Thần châu xích huyện

Câu đối ở đền Thượng:
Quá cố quốc, miến Lô Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc
Đăng tư đình, bái lăng tẩm, do thị Thần châu Xích huyện, sơn hà tứ diện khổng Chu Diên

Dịch nghĩa:
Qua nước cũ, ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, sông nước hai dải bao quanh chầu Bạch Hạc
Lên đền này, vái lăng tẩm kìa Xích huyện Thần châu còn đó, núi sông bốn bên quay lại giữ Chu Diên

Chỗ khó hiểu ở đây là từ Thần châu Xích huyện. Có thể hiểu theo nhiều nghĩa:
1. Thân châu xích huyện là nước Việt, bắt nguồn từ nước Xích Quỷ của Lạc Long Quân (Long là Thần).
– Trong tác phẩm Sơ kính tân trang của nhà thơ Phạm Thái (đầu thế kỷ 18) cũng có nói đến con gái sau của nhà họ Trương, nổi tiếng khắp “châu Thần huyện Xích“:

Tiếng thơm lừng lẫy trong ngoài
Dậy vùng huyện Xích, nức nơi châu Thần

Câu này được các nhà nghiên cứu chú thích: Châu Thần là cửa biển Thần Phù, huyện Xích là Kiến Xương (hai địa danh ở quê của họ Trương). Chú thích như vậy quá gượng ép. Rõ ràng phải hiểu châu Thần huyện Xích đây là Việt Nam.
– Chuyện về Lê Quí Đôn gặp một ông lão đọc câu đối:
Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kim thượng tại.
Tại tại sổ thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chi

Dịch nghĩa:
Thấm thoắt hơn ba chục năm, xích huyện, hồng châu nay vẫn đó.
Hỡi ôi xa ngoài vạn dặm, đào hoa, nước chảy, bác về đâu?.
2. Thần Châu Xích Huyện là Trung Quốc

– Sử ký Tư Mã Thiên trong Mạnh Tử, Tuấn Khanh liệt truyện: Trâu Diễn nói: “… Trung Quốc tên là Thần Châu Xích Huyện…”
– Theo Vương Hồng Sển, ở Nghĩa nhuận Hội quán, đường Gò Công, thành lập năm 1872, có câu đối nói về Quan Vũ:
Sanh Bồ Châu, sự Dự Châu, chiến Từ Châu, thủ Kinh Châu, vạn cổ Thần Châu hữu nhứt;
Huynh Huyền Đức, đệ Dực Đức, xá Bàng Đức, thích Mạnh Đức, thiên thu thánh đức vô song.

Tức là Thần Châu là đất nước của Quan Vũ (Trung Hoa).
3. Một số kinh phật cũng cho biết Thần Châu Xích Huyện là Trung Quốc.
– Có chuyện Bồ đề đạt ma đến Trung Quốc gặp Lương Vũ Đế. Sư nói: “Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người.”
– Trong số Tứ đại bộ châu của Phật giáo có Đông thắng thần châu, nơi sinh của Tề Thiên Đại Thánh (Tôn Ngộ Không). Thần Châu ở phương Đông rõ ràng là chỉ Trung Hoa.

Vậy Thần châu Xích huyện trong câu đối trên đền Thượng là nói nước Việt Nam hay Trung Quốc? Chỉ có cách giải thích hợp lý nhất là … Việt chính là Hoa trong cổ sử.

Văn Nhân bổ sung :
Trong cuộc vận động phong trào Văn thân hoàng giáp Phạm Như Xương thảo “Hịch Văn thân Quảng Nam” có câu:
 “Tủi là tủi cơ nghiệp thần tông, thánh tổ, lúc trung hưng, khi sáng nghiệp, xưa gian truân mới có cõi bờ nay;
Thương là thương dân nơi xích huyện thần châu, đạo đã lấn, mọi lại giành, cương luân hãm đâu còn trời đất cũ.

Vì tính chất đặc biệt của bài hịch nên chắc chắn không thể có sự sai lầm:
– Đối tượng nhận bài văn này là giới sĩ phu , là những nhà khoa bảng hàng đầu trong làng văn học thời bấy giờ, có thể có cá nhân sai lầm trong sự nhìn nhận về lịch sử quốc gia nhưng không thể nào cả tập thể là tinh hoa 1 nước lại mắc sai lầm ấu trĩ … về danh xưng của nước mình.

– Vì tính chất đặc thù của bài viết là vận động kháng chiến kêu gọi người ta xả thân vì nước nên không thể nào sai tình tiết quan trọng bậc nhất là danh xưng của tổ quốc … Nếu ‘Xích huyện thần châu’ là danh xưng của Trung Quốc – Hán thì bài hịch Văn Thân này trở thành lố bịch … làm trò cười cho thiên
hạ và dĩ nhiên chẳng có sĩ phu ngu dại xả thân vì … nước Tàu…

– Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của Bách Việt 18. ‘Thần châu Xích huyện’là những mỹ từ người ta dành ca tụng quê hương đất nước mình, trong đó châu và huyện là những đơn vị hành chánh phân chia lãnh thổ. Nói Thần châu là nói đến:
– Châu ở về phía đông, thần là Thìn là con rồng có lẽ ở đây chỉ miền đất của Thần long – Động Đình quân, cha của Long nữ và ông ngoại của Lạc Long Quân.
Nghĩa khác bóng bảy hơn chỉ miền đất thần tiên nơi đó con người tràn trề hạnh phúc.
Xích trong Xích huyện nghĩa là màu đỏ của quẻ Ly tượng trưng cho sự văn minh ngoài ra trên thực tế địa lý Xích chỉ miền nhiệt đới; phía Xích đạo mà theo truyền thuyết là đất của Viêm đế Thần nông thủy tổ của cả dòng giống Việt.

Tóm lại: ‘Thần châu Xích huyện’ có 2 nghĩa , nghĩa đen là những thông tin lịch sử và địa lý liên quan đến khởi nguồn tộc Việt. Còn nghĩa bóng chỉ xứ sở thần tiên nơi con người có cuộc sống văn minh và hạnh phúc.

Mạt Đường

Sông Trường Giang khúc trong khúc đục
Thế triều Đường lúc thịnh lúc suy
Sau loạn giặc giã li bì
Phiên trấn lại nổi đe nguy kinh thành.
Giặc chưa dứt hoạn quan lộng thế
Vua cùng thần lập kế diệt trừ
Cam lộ bày chuyện thực hư
Chút sơ sẩy để thất cơ thiệt đời.
Thời vận mạt xót ngôi thiên tử
Vua không quyền bất quá bù nhìn
Quan lại tranh chấp liên miên
Khắp nơi hỗn loạn, dân đen cơ hàn.
Giận trước cảnh điêu tàn thế sự
Múa thước gươm xung phá Trường An
Hoàng Sào lớn chí to gan
Tiếc thay đại nghiệp mưu toan chẳng thành.

Lào và Xiêm trong thơ Hồ Chủ Tịch

Bài thơ Lịch Sử nước ta của Hồ Chủ Tịch (xin trích đoạn liên quan đến Căm pu chia và Lào):


Lê Đại Hành nối lên ngôi
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành

Lý Thường Kiệt là hiền thần
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn…


NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG
… 1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
… Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Như vậy đầu thế kỷ 19 Chiêm Thành vẫn gọi là Xiêm Thành, còn Thái Lan là Xiêm.
Và Sầm Nưa, một tỉnh ở Hạ Lào còn được xếp vào sử Việt Nam.

Thẻ ngọc An Dương

Nguồn Đào Duy Anh:
Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa số 23:
“Chủ tịch phủ vừa giao cho chúng tôi một tài liệu mới nhận được sau ngày 1-12-1956 về một thẻ ngọc gọi là “An Dương ngọc giản” (thẻ ngọc An Dương), do nhà khảo cổ học Trung Quốc Dư Duy Cương ở Quảng Châu gửi tới. “Thẻ ngọc này … nguyên khổ 111×84. Nó hình trái tim, dày chừng nửa ngón tay trỏ, phía trên có một lỗ nhỏ, phía dưới có một lỗ to hơn. Về mặt phải, ở bốn góc, có bốn chữ “An Dương Hành Bảo”, chữ viết khá lớn: chữ thì viết theo lối “cổ trựu”, tức là lối cổ trựu văn từ đời Chu Tuyên Vương (thế kỷ thứ IX TCN); chữ thì viết theo lối “tiểu triện”, lối chữ thông dụng từ đời Chiến Quốc (thế kỷ thứ III TCN); chữ thì viết theo lối “đại triện”, lối chữ dùng từ đời Tần Hán (thế kỷ thứ II TCN)… “Bảng này viết đủ sáu mươi giáp tí, … và viết theo lối chữ giáp cốt
đời Ân (thế kỷ thứ XVIII TCN)… Nhà học giả họ Dư cho biết thêm tấm ấy đã tìm thấy ở Quảng Châu, … đã đào được hàng ngàn cái ngọc giản, miếng nào cũng khắc hơn một trăm chữ..

Nhận xét của Đào Duy Anh:
– “… Đối chiếu với những lối chữ cổ … ba chữ “Dương Hành Bảo” là chính xác. Còn chữ “An” thì còn ngờ…” – “Những chữ trên thẻ ngọc không phải là bằng chứng đầy đủ để tỏ rằng xã hội Lạc Việt đã biết dùng văn tự. Chữ đó toàn là chữ của Trung Quốc…
Chúng tôi cho rằng An Dương Vương Thục Phán chính là hậu duệ của vua nước Thục ở thời Chiến Quốc … có thể biết dùng lối chữ cổ trựu … và cả lối tiểu triện… Song sự có mặt của kiểu chữ đại triện thì hơi khó giải thích …”*
*Bài viết của Đào Duy Anh khá dài nên không tiện chép đầy đủ, chỉ trích những ý quan trọng nhất.

Bình luận:
Từ những năm 1950 chúng ta đã được gửi cho “Thẻ ngọc An Dương“, một bằng chứng rõ ràng về thời Thục Phán An Dương Vương, nhưng ngay học giả hàng đầu lúc bấy giờ như Đào Duy Anh cũng không dám tin vào bằng chứng này mà lại giải thích thành ra Thục Phán chạy từ nước Thục tận Tứ Xuyên mang theo đủ loại chữ viết từ đời Ân Thương vào nước ta…

Khảo cổ Việt Nam đã cho biết rõ ràng không hề có sự đột biến nào về văn hóa khảo cổ khi chuyển từ thời Hùng Vương sang An Dương Vương theo như niên đại chính sử hiện nay. Vậy làm sao mà Thục Phán với một nền văn hóa và chữ viết hoàn toàn xa lạ từ tận Tứ Xuyên có thể làm vua hàng chục
năm ở Việt Nam được?
Thẻ ngọc An Dương cho thấy:
– Thời đại của An Dương Vương bắt đầu sớm hơn nhiều so với sử sách đã ghi, ngang ngửa với thời bắt đầu của của nhà Chu (cuối nhà Ân).
– An Dương Vương dùng đủ loại chữ mà văn hóa Trung Hoa cổ có, từ chữ trên giáp cốt của Ân Thương, chữ thời Chiến Quốc và chữ đời Tần Hán.
– Chữ “An” trong “An Dương Hành Bảo” có thể không phải là “An”, như nghi ngờ của Đào Duy Anh. Thực ra đó là chữ “Âm”, tức Âm Dương Hành Bảo. Thẻ ngọc chép đủ can chi, chứng tỏ có liên quan trực tiếp đến thuyết âm dương.
Nhìn theo sử thuyết mới càng rõ ràng An Dương Vương hay Âm Dương Vương chính là Chu Văn Vương, một triều đại Hùng Vương Việt Nam (Hùng Chiêu Vương). Và chữ viết của Trung Hoa, kể cả chữ đời Ân Thương trên giáp cốt là thành tựu của người Việt.

Nam Giao

Với sự giải thích của Tàu và của không ít “nhà khoa học” Việt Nam, Giao Chỉ nghĩa là dân tộc có 2 ngón chân cái bành ra, giao chạm nhau. Họ dẫn chứng ở Quảng Bình ngày nay vẫn còn những người như thế… Nhưng cũng ở đấy bố mẹ thì đúng là ngón chân giao nhau, nhưng con cái lại không. Họ
giải thích là do “gen lặn” (?). “Lặn” gì mà mới đời bố sang đời con đã hiện ra? Chẳng qua con cái người dân tộc bây giờ được ra ngoài xuôi ăn học, không phải leo núi nữa nên ngón chân bình thường như bao người khác.


Nếu Giao Chỉ là tộc người có ngón chân giao nhau thì Nam Giao là gì? Ngón chân phía Nam chạm vào nhau chăng (!?).
Trong khi đó cả Giao Chỉ và Nam Giao là những địa danh có từ thời Thái cổ. Hoa sử chép vua Nghiêu “… mệnh Hy thúc trạch Nam Giao…”, nghĩa là đã cho ông Thuấn đi mở cõi Nam Giao. Vậy Nghiêu Thuấn ở đâu mà biết đến Nam Giao?

Câu đối ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ

Dịch nghĩa
Khởi nơi Nam Giao, Hồng Lạc nghìn năm là đất đế vương
Hiển linh Tây Thổ, Tản Lô một giải chốn miếu đền.

Câu đối nói tớiHồng Lạc khởi Nam Giao, hay vua Hùng dựng nước khởi đầu ở cõi Nam Giao.

Khi vua Minh Mạng cho rước bài vị Hùng Vương về thờ ở Huế có làm bài thơ đặt trên chính điện Thái Hoà:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bang khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu

Câu “
Nam phục nhất Đường Ngu” đã đánh đố nhiều bậc nho giả. Chẳng nhẽ Đường Nghiêu và Ngu Thuấn lại đi mở nước Nam cho Hồng Bàng người Việt?
Hai tư liệu trên đều cho thấy Nghiêu, Thuấn chính là những đời vua Hùng, đã mở nước Hồng Bàng ở ngả Nam Giao. Nam Giao là Bắc Việt và một phần Quảng Tây ngày nay…

Bắc thần tôn

Di sản Hán Nôm ở đền Hùng là vô giá vì đó thật sự là những “mật mã” cha ông để lại, giúp con cháu tìm lại sự thực lịch sử xưa. Vì thế đọc mỗi hoành phi, câu đối ở đền Hùng cần có suy nghĩ thấu đáo những nhắn nhủ của tiền nhân ở trong đó. Đặc biệt là đối với đền Thượng, đền Hạ và lăng Hùng Vương vì đây là những di tích cổ nhất của khu vực này, với độ tuổi có nơi khoảng 4000 năm.

Thực ra với người Việt hiểu chữ Hán Việt (đã phiên âm) không hề khó. Nhưng hiểu cả câu nhiều khi rất khó vì chữ Hán Nôm xưa viết không có chữ Hoa và không có dấu câu. Danh từ không rõ là chung hay riêng (viết hoa hay không), ngắt từ ở chỗ nào…

Câu đối ở đền Thượng
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn
.

Dịch nghĩa (Vũ Kim Biên)
Đất này, núi này, bờ cõi nước Nam
Vua ta, tổ ta, phương Bắc nể vì
.

Chỗ trúc trắc ở đây là đoạn Bắc thần tôn. Có tài liệu khác dịch câu sau là: Vua ta, tổ ta như sao Bắc Đẩu trên cao. Dịch vậy quá ép ý, làm gì có chữ sao (tinh) nào đâu và không đối hợp với câu trên “Nam quốc kỷ“. Nhưng dịch là “phương Bắc nể vì” thì có phần giảm nhẹ ý. “Bắc thần tôn” cho thấy rõ phương Bắc xưng với “Vua ta” là “thần” (chư hầu) và phải tôn kính. Dịch sát nghĩa là “Vua ta, tổ ta, chư hầu phương Bắc tôn kính“.
Vậy lịch sử của ta có lúc nào mà phương Bắc phải xưng thần, tôn kính?
Một suy nghĩ khác về hai câu đối trên là trò chơi chữ:

– Chữ “thử” có nghĩa là “này“, nhưng đồng âm với nghĩa “nắng“. Nắng cũng là phương Nam.
– Chữ ‘ngô” có nghĩa là “ta“, nhưng trong dịch lý xưa còn có nghĩa là phương lạnh (phương Bắc ngày nay). Phương lạnh xưa theo quan niệm âm dưỡng lưỡng hợp được tượng trưng bởi đường thẳng (cặp thẳng – cong). Từ đó ta có các từ chỉ phương lạnh là:
+ Đường: đời vua Nghiêu có đất Đào Đường, tức là có 2 vùng Nam và Bắc. Đào là màu của phương nóng.
+ Ngay hay Ngô (có từ ngây ngô): là chữ Ngô trong câu đối trên và của một số triều đại xưa như Ngô Tôn Quyền, giặc Ngô (giặc Minh).
+ Ngu – biến âm từ Ngô ra: trong tên của Thuấn đế (Ngu Thuấn) và tên nước Đại Ngu đời Hồ Quí Ly.

Như vậy trong câu đối trên ngoài việc lặp từ còn có thể lặp ý giữa cặp Thử – Nam Ngô – Bắc.

 

Lưỡng triều chống Ngụy

Nuôi chí lớn báo thù, phục đế
Từ trắng tay Lý Bí làm nên
Đào viên kết nghĩa anh em
Dạ hồng Quan Vũ, tiếng rền Trương Phi.
Bỏ Châu Kinh lui về Châu Quí
Nước Dạ Lang Thiên Bảo xưng vương
Mưu thần, chước lạ dị thường
Trổ tài Gia Cát, trấn phương phá Tào.
Noi Hùng Trịnh tiến vào Xuyên Thục
Một trời Tây Chiêu Lạc định đô
Đông Ngô kết tóc xe tơ
Phục Man, dẹp Bắc cơ đồ mở mang.
Sông dậy sóng Trường Giang một dải
Ngô Tôn Quyền trọng đãi hiền tài
Xích Bích nổi lửa trần ai
Thiêu quân Hoàng Tháo chạy dài, thua đau.
Chung tiên tổ cùng màu Bách Việt
Chống Ngụy quân liên kết răng môi
Vì chưng xích mích nhỏ nhoi
Đây Ngô, kia Thục tách đôi hai đường.
Lý Phật Tử hèn vương, nhu chúa
Thục mất rồi, Ngô chẳng được lâu
Bạo tàn mặt ngựa đầu trâu
Nỗi dân mất nước oán sầu những năm.

Hùng Trịnh

Mở nhà Hiếu lên ngôi Nam Đế
Triều mười sáu Hùng Trịnh Hưng Lang
Vạn Xuân tên nước vẻ vang
Hai trăm năm một trang vàng chép ghi.
Công lập quốc phân chia vương tước
Sở Hồ Nam Hàn Tín lãnh phong
Bành Việt ra chốn đất Long
Vương Anh Bố ở phía Nam sông Hoài.
Cáo mưu phản đất đai thu lại
Khó lường thay lòng dạ quân vương
Hứng ca này lúc qui hương
“Phong khởi hề Vân phi dương” khải hoàn.
Dẹp Hung Nô tiến sang dặm Bắc
Mở tầm nhìn đi sứ phương Tây
Giao thương tơ lụa, ngà voi
Lấy đạo Khổng để sáng soi quốc hồn.
Kế tiếp nhau Cao, Văn, Vũ Đế
Mười ba đời xiết kể thời gian
Một triều đại thật huy hoàng
Lưu danh sử sách, mở mang bốn bề.

Nhờ xưa đương thủa triều Hùng

Bài ca dao lịch sử (lời ca hát Ải Lao ở hội Gióng):
Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.
Ai cũng hiểu đây là bài ca dao nói về Phù Đổng Thiên Vương. Nhưng ít ai suy nghĩ kỹ những dữ liệu lịch sử nằm trong bài ca dao này:
– Bài ca dao chỉ rõ triều Hùng là vua của cả khối “Bách Việt sơn hà“. Thánh Gióng đánh giặc… Ân, mà giặc Ân ở tận Hoàng Hà. Vậy đất của Bách Việt triều Hùng này không thể chỉ là Bắc Việt ngày nay. Đại Việt sử ký chép nước Văn Lang của vua Hùng “bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, đông giáp Nam Hải, tây giáp Xuyên Thục“. Thế mà nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng như vậy là quá rộng, đây phải là đất của cả khối Bách Việt, còn dòng Lạc Việt chỉ có mảnh đất nhỏ hơn… Không phải người Việt chúng ta có đất nhỏ mà thực sự là chúng ta có … đầu óc quá nhỏ và tự ti về quá khứ.

Nói ca dao là văn tự truyền miệng, không xác thực, vậy hãy xem câu đối chữ Hán đề ở đền Thượng (đền Hùng) còn tới nay:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ.
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn
.

Dịch nghĩa:
Định phận sách trời, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt nay có tổ
Linh thiêng núi tỏa, cung cũ lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn.

Câu đối trên còn nhiều bí ẩn, ví dụ “Tam Giang” là gì mà đối lại được với “Bách Việt”. Rồi “Minh đô” là tên gọi đô thành nào? Nhưng rõ ràng ở đây cho biết đền Hùng thờ vua Hùng là tổ chung của Bách Việt.

– “Vũ Ninh nổi đám…“, nhiều người cho rằng Vũ Ninh là quê Thánh Gióng ở đâu đó quanh Bắc Ninh ngày nay. Nhưng đây đang nói cả một “triều Hùng” “Bách Việt” gặp nạn, sao lại chỉ là đất quê Thánh Gióng? Có cách hiểu khác: Vũ Ninh là đất của Ninh Vương Cơ Phát, người đã diệt Trụ (Ân) lập nên nhà Chu, xưng Chu Vũ Vương. Sử Việt chép là Hùng Ninh Vương (trong Hùng triều ngọc phả). Ngọc phả đền Hùng cũng chép “Hùng Vương sau khi dẹp xong giặc Ân lập cửu trùng thiên điện ở núi Nghĩa Lĩnh để tế trời đất…“. Như vậy đền Hùng là do Chu Vũ Vương sau khi được Thánh Gióng giúp đánh đổ vua Trụ lập nên…

– “… bụi hồng nẻo xa“, chữ Hồng được đặt đúng vần của câu ca dao cũng gây nhiều suy nghĩ. Hồng là “quốc màu” xưa của tộc Việt. Thời Hùng Vương chúng ta có nước Hồng Bàng (hay Hồng Bang), nước Xích quỉ hay Quẻ đỏ, cũng là màu hồng. Chuyện sự tích trầu cau, trầu cau vôi nhai chung cho “nước đỏ”. Chuyện Mai An Tiêm, dưa hấu “xanh vỏ đỏ lòng”, nói tới tộc người ở ngoài biển (xanh vỏ) nhưng vẫn là người Việt (đỏ lòng). Dưa hấu ngày nay vẫn là một “đặc sản” được trồng nhiều ở vùng Việt Trì – Phú Thọ…

Động Đình Hồ

Câu đối ở Lăng mộ Hùng Vương ở đền Hùng:
Vân ám Động Đình Long chắc dạng
Nguyệt khuê Lĩnh Biểu Hạc qui tiên
.

Dịch nghĩa (Vũ Kim Biên):
Mây phủ Động Đình Rồng xuất thế
Trăng soi Nghĩa Lĩnh Hạc qui tiên
.

Cáí khó hiểu ở đây là Hùng Vương dính dáng gì đến “Động Đình” mà theo sử hiện nay cho là ở … tận đầm Vân Mộng bên Trung Quốc.

Vấn đề khác là Động Đình hồ này lại gắn liền với xuất rồng (Long). Ở đền thờ Lạc Long Quân (cũng ở khu vực đền Hùng – Phú Thọ) cũng có một câu đối tương tự nói tới Động Đình. Đầm Vân Mộng là hồ nước nằm trong đất liền, làm sao có “rồng xuất thế” được? Khi Rồng xuất thì phải là mây mưa, sấm chớp nổi lên. Cảnh này chỉ có ở vùng biển nhiệt đới mà thôi.
Nếu giải nghĩa “Động” là tính chất của phương Đông trong Dịch lý (chính xác phải là phương Động). “Đình” có nghĩa là to lớn (“To như cái đình”, “Nổi đình nổi đám”). Thì Động Đình Hồ là hồ lớn phía Đông, hay là Biển Đông.
Biển Đông cũng là nơi xuất rồng. Rồng hay Rung (tiếng Hán thành Lung) cùng nghĩa với Động. Rồng là con vật biểu trưng của phía Đông.
Lạc Long Quân nghĩa là vua của dân Lạc và dân Long. Dân Lạc ta đã biết ở trên (Hùng Lạc) là phần phía Tây của Bắc Việt ngày nay (Nam Giao). Dân Long là nền văn hóa khảo cổ Hạ Long, vùng ven biển Đông. Theo truyền thuyết Việt mẹ Lạc Long Quân là con gái Động Đình Quân ở chốn Bồng Lai… Từ Bồng Lai cho phép ta liên tưởng tới vịnh Hạ Long, di sản văn hóa thế giới ngày nay.
Ta còn có Hạ Long nghĩa là … vua Hạ. Không phải là rồng hạ cánh xuống mà chính là đất quê của nhà Hạ. Lạc Long Quân chính là Hạ Khải (Khải = Khởi), người khởi đầu nhà Hạ trong Hoa sử…
Chuyện ghép Hồ Động Đình vào đầm Vân Mông là vô lý, dẫn đến kết cục Lạc Long Quân của Việt sinh ra ở bên Tàu. Động Đình là tên của Biển Đông xưa chứ không phải biển… Nam Hải.