Cửu đỉnh Huế

Themieu

Cao đỉnh và Thế miếu

Cửu đỉnh Huế là 9 cái đỉnh đồng lớn được đặt trước sân Thế miếu nhà Nguyễn trong Hoàng thành Huế. Theo lệnh của vua Minh Mạng việc đúc Cửu đỉnh được khởi công từ mùa đông 1835 và khánh thành năm 1837. Dụ chỉ đúc đỉnh ghi:
Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc”.
Vị vua thứ hai của triều Nguyễn công khai gọi “các minh vương đời Tam đại” (Hạ, Thương, Chu) của bên Tàu kể cũng lạ. Lại còn nói rõ “Trẫm kính nối nghiệp trước“, tức là coi các vị minh vương thời Hạ Thương Chu là tiền triều của mình.
Cũng chính Minh Mạng là tác giả của bài thơ ở chính điện Thái Hòa:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

ThaiHoa

Là một vị vua từ nhỏ được giáo dục truyền thống Nho học, Minh Mạng rất giỏi văn thơ, thuộc sử sách. Trong các bài văn thơ của mình Minh Mạng rất thường nhắc tới đời Đường Ngu. Vị vua này muốn noi theo gương trị nước an dân của Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, mở nước vạn dặm, đúc đỉnh như thời Hạ Thương Chu. Rõ ràng triều Nguyễn vẫn coi Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa là lịch sử của mình.
Trong số 162 họa tiết chạm nổi trên Cửu đỉnh của nhà Nguyễn ở Huế có tới 90 hình ảnh là nói về các loài động thực vật đặc trưng của Việt Nam. Các hình trên Cửu đỉnh được sắp xếp theo một thứ tự nhất định và được chia thành các nhóm cảnh, vật. Nếu như việc xếp nhóm các họa tiết núi sông, thuyền bè, súng đạn, tinh tú tương đối rõ ràng thì việc phân nhóm những loại động thực vật trên Cửu đỉnh hiện nay không thống nhất. Tuy nhiên, việc phân nhóm các hình ảnh đều phải tuân theo nguyên tắc chính là đảm bảo mỗi nhóm vật có 9 hình, mỗi hình phải nằm trên mỗi đỉnh khác nhau. Bởi vì con số 9 là con số tượng trưng cho sự trường tồn về thời gian (9 chữ Nho là Cửu, đồng âm với chữ Cửu trong từ Vĩnh cửu), cũng như thể hiện toàn bộ không gian (9 châu, bao gồm 8 phương và 1 trung tâm).
Để hiểu được sự phong phú và độc đáo của loài động thực vật Việt Nam thể hiện trên Cửu đỉnh bài viết này xin đề xuất một cách phân nhóm các hình ảnh động thực vật trên Cửu đỉnh mà giữ đúng được nguyên tắc đã nêu (mỗi nhóm vật được xếp đều có đại diện trên từng đỉnh).

HoaSen-1

Hoa Sen trên Nhân đỉnh

Thực vật
54 họa tiết các loài thực vật có thể chia thành 6 nhóm. Tên chữ Nho của loài cây này ghi trên đỉnh được nêu trong ngoặc. Các loài được liệt kê theo thứ tự gặp trên các đỉnh lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh:
1. Cây lương thực và cây lấy sợi: Lúa tẻ (canh), Lúa nếp (nhu), Đậu xanh (lục đậu), Dâu (tang), Đậu ván (biển đậu), Đậu tương (hoàng đậu), Lạc (địa đậu), Đậu trắng (bạch đậu), Bông (miên).
2. Rau và cây gia vị: Hành (thông), Hẹ (cửu), Kiệu (giới), Nghệ (uất kim), Cải (giới), Hương nhu (hương nhu), Gừng (khương), Tía tô (tử tô), Tỏi (toán).
3. Cây lấy quả: Mít (ba la mật), Bòn bon (nam trân), Xoài (yêm la), Cau (tân lang), Mơ (mai), Đào (đào), Nhãn (long nhãn), Lê (lê), Vải (lệ chi).
4. Các loài hoa: Hoa tử vi (tử vi hoa), Hoa sen (liên hoa), Hoa nhài (mạt lỵ), Hoa hồng (mai khôi hoa), Hoa hải đường (hải đường hoa), Hoa dã quỳ (quỳ hoa), Hoa sói (trân châu hoa), Hoa dâm bụt (thuấn hoa), Hoa ngọc lan (ngũ diệp lan).
5. Các loại gỗ: Lim (thiết mộc), Ngô đồng (ngô đồng), Huống (thuận mộc), Kiền kiền (tử mộc), Hoàng đàn (hoàng đàn), Sao (nam mộc), Bách (trắc bách), Thông (tùng), Sơn ta (tất mộc).
6. Dược liệu và hương liệu: Trầm hương (trầm hương), Kỳ nam (kỳ nam), Đậu khấu (đậu khấu), Tô hạp (tô hợp), Quế (quế), Sa nhân (súc sa mật), Tổ yến (yến oa), Trầu không (phù lưu), Sâm ta (nam sâm).

Khoihac
Hạc trên Anh đỉnh

Động vật
Trong 36 họa tiết các loài động vật thì việc phân nhóm rõ ràng nhất là 2 nhóm Thú và Chim, mỗi nhóm gồm 9 loài:
Thú: Hổ (hổ), Báo (báo), Tê giác (tê), Ngựa (mã), Voi (tượng), Bò tót (ly ngưu), Lợn (thỉ), Dê (dương), Con hươu (sơn mã).
Chim: Trĩ (trĩ), Công (khổng tước), Gà (kê), Hạc (khôi hạc), Uyên ương (uyên ương), Vàng anh (hoàng oanh), Vẹt (anh vũ), Yểng (tần cát liễu), Chim ông già (thốc thu).
Còn lại 18 loài động vật khác không phân định được nhóm cho từng đỉnh. Tốt nhất là xếp chung chúng thành một nhóm lớn riêng biệt. Con số 18 cũng có nghĩa là 9×2 hay trùng cửu, trường cửu, vẫn là nghĩa trường tồn như số 9 của Cửu đỉnh.
18 loài này gồm các loài cá, rắn, rùa, ốc, côn trùng. Cứ 2 loài được liệt kê cạnh nhau là nằm trên cùng một đỉnh. Thứ tự các đỉnh như trên (phần về thực vật):
Rồng (long)/ Trạnh (miết); Đồi mồi (đại mại)/ Cá voi (nhân ngư); Rùa thiêng (linh quy)/ Cá sấu (ngạc ngư); Ve sầu (thiền)/ Trăn (nhiêm xà); Sâu dừa (hồ gia tử)/ Cá quả (lục hoa ngư); Trai (bạng)/ Cá rô (đăng sơn ngư); Vích (ngoan)/ Sam (hấu); Cá thủ (thạch thủ ngư)/ Sò (cáp); Cà cuống (quế đố)/ Rắn lớn (mãng xà).
Có 3 loài trong số này được chạm ở tầng trên của đỉnh, là những loài sống ở “trên không”: Rồng, Ve sầu và Sâu dừa. Các loài khác đều được chạm ở tầng dưới, là những loài bò sát hoặc ở dưới nước.

Linhqui

Linh qui trên Chương đỉnh

Một số loài là linh vật: Rồng, Cá voi và Rùa.
–  Rồng (long) được chạm trên Cao đỉnh, ứng với thụy hiệu Cao Hoàng đế của vua Gia Long. Đặc biệt chính trên Cao đỉnh có thể hiện đủ cả Tứ linh: Long (Rồng), Ly (Hổ), Qui (Giải), Phượng (Trĩ).
–  Cá voi ở đây được ghi là Nhân ngư. Hình Nhân ngư được chạm trên Nhân đỉnh, ứng với thụy hiệu Nhân Hoàng đế của vua Minh Mạng.
–  Rùa thiêng, với hình Bát quái trên lưng, được chạm trên Chương đỉnh, ứng với Chương Hoàng đế Thiệu Trị. Có thể chữ Chương ở đây với nghĩa là Văn chương. Người xưa dùng mai rùa để viết chữ (giáp cốt văn) và con rùa được cho đội bia ở các văn miếu, đình đền. Vì thế con rùa là tượng trưng cho văn chương.
Cũng trên Chương đỉnh còn có hình loài Tê giác. Phải chăng “sừng văn tê” cũng là một biểu tượng của văn chương?

TeTê giác trên Chương đỉnh

Đại lễ khánh thành và đặt Cửu Đỉnh diễn ra vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 tức ngày quý mão tháng giêng âm lịch năm Đinh Dậu, niên hiệu Minh Mạng thứ 18. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng :
“Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và thành Trấn Tây đều được biết.”
Chính năm bắt đầu khởi đúc Cửu đỉnh (1835) là năm Chân Lạp (Cam – pu – chia) thần phục nhà Nguyễn, đổi tên là Trấn Tây Thành. Nghĩa là sau hàng nghìn năm người Việt lại hưng quốc, đất đai rộng lớn như thời Chu thiên tử, với 4 vùng lãnh thổ lớn: Giao Chỉ (Bắc bộ), Chăm pa (Trung bộ), Lào (Tây Bắc), Chân Lạp (Tây Nam). Thống nhất được giang sơn chính là lý do mà Minh Mạng cho dựng Cửu đỉnh như Hạ vũ cai quản 9 châu xưa và đổi tên nước thành Đại Nam, bắt đầu đế nghiệp mấy trăm năm.

Cuudinh2

Cửu đỉnh, vật tương trưng cho vương quyền và quốc gia của Trung Hoa, nay chỉ còn duy nhất có ở Việt Nam. Đó là một bằng chứng xác thực về lịch sử và văn hóa Hoa – Việt. Nước Việt sẽ mãi “cửu vĩnh” như những gì được thể hiện trên Cửu đỉnh.

Văn nhân góp ý:

Theo truyền thuyết thì Hạ Vũ sau khi trị thủy thành công đã chia “thiên hạ” thành chín (cửu) châu và đúc 9 cái đỉnh tượng trưng cho 9 châu… Chia thiên hạ thành 9 châu có nghĩa là xác lập chủ quyền trên vùng đất đã phân giới hành chánh để quản lý … Hơn 4000 năm trước đoạn văn vài chữ này đã nói đến 2 yếu tố… nền: lãnh thổ và chính quyền trong khái niệm ‘quốc gia’ hiện đại. Trên 9 cái đỉnh có hình ảnh cảnh quan thiên nhiên và cây – con tiêu biểu của 9 châu… nên 9 đỉnh không chỉ là 9 cái đỉnh đồng mà đúc cửu đỉnh chính là sự khẳng định vị thế chủ nhân của thiên hạ – cửu châu.
Cửu Đỉnh là biểu trưng cho quyền uy của thiên tử nên trong ‘thế giới’ Trung hỏa thì có Cửu Đỉnh tức là chủ thiên hạ. Truyền thống này khởi đầu từ thời Đại Vũ kiến lập vương quốc Trung – Hỏa; Nhà Nguyễn nước Đại Nam đúc 9 đỉnh tức khẳng định sự nối tiếp quốc thống truyền từ hàng mấy ngàn năm trước và quan trọng hơn … đây là sự công khai tuyên bố: Mãn Thanh chỉ là 1 Hãn quốc của đám Nam man không dính dáng gì đến lịch sử Trung hỏa (Nước Mãn Thanh không có Cửu đỉnh).

Khảo cổ thời Nam Việt và nguồn gốc Việt của các triều đại Trung Hoa

Bài này trình bày một số suy nghĩ khi đọc các tư liệu do Dr. Nguyễn Việt, một chuyên gia khảo cổ hàng đầu về thời sơ sử Việt Nam, cung cấp trên trang: http://www.drnguyenviet.com/

Trong bài Thạp đồng Đông Sơn của huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà:
“Chiếc thạp tôi muốn nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đạy nắp đồng. Chính giữa thân thạp là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng Châu…
Giá trị nhất của chiếc thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần sát gờ miệng… Tôi đã từng công bố và dịch những dòng chữ này, tuy nhiên chữ thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng thạp có thể đọc là „Long Xoang“.

龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升
…rất có thể đây là một biến âm của chữ Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi lập nước Nam Việt.

… có dòng chữ :“Danh Viết Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng để gọi chiếc thạp.
… Chủ nhân chiếc thạp BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“(第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52. Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội.
… Theo bà Phạm Lan Hương, chiếc thạp được bà sưu tầm có nguồn gốc Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá hiện mới có một chiếc thạp cùng cỡ và cũng có hoa văn thuyền người phát hiện được ở Xuân Lập… Khu vực phát hiện những chiếc thạp lớn có trang trí đẹp cùng thời hai chiếc thạp kể trên là vùng trung lưu Hồng Hà, từ Việt Trì đến Lào Cai (Vạn Thắng, Đào Thịnh, Hợp Minh, Lào Cai).”
Theo tư liệu trên có thể nhận định một số vấn đề:
– Văn hóa Nam Việt mang đậm nét văn hóa… Việt Nam (Đông Sơn). Từ ngữ cũng dùng phát âm địa phương.
– Hai chữ đầu chỉ địa điểm trên thạp (Long Xoang – Long Xuyên hay Long Khoang) nhiều khả năng không phải là tên huyện mà là tên quận. Một huyện lệnh thì quá nhỏ để có tiềm năng đúc riêng những đồ đồng cho mình.
– Địa danh này theo vị trí tìm thấy thạp (Thanh Hóa) và những thạp đồng khác cùng kiểu phải nằm ở Giao Chỉ, chứ không phải Nam Hải.
Nếu vậy thì chiếc thạp này có thể là một bằng chứng cho thấy Giao Chỉ là Long Xuyên thời Tần. Long Xuyên tương ứng với Tam Xuyên, tên quận mà Tần Thủy Hoàng đã gọi vùng đất của nhà Đông Chu khi thống nhất lục quốc.
Sử Tàu những đoạn liên quan đến Việt Nam có khá nhiều “huyện lệnh” rất khó hiểu. Triệu Đà là huyện lệnh mà lập quốc, xưng đế ngang với nhà Hán. Khu Liên, con công tào ở huyện Tượng Lâm, khởi nghĩa mà thành vương quốc
Lâm Ấp – Chiêm Thành. Đây là sự gán ghép vô lý những địa danh lớn (cấp quận) thành huyện nhỏ để vùi dập sự thật lịch sử.

Trong bài Triệu Đà:
“…Bản thân ông lấy vợ người Việt, đền thờ một trong số phu nhân người Việt của ông hiện ở Đồng (Đường) Xâm (Kiến Xương, Thái Bình)… Những nghiên cứu về đồ tuỳ táng chôn trong các khu mộ táng Nam Việt cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng ưu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như mộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt đều chôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hoá Đông Sơn, như trống đồng, thạp đồng, rìu chiến và nỏ…”
Không chỉ văn hóa mà phân tích di truyền cho thấy rõ rằng nước Nam Việt là nước của người Việt 100%.

Trong bài Âu Lạc và Giao Chỉ – một số vấn đề ngữ âm học lịch sử:
Khi kiểm định kỹ lại Sử Ký của Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ đã từng có (tước Hầu của vùng đất Giao ) chức Giao hầu do Lữ Sản em trai của Lữ Hậu đảm trách. Lữ Sản sau này được Lữ Hậu phong làm Lữ vương (tước Vương của vùng đất Lữ – nơi phát tích của tổ tiên Lữ Hậu). Trước khi chết, Lữ Hậu chia quân đội nhà Hán làm hai khối lớn, chính Lữ Sản được kiêm quản quân phương Nam. Điều này khiến ta có thể phỏng đoán đất Giao mà Lữ sản từng được phong hầu ở phương Nam, gắn với Giao Chỉ, Giao Châu chăng?
Thật kỳ lạ khi được biết em của Lữ Hậu là Giao Hầu và làm vương phương Nam, cũng là nơi phát tích của Lữ Hậu. Như vậy Lữ Hậu là người Giao Chỉ, và tất nhiên Lưu Bang lấy vợ từ thủa hàn vi cũng là người Giao Chỉ nốt.
Lạ hơn nữa Giao Chỉ dưới thời Lữ Hậu như sử chép là đất của Triệu Đà. Hoặc chí ít thì Triệu Đà cũng lập nước Nam Việt ngay sau khi Lữ Hậu mất. Như vậy Triệu Đà phải có liên hệ trực tiếp với Lữ Sản, là Giao hầu của phương Nam khi đó. Việc trong triều Nam Việt có thừa tướng là Lữ Gia cũng cho thấy vai trò của họ Lữ đối với nhà Triệu.
Lữ Gia thì được biết rõ là người Việt, chống Lộ Bác Đức trên đất Việt và có nhiều đền thờ ở đây. Tất cả khẳng định Giao Chỉ chính là nơi phát tích họ Lữ của Lữ Hậu và nhà Tây Hán.

Trong bài Hội nghị quốc tế về Văn hóa Hán và vấn đề thời thuộc Hán ở Việt Nam:
Hội nghị có ba báo cáo … văn hóa Hán ở Lĩnh Nam chỉ là những ảnh hưởng thượng tầng đan xen với văn hóa Yue (Việt) truyền thống và tạo ra một bản sắc địa phương riêng tác động trở lại văn hóa Trung Nguyên. Chính vì vậy, kết thúc vương triều Hán ở cuối thế kỷ 2 là sự trở lại của hai nhà nước phương nam vốn có nguồn gốc phi Hoa Hạ (Ngô và Thục) trong số ba nước tranh dành bá chủ thiên hạ. Nghiên cứu AND xương người chết chôn trong các hầm mộ thời Hán ở Lĩnh Nam do nhóm các nhà khoa học Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) tiến hành cho thấy chủ nhân mộ đa phần là người Yue (Việt)”.
Như vậy chính các học giả trung quốc cũng xác định nhà Ngô và Thục thời Tam quốc là hai nhà nước của người Việt.

Thật cám ơn các nhà khảo cổ đã có những dẫn liệu xác đáng cho thấy từ Triệu Đà, Lữ Hậu đến Tôn Quyền, Lưu Bị đều là người Việt tộc. Vấn đề còn lại là lịch sử thực sự của những triều đại này là thế nào? Đã là người Việt thì sử của những triều đại này cũng phải là sử Việt, chứ không phải sử Hán.

Đồng tiền Đại Hưng bình bảo

Bài này muốn bàn về cách đọc một đồng tiền cổ rất nổi tiếng ở Việt Nam vì được cho là đồng tiền đầu tiên của nước ta sau khi dành được độc lập vào thời Đinh.

Vấn đề ở chỗ cách đọc của đồng tiền này.
Mặc dù theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, niên hiệu của Đinh Tiên Hoàng có chữ Hán viết là “Thái Bình”, nhưng Bernard J. Perma (Catalogue of Annam coins  968- 1955, Vietnam, 1963), thật có lý khi đọc hiệu của đồng tiền là “Đại Bình Hưng Bảo”. Bởi sự thật, các đồng tiền do vua Đinh đúc, cả hiện vật lẫn ảnh chụp, chữ Hán viết là “Đại Bình” chứ không phải là “Thái Bình”. Trong sách Tiền Cổ Việt Nam, GS Đỗ Văn Ninh đưa ra hai cách giải thích hiện tượng trên như sau:

-Đồng tiền bị gỉ làm mất nết chấm dưới chữ “thái”. Cách giải thích này khó được chấp nhận, vì chưa thấy đồng tiền nào của vua Đinh viết chữ Hán là “thái bình”; nếu có, chắc nhầm lẫn với một loại tiền khác..


-Cách giải thích thứ hai, dễ hiểu và có sức thuyết phục hơn là: chữ “đại” còn có một âm đọc là “thái”
.”

Cả hai cách giải thích đều không ổn. Ngay cùng với thời đó ở Hoa Lư và Hoàng thành Thăng Long có loại gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, cho thấy chữ đầu tiên trong tên đồng tiền  đọc là “Đại” chứ không phải “Thái“. Tên của đồng tiền này đã đánh đố rất nhiều nhà nghiên cứu tới nay chưa có lời giải.

Một số nhà nghiên cứu khác đưa ra ý kiến đọc hiệu đồng tiền là “Đại Hưng Bình Bảo“. Tuy rằng thời Đông Tấn – Nguyên Đế (Tư Mã Duệ) có niên hiệu Đại Hưng (318-321), song thời ấy ở Trung Quốc đang còn sử dụng hệ thống tiền Ngũ Thù, chưa dùng chữ “bảo” để chỉ khái niệm tiền tệ, do đó tiền này không thể do triều Tấn đúc“.

Những người chơi tiền cổ đều biết tên tiền cổ có 2 cách đọc chéo và đọc xuôi. Nếu đọc xuôi theo chiều kim đồng hồ thì tên đồng tiên trên phải là “Đại Hưng bình bảo”. Vấn đề là trong lịch sử không biết chữ “Đại Hưng” này ở vào giai đoạn sau nhà Đường (sau đồng tiền đầu tiên dùng từ “bảo” là “Khai Nguyên thông bảo”) thuộc về ai?

…ngày nay tiền “Đại Bình Hưng Bảo” – theo ông XiongBaoKang (Tổng Giám đốc Viện nghiên cứu tiền tệ và Bảo tàng Tiền tệ Quảng Tây – Trung Quốc) – được tìm thấy ở Hoa Nam (Trung Quốc) là đất của Bách Việt rất nhiều…

Thật khó hiểu nếu đồng tiền trên là của nhà Đinh vì nhà Đinh rất ngắn ngủi chỉ có 12 năm, vào lúc phía Bắc nhà Tống đã thống nhất Hoa Nam. Làm thế nào mà đồng tiền của nhà Đinh lại được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam được?

Xin đưa ra một cách nhìn nhận khác về đồng tiền trên. Tên đồng tiền này phải đọc là “Đại Hưng bình bảo” chứ không phải “Thái Bình hưng bảo“. Đồng tiền này không phải của nhà Đinh mà là của Lưu Cung – Lưu Ẩn ở Lưỡng Quảng (Lưỡng Việt). Tên “Đại Hưng” là một bằng cớ rõ ràng về tên nước của Lưu Cung thời đó. Không phải Đại Hán mà là Đại Hưng, như tên Hưng Vương phủ của Quảng Châu. Việc đồng tiền này được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam xác nhận điều này vì đây là vùng ảnh hưởng của nước Đại Việt/Đại Hưng thời đó.

Việc lấy tên nước đặt tên cho đồng tiền tuy ít gặp nhưng không phải không có. Người ta còn tìm thấy đồng tiền “Đại Việt thông bảo“. Đồng tiền này có cách viết chữ tương đồng với thời của đồng “Đại Hưng bình bảo“, nhưng lại bị nghị ngờ là tiền giả cho dù được phát hiện trong di tích Hoa Lư. Lý do được dẫn là thời đó chưa có quốc hiệu Đại Việt ở nước ta. Nhưng nếu nhìn rộng ra thì thấy ngay Đại Việt này là quốc hiệu của Lưu Cung. Gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên” ở Hoa Lư cũng khẳng định danh xưng Đại Việt đã có từ trước. Không như đồng “Đại Hưng bình bảo“, đồng “Đại Việt thông bảo” khá hiếm thấy. Điều này cũng dễ hiểu vì Lưu Cung chỉ sau 1 năm lập quốc đã đổi quốc hiệu từ Đại Việt sang Đại Hưng.

Chữ “bình” trong “bình bảo” có thể hiểu là bình dân, bình thường, “bình bảo” có nghĩa tương tự như “thông bảo” vậy. Trong bộ tiền cổ Việt Nam cũng có một vài đồng tiền mang tên “bình bảo” như đồng “Thiệu Phong bình bảo” đời Trần.

Còn vấn đề chữ “Đinh” ở mặt sau đồng tiền nghĩa là gì thì cần suy xét thêm. “Đinh” ở đây chưa chắc là họ của vua, mà có thể là một số đếm vì Đinh là số thuộc thập can. Có thể là chỉ năm đúc tiền, hoặc một loại số thứ tự nào đó. Nhiều đồng tiền cổ chữ ở mặt sau cũng không dễ hiểu, ví dụ có đồng tiền “Thuận Thiên đại bảo” được cho là đồng tiền của Lý Thái Tổ, với mặt sau có chữ “Nguyệt“. Tới nay chưa ai giải thích được chữ Nguyệt này nghĩa là gì.

Đồng tiền được cho là đồng tiền đầu tiên của Việt Nam lại là một bằng chứng về nước Đại Hưng của Lưu Cung. Đã là Đại Hưng thì không hề có nước Đại Hán ở Lưỡng Quảng và tức là trận thủy chiến với quân Nam Hán của Ngô Quyền không thể xảy ra trên sông Bạch Đằng…

Chữ Nguyệt ở mặt sau đồng Thuận Thiên đại bảo có thể là từ chỉ hướng Tây. Mặt trời là biểu tượng phương Đông. Mặt trăng là biểu tượng của phương Tây.
Như vậy rất có thể tương tự như chữ Đinh trên đồng Đại Hưng bình bảo, chữ Nguyệt cho biết đồng Thuận Thiên đại bảo là tiền đúc của đất Tĩnh Hải thời nhà Đinh – Lý.

Đồ ngọc Lương Chử – tiền thân văn hoá Thương?

Trong khảo cổ học ngoài văn hoá đồ đá, đồ đồng, … người ta thường hay không chú ý tới văn hoá khảo cổ đồ ngọc. Văn hoá đồ ngọc Lương Chử ở Triết Giang rất nên quan tâm vì có thể có liên hệ với Văn Lang (cũng như các khuyên tai ngọc thời Đông Sơn). Ở đây có hình tượng “Ngọc tông” thao thiết vuông tròn theo quan niệm trời tròn đất vuông (trong sự tích bánh chưng, bánh dầy). Văn hoá thờ đồ ngọc sau này còn ghi dấu nhiều trong các tín ngưỡng của đạo Giáo như Ngọc Hoàng, Ngọc Nữ…

Địa điểm khảo cổ Lương Chử gần Hàng Châu – Triết Giang được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp với những hình thao thiết (taotie) độc đáo.

048_030

Một ngọc khí có thao thiết của văn hoá Lương Chử

Hình thao thiết này ở giai đoạn sau trở thành một đặc điểm của đồ đồng nhà Thương và Chu.

800px-Liu_Ding

Thao thiết trên đỉnh đồng đời Thương

Với vai trò quan trọng của ngọc khí ở Lương Chử và đỉnh đồng trong văn hoá Thương (đồ tế tự, đồ dùng của tầng lớp khanh sĩ, vua chúa) thì có thể thấy văn hoá Thương phải bắt đầu từ vùng Nam Dương Tử chứ không phải ở Hoàng Hà. Điều này cũng trùng với cách giải thích sự có mặt của các địa điểm khảo cổ thời Tiền và Trung Thương ở Tân Can, Ngô Thành và Bàn Long Thành ven sông Dương Tử.

Cùng thời với Lương Chử ở hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông có văn hoá Long Sơn, được coi
là một trong những nền văn hoá khởi thủy của Trung Nguyên cùng với Ngưỡng Thiều ở trung lưu Hoàng Hà. Văn hoá Long Sơn còn gọi là văn hoá “gốm đen”, còn Ngưỡng Thiều là văn hoá “gốm đỏ” (gốm vẽ).

neo

Các khu vực hậu kỳ đồ đá mới Trung Quốc: Liangshu – Lương Chử, Lungshan – Long Sơn, Yangshao – Ngưỡng Thiều, Hongshan – Hồng Sơn.

Tuy nhiên khu vực hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông ngay trong giai đoạn đồ đồng tiếp theo lại được xác định là của tộc người Đông Di, với đặc trưng là các mộ đá, và có quan hệ trực tiếp với văn hoá đồ đồng ở bán đảo Triều Tiên (theo phân bố của dao găm đồng Liêu Ninh). Như vậy văn hoá Long Sơn không phải là của người Hoa Hạ. Chính văn hoá Lương Chử mới là tiền thân của nhà Ân Thương ở Hoàng Hà.

Lương Chử có thể coi là giai đoạn tiếp theo của nền văn hoá lúa nước từ Hà Mẫu Độ, rồi Mã Gia Bang ở Nam Dương Tử. Đây rõ ràng là những địa điểm khảo cổ của người Mongon Nam (Bách Việt). Với trình độ ngọc khí cao như vậy (hơn cả Ngưỡng Thiều lẫn Long Sơn) người ta đã nói đến một “vương quốc Lương Chử” dọc theo bờ Nam sông Dương Tử. Nhưng vương quốc này sau đó biến đi đâu, không còn vết tích gì, là câu hỏi khó cho các nhà khảo cổ Trung Quốc.

“Vương quốc Lương Chử” đã không “biến mất” do “lũ cuốn trôi” hay do chiến tranh như quan niệm khảo cổ ngày nay, mà nó đã phát triển thành văn hoá Ân Thương ở giai đoạn đồ đồng tiếp theo và tiến lên phương Bắc theo bước dời đô của Bàn Canh. Chỉ vì không muốn nhìn nhận nhà Thương có nguồn gốc từ Nam Dương Tử nên nền văn hoá Lương Chử mới phải “đột ngột biến mất” như vậy. Và như vậy “vương quốc Lương Chử” không phải gì khác mà chính là nhà Hạ (trung hưng), triều đại trước của nhà Thương.

Suy nghĩ về khảo cổ và lịch sử Trung Quốc

Bản đồ lãnh thổ lịch sử Trung Quốc theo như quan niệm hiện nay:

M_Hist

Phần đen đậm là khu vực được cho là khởi nguồn của Trung Quốc. Thế nhưng có thể thấy ở đây có 2 khu:
– Khu thứ nhất là dọc sông Hoàng Hà với các địa điểm khảo cổ từ thời đồ đá như Ngưỡng Thiều, Bán Pha, Từ Sơn. Khảo cổ cho thấy đây là khu vực nông nghiệp trồng kê ở ruộng cạn.
– Khu vực thứ hai được biết qua di chỉ Hà Mẫu Độ ở phía Nam cửa sông Dương Tử. Đây là khu vực trồng lúa nay được coi là sớm nhất (7000 năm trước CN). Nhiều nhà khoa học đã nhất trí cho rằng khu vực này thuộc văn hóa Bách Việt, với tộc người là Monglonoid phương Nam. Khảo cổ ở phần
Nam Trung Hoa xa hơn hiện còn chưa nhiều, và ít khi được công bố vì…

Như vậy Trung Quốc đã cố tình nhận vơ cả khu vực trồng lúa nước ở Nam Dương Tử thành nguồn gốc của Hán tộc ở Hoàng Hà. Xét đời Thần Nông dậy dân trồng lúa, vua Nghiêu thúc trạch Nam Giao, vua Thuấn tuần du chết ở Thương Ngô (trung lưu Nam sông Dương Tử) thì không thể nói khác những vị vua tiền sử này phải là thuộc khu vực lúa nước Nam Dương Tử.
Hà Mẫu Độ ở Phúc Kiến Chiết Giang có thể là đất Cối Kê, nơi vua cùng dân con cháu Hạ Vũ lội nước, đắp đê để khai phá thời Hạ trung hưng.

Bản đồ tập hợp những địa điểm khảo cổ đồ đồng ở Trung Quốc:

KhaocoTQ2

Trung Quốc thường dựa vào địa điểm khảo cổ ở Ân Khư – An Dương đời Thương để khẳng định lịch sử nhà Thương là ở Hoàng Hà. Chữ viết trên giáp cốt cũng bắt đầu từ đây. Nhưng An Dương là khu vực Hậu Thương. Các di chỉ đồ đồng đời Thương còn có ở Bàn Long Thành và Tân Can ở tận phía
Nam sông Dương Tử. Những di chỉ này lại có phần sớm hơn cả ở Ân Khư. Một cách hợp lý thì đồng khí Thương phải phát triển từ khu vực đồ đá mới Hà Mẫu Độ ở Nam Dương Tử, chứ không phải từ Hoàng Hà.
Như vậy phải hiểu: nhà Thương bắt đầu từ khu vực sông Dương Tử rồi mới tiến lên Hoàng Hà, chứ không phải ngược lại. Trong lịch sử được ghi nhận là chuyện Bàn Canh năm lần bảy lượt dời đô, lập nên một triều đại tương đối riêng biệt là nhà Ân (tức là nhà Thương thứ hai).
Ở Ân Khư có những đồ đồng có hình mặt người và được xác định là kiểu người Nam Á. Như vậy Ân Khư là di chỉ của người Nam Á chứ không phải của Hán tộc, là dân Monglonoid phương Bắc.
Tân Can có thể là nơi đóng đô của Thành Thang khi mở đầu nhà Thương. Những kinh đô khác khi Bàn Canh dời đô dần dần lên hướng bắc là Bàn Long Thành (Long Thành có nghĩa là thành nơi vua ở), Trịnh Châu. An Dương là thủ đô của Trụ Vương nhà Ân.
Hán tộc nằm vào phức hợp đồng khí phương Bắc cùng với Hung Nô, Mãn. Tuy nằm ngay sát Ân Khư nhưng Hán tộc chẳng có liên quan gì đến đồ đồng đời Thương cả. Hán tộc chính là Đông Di, Nhung Địch trong Hoa sử, là những tộc người bị Trụ vương đuổi ra khi nhà Ân vượt Hoàng Hà.

Thẻ ngọc An Dương

Nguồn Đào Duy Anh:
Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa số 23:
“Chủ tịch phủ vừa giao cho chúng tôi một tài liệu mới nhận được sau ngày 1-12-1956 về một thẻ ngọc gọi là “An Dương ngọc giản” (thẻ ngọc An Dương), do nhà khảo cổ học Trung Quốc Dư Duy Cương ở Quảng Châu gửi tới. “Thẻ ngọc này … nguyên khổ 111×84. Nó hình trái tim, dày chừng nửa ngón tay trỏ, phía trên có một lỗ nhỏ, phía dưới có một lỗ to hơn. Về mặt phải, ở bốn góc, có bốn chữ “An Dương Hành Bảo”, chữ viết khá lớn: chữ thì viết theo lối “cổ trựu”, tức là lối cổ trựu văn từ đời Chu Tuyên Vương (thế kỷ thứ IX TCN); chữ thì viết theo lối “tiểu triện”, lối chữ thông dụng từ đời Chiến Quốc (thế kỷ thứ III TCN); chữ thì viết theo lối “đại triện”, lối chữ dùng từ đời Tần Hán (thế kỷ thứ II TCN)… “Bảng này viết đủ sáu mươi giáp tí, … và viết theo lối chữ giáp cốt
đời Ân (thế kỷ thứ XVIII TCN)… Nhà học giả họ Dư cho biết thêm tấm ấy đã tìm thấy ở Quảng Châu, … đã đào được hàng ngàn cái ngọc giản, miếng nào cũng khắc hơn một trăm chữ..

Nhận xét của Đào Duy Anh:
– “… Đối chiếu với những lối chữ cổ … ba chữ “Dương Hành Bảo” là chính xác. Còn chữ “An” thì còn ngờ…” – “Những chữ trên thẻ ngọc không phải là bằng chứng đầy đủ để tỏ rằng xã hội Lạc Việt đã biết dùng văn tự. Chữ đó toàn là chữ của Trung Quốc…
Chúng tôi cho rằng An Dương Vương Thục Phán chính là hậu duệ của vua nước Thục ở thời Chiến Quốc … có thể biết dùng lối chữ cổ trựu … và cả lối tiểu triện… Song sự có mặt của kiểu chữ đại triện thì hơi khó giải thích …”*
*Bài viết của Đào Duy Anh khá dài nên không tiện chép đầy đủ, chỉ trích những ý quan trọng nhất.

Bình luận:
Từ những năm 1950 chúng ta đã được gửi cho “Thẻ ngọc An Dương“, một bằng chứng rõ ràng về thời Thục Phán An Dương Vương, nhưng ngay học giả hàng đầu lúc bấy giờ như Đào Duy Anh cũng không dám tin vào bằng chứng này mà lại giải thích thành ra Thục Phán chạy từ nước Thục tận Tứ Xuyên mang theo đủ loại chữ viết từ đời Ân Thương vào nước ta…

Khảo cổ Việt Nam đã cho biết rõ ràng không hề có sự đột biến nào về văn hóa khảo cổ khi chuyển từ thời Hùng Vương sang An Dương Vương theo như niên đại chính sử hiện nay. Vậy làm sao mà Thục Phán với một nền văn hóa và chữ viết hoàn toàn xa lạ từ tận Tứ Xuyên có thể làm vua hàng chục
năm ở Việt Nam được?
Thẻ ngọc An Dương cho thấy:
– Thời đại của An Dương Vương bắt đầu sớm hơn nhiều so với sử sách đã ghi, ngang ngửa với thời bắt đầu của của nhà Chu (cuối nhà Ân).
– An Dương Vương dùng đủ loại chữ mà văn hóa Trung Hoa cổ có, từ chữ trên giáp cốt của Ân Thương, chữ thời Chiến Quốc và chữ đời Tần Hán.
– Chữ “An” trong “An Dương Hành Bảo” có thể không phải là “An”, như nghi ngờ của Đào Duy Anh. Thực ra đó là chữ “Âm”, tức Âm Dương Hành Bảo. Thẻ ngọc chép đủ can chi, chứng tỏ có liên quan trực tiếp đến thuyết âm dương.
Nhìn theo sử thuyết mới càng rõ ràng An Dương Vương hay Âm Dương Vương chính là Chu Văn Vương, một triều đại Hùng Vương Việt Nam (Hùng Chiêu Vương). Và chữ viết của Trung Hoa, kể cả chữ đời Ân Thương trên giáp cốt là thành tựu của người Việt.