước Đại Việt như ta biết ngày nay bắt đầu từ đây…

Tái bút: 
Như trên, trong một số đoạn truyền thuyết Việt thì triều đình nước Đại Hưng ở Quảng Châu được gọi là triều Tiền Lê, Lưu Nham tương ứng với vua Lê Đại Hành. Xét vậy thì đoạn chuyện về Lê Long Đĩnh tranh ngôi với các huynh đệ cũng là chuyện của nước Đại Hưng.
Lưu Nham khi gần mất thì ngôi thái tử có 3 người con trai ngấp nghé là Tần vương Lưu Hoằng Độ, Tấn vương Lưu Hoằng Hi và Việt vương Lưu Hoằng Xương. Lưu Nham mất, con cả là Tần vương Lưu Hoằng Độ nối ngôi, lấy tên là Lưu Phần. Chỉ được ít lâu bị Lưu Phần bị người em là Lưu Hoằng Hi ra tay sát hại, đoạt ngôi, lấy tên là Lưu Thịnh. Lưu Thịnh sau đó giết hại nốt Việt vương Lưu Hoằng Xương.
Những cái tên Tần vương, Tấn vương và Việt vương này rất giống với thời Ngô ở Việt Nam. Còn chuyện 3 anh em họ Lưu tranh đoạt ngôi vua giống như chuyện 3 anh em Lê Long Đĩnh, Lê Long Việt và Lê Long Tích của triều Tiền Lê.
Lưu Thịnh đọc thiết là Lĩnh, còn Long Đĩnh cũng thiết Lĩnh. Như thế Lê Long Đĩnh tương ứng với Trung Tông Lưu Thịnh. Còn chuyện về sự xa hoa, trụy lạc của Lê Ngọa Triều có thể tương ứng với vị vua Lê cuối cùng của nước Đại Hưng là Lưu Sưởng.