“Thi sử kinh nhân” Hồ Tông Thốc

Hồ Tông Thốc, dòng dõi họ Hồ ở Châu Diễn, đỗ trạng nguyên cuối thời nhà Trần, là một nhà thơ có tiếng của thời đó. Về khả năng làm thơ và … uống rượu của ông đã được người cháu họ là Hồ Nguyên Trừng mô tả trong tác phẩm Nam Ông mộng lục, bài Thi tửu kinh nhân (Thơ và rượu kinh người):
Người Diễn Châu Hồ Tông Thốc, thi đỗ từ trẻ, rất có tài danh. Ban đầu chưa nổi tiếng lắm, nhân đến Nguyên tiêu, có đạo nhân Pháp quan họ Lê giăng đèn mở tiệc, rước khách văn chương. Tông Thốc nhận giấy mời đề thơ. Trong một đêm, trên tiệc làm trăm bài thơ, uống trăm chén rượu, ai nấy xúm nhìn thán phục, không ai địch nổi. Từ đó danh động kinh đô, sau dùng văn tài làm thầy người. Làm quan thờ Trần Nghệ Vương, quan đế Hàn lâm học sĩ, Thừa chỉ kiêm Thẩm hình viện sứ, thơ rượu không ngày nào vắng. Tuổi ngoài tám mươi, mất tại nhà.
Làm trăm bài thơ một lúc đã là tài, còn uống đến trăm chén rượu một lúc thì quả là “kinh người”. Thơ rượu không ngày nào vắng mà thọ tới 80 tuổi!
Nhưng Hồ Tông Thốc không chỉ làm “kinh người” bởi thơ và rượu…
Trong dòng họ Hồ, Hồ Tông Thốc và Hồ Quý Ly đều cùng là cháu đời thứ 15 kể từ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi – Châu Diễn. Hồ Tông Thốc làm quan nhà Trần, từng được cử đi sang sứ triều Minh. Trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ còn ghi lại một bài thơ của ông trên đường đi sứ, đề ở đền Hạng Vũ như sau:
Bách nhị sơn hà khởi chiến phong
Huề tương tử đệ nhập Quan Trung,
Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh
Tuyết tán Hồng môn ngọc đấu không
Nhất bại hữu thiên vong Trạch tả
Trùng lai vô địa đáo Giang Đông
Kinh doanh ngũ tải thành hà sự
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ Công.

Trong câu đầu tiên của bài thơ cụm từ “sơn hà” thì rõ là chỉ nước non, quốc gia. Hai chữ đầu vậy chắc chắn là tên một nước. Các chữ “Bách nhị” này được các sách hiện nay giải thích: nhà Tần đóng đô ở Quan Trung là nơi hiểm yếu, hai người có thể chống chọi trăm người nên mới có tên Bách nhị sơn hà.
Giải thích vậy xem ra không ổn, vì:
– Tại sao không phải 1 người chọi một trăm mà lại là 2 người? Một chọi trăm mới đúng là thành ngữ. Hơn nữa, làm gì có ai lấy chuyện bâng quơ như vậy để gọi tên quốc gia, “sơn hà” bao giờ.
– Nhà Tần khi Hạng Vũ khởi nghĩa đã đóng đô ở khoảng giữa hai nhà Đông Chu và Tây Chu, là chốn phồn hoa đô hội lâu đời, có đường thông ra tận cửa biển. Tần Thủy Hoàng xưng đại đế, có sợ ai đâu mà phải đóng ở chốn hiểm yếu, để đến nỗi tên nước gọi thành “Bách nhị”.
– Hạng Vũ người nước Sở, theo Sở Nghĩa Đế nổi dậy chống Tần, đâu phải là người Tần mà nói khởi nghĩa ở Quan Trung?
Thực ra trong chữ Nho, chữ Nhị 貳 phồn thể rất gần với chữ Việt 越, nhất là khi viết trong cổ văn. Đọc là “Bách Việt sơn hà”… cụm từ này rất thông dùng để chỉ non sông Bách Việt. Hạng Vũ khởi nghĩa ở Bách Việt, thật quá chính xác. Nước Sở chẳng phải thuộc Bách Việt thì là gì? Nhà Tần cũng là Bách Việt mà thôi.
Nguyên ý bài thơ của Hồ Tông Thốc xác định cuộc khởi nghĩa của Hạng Vũ chống Tấn là lịch sử Bách Việt, đã bị người đời sau “mắt mờ đọc quẹo”, Việt 越 thành nhị貳, thành ra nghĩa không thể hiểu nổi…
Hai chữ cuối của bài thơ là “Lỗ Công”, được giải thích khi Hạng Vũ chết đã được Lưu Bang dùng lễ mai táng như Lỗ Công. Lỗ Công là ai? Mai táng như Lỗ Công là trọng hay khinh?
Lỗ Công tức là Chu Công Đán, vương nước Lỗ. Chu Công là người đã phò tá Chu Thành Vương dẹp loạn, ổn định triều chính, gây tạo cơ nghiệp nhà Chu gần nghìn năm. Lễ nghi Trung Hoa đều bắt đầu từ Chu Công cả. Lưu Bang dùng lễ táng của Chu Công đối với Hạng Vũ thì có thể nói là thể hiện sự coi trọng hết mức.
Với những chú giải trên xin ghi dịch lại bài thơ Đề ở đền Hạng Vương của Hồ Tông Thốc như sau:
Bách Việt non sông nổi bụi hồng
Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh
Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không
Thua chạy giời xui đường Trạch Tả
Quay về đất lấp nẻo Giang Ðông
Năm năm lăn lộn hoài công cốc
Còn được vùi trong mả Lỗ Công.

Hồ Tông Thốc không chỉ là nhà thơ mà còn là một sử gia tài năng. Ông là người đã viết những cuốn sử đầu tiên của nước ta là Việt sử cương mục Việt Nam thế chí. Hai từ “Việt Nam” được dùng lần đầu tiên chính là trong tác phẩm của Hồ Tông Thốc từ thời Trần. Có thể thấy Hồ Tông Thốc không hề mơ hồ khi đưa những dẫn liệu lịch sử vào thơ văn. Thơ và rượu chỉ là nguồn cảm hứng chứ không làm cong đi tính sử của các dữ liệu mà ông để lại.
Theo gia phả họ Hồ Tam Công ở Nghệ An thì tên hiệu của Hồ Tông Thốc là Động Đình Ông. Tại sao Hồ Tông Thốc lại lấy Động Đình làm bút danh? Hồ Động Đình nếu ở Hồ Nam – Trung Quốc thì quá vô lý. Hồ Nguyên Trừng khi bị bắt nhà Minh bắt sang Bắc Kinh, viết sách lấy hiệu là Nam Ông, tưởng nhớ về phương Nam. Còn Hồ Tông Thốc … chẳng nhẽ là tưởng nhớ đến đất Hồ Nam?!
Thơ của Hồ Tông Thốc còn lưu lại được bài Du Động Đình họa Nhị Khê nguyên vận (Chơi Động Đình hoa vần thơ của Nhị Khê). Một số sách chép bài thơ, không hiểu Hồ Tông Thốc đi … du lịch ở tận Động Đình Hồ Nam lúc nào, nên sửa thành Du Đông Đình họa Nhị Khê…?!
Nguyên văn phiên âm bài thơ chữ Hán:
Tài thức như quân thượng thiếu niên
Văn chương ta ngã lão vô duyên
Dĩ tương đắc táng di hình ngoại
Bất phục công danh đáo chẩm biên
Biến báo chỉ kham nhàn ẩn khách
Tiễn ngư hà tất khổ lâm xuyên
Hạnh năng nhật nguyệt tần lai phỏng
Hưu quái Động Đình tự khánh huyền.

Câu kết thường được dịch theo nghĩa: Chớ ngại Đông Đình: khánh ngoắc lên!
Dịch thế này thì chẳng hiểu gì cả! Tại sao lại ngại đình Đông? Tại sao treo khánh lên làm gì?
Bài thơ trên làm vào quãng thời gian cuối đời của Hồ Tông Thốc. Khi Hồ Quý Ly soán đoạt ngôi của nhà Trần, chí hướng Hồ Tông Thốc và Hồ Quý Ly khác nhau nên Hồ Tông Thốc đã từ quan về đất Nghệ An ở ẩn. Bài thơ này do vậy miêu tả một người “tài thức” còn đang sung sức như “thiếu niên”, nhưng đã gạt “công danh” sang một bên mà “nhàn ẩn”.
Câu kết bài thơ như vậy phải hiểu là: Về hưu ở Động Đình như chiếc khánh màu huyền, ý nói đi ẩn, giữ mình thanh sạch như chiếc khánh đen tuyền, không gợn vết.
Hồ Tông Thốc về hưu ở Động Đình… Động Đình đây là biển Đông, chứ chẳng phải đầm, hồ nào ở Hồ Nam cả. Nơi ông cáo lão về quê là Nghĩa Đàn – Nghệ An. Từ đó mà đi ra biển Đông thì chẳng mấy bước, Hồ Tông Thốc “Du Động Đình…” thật chẳng khó khăn gì.
Hồ Tông Thốc sinh ra ở ven biển duyên hải Châu Diễn. Diễn nghĩa là vươn dài ra biển (“Dài … biển” thiết Diễn). Ông lớn lên và đi học ở Hồng Châu – Hưng Yên. Khi cáo lão lại về Nghệ An ẩn cư. Cả cuộc đời ông gắn với miền biển. Hơn nữa, là người chép huyền sử Việt, ông rất hiểu truyền thuyết họ Hồng Bàng mà trong đó Động Đình là quê mẹ của Lạc Long Quân, là cội nguồn của Bách Việt, nên đã lấy tên hiệu Động Đình Ông vậy.
Bài minh trên văn bia chùa Báo Ân, núi Non Nước (Ninh Bình), là một trong số ít những bài minh do Hồ Tông Thốc thảo còn lưu lại được, có đoạn:
Ôi! Phật pháp từ khi nhập vào Trung Quốc đến nay, khắp núi sông trong thiên hạ, những vùng đất danh thắng như nơi đây đều quy về nhà Phật. Nhưng Phật đặt ra Phật pháp để độ người, đó là cái tâm của Phật, còn người xây dựng chùa để thờ Phật thì đó lại không phải là ý muốn của Phật vậy…
Hoàng Việt niên hiệu Xương Phù năm thứ 7 (1383) ngày mùng 7 tháng Chạp năm Quý Hợi.

Tại sao văn bia ở Ninh Bình, nói về chùa về phật ở Ninh Bình lại nói Phật vào “Trung Quốc” là thế nào? Thời Trần đã làm gì có “Trung Hoa nhân dân quốc” mà gọi là Trung Quốc? Ở trên ghi là “Trung Quốc”, còn dưới thì ký “Hoàng Việt”…
Nhà sử học Hồ Tông Thốc đã ghi rõ: Trung Quốc là từ mà nhà Trần gọi quốc gia Hoàng Việt của mình. Trung Quốc là nước giữa thiên hạ, tức là… thiên tử. “Việt Nam” thời Trần (đúng nghĩa trong Việt Nam thế chí) chính là Trung Quốc!
Thời Trần, một bên là các vua họ Trần, gốc Mân Việt, một bên là nhà Nguyên, gốc … Mông Cổ, thì hiển nhiên nhà Trần mới chính là Trung Hoa chân truyền từ thời Tam đại. Nhà Trần gọi mình là Trung Quốc hoàn toàn đúng.
Cái làm “kinh người” của sử gia Hồ Tông Thốc còn là ở chỗ, chính ông là người đầu tiên đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử. Nếu Lê Văn Hưu viết sử chỉ từ thời Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) thì Hồ Tông Thốc đã rất mạnh dạn và sáng suốt chép toàn bộ thời Hồng Bàng vào sử. Sử quan vừa thoáng lại vừa sâu, cách viết sử có phương pháp rành mạch của ông đã được Ngô Sĩ Liên nhận xét và đánh giá cao, xếp ông còn vượt hơn Lê Văn Hưu và Phan Phụ Tiên. Ngô Sĩ Liên tiếp tục sự nghiệp Hồ Tông Thốc, đưa thời đại Hùng Vương vào trong Đại Việt sử ký toàn thư. 18 triều Hùng nước Việt nhờ vậy được lưu truyền trong con rồng cháu tiên mãi tới ngày nay.
Các tác phẩm Việt sử cương mụcViệt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc hẳn còn chứa đựng nhiều thông tin xác thực và giá trị nên mới bị … “thất lạc” (?) dưới thời giặc Minh xâm lược. Ý đồ tiêu hủy sử sách Việt Nam của nhà Minh rất rõ ràng, sách gì cũng đốt, bia gì cũng đập, tứ đại khí An Nam đem nấu chảy làm vũ khí cả…
Cũng may Bài tựa sách Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc còn lưu lại được đầy đủ. Trong đó đã nói rõ quan điểm sử học của Hồ Tông Thốc khi đưa những huyền thoại, truyền thuyết vào chính sử:
Có người hỏi tôi rằng: Bỏ cái lạ giữ cái thường là đạo của thánh hiền, tại sao ông lại câu nệ theo cũ, không nêu rõ lời mới để đổi hẳn thói mê hoặc của đời?
Tôi đáp rằng: … Cho nên những chuyện góp nhặt được đều là lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời. Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá; thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử; tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.

Những truyền thuyết trâu thần rắn quái lưu truyền trong sử từ Hồ Tông Thốc ấy nay đã … chờ được “các bậc quân tử sau này”. “Ngọc đá” tới nay đã phân minh. Từ “tiếng vang và hình bóng của lịch sử” đã phục dựng được gần như nguyên vẹn bức tranh cổ sử. Từng trang huyền sử Việt đang ngày càng hiện tỏ. Thi sử gia Hồ Tông Thốc chắc cũng được ngậm cười nơi chín suối; hay đang phù hộ cho cháu con trên con đường hoàn thành tâm nguyện của cha ông …
Câu đối ở nhà thờ Hồ Tông Thốc tại Nghệ An:
國慶家慶長先德榮封自今始
臣心子心一吾生報稱相謂何
Quốc khánh gia khánh trường, tiên đức vinh phong tự kim thủy
Thần tâm tử tâm nhất, ngô sinh báo xứng tương vị hà.
Dịch:
Bền lâu thế nước vận nhà, đức tổ tới nay vinh vẫn lớn
Như một lòng thần dạ tử, đời ta đã xứng báo đền chưa.

Tây học và Cựu học

Thời buổi ngày nay người ta đua nhau cho con cho cái đi học nước ngoài từ … lớp vỡ lòng đến đại học. Những người đang có công ăn việc làm cũng chăm chăm để đi học, không Âu thì Mỹ. Người không có việc làm lại càng muốn xuất ngoại. Thời bây giờ đi học không ai còn theo cái chí học của Phan Bội Châu mà “Đông du” như xưa. Người ta đi học để mong cái bằng Tây học sẽ đem lại kiến thức cao siêu hơn, công ngon việc lành hơn, ví trí xã hội đứng trên nhiều người hơn…

Cơ hội Tây học ngày nay cũng nhiều. Đi xa thì có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Hà Lan, … Đi gần cũng không thiếu Úc, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,… Học bổng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ,… không phải quá khó để nhận được đối với những người có học lực tốt. 2 năm, 3 năm hay 5 năm về là có bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ “made in” nước ngoài…

Nhưng đời nay có mấy ai học làm … “kẻ sĩ”? Kẻ sĩ thời nào cũng vậy, là người có kiến thức và vì có hiểu biết đầy đủ nên là những người có trách nhiệm với quê hương, với đồng bào, với bạn bè. Người làm kẻ sĩ lấy nhân lấy lễ làm gốc, đối với bạn bè luôn chân tình và hết lòng, không cho phép với bạn bè “thấy chết mà không cứu”. Kẻ sĩ thời nay biết “trọng nghĩa khinh tài” thật ít. Thạc sĩ tiến sĩ Tây học ngày càng nhan nhản nhưng Tây học chỉ có học cái “khôn” mà không học cái “ngoan”. Quan trường đất Việt ngày nay mới đẻ ra lắm tham nhũng, tệ nạn đến vậy.

Kẻ sĩ nói được là làm được. Ngày nay người nói thì nhiều, người làm thì ít. Người làm như nói lại càng hiếm. “Chém gió” và múa “hoa chiêu” đã thành “nghề” của nhiều “nhân sĩ” Tây học đời nay.

Nước ta từ khi người Pháp tới, Tây học thay dần Cựu học. Nhân lễ nghĩa trí tín của Nho đạo bỏ đi đằng nào hết. Tây học dựa vào lý lẽ, nhằm vào công nghệ, pháp luật. Cựu học lấy văn làm gốc, văn là người, dựa vào tình người. Tây học có môn gọi đúng tiếng Tây là “nhân học” (humanities). Tiếng ta gọi là Khoa học Nhân văn. Chữ văn được thêm vào trong tiếng Việt thật đầy đủ và bao hàm hơn cái tiếng Tây nhiều.

Người Việt cứ cho rằng Cựu học dựa vào Tứ thư Ngũ kinh của Nho giáo bên Tàu, thôi thì đằng nào cũng là học theo người ta, Tàu hay Tây cũng đều vậy cả. Ít ai biết rằng Nho học của ta chẳng “Tàu” chút nào, mà là “Ta” từ gốc 100%. Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc được Khổng Tử đúc kết vào thời Đông Chu, chẳng phải ở đâu xa mà chính là vùng Việt Nam và lân cận ngày nay.

Thi là thơ, là văn. Học Thi không phải là học làm thơ, mà là học nói học viết.
Thư là sách, là lịch sử. Không biết sử thì như người mất gốc, lưu lạc ngay trên đất quê hương của mình.
Dịch là quan niệm, là triết học. Dịch là cái gốc làm nên văn hóa Việt Nam.
Lễ là cách đối nhân xử thế. Khổng Tử nói: “Không học Lễ thì không biết đi đứng ở đời”.

Không tự nhiên mà người Việt được đánh giá cao về tố chất, khả năng thích ứng, suy luận, tư duy logic… Bản lĩnh văn hoá, trình độ con người Việt có nguồn gốc cả 4-5 ngàn năm lịch sử. Cái tên nước Văn Lang từ thời Hùng Vương cũng đủ nói lên một dân tộc có “văn” từ bao đời.

Thời Trần, quân Mông Cổ khi đã chiếm cả vùng đất của nhà Tống vẫn bắt Đại Việt hàng năm phải cống nạp “nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và nghệ nhân giỏi, mỗi loại 3 người”. Người Mông Cổ hơn ai hết hiểu rõ cội nguồn Nho, Y, Lý, Số của Trung Hoa nằm ở đâu. Việt Nam tới nay vẫn tỏ rõ khả năng “xuất khẩu nhân tài” như Ngô Bảo Châu mới giải Fields toán học gần đây.

Cựu học có ít nhất từ Khổng Tử, tính rẻ cũng là 2 nghìn năm. Tây học vào nước ta mới có 200 năm. Bỏ cái 2 nghìn năm của “ta” để thay bằng cái 200 năm của Tây thì có vô lý quá không? Lẽ ra lấy Cựu mà nghinh Tân thì người ta lấy Tân mà nhìn vào Cựu. Dùng đồ Tây mới toanh thì hỏi làm sao có thể giải quyết được những vấn đề nghìn năm của “ta”?

Cái hậu quả của Tây học át Cựu học tới nay đã có thể thấy rõ ở Việt Nam. Chỉ quan tâm đến công nghệ và kinh tế thị trường nên môi trường sống bị ô nhiễm và xuống cấp nghiêm trọng. Một nước 80% dân số sống bằng nông nghiệp mà tìm được ngọn rau sạch, con cá lành để ăn cũng khó… Rừng núi, cây cối, động vật theo nhau … đội nón ra đi phục vụ thói quen tiêu dùng vô tội vạ … kiểu Tây… Khoáng sản được đào khắp nơi, mặt đất hóa thành hầm thành hố, thành bãi thải,… Thủy điện nhiều như cầu như cống, một đống nước treo trên cao, không đổ xuống đầu thì mới là lạ…

Chế độ pháp trị kiểu Tây mà áp dụng ở ta có lẽ khiến ai cũng phải thất vọng. Luật nhiều như ma trận mà thực thi luật thì ít. Luật chỉ để phục vụ một nhóm người bên trên mà thôi. Con dân thấp cổ bé họng chỉ thấy luật treo lơ lửng trên đầu mình như gông như gánh, lúc nào cũng có thể rơi xuống chẳng bởi lý do gì cả…

Ngày nay Tây học tiến bộ bắt đầu nói đến “phát triển bền vững”, “kinh tế xanh”… Nhưng những chữ “phát triển” và “kinh tế” vẫn nằm ở đầu. “Bền vững”, “xanh” chỉ là cái đuôi đằng sau, để gọi cho mốt mà thôi.

Khác với Tây học chăm chăm đi theo một cực, Cựu học phương Đông từ gốc đã xuất phát bởi quan niệm của Dịch là lưỡng lập, có trời có đất, có âm dương, có nam có nữ, có to có nhỏ, có càn có khôn, có lý có tình. Mọi thứ phải cân bằng thì mới tồn tại. Âm dương đối lập mà hoà hợp. Vừa cân bằng lại vừa dịch chuyển. Vì thế cái học, cái đạo xưa rất “thân thiện” với môi trường. Nền khoa học như vậy chắc chắn là “xanh”, chẳng cần lên gân lên cốt “kinh tế xanh”, “công nghệ sạch” làm gì…

Tây học đặt người lên trên cả trời đất, thì làm gì mà môi trường chẳng bị huỷ hoại, biến đổi khí hậu gây đại hồng thuỷ cận kề… Con người mà ở trên cả trời đất thì … chắc còn có nước kéo nhau lên cung trăng mà ở… Ở đó có chỗ sẵn cho các … chú Cuội… ngồi trông chị Hằng dưới gốc cây đa…

Cựu học xác định “trên trời dưới đất giữa hoà nhân gian”. Con người là trung tâm nhưng là một phần trong tổng thể không tách rời thiên – địa – nhân…

Dịch học nhấn mạnh sự “trung dung”, tức là trúng. Làm không cần đao to búa lớn mà phải biết làm đúng, làm trúng mới nên. Lời quẻ Khôn: “Nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh”… “Nguyên, hanh, lợi” là các nguyên tắc Nhân bản, hợp lý và thiết thực. “Tẫn mã” là “ngựa cái”, ý nói đến sự tòng thuận. Có tòng thuận thì mới có “trinh”. Tức là phải biết tuân theo qui luật thì mới bền vững.

Ông tổ tín ngưỡng Đạo Giáo phương Đông Lão Tử cũng chẳng ở đâu xa, chính ngay bên thành Cổ Loa Việt Nam. Lão Tử cưỡi trâu, trâu cũng như ngựa, là nói đến đạo tòng thuận và đề cao đạo đức: “Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên” (Đạo đức kinh). Biết tòng thuận với tự nhiên thì mới bền vững.

Tây học sau nhiều năm lấy pháp trị là chính, nay lại nói đến “cộng đồng”, “sự tham gia”, “đồng quản lý”, … Nói nhiều mà mọi thứ vẫn rối tinh, đâu vẫn hoàn đó. Bởi vì bản chất của Tây học không thể đi được vào quần chúng một cách thật sự.

Còn trong văn hóa Việt tính cộng đồng, coi trọng người dân đã có từ lâu. Từ thủa khai quốc triều đại Việt dựa vào các “tế bào” xã hội là làng xã mà nên. “Phép vua thua lệ làng”, nói theo ngôn ngữ ngày nay tức là “chính sách quốc gia” không bằng “hương ước cộng đồng”. Cộng đồng trong tâm trong hồn người Việt vẫn còn nhưng đã và đang dần bị Tây hoá, biến thành những đơn vị hành chính khô khan. Khôi phục, phát huy năng lực cộng đồng theo kiểu Tây thật khó…

Lật thuyền mới biết dân như nước… câu Nguyễn Trãi nói về Hồ Quí Ly. “Đồng quản lý” cái gốc là ở dân. Dân như nước, nước chảy đá mòn, có gì mà không thể làm được…

Lan man chuyện quả bầu và mẹ Âu Cơ

Đi qua vùng Suối Giàng ở Yên Bái bắt gặp các cửa hàng chế tác đá tự nhiên. Khu vực Yên Bái có tiếng nhiều đá vân đẹp nguyên gốc lấy từ núi Hoàng Liên về. Trong số các đồ làm ở đây có loại quả bầu đá phong thủy, rất ít gặp ở các nơi khác. Không giống như bầu hồ lô mang nặng mùi Đạo Lão, quả bầu đá ở Nghĩa Lộ được làm đơn giản, rất dân dã, trông giống như quả bí ngô mọc trên nóc nhà của người dân tộc ở khu vực này.

Chẳng thấy sách nào cho biết quả bầu bí dạng này thì có nghĩa phong thủy là gì nên đành tự nhận xét. Với hình dạng đầy đặn, lại có màu xanh ngả vàng thì có thể hiểu quả “bầu bĩnh” này có thể giúp mang lại sự giàu sang, phú quí, nhiều vàng bạc cho chủ nhà.

Một cách hiểu khác quả bầu hay “bào” là hình tượng của người mẹ. Người Việt ai mà không biết chuyện mẹ Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra trăm trai Bách Việt. Vì thế người Việt gọi nhau là “đồng bào”, tức là cùng một bầu mà ra. Còn có từ “bầu đoàn” có lẽ cũng với nghĩa những người sinh từ cùng một mẹ, một bầu, một bào hay một bọc mà ra.

Về thăm đền thờ quốc mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương – Hạ Hòa – Phú Thọ gặp câu đối tại chính điện thờ:
溯鴻厖締結以來仙種永傳留國祖
歷家郡肇修而後人群緬墓播炎邦
Tố hồng mang/ đế kết dĩ lai/ tiên chủng vĩnh truyền lưu Quốc tổ
Lịch cô quận/ triệu tu nhi hậu/ nhân quần miễn mộ bá Viêm bang.

Diễn dịch lại nghĩa:
Nhớ thủa hồng mang gắn bó tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ
Trải đất cô quận dựng sửa sau này, bầu dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.

Theo thần tích đền Hiền Lương thì nàng Âu Cơ là con của Ngọc Nương phu nhân quê ở động Lăng Xương… Lăng Xương đọc khác là Lang Xương, hay vua Xương. Âu Cơ ở Lang Xương tức là… Cơ Xương. Cơ Xương chính là tên của Chu Văn Vương, người khởi đầu nhà Chu trong Hoa sử.

Âu Cơ lấy Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm … Cơ Xương đánh Sùng Hầu Hổ của nước Sùng, khởi đầu cơ nghiệp nhà Chu… Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi dựng nước Văn Lang ở đất Phong Châu… Cơ Xương lập đô ở đất Phong, được gọi là Chu Văn Vương… So sánh 2 dòng sử Hoa – Việt thì thấy rõ mẹ Âu Cơ chính là Cơ Xương Chu Văn Vương, dân gian gọi là Lang Văn hay Lang Xương.

Âu Cơ nòi tiên bởi vì tiên là số 1, con số chỉ phương Bắc và màu đen. Màu đen hay màu ô = Âu. Gọi là Âu bởi vì Cơ Xương là Tây Bá hầu của nhà Thương ở đất Quảng Tây, nằm ở hướng Bắc của Lạc Việt. Mẹ Âu Cơ lấy cha Lạc Long lập ra nước Văn Lang. Đây cũng là truyền thuyết An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu – Lạc, thống nhất 2 tộc người Âu ở Quảng Tây – Vân Nam và người Lạc ở Giao Chỉ. Văn Lang và Âu Lạc là 2 tên của cùng một nước, gọi theo tên vị vua khai sáng hoặc theo các tộc người mà thôi.

Xã Hiền Lương ở Hạ Hòa – Phú Thọ, tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ bay về trời, rất có thể là nơi mất của Chu Văn Vương. Hạ Hòa tên cũ là Hạ Hoa, không biết có phải chỉ thiên tử của Trung Hoa xưa không.

Den mau
Đền mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương – Hạ Hòa – Phú Thọ

Mẹ Âu Cơ sinh bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, là tổ tiên của Bách Việt. Người “sinh” Bách Việt này là Cơ Phát, con của Cơ Xương. Sau khi Cơ Xương mất Cơ Phát kêu gọi các chư hầu nổi lên diệt Ân Trụ Vương. Trong truyền tích Việt còn ghi lại cuộc chiến này cuộc chiến chống giặc Ân của Hùng Vương với sự trợ giúp của Thánh Gióng:

Nhớ xưa đang thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài…

Vũ Ninh hay vua Ninh, Ninh Vương là tên của Cơ Phát trước khi lên ngôi.

Cơ Phát sau khi thắng giặc Ân về núi Nghĩa Lĩnh đất Phong Châu, nơi Lang Văn Cơ Xương định đô trước đó, lập cột đá thề với tổ tiên, rồi lên ngôi thiên tử của Trung Hoa, xưng là Chu Vũ Vương, truy phong cho cha mình là Chu Văn Vương, bắt đầu vương triều Chu của Trung Hoa kéo dài gần 1000 năm.

Cũng ở núi Nghĩa Lĩnh, Vũ Vương đã phân phong cho các công thần đất đai ở các nơi. Các đất phong này về sau thành các nước chư hầu của nhà Chu, là các chi Việt khác nhau trong đại tộc Việt ban đầu. Đây chính là sự kiện sinh bọc đồng bào trăm trứng của mẹ Âu Cơ, được truyền là tại đền Hạ của khu di tích đền Hùng.

Hai đại công thần khai quốc của Chu Vũ Vương là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích. Chu Công Đán là em của Chu Vũ Vương, được phong ở đất Lỗ. Thiệu Công Thích cũng là người cùng họ Cơ, được phong ở đất Yên. Thực ấp của hai vị này là Lào Cai (Lão Cai – Lỗ Cai) và Yên Bái (Yên Bá). Đây là 2 vùng đất trong Quốc phong của Kinh Thi gọi là Chu Nam và Thiệu Nam.

Đất Phong Châu – Vĩnh Phú xưa thuộc lộ Tam Giang, là nơi ba con sông lớn gặp nhau. Sông Đà chảy qua Hòa Bình. Sông Thao chạy dọc Lào Cai, Yên Bái. Sông Lô đổ vào nước ta ở Hà Giang. Cảnh đẹp sông núi trời đất dọc 3 con sông này đúng như câu thơ của Phạm Sư Mạnh:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng

Dịch là:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang


Hà Giang, Hòa Bình, Yên Bái tụ về linh địa Vĩnh Phú. Lô Giang, Thao Giang, Đà Giang hợp lưu ở Việt Trì. Việt Trì nghĩa là Bách Việt mãi vững bền…

Bảo tồn và bảo tàng

Bảo tồn là bảo vệ, gìn giữ và phát huy nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của tự nhiên. Bảo tàng là công việc tương tự nhưng là gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, vật chất đã được con người tạo ra. Hai công việc này rất giống nhau và đòi hỏi người làm cũng phải có những tư chất giống nhau.

“Tư chất” đầu tiên đối với những người làm bảo tồn cũng như bảo tàng là … phải hơi “không bình thường” một chút. Người “bình thường” chẳng ai bỏ công bỏ sức bỏ thời gian để lặn lội vào chốn rừng sâu núi thẳm chỉ vì mấy con khỉ, con nai hay mấy bông hoa lan, mấy cây thông ở đâu đó trên đỉnh núi. Người bình thường cũng không ai lần mò về các di tích, phế tích, tìm kiếm cổ vật, học những thứ tưởng như vô bổ như chữ Nho, chữ Nôm, làm việc toàn với … người chết, với thần với thánh. Ở cái thời đại kinh tế thị trường, đúng là chỉ có những người “bất thường” mới đi làm công tác bảo tồn, bảo tàng.

Thế nhưng, “phải có cái bất thường thì mới tìm ra được điều mới” – theo phó giám đốc bảo tàng Thái Bình, một người “trong nghề” bảo tàng lâu năm và chắc hẳn cũng là người “không bình thường”. Những người “bất thường” biết tin ở những điều “bất thường”, vì thế mới có thể làm nên những điều lạ thường, những phép màu mà người bình thường không thể làm được.

Có câu chuyện của nhà thơ Bút Tre Đặng Văn Đăng người quê Vĩnh Phú. Ông từng là Trưởng ty văn hóa của tỉnh Vĩnh Phú những năm còn chiến tranh. Cái biệt danh Bút Tre cũng đủ cho thấy ông là một người “kỳ quặc”. Câu thơ sau của ông tặng cho một cán bộ khi chuyển công tác về làm bảo tàng, viết đúng chất Bút Tre:
Chú về công tác bảo tàng
Cũng là công việc cách màng (mạng) giao cho.
Thể loại thơ Bút Tre “nổi tiếng” đã lâu nhưng ít ai biết chính nhà thơ Bút Tre ấy là người đã đóng góp to lớn trong việc khởi đầu các phát hiện và xác nhận sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương qua các nền văn hóa khảo cổ Sơn Vi rồi Phùng Nguyên, Gò Mun trên quê hương Vĩnh Phú. Về việc thờ các vua Hùng ông viết: “Cần phải xây dựng sự sùng bái tổ tiên bằng một khoa học (dịch lý) một thời đại (tính chất) với những con người hiện thực…”. Một phát biểu quá chính xác và còn đầy ý nghĩa đối với ngày nay. Cần nhìn tín ngưỡng dân gian dưới góc độ của khoa học phương Đông với tính chất thời đại ngày nay.

Tôi đã và đang làm công tác bảo tồn thiên nhiên, tính ra thâm niên đã gần hai chục năm. Nhớ hồi trước đây tuy chỉ là một người mới vào nghề nhưng nhờ cái “chẳng giống ai” của mình mà đã đứng tên nối danh với các cây đa cây đề của ngành thực vật khi viết sách về các loài tùng loài bách Việt Nam. Cái tên Bách Việt cũng nảy sinh từ đó.

Nay lại lần mò trong cổ sử để làm công tác “bảo tàng”. Đây không phải là sự hoài cổ, giữ cổ, mà là tìm vốn cổ để soi sáng cho đời nay. Để nối nguồn với tiên tổ, dựa vào phúc ấm của cha ông mà có thể vươn mình lớn nhanh như Phù Đổng, không chỉ cho mình mà cho cả đồng bào.

Sự “bất thường” tất nhiên chưa phải là tư chất duy nhất cần thiết cho những người làm bảo tồn – bảo tàng. Sử học thật sự cần có một “sử quan” rộng lớn, một “sử pháp” hiệu quả và cần nguồn “sử liệu” phong phú thì mới có thể nhìn nhận lại quá khứ một cách đúng đắn. Người biết sử có thể thấy chuyện cả ngàn năm trước một cách rõ ràng, gạt được bức màn hư ảo của thời gian và nhân gian, thì đó là lúc đã hóa thành “thần tiên”.

Những người làm bảo tồn, bảo tàng tiên phong như đi trên con đường “độc đạo”. “Độc đạo” không phải nghĩa là chỉ có một con đường, mà là con đường chưa ai từng đi. Con đường đó tất nhiên rất “độc địa”, người đi trên đó cũng rất “cô độc”.

Nhưng có lẽ không hẳn vậy. Trên con đường mình đi tôi vẫn gặp rất nhiều người có tâm huyết. Một thủ từ đền Đồng Xâm ở tận Kiến Xương – Thái Bình mà luôn sẵn sàng tự lần mò đến tất cả các di tích liên quan tới kỷ nhà Triệu và Lữ Gia ở tận Hà Nội, Sơn Tây hay Vĩnh Phú. Một phó giám đốc bảo tàng Thái Bình tuy mới gặp nhưng thấy cảnh “một người một xe máy” đi mấy trăm cây số chỉ để xem di tích thì đã nhiệt tình đề tặng sách và tỏ lòng giúp đỡ hết mức. Đó chẳng phải là do tổ tiên phù trợ trên con đường về với cội nguồn hay sao? Nghĩ mình ở tận thủ đô, vốn gì cũng là dòng chân truyền của “Có một nền văn hóa Việt Nam” mà lại không bằng những người ở tỉnh lẻ hay sao?

Làm bảo tồn – bảo tàng cần sự bền bỉ. Mang chữ “trùng cửu”, trường cửu trong tên mà không có sự bền bỉ thì sao xứng danh? Và làm bảo tồn – bảo tàng cũng cần một cái tâm luôn sáng. Một khi đã vụ lợi, vụ danh thì không thể nào mà có kết quả chân thực. Cái tên Minh Xuân thật hợp mà không dễ giữ.

Người làm bảo tồn – bảo tàng cần có “cơ” (có nền tảng kiến thức) và có “duyên”. Xem như truyện Kim Dung vậy, không phải cứ “danh môn chính phái” thì là đúng là tốt. Không phải cứ “chính sử” là thật sử. “Võ công cái thế” nhiều khi lại ở những người bản tính chân thực như tờ giấy trắng. Giấy có trắng thì mới có thể ghi được những điều mới lạ mà không bị vẩn đục.

Mỗi khi thấy mệt mỏi trên con đường bảo tồn – bảo tàng này thì lại đọc câu “thần chú” của đình Thổ Hà:
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.
Đông Chu Lão Tử khai Đạo ở Cổ Loa. Truyền nhân Nam Việt biết “ảo hóa” thì sẽ gặp được “thần tiên”. Nguồn khí chất của tiên tổ người Việt thật lớn lao.

Đôi lời tâm sự

Từ độ ngộ ra chân tướng Hoa là Việt, Việt là Hoa, để bỏ nước người, về nước ta, tự biến mình thành “kẻ sĩ đời nay”, một mình “một chổi”, cố phủi lớp bụi mờ lấp đầy trên lịch sử mấy ngàn năm, tìm về tổ tiên nguồn cội. Lội ngược dòng thật khó, nhất là lại lội một mình. Không ít người bảo dở hơi, đầy kẻ cười rỗi việc. Điều đó cũng không sợ bằng chẳng ai hiểu những gì đã bày ra.
Có nhà nọ có tinh thần học hỏi, chồng đọc kêu đau đầu, vợ thức tới 2 giờ sáng để nghiền ngẫm, nhưng cũng không thấu được bao nhiêu. Trên con đường “đội đá vá trời”, “Ngu công dời núi” này thật vô cùng cô đơn. Thiên mệnh chiếu vào ai thì đành lĩnh mệnh mà làm theo mệnh. Vốn biết mình văn dốt võ dát, chữ tác chữ tộ chưa phân, nhưng cũng cố lần mò trong dân gian, tiếp nối những dòng xưa của Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, dùng cái linh cái quái mà mở đường về với cha ông. Những mong tổ tiên phù hộ, đồng bào đồng cảm đồng tâm.
Đa tạ anh Văn nhân đã đưa đường chỉ lối, dẫn dắt và đánh giá cao những gì đã làm. Được nối bút cùng anh thật lấy làm vinh dự, chỉ sợ tài hèn sức mọn mà việc không nên. Gánh nặng này cùng ghé vai chia sẻ. Một người gánh, gánh không đặng, nhưng nhiều người góp sức chắc chắn sẽ hất được ngọn “ngũ hành giả” đang đè lên hồn Việt.
Những gì là thật thì không thể giả, những gì là giả thì không thể thật. Cái kim trong bọc sớm muộn cũng phải lòi ra. Nòng nọc rồi cũng đứt đuôi thành cóc nhảy lên bờ. Tiên trượng ước thư của Tản Viên Sơn Thánh vẫn linh thiêng từ thủa hồng hoa. Cha Rồng bay biển Bát, Mẹ Âu Cơ hóa Chu quân. Lão Tử xuất Cổ Loa. Tam phủ công đồng vạn thế mãi còn là đạo của người Việt … Những câu chuyện thật chẳng bao giờ dứt, sinh động hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết hay bộ phim nào.
Con người làm nên lịch sử, nhưng có lúc lịch sử làm nên những con người. Những dòng họ Cao, họ Hồ, họ Chu, họ Phan, họ Đỗ … con cháu ngày nay vẫn đang tỏa sáng. Trí giả gặp trí, nhân giả gặp nhân. Tôi mong mình sẽ gặp tri âm tri kỷ. Tự dưng thấy cô đơn mà có đôi lời tâm sự. Thể văn phú tạm dùng, dẫu biết chẳng hay cũng đành múa búa qua cửa nhà Lỗ Ban…

Nòng nọc đứt đuôi

Trong kho tàng truyện Nôm Trê cóc kiện nhau là câu chuyện ngụ ngôn đầy ý nghĩa. Cóc sống trên bờ, đến kỳ sinh nở đẻ xuống ao, nở ra nòng nọc. Cá Trê thấy thế dẫn về làm con mình. Cóc phát đơn kiện đòi con nhưng quan trên về tra xét, thấy lũ nòng nọc con bơi dưới nước giống như Trê, nên xử Cóc thua. Oan khuất tày đình. May nhờ có thầy Nhái bén “tư vấn”, đợi đến khi nòng nọc đứt đuôi, nhảy lên bờ thì cả nhà Cóc lại đoàn tụ. Cóc thắng kiện.

Trecoc

Bức tranh dân gian Đông Hồ đã diễn tả rất sinh động câu chuyện này. Hình ảnh chú Cóc hai tay giơ trên đầu dâng đơn kiện lên quan “thái thú” cá chép. Xung quanh toàn là họ hàng nhà tôm cá, không có lấy một chú ếch nhái nào. Nòng nọc thì đang còn đuôi, bơi bên cá Trê. Xét xử như vậy những tưởng Cóc sẽ thua. Nhưng Cóc vẫn hùng hồn tuyên bố (chữ trên tranh):

Giỏ ai quai nấy rành rành
Giương vây thích ngạnh tranh hành chẳng xong.

Sự thật cuối cùng sẽ trở về đúng chỗ của nó dù xung quanh có huyên náo như thế nào.
Câu chuyện này còn có chứa thâm ý gì?

Bức tranh Đông Hồ Thầy đồ cóc cho biết con cóc vốn là “thầy đồ”, là người đã sản sinh ra văn tự, chính là đàn “nòng nọc” đầu to chữ khoa đẩu xưa. Thầy đồ cóc là biểu tượng của văn hóa Việt. “Con cóc là cậu ông trời”, chỉ nghiến răng cũng đã làm Trời phải sợ.

Cóc quen vui thú bờ hồ,
Khi ra đài các, khi vô cung đình.

Chú Cóc Việt đơn giản nhưng thật cao quí, đầy hãnh diện.

Đàn chữ khoa đẩu nòng nọc của nền văn hóa Việt sinh ra ở dưới nước, bị cá Trê cướp đoạt mất. Nước (thủy) trong Dịch học là tượng trưng của phương Bắc ngày nay. Con cá Trê đen nhẻm, chuyên rúc bùn ao là hình ảnh của hắc tặc – giặc phương Bắc. Hán tộc đã cướp không đàn chữ “nòng nọc” của người Việt, gọi thành “chữ Hán”. Cuộc kiện tụng ngàn năm xem “cái chữ” thuộc về ai bắt đầu.

Quan tòa xét xử như trong bức tranh đều là họ hàng tôm cá cả. Một mình chú Cóc Việt đâm đơn, đòi lại chân lý, đòi lại công bằng. “Chữ Hán” là của người Việt. Cái điều tưởng như vô lý, “thế giới” ai ai cũng cười nhạo này rồi cuối cùng cũng trở về đúng vị trí của nó.

Hãy nghe lời Cóc mắng Trê trên công đường:

Trê kia chớ có huyên hoa,
Hùm dầu có cánh ta đà chẳng ghê.
Quả tình nào có hồ nghi,
Ra điều bán dạ lâm trì khó coi.
Phù sinh mấy kiếp ở đời,
Làm cho rắn cắn được voi còn chầy.
Chỉ nghề dạy khỉ leo cây,
Xui nguyên dục bị, chỉ hay bày trò.
Ai ngờ xã thử thành hồ,
Chỉ điều cậy thế làm cho hại người.
Biết rằng hươu chết tay ai,
Mỏ chim, nanh chuột tranh hơi còn nhiều.

Đoạn này truyện Nôm dùng toàn thành ngữ: “hùm dầu có cánh”, “bán dạ lâm trì” “rắn cắn voi”, “dạy khỉ leo cây”, “xã thử thành hồ”, “hươu chết tay ai”… Chửi rất hay và rất đúng. “Thầy đồ cóc” có khác, rất lắm chữ. Cái lý ở đời không thể nào đổi trắng thay đen được, không thể dùng quyền thế mà lấn át sự thật.

Và cái sự kiện tụng ở đây đã không chỉ còn dừng lại ở phân xử chữ Nho là của ai nữa. Điển tích “săn hươu” là chỉ “thiên hạ”. “Thiên hạ” Trung Hoa thực sự là của ai?

Đầu năm Nhâm Thìn đã tìm thấy chữ Lạc Việt khắc trên đá ở Bình Quả – Quảng Tây, với niên đại vào thời kí đỉnh cao của ‘văn hóa xẻng đá lớn’ cách đây 4000 – 6000 năm. Nòng nọc khoa đẩu cuối cùng cũng đứt đuôi để lên bờ, trở về với cha ông Cóc của mình. Lời “tiên tri” trong câu chuyện Trê cóc đã thành sự thực.

Đáng nói là loại chữ Lạc Việt cổ này có sớm hơn chữ giáp cốt nhà Thương tới 1000 năm và “chắc chắn có nguồn gốc sâu xa với chữ giáp cốt cổ”. Nói vậy tức là chữ Lạc Việt là chính là tiền thân của chữ giáp cốt đời Ân Thương được tìm thấy Ân Khư. Nhà Thương là một triều đại dùng chữ Việt, tức là triều đại của người Việt.

Con chữ, cái nền tảng của văn minh đã được phát hiện. Chân lý này thật “nhái bén”: sự thật không cần kiện mà vẫn thắng. Đã đến lúc phải trả lại “nòng nọc” cho “cóc”. Không phải chỉ trả chữ Nho cho người Việt mà còn phải trả cả văn hóa lịch sử Trung Hoa cổ đại về đúng quê cha đất tổ Việt Nam.

Bách Việt trùng cửu

Chắc các bạn sẽ hỏi “Bách Việt trùng cửu” nghĩa là gì? Xin đáp, đây là cụm từ tôi đặt ra khi suy ngẫm về những gì mình biết làm và muốn làm. Tại sao vậy?

Bách” có thể hiểu là tùng bách. Tôi là thành viên của Chương trình bảo tồn cây lá kim quốc tế (ICCP) và có hiểu biết sâu rộng về tài nguyên thực vật Việt Nam, cách bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên này. Những cây tùng, cây bách trầm hùng và kỳ lạ của Việt Nam có thể đại diện cho hệ thực vật độc đáo và đa dạng của đất Việt. “Cây rừng làm cảnh” là tên cuốn sách đầu tiên của tôi viết về thực vật Việt Nam.

Việt” có người cho là cách phát âm khác của từ Diệc, hay là một loài chim phổ biến ở Việt Nam trước đây. “Chim Việt đậu cành Nam”. Hình ảnh chim Hồng, chim Lạc bay trên trống đồng cổ tượng trưng cho đất Việt và dân tộc Việt. Tài nguyên động vật của đất Việt cũng thật vô cùng phong phú. “Nem công, chả phượng” được biết là món ăn của vua chúa. Tại sao chỉ vua chúa mới có thể ăn? Tại sao không thể phát triển tài nguyên này thành những giá trị cho mọi người. Đó là ý tưởng của tôi về sử dụng tài nguyên thiên nhiên Việt Nam để tôn vinh người Việt và tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần cho người Việt và cho thế giới.

Bách Việt” là tên của dân tộc Việt, dân họ Hùng sau công nguyên ở vùng Hoa Nam. Nền văn minh của dân Việt mãi toả sáng từ hàng nghìn năm nay cho dù đang bị sang tên, cướp đoạt. Đó là kinh Dịch, một kiệt tác triết học cổ đại. Đó là những phát minh cơ bản của loài người như kim chỉ Nam, cách trồng lúa nước, cách dệt vải, cách làm giấy, … Tiếp nối văn minh đó là một chữ “Văn”. Bách Việt chính là Văn Lang. Với dòng máu văn nghệ trong mình tôi thích làm thơ, viết sách, giỏi nghề dịch thuật. Và tôi cũng rất nặng lòng với lịch sử và văn hoá nước nhà.

Trùng cửu” là 9+9=18. Người Việt xưa bắt đầu bằng những con số trong Hà Thư và Lạc Đồ mà gói ghém được cả quan niệm về trời đất, xác định được bốn phương, biết và điều khiển được quan hệ con người – thiên nhiên – xã hội. Ngày nay, trong thời đại sản xuất và tiêu dùng đại chúng, số hoá lại càng là yêu cầu không thể thiếu được trong quản lý và lập kế hoạch. Những dây chuyền sản xuất càng hiện đại, những tập đoàn càng lớn càng cần có hoạt động tiêu chuẩn hoá. Đó cũng là một phần sở trường của tôi về khả năng phân tích, thiết kế, tiêu chuẩn hoá các quá trình sản xuất và dịch vụ.

“Trùng cửu” hay con số 18 còn là một khái niệm về sự liên tục. 18 đời vua Hùng. 18 cánh chim Hồng trên mặt trống đồng Đông Sơn. “Trùng cửu” tức là “trường cửu”, là sự vĩnh cửu và trường tồn của văn minh Bách Việt. Ngày nay, thế giới đầy rủi ro của khủng hoảng, của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu toàn cầu, … thì phương Đông chính là nơi sẽ quyết định vận mệnh của nhân loại nhờ nền văn minh và bản chất văn hoá của mình. Biết dựa vào nền tảng đó thì sẽ thành công. Đó chính là ý nghĩa của cụm từ “Bách Việt trùng cửu”, một lời nhắn, một ánh sáng toả từ quá khứ cho tôi, cho bạn và cho chúng ta.
Đêm Trung thu năm Kỷ Sửu 2009.