Thủy tổ thần thoại

Câu mở đầu sử kỷ nước Nam trong TNNL:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời, dưới đất, giữa hòa dân gian.

Câu này thể hiện rõ quan niệm Tam tài: thiên, địa, nhân. Con người sinh ra cùng lúc và sánh ngang với trời đất.  Có thể so sánh với việc ông Bàn Cổ dùng rìu bổ vỡ hỗn mang, khai thiên lập địa.
Tiếp theo thời Thần Nông:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Trong Hoa sử Hữu Hùng là nước của Hoàng Đế Hiên Viên, thủy tổ của người Hoa. Một lần nữa Thiên Nam ngữ lục khẳng định thông tin trong Đại Việt sử ký: «Thủa Hoàng Đế mở muôn nước», công nhận Hoàng Đế là thủy tổ của mình, của họ Hữu Hùng.
Dị bản chép:

Đất thiêng Khương Thủy chính tông
Cháu con nối dõi tổ tông thủ thành.

Khương Thủy đây có thể là sông Mễ Cương (Mê Kông). Họ Khương còn được nhắc đến trong tên bà Vụ Tiên:

Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.

Khi Kinh Dương vương lên ngôi ở phương Nam, nhân dân đến phục tùng:

Bao nhiêu rợ mọi gái trai
Làm hang đệm tổ cửa ngoài nẻo trong

Gần xa mến đức dái uy
Thói «hữu sào» ấy bỏ đi chẳng nhìn.

Ở đây lại nhắc đến Hữu Sào, cũng là một nhân vật của Hoa sử. Khi đọc sử Việt, dù là chính sử hay ngoại kỷ, ta đều thấy người Việt đều nhận những nhân vật thần thoại Bàn Cổ, Hoàng Đế, Hữu Sào là tổ tiên của mình. Trong khi theo Hoa sử đó là tổ tiên người Hoa Hạ. Người Việt nhầm lẫn, chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu chăng? Hay là người Hoa chính là người Việt?

Văn nhân góp ý:
Xin nhấn mạnh Viêm đế –Thần nông là nhân vật thần thoại tổ 3 đời của đế Minh không phải là Viêm đế anh em cùng cha khác mẹ với Hoàng đế.
Hoàng đế và Viêm đế cùng là con của Hùng quốc quân Thiếu Điển (có sách chép là Thiếu Khúc) là những nhân vật thời sơ sử Trung Hoa.
Khương thủy có tên Việt thời cận đại là Khung giang, các từ Khương – Cương – Khung – Khang theo Dịch học đều có nghĩa là hướng tây – phía tây.
Khương thủy hay Khung giang có cùng 1 nghĩa, chỉ con sông nằm ở phía tây đất Trung tâm (Giao chỉ?) ngày nay thường gọi là Mê kông hay Cửu long.

Điều rất quan trọng là Thiên nam ngữ lục xác định họ Thần nông sau đổi là họ Hữu Hùng vì vậy người Việt mới có 18 đời vua Hùng. Hùng vương quốc tổ thì mọi người Việt mặc nhiên công nhận nhưng thông tin Hoàng đế là vua Hữu Hùng quốc thì … chẳng ai để ý đến … trái khoáy hơn nữa đại đa số coi đó là ông vua tổ của người Tàu???

Khảo cổ thời Nam Việt và nguồn gốc Việt của các triều đại Trung Hoa

Bài này trình bày một số suy nghĩ khi đọc các tư liệu do Dr. Nguyễn Việt, một chuyên gia khảo cổ hàng đầu về thời sơ sử Việt Nam, cung cấp trên trang: http://www.drnguyenviet.com/

Trong bài Thạp đồng Đông Sơn của huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà:
“Chiếc thạp tôi muốn nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đạy nắp đồng. Chính giữa thân thạp là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng Châu…
Giá trị nhất của chiếc thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần sát gờ miệng… Tôi đã từng công bố và dịch những dòng chữ này, tuy nhiên chữ thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng thạp có thể đọc là „Long Xoang“.

龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升
…rất có thể đây là một biến âm của chữ Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi lập nước Nam Việt.

… có dòng chữ :“Danh Viết Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng để gọi chiếc thạp.
… Chủ nhân chiếc thạp BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“(第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52. Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội.
… Theo bà Phạm Lan Hương, chiếc thạp được bà sưu tầm có nguồn gốc Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá hiện mới có một chiếc thạp cùng cỡ và cũng có hoa văn thuyền người phát hiện được ở Xuân Lập… Khu vực phát hiện những chiếc thạp lớn có trang trí đẹp cùng thời hai chiếc thạp kể trên là vùng trung lưu Hồng Hà, từ Việt Trì đến Lào Cai (Vạn Thắng, Đào Thịnh, Hợp Minh, Lào Cai).”
Theo tư liệu trên có thể nhận định một số vấn đề:
– Văn hóa Nam Việt mang đậm nét văn hóa… Việt Nam (Đông Sơn). Từ ngữ cũng dùng phát âm địa phương.
– Hai chữ đầu chỉ địa điểm trên thạp (Long Xoang – Long Xuyên hay Long Khoang) nhiều khả năng không phải là tên huyện mà là tên quận. Một huyện lệnh thì quá nhỏ để có tiềm năng đúc riêng những đồ đồng cho mình.
– Địa danh này theo vị trí tìm thấy thạp (Thanh Hóa) và những thạp đồng khác cùng kiểu phải nằm ở Giao Chỉ, chứ không phải Nam Hải.
Nếu vậy thì chiếc thạp này có thể là một bằng chứng cho thấy Giao Chỉ là Long Xuyên thời Tần. Long Xuyên tương ứng với Tam Xuyên, tên quận mà Tần Thủy Hoàng đã gọi vùng đất của nhà Đông Chu khi thống nhất lục quốc.
Sử Tàu những đoạn liên quan đến Việt Nam có khá nhiều “huyện lệnh” rất khó hiểu. Triệu Đà là huyện lệnh mà lập quốc, xưng đế ngang với nhà Hán. Khu Liên, con công tào ở huyện Tượng Lâm, khởi nghĩa mà thành vương quốc
Lâm Ấp – Chiêm Thành. Đây là sự gán ghép vô lý những địa danh lớn (cấp quận) thành huyện nhỏ để vùi dập sự thật lịch sử.

Trong bài Triệu Đà:
“…Bản thân ông lấy vợ người Việt, đền thờ một trong số phu nhân người Việt của ông hiện ở Đồng (Đường) Xâm (Kiến Xương, Thái Bình)… Những nghiên cứu về đồ tuỳ táng chôn trong các khu mộ táng Nam Việt cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng ưu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như mộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt đều chôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hoá Đông Sơn, như trống đồng, thạp đồng, rìu chiến và nỏ…”
Không chỉ văn hóa mà phân tích di truyền cho thấy rõ rằng nước Nam Việt là nước của người Việt 100%.

Trong bài Âu Lạc và Giao Chỉ – một số vấn đề ngữ âm học lịch sử:
Khi kiểm định kỹ lại Sử Ký của Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ đã từng có (tước Hầu của vùng đất Giao ) chức Giao hầu do Lữ Sản em trai của Lữ Hậu đảm trách. Lữ Sản sau này được Lữ Hậu phong làm Lữ vương (tước Vương của vùng đất Lữ – nơi phát tích của tổ tiên Lữ Hậu). Trước khi chết, Lữ Hậu chia quân đội nhà Hán làm hai khối lớn, chính Lữ Sản được kiêm quản quân phương Nam. Điều này khiến ta có thể phỏng đoán đất Giao mà Lữ sản từng được phong hầu ở phương Nam, gắn với Giao Chỉ, Giao Châu chăng?
Thật kỳ lạ khi được biết em của Lữ Hậu là Giao Hầu và làm vương phương Nam, cũng là nơi phát tích của Lữ Hậu. Như vậy Lữ Hậu là người Giao Chỉ, và tất nhiên Lưu Bang lấy vợ từ thủa hàn vi cũng là người Giao Chỉ nốt.
Lạ hơn nữa Giao Chỉ dưới thời Lữ Hậu như sử chép là đất của Triệu Đà. Hoặc chí ít thì Triệu Đà cũng lập nước Nam Việt ngay sau khi Lữ Hậu mất. Như vậy Triệu Đà phải có liên hệ trực tiếp với Lữ Sản, là Giao hầu của phương Nam khi đó. Việc trong triều Nam Việt có thừa tướng là Lữ Gia cũng cho thấy vai trò của họ Lữ đối với nhà Triệu.
Lữ Gia thì được biết rõ là người Việt, chống Lộ Bác Đức trên đất Việt và có nhiều đền thờ ở đây. Tất cả khẳng định Giao Chỉ chính là nơi phát tích họ Lữ của Lữ Hậu và nhà Tây Hán.

Trong bài Hội nghị quốc tế về Văn hóa Hán và vấn đề thời thuộc Hán ở Việt Nam:
Hội nghị có ba báo cáo … văn hóa Hán ở Lĩnh Nam chỉ là những ảnh hưởng thượng tầng đan xen với văn hóa Yue (Việt) truyền thống và tạo ra một bản sắc địa phương riêng tác động trở lại văn hóa Trung Nguyên. Chính vì vậy, kết thúc vương triều Hán ở cuối thế kỷ 2 là sự trở lại của hai nhà nước phương nam vốn có nguồn gốc phi Hoa Hạ (Ngô và Thục) trong số ba nước tranh dành bá chủ thiên hạ. Nghiên cứu AND xương người chết chôn trong các hầm mộ thời Hán ở Lĩnh Nam do nhóm các nhà khoa học Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) tiến hành cho thấy chủ nhân mộ đa phần là người Yue (Việt)”.
Như vậy chính các học giả trung quốc cũng xác định nhà Ngô và Thục thời Tam quốc là hai nhà nước của người Việt.

Thật cám ơn các nhà khảo cổ đã có những dẫn liệu xác đáng cho thấy từ Triệu Đà, Lữ Hậu đến Tôn Quyền, Lưu Bị đều là người Việt tộc. Vấn đề còn lại là lịch sử thực sự của những triều đại này là thế nào? Đã là người Việt thì sử của những triều đại này cũng phải là sử Việt, chứ không phải sử Hán.

Ngũ Lĩnh sơn

Vùng đất đầu tiên của nước Nam trong Thiên Nam ngữ lục như sau:

Cõi xa ngoài Ngũ Lĩnh Sơn
Hiệu Xích Quỷ quốc, tuyệt ngàn Bắc Sơn.

Dị bản chép:

Cõi xa chốn Ngũ Lĩnh Sơn
Nỗi ngoài Nam Hải, tuyệt ngàn Bắc phương.

Những câu này làm người ta hiểu vùng đất đầu tiên của người Việt ở tận núi Ngũ Lĩnh ở Hồ Nam Trung Quốc, phía Bắc. Nhưng những tên Xích Quỷ quốc và Nam Hải cho thấy không hẳn như vậy vì vùng Hồ Nam làm gì có Nam Hải và tên nước ở phương xích đạo như vậy.

Khi xem tiếp xuống phần Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương và được Đế Minh phong làm vua Nam quốc thì vị trí của Ngũ Lĩnh Sơn càng phải xem xét lại:

Đế Minh bèn lập Đế Nghi
Làm vua Bắc quốc thay vì Thần Nông
Lộc Tục phong làm ngôi công
Mở mang quê ngoại, giữ dòng phiên bang
Hiệu xưng là Kinh Dương Vương
Đất vuông nghìn dặm, nước càng lâu xa
Mặc làm thiên tử vệ nghi
Lễ chầu thượng quốc, phẩm y chư hầu
Cõi bờ nam bắc phân nhau
Tây đông chí tự Ải Lào, Hải thanh
Nam thời suốt đến Chiêm Thành
Bắc qua Quế Lĩnh, chân thành Bắc Man
Kinh Dương đến Ngũ Lĩnh Sơn
Xưa lên ngôi báu, được yên lòng người.

Như vậy vùng Ngũ Lĩnh Sơn này nằm ở trong phạm vi lãnh thổ nước Nam của Kinh Dương Vương và ở phía Nam chứ không phải Bắc. Đặc biệt vị trí lãnh thổ nước Nam này được xác định:
– Phía Tây là Ải Lào. Thường ta hiểu Ai Lao là Lào ngày nay. Nay có thể thấy Ai tức là Ải, hay vùng đất. Ai Lao Di còn là tộc người ở Vân Nam, hay là đất Ba Thục trong ĐVSK. Ải Lào là vùng đất phía Tây của nước ta từ Vân Nam, Tây Bắc Việt và đất Lào giáp Thanh Nghệ ngày nay.
– Phía Đông là Hải Thanh. Rõ ràng Hải Thanh là biển Đông. Thanh là màu của phương Đông.
– Phía Nam đến Chiêm Thành, tương ứng với nước Hồ Tôn trong Đại Việt sử ký.
– Phía Bắc tới Quế Lĩnh, chắc là Quế Lâm, ở bắc Quảng Tây, giáp Quí Châu.
Thông tin về cương vực quốc gia này một lần nữa khẳng định những gì ghi trong Đại Việt sử ký cho nước Văn Lang: «đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình, nam giáp Hồ Tôn». Tuy nước Văn Lang như vậy có phần rộng hơn về phía Bắc.

Có thể thấy Ngũ Lĩnh Sơn của Kinh Dương Vương như vậy không phải là ở Hồ Nam mà chính là phần đất trung tâm của người Việt ở Bắc Việt, Quảng Tây. «Ngàn Bắc Sơn» hay «ngàn Bắc phương» của nước Xích Quỷ thực ra là ở phương Nam, chính là đất Nam Giao xưa. Tức là phương Nam Bắc có thể đã bị hoán chuyển, mới làm thông tin địa lý lịch sử trở nên lẫn lộn như vậy.

Hậu Nghệ

Thần thoại Trung Hoa về Hậu Nghệ:
Sau khi bắn mặt trời, mặt đất trở nên tối tăm, các loài ác thú, quỉ dữ được dịp xuất hiện, hại người. Vua Nghiêu sai Hậu Nghệ đi diệt trừ các quái thú như Khiết Du ở Nhược Thủy, Tạc Xỉ ở đầm Trù Hoa, Cửu Anh ở sông Hung Thủy, Đại Phong ở Thạch Khâu, Tu Xà hay Ba Xà ở hồ Động Đình. Tu Xà là một con mãng xà khổng lồ, gây ra sóng to, làm lật thuyền của người dân đánh cá, rồi ăn thịt những người đắm thuyền.
Hậu Nghệ cưỡi chiếc thuyền nhỏ đi trên mặt hồ Động Đình tìm con Ba Xà… Cuối cùng chàng chém nó thành mấy khúc…, xương nó chất thành núi Ba Khâu ở Hồ Nam…

Trong câu chuyện trên ta thấy:
– Hồ Động Đình (đầm Vân Mộng) ở tận Hồ Nam. Vậy làm sao thời Đế Nghiêu lại có thể đi đến được (từ Hoàng Hà vượt cả Trường Giang?)? Rõ ràng thời Nghiêu dân Hoa Hạ không hề ở vùng Hoàng Hà.
– Truyện Hậu Nghệ giết Ba Xà vô cùng giống chuyện Lạc Long Quân đánh Ngư tinh của Việt Nam. Lạc Long Quân theo sử Việt cũng là người Động Đình Hồ.
– Sau khi cơn hồng thủy chấm dứt vào thời Đại Vũ là thời kỳ khí hậu khô hơn, nước biển rút, mở ra những vùng đất mới và tất nhiên là những loài chim, thú, cá lớn được dịp phát triển mạnh. Người Hoa Hạ khi tiến ra khai phá những vùng đất mới này đã phải đấu tranh với những loài thú ở đây. Đó là ý nghĩa lịch sử của truyền thuyết Hậu Nghệ đánh yêu quái sau khi bắn mặt trời hay Lạc Long Quân đánh Mộc Tinh, Hồ Tinh, Ngư Tinh.
– Tên của con mãng xà là một chỉ dẫn về… vị trí của hồ Động Đình. Tu là Từ, dịch nghĩa của từ Thương, là tính chất của phương Đông trong Dịch lý. Ba là… tiếng Việt 100%, nghĩa là số 3, con số trấn phương Đông của Dịch Lý. Như vậy Tu Xà hay Ba Xà là con mãng xà ở… biển Đông.

Truyền thuyết Hoa còn có chuyện khi Đế Thuấn đi tuần, chết ở Thương Ngô, hai bà phi gieo mình xuống sông Tương chết theo. Linh hồn họ rong chơi ở vực sâu hồ Động Đình… Tất cả các địa danh Thương Ngô, sông Tương và hồ Động Đình đều cho thấy quê hương của người Hoa Hạ không hề ở Hoàng Hà.

Hồ Động Đình không phải chỉ có trong truyền thuyết Việt mà cả truyền thuyết Hoa. Việc gán hồ Động Đình vào đầm Vân Mộng cũng không thể giải thích nổi tại sao người Hoa Hạ ở Hoàng Hà lại có truyền thuyết với địa danh ở Hồ Nam. Chỉ có thể giải thích Hoa Hạ chính là người Việt xuất phát từ khu vực quanh Bắc Việt ngày nay.

Đất nước tôi

Tôi viết bài thơ đất nước tôi
Gian nan từ thủa mới ra đời
Ngọn gió Động Đình ru ta lớn
Trăng chiếu sông Đường nước đầy vơi.

Trăm trứng mẹ sinh dòng Bách Việt
Diệt quái cha rồng mở biển khơi
Lang Thang dân tiến chinh phương Bắc
Văn minh Âu Lạc mãi rạng ngời.

Trông vời con nước nước sông Đà
Hình bóng Tản Viên thấp thoáng xa
Hồng thủy cơn xưa còn chưa dứt
Mà nay lại nổi sóng yên ba.

Vó ngựa giặc thù xéo giang sơn
Cưỡi voi ra trận ắp căm hờn
Một trận quyết vì non cùng nước
Xả thân vương nữ mấy ai hơn.

Văn hiến là đâu? Sử là đâu?
Trắng đen sao đánh lẫn đổi mầu?
Ngoảnh mặt phương Nam nhìn quê mẹ
Đau thương hồn Việt đã bao lâu?

Bước lên Nghĩa Lĩnh chốn cửu trùng
Linh anh tiên tổ các vua Hùng
Cho con cho cháu tâm trí sáng
Tìm lại cha ông giống Lạc Hồng.

Hưng quốc

Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lý nói về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn: “Trước đây ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm châu Cổ Pháp, có con chó đẻ con sắc trắng có đốm đen thành hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là người sinh vào năm Tuất sẽ là Thiên tử. Đến đây vua sinh năm Giáp Tuất làm Thiên tử, quả nhiên ứng nghiệm”.
Ở Hà Nội còn từng có cả đền Cẩu Nhi thờ chú cho con này.

Sách Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) ngoài chuyện chú chó con có chữ Thiên tử trên còn nói đến truyền thuyết về cây gạo đầu làng Cổ Pháp bị sét đánh nứt đôi, bên trong có chữ đề:
Góc chùa cây cả trực trời
Lại có chữ bày Hưng Quốc chi niên.

Rồi Lý Khánh Văn nhân đó đoán:

Điềm này nghiệm đến sự trời
Nào ai tuổi Tuất ấy người làm vua
Lên đền một mối tay thu
Chữ Hưng Quốc ấy ắt là thiên nguyên.

Rồi khi Lý Công Uẩn lên ngôi:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng Quốc đề phong trong ngoài
Hoa Lư hiểm địa hẹp hòi
Xa giá bèn dời về ở Thăng Long.

Như vậy sách Thiên Nam ngữ lục cho ta một thông tin rõ ràng: Hưng Quốc từng là tên nước ta thời kỳ đầu triều Lý, gắn liền với Lý Công Uẩn và việc dời đô ra Thăng Long.

Thiên Nam ngữ lục … ngoại kỷ

Thiên Nam ngữ lục là tập sử trường thiên ca ra đời vào cuối thế kỷ 17. TNNL bao gồm 8136 câu thơ lục bát, 31 bài thơ chữ Hán và 2 bài thơ Nôm. Đây là tác phẩm văn vần dài nhất trong kho tàng văn học viết bằng chữ Nôm còn lại cho tới ngày nay.
Sách vốn có tên gọi đầy đủ là “Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ”, diễn ca lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến đời Lê Trung Hưng. Người đời sau xét thấy chỉ có phần đầu chép lịch sử ngoại kỷ dựa vào dã sử, phần còn lại chép lịch sử bản kỷ nên lược bớt hai chữ “ngoại kỷ” trong tên sách. Tuy nhiên, chữ “ngoại kỷ” không chỉ có nghĩa là dã sử, mà còn có thể mang một nghĩa khác. Đó là nghĩa “ngoài chính sử”, tức là những sự kiện, những tư liệu được sử dụng trong tác phẩm có thể được viết không theo đúng như chính sử.
Tác giả của Thiên Nam ngữ lục là một người uyên bác, hiểu biết rất rõ về những bộ chính sử đã được biên soạn thời đó. Khi đó Đại Việt sử ký toàn thư vừa mới được hoàn thành, chỉ trước TNNL có vài chục năm. Lý do gì mà Thiên Nam ngữ lục không theo đúng quyển sử này mà còn cố ý đặt tên tác phẩm của mình là “ngoại kỷ”? Không chỉ là tác giả muốn “phóng tác” theo ý riêng, mà gần sự thật hơn có thể tác giả có những tư liệu khác và không đồng nhất quan điểm với nhiều sự kiện ghi trong chính sử.
Do được sáng tác vào cùng thời kỳ với Đại Việt sử ký toàn thư và lại có tư tưởng “phản biện”, “chỉnh lý” chính sử, thể hiện trong từ “ngoại kỷ” như trên, TNNL phải được coi là một nguồn tư liệu lịch sử có giá trị ngang với Đại Việt sử ký toàn thư.
Câu mở đầu của Thiên Nam ngữ lục:

Trải xem sự kỷ nước Nam
Kính vâng tay mới chép làm nôm na.

Câu này cho thấy sách được viết theo lệnh của bề trên, có thể là của chúa Trịnh, viết về lịch sử nước Nam. Tức là đây là một tác phẩm chính thống về sử chứ không phải một sáng tác văn học đơn thuần.
Một khả năng khác là do tình trạng cầm quyền vua Lê nhưng chúa Trịnh nên chúa Trịnh không thể tự biên soạn quốc sử như thông thường. Do vậy chúa Trịnh đã cho diễn ca lịch sử, tuy gọi là “ngoại kỷ” nhưng thực ra đó là chính sử viết dưới góc độ của nhà chúa. Dù là dưới góc nhìn của vua Lê hay chúa Trịnh thì cũng không ảnh hưởng đến giá trị sử liệu của tác phẩm, nhất là đối với những thời kỳ đầu (trước thời Lê) của đất nước.
Do sử sách nước ta chép về thời kỳ đầu dựng nước còn lại quá ít nên một quyển “ngoại kỷ” như vậy thật vô cùng quí giá, cung cấp những sử liệu khác với độ tin cậy không kém gì chính sử. Những sự kiện khác biệt trong TNNL so với chính sử Việt chính là những điểm cần suy nghĩ làm sáng tỏ vì hoàn toàn có thể đó là sự thật lịch sử.

Đồng tiền Đại Hưng bình bảo

Bài này muốn bàn về cách đọc một đồng tiền cổ rất nổi tiếng ở Việt Nam vì được cho là đồng tiền đầu tiên của nước ta sau khi dành được độc lập vào thời Đinh.

Vấn đề ở chỗ cách đọc của đồng tiền này.
Mặc dù theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, niên hiệu của Đinh Tiên Hoàng có chữ Hán viết là “Thái Bình”, nhưng Bernard J. Perma (Catalogue of Annam coins  968- 1955, Vietnam, 1963), thật có lý khi đọc hiệu của đồng tiền là “Đại Bình Hưng Bảo”. Bởi sự thật, các đồng tiền do vua Đinh đúc, cả hiện vật lẫn ảnh chụp, chữ Hán viết là “Đại Bình” chứ không phải là “Thái Bình”. Trong sách Tiền Cổ Việt Nam, GS Đỗ Văn Ninh đưa ra hai cách giải thích hiện tượng trên như sau:

-Đồng tiền bị gỉ làm mất nết chấm dưới chữ “thái”. Cách giải thích này khó được chấp nhận, vì chưa thấy đồng tiền nào của vua Đinh viết chữ Hán là “thái bình”; nếu có, chắc nhầm lẫn với một loại tiền khác..


-Cách giải thích thứ hai, dễ hiểu và có sức thuyết phục hơn là: chữ “đại” còn có một âm đọc là “thái”
.”

Cả hai cách giải thích đều không ổn. Ngay cùng với thời đó ở Hoa Lư và Hoàng thành Thăng Long có loại gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, cho thấy chữ đầu tiên trong tên đồng tiền  đọc là “Đại” chứ không phải “Thái“. Tên của đồng tiền này đã đánh đố rất nhiều nhà nghiên cứu tới nay chưa có lời giải.

Một số nhà nghiên cứu khác đưa ra ý kiến đọc hiệu đồng tiền là “Đại Hưng Bình Bảo“. Tuy rằng thời Đông Tấn – Nguyên Đế (Tư Mã Duệ) có niên hiệu Đại Hưng (318-321), song thời ấy ở Trung Quốc đang còn sử dụng hệ thống tiền Ngũ Thù, chưa dùng chữ “bảo” để chỉ khái niệm tiền tệ, do đó tiền này không thể do triều Tấn đúc“.

Những người chơi tiền cổ đều biết tên tiền cổ có 2 cách đọc chéo và đọc xuôi. Nếu đọc xuôi theo chiều kim đồng hồ thì tên đồng tiên trên phải là “Đại Hưng bình bảo”. Vấn đề là trong lịch sử không biết chữ “Đại Hưng” này ở vào giai đoạn sau nhà Đường (sau đồng tiền đầu tiên dùng từ “bảo” là “Khai Nguyên thông bảo”) thuộc về ai?

…ngày nay tiền “Đại Bình Hưng Bảo” – theo ông XiongBaoKang (Tổng Giám đốc Viện nghiên cứu tiền tệ và Bảo tàng Tiền tệ Quảng Tây – Trung Quốc) – được tìm thấy ở Hoa Nam (Trung Quốc) là đất của Bách Việt rất nhiều…

Thật khó hiểu nếu đồng tiền trên là của nhà Đinh vì nhà Đinh rất ngắn ngủi chỉ có 12 năm, vào lúc phía Bắc nhà Tống đã thống nhất Hoa Nam. Làm thế nào mà đồng tiền của nhà Đinh lại được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam được?

Xin đưa ra một cách nhìn nhận khác về đồng tiền trên. Tên đồng tiền này phải đọc là “Đại Hưng bình bảo” chứ không phải “Thái Bình hưng bảo“. Đồng tiền này không phải của nhà Đinh mà là của Lưu Cung – Lưu Ẩn ở Lưỡng Quảng (Lưỡng Việt). Tên “Đại Hưng” là một bằng cớ rõ ràng về tên nước của Lưu Cung thời đó. Không phải Đại Hán mà là Đại Hưng, như tên Hưng Vương phủ của Quảng Châu. Việc đồng tiền này được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam xác nhận điều này vì đây là vùng ảnh hưởng của nước Đại Việt/Đại Hưng thời đó.

Việc lấy tên nước đặt tên cho đồng tiền tuy ít gặp nhưng không phải không có. Người ta còn tìm thấy đồng tiền “Đại Việt thông bảo“. Đồng tiền này có cách viết chữ tương đồng với thời của đồng “Đại Hưng bình bảo“, nhưng lại bị nghị ngờ là tiền giả cho dù được phát hiện trong di tích Hoa Lư. Lý do được dẫn là thời đó chưa có quốc hiệu Đại Việt ở nước ta. Nhưng nếu nhìn rộng ra thì thấy ngay Đại Việt này là quốc hiệu của Lưu Cung. Gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên” ở Hoa Lư cũng khẳng định danh xưng Đại Việt đã có từ trước. Không như đồng “Đại Hưng bình bảo“, đồng “Đại Việt thông bảo” khá hiếm thấy. Điều này cũng dễ hiểu vì Lưu Cung chỉ sau 1 năm lập quốc đã đổi quốc hiệu từ Đại Việt sang Đại Hưng.

Chữ “bình” trong “bình bảo” có thể hiểu là bình dân, bình thường, “bình bảo” có nghĩa tương tự như “thông bảo” vậy. Trong bộ tiền cổ Việt Nam cũng có một vài đồng tiền mang tên “bình bảo” như đồng “Thiệu Phong bình bảo” đời Trần.

Còn vấn đề chữ “Đinh” ở mặt sau đồng tiền nghĩa là gì thì cần suy xét thêm. “Đinh” ở đây chưa chắc là họ của vua, mà có thể là một số đếm vì Đinh là số thuộc thập can. Có thể là chỉ năm đúc tiền, hoặc một loại số thứ tự nào đó. Nhiều đồng tiền cổ chữ ở mặt sau cũng không dễ hiểu, ví dụ có đồng tiền “Thuận Thiên đại bảo” được cho là đồng tiền của Lý Thái Tổ, với mặt sau có chữ “Nguyệt“. Tới nay chưa ai giải thích được chữ Nguyệt này nghĩa là gì.

Đồng tiền được cho là đồng tiền đầu tiên của Việt Nam lại là một bằng chứng về nước Đại Hưng của Lưu Cung. Đã là Đại Hưng thì không hề có nước Đại Hán ở Lưỡng Quảng và tức là trận thủy chiến với quân Nam Hán của Ngô Quyền không thể xảy ra trên sông Bạch Đằng…

Chữ Nguyệt ở mặt sau đồng Thuận Thiên đại bảo có thể là từ chỉ hướng Tây. Mặt trời là biểu tượng phương Đông. Mặt trăng là biểu tượng của phương Tây.
Như vậy rất có thể tương tự như chữ Đinh trên đồng Đại Hưng bình bảo, chữ Nguyệt cho biết đồng Thuận Thiên đại bảo là tiền đúc của đất Tĩnh Hải thời nhà Đinh – Lý.

Cổ Loa thành

Tôi nghe kể chuyện Cổ Loa Thành
Âu Lạc, Phong Khê chép sử xanh
Tùng bách Chiêu lăng lưu tích cũ
Sơn hà Thục quốc rạng thanh danh
Trời Tây thiên tử oai linh trấn
Đông Hải thánh thần thác gửi hình
Dẫu mất nỏ thiêng, sông núi đó
Ngàn thu cây tỏa bóng yên lành.

Bụi mờ

Trời cao lộng mà không soi tỏ
Lúc triều Lê chép sử nước nhà
Lầm lẫn sử Việt, sử Hoa
Thời Hùng Vương xếp vào là ngoại biên.
Giặc Mãn Thanh tràn miền đất Bắc
Cơn hồng thủy Tứ khố toàn thư
Đốt kinh, cạo sử, thu đồ
Cội nguồn Hoa Việt phủ mờ bụi xanh.
Nay con cháu hùng anh dòng dõi
Hướng về nguồn tìm cõi cha ông
Vạn năm văn hiến hay không?
Lặng im hay kể trống đồng Việt Nam?