Tản mạn Cổ Loa

Nghimon

Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa

Hai câu đối về Chiêu lăng nằm ở mặt trong của nghi môn đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa:

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ

Thục quốc sơn hà thượng cố cung

Vì sao đền An Dương Vương lại gọi là Chiêu lăng? Đền thờ này còn gọi là đền Vua Chủ. Thành Cổ Loa gọi là thành Chủ. Chiêu, Chủ có phải là Chu không?

Một chuyện lạ là An Dương Vương được biết là người “nước ngoài” đến thay thế triều Hùng. Nhưng trong văn hóa khảo cổ không hề có dấu tích nào về sự thay đổi này. Những hiện vật khảo cổ đào được quanh Cổ Loa, được gán vào thời đại An Dương Vương. Nhưng những trống đồng, tên đồng, cày đồng này rõ ràng là của văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương. Không có gì phân biệt. Ngoài Cổ Loa ra thì chẳng còn chỗ nào có hiện vật khảo cổ thời An Dương Vương cả.
An Dương Vương là một giai đoạn “lập quốc” quan trọng, một thời đại đánh thắng hàng vạn quân Tần ở thời thịnh nhất của nhà Tần, một huyền sử dài nhất trong các huyền sử đời Hùng. Thế mà lại chẳng để lại dấu tích gì rõ ràng. Chỉ có thể nói “chồi Âu Lạc mọc lên từ gốc Văn Lang”. Nói vậy thì đã cho An Dương Vương cũng chính là một vị Hùng Vương. Và như vậy thì An Dương Vương không chỉ tồn tại trong khoảng vài chục năm mà ít nhất phải ứng với một nền văn hóa khảo cổ lớn trên đồng bằng sông Hồng. Nền văn hóa đó không gì khác là văn hóa Đông Sơn với những đồ đồng như đã đào được ở Cổ Loa.

Ở am thờ Mỵ Châu có một bài thơ rất hay đề trên bảng gỗ:
Hoàng thành đoạn kính thảo ly ly
Vãng sự thương tâm bất khả ty
Tần Việt nhân duyên thành oán ngẫu
Sơn hà kiếp vận đáo nga my
Quyên đế cố quốc sương thiên mộ
Châu dựng hàn lưu bích hải chi
Thần nỗ điếu minh hà xứ khứ
Ngộ nhân đáo để thị kim qui.

Dịch (Đỗ Văn Hỷ):
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài
Quyên kêu nước cũ trời sương muộn
Trai nở dòng băng biển biếc hay
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lẫm lỡ tới ai đây.

Chỗ đáng chú ý ở đây là cụm từ Tần Việt. Nếu là dùng như thành ngữ thì hơi khó hiểu vì ít thấy ai dùng thành ngữ “Tần Việt” để chỉ duyên trai gái và thành ngữ này từ đâu ra (điển tích gì)? Người ta dùng “duyên Tấn Tần” vì Tấn và Tần nằm cạnh nhau. Tần và Việt thời Chiến Quốc thì quá xa, làm sao thành “nhân duyên” được?

Còn nếu Tần Việt là nghĩa đen thì rõ ràng chỉ Mỵ Châu là Việt, và Trọng Thủy là… Tần. Tần chứ không phải Triệu.

Tứ trụ triều đình của An Dương Vương thờ ở Cổ Loa:
1. Phương chính hầu Trần Tự Minh – Thái sư
2. Cao cảnh hầu Cao Lỗ – thái sư phụ quốc
3. Hữu thừa tướng Lý Ông Trọng
4. Trung tín hầu Vũ Bảo Trung

Nếu Cao Lỗ là Chu Công thì Trần Tự Minh có thể là … Quân Trần, vị toàn quyền kế nghiệp Chu Công cai quản Lạc Dương. Tục thờ Trần tử như đã thấy còn có ở chùa Hương Sơn và am Trang Vương ở Hà Tĩnh.

Bài thơ Khối tình con của Tản Đà:
Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân
ái nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa
đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nợ tình kia
dở dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Nghìn
thu khói nhang.

Tôi nghĩ là thành ngữ “Kẻ Việt người Tần” chính là từ
chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Theo PGS. TS Phạm Minh Huyền
(http://www.tin247.com/khong_the_phu_nhan_su_ton_tai_cua_trieu_dai_an_duong_vuong-8-21239730.html):

Trên trống đồng Cổ Loa, mặt trong cũng có khắc chữ Hán… Đặc biệt trên một trong những khuôn đúc mũi tên đồng, đã phát hiện được 2 chữ theo lối chữ Hán. Một chữ đã đọc được là chữ “Thần” với nghĩa là “thần dân”, còn một chữ không đọc được… Các chuyên gia Trung Quốc cho biết là 2 chữ này có niên đại sớm nhất là thời Chiến Quốc và muộn nhất
là thời Tây Hán
“.
Các chuyên gia Việt Nam thì cho rằng những chữ Hán trên trống đồng Cổ Loa là chữ… Tàu nên thường không đưa dẫn chứng này ra khi nói về trống đồng. Có lẽ cũng còn có những đồ đồng Đông Sơn khác có chữ Hán thời Chiến Quốc nhưng không được công bố. Nếu trống đồng đã là của Việt thì chữ trên đó rõ ràng cũng là chữ Việt. Điều này thật khó tin, nhưng càng khẳng định sử thuyết Hoa Hạ là Việt.

Đại Việt khai quốc

Lòng phản trắc nhận danh trung nghĩa
Tướng Chu Ôn phế Lý lập Lương
Suy vi triều chính trung ương
Thi nhau các trấn xưng vương lập quyền.
Từ Tứ Xuyên tới miền Giang Khẩu
Tiền, Hậu Thục, Ngô, Sở, Kinh Nam
Ngô Việt, Mân Việt hai đàng
Vân Nam – Đại Lý, Nam Đường – Giang Tô.
Trên Lưỡng Quảng mở cờ Đại Việt
Lý Công Uẩn chí khí phi thường
Tiếp nối vỹ lược Hưng Vương
Đánh Khúc Thừa Mỹ, thu đường Giao Châu.
Đất La Thành còn lưu dấu vết
Lúc rồng bay dựng nghiệp thiên đô
Thăng Long mãi một cơ đồ
Nghìn thu lồng lộng màu cờ nước Nam.
Thời Tam quốc họ Hùng ba nước
Việt, Lý, Tống chiến cuộc liên miên
Khi Nùng xưng đế Quảng Nguyên
Khi Việt tái chiếm châu Liêm, Ung Thành.

Đoạn kết

Kể chuyện cũ, sử đan huyền thoại
Từ Tiên Nông canh cửi giáo dân
Khai quốc Hùng Vũ đế quân
Tiếp thời Nghiêu Thuấn muôn phần vẻ vang.
Kìa Đại Vũ núi san sông lấp
Kế Lạc Long mở khắp biển Đông
Trường Giang sóng nước mênh mông
Triều Ân Thương cũng là trong Việt Thường.
Ngẫm trời đất tròn vuông hun đúc
An Dương Vương Âu Lạc lập nên
Phong Châu này chốn thần tiên
Đây Chu thiên tử ở miền Văn Lang.
Hồn sông núi nước Nam còn mãi
Để hôm nay ta lại là ta
Xé mây, trời sáng bao la
Anh linh tiên tổ, hùng ca đời đời

Đồ ngọc Lương Chử – tiền thân văn hoá Thương?

Trong khảo cổ học ngoài văn hoá đồ đá, đồ đồng, … người ta thường hay không chú ý tới văn hoá khảo cổ đồ ngọc. Văn hoá đồ ngọc Lương Chử ở Triết Giang rất nên quan tâm vì có thể có liên hệ với Văn Lang (cũng như các khuyên tai ngọc thời Đông Sơn). Ở đây có hình tượng “Ngọc tông” thao thiết vuông tròn theo quan niệm trời tròn đất vuông (trong sự tích bánh chưng, bánh dầy). Văn hoá thờ đồ ngọc sau này còn ghi dấu nhiều trong các tín ngưỡng của đạo Giáo như Ngọc Hoàng, Ngọc Nữ…

Địa điểm khảo cổ Lương Chử gần Hàng Châu – Triết Giang được biết là điểm khảo cổ hậu kỳ đồ đá mới nổi tiếng bởi những đồ ngọc bích tuyệt đẹp với những hình thao thiết (taotie) độc đáo.

048_030

Một ngọc khí có thao thiết của văn hoá Lương Chử

Hình thao thiết này ở giai đoạn sau trở thành một đặc điểm của đồ đồng nhà Thương và Chu.

800px-Liu_Ding

Thao thiết trên đỉnh đồng đời Thương

Với vai trò quan trọng của ngọc khí ở Lương Chử và đỉnh đồng trong văn hoá Thương (đồ tế tự, đồ dùng của tầng lớp khanh sĩ, vua chúa) thì có thể thấy văn hoá Thương phải bắt đầu từ vùng Nam Dương Tử chứ không phải ở Hoàng Hà. Điều này cũng trùng với cách giải thích sự có mặt của các địa điểm khảo cổ thời Tiền và Trung Thương ở Tân Can, Ngô Thành và Bàn Long Thành ven sông Dương Tử.

Cùng thời với Lương Chử ở hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông có văn hoá Long Sơn, được coi
là một trong những nền văn hoá khởi thủy của Trung Nguyên cùng với Ngưỡng Thiều ở trung lưu Hoàng Hà. Văn hoá Long Sơn còn gọi là văn hoá “gốm đen”, còn Ngưỡng Thiều là văn hoá “gốm đỏ” (gốm vẽ).

neo

Các khu vực hậu kỳ đồ đá mới Trung Quốc: Liangshu – Lương Chử, Lungshan – Long Sơn, Yangshao – Ngưỡng Thiều, Hongshan – Hồng Sơn.

Tuy nhiên khu vực hạ lưu Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông ngay trong giai đoạn đồ đồng tiếp theo lại được xác định là của tộc người Đông Di, với đặc trưng là các mộ đá, và có quan hệ trực tiếp với văn hoá đồ đồng ở bán đảo Triều Tiên (theo phân bố của dao găm đồng Liêu Ninh). Như vậy văn hoá Long Sơn không phải là của người Hoa Hạ. Chính văn hoá Lương Chử mới là tiền thân của nhà Ân Thương ở Hoàng Hà.

Lương Chử có thể coi là giai đoạn tiếp theo của nền văn hoá lúa nước từ Hà Mẫu Độ, rồi Mã Gia Bang ở Nam Dương Tử. Đây rõ ràng là những địa điểm khảo cổ của người Mongon Nam (Bách Việt). Với trình độ ngọc khí cao như vậy (hơn cả Ngưỡng Thiều lẫn Long Sơn) người ta đã nói đến một “vương quốc Lương Chử” dọc theo bờ Nam sông Dương Tử. Nhưng vương quốc này sau đó biến đi đâu, không còn vết tích gì, là câu hỏi khó cho các nhà khảo cổ Trung Quốc.

“Vương quốc Lương Chử” đã không “biến mất” do “lũ cuốn trôi” hay do chiến tranh như quan niệm khảo cổ ngày nay, mà nó đã phát triển thành văn hoá Ân Thương ở giai đoạn đồ đồng tiếp theo và tiến lên phương Bắc theo bước dời đô của Bàn Canh. Chỉ vì không muốn nhìn nhận nhà Thương có nguồn gốc từ Nam Dương Tử nên nền văn hoá Lương Chử mới phải “đột ngột biến mất” như vậy. Và như vậy “vương quốc Lương Chử” không phải gì khác mà chính là nhà Hạ (trung hưng), triều đại trước của nhà Thương.

Suy nghĩ về khảo cổ và lịch sử Trung Quốc

Bản đồ lãnh thổ lịch sử Trung Quốc theo như quan niệm hiện nay:

M_Hist

Phần đen đậm là khu vực được cho là khởi nguồn của Trung Quốc. Thế nhưng có thể thấy ở đây có 2 khu:
– Khu thứ nhất là dọc sông Hoàng Hà với các địa điểm khảo cổ từ thời đồ đá như Ngưỡng Thiều, Bán Pha, Từ Sơn. Khảo cổ cho thấy đây là khu vực nông nghiệp trồng kê ở ruộng cạn.
– Khu vực thứ hai được biết qua di chỉ Hà Mẫu Độ ở phía Nam cửa sông Dương Tử. Đây là khu vực trồng lúa nay được coi là sớm nhất (7000 năm trước CN). Nhiều nhà khoa học đã nhất trí cho rằng khu vực này thuộc văn hóa Bách Việt, với tộc người là Monglonoid phương Nam. Khảo cổ ở phần
Nam Trung Hoa xa hơn hiện còn chưa nhiều, và ít khi được công bố vì…

Như vậy Trung Quốc đã cố tình nhận vơ cả khu vực trồng lúa nước ở Nam Dương Tử thành nguồn gốc của Hán tộc ở Hoàng Hà. Xét đời Thần Nông dậy dân trồng lúa, vua Nghiêu thúc trạch Nam Giao, vua Thuấn tuần du chết ở Thương Ngô (trung lưu Nam sông Dương Tử) thì không thể nói khác những vị vua tiền sử này phải là thuộc khu vực lúa nước Nam Dương Tử.
Hà Mẫu Độ ở Phúc Kiến Chiết Giang có thể là đất Cối Kê, nơi vua cùng dân con cháu Hạ Vũ lội nước, đắp đê để khai phá thời Hạ trung hưng.

Bản đồ tập hợp những địa điểm khảo cổ đồ đồng ở Trung Quốc:

KhaocoTQ2

Trung Quốc thường dựa vào địa điểm khảo cổ ở Ân Khư – An Dương đời Thương để khẳng định lịch sử nhà Thương là ở Hoàng Hà. Chữ viết trên giáp cốt cũng bắt đầu từ đây. Nhưng An Dương là khu vực Hậu Thương. Các di chỉ đồ đồng đời Thương còn có ở Bàn Long Thành và Tân Can ở tận phía
Nam sông Dương Tử. Những di chỉ này lại có phần sớm hơn cả ở Ân Khư. Một cách hợp lý thì đồng khí Thương phải phát triển từ khu vực đồ đá mới Hà Mẫu Độ ở Nam Dương Tử, chứ không phải từ Hoàng Hà.
Như vậy phải hiểu: nhà Thương bắt đầu từ khu vực sông Dương Tử rồi mới tiến lên Hoàng Hà, chứ không phải ngược lại. Trong lịch sử được ghi nhận là chuyện Bàn Canh năm lần bảy lượt dời đô, lập nên một triều đại tương đối riêng biệt là nhà Ân (tức là nhà Thương thứ hai).
Ở Ân Khư có những đồ đồng có hình mặt người và được xác định là kiểu người Nam Á. Như vậy Ân Khư là di chỉ của người Nam Á chứ không phải của Hán tộc, là dân Monglonoid phương Bắc.
Tân Can có thể là nơi đóng đô của Thành Thang khi mở đầu nhà Thương. Những kinh đô khác khi Bàn Canh dời đô dần dần lên hướng bắc là Bàn Long Thành (Long Thành có nghĩa là thành nơi vua ở), Trịnh Châu. An Dương là thủ đô của Trụ Vương nhà Ân.
Hán tộc nằm vào phức hợp đồng khí phương Bắc cùng với Hung Nô, Mãn. Tuy nằm ngay sát Ân Khư nhưng Hán tộc chẳng có liên quan gì đến đồ đồng đời Thương cả. Hán tộc chính là Đông Di, Nhung Địch trong Hoa sử, là những tộc người bị Trụ vương đuổi ra khi nhà Ân vượt Hoàng Hà.

Chống ngoại xâm

Giặc Kim Mãn hoành hành phương Bắc
Vó ngựa Nguyên dày xéo giang sơn
Tống hàng, Đại Lý mất luôn
Chỉ còn Đại Việt kiên cường kháng Mông.
Tiếng sát thát Diên Hồng vang tỏa
Mỏi chân bon ngựa đá ba phen
Quê cha đất tổ giữ yên
Chặn quân hung hãn xuống miền phương Nam.
Lửa lại cháy ngút ngàn đất Việt
Lũ giặc Minh tìm diệt văn minh
Đàn áp Làng Cả điêu linh
Tứ đại khí phá tan tành mới cam.
Nhánh tộc La núi Lam khởi nghĩa
Tiếp ý trời Lê Lợi dấy binh
Mười năm kháng chiến chống Minh
Bình Ngô đại cáo yên bình non sông.

Đạm Nhĩ Chu Nhai

Sau khi Lộ Bác Đức chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán chia đất Nam Việt thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Uất Lâm, Nhật Nam, Hợp Phố, Nam Hải, Thương Ngô, Đam Nhĩ và Chu Nhai. Hai quận Đam Nhĩ và Chu Nhai được định vị là đều nằm ở đảo Hải Nam ngày nay. Nhưng… đảo Hải Nam cách đây không lâu cũng mới là một huyện đảo của tỉnh Quảng Đông, liệu vào đầu Công nguyên có được bao nhiêu dân mà lập tới 2 quận? (Văn nhân)

Mở đầu bài minh Mộ Chí tiến sĩ Thái Đình Lan của Lâm Hào đời nhà Thanh soạn:
Miền Chu Nhai hoang phục xa xôi, đất Quỳnh Sơn tích học, khởi nghiệp. Tường Kha vùng sông hẻo lánh, Doãn Trân giỏi kinh truyện mà danh tiếng xa truyền. Nhờ khôn linh hun đúc mà biết địa mạch rộng dài. Nhân văn tuỳ khí vận mà sinh, ấp ủ lâu tất hào kiệt đột phát, phải đâu thời tục có thể cản ngăn, tự phát tiếng kêu cho người đời kinh hãi! Ta đã thấy điều đó ở Thu Viên tiên sinh.
Thu Viên tiên sinh là Thái Đình Lan, tiến sĩ người Bành Hồ – Đài Loan, đã từng bị nạn thuyền lưu lạc sang Việt Nam thời vua Minh Mạng. Trên đường từ Việt Nam về ông đã viết tác phẩm Hải Nam tạp trứ, một tài liệu ghi chép về tình hình Việt Nam lúc đó còn lưu tới nay.
Trong bài minh trên cho thấy rõ quê của Thái Đình Lan Bành Hồ – Đài Loan được gọi là miền Chu Nhai. Như vậy Chu Nhai là đất Phúc Kiến xưa chứ không phải ở đảo Hải Nam.

Bài thơ Cư Đam Nhĩ (Ở Đam Nhĩ) của Tô Đông Pha thời Tống có câu:
Cửu từ nam hoang ngô bất hận
Tư du kỳ tuyệt quán bình sinh
Dịch nghĩa
Chín chết phương nam ta không hận
Chuyến này kỳ tuyệt nhất bình sinh

Chuyện Tô Đông Pha bị đi lưu trú ở Đam Nhĩ cũng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong bài Tặng con cháu ba họ: Khổng, Nhan, Mạnh dạy học ở Thái Bình:
Nhân sinh thập lự cửu thường quai
Thạnh thế thùy tri hữu khí tài
Pha lão tích tằng Đam Nhĩ khứ
Trường Canh diệc hướng Dạ Lang lai.

Dịch
Nghĩ mười, sai chín người đời
Bỏ quên tài lúc thịnh thời biết không
Lão Pha, Đam Nhĩ đã từng
Trường Canh cũng phải hướng vùng Dạ Lang.

Tuy nhiên khi xem đến tiểu sử của Tô Đông Pha thì lại thấy Tô Đông Pha do mâu thuẫn với Vương An Thạch đã bị chuyển đi lưu trú ở Hàng Châu (Triết Giang). Như vậy Đam Nhĩ có thể không phải ở đảo Hải Nam mà chính là tỉnh Triết Giang ngày nay.

Nếu Đam Nhĩ và Chu Nhai thời Tây Hán là Phúc Kiến và Triết Giang thì đất của Nam Việt Triệu Đà phải là toàn bộ vùng Nam Dương Tử.  Không biết ai đó đã cố ý ép 2 quận lớn ven biển này vào hòn đảo Hải Nam hoang vu, mục đích rõ ràng để dấu đi qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên vùng Hoa Nam.

Mã Viện khi đánh Hai Bà Trưng đuợc phong là Phục Ba tướng quân, tức là danh hiệu của Lộ Bác
Đức nhà Tây Hán khi tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà. Chỉ danh hiệu này cũng cho thấy qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng không kém gì Triệu Đà xưng đế Nam Việt xưa.

Đền thờ Cao Lỗ ở Diễn Châu

NhathohoCao

Cách Mộ Dạ không xa, ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An có một ngôi đền thờ họ được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đó là đền thờ họ Cao, tương truyền thờ Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương. Cao Lỗ được gọi là Tiền viễn tổ của họ Cao từ Nho Lâm. Họ Cao nổi tiếng về truyền thống hiếu học, có nhiều nhân vật dòng họ có danh tiếng xưa và nay như Cao Bá Quát, Cao Sỹ Kiêm, Cao Đức Phát, …
Theo gia phả của họ thì họ Cao ở Nho Lâm có gốc là từ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí vào khoảng năm 1360, lập làng Tùng Lâm, sau đổi thành Nho Lâm. Có điều không hiểu sao họ Cao lại nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải (?). Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Theo Bách gia tính thì họ Cao của Trung Quốc cũng có xuất xứ ở Bột Hải.
Kỳ lạ nữa là ông Cao Thiện Trí lấy vợ là Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An (!). Thật hết biết các nước thời Chiến Quốc của Trung Hoa là ở chỗ nào.
Câu đối trước cửa đền thờ họ Cao:
Vạn phái thiên lưu nguyên Bột Hải
Kim hoa cổ thụ mạn Tùng Lâm.
Dịch:
Vạn chi lưu dời đều từ Bột Hải
Gốc cổ thụ xưa nay vẫn ở Tùng Lâm.

Dạ luyện sơn đầu ngô tổ triệu
Tranh hùng địa hậu ngạ tiên phù
(Không biết dịch thế nào)

Những câu đối kỳ lạ

Đọc sách Hoành phi câu đối Hán Nôm tinh tuyển của Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam, Phạm Đức Duật ta thấy có những câu đối khá lý thú.

Trang 96:
Sơn tú thủy giai như họa cao thanh Tản Nhĩ
Địa linh nhân kiệt kiêm ưu thao lược Tôn Ngô

Dịch:
Tản Nhĩ cao trong, nước biếc non xanh như vẽ
Tôn Ngô thao lược, người kiệt đất linh gồm tài.

Tiếc là sách không dẫn nguồn của câu đối trên. Lịch sử Việt Nam không có ai có tên họ là Tôn cả. Tôn Ngô rõ ràng chỉ Ngô Quyền, nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.

Trang 104:
Nhất trận hắc vân trừ Hán khấu
Thiên thu hương hỏa ứng Châu khu

Dịch
Một trận mây đen trừ giặc Hán
Ngàn năm hương hỏa ứng trời Nam.

Không hiểu sao các tác giả lại dịch Châu khu là trời Nam? Liệu Châu khu có phải là đất nhà Chu không, đối lại với giặc Hán?

Trang 154:
Hưng vương vỹ lược lưu thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân

Dịch:
Hưng vương, mưu lược lưu thiên cổ
Cứu thế, công lao chép Vạn Xuân.

(Đền Lý Nam Đế – Phủ Giầy)
Câu này cũng nói tới Lý Nam Đế nhưng đáng chú ý ở đâu là gọi Lý Nam Đế là Hưng vương. Hưng chuyển thành Hán, Vạn Thọ thành Trường An và Lý Bôn thành Lưu Bang…

Trang 156
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Dịch:
Tùng bách Chiêu lăng đâu chốn cũ
Nước Thục non sông vẫn cung xưa.

(Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa)
Thục quốc trong sử Việt là nước An Dương Vương. Nhưng sao lại gọi là Chiêu lăng? Có phải Chiêu là Chu, Chiêu lăng là mộ vua Chu không?

Trang 165:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

(Am Trang Vương – Hương Sơn)
Trang Vương của nước Sở, rồi Trần tử nước Trần là ở chỗ nào mà có am thờ ở Việt Nam?

Trang 264:
Dực Chẩn sơn hà cao chính khí
Lạc Hồng vũ trụ lẫm linh thanh.

Dịch:
Dực Chẩn non sông cao chính khí
Lạc Hồng trời đất dấy linh thanh.

Câu này cho biết nước Lạc Hồng định biên giới giữa sao Dực, sao Chẩn. Liên hệ với câu trong Đằng vương các tự của Vương Bột: Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hoành Lư. Như vậy vùng đất tinh phân Dực Chẩn chẳng phải Việt Nam hay sao?

Tài liệu Hán Nôm Việt Nam càng đọc càng thấy lạ…

Thảo luận
Về thao lược Tôn Ngô có thể nói đến Tôn Vũ và Ngô Khởi thời chiến quốc.

Văn nhân:
Bạn Bách Việt trùng cửu thân.
Tôi nghĩ: Tản nhĩ là 1 vùng đất thì Tôn Ngô không thể là 2 nhân vật Tôn Vũ và Ngô Khởi được vì họ sống cách nhau cả trăm năm, sinh ở 2 nơi khác nhau và nhất là đã thành danh ở 2 nơi khác nhau.
Chìa khóa để giải vấn đề là tìm ra đất Tản Nhĩ nằm ở đâu?

Bách Việt trùng cửu
Có lẽ Tản là núi Tản Viên, Nhĩ là sông Nhị Hà. Núi cao, sông xanh. Tản Nhĩ là vùng đất nào đó quanh chân núi Tản Viên. Câu đối này có thể là ở làng Đường Lâm ở Hà Tây. Nếu đúng câu này ghi ở khu vực này hay trên lăng mộ Ngô Quyền thì ý nghĩa chữ Tôn Ngô chắc không phải bàn cãi. Tôi cũng nghĩ là thật vô lý khi một câu đối đang ở vùng đất Tản Nhĩ của Việt Nam, nói đến Địa linh nhân kiệt mà lại phải đi lấy điển tích Tôn Vũ, Ngô Khởi ở đâu đâu.

Văn nhân:
Tôn trong Tôn Quyền không phải là họ mà nghĩa là đấng cao cả hay bậc trưởng thượng, chữ Tôn được dùng trong miếu hiệu của các vua Trung Hoa từ đời nhà Đường, Việt Nam từ thời nhà Lý … như Cao tôn, Nhân tôn, Minh tôn v.v.
Tôn Ngô cấu trúc Việt ngữ nghĩa là bậc trưởng thượng của nước Ngô, theo tôi là chỉ Ngô Quyền, cũng chính là Tôn Quyền – vua Đông Ngô trong Hoa sử.

Nhannamphi
“nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.”
Cá nhân Tôi là tán đồng quãng điểm nầy. Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán là trận Xích Bích, tôi có đọc qua tài liệu ghi chép bằng chữ Vuông: quân lính của Ngô / Tôn Quyền là người Việt; Và xa xưa hơn nữa thì thành Cổ Loa là ở tỉnh Phước Kiến. Chữ “Kiến” – ngày xưa là “kén”, thành cái” Kén” hay thành Cổ Loa trở nên tên là Phước Kiến thành, ngày nay, người dân tỉnh Phước Kiến vẫn còn đọc chữ “kiến” là “kén”.

Bách Việt trùng cửu
Quân của Tôn Quyền thì rõ là người Việt vì ở Nam Dương Tử. Họ Tôn Ngô xuất phát từ Trường Sa (Tôn Kiên là thái thú Trường Sa). Nếu theo anh Văn nhân thì quận Trường Sa xưa là Nhật (Nhất) Nam hay Hồ Nam ngày nay. Nhất Nam cùng nghĩa với Đường Lâm (Nhất thành Đường, Nam thành Lâm) quê Ngô Quyền.

Văn nhân:
Thưa các bạn ,theo suy nghĩ của tôi thì câu:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

Trang vương ở đây là Chu Trang vương – Cơ Đà (696-682 trước 0) vì vua khá nổi tiếng ở Việt Nam khi nhiều nhà nghiên cứu sử căn cứ vào đoạn sách cổ: “…thời Trang vương nhà Chu … có người dùng ‘ảo thuật’ áp phục các bộ lạc chung quanh xưng là HÙNG vương …”, lấy đó làm mốc cho niên đại lập quốc của người Việt.
Trang vương là vì vua thứ 2 nhà Đông Chu lên ngôi ở Lạc ấp.
Trần tử ở đây chỉ Quân Trần vị toàn quyền kế nghiệp Chu công thống quản kinh đô phía đông của nhà Chu tức Lạc ấp hay đại ấp Lạc.
Việc thờ kính Trang vương và Trần tử trên đất Việt đã bổ chứng cho Sử thuyết họ Hùng khi cho rằng Lạc ấp hay đại ấp Lạc chính là đất trung tâm của dòng Lạc Việt tiền nhân của người Việt Nam ngày nay.

Bách Việt trùng cửu
Am Trang Vương có câu đối trên nằm cạnh chùa Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh – Hà Tĩnh. Nơi đây tương truyền là nơi tu hành và nơi hoá của công chúa con Sở (?) Trang Vương. Am Trang Vương được dựng trên nền nhà nơi nghỉ của Trang Vương khi đến thăm con gái.
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) thăm chùa có đề bài thơ Du Hương Tích Tự:
Hương Tích Trần triều tự
Hồng Sơn đệ nhất phong
Di am không bạch thạch
Cố chỉ đản thanh tùng.

Dịch:
Chùa Trần tên Hương Tích
Cao nhất dãy núi Hồng
Am xưa phơi đá trắng
Nền cũ rợp ngàn thông.

Chữ Trần ở đây trong sách hiện tại được giải thích là chùa xây từ thời nhà Trần trong sử Việt. Nhưng như vậy đúng là quá khó hiểu vì trong cả câu đối lẫn bài thơ trên đều gọi đích danh là Trần tử am và Chùa Trần. Chẳng nhẽ nhà Trần vừa dựng am, chùa thờ người xưa (cách cả ngàn năm) lại vừa làm câu đối về chính mình?
Nhiều người cho rằng sử Việt bắt đầu từ khoảng ngang với đầu đời Đông Chu (Hùng Tạo hay Chu Trang Vương) có lẽ ngoài mấy dòng trong sách cổ về người làm “ảo thuật” thời Chu Trang Vương, còn do vào thời điểm này nhà Chu chuyển đô về Lạc Ấp – Bắc Việt, tạo ra một số thay đổi có thể nhận thấy đuợc trong khảo cổ ở vùng châu thổ sông Hồng.

Nhannamphi
– Chữ 宗 Tôn nầy đọc là Tôn 宗 hay là Tông 宗 . Tôn nầy là Tôn miếu 宗廟 hay Tông miếu 宗廟, còn dùng gọi vua là Thái Tông, Cao Tông hoàng đế v v…, còn dùng trong tông 宗 tộc 族/ cùng tông 宗 cùng tộc 族.
– Chữ Tôn 孫 nầy là Tử tôn/ 子孫/ con cháu; Tôn Quyền họ Tôn là chử Tôn 孫 Nầy.
– Gia phả của dòng vua họ Tôn/ Tôn Quyền 孫權 còn giữ và truyền cho đến ngày nay. Con cháu – truyền nhân rất là đông thành cả 1 ngôi làng.
– Gia phả của “Tây Thi” 西施 là họ Thi 施 cũng được giữ và truyền cho cho đến ngày. Xem Thi Bội Quân 施佩君 … vai cháu của Tây Thi ở đời thứ 55 ngày nay: http://www.youtube.com/watch?v=FxVd43KnZTo
– Gia phả của Khổng Minh và Châu Du đều truyền và giữ bỡi truyền nhân sau nầy: http://tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xfile/431541/index.html
Tôn 宗 / tông 宗 và Tôn 孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau.

Văn nhân:
Bạn Nhan nam Phi và các bạn thân :
Tôn宗 / tông宗 và Tôn孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau. Tôi cũng biết điều này …nhưng nếu chỉ thế thôi thì đâu có đặt thành vấn đề cần xem sét .
Tạo ra chữ là con người , dùng chữ cũng là con người , tráo đổi chữ để thực hiện mục đích nào đó cũng là con người…., vấn đề đặt ra chính là vì chữ ‘tráo’ này ….

Nhannamphi
– Tất cả lập luận đúng hay sai khi nghiên cứu ngôn ngữ theo tinh thần khoa học đều đáng trân quí trong qúa trình nghiên cứu, vì nó sẽ tạo ra con đường dẫn đến điểm sáng tỏ vấn đề. Anh Văn Nhân nhấn mạnh “Tạo ra chữ là con người, dùng chữ cũng là con người.. .”. Nói cách khác thì trong họ và tên, thì tạo ra họ tên là con người và dùng họ và tên cũng là con người…
– Triều đình nhà Nguyễn tạo ra họ ” Tôn-thất ” và ” Tôn-Nữ “.
– Họ La hay họ Lai ngày nay đều là họ Lạc của Vua Việt ngày xưa, chỉ là “biến âm” và con người tạo ra chữ và dùng chữ.
-Họ Phạm và họ Đỗ là cùng 1 họ, những chuyện như vậy cần phổ biến để những thế hệ mai sau khi kết hôn thì có thể tránh được tình trạng “cận Huyết thống”.
– Họ Khổng và họ Tôn ngày xưa … đều là Con ông cháu cha của vua chúa mới được gọi là ông con và ông cháu và trở thành Họ rất là “tôn nghiêm” và “quí phái”! Thử tưởng tượng 1 cách khoa học là ngày xưa ở thời nguyên thủy thì nhân loại ở trong hang động… làm gì có “Hoàng đế “??? mà chỉ có ông bố và bà mẹ, và có người rất có uy tính được xem là cha chung … được gọi là “Ông Tía” hay là “ông địa” / biến âm… lâu dần thì biến thành từ ngữ “Hoàng đế”. “Hoàng đế ” ngày nay tiếng Bắc Kinh đọc là “Hoãng Tía”, tiếng Quảng Đông đọc là “Qoàn tây”, và tiếng Triều Châu đọc là “Oan tịa ” – Rất giống như và còn giống như là Ông Địa hay ông Tía !!!

Bách Việt trùng cửu
Tôi một chữ Hán bẻ đôi không biết nên lại có cơ may hiểu được ý của anh Văn nhân. Trong chuyện này không thể xét bằng mặt chữ được mà chỉ xét về thanh ngôn và ý nghĩa. Lịch sử Hoa Việt và lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm quá dài, quá phức tạp, mặt chữ ghi âm chắc gì là đúng. Ghi âm tiếng Hán là ghi theo cái hiểu của người viết, hoặc theo chủ ý của người viết, không chắc đã đúng với ý nghĩa gốc. Ví dụ mấy chữ Châu, Chiêu, Chu , chẳng cần biết tiếng Hán cũng biết sẽ là những chữ khác nhau. Đến tiếng quốc ngữ ngày nay cũng còn ghi khác nữa là… Những điều đó không ảnh hưởng đến nghĩa của Châu=Chiêu=Chu .

Thịnh Đường

Đất Thái Nguyên dựng cờ khởi nghĩa
Đây Lý Uyên cùng Lý Thế Dân
Ra tay sức dẹp phong trần
Xích huyện một mối, châu Thần lại yên.
Cửa Huyền Vũ anh em ân oán
Xứng ngai rồng Trinh Quán đăng quang
Đại Đường đất nước mở mang
Phá quân Đột Quyết, chiêu an Thổ Phồn.
Nguyễn Đạo Thành thỉnh kinh Tam Tạng
Cứu chúng sinh tìm đạo Tây Thiên
Thiện ác ở cõi dương tuyền
Biết đâu là Phật ở miền nhân gian?
Gái hái dâu Ỷ Lan nhiếp chính
Đoạt ngôi Đường xưng Võ Tắc Thiên
Trị nước độc đoán, chuyên quyền
Trọng nhân tài, đãi người hiền, lạ thay!
Chu Hậu mất, Đường triều tái lập
Sùng đạo Nho, phát triển thi ca
Thơ Đường thanh điệu ngân hòa
Đỉnh cao văn hóa nước nhà một chương.
Loạn An Sử từ phương đất Bắc
Nước mắt rơi này lúc biệt ly
Minh Hoàng thương tiếc Quí Phi
Non sông nghiêng ngả cũng vì giai nhân.