Đinh Hoàng Lã Thị Ả

Cổng đình So.

Đình So ở xứ Đoài là ngôi đình cổ nổi tiếng với câu nói lưu truyền “đẹp đình So, to đình Sở”. Đình So nằm ở xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai của Hà Nội nay. Làng So còn có tên chữ là Sơn Lộ. Đình thờ Tam vị đại vương có công phò giúp vua Đinh dẹp loạn. Hai bên cửa đình So có câu đối:
威靈赫奕山前後
伍雨謳敭路往来
Uy linh hách dịch sơn tiền hậu
Ngũ vũ âu dương lộ vãng lai.
Tạm dịch
Núi trước sau oai linh đầy tỏ
Đường đi lại mưa hàng ngợi khen.
Câu đối này cho biết tên chữ của làng So là Sơn Lộ được viết bằng 2 chữ Nho 山路.
Trong cách đặt tên xưa cho các địa danh của người Việt bên cạnh một tên Nôm còn có thêm tên chữ. Tên chữ được dùng trong các ghi chép, văn bản xưa vì trước đây văn viết dùng chữ Nho chứ không dùng chữ Nôm. Tên chữ thường có liên hệ về ngữ nghĩa với tên Nôm của nơi được đặt tên. Nhưng mối liên hệ giữa tên Sơn Lộ với tên làng So lại không nằm ở nghĩa mà ở phần âm. Khi dùng phép phiên thiết Hán văn thì “Sơn Lộ” thiết “Sổ”. Xóm Sổ là nơi có đình làng So. “Sổ” cũng là “So”.
Thần tích đình So chép (theo TS Nguyễn Xuân Diện): Vào mùa xuân năm Canh Thìn có ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc nhà vốn rất nghèo, làm nghề đánh cá trên sông. Hai ông bà rất thích làm việc thiện, một việc thiện dù nhỏ cũng làm. Một hôm hai ông bà chài lưới trên sông Như Nguyệt, kéo được 15 dật vàng. Từ đấy hai ông bà làm ăn cứ khấm khá mãi lên nên cuộc sống rất khá giả.
Hiềm nỗi hai ông bà đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Ông vẫn thường nói: Tiền rừng gạo bể mà không có con thì sống không được vui và bàn với bà đi tìm nơi cầu tự. Hai ông bà nghe nói ở đền Hữu Linh, trang Sơn Lộ là nơi linh ứng cầu gì được nấy, bèn cùng nhau sắm sửa lễ vật đến đó cầu tự. Sớm hôm sau ông bà làm lễ tạ rồi xuống thuyền cùng với hai người vạn chài xuôi dòng sông Hát. Thuyền đang đi, trời bỗng nhiên tối sầm lại như đêm và một trận gió lớn ập đến. Lúc này thuyền chở ông bà đến địa phận trang Sơn Lộ, hai người ngẩng đầu nhìn lên trời thấy có đám mây vàng hướng vào bà mà hạ xuống. Lã thị hoảng sợ, nằm miên man. Sau đó bà có mang. Tháng 2 năm Quý Tỵ bà sinh được 3 người con trai…
Ba anh em này đã theo giúp Đinh Bộ Lĩnh, một người làm Chỉ huy sứ, một làm Đô úy, và một làm Hiệu úy, tất cả đều là tướng được giao nhiệm vụ cầm quân đi đánh dẹp sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Họ chém được chánh tướng Đỗ Thanh Long, giải thoát cho Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Tiên Hoàng lên ngôi bèn sắc phong 3 ông là Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại Vương. Trải qua các triều đại, Tam Thánh đều được sắc phong mỹ tự và cho trang Sơn Lộ đời đời thờ phụng.
Câu đối ở chính điện đình So ca ngợi 3 vị thành hoàng làng:
徳禀靈長駱鴻玄出神明冑
地鍾奇勝龍鳳環為拱衛星
Đức lẫm linh trường, Lạc Hồng huyền xuất thần minh trụ
Địa chung kỳ thắng, long phụng hoàn vi củng vệ tinh.
Tạm dịch:
Đức thiêng dài lâu, Lạc Hồng sinh diệu sáng dòng thánh
Đất đúc hơn lạ, rồng phượng chầu quanh hướng Vệ tinh.

P1190962Hát hầu thánh tại cửa đình So.

Ở làng So trước kia khi hát cửa đình hầu thánh phải kiêng 5 chữ: Hiển, Lã, Hiện, Suý, Lang. Hiển là tên huý của ông cụ thân sinh ra các thánh. Lã là tên họ của cụ bà Lã Thị Ả. Hiện, Suý và Lang là tên huý và tước phong của ba anh em nhà thánh. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ và tránh đi, ví như chữ “Hiển” thì đọc là Hởn, chữ “Lã” thì đọc là Lữ.
Việc nói tránh, nói lái ở làng So không chỉ trong khi hát cửa đình. Người dân trong làng mỗi khi nói chuyện kiêng không nói tới từ “nước lã”. Dù uống nước giếng, nước ao hồ người làng cũng nói tránh là nước chưa đun sôi. Vì từ “Lã” là họ bà Vương Mẫu, người sinh ra ba vị tướng thờ ở làng. Trong làng So đã lập đền thờ để ghi nhớ công ơn của bà. Có người lỡ mồm nói “nước lã” đã phải đến đền thờ của Vương mẫu để xin bà tha thứ.
Gắn liền với tục kiêng hèm này làng So còn có tục con gái đặt họ theo tên đệm của cha. Ví dụ tên bố là Nguyễn Tiến Thành, sinh được con gái đặt tên là Mai thì ghi khai sinh là Tiến Thị Mai. Việc đặt tên ngược này gây nhiều phiền toái, nhất là cho những phụ nữ ở làng khi ra ngoài đi làm…
Từ tất cả những thông tin kiêng húy và đặt họ ngược như vậy có thể thấy vị vương mẫu Lã Thị Ả ở làng So được sùng kính đặc biệt. Nếu áp dụng cách gọi tên ngược và nói tránh của làng So thì tên bà Lã Thị Ả có thể đọc thành Ả Lã. Đây chính là điểm mấu chốt để lần lại nguồn gốc của những nhân vật được thờ tại làng So.
Ả Lã là tên của Trưng Vương theo thần tích của làng Nại Xá (xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội). Lã, hay nói tránh là Lữ, là họ của Trưng Vương vì Trưng Vương mang họ Lữ của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt. Bà Lã Thị Ả ở làng So chính là Trưng Vương. Đây là lý do vì sao người dân làng phải kiêng chữ Lã và nói tránh, nói ngược họ của các con gái trong làng. Ba vị thành hoàng ở làng So là 3 vị tướng trong khởi nghĩa của Trưng Vương.
Tại sao Tam vị đại vương ở làng So sống vào thời Trưng Vương lại tham dự vào chuyện của vua Đinh? Vua Đinh đây là vua Đinh nào? Việc này không khó giải thích nếu biết rằng triều đại của Trưng Vương trong dân gian được gọi tên là triều Đinh. Ví dụ, câu đối ở đền Đồng Nhân (phường Hai Bà Trưng, Hà Nội), nơi thờ Hai Bà Trưng:
接貉開丁冠冕稱王三載史
驅穌抗馬山河還我萬年芳
Tiếp Lạc khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử
Khu Tô kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.
Dịch là:
Tiếp Lạc mở Đinh, áo mũ xưng vua ba năm sử
Đuổi Tô chống Mã, núi sông về ta vạn xuân thơm.
Theo câu đối này thì Hai Bà Trưng là người đã tiếp nối truyền thống Lạc Hồng của các vua Hùng và khai mở triều Đinh, làm vua trong 3 năm. Triều đại của Trưng Vương mang tên Đinh bởi vì Đinh hay định là tính chất tĩnh lặng của phương Tây trong Dịch lý. Đinh có nghĩa là hướng Tây, gọi vậy bởi Trưng Vương khởi nghĩa ở vùng Phong Châu – Tây Thổ: Ngàn Tây nổi áng phong trần (Đại Nam quốc sử diễn ca).
Câu đối khác ở đền thờ Hai Bà Trưng tại cửa sông Đáy (Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội), nơi Hai Bà Trưng đã lập hội thề, phất cờ khởi nghĩa. Trong đền có câu đối:
大義復夫讎猶令東漢當辰嶺南六十五城勞逺略
鴻圖肇國統從此皇丁而後越甸數千餘載定天書
Đại nghĩa phục phu thù, do kim Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.
Dịch:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán cùng thời, sáu mươi lăm thành Lĩnh Nam lập kế lớn
Cơ đồ dựng quốc thống, từ đó Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm Việt Điện định sách trời.
Một lần nữa thông tin từ dân gian cho biết triều đại của Trưng Vương có tên là Hoàng Đinh. Ở đình So cái tên này bị nhầm thành Đinh Tiên Hoàng, dẫn đến thần tích đã gắn các 3 vị thành hoàng làng vào cuộc dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh ở thế kỷ 10, sau thời Trưng Vương cả ngàn năm.

IMG_5294Một góc mái đình So.

Một điểm đáng chú ý khác trong thần tích đình So là 3 vị tướng đã giúp vua Đinh đánh dẹp sứ quân Đỗ Cảnh Thạc. Đỗ Cảnh Thạc được gọi là Đỗ Động tướng quân, được thờ ở vùng Thanh Oai (Bình Đà) và Quốc Oai, quanh khu vực Sài Sơn (chùa Thầy). Ở Quốc Oai tại xã Tuyết Nghĩa tương truyền còn có căn cứ thành Quèn của sứ quân Đỗ Cảnh Thạc. Khu vực này cũng là phạm vi thờ nhân vật Lý Phục Man (ở làng Giá – Yên Sở). Như đã từng biết Lý Phục Man là tên thờ của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt vì ông có tên Gia Thông, sinh ở làng Lữ… Lý Phục Man cũng được gọi là Đỗ Động tướng quân. Rất có thể Đỗ Cảnh Thạc thời Đinh Tiên Hoàng chính là Lữ Gia thời Hoàng Đinh của Trưng Vương.
Lời hát sử trong nghi lễ hát cửa đình về Trưng Vương:
Giết giặc xá chi là phận gái
Trưng nữ vương chèo lái ra tay
Đất Phong Châu phất phới ngọn cờ bay
Đuổi Tô Định 65 thành chung một dải…
Âm vang của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương những năm xưa trên vùng đất Hoàng Đinh – xứ Đoài lại được tái hiện ở đình So. Những sự tích các vị thần, những tục lệ còn lưu lại trong các làng xã Việt là những vết tích, những đầu mối, những chỉ dẫn xác đáng về lịch sử của dân tộc. Thần thánh sẽ “hiển linh” trong dân gian để làm sáng tỏ những nhân vật, những sự kiện từ trong quá khứ.

 

 

Phủ Tam ở Thái Bình

Trong đạo Tứ phủ thì phủ Tam là Thoải phủ. Các vị thần trong phủ này đều liên quan tới số Ba – Bát hay Tam – Tám. Mẫu Thoải là Mẫu đệ Tam, là nàng Ba (thần tích đền Dầm ở thôn Xâm Dương, Ninh Sở Thường Tín, Hà Nội) hay nàng Quý (Quý là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). Vua cha Thoải phủ là Bát Hải. Vị quan của Thoải phủ là Quan đệ Tam. Rồi ông Hoàng Bơ và cô Bơ thoải phủ (Bơ = Ba).
Đứng đầu Thoải phủ trước hết phải kể đến Vua cha Bát Hải Động Đình, người được thờ chính tại đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bát Hải hoàn toàn không phải nghĩa là 8 cửa biển. Bát hay Ba (số 3 và 8) đều là 2 con số của Hà thư chỉ phương Đông. Phủ Tam ở Động Đình là biển Đông. Nơi đây cũng gọi là vùng Đào Động.
Câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng:
桃江洞口祁千跡
生化神仙萬古傳
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Dịch:
Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
Nơi sông Đào đổ ra cửa Động là đất Thái Bình, tức là nơi sông Hồng (Đào) đổ ra biển Đông (Động Đình hồ). Trên mảnh đất này do đó lưu dấu rõ ràng các nhân vật của phủ Tam (Thoải phủ).
Thần tích đền Đồng Bằng mở đầu như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thụy An – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Tiếp đó Quý Nương sinh ra một bọc trứng, nở ra 3 con hoàng xà. Con hoàng xà lớn sau trở thành Vĩnh Công giúp vua Hùng đánh giặc Thục. Vĩnh Công được tôn là Vua cha Bát Hải Động Đình, đứng đầu Thoải phủ. Còn 2 con hoàng xà em được tập hợp trong trận chiến với quân Thục, trở thành 2 vị quan lớn dưới trướng Vĩnh Công.

Den An Co

Đền An Cố ở Thụy An, Thái Thụy, Thái Bình.

Hiện ở An Cố có đền lớn thờ một vị thần là Nam Hải đại vương. Vị này có cha là Phạm Xuyến, tên gọi Hải Công. Phạm Hải cũng giúp vua Hùng đánh Thục, xây dựng làng xóm ở miền ven biển, rồi một ngày hóa bên bờ biển ở An Cố.
Câu đối ở đền An Cố:
勦蜀冦固皇圖雄貉山河餘正氣
弭天灾安邑宇太平草木囿淳風
Tiễu Thục khấu cố hoàng đồ, Hùng Lạc sơn hà dư chính khí
Nhị thiên tai an ấp vũ, Thái Bình thảo mộc hữu thuần phong.
Dịch:
Trừ giặc Thục, vững hoàng đồ, non nước Lạc Hùng bao chính khí
Ngăn thiên tai, yên thôn ấp, cây cỏ Thái Bình đậm thuần phong.
Phạm Hải và Phạm Vĩnh ở Thái Bình được họ Phạm ghi nhận là những người họ Phạm đầu tiên được nhắc tới ở Việt Nam. Thực ra Phạm Hải và Phạm Vĩnh chỉ là một người. Trang An Cố như trong thần tích đền Đồng Bằng là quê mẹ của Vĩnh Công Bát Hải. Sự tương đồng về tên gọi, sự tích, địa điểm xác thực nhận định Nam Hải Đại Vương ở An Cố là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng.
Một minh chứng khác là tại đền An Cố gian ngoài cấm cung thờ 4 vị là Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan tuần phủ và Quan thần sát. Đây là chỉ dẫn trực tiếp cho thấy Phạm Hải liên quan tới Ngũ vị tôn quan của Tứ phủ. Ngũ vị tôn quan hợp thành Ban công đồng, trong đó có Quan đệ nhất thượng thiên, Quan đệ nhị giám sát, Quan đệ Tam thoải phủ, Quan đệ Tứ khâm sai, Quan đệ ngũ tuần tranh. Phạm Hải đứng đầu Ban Công đồng thì còn ai khác ngoài Vua cha Bát Hải Động Đình, vua cha của các vị quan lớn Tứ phủ.

Chinh dien An Co

Gian thờ Quan đệ nhị ở đền An Cố.

Vị Quan lớn của phủ Tam là Quan đệ Tam với nơi thờ chính tại đền Lảnh (Yên Lạc, Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam), nơi chân cầu Yên Lệnh. Quan lớn Lảnh chính là Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh, vị thần Bạch Hạc Tam Giang trong truyền thuyết (Lĩnh Nam chích quái). Địa danh Yên Lệnh nghĩa là nơi “yên nghỉ” của Trưởng Lệnh, vì Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội) gần đó. Tương tự, An Cố rất có thể là nơi “an nghỉ” của vị thánh Cả (Cổ – Cố) vì đó là nơi Vua cha Bát Hải đã “hóa”.

Văn chầu Quan đệ Tam bắt đầu như sau:
Trịnh giang biên doành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng Nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ Tam hoàng tử giáng sinh đền rồng.
“Trinh Giang” là đọc lệch của sông Vĩnh, con sông nơi giáng sinh Vĩnh Công Bát Hải và 2 em ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Còn “Nam minh” là biển Nam, ở đây cho thấy Động Đình chính là biển Nam minh hay biển Đông.

Sự tích về Quan Đệ Tam – Trưởng Lệnh hay hiệu thờ của thần là Trung Thành Phổ Tế Đại Vương ở vùng Phú Xuyên có vài dị bản khác nhau. Theo các thần tích phổ biến nhất như ở đình Đa Chất thì Trưởng Lệnh là 1 trong 5 người con của ông Đào Công Bột đã giúp vua Hùng đánh Thục. Họ Đào ở đây thực ra liên quan đến vùng Đào Động ở Thái Bình. Còn Bột Hải Công tương đương với Vua cha Bát Hải (Bột là biến âm của Bát).
Sự tích khác ở đình Cổ Chế (xã Phúc Tiến) thì cho biến Trưởng Lệnh mang họ Phạm. Họ này cũng là họ của Vua cha Bát Hải (Phạm Vĩnh hay Phạm Hải).
Đặc biệt thần tích của đình Cát Bi (xã Thụy Phú) còn cho biết Trưởng Lệnh là con của ông Nguyễn Cao Hành và bà Đoan Trang… Sự thể tưởng như khác biệt, vô lý, nhưng xét kỹ thì:
– Ông Nguyễn Cao Hành là dòng Tản Viên Sơn Thánh vì theo truyền thuyết về Tản Viên, cha của Sơn Thánh là ông Nguyễn Cao Hành.
– Bà Đoan Trang là Mẫu Thoải (“Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang”), mẹ của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng.
Đây là chuyện Kinh Dương Vương (Kinh Xuyên) lấy con gái Thần Long Động Đình trong Truyện Họ Hồng Bàng. Kinh Dương Vương ở đây là Tản Viên Sơn Thánh, đã “cùng vui với các loài thủy tộc” hay đã kết bạn với Thủy Tinh và xuống Thủy cung nhận cuốn sách ước trong thần tích về Tản Viên ở vùng Sơn Tây. Bát Hải Động Đình, vị vua cha của Thủy phủ, do vậy không ai khác là con của Kinh Dương Vương và Xích Lân Long Nữ, tức là cha Lạc Long Quân, thủy tổ của người Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, rõ ràng là vị vua của miền Thủy phủ – Động Đình.
Sự kết hợp các bộ tộc Nam Giao của Tản Viên (Lạc) và phía Đông của Long Nữ Động Đình (Long) đã khởi nguồn Việt tộc bởi cha Lạc – Long Quân. Đây là ý nghĩa của câu chuyện về Bát Hải Động Đình. Với sự giúp đỡ của bên mẹ (các vị quan lớn Thoải phủ) Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình đã đánh đuổi dòng tộc hướng Tây (=Thục) để lập nên quốc gia Đào – Hoa – Hạ (Hoa Đào trang) trong sử Việt.
Câu đối ở đền An Cố:
雄貉山河成萬古
都臺事業定千秋
Hùng Lạc sơn hà thành vạn cổ
Đô đài sự nghiệp định thiên thu.
Dịch:
Núi sông Lạc Hồng thành vạn cổ
Sự nghiệp đô đài định ngàn thu.
Người đã dựng thành non sông Hùng Lạc ngàn thu thì còn ai ngoài cha Lạc Long Quân?

Nam Hai Dai Vuong

Tượng Nam Hải đại vương ở đền An Cố.

Cuối cùng, ở đất Thái Bình nơi cửa Động còn truyền tích về vị Hoàng Bơ Thoải phủ. Hoàng Bơ xuất thế tại làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải). Không rõ cái tên Kênh Xuyên này có liên quan gì tới tên Kinh Xuyên của Kinh Dương Vương trong sự tích Mẫu thoải không. Đền thờ Hoàng Bơ nay được dựng ở Hưng Long (Tiền Hải), là nơi vị thần này đã giúp dân hàn gắn con đê biển, ngăn sóng lớn. Nơi Hoàng Bơ đi ra biển (“hóa”) gọi là An Long, cũng tương tự như những cái tên An Cố của Phạm Vĩnh và Yên Lệnh của Quan đệ Tam thoải phủ…

Viết thêm:

Theo “Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư”, ” Bách Việt Tộc Phả” thì cụ bà họ Đỗ, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương. Cụ sinh ngày mồng tám tháng tư và hoá (mất) ngày rằm tháng bảy. Cụ thường được gọi theo họ là Đỗ Quý Thị  (tức Quý bà họ Đỗ). Cụ lấy chồng người họ Nguyễn tên là Nguyễn Minh Khiết tức là Đế Minh. Hai cụ sinh ta Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương). Họ Nguyễn Vân ở làng Vân Nội vẫn cúng giỗ cụ hằng năm với bài văn cúng: “Thỉnh tổ tổng khoa – Cúng gia tiên”. Mộ và miếu thờ cụ ghi trong thư tịch cũ trên đây nay vẫn còn ở Ba La, thị xã Hà Đông.

Do có sự bất hoà với chồng (Đế Minh), Cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của Cụ giúp cho Lộc Tục Trưởng thành: Cụ theo đạo Bà La môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi, hết lòng giúp cháu (con của chị) cho đến khi Lộc Tục được cha là Đại Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên là Xích Quỷ. Tám vị mà Lộc Tục gọi là cậu (em mẹ) sau đều trở thành các vị “Kim Cương”, thường được gọi là Bát Bộ Kim Cương.

Công chúa Đoan Trang họ Đỗ tên là Quý Thị trong tộc phả này chính là Mẫu Thoải, hay Quý Nương sinh Hoàng xà ở Thái Bình. Cụ là con của Long Đỗ Hải Vương, tức là con gái của Thần Long Động Đình.

Tộc phả trên chép hơi nhầm lẫn ở chuyện tiếp theo. Bà Đoan Trang là mẹ của Lạc Long Quân, ở đây chép là Lộc Tục, sau thay cha cai quản đất nước. “Sự bất hòa” của bà Đoan Trang với chồng được nhắc tới là chuyện Mẫu Thoải bị Thảo Mai dèm pha và Kinh Xuyên ruồng bỏ. 8 em trai của dòng Mẫu Thoải đươc chép là Bát bộ kim cương trong đạo Phật là các vị quan lớn đã phò giúp Vĩnh Công – Lạc Long Quân đánh Thục, giành ngôi vị vương quyền.

Lâm Ấp và Giao Châu (phần 3)

Về Sĩ Nhiếp người cùng thời có thư mô tả như sau:
Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được… Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà (Triệu Đà) cũng không hơn được.
Người Hồ đi theo xe Sĩ Nhiếp đốt hương ở đây là người Hời hay người Chăm, của đất Hồ Tôn từ thời Hùng Vương. Các Man Di đều sợ phục…
Những mô tả trên cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa Giao Châu Sĩ Nhiếp và vùng đất Hời ở Nam Trung Bộ. Các thái thú các quận của Giao Châu cũng là họ hàng của Sĩ Nhiếp, bao gồm cả quận Nhật Nam, nơi khởi lập của Lâm Ấp.
Năm 226 Sĩ Nhiếp mất, thọ 90 tuổi. Nhà Ngô muốn tập trung quyền lực của mình ở Giao Châu, xóa bỏ quyền tự trị của họ Sĩ, nên đã chia Giao Châu thành 2 phần, là Giao Châu ở phía Nam và Quảng Châu ở phía Bắc, cử 2 thứ sử mới đến cai trị, đẩy Sĩ Huy, con Sĩ Nhiếp đi cai quản 1 quận xa. Sau khi Sĩ Huy bị giết 2 châu này lại nhập lại thành Giao Châu như cũ, thể hiện rõ sự chia tách này là nhằm phế truất quyền lực của họ hàng Sĩ Nhiếp.
Đây là một sai lầm lớn của nhà Ngô, đặc biệt là việc Lữ Đại đã lừa giết Sĩ Huy. Hành động này đã phá vỡ liên minh 3 vùng Đông Giao Châu, Tây Giao Châu và Trung Bộ Việt đã hình thành từ thời Khu Liên, dẫn đến tình trạng bất ổn ở Giao Châu và sự đánh phá, phục thù liên tục của họ Phạm từ miền Trung sau này. Bắt đầu từ đây khái niệm Lâm Ấp mới bó hẹp là chỉ khu vực miền Trung Việt do họ Phạm cai quản.
Khởi nghĩa của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh mà chính sử cho là nổ ra vào thời gian này ở Cửu Chân thực ra là đã nhầm lẫn giữa 2 sự kiện. Triệu Quốc Đạt là Khu Liên (Khu Đạt), người đã chống quân Đông Hán ở Cửu Chân, lập nước Lâm Ấp từ vùng Tượng Lâm đổ về phía Nam. Còn sự phản kháng nhà Ngô sau khi Sĩ Nhiếp mất ở Giao Châu – Cửu Chân là của con cháu Sĩ Nhiếp họ Phạm khi nhà Ngô phế bỏ quyền tự trị của dòng họ này.
Mất đi người lãnh đạo có uy tín và công đức như Sĩ Nhiếp, Giao Châu dễ dàng lâm vào cảnh bạo loạn. Năm 263, khi Ngụy diệt hậu duệ của Lý Bí (Lưu Bị) ở phía Bắc, viên lại Lã Hưng giết chết thái thú Giao Châu là Tôn Tư, giành quyền cai trị. Sau đó Lã Hưng theo về nhà Tấn. Phần phía Nam Giao Châu rơi vào tay Hán tộc. Một phần đất Giao Châu nhà Ngô còn giữ được ở phía Bắc buộc phải tách ra thành Quảng Châu.
Nhà Ngô tìm cách chiếm lại Giao Châu nhưng mấy lần đều thất bại, thậm chí còn mất thêm quận Uất Lâm của Quảng Châu. Phải tới năm 269, tướng Ngô là Đào Hoàng mới thắng trận một cách vất vả, giành lại được Giao Châu và Cửu Chân từ tay quân Tấn. Nhà Ngô phong cho Đào Hoàng làm Giao Châu mục.
Đặc biệt đáng chú ý là việc Đào Hoàng mở mang đất đai cho Giao Châu. Tấn thư kể: Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương đất đai hiểm trở, Di Lão hung hãn, trải nhiều đời không phục, Đào Hoàng chinh phạt, mở đặt 3 quận, cùng với Cửu Chân thành hơn 30 huyện.
3 quận mới lập này của Giao Châu được Đào Duy Anh xác định như sau: Vũ Bình là phía Nam vùng Tây Bắc Việt, nơi có huyện Phong Khê đời Hán. Tân Xương là phía Bắc vùng Tây Bắc, nơi có thành Văn Lang. Còn Cửu Đức là vùng Nghệ An.
Đào Hoàng đã thảo phạt ai để mở 3 quận mới? Theo vị trí các quận trên thì vùng Tây Bắc Việt không thuộc Giao Châu thời trước Đào Hoàng, cũng không thuộc đất đai của nhà Tấn. Đây chính là vùng đất người Di Lão do Mạnh Hoạch cai quản. Còn chuyện thảo phạt đất Nghệ An đặt quận Cửu Đức cũng lạ kỳ. Vì như vậy thì ra vùng đất từ Thanh Nghệ đổ vào Nam không hề thuộc Giao Châu thời Ngô, mãi tới Đào Hoàng mới mở thêm được 1 quận ở quãng Bắc Trung Bộ. Tức là quận Nhật Nam không thể là vùng Trung Bộ Việt như đang được định vị.
Thoi Dao Hoang

Vị trí các quận Giao Châu thời Đào Hoàng.

Sự kiện Đào Hoàng đánh người Di Lão mở 3 quận Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương đã chứng tỏ đây vốn là khu vực đất đai thuộc Nam Triệu – Mạnh Hoạch quản lý. Nhà Ngô đã loại bỏ con cháu Sĩ Nhiếp, tấn công Mạnh Hoạch ở Tây Bắc và Thanh Nghệ, tiến sát vào vùng đất Lâm Ấp từ Hoành Sơn đổ về Nam của Phạm Hùng. Đất đai của nhà Ngô được mở rộng nhưng liên minh chống Hán hình thành từ thời Lâm Ấp – Khu Liên đã hoàn toàn bị phá vỡ. Đó là điều đau xót khi vì những lợi ích mâu thuẫn riêng mà nhà Ngô đã quên mất giặc ngoài của người Việt là Hán tộc, đang là nhà Tấn ở phương Bắc. Tấn là từ phiên thiết Tây Hán, chỉ rõ một triều đại của người Hán.
Từ góc độ người dân Việt ở Giao Chỉ thì Đào Hoàng là một vị châu mục có công đức lớn, đã giải phóng Giao Châu khỏi sự thống trị của Hán tộc (Tấn). Chính vì vậy mà khi Tôn Hạo định thuyên chuyển Đào Hoàng đi làm đô đốc Vũ Xương, dời đến Hợp Phố đã có nghìn người Giao Châu xin cho Hoàng ở lại. Tôn Hạo bèn cho Đào Hoàng ở lại Giao Châu.
Năm 280, nhà Tấn đem quân diệt Ngô, hạ Kiến Nghiệp, bắt sống Tôn Hạo. Tôn Hạo đích thân viết một bức thư khuyên Đào Hoàng quy thuận nhà Tấn. Đào Hoàng khóc suốt mấy ngày, sau cùng mới chịu, sai sứ đưa ấn bao về Lạc Dương. Nhà Tấn cho ông giữ nguyên chức cũ, lại ban tước Uyển Lăng hầu, Quan quân tướng quân.
Một vị tướng người Việt, đã vất vả giành giật Giao Châu từ tay quân Tấn, nay lại phải đầu hàng, thật đau xót, mới phải khóc suốt mấy ngày trước khi nộp lại ấn tín. Thời thế đã thay đổi. Đào Hoàng không thể theo gương Sĩ Nhiếp mà chống lại nhà Tấn nữa khi Ngô chủ đã hàng. Nhưng ông cũng đã tiếp tục giữ yên Giao Châu trong thời gian tiếp theo, không để nhà Tấn áp bức ở khu vực này.
Tấn thư còn ghi chuyện vua Tấn muốn giảm quân đội ở Giao Châu, Đào Hoàng dâng sớ nói:
Giao Châu khuất nẻo riêng một miền, chen vào giữa núi và biển, ngoài cách với Lâm Ấp chỉ có bảy trăm dặm. Tướng Di là Phạm Hùng mấy đời làm giặc lẩn lút, thường cướp phá trăm họ. Lại kết liên với Phù Nam, hăng vào quấy rối: nào đánh phá quận – huyện; nào giết hại quan, dân… Tôi khi xưa được nước cũ kén dùng, đóng quân ở miền Nam có hơn mười năm. Tuy trước sau đánh dẹp, giết được bọn Cừ Khôi nhưng trong núi, thẳm, hang cùng, vẫn còn có những quân nấp náu. Vả lại đám quân của tôi coi, vốn có hơn tám nghìn người. Đất miền Nam nóng ẩm, phần nhiều có khí độc. Lại thêm liên năm đánh dẹp, chết mòn mãi đi, hiện nay còn có hai nghìn bốn trăm hai mươi người. Nay bốn biển hỗn đồng, không đâu là không thần phục. Cố nhiên nên cuốn giáp, bỏ gươm chăm về lễ, nghĩa. Nhưng người trong châu này, chán chuyện yên vui thích gây họa loạn! Lại bờ biển phía nam Quảng Châu vòng quanh hơn sáu nghìn dặm, không chịu tòng phục đến hơn năm vạn nhà! Cùng với những bọn bất kham ở Quế Lâm cũng đến vạn nhà nữa! Đến như bọn chịu gánh vác việc quan, chỉ có hơn năm nghìn nhà. Môi răng của hai châu, vững được chỉ trông nhờ quân lính. Lại Ninh Châu. Hưng Cổ, tiếp giữ thượng lưu, cách quận Giao Chỉ nghìn sáu trăm dậm. Đường thủy, đường bộ đều thông. Giữ gìn lẫn cho nhau. Quân trong châu chưa nên rút bớt, để tỏ ra vẻ mảnh rẻ, trống rỗng…
Đào Hoàng đã viện lý do trong châu hay có bạo loạn, phải đối phó với Phạm Hùng ở Lâm Ấp… nên không thể giảm quân đội. Thực ra việc chống loạn và chống Lâm Ấp chỉ là một phần sự thật. Điều chính là Đào Hoàng không chịu giảm quân để duy trì vị thế tự trị của Giao Châu trước nhà Tấn. Vua Tấn đã không đạt được mục đích khi định hạn chế quyền lực của Đào Hoàng ở Giao Châu.

P1150393 (2)

Trán bia Tấn cố sứ trì tiết quan quân tướng quân Giao Châu mục Đào liệt hầu.

Năm 300 Đào Hoàng qua đời, người cả châu kêu khóc như chết mất cha mất mẹ. Người dân ở Giao Châu lập miếu thờ Đào Hoàng tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh, ngay cạnh thành Luy Lâu, trị sở của Giao Châu lúc đó. Tại đây còn lưu giữ được tấm bia chữ Hán cổ nhất Việt Nam mang tiêu đề Tấn cố sứ trì tiết quan quân tướng quân Giao Châu mục Đào liệt hầu. Mặt trước bia khắc niên hiệu Kiến Hưng thứ 2 (314), thời Tấn.

Mieu Dao HoangMiếu thờ Đào Hoàng ở thôn Thanh Hoài, Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Câu đối ở miếu thờ Đào Hoàng tại thôn Thanh Hoài:
威徳青藩吴北牧
恩施赤子越南慈
Uy đức thanh phiên Ngô Bắc mục
Ân thi xích tử Việt Nam từ.
Dịch:
Ngô Bắc mục oai đức rạng phiên
Mẹ Việt Nam ơn bày con đỏ.

Tục thờ Giao Châu mục Đào Hoàng như vậy vẫn còn tới nay. Người Việt hoàn toàn đúng khi coi vị châu mục này như từ mẫu, và thờ cúng hương hỏa không ngớt. Đào liệt hầu là người đã giải phóng Giao Châu khỏi tay nhà Tấn và duy trì sự yên ổn, tự trị cho vùng đất này ngay cả sau khi đã phải hàng Tấn.

Lâm Ấp và Giao Châu (phần 2)

Vào thời Hán Mạt, tại khu vực Giao Châu Đô Dương Khu Liên đã tiếp nối sự nghiệp của Nhị Trưng Vương, chặn Hán quân tại khu vực Tượng Lâm, là vùng đất nằm giữa Cửu Chân và Nhật Nam hay Quý Châu và Quảng Tây. Khu Liên có lẽ đã tử trận trong cuộc chiến này, nhưng cả một vùng đất phương Nam rộng lớn từ Nhật Nam đổ về đã thoát khỏi sự thống trị của Hán tộc.
Đối với vùng đất Lâm Ấp, nhà Hán thực hiện theo chính sách mà Lý Cố đề ra (Hậu Hán thư):
Quân ta ở Nhật Nam đơn chiếc và thiếu lương, giữ không được, đánh cũng không xong, chỉ có thể dời hết cả lại dân (người Trung Quốc) về Bắc để dựa vào Giao Chỉ. Việc yên rồi sẽ khiến trở về. Mộ người Man Di khiến họ tự đánh họ, lại chở vàng, lụa để tự cấp cho họ. Kẻ nào có thể phản gián, khiến giặc đầu thú được thì hứa thưởng bằng cách phong hầu cấp đất.
Nhà Đông Hán đã không thể đánh dẹp được những cuộc khởi nghĩa ở phương Nam, đành phải rút hết người Hán về, để quyền quản lý cho người bản xứ, chấp nhận phong hầu cấp đất. Chính tình thế này đã làm xuất hiện Sĩ Nhiếp ở Giao Châu.
Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ Sĩ Vương chép: Đinh Mão năm thứ 1 (187) (Hán Trung Bình năm thứ 4). Vương có 3 người em trai là Nhất, Vĩ và Vũ. Bấy giờ thứ sử Chu Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương (Sĩ Nhiếp) bèn dâng biểu cử Nhất làm thái thú Hợp Phố, Vĩ làm thái thú Cửu Chân, Vũ làm thái thú Nam Hải.
Thứ sử Chu Phù đã bị giết chết trong cuộc khởi nghĩa của Khu Liên. Anh em Sĩ Nhiếp nhân đó đã được phong nhận làm thái thú các quận của Giao Châu (Giao Chỉ, Nhật Nam, Hợp Phố, Cửu Chân, Nam Hải). Theo như chính sách mà Lý Cố đã đề ra thì có thể thấy anh em Sĩ Nhiếp là những người bản xứ, được phủ dụ phong hầu cấp đất tại Giao Châu. Năm 203 theo đề nghị của Sĩ Nhiếp, nhà Đông Hán đã buộc phải công nhận 7 quận phía Nam gộp lại thành Giao Châu, do Sĩ Nhiếp quản lý. Nhìn từ góc độ của người Việt ở phương Nam thì Sĩ Nhiếp chính là người đã tiếp quản nước Lâm Ấp của Khu Liên, dưới danh nghĩa chư hầu của nhà Đông Hán. Vì vậy mặc dù Sĩ Nhiếp không lên ngôi nhưng sử Việt vẫn gọi là Sĩ Vương và dành hẳn một kỷ trong sách sử cho thời kỳ này.
Trong khi đó nhà Đông Hán suy sụp sau khởi nghĩa Khăn Vàng của Trưng Trắc Trưng Nhị (Trương Giác, Trương Lương). Người Bách Việt ở Hoa Nam đã dành thắng lợi trước quân Hán ở khu vực Nam Trường Giang. Tôn Quyền dựng nên nước Ngô ở phía Đông. Anh em Lưu Biểu Lưu Bị làm nên nước Thục ở vùng Kinh Châu, Quý Châu và Ích Châu. Năm 210 Sĩ Nhiếp đem Giao Châu về với Ngô Quyền, được phong làm Tả tướng quân, rồi Long Biên hầu.
Truyền thuyết Việt lưu lại công đức của Sĩ Nhiếp dưới tên danh tướng Phạm Tu của Lý Nam Đế. Lý Nam Đế ở đây là Khu Liên, người khởi dựng nước Nam – Lâm Ấp. Phạm Tu cũng có các danh phong Tả tướng quân, Long Biên hầu. Sĩ Nhiếp mang họ Phạm vì sử sách cho biết người kế tục ở Lâm Ấp là cháu bên ngoại của Khu Liên họ Phạm.
Câu đối ở cổng đền thờ Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á, xã Gia Đông, Thuận Thành, Bắc Ninh:
豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.
Với ân đức của Sĩ Nhiếp duy trì yên ổn Giao Châu trong 40 năm trong vòng vây của quân Hán và dưới thời Ngô, Sĩ Nhiếp còn được dân gian tôn thần, trở thành vị thành hoàng của thành Thăng Long. Thần Long Đỗ thực ra là danh phong Long Độ đình hầu của Sĩ Nhiếp. Vị thần sông Tô Lịch là Phạm Tu hay Phạm Tô, cũng chính là Sĩ Nhiếp.
Sĩ Nhiếp trở thành một vị thủy thần, bảo hộ cho thành Thăng Long. Hơn nữa Sĩ Nhiếp còn là người tác lập nên tục thờ Tứ pháp, đứng đầu là Pháp Vân (thần Mây) ở khu vực Luy Lâu cũ (Bắc Ninh – Hưng Yên). Phạm Tu Sĩ Nhiếp cũng là vua Mây họ Phạm ở đất Đằng Châu (Hưng Yên).

Me DauBan thờ Sĩ Nhiếp ở đình Mễ Đậu, Việt Hưng, Văn Lâm, Hưng Yên.

Trong khi ở phía Đông Giao Chỉ Sĩ Nhiếp nắm quyền cai quản thì ở phía Tây, trên các khu vực miền núi Mường Mán, người lãnh đạo lúc này là Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch là dòng dõi của nhà Triệu Nam Việt, sau khởi nghĩa của Trưng Vương họ Lữ không thành, vẫn hoạt động ở các khu vực miền núi Tây Bắc, Lào và Thanh Nghệ như trong Truyện Nam Chiếu chép:
Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà. Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu.
Không rõ Mạnh Hoạch có tham gia trong khởi nghĩa của Khu Liên hay không, nhưng chắc chắn khu vực Tây Bắc Việt vẫn bất phục Đông Hán từ trước. Phải mãi tới khi Vũ Hầu Gia Cát dẫn binh xuống và dùng chính sách chiêu dụ thì Mạnh Hoạch mới phục tùng nhà Thục, nhưng vẫn giữ quyền tự trị ở phương Nam.
Tộc phả họ Phạm Công ở Quảng Ngãi cung cấp những thông tin rất xác đáng về thời kỳ này: Cuối đời Hùng Duệ Vương con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái Châu (Bình Trị Thiên) và Trung Châu (gọi là xứ Lâm Ấp) – tức là Nam Trung Bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 TCN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 TCN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).
Đời Hùng Duệ Vương ở đây có thể hiểu là thời Vương Mãng. Vương Mãng nghĩa là vị vua cuối cùng (Mãn) của họ Hùng (người Bách Việt). Cuối thời Tân của Vương Mãng là thời Đông Hán. Phạm Duy Minh trong tộc phả này là Đằng Châu Sĩ Nhiếp Phạm Tu. Lý Thành là đại diện cho nước Nam Triệu ở vùng Tây Bắc, hay Mạnh Hoạch. Vùng Nam Trung Bộ do con của Sĩ Nhiếp là Phạm Duy Hinh vào trấn thủ. Cả 3 khu vực này đều bắt đầu từ nước Lâm Ấp của Khu Liên khởi dựng trước đó, có quan hệ mật thiết với nhau, cùng là đồng minh chống Hán.

Lam Ap Tam quoc

Lâm Ấp thời Tam quốc.

Câu đối ở đình Mễ Đậu (Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên) về Sĩ Nhiếp:
於北朝當吳蜀之衝保全一境
衍南海以孔孟之道徳澤千秋
Ư Bắc triều đương Ngô Thục chi xung, bảo toàn nhất cảnh
Diễn Nam Hải dĩ Khổng Mạnh chi đạo, đức trạch thiên thu.
Dịch:
Đối đầu Ngô Thục ở Bắc triều, giữ vẹn toàn cảnh sắc
Lấy đạo Khổng Mạnh truyền Nam Hải, thấm công đức ngàn thu.
Sĩ Nhiếp, vị tướng họ Phạm đã kế tục sự nghiệp của Khu Liên tại Lâm Ấp không thể bị lãng quên. Mối liên hệ Giao Châu và Lâm Ấp rất gắn bó trong thời kỳ này.

Lâm Ấp và Giao Châu (phần 1)

Dưới thời Hiếu Vũ Đế Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công tiêu diệt nước Nam Việt của nhà Triệu. Đất Nam Việt cũ được chia thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô, Đam Nhĩ, Châu Nhai. Theo sử sách hiện tại vào năm 40 tại Giao Chỉ đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống lại nhà Hán. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai Bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.
Câu đối ở cổng đền thờ Trưng Vương tại Hát Môn, tương truyền do Cao Bá Quát đề:
縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Trong vế đối thứ nhất có cụm từ “kim đao” 金刀 là chiết tự của chữ Lưu 劉, họ của các vua Hán. Câu đối này có thể được dịch như sau:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.
Vế đối thứ nhất nói tới chí khí của Trưng Vương đã khởi nghĩa chống quân Hán, lập nên một “thiên hạ”, một mảnh trời riêng của mình. Vế đối thứ hai nói tới cột đồng do Mã Viện nhà Đông Hán dựng nên, nhưng ở đây lại là để đánh dấu phân giới đất đai với Trưng Vương. Trưng Vương thậm chí còn không bằng lòng với vị trí cột đồng phân giới này.

IMG_8025 (2)Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội).

Quan niệm rằng đồng trụ Mã Viện là dùng để phân giới hai nước Hán – Trưng cũng được Thiên Nam ngữ lục nhắc tới:

Viện bèn cắt giới phân cho
Man Thành đắp lũy ấy là Tư Minh
Đồng trụ cắm ở Man Thành
Hán – Trưng hai nước dẫn binh cùng về.

Khởi nghĩa Trưng Vương đã không thất bại mà đã buộc nhà Hán phải giảng hòa và đắp lũy, dựng cột phân biên. Biên giới nước của Trưng Vương lúc đó là ở Man Thành – phía Bắc Quảng Tây.
Tấn thư chép: Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm thời Hán, là nơi Mã Viện dựng cột đồng.
Như vậy cột đồng Mã Viện dựng ở Tượng Lâm là ở phía Bắc Quảng Tây. Phía Nam cột đồng là nước Lâm Ấp. Tức là Lâm Ấp chính là nước hình thành từ khởi nghĩa của Trưng Vương thời Đông Hán.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Quý Mão, mùa xuân, tháng Giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.
Cư Phong được chú là ở Cửu Chân – Thanh Hóa. Mã Viện tiến quân đến đất Cửu Chân thì dừng lại, dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng. Như vậy khu vực từ Nghệ An đổ về Nam Trung Bộ không bị Mã Viện tấn công, hay không nằm trong đất của nhà Đông Hán từ sau cuộc tấn công của Mã Viện. Khu vực Trung Bộ Việt này được cho là quận Nhật Nam, là quận đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương. Điều lạ là cũng tại Nhật Nam sau đó Khu Liên đã khởi nghĩa lập nước Lâm Ấp. Quận “Nhật Nam” ở miền Trung Việt chưa hề bị quân Đông Hán chiếm, thì làm sao Khu Liên, con của công tào địa phương lại phải khởi nghĩa giết huyện lệnh?
Hậu Hán thư chép: Năm thứ 12 hiệu Vĩnh Nguyên (100)… hơn 2.000 người Man Di huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam cướp bóc trăm họ, đốt phá chùa, công quán, quận, huyện phát binh đánh, chém được bọn tướng giặc còn dư chúng thì đầu hàng. Bấy giờ đặt chức Tướng binh trưởng sự ở Tượng Lâm để phòng hậu họa…
Năm thứ 2 hiệu Vĩnh Hòa (137) người Man Di ngoài cõi là bọn Khu Liên ở Tượng Lâm, quận Nhật Nam, mấy nghìn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành và chùa, giết trưởng lại, thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn phát binh 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân hơn vạn người đến cứu. Quân sĩ sợ đi xa bèn phản trở lại đánh bản phủ. Hai quân tuy đánh phá được bọn làm phản nhưng thế giặc trở lại thịnh. Gặp có quan Thị lang sứ là Giã Xương đương đi sứ ở quận Nhật Nam, bèn cùng với chây quận hợp sức đánh giặc. Đánh không được lại bị giặc vây, hơn 1 năm mà binh khí lương thực đều không gửi đến được. Vua Hán lấy làm lo. Năm sau bèn vời công khanh bách quan cùng các thuộc quan 4 phủ để hỏi phương lược mọi người đều bàn nên sai đại tướng phát 4 vạn quân các châu Kinh Dương Duyên Dự đi đánh, nhưng quan Đại tướng quân tòng sự trung lang là Lý Cố bác đi nói rằng: “… Quân ta ở Nhật Nam đơn chiếc và thiếu lương, giữ không được, đánh cũng không xong, chỉ có thể dời hết cả lại dân (người Trung Quốc) về Bắc để dựa vào Giao Chỉ. Việc yên rồi sẽ khiến trở về. Mộ người Man Di khiến họ tự đánh họ, lại chở vàng, lụa để tự cấp cho họ. Kẻ nào có thể phản gián, khiến giặc đầu thú được thì hứa thưởng bằng cách phong hầu cấp đất…”. Theo lời bàn của Lý Cố, lấy Chúc Lương làm Thái thú Cửu Chân… Lương đến Cửu Chân một mình vào giữa giặc, bày phương lược, lấy uy tín mà chiêu hàng, kẻ hàng có hơn vạn người, đều vì Lương mà xây dựng lại thành và chùa…
Năm đầu hiệu Kiến Phong (144) hơn nghìn người Man Di quận Nhật Nam lại đánh đốt huyện ấp, rồi phiến động cả dân Cửu Chân, liên kết với họ. Thứ sử Giao Chỉ là Hạ Phương, người Chử Giang, mở ơn chiêu dụ, giặc đều hàng phục…
Năm thứ 3 hiệu Vĩnh Thọ (157) huyện lệnh Cư Phong tham bạo vô độ, người trong huyện là bọn Chu Đạt cùng người Man Di họp đánh giết huyện lệnh đông đến 4.000 – 5.000 người, rồi tiến đánh quận Cửu Chân. Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức tử trận… Đô úy Cửu Chân là Ngụy Lãng đánh phá được…
Bọn tướng của giặc còn đóng quân giữ Nhật Nam, chúng lại trở nên cường thịnh. Năm thứ 3 hiệu Diên Hy (160) (vua Hán) lại bổ Hạ Phương làm Thứ sử Giao Chỉ. Phương vốn uy tín đã nổi tiếng, quân giặc ở Nhật Nam nghe tiếng thì rủ nhau đến hàng Phương đến hơn 2 vạn người…
Năm đầu hiệu Quang Hòa (178) người Man ở Giao Chỉ, Hợp Phố, Ô Hử làm phản, chiêu dụ người Cửu Chân và Nhật Nam mấy vạn người đánh lấy quận huyện. Năm thứ 4 Thứ sử Chu Tuấn đánh phá được. Năm thứ 6, nước ở ngoài cõi Nhật Nam lại trở lại triều cống.
Những thông tin của Hậu Hán thư cho thấy suốt thời Đông Hán khu vực Giao Châu không lúc nào yên. Bắt đầu từ khi quân Đông Hán chiếm được Giao Châu từ tay các thái thú châu mục Đặng Nhượng Tích Quang, người Việt luôn quật cường nổi dậy. Đọc lịch sử lúc này mới hiểu thế nào là lấy máu xương đắp đổi núi sông. Hàng ngàn, hàng vạn người nối tiếp nhau đứng dậy, ngã xuống vì độc lập ở các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
Căn cứ theo các thông tin trên thì quận Nhật Nam là một quận lớn nằm trong đất nhà Đông Hán. Như vậy Nhật Nam không thể là khu vực vùng Trung và Nam Trung Bộ ngày nay được vì Mã Viện đã xác nhận mốc giới nhà Đông Hán ở Cửu Chân, nằm phía Bắc hơn nhiều so với miền Trung.
Nhật Nam phải là khu vực Quảng Tây. Huyện Tượng Lâm nơi Khu Liên khởi nghĩa là vùng đất nằm giữa Tượng Quận và Quế Lâm, tức là quãng giữa Vân Nam – Quý Châu – Quảng Tây. Quý Châu được chép thành Cửu Chân, không phải ở đất Thanh Hóa. Có như vậy thì mới có thể hiểu cột đồng Mã Viện trên đất Cửu Chân – Tượng Lâm lại là ở Man Thành – Quảng Tây.

Lam ApVí trí các quận phía Nam nhà Đông Hán.

Thời điểm Khu Liên lập quốc qua các sử liệu không rõ ràng. Lúc thì là năm 137 Khu Liên khởi nghĩa. Lúc thì tới tận năm 192 mới giết Thứ sử Chu Phù, lập nước Lâm Ấp. Hai thời gian này cách nhau tới 55 năm. Khu Liên khởi nghĩa từ năm 137 tới năm 192 thì đã ngoài 80 tuổi rồi, còn làm vua gì nữa?
Cũng trong quãng thời gian giữa 137 và 192 ở Cửu Chân và Nhật Nam lại có khởi nghĩa lớn hàng vạn người của Chu Đạt. Vậy lúc đó Khu Liên ở đâu? Rõ ràng chỉ có thể Chu Đạt chính là Khu Liên (còn có tên là Khu Đạt).
Cột đồng mà Mã Viện làm mốc giữa hai nước Hán và Lâm Ấp như vậy phải là được dựng ở thời kỳ này. Đô Dương cũng là Khu Liên – Chu Đạt, người đã buộc quân Hán phải dừng bước ở Cửu Chân (Quý Châu), cắm cột đồng ở Tượng Lâm (Quảng Tây). Nước Lâm Ấp từ Khu Liên là toàn bộ khu vực phía Nam từ Quảng Tây tới miền Trung Việt.
Tùy thư xác nhận mối liên quan giữa Khu Liên và khởi nghĩa Trưng Vương: Lâm Ấp trước đây, nhân loạn người con gái Trưng Trắc ở Giao Chỉ thời Hán Mạt, con viên công tào trong huyện là Khu Liên giết huyện lệnh tư xưng làm vua.
Khu Liên chính là Đô Dương, người đã tiếp nối thành công sự nghiệp của Trưng Vương trên đất Lâm Ấp, khởi dựng một quốc gia phương Nam rộng lớn không thuộc Hán. Thắng lợi của Khu Liên làm tiền đề cho các vùng đất phương Nam thoát khỏi sự xâm lược của Hán tộc trong hàng trăm năm tiếp theo.

Khởi nghĩa Trưng Vương thời Tây Hán

Theo chính sử hiện tại, khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra vào năm 40 khi chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách bị thái thú Tô Định của nhà Đông Hán giết chết. Trưng Trắc lập đàn ở cửa sông Hát thề đền nợ nước, trả thù nhà. Từ vùng Phong Châu Hai Bà Trưng Trắc Trưng Nhị đánh xuống Long Biên, đuổi Tô Định, chiếm được 65 thành ở vùng Lĩnh Ngoại. Trưng Trắc lên ngôi, làm vua được 3 năm thì nhà Đông Hán cử Mã Viện làm Phục Ba tướng quân dẫn quân thủy bộ tiến vào. Sau một số trận đánh lớn như ở Lãng Bạc, Hai Bà đã tử tiết tại Cấm Khê, kết thúc một cuộc khởi nghĩa hào hùng và bi tráng của 2 nữ vương.

Trong khi sử sách Trung Quốc có rất ít thông tin về khởi nghĩa của Trưng Vương tại Giao Chỉ thì trong dân gian có rất nhiều tướng lĩnh của khởi nghĩa Hai Bà Trưng được thờ ở khắp miền Bắc nước ta. Tuy nhiên, những thần tích về các tướng lĩnh của Trưng Vương lại có những thông tin rất lạ về thời điểm của cuộc khởi nghĩa. Ví dụ như thần tích đình Lạc Cầu (Giai Phạm, Yên Mỹ, Hưng Yên) kể về 2 vị thành hoàng là Trương Công Tuấn và Lý Công Mẫn là tướng Tham tán của Trưng Vương, nhưng lại bắt đầu thần tích vào thời Tây Hán, Tô Định được cử làm thái thú nước ta… Tô Định là thái thú nhà Tây Hán, vậy Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào lúc nào?

Đình Nôm (Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên).

Cũng ở Hưng Yên có đình Đại Đồng (Văn Lâm) hay còn gọi là đình Nôm, thờ vị thành hoàng là đức thánh Tam Giang thời Hai Bà Trưng. Làng Nôm là một làng còn lưu được nhiều nét văn hóa cổ của vùng đất Phố Hiến. Đình có kiến trúc theo phong cách hội quán Phúc Kiến. Thần tích đình Nôm kể (Theo cuốn Di tích lịch sử – văn hóa Hưng Yên):
Vào thời Tây Hán ở trang Vân Mẫu thuộc đạo Bắc Giang có người con gái họ Phạm húy là Tĩnh. Năm 18 tuổi nổi tiếng về tài sắc nhưng nàng không muốn lấy chồng, chỉ một lòng theo đạo Phật. Nàng đến chùa Pháp Vân thấy cảnh chùa linh ứng phù hợp với tâm linh của mình liền xin tu ở chùa. Cò lần nàng ra sông Nguyệt Đức tắm, bỗng trời đất tối sầm, sóng gió nổi lên một con thuồng luồng quấn chặt lấy nàng. Đêm ấy nàng nằm mơ thấy mình nuốt vầng trăng vào bụng, từ đó mang thai. Đến ngày 10 tháng 2 năm Nhâm Thìn nàng sinh được người con trai khôi ngô tuấn tú, tướng mạo khác thường, đặt tên là Tam Giang.
Lớn lên Tam Giang trở thành trang nam nhi dũng lược, văn võ kiêm toàn. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, Tam Giang đứng lên chiêu mộ trai tráng quanh vùng tham gia và được cử làm Điện tiền chỉ huy tướng quân…
Sau một thời gian quân của Hai Bà Trưng đánh thắng giặc Hán… Tam Giang trở về trấn sở ở trại Đồng Cân, trang Đồng Xá sinh cơ lập nghiệp. Thấy cháu gái Triệu Đà là Triệu Mỵ Nương xinh đẹp nết na, Tam Giang lấy làm vợ. Từ đó nhân dân trại Đồng Cân được sống yên vui.
Ba năm sau nhà Hán cử Mã Viện sang xâm lược. Tam Giang ra trận nhưng thế giặc mạnh, quân ta bị thua. Tam Giang cùng mẹ và vợ xuống thuyền ở bến đò sông Nguyệt Đức rồi vùng tuẫn nạn trên sông.
Hiện đình Nôm thờ thánh Tam Giang, còn bà mẹ Phạm Tĩnh và vợ ông là Triệu Mỵ Nương được thờ tại chùa Nôm. Câu đối ở nghi môn đình Nôm:
生為將死為神萬古英靈桐嶺峙
功在徴名在漢一心忠義徳江清
Sinh vi tướng tử vi thần vạn cổ anh linh Đồng lĩnh trĩ
Công tại Trưng danh tại Hán nhất tâm trung nghĩa Đức giang thanh.
Dịch:
Sinh là tướng chết là thần, vạn cổ anh linh cao Đồng Lĩnh
Công ở Trưng danh ở Hán, một lòng trung nghĩa sáng Đức Giang.
Hay câu đối khác:
六十城東洛大都漢氏山河幾可轉
百千載南朝名蹟徵家義烈豈能磨
Lục thập thành Đông Lạc đại đô, Hán thị sơn hà ki khả chuyển
Bách thiên tải Nam triều danh tích, Trưng gia nghĩa liệt khải năng ma.
Dịch:
Sáu mươi thành đô lớn Đông Lạc, thời Hán núi sông mà lay chuyển
Trăm ngàn năm tích nổi Nam triều, nhà Trưng công nghĩa chẳng từ nan.

Ban thờ mẹ và vợ thánh Tam Giang ở chùa Nôm.

Vấn đề là một “Điền tiền chỉ huy tướng”, tức là chức vụ cầm đầu quân đội, của Hai Bà Trưng lại lấy vợ và cháu gái Triệu Đà. Triệu Đà là vua nước Nam Việt từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, thời Tây Hán. Cháu gái Triệu Đà đến năm 40 sau Công nguyên đã ngoài trăm tuổi, sao lại còn lấy chồng là đại tướng của Trưng Vương? Liên hệ giữa nhà Triệu Nam Việt và Trưng Vương là như thế nào?
Ở Hưng Yên còn một di tích khác vời thần tích nêu cụ thể về thời gian giữa nhà Triệu và Trưng Vương. Đình và đền thôn Thượng Bùi ở xã Trung Hòa, Yên Mỹ kể:
Ở động Hoa Lư, huyện An Khánh, phủ Trường An, châu Ái có người tên là Ngô Thông vốn dòng dõi thế gia. Ngô Thông làm đến chức Phủ doãn phủ Hà Trung. Lại có người tên là Phạm Cầu, người động Nga Sơn, huyện Thanh Sơn, phủ Hà Trung, làm đến chức Thái phó ở đời Triệu Ai Vương, được bổ nhiệm làm Bộ chúa Hải Dương… Hai họ Ngô Phạm thân thiết với nhau và có giao ước sẽ kết gả con cho nhau.
Ngô Công sinh con trai đặt tên là Ngọ. Nhà họ Phạm sinh hai con gái, đặt tên là Nga Nương và Châu Nương…
Năm Ngọ Công 11 tuổi cha bị quân Hán giết hại, mẹ sau cũng mất theo. Ngọ Công trở thành mồ côi, tìm đến nhà Phạm Công nương nhờ. Khi Ngọ Công 17 tuổi Phạm Công gả Nga Nương cho Ngọ Công. Lúc ất Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh Tô Định. Ngọ Công và Nga Nương đem quân tướng bái yết Trưng Vương. Trưng Vương phong cho Ngọ Công làm Than tán quốc chính thượng tướng quân Ngọ Phong Hầu và Nga Nương là Thống Lĩnh tả hữu nội vệ nữ tốt Nguyệt Nga công chúa…
Như vậy, Phạm Công người Thanh Hóa, làm chức Thái phó đời Triệu Ai Vương (117 TCN – 112 TCN). Thế mà con là Nguyệt Nga khi mười bảy đôi mươi lại là tướng thống lĩnh nội vệ của Trưng Vương. Tất cả những thần tích nêu trên ở Hưng Yên chỉ ra rõ ràng rằng có một khởi nghĩa Trưng Vương xảy ra không phải vào thời Đông Hán sau Công nguyên, mà là ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt bị nhà Tây Hán diệt. Chuyện này là thế nào?
Nhà Triệu Nam Việt thành lập từ thế kỷ 2 trước công nguyên, đô đóng Phiên Ngung (Quảng Đông), truyền tới Triệu Vệ Dương Vương thì bị nhà Tây Hán tấn công. Thừa tướng ba đời nhà Triệu là Lữ Gia cùng với vua Triệu và gia quyến đã lên thuyền rời kinh đô đi về phía Tây, tức là về vùng duyên hải Giao Chỉ lúc đó. Lữ Gia và Triệu Vệ Dương Vương bị quân Hán truy sát, bị bắt và tử tiết ở cửa sông Đáy đổ ra biển. Truyền thuyết Việt chép thành chuyện Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục) bị Lý Phật Tử đuổi, ra đến cửa Đại Nha thì đi ra biển mà mất. Còn thừa tướng Lữ Gia là tướng Lý Phục Man của Lý Nam Đế, sau khi tử trận đã được tùy tướng là Trương Hống Trương Hát đem về chôn cốt ở làng Giá – Yên Sở đầu sông Đáy.
Trương Hống Trương Hát chính là Nhị Trưng Vương, làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo ở Phong Châu. Nhị Trưng Vương là con gái thừa tướng Lữ Gia và là hoàng phi của Triệu Vệ Dương Vương. Vì vậy Trưng nữ vương mới lấy cửa sông Đáy (Hát Môn) làm nơi phất cờ khởi nghĩa đền nợ nước Nam Việt đã mất và trả thù nhà là vua Triệu đã bị chết ở cửa Đại Nha. Các tướng lĩnh của Trưng Vương do vậy mới có thân phụ làm quan cho nhà Triệu còn con thì cùng Trưng Vương trả thù nhà, đền nợ nước.
Thánh Tam Giang ở đình Nôm lấy cháu gái Triệu Đà tức là hoàng thân quốc thích của nhà Triệu Nam Việt và của Trưng Vương. Đức thánh do vậy nhận chức Điện tiền chỉ huy, tổng quản quân đội là hợp lý. Tam Giang thực ra là Tam Xuyên, là quận mà nhà Tần đã lập ra khi chiếm đất nhà Chu ở Giao Chỉ. Thánh Tam Giang là vị tướng cai quản vùng Tam Xuyên (Giao Chỉ) thời Trưng Vương.
Tư liệu dân gian cho thấy sử Việt đã chép thiếu khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương dưới thời Tây Hán. Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Phong Châu là nhằm phục quốc Nam Việt của nhà Triệu, nối tiếp ý chí chống Hán của thừa tướng Lữ Gia. Quốc thống và dòng dõi nhà Triệu, triều đại xưng Nam đế, xưng Việt đế đầu tiên trong lịch sử, không mất mà còn nối tiếp bởi các hoàng phi họ Lữ và sau đó là nước Nam Triệu ở vùng Tây Bắc Việt.

Ngũ vị tôn quan

Trong các ban thờ công đồng Tứ phủ hiện nay thì ngoài lớp tượng vua cha Ngọc hoàng thượng đế luôn có tượng 5 vị tôn quan trong 5 màu sắc áo đỏ, xanh lá cây, trắng, vàng và xanh tím. Sau các đức vua cha và thánh mẫu thì 5 vị quan lớn này là những nhân vật quan trọng hàng đầu của tín ngưỡng Tứ phủ. Tên gọi và chức danh của Ngũ vị tôn quan như sau:
1. Quan đệ nhất thượng thiên. Tước phong Đào tiên đệ nhất – Điều thất hoàng thái tử.
2. Quan đệ nhị giám sát. Tước phong Nhạc thần đại vương – Đô đài giám.
3. Quan đệ tam ở đền Lảnh Giang. Tước phong Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương.
4. Quan đệ tứ khâm sai. Tước phong Thiên Hựu đại vương.
5. Quan đệ ngũ tuần Tranh.

Ngu vi ton quan

Ngũ vị tôn quan, tượng ở đền Lê Chân, Hải Phòng

Thân thế các vị tôn quan theo các thần tích ở đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) hay đền Lảnh Giang (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam) được biết là con vua cha Bát Hải (vua cha Thoải phủ), đã đầu thai sinh cùng một trứng, hóa thành các thần rắn, rồi lên trần gian phù giúp vua Hùng đánh Thục.
Trong bài viết Bạch Hạc Tam Giang đã chỉ ra rằng truyện về các vị thần sông Bạch Hạc (Lĩnh Nam chích quái) là Thổ Lệnh và Thạch Khanh hay tục thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương ở vùng Phú Xuyên có quan hệ với Ngũ vị tôn quan của tín ngưỡng Tứ phủ. Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh là Quan lớn đệ tam, thác hóa ở khu vực thôn Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên), gần đền Lảnh Giang. Lảnh có thể là từ đọc khác của Lệnh.
Còn vị thần Bạch Hạc thứ hai Thạch Khanh là Quan đệ ngũ tuần Tranh. Cái tên Thạch Khanh và Tranh cận âm. Vị thần này còn được nhắc đến ở làng Đống Tranh (Minh Cường, Thường Tín) trong tục thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương.
Trong thần tích ở làng Đa Chất thì 3 người anh em con của Đào Công Bột là ông Cự, Hồng và Quý Lân sau khi đánh Thục ở lần đầu đã hóa trước. Tiếp theo chỉ còn Trưởng Lệnh và Thạch Khanh lập công đánh Thục. Đây là điều giúp lý giải việc hai vị quan đệ tam và quan đệ ngũ là hai giá đồng thường gặp, trong khi ba vị quan còn lại rất hiếm khi giáng đồng.
Tiếp tục truy tìm vết tích của 3 người anh em họ Đào đã hóa trước này. Sự tích về các vị quan lớn của Tứ phủ có cho biết: Quan đệ nhất là Đức Thánh Cả, Quan đệ nhị là Đức Thánh Trung và Quan đệ tứ là Đức Thánh Hạ, đã thác hóa ở sông Đáy tại Vân Đình. Hiện ở khu vực Vân Đình (Ứng Hòa, Hà Nội) có các đền thờ 3 vị thánh này. Đền Đức Thánh Cả nằm ở thôn Thái Bình với sự tích kể rằng đây là một vị tướng giúp vua Hùng đánh giặc nhà Ân ở vùng châu Hoan châu Ái. Đức Thánh Cả ở Thái Bình có tên được thờ là Bột Hải hoàng đế.

IMG_3784 (2)Đền Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội.

Câu đối tại đền Thái Bình:
第六代雄王神將揮刀鯨刳鰐断
幾千秋東海殷兵絶命戟折舟沉
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số kích gãy thuyền chìm.
Cái tên Bột Hải hoàng đế của Đức Thánh Cả đã xác nhận mối liên hệ vị thánh này với Ngũ vị tôn quan con vua Bát Hải và 5 anh em con ông Đào Công Bột. Bột hay Bát là số 8, chỉ hướng Đông. Trong câu đối trên cũng nói rõ nơi Đức Thánh Cả lập công trạng là biển Đông. Bột Hải hay Bát Hải là biển Đông, là nơi xuất thế của vua cha Bát Hải Động Đình hay nơi trị nhậm của Đào Công Bột (Hải Dương).
Khác với thần tích về Ngũ vị tôn quan, Đức Thánh Cả ở Vân Đình không phải giúp vua Hùng 18 đánh Thục mà là giúp vua Hùng thứ 6 đánh giặc Ân, nhưng lại ở “châu Hoan, châu Ái”. Rõ ràng trận thủy chiến đánh giặc Ân ở châu Hoan, châu Ái này không phải trận chiến trên cạn của Thánh Gióng diệt giặc Ân ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh.
Để lý giải sự khác biệt này cần nhắc lại bản chất cuộc chiến Hùng Thục thời vua cha Bát Hải Động Đình. Đây là cuộc chiến tranh giành vương vị của ông Khải – Lạc Long Quân với ông Ích sau khi Đại Vũ – Kinh Dương Vương mất. Ích cũng là Ất, là số 2 trong thập can (Giáp, Ất…). Địa bàn gốc của tộc người theo Bá Ích là vùng cựu đô Ngàn Hống ở châu Hoan từ thời Hoàng Đế – Đế Minh. Vì thế thần tích về Đức Thánh Cả ở Thái Bình đã kể thành Hùng Vương thứ sáu (Hùng Lục Vương hay Lạc Vương) đánh giặc Ân ở Hoan Ái. Ân hay ơn là số 2. Ái cũng là từ biến âm của Ích – Ất.
Dòng tộc theo Bá Ích do cuộc chiến này đã phải chạy sang phía Tây, sau nhiều đợt di cư đến đất Kỳ Sơn ở Quý Châu. Do đó dòng tộc này được gọi là Thục (thục nghĩa là chín, cùng âm với số 9, chỉ hướng Tây) hay Di Hạ (Di Hạ phiên thiết cho từ Dạ, là nước Dạ Lang ở vùng Vân Nam Quý Châu). Lạc Long Quân giành chiến thắng, khởi đầu nhà Hạ ở vùng ven biển Đông, được truyền thuyết và tín ngưỡng Việt tôn là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ, mở mang Hoa Đào Trang ở đất Thái Bình.
Ngũ vị tôn quan như vậy là 5 vị đại công thần lập quốc của Lạc Long Quân, được tôn thờ thành các thủy thần trên các dòng sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tranh,… và là những vị quan “trị sự” hàng đầu trong Tứ phủ công đồng.

Bạch Hạc Tam Giang và Lạc Long Quân

Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển là đi đâu? Lạc Long Quân mất ở chỗ nào? Lần tìm trong truyền thuyết và tín ngưỡng thờ thần của người Việt hé lộ thêm thông tin về cha Rồng và lịch sử của thời kỳ này.

Truyện thần sông Bạch Hạc trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam thanh bở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước… Đời Trần phong làm Trung Dực võ liệt phụ quốc hiển uy vương…
Truyện kể về Thổ Lệnh và Thạch Khanh đã hiển ứng ở thời Đường không cho biết gì về nguồn gốc, xuất xứ và công tích gì của 2 vị thần này. Cũng vì thế nhiều người cho rằng đây chẳng qua là hai thần đất (Thổ) thần đá (Thạch) được tôn sùng mà thành. Nhưng thần đất và thần đá sao lại tranh nhau làm thủy thần là thế nào?
Thổ Lệnh được thờ không chỉ ở vùng Bạch Hạc Phong Châu mà đây là vị thần được thờ ở rất nhiều nơi, từ khu vực đầu sông Nhuệ (Tây Tựu, Phú Diễn) tới vùng Thường Tín, tập trung nhất ở Phú Xuyên (Hà Nội) và một số nơi ở Hà Nam. Theo thống kê của Viện nghiên cứu văn hóa thì chỉ riêng trong số 153 làng xã có thần tích của Phú Xuyên đã có 28 làng thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương (tên gọi của Thổ Lệnh ở vùng này). Còn theo thần phả ở đình Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên) thì từng có tới 172 nơi thờ vị thần này. Có thể thấy Trung Thành Phổ Tế đại vương hay Bạch Hạc Tam Giang là một vị thần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian. Đây chắc chắn là một nhân thần có công trạng to lớn trong lịch sử dân tộc.

P1140203Đình Đa Chất, Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội, nơi hóa của Trưởng Lệnh họ Đào.

Đền thờ chính của Trung Thành Phổ Tế đại vương vốn là đền Ba Lương ở thôn Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên), nơi thần hóa. Đền này nay không còn, nhưng thần tích vẫn được lưu giữ ở đình Đa Chất. Bản thần tích này kể, thời Hùng Duệ Vương ở châu Cửu Giang, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, Ái Châu có một nhà quý tộc là ông Đào Bột lấy bà Phạm Thị Điểm người bản huyện làm vợ. Ông được Duệ Vương bổ làm chức Bộ trưởng Hoan Châu, sau đó do có công dẹp giặc ở Hải Dương nên được vua phong làm Bộ trưởng coi giữ đất Hải Dương.
Chính phi của Bột công không may qua đời, ông tái giá với bà Nguyễn Thị Hương, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam…
Mấy năm sau, khi ở Hải Dương ông bà gặp sự lạ, vớt được 5 quả trứng nổi trên mặt nước, rồi nửa đêm có rồng báo mộng về trứng thần. Bà vợ mang thai, sinh một bọc, nở ra năm người con trai, diện mạo khôi ngô, thân thể rộng dài, lưng trông như vảy cá một rẻo… Bột công đặt tên cho các con là Cự, Hồng, Trưởng, Thạch Khanh và Quý Lân.
Lớn lên, năm anh em vào chầu vua và được phong tước trọng. Cự Công làm Đông Long thái sư. Hồng Công làm Tây Long thái phó. Trưởng Công làm Nam Long Trưởng lệnh, quyền tể tướng, làm Thổ lệnh cai quản 50 Thuỷ thần. Khanh Công làm Bắc Long Thái Bảo quyền nắm thuyền rồng. Quý Công là Thiếu Long, nắm giữ đài rồng nơi nhà vua ngự. Lại thêm chức cho Bột công là Đại vương.
Nhà vua cắt cử ngũ công trấn giữ năm phương, kiêm chủ tể nắm các ngả sông để bảo vệ dân. Đệ nhất công làm chủ tể Hải Dương quận. Đệ nhị công làm chủ tể Sơn Tây đạo. Đệ tam công Trưởng lệnh công làm chủ tể Sơn Nam quân, xây thành ở xã Tông Chất tại ngã ba sông Lương giang, Du giang và Tô giang. Đệ tứ Quý công xây dựng thành cung ở Kinh Bắc. Đệ ngũ công xây thành tại Nam Trực.

Như vậy hai vị thần sông Bạch Hạc Thổ Lệnh và Thạch Khanh là hai anh em, cùng một bọc sinh ra. Thổ Lệnh trong thần tích này gọi là Trưởng Lệnh. Có thể Thổ Lệnh đúng phải là Thủ Lệnh, tương đương với tên Trưởng Lệnh.
Công trạng chính của 5 anh em họ Đào là giúp vua Hùng đánh Thục. Sau khi đánh quân Thục lần đầu 3 vị Cự, Hồng, Quý Lân đã hóa trước. Trong trận tiếp theo Trưởng Lệnh và Thạch Khanh cầm thủy quân đánh quân Thục toàn thắng. Sau đó Trưởng Lệnh còn dẹp giặc Thái Thịnh ở Hồng Châu. Khi về đến ngã ba Lương Giang, mở tiệc mừng công thì ngài cưỡi cá chép theo dòng nước mà hóa về trời.
Câu đối ở đình Đa Chất:
靈夢感唐臣白鶴三江傳勝蹟
皇圖開越甸鴻庞千載沐王庥
Linh mộng cảm Đường thần, Bạch Hạc Tam Giang truyền thắng tích
Hoàng đồ khai Việt Điện, Hồng Bàng thiên tải mộc vương hưu.
Dịch:
Mộng thiêng cảm tướng Đường, Bạch Hạc Tam Giang truyền thắng tích
Hoàng đồ mở điện Việt, Hồng Bàng nghìn thủa thấm ơn vua.

Ở Phú Xuyên có câu “sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” nói về Trung Thành Phổ Tế đại vương. Làng Tông Chất nơi thần hóa sau đổi thành Đa Chất. Làng này rất đặc biệt bởi tới giờ vẫn dùng một thứ ngôn ngữ cổ riêng mà chỉ người trong làng với nhau mới hiểu. Liệu Tông Chất có phải nghĩa là nơi “vị tông tổ bị chết”? Tông Chất là làng được dành riêng để thờ phụng, chăm sóc mộ phần và hương hỏa của Trung Thành Phổ Tế đại vương nên có tên như vậy và vẫn giữ một ngôn ngữ riêng trong làng.
Mặc dù thần tích về Bạch Hạc Tam Giang hay Trung Thành Phổ Tế đại vương kể khá chi tiết, đầy đủ các sự kiện nhưng việc nhận diện đúng các nhân vật này trong lịch sử vẫn cần được lý giải hơn nữa. Tại sao một vị thần thời Hùng Vương lại là được thờ rộng rãi như vậy? Giặc Thục trong câu chuyện Bạch Hạc Tam Giang là Thục nào?
Khi xét kỹ thần tích kể về anh em Thổ Lệnh và Thạch Khanh thì thấy chuyện này hoàn toàn trùng khớp với chuyện kể về sự xuất hiện và công trạng của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Vĩnh Công cũng là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Ở cả 2 sự tích đều nói về những anh em sinh cùng một bọc trứng, con của rồng. Khi đất nước có giặc Thục những anh em này đã tập hợp lại cùng chống giặc. Trong chuyện Bát Hải Động Đình thì con Hoàng xà lớn (tức Vĩnh Công) đã tập hợp anh em thành 10 vị quan lớn, mỗi vị trấn giữ một vùng để đánh Thục.
Liên hệ rõ nhất giữa 2 sự tích là tên của vị phụ thân Đào Công Bột. Vị họ Đào này sau khi hóa được phong là Bột Hải đại vương. Bột là đọc khác của Bát, là số 8 chỉ hướng Đông. Bột Hải = Bát Hải = biển Đông. Đào Công Bột từng làm Bộ trưởng đất Hải Dương, tức là phụ trách khu vực phía Đông giáp biển, cũng là vùng đất xuất phát của Vĩnh Công Bát Hải Động Đình.
Bát Hải Động Đình lập Hoa Đào Trang ở vùng Thái Bình. Thông tin này là giải nghĩa cho họ Đào của Bột Công. Đào hay Hoa, hay Hạ đều chỉ màu đỏ, màu của xứ nóng. Đất Đào là Hoa Hạ. Bát Hải Động Đình hay Đào Công Bột chính là Hạ Khải, người đã mở đầu Hoa Hạ ở vùng biển Đông. Hạ Khải cũng là Lạc Long Quân, vị vua của Thủy phủ trong truyền thuyết Việt. Đó là lý do vì sao anh em họ Đào lại được thờ phổ biến đến vậy trong dân gian.
Vì Đào Công Bột là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ nên năm anh em họ Đào trấn giữ ngũ phương là Ngũ vị tôn ông (Thập vị quan lớn) trong tín ngưỡng Tứ phủ. Đặc biệt, một trong những nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương là làng Đống Tranh ở xã Minh Cường (Thường Tín, Hà Nội), có câu đối ở cổng đình:
突屼靈鐘標棟宇
瓏玲英毓瑩崢江
Đột ngột linh chung tiêu đống trụ
Lung linh anh dục oánh Tranh giang.
Dịch
Ngất cao thiêng đúc nêu mái đống
Lung linh đẹp dưỡng sáng sông Tranh.
Câu đối này nói tới Tranh giang, một con sông không hề chảy qua khu vực Thường Tín – Phú Xuyên. Sông Tranh là đoạn sông ở phía Nam tỉnh Hải Dương, con sông của vị quan lớn Đệ ngũ tuần Tranh trong Tứ phủ. Câu đối và cái tên làng Đống Tranh đã cho thấy liên hệ trực tiếp giữa anh em họ Đào với các vị quan lớn trong Tứ phủ.

Dong TranhĐình Đống Tranh, Minh Cường, Thường Tín, Hà Nội.

Bản thân nơi Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất không cách xa Lảnh Giang, nơi có đền thờ quan Đệ tam của Tứ phủ là mấy. Trưởng Lệnh là Đệ tam công họ Đào. Còn quan lớn Đệ tam cũng tử tiết tại Lảnh Giang. Liệu có phải Lương giang và Lảnh giang là một, là đoạn sông Châu Giang đổ vào sông Hồng?
Câu đối khác ở đình Đống Tranh:
良水三岐異夢巍燃南土建崇祠
峰州萬里長城凜烈北方留正氣
Lương thủy tam kỳ dị mộng, nguy nhiên Nam thổ kiến sùng từ
Phong Châu vạn lí trường thành, lẫm liệt Bắc phương lưu chính khí.
Dịch:
Mộng lạ ngã ba sông Lương, nguy nga đất Nam dựng đền lớn
Thành dài Phong Châu vạn dặm, lẫm liệt phương Bắc giữ khí ngay.
Ngã ba sông Lương được gọi là Tam Kỳ, nơi có đền Ba Lương, chỗ hóa của Trung Thành Phổ Tế đại vương. Tam Kỳ còn tương ứng với Tam Giang. Hơn nữa Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng được sắc phong là Trấn Tây An Tam Kỳ linh ứng đại vương. Sự khớp nhau giữa tên gọi, công tích cho thấy hai chuyện Bát Hải Động Đình cùng Ngũ vị tôn ông và Đào Công Bột cùng 5 anh em Trưởng Lệnh, Thạch Khanh chỉ là một.

Co CheMảng chạm tiên rồng ở đình Cổ Chế, một nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương ở Phúc Tiến, Phú Xuyên, Hà Nội.

Cuộc chiến Hùng – Thục được nói tới ở đây là cuộc chiến giữa ông Khải và ông Ích trong cổ sử Hoa Hạ thời kỳ 4.000 năm trước. Ông Khải là con của Đại Vũ và Long Nữ Động Đình, cũng là Lạc Long Quân của truyền thuyết Việt. Khi Đại Vũ mất, ông Khải không chấp nhận di mệnh truyền ngôi cho Bá Ích của Đại Vũ, đã liên kết các bộ tộc bên cha (Lạc) và mẹ (Long), làm cuộc đảo chính, đánh đuổi Bá Ích chạy về phía Tây. Thục là từ chỉ hướng Tây nên dòng Bá Ích được truyền thuyết Việt chép là quân Thục, gây chiến tranh kéo dài với dòng của Lạc Long – Hùng Vương.
Ông Ích còn được sự ủng hộ của bộ tộc Hữu Hộ Thị ở phía Nam (nay) trong cuộc chiến này. Vì vậy mới có chuyện Trưởng Lệnh (dòng Lạc Long – Hùng Vương) đã phải dẹp giặc Hồng Châu. Hồng Châu hay Hồng Lĩnh là nơi có cố đô Ngàn Hống xưa. Hay trong thần tích đình Nhật Tân (Kim Bảng, Hà Nam) ghi Trưởng Lệnh đi đánh dẹp giặc Tôn Tinh. Tôn Tinh là Hồ Tôn Tinh thời Hùng Vương, là nước ở phía Nam nước Văn Lang.
Cuối cùng không rõ sự tranh giành ngôi vị nơi thờ giữa Thổ Lệnh và Thạch Khanh ở Bạch Hạc có phải ngầm chỉ sự tranh giành vương vị giữa hai dòng Lạc Long và Thục không. Thạch là hành chỉ hướng Tây trong Ngũ hành. Thạch Khanh là vị khanh hầu phía Tây, tương ứng với Bá Ích. Xét kỹ thì Thổ Lệnh – Thạch Khanh và Hạ Khải – Bá Ích đều là anh em một dòng từ Hoàng Đế. Trong cuộc tranh giành ngôi vị ở Tam Giang Phong Châu, Hạ Khải – Lạc Long đã thắng, Bá Ích – Thục buộc phải “xếp sau” và di rời về phía Tây. Ích cũng là Ất hay thứ 2 (trong thập can).
Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất trong truyền thuyết Việt đánh dấu sự chia tách của người Việt theo hai hướng Đông Tây. Dấu vết, truyền tích của cuộc chiến thời lập quốc này vẫn còn in đậm, lưu giữ dưới câu chuyện về thần Bạch Hạc Tam Giang và vị thần họ Đào được thờ suốt một dải từ ngã ba sông Việt Trì tới vùng đồng bằng Bắc bộ. Sự tích các vị thần thời Hùng Vương đan xen lẫn nhau, nhưng ngẫm kỹ vẫn có thể sáng tỏ chuyện của 4000 năm trước.

3 vị vua Hùng

Khu di tích đền Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh (xã Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ) là nơi thờ các vị vua Hùng, quốc tổ của người Việt. Ở cả 3 đền Hạ, đền Trung và đền Thượng trong khu di tích này đều đặt bài vị thờ 3 vị thánh là:
–    Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thế truyền thánh vương
–    Ất Sơn thánh vương
–    Viễn Sơn thánh vương.
3 vị thánh vương này còn gặp ở nhiều nơi khác trong các đình, đền, miếu vùng Phú Thọ. Không nơi nào đặt bài vị đích danh là Hùng Vương cả. Vậy người được thờ làm quốc tổ ở đây là ai? Tại sao không thấy tên của họ trong các truyền thuyết về Hùng vương?
Theo Truyện họ Hồng Bàng thì Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở ra trăm trai, Âu Cơ dẫn 50 người con về đất Phong Châu, lập người con cả lên làm vua, đặt tên nước là Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Một số người do đó cho rằng 3 vị thờ ở đền Hùng là những người con, cháu của Lạc Long Quân – Âu Cơ, đã xưng là Hùng Vương.
Tuy nhiên thời đại Hùng Vương không phải bắt đầu chỉ từ Âu Cơ. Lạc Long Quân cũng là một Hùng Vương. Kinh Dương Vương (cha của Lạc Long Quân) cũng là Hùng Vương… Thời Hùng Vương bắt đầu phải tính từ Đế Minh, là người đã mở đầu sử Việt (Truyện họ Hồng Bàng):
Đế Minh, cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục.
Còn Thiên Nam ngữ lục chép:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Câu thơ trên cho biết họ Hữu Hùng (Hùng Vương) bắt đầu từ Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông.
Vị thánh vương được thờ đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn, thường được thờ với nhiều mỹ tự tôn vinh khá dài. Ví dụ bài vị ở đền Thượng ghi: Đột Ngột Cao Sơn hiển Hùng ngao thống thủy điện an hoàng tế chiêu liệt ứng thuận phả hộ thần minh thọ quyết ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị.
Những mỹ tự này cùng với cụm từ “Đột Ngột Cao Sơn” cho thấy vị trí tối cao của người được thờ, là quốc tổ ngàn đời của người Việt. Chữ “Hiển Hùng” tương ứng với tên Hùng Hiển Vương hay Hiên Viên của Đế Minh. Hiển là sáng tỏ, gọi khác là Minh.
Trong mục Thần tích xã Tiên Cương, phủ Lâm Thao có bản Ngọc phả mang tên: Ngọc phả cổ truyền về mười tám đời Cao Sơn Thánh Vương họ Hùng nước Việt cổ, trong đó kể lại sự tích về “Hùng Vương Thánh tổ Tiền Thái tổ Cao Sơn Minh Vương hoàng đế”. Như vậy Đột Ngột Cao Sơn còn được gọi là Cao Sơn Minh Vương. Vậy Đột Ngột Cao Sơn chính là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt.
Đế Minh được gọi là Cao Sơn (Đột Ngột Cao Sơn) là do chuyện Đế Minh lấy con gái bà Vụ Tiên là Lăng Thị Tiêu ở núi Tam Đảo (Tây Thiên). Bộ tộc Lang Tiên Thị còn có tên là Cao Sơn nên cái tên này được dùng để chỉ cả Đế Minh.
Khi xác định được vị quốc tổ thứ nhất Đột Ngột Cao Sơn là Đế Minh trong Truyện họ Hồng Bàng thì 2 vị tiếp theo cũng phải có liên quan, là 2 vị vua đã nối tiếp sự nghiệp của Đế Minh. Do vậy Ất Sơn là Đế Nghi, còn Viễn Sơn là Lộc Tục.
Ất là thứ 2 (trong các số đếm Giáp, Ất, Bính, Đinh…). Nghi cũng là Nhì, là thứ 2. Đế Nghi cũng là Đế Nghiêu trong Hoa sử.

IMG_8866Miếu thờ vua Hùng ở Hùng Lô

Một số nơi, như ở đình Hùng Lô (Việt Trì, Phú Thọ) thờ 2 vị Hùng Vương là Hùng Hoa Vương và Hùng Hy Vương. Những người này đã có công dạy bảo nhân dân vỡ đất xây dựng quê hương, tạo nên nền cương thường, đạo lý của người Việt cổ.
Câu đối ở đình Hùng Lô
雄之西瀘之東浹洽醇風安百堵
国始君民始祖焜煌祀典老千秋
Hùng chi Tây Lô chi Đông, tiếp hiệp thuần phong an bách đổ
Quốc thủy quân dân thủy tổ, hỗn hoàng tự điển lão thiên thu.
Dịch:
Hùng bên Tây, Lô bên Đông, gió thuần hòa hợp yên trăm họ
Nước có vua, dân có tổ, phép thờ rực rỡ mãi ngàn thu.
Có thể Hùng Hoa Vương ở đình Hùng Lô là Đế Nghi hay Đế Nghiêu của Hoa sử. Còn Hùng Hy Vương là Hy Thị – Đế Thuấn, người được Đế Nghiêu cử đi khai mở Nam Giao.
Bài thơ vua Minh Mạng làm ở điện Thái Hòa (Huế) có câu:
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.
Dịch:
Hồng Bàng triều đại mở
Phục Nam Nghiêu Thuấn đầu.
Vì công lao khai mở Nam Giao của Đường Nghiêu Ngu Thuấn hay Đế Nghi, Lộc Tục mà 2 vị này đã được cùng thờ trong tín ngưỡng Hùng Vương dưới tên Ất Sơn và Viễn Sơn.

IMG_8864Đình Hùng Lô ở Việt Trì

Câu đối khác ở Hùng Vương miếu tại Hùng Lô:
鷲嶺鍾靈百粤輿圖開厥始
義峯毓秀壹胞苗裔徇無疆
Thữu Lĩnh chung linh, Bách Việt dư đồ khai quyết thủy
Nghĩa Phong dục tú, nhất bào miêu duệ tuẫn vô cương.
Dịch:
Núi Thứu đúc khí linh, cơ đồ Bách Việt xưa khai mở
Đỉnh Nghĩa nuôi vẻ đẹp, dòng dõi đồng bào chẳng kể biên.
Ba vị vua Hùng đầu tiên được thờ tại đền Hùng và các di tích khác ở Phong Châu như vậy là Đế Minh, Đế Nghi, Lộc Tục hay Hoàng Đế, Đế Nghiêu và Đế Thuấn được Kinh thư xưa chép trong phần Ngu thư. Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ nước Hữu Hùng của Đế Minh, chứ không phải từ nước Văn Lang của Âu Cơ.

Phạm Tô – Sĩ Nhiếp

Vấn đề Lý Phục Man và Phạm Tu là 1 hay 2 người nay đã có lời giải rõ ràng. Thánh Giá Lý Phục Man ở Lã Xá – Yên Sở không ai khác là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt, đã tử tiết ở núi Gôi đất Vụ Bản – Nam Định, được con cháu là Nhị Trưng Vương (Trương Hống, Trương Hát) đưa về an táng tại khu vực núi Sài sông Hát. Còn để nhận rõ về Thượng thủy tổ họ Phạm là Phạm Tu, quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, thì câu chuyện cần bắt đầu bằng những dấu tích về … Mã Viện và Bà Triệu.
Sơ học kí – Châu quận bộ (thời Đường do Từ Kiên soạn) có truyện Đê đá guốc vàng:
Nam Việt chí chép: “Mã Viện mở thông núi Cửu Chân, lại chất đá làm đê để ngăn sóng biển, do đó không còn bị (hại) bởi biển dâng nữa.” Lại chép: “Có người con gái huyện Quân An tên là Triệu Ẩu thường ở trong núi tụ họp bè đảng đánh cướp quận huyện, mặc áo giáp vàng đi guốc răng vàng, thường cưỡi đầu voi mà chiến đấu”.
Đoạn truyện này nói tới sự kiện Mã Viện sau khi đánh thắng quân của Hai Bà Trưng, tiếp tục tấn công Đô Dương ở Cửu Chân và cho … đắp đê đá để ngăn sóng biển dâng… Mã Viện đánh Cửu Chân chỉ vẹn vẹn có 1 năm (năm 44) sau đó đã bị triệu hồi về nước. Thế mà trong thời gian đó lại kịp đắp đê biển ngăn mặn, giúp người Cửu Chân làm nông nghiệp?! Sự thật chắc chắn không phải vậy.
Nguyên văn phiên âm đoạn Mã Viện làm đê đá là: Mã Viện tạc thông Cửu Chân sơn. Hựu tích thạch vi để, dĩ át hải ba, do thị bất phục quá trướng hải.
“Tướng danh” của Mã Viện là Phục Ba tướng quân, ý nói là tướng đã áp phục cơn sóng khởi nghĩa của nhân dân ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Đoạn phiên âm trên vừa có “Hải Ba” vừa có “Phục”, chính là thông tin giải nghĩa danh hiệu Phục Ba của Mã Viện. Như vậy Mã Viện làm đê đá không phải để ngăn sóng biển, mà là đắp lũy để ngăn cơn “Hải Ba” của hậu quân Hai Bà Trưng tại Cửu Chân. Cửu Chân là nơi Mã Viện đã phải dừng bước, cắm mốc phân giới (cột đồng) sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Lũy đá ở đây là một dạng mốc biên giới như cột đồng Mã Viện, được dựng lên để ngăn sự tấn công của của hậu quân Trưng Vương.
Mã Viện đã phải cắm mốc cột đồng và đắp lũy phòng thủ chống lại ai ở Cửu Chân? Phần dưới của đoạn trích trên trong truyện Đê đá guốc vàng cho biết, đó chính là với Triệu Ẩu, tức là Mã Viện đã phải cắm mốc phân biên với Bà Triệu. Bà Triệu còn có tên là Lệ Hải bà vương, là cơn “Hải Ba” được nói đến trong truyện. Bà Triệu chính là hậu quận của Hai Bà Trưng đã chặn Mã Viện ở Cửu Chân.
Theo nhà nghiên cứu Văn Nhân thì Đô Dương – người chặn Mã Viện ở Cửu Chân là Khu Đạt hay Khu Liên, người đã khởi lập nước Lâm Ấp. Khu Đạt cũng là Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu. Còn tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì cho biết người xưng vương xứ Lâm Ấp là Lý Khu Kiên. Lâm Ấp tức là nước Nam. Lý Khu Kiên – Khu Đạt là vua Lâm Ấp, tức là Lý Nam Đế trong chuyện này là Triệu Quốc Đạt.
Trong cuộc chiến chống quân Đông Hán anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh đã hy sinh nhưng Mã Viện và Hán quân đã bị cầm chân, buộc phải cắm trụ đồng và đắp lũy đá phân ranh đất Hán và Giao Chỉ ở Khâm Châu – Quảng Tây. Lúc này phía Đông Giao Chỉ độc lập, do một kẻ sĩ nắm giữ quyền hành, không xưng vương, nên sử gọi là Sĩ Nhiếp.
Như trên, vì Lý Nam Đế là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên nên Sĩ Nhiếp là một đại tướng của Lý Nam Đế, đã chống Hán quân giữ yên Giao Châu. Năm Canh Dần (210) Sĩ Nhiếp theo về với Ngô Vương Quyền, được Ngô Vương phong làm Tả tướng quân. Sau đó Sĩ Nhiếp lại chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu về phụ thuộc nước Ngô nên Tôn Quyền càng khen, thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu.
Câu đối ở đình Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội)
骨氣不埋呉鼎國
文風初啟越儒邦
Cốt khí bất mai Ngô đỉnh quốc
Văn phong sơ khải Việt nho bang.
Dịch:
Cốt cách không phai đỉnh nước Ngô
Văn phong khởi lập Nho đất Việt.

IMG_9726 (2)Đình Dục Tú ở Đông Anh, Hà Nội

Nhờ có sự thần phục của Sĩ Nhiếp Ngô Vương đã có được một khu vực đất đai rộng lớn mà Mã Viện đã không thể chiếm được trước đó, gồm toàn bộ Giao Châu, lại thêm cả Ích Châu. Do vậy Sĩ Nhiếp được coi là một đại tướng quân trụ cột của Đông Ngô. Long Biên hầu tức là vị hầu tước của vùng Long Biên. Long Biên ở đây là Long Xuyên hay quận Tam Xuyên dưới thời Tần, gồm phần lớn vùng Giao Chỉ và Quảng Tây.
Những danh hiệu, chức vụ và hành động của Sĩ Nhiếp hoàn toàn trùng với lão tướng Phạm Tu. Phạm Tu nhờ có công đánh dẹp Lâm Ấp và tham gia khởi nghĩa nên được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả Tướng, đứng đầu Ban Võ. Theo thần tích đình Ngoại ở Thanh Liệt thì sau khi mất Phạm Tu được phong là Long Biên hầu. Đặc biệt Phạm Tu còn được sắc phong là Cảm ứng cư sĩ. Câu đối ở đình Lý Nhân tại Thanh Liệt, nơi thờ Phạm Tu:
廟宇香燈神感應
亭村奉祀德靈長
Miếu vũ hương đăng thần cảm ứng
Đình thôn phụng tự đức linh trường.
Dịch:
Hiên miếu hương đèn thần cảm ứng
Thôn đình cúng tế đức thiêng dài.

P1110017Đình Lý ở Lý Nhân, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Còn Sĩ Nhiếp được nhà Trần sắc phong là Gia ứng Thiện cảm Linh vũ Đại vương. Có thể thấy Tả tướng quân Long Biên hầu Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu là vị Sĩ Nhiếp, người đã giữ yên và cai quản Giao Châu sau khi Lý Nam Đế – Triệu Quốc Đạt hy sinh.
Sau khi Sĩ Nhiếp mất con là Sĩ Huy đã chống cự lại nhà Ngô. Còn theo tư liệu của họ Phạm thì Phạm Tu có con là Phạm Tĩnh theo giúp Hậu Lý Nam Đế. Con Phạm Tĩnh là Phạm Hiển, sau khi Lý Phật Tử bị quân nhà Tuỳ bắt về Bắc đã chiêu binh chống Tùy trong 3 năm và bị thất bại. Phạm Hiển như vậy là Sĩ Huy.
Sĩ Nhiếp – Phạm Tu còn được người Việt thành kính tôn thờ dưới tên một vị thần nữa. Tên Phạm Tu đúng ra phải là Phạm Tô, là vị thần của dòng sông Tô Lịch. Phạm Tu sinh ra ở làng Thanh Liệt bên sông Tô. Theo truyền thuyết thì ông chống giặc giữ cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đó.
Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái kể Cao Biền đã gặp một cụ già ở giữa dòng sông, cho biết họ Tô tên Lịch. Biền biết là thần nhân nên đặt tên sông là sông Tô Lịch.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng nhìn ở bờ sông Lô Giang, phía đông nam thành La, thấy giữa sông có gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng, rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên không… Đêm đến Biền nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là thần Long Đỗ, đứng đầu các vị thần đất. Nhà ngươi đến xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?”…
Bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành – Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: “… bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu”. Sĩ Nhiếp có tước phong là Long Độ đình hầu. Long Độ = Long Đỗ. Thần Long Đỗ, vị thành hoàng của thành Đại La – Thăng Long thì ra chính là Sĩ Nhiếp – Phạm Tô (Tu).
Sĩ Nhiếp được biết thọ tới 90 tuổi mới mất. Còn Phạm Tu là lão tướng 66 tuổi mới tham gia khởi nghĩa cùng Lý Nam Đế. Vị thần sông Tô Lịch hiện linh trước Cao Biền cũng dưới hình dạng một cụ già.
Còn một liên hệ nữa về lão tướng Phạm Tu. Sử sách cho biết người đã nối nghiệp ở Lâm Ấp sau khi Khu Liên mất là họ Phạm, họ bên ngoại của Khu Liên. Như vậy Phạm Tu là họ bên ngoại của Triệu Quốc Đạt.
Tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì viết: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 TCN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà…
Đằng Châu Phạm Duy Minh do vậy có thể cũng là Phạm Tu. Thần Long Đỗ, Long Biên hầu và Vua Mây họ Phạm là một người vì vua của Mây tức là rồng (Long). Sĩ Nhiếp – Phạm Tu như vậy là một trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng của tín ngưỡng Việt.

Phạm Tu có thụy hiệu là Đô Hồ đại vương. Đô Hồ nghĩa là thủ lĩnh của người Hồ. Người Hồ hay Hời là người Lâm Ấp – Chiêm Thành sau này. Vì Phạm Tu là người kế tục sự nghiệp của Khu Liên và con cháu họ Phạm nối tiếp cai quản Lâm Ấp nên Phạm Tu được gọi là Đô Hồ. Thông tin này cũng tương tự như câu đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh):

豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.

Truyền tích về Sĩ Nhiếp và Tứ pháp ở chùa Dâu (Truyện Man Nương) cho thấy Sĩ Nhiếp được dân gian gắn với các thần mây mưa sấm chớp. Còn Phạm Tu ở đình Ngoại Thanh Liệt vốn được coi là Thủy thần phán quan, hay ở đình Ngọc Than (Quốc Oai, Hà Nội) là Đông Hải đại vương.
Vị thủy thần sông Tô, vua Mây ở Đằng Châu, Long Biền hầu Sĩ Nhiếp và Tả tướng Phạm Tu cùng là một, là vị anh hùng có công chặn quân Đông Hán, gìn giữ Giao Châu trong 40 năm, đức độ và dòng dõi để lại tiếp tục phù trợ cho họ Phạm ở Lâm Ấp tồn tại hàng trăm năm tiếp theo.