Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương

Câu hát ru mà ở Huế ai cũng thuộc:

Gió đưa cành trúc la đà
Ti
ếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.

Câu ca dao này nêu 2 danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Huế là chùa Thiên Mụ và đồi Long Thọ (Long Thọ Cương). Đây là 2 địa danh nằm đối diện nhau qua dòng sông Hương, tạo ra một cảnh đẹp thơ mộng của đất Thần kinh.
Ta hãy thử đặt những câu hỏi sâu hơn cho những danh lam thắng cảnh này. Chùa Thiên Mụ và đồi Long Thọ có quan hệ thế nào đối với công cuộc lập nước của nhà Nguyễn ở Thừa Thiên Huế? Tìm trả lời cho câu hỏi này đem lại những điều bất ngờ, phát hiện ngay nguồn gốc của cái tên gọi “Huế” ở nơi đây.

IMG_0932.jpgTháp chùa Thiên Mụ.

Trước hết là về sự tích chùa Thiên Mụ. Việc xây ngôi chùa này liên quan đến vị Thái Tổ của nhà Nguyễn là Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Theo sách Đại Nam thực lục, ngay sau khi quyết định rời bỏ vua Lê chúa Trịnh và về đất Thuận Hóa lập nghiệp chúa Nguyễn Hoàng “đi dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng của xã Hà Khê thuộc huyện Hương Trà, giữa khu đất bằng phẳng nổi lên một gò cao, trông tựa như hình đầu rồng đang ngoái nhìn lại, phía trước thì có sông lớn, phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp đẽ. Nhân đó mới hỏi chuyện người địa phương, ai cũng nói gò đất đấy rất thiêng.
Tục truyền: Xưa, đang đêm bỗng có người nhìn thấy một bà già mặc áo đỏ, quần xanh, ngồi trên đỉnh gò và nói:
– Sẽ có vị chân chúa đến đây xây chùa để tụ khí thiêng, cho bền long mạch.
Nói rồi bà già ấy biến mất. Bấy giờ, nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cũng cho là núi ấy có linh khí, bèn cho cất chùa, gọi là chùa Thiên Mụ”.
Bà già mặc áo đỏ” trong sự tích này là ai mà lại hiển linh báo trước sự xuất hiện của một triều đại mới như vậy? Có ý kiến cho rằng đó là Bà Hỏa trong bộ các bà Ngũ hành nương nương. Nhưng… Thiên Mụ, hay bà mẹ trời thì không phải là Ngũ hành. Thiên Mụ gắn với chúa Nguyễn là một nhân vật cấp quốc gia, cao hơn nhiều so với các “hành”, tục thờ Ngũ hành có mức độ thờ phụng thấp hơn nhiều, thường chỉ dùng trong các làng xã. Thiên Mụ ở đây là một vị thần khác.
Trong kinh thành Huế, dưới thời Minh Mạng vua đã cho xây dựng một Đạo quán của kinh thành là quán Linh Hựu 靈祐. Về quán Linh Hựu Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ có chép:
Năm Minh Mạng thứ 10, xây dựng quán Linh Hựu tại đầu phường Linh Thái xưa, nằm ở phía bắc sông Ngự Hà trong Kinh thành. Bên trong quán dựng điện Trùng Tiêu. Gian giữa bày 1 cái khám phụng thờ tượng đồng Cửu Thiên Thánh Tổ và 2 tượng đồng Kim đồng, Ngọc nữ. Án thứ nhất bên tả, bày tượng đồng Lục Giáp; án thứ nhì bên tả, bày tượng tổ 72 bộ Địa Sát, do viên đạo lục phụng thờ.
Cửu Thiên Thánh Tổ” là cách viết tắt của “Cửu Thiên Huyền Nữ Thánh Tổ Đạo Mẫu Nguyên Quân”. Vị thần chủ chính của Đạo Giáo được đúc tượng lập quán trong kinh thành của triều đình nhà Nguyễn không phải là Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử), mà là Cửu Thiên Huyền Nữ, bà mẹ trời của Trung Hoa cổ đại.
Ở khu vực miền Trung và miền Nam tục thờ Cửu Thiên Huyền Nữ rất phổ biến, từ cấp quốc gia đến trong từng nhà dân vì Cửu Thiên Huyền Nữ được thờ làm thần bản mệnh của các bà vợ trong gia đình. Nhiều nhà ở vùng Phong Điền hay Quảng Trị đặt ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ gọi là Tran Bà.
Thiên Mụ hay Bà mẹ trời, tức là Mẫu Thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ của miền Bắc. Mẫu Thượng thiên mặc áo màu đỏ, trùng khớp với sự tích ở chùa Thiên Mụ. Mẫu Thượng thiên còn gọi là Mẫu Cửu trùng, là hình ảnh của Cửu Thiên Huyền Nữ.
Như thế, chùa Nguyễn Hoàng khi bắt đầu mở nước ở phía Nam đã lấy tích Cửu Thiên Huyền Nữ (Linh Mụ – Thiên Mụ) để làm nền tảng tâm linh cho sự nghiệp của mình. Các phủ chúa Nguyễn thường lập ở vùng Kim Long, tức là khu vực chùa Thiên Mụ.
Cũng chính thời gian này xuất hiện cái tên Huế để chỉ vùng này. Tới đây ta có liên hệ quan trọng: tên gọi Huế khả năng bắt đầu từ chữ “Huệ”, nghĩa là ơn huệ. Người Huế thường nói vui phát âm Huế thành Huệ. Thừa Thiên Huế là Thừa Thiên Huệ, nghĩa là nhận ơn huệ của Trời. Có thể thấy nếu chỉ có tên Thừa Thiên thì sẽ cụt ý. Nhưng nếu thêm Thừa Thiên Huế thì ý nghĩa rất rõ ràng. Đây cũng chính là nghĩa của sự tích chùa Thiên Mụ đã kể trên. Chúa Nguyễn Hoàng đã nhận ơn ban theo Thiên mệnh để mở nước lập quốc ở phương Nam.
Mỗi triều đại khi lập quốc thường xây dựng một huyền thoại để khẳng định tính “chân mệnh thiên tử” của mình. Nhà Lý khi dời đô đã lấy tích rồng vàng bay lên trên sông Nhị mà đặt tên đô thành là Thăng Long. Lê Lợi với cây Ỷ Thiên kiếm trả lại cho Rùa vàng hồ Gươm cũng là ý khẳng định mệnh trời cho nhà Lê. Nhà Nguyễn khi xây dựng một nền độc lập ở phía Nam, dứt bỏ nhà Lê, đã có chuyện nhận ơn mệnh của Thiên Mụ – Cửu Thiên Huyền Nữ mà lập nên xứ Huệ (Huế).

IMG_0660.jpg
Huệ Nam điện.

Một dẫn chứng khác về khả năng Huế vốn là Huệ là tên của điện Hòn Chén. Điện Hòn Chén có tên là điện Huệ Nam, thường được giải thích là “ban ơn huệ cho nước Nam”. Nhưng cũng có thể Huệ Nam nghĩa là vùng Nam Huế, tức là còn có vùng mang tên Huệ ở phía Bắc. Phía Bắc của điện Hòn Chén theo dòng sông Hương chính là khu vực Kim Long của các phủ chúa Nguyễn và chùa Thiên Mụ.
Một truyền thuyết khác ở chùa Thiên Mụ kể:
Đồi Hà Khê rất thiêng, khoảng đời nhà Đường có viên đại tướng tên là Cao Biền từng đi khắp các nơi núi non sông biển nước ta xem nơi nào có khí linh thiêng thì tìm cách yểm đi. Cao Biền thấy trên đồi Hà Khê có khí thiêng, bèn đào sau chân đồi để cách mạch đi, khiến cho linh thiêng về sau không cư tụ được. Đêm hôm đó bỗng có một người đàn bà thể sắc trông thì còn trẻ nhưng mái tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ ngồi dưới chân đồi than vãn, rồi cất tiếng nói to: “Đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều thì nên lập chùa thờ Phật, thỉnh cầu linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không có gì phải lo”. Người đàn bà ấy nói xong biến mất. Từ đó gò đất được gọi là núi Thiên Mụ.

IMG_9562Cổng đình Dương Xuân Hạ ở chân dãy Hàm Rồng, nơi thờ Cao Các đại vương.

Ở truyền thuyết này ta thấy hiện diện nhân vật Cao Biền từ thời Đường ở Huế. Các nhà nghiên cứu hiện cho rằng Cao Biền lúc này “chưa đủ thăm quyền” để vào sâu phía Nam như vậy. Nhưng thực tế, chuyện Cao Biền ở miền Trung và Nam Trung bộ là hoàn toàn có thể nếu biết rằng Cao Biền đánh dẹp quân Nam Chiếu chính là ở vùng miền Trung Việt, chứ không phải ở bên Vân Nam.
Có thể ý nghĩa của nhân vật Cao Biền ở đây là chúa Nguyễn nhận ơn mệnh trời đã tiếp tục công cuộc Nam chinh mà Cao Vương đã khởi xướng.
Dấu vết của Cao Biền, thầy địa lý phong thủy nổi tiếng này ở Huế thực ra có rất nhiều, nhưng được lưu truyền dưới một tên gọi khác là Cao Các đại vương. Rất nhiều làng xã ở Huế khi mới hình thành đều lập am thờ Cao Các đại vương. Một loạt các làng ở Huế có tục thờ Cao Các như thôn Vỹ Dạ, Nguyệt Biểu, Dương Xuân…

IMG_9878.jpgAm thờ bài vị: Bổn vi Cao Các tôn thần nguyên phong tặng hoằng mô vĩ lược đôn hậu phu hữu trạc dương trác vĩ mông gia tặng dực bảo trung hưng thượng đẳng thần ở thôn Vỹ Dạ, Huế.

Các nhà nghiên cứu cho rằng tục thờ Cao Các ở miền Trung là do người dân di cư từ vùng Thanh Nghệ vào mang theo. Dù là vậy, nhưng bản thân Cao Các Mạc Sơn ở Thanh Hóa, Nghệ An cũng chính là Cao Vương Biền, người đã tiến quân vào sào huyệt của Nam Chiếu ở Tây Thanh Nghệ, lưu dấu ấn sâu đậm vào tiềm thức dân gian của vùng này.
Khu vực thờ Cao Các (Cao Biền) ở Huế nằm ở phía bên này sông Hương, đối diện với chùa Thiên Mụ. Đây cũng chính là khu vực của dãy núi Long Thọ, nơi có giếng Hàm Rồng linh thiêng.
Trên đỉnh đồi trong dãy Hàm Rồng thời Minh Mạng đã từng dựng miếu Lịch Đại Đế Vương, hay miếu Lịch Đợi. Miếu là nơi triều Nguyễn thờ các vị tiền tổ từ thời thượng cổ tới thời Lê. Đặc biệt gian giữa chính thờ của miếu Lịch Đợi thờ Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Hai gian bên thờ các vị vua thời Tam Đại Trung Hoa là Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn, Chu Vũ.
Cũng như việc coi Cửu Thiên Huyền Nữ là người ban thiên mệnh của chúa Nguyễn Hoàng, một lần nữa ở miếu Lịch Đợi ta lại thấy các vua Nguyễn đã nhận các vị vua Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa cổ đại làm tiền nhân của mình, đoàng hoàng công bố với bàn dân thiên hạ rằng mình được nhận ơn huệ của Trời, tiếp ngôi Cửu trùng, xứng danh một quốc gia độc lập, hùng mạnh trên vùng đất Đại Việt Nam.

2018-11-11Bản đồ các di tích vùng Thiên Mụ – Long Cương.

Nếu hình dung miếu Lịch Đợi trên dãy núi Hàm Rồng như một dạng “mả táng hàm rồng” thì chùa Thiên Mụ với ngôi tháp trên đồi cao ở đối diện bên kia sông Hương giống như một chiếc cột hoa biểu tượng trưng thường gặp trong các di tích sơn lăng nhà Nguyễn ở Huế.
Đáng tiếc là miếu Lịch Đợi ở dãy đồi Long Cương này nay không còn nữa. Việc phục dựng miếu Lịch Đợi trong tương quan với chùa Thiên Mụ có ý nghĩa phong thủy lớn đối với cả quốc gia chứ không chỉ cho kinh thành hay cho nhà Nguyễn.

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Lắng nghe tâm sự đôi đường đắng cay.

 

 

 

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua với các nước Chu, Tần

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày ở vùng Đông Bắc Việt và Quảng Tây kể tóm tắt như sau (theo wikipedia):
Cha của Thục Phán là Thục Chế làm vua nước Nam Cương được 60 năm thì qua đời, khiến cho gia đình họ Thục rơi vào cảnh chia rẽ tranh giành quyền lực. Khi ấy Thục Phán mới tròn 10 tuổi, cháu của Thục Chế là Thục Mô lợi dụng và đưa Thục Phán lên ngôi. Thục Mô nhiếp chính lộng quyền, muốn nhiều lần muốn giết Phán đoạt ngôi vua, khiến chư hầu bất mãn. Nhưng Thục Phán thì vẫn luôn nhẫn nại mong hàn gắn lại gia tộc họ Thục vốn đã bị chia rẽ từ khi cha mình mất. Chín chúa mường (bao gồm 3 Nùng chủ, 2 Dao chủ, 1 Mán chủ, 1 Sán chủ, 1 Tày chủ, 1 Miêu Chủ) không phục kéo quân về bắt Thục Phán đòi chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi, nhưng từ bé đã thể hiện phẩm chất thông minh hơn người, bày kế cho Thục Mô lừa 9 chúa mường đua sức, đấu đá lẫn nhau.. còn họ Thục thì giải quyết tranh chấp nội bộ và củng cố lực lượng ở kinh đô Thành Bản Phủ, đến khi các phe cánh đấu đá đến sức cùng lực kiệt, Thục Phán mới thâu tóm toàn cục khiến 9 chúa mường quy phục ông. Từ đó, nước Nam Cương dưới tay Thục Phán trở nên cường thịnh… Thục Phán đem quân thôn tính nhiều lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt trên phương Bắc và cả Văn Lang ở phương Nam…
Sau khi tạm yên mặt Bắc, ông ra lệnh cho 2 vị chúa mường đứng đầu 2 bộ tộc là Miêu Chủ và Dao Chủ đem quân của tiến về biên giới các bộ tộc Nam Chiếu cổ (phía Tây Hà Giang), còn mình đem quân đánh thẳng xuống Phong Châu. Khi ấy Văn Lang đã suy tàn, Hùng Vương đời 18 tính háo sắc, thường gian dâm với vợ các tù trưởng dưới trướng mình, tính tình lại độc ác bạo ngược khiến quân dân bất mãn tột độ. Quân đội tinh nhuệ của Thành Bản Phủ chẳng tốn nhiều hơi sức đã hạ được Văn Lang. Chỉ trong vòng 1 tuần, Thục Phán đã giết được Nguyễn Tuấn (phò mã của Văn Lang), vây hãm Phong Châu khiến Hùng Vương phải sợ hãi tự tử. Cùng lúc, các tù trưởng Nam Chiếu ở phía Tây nghe tin Tày Chủ Thục Phán bỏ kinh đô xuống Nam, cùng hợp lực đông tiến thì bị phục binh của Miêu Chủ và Dao Chủ phục sẵn ở Xín Mần đánh cho thua liểng xiểng phải rút chạy về tận địa phận Lào Cai bây giờ.
Dựa vào câu chuyện này mà các nhà sử học hiện nay cho rằng Thục Phán là người Tày ở đâu đó khu vực Đông Bắc Bộ và biên giới Quảng Tây. Người ta gán câu chuyện của người Tày này với Truyện Rùa vàng của người Việt theo Lĩnh Nam chích quái dẫn đến đoạn tiếp theo về Thục An Dương Vương rời đô đến Cổ Loa, xây thành,…
Tuy nhiên xét kỹ truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày kể trên ta thấy nó không liên quan gì đến việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa hay Mỵ Châu – Trọng Thủy cả. Rõ ràng đây là một vị An Dương Vương khác, ở một giai đoạn bối cảnh khác.
Trong truyền thuyết người Tày kể Thục Phán đã thâu tóm được 9 Mường do 9 thủ lĩnh Nùng chủ, Tày chủ, Sán chủ, Mán chủ, Miêu chủ, Dao chủ. Sau đó nước Nam Cương của Thục lại còn đụng độ với các tù trưởng Nam Chiếu cổ và cuộc tấn công diệt nước Văn Lang ở phương Nam. Với từng đó dân tộc và đất nước, ta thấy ngay phạm vi của câu chuyện Chín chúa tranh vua không thể chỉ quanh quẩn ở vùng biên giới Bắc Bộ và Quảng Tây như vẫn nghĩ. Câu chuyện này kể về một cuộc đại thống nhất thời trước Công nguyên với quy mô và phạm vi lớn hơn nhiều.
Khi xác định quy mô của câu chuyện này ta sẽ nhận ra đây chính là cách kể ngắn gọn của cuộc chiến giữa các nước thời Chiến Quốc, được thống nhất bởi nước Tần. Mỗi nước thời Chiến Quốc là một tộc người trong Bách Việt. Điển hình Miêu Dao là thành phần chính của nước Sở, nước có diện tích rộng nhất thời này. Người Tày Nùng là thành phần của nước Tống, ở quãng Quảng Đông ngày nay.
9 chúa mường như thế thực chất là 9 nước. Khái niệm “mường” ở đây tương đương với “quốc gia”, tương tự người Lào gọi là Mường Lào, Mường Việt vậy. Họ Thục trong truyện đã thống nhất các mường, hay các quốc gia thời Chiến Quốc, do đó phải là nước Tần. Đất đai nhà Tần nằm ở phía Tây của thiên hạ Trung Hoa nên còn được gọi là Thục, tức là phía mặt trời lặn (thụt).

Chu sang TanVị trí các nước cuối thời Chiến Quốc.

Đoạn sau của truyền thuyết Chín chúa tranh vua kể Thục Phán đánh nước Văn Lang của Hùng Vương. Nếu Thục ở đây là nhà Tần thì rõ ràng đoạn này kể về cuộc chinh phạt của Tần đánh vua Đông Chu ở đất Phong Châu. Vùng Bắc Việt vốn là đất định đô ban đầu của Chu Văn Vương, được gọi là nước Văn Lang. Khi Chu Vũ Vương diệt Trụ, đã dời đô về Kiểu kinh ở phía Tây, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Tới thời Đông Chu kinh đô nhà Chu lại quay trở về vùng đất Văn Lang – Phong Châu cũ, nơi có thành Cổ Loa – Đông Đô.
Vị trí “Nam Chiếu cổ”, tức là vùng Vân Nam là đất Kiểu kinh của Tây Chu. Cuối thời Chiến Quốc vùng đất này do một vị tướng của nhà Chu nắm giữ, được biết dưới tên Trang Kiểu. Trang = T’lang = Lang chỉ thủ lĩnh. Kiểu là tên của kinh đô Tây Chu. Trang Kiểu nghĩa là thủ lĩnh vùng Kiểu kinh.
Miền Bắc Việt lúc đó là đất Lạc (Lạc Dương – Đông Chu). Còn Vân Nam là đất Tây Âu của phần Âu trong nước Âu – Lạc. Phần Đông Âu là khu vực Quý Châu hay đất Kiềm. Quý Châu lúc này là điểm nằm giữa Tần (từ đất Thục – Tứ Xuyên), Sở (Hồ Nam), Đông Chu (Bắc Việt) và Tây Chu (Điền – Vân Nam).
Sách Hoài Nam tử cho biết nhà Tần khi dẫn đại quân đánh Việt đã giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Dịch Hu Tống đọc khác đi là Dịch Hậu Tông, tức là con cháu của vua Dịch học. Tướng Trang Kiểu là vốn là dòng dõi nhà Chu từ Chu Văn Vương. Văn Vương là người được tôn làm vua Dịch học vì đã viết Kinh Dịch (Chu Dịch). Do đó Trang Kiểu cũng chính là Dịch Hu Tống đã đụng độ với quân Tần lúc này.
Truyện Chín chúa tranh vua kể các tù trưởng Nam Chiếu cổ đã bị Miêu chủ và Dao chủ  phục đánh. Miêu và Dao là 2 sắc tộc chính của nước Sở thời này. Đoạn truyện này có nghĩa là quân Tây Chu ở Vân Nam đã đụng độ với cánh quân người Sở của Tần.
Cái tên Nam Cương trong truyện có thể hiểu là vùng đất ở phía Nam xưa, tức là phía Bắc nay (phương Nam Bắc nay đã đảo ngược). Nhà Tần lấy mệnh Thủy, dùng màu đen của Ngũ hành, định vị ở phương Bắc nay, cho nên tên gọi của Tần mới là Nam Cương.
Về đất Điền ở Vân Nam tác giả Nguyễn Quang Nhật đã có nhận xét rất xác đáng khi phân tích phiên thiết Di Yên = Điền. Người Điền là người của xứ nóng (yên = ơn là số 2 chỉ phương Xích đạo) di cư tới trong cuộc chia tách Đông Tây của Hùng và Thục, Lạc Long và Âu Cơ hay Hoa và Di.

IMG_0512Trống đồng trong bảo tàng Hà Giang.

Khu vực Vân Nam có dân tộc Di, hay là người Lô Lô, một dân tộc tới nay vẫn còn dùng trống đồng trong đời sống văn hóa. Có thể thấy tên Lô Lô hay La La, Lu là từ chữ Lửa mà ra, chỉ tộc người phương nóng (Bắc xưa), dòng dõi Thần Nông Viêm Đế. Chữ Lô này do đó đồng nghĩa với chữ Yên. Người Lô Lô – Di = Di Yên thiết Điền.
Người Lô Lô theo truyến thuyết có nguồn gốc từ người Khương cổ. Người Khương này không phải ở Tây Tạng như các chú dẫn hay gặp vì rõ ràng Tây Tạng chẳng có bộ tộc nào dùng trống đồng cả. Khương là họ của Viêm Đế Thần Nông, cho thấy người Lô Lô là dòng Thần Nông. Viêm Đế khởi phát từ vùng sông Khương hay Khung Giang, tức là sông Mê Kong ngày nay.
Liên hệ khác, Thục An Dương Vương được các tư liệu truyền thuyết chép là đến từ Ai Lao – Vân Nam. Người Ai Lao Di = La Di, tức là người Lô Lô. Người Di Lô Lô như thế là dân tộc đã theo ông tổ của nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ di cư lên núi do cuộc tranh giành quyền lực với Hạ Khải. Truyền thuyết Việt kể là cuộc chia tách Âu Cơ với Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi. Đất Vân Nam Quý Châu là vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu, gọi là đất Âu. Ai Lao thiết Âu.
Theo wikipedia: người Lô Lô vốn có chữ viết riêng. Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay không dùng nữa. Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Như thế chữ viết của người Lô Lô là dạng chữ tượng hình như chữ Nho cổ, chứ không phải bộ chữ hoàn toàn khác. Vì người Lô Lô là hậu duệ nhà Chu nên hiển nhiên chữ viết đó cũng là chữ dùng thời Chu. Có thể đó là chữ Đại triện thời Chu hay chữ Khoa đẩu mà người Việt thường nói tới.

P1100140Chiếc chuông đồng có chữ thời Đông Sơn tìm thấy ở Lào Cai.

Dấu vết của Nam Việt Triệu Vũ Đế trong tên làng xã ở Thái Bình

Ở làng Đồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có một ngôi đền cổ đặc biệt là nơi thờ Triệu Vũ Đế, người xưng Nam Việt Đế, lập nên nước Nam Việt huy hoàng trong sử Việt. Tương truyền nơi đây là nơi Triệu Vũ Đế lấy vợ là bà Trình Thị người địa phương tại đây.
Theo sách Kiến Xương xưa và nayLàng Đồng Xâm (sâm) xưa còn gọi là Đường Thâm, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương. Theo một số nhà nghiên cứu thì đất làng Đường Thâm đã có hơn 2000 năm lịch sử; xã Đường Thâm xưa là một hòn đảo nổi lên trên mặt biển (đảo nhỏ có tên là đảo Vông; nay vẫn còn dấu tích tên chợ Vông, sông Vông),…
Trong mối tương quan với cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà trên đất Thái Bình, những địa danh ở đây có thể được giải thích như sau.
– Kiến Xương: chữ Nho có nghĩa là kiến lập nền tảng. Nghĩa này tương đương với từ “khai cơ”, mà Triệu Vũ Đế ở đền Đồng Xâm được gọi là Đức Khai Cơ. Ý nói tới công nghiệp của Triệu Vũ Đế đã gây dựng một nền tảng quốc gia vững chắc nối đời cho nước Nam Việt.
– Chân Định: là tên quê của Triệu Đà theo như chính sử vẫn chép. Triệu Đà là người Việt rõ ràng, chứ Chân Định thời Tần không thể nằm ở tận đất Hà Bắc của Trung Quốc nay như các sách vẫn chú giải vì lúc đó ở vùng Hà Bắc bên Tàu chưa hề có tên huyện Chân Định.
– Thái Bình: là chữ ghi phiên thiết của âm Bái. Đất Thái Bình cũng là nơi Nam Đế Lý Bôn khởi nghĩa, tới nay còn rất nhiều di tích liên quan đến Lý Bôn ở Thái Bình. Lý Bôn dựng cờ khởi nghĩa ở đất Bái – Thái Bình chính là Bái Công Lưu Bang, người đã lãnh đạo nhân dân đất Bái khởi đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi trong lịch sử Trung Hoa.
– Trình Thị: đọc phiên thiết là Trĩ. Đây là tên cúng cơm của Lữ Hậu, vợ của Lưu Bang (Lý Bôn) là Lữ Trĩ, được sử sách lưu chép. Vị hoàng hậu của Lý Bôn tại Thái Bình được gọi tên là Đỗ Thị Khương, chính là Lữ Trĩ hay Cao Hậu của nhà Hiếu.

Den Trinh ThiĐền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm.

– Vông: đảo Vông, sông Vông được cho là từ tên gọi nơi có nhiều cây Vông, chữ Nho ghi là Đồng 桐, trong tên làng Đồng Xâm. Vào thời kỳ trước, ở vùng cửa sông Trà Lý này có một doi đất nhô lên như cái đảo, được đặt tên là Vông. Chữ Vông này chính xác hơn phải là “vồng” hay “giồng”, chỉ giồng đất nổi ở nơi cửa sông.
– Đồng Xâm: hay Đồng Sâm 桐琛 theo mặt chữ Nho có nghĩa là “cây vông quý”. Tuy nhiên thực sự dịch nghĩa của tên địa danh này như vậy rất tối ý. Đồng Sâm thực ra là tên ghi phiên thiết của từ nôm là Đầm. Vùng đất này thời xưa từng là cửa sông, có lẽ là một khu vực đầm phá rộng, có hòn đảo nhô lên ở giữa.
– Đường Thâm: tên gọi trước đây của khu vực này là Đường Thâm, đọc phiên thiết cũng cho chữ Đầm. Điều này xác nhận thêm khả năng tên gọi Nôm của vùng này thời kỳ trước là xứ Đầm.
Một câu đối rất dài được lưu trong đền Đồng Xâm về công nghiệp của Triệu Vũ Đế:
炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Dịch:
Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc
Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.

IMG_4245Hoành phi KHAI QUỐC ĐẠI ĐẾ của đền Đồng Xâm.

Phát hiện nơi khởi nghĩa của Triệu Đà – Lý Bôn – Lưu Bang là đất Bái (Thái Bình), ở vùng Đầm nước cửa sông còn có liên hệ tới truyền thuyết Việt, kể về cuộc kháng chiến của Triệu Việt Vương dựa vào chốn đầm lầy mà chống giặc. Đoạn kể về khởi nghĩa của vua Triệu ở vùng đầm lầy chính là nói tới khởi nghĩa của Triệu Vũ Đế ở Đồng Sâm – Đường Thâm.
Ngay tại Kiến Xương, không xa đền Đồng Xâm có di tích liên quan đến vua Triệu (Quang Phục) là đình đền Luật Ngoại và Luật Nội tại xã Quang Lịch. Nơi đây thờ một vị phu nhân của Hùng Tuệ Công, làm huyện doãn dưới thời nhà Triệu (Triệu Đà) và con trai là Thạch Công. Thế nhưng thần tích lại kể bà Phương Dung và con trai là Thạch Công sau đã theo Triệu Quang Phục chống giặc và hy sinh ở vùng này.
Sự tích kỳ lạ ở Luật Ngoại – Luật Nội cho thấy, trong truyền thuyết Việt đã có sự lẫn lộn giữa 2 thời đại Triệu Đà và Triệu Quang Phục. Cùng một nhân vật, một thời đại đã bị chép thành ra cách nhau tới hơn 600 năm.

P1170659Đền Luật Nội ở xã Quang Lịch, Kiến Xương, Thái Bình.

Câu đối ở đình Luật Ngoại:
秋月幾滄桑南越北梁千古事
排江餘素節前徵後趙一流人
Thu nguyệt kỷ thương tang Nam Việt Bắc Lương thiên cổ sự
Bài giang dư tố tiết tiền Trưng hậu Triệu nhất lưu nhân.
Vũ Đình Ngạn dịch:
Trăng thu trải cuộc bể dâu, Nam nước Việt Bắc giặc Lương, ghi ngàn đời sử
Sông Bài nổi gương tiết nghĩa, trước Bà Trưng sau Bà Triệu, cùng một bậc người.
Tên con sông chảy qua vùng đất này là sông Bài, hẳn liên quan tới cái tên Bái của Bái Công Lưu Bang, người đất Thái Bình.
Những địa danh và di tích lưu lại trên đất Thái Bình đã cho thấy, Triệu Đà là một người Việt chính cống, lấy vợ ở đất Thái Bình, dựng cờ khởi nghĩa từ vùng đầm nước Đường Thâm – Đồng Xâm, khai cơ kiến quốc Nam Việt.

Bàn Vương và người Dao

Đồng bào người Dao là dân tộc có nhiều phong tục mang đậm dấu ấn tâm linh. Trong đó quan trọng có lễ cúng Bàn Vương, người được coi là thủy tổ đã sinh ra 12 nhánh dân tộc Dao. Trong lễ cấp sắc, lễ làm cho người đến tuổi trưởng thành, người Dao quan niệm rằng có trải qua lễ cấp sắc mới biết lễ phải trái ở đời, mới đích thực là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới được đoàn tụ với tổ tiên.

IMG_7217Bàn thờ Bàn Vương trong lễ hội Bàn Vương của người Dao tại Hồ Thầu, Hoàng Su Phì, Hà Giang.

Truyền thuyết về Bàn Vương của người Dao có nhiều dị bản. Như người Dao ở Hoàng Su Phì, Hà Giang kể: tuy là vua nhưng Bàn Vương vẫn giữ thói quen sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên. Ngài luôn căn dặn các con phải chăm chỉ lao động sản xuất. Có một lần, Bàn Vương cùng tùy tùng lên núi săn bắn, đuổi theo một con sơn dương bị thương, chẳng may bị sơn dương húc, ngài ngã vào cây gù hương và mất tại đó. Thi thể Bàn Vương bị vướng trên nhành cây, các con bèn chặt cây làm thân trống, đuổi bắt con sơn dương để lấy da làm trống tế lễ Bàn Vương. Từ đó, cứ đến khoảng tháng 2 Âm lịch hàng năm, con cháu người Dao từ đời này sang đời khác phải nhớ ngày cúng giỗ Bàn Vương, thể hiện sự biết ơn với tổ tiên đã sinh ra họ.

IMG_7205Sách cúng người Dao ở Hồ Thầu, Hoàng Su Phì có đoạn:
出世長水國 盤胡儀儀置天地 置得男多女又水 聞説今朝有状請 盤胡着病是何日 何人抯水箒洗面 盤胡何年何月死
Bàn Hồ xuất thế trường thủy quốc
Bàn Hồ nghi nghi trí thiên địa
Trí đắc nam đa nữ hựu thủy
Văn thuyết kim triều hữu trạng thỉnh
Bàn Hồ trứ bệnh thị hà nhật
Hà nhân tra thủy trửu tẩy diện
Bàn Hồ hà niên hà nhật tử…
Quan niệm Bàn Vương khai thiên lập địa như trong sách cúng người Dao đã dẫn ở trên tương đồng với truyền thuyết Trung Hoa về ông Bàn Cổ bổ vỡ khối hỗn mang phân chia trời đất. Tuy nhiên, truyền thuyết Bàn Hồ của người Dao có nhiều chi tiết hơn, mô tả một thời kỳ rõ ràng hơn, đã có phân hóa, có đấu tranh trong xã hội. Bàn Hồ ở đây phải chỉ một giai đoạn khác so với thời Bàn Cổ sáng thế.
Chuyện Bàn Hồ của người Dao kể về một con Long Khuyển và cuộc chiến giữa hai nhân vật huyền thoại là Bình Hoàng – Cao Vương. Long Khuyển vốn ở trên trời và được Bình Hoàng hết mực yêu quý. Khi Bình Hoàng quyết tâm tiêu diệt Cao Vương, Long Khuyển xin được nhận nhiệm vụ đó. Cảm kích trước sự dũng cảm của Long Khuyển, Bình Hoàng hứa rằng nếu nhiệm vụ kia hoàn thành, sẽ gả con gái cho Long Khuyển. Bàn Hồ (tên con Long Khuyển) bơi 7 ngày 7 đêm qua đại dương thì đến địa phận của Cao Vương. Cao Vương thấy con chó dài 3 thước, lông đen mượt có vằn vàng cho là giống vật quý liền đem về nuôi trong cung. Nhân lúc Cao Vương say rượu, Long Khuyển chồm lên cắn chết, ngoạm lấy đầu rồi bơi về báo công. Bình Hoàng giữ đúng lời hứa, gả con gái cho Long Khuyển và ban cho một vùng đất. Vợ chồng Bàn Hồ sinh được 12 người con (6 trai, 6 gái) và được nhạc phụ ban sắc thành 12 họ là họ Bàn, họ Mãn, họ Trần, họ Lan, họ Đặng, họ Tống, họ Phượng, họ Lương, họ Uyển, họ Triệu, họ Đới, họ Lưu…
Vậy Bàn Hồ, vị thủy tổ của 12 họ người Dao là ai và những truyền thuyết trên là hình bóng của giai đoạn lịch sử nào của dân tộc này?

IMG_7418Các họ người Dao làm lễ 12 bái trong lễ cúng Bàn Vương ở Hồ Thầu.

Một tập tục gợi ý về nguồn gốc của người Dao là tục ăn Tết của người Dao và người Mông (nhóm Miêu – Dao) theo Âm lịch, nhưng lại trước ngày Tết hiện tại của người Việt và người Trung Quốc 1 tháng. Lịch Âm hiện nay đang theo lịch của nhà Hạ, lấy tháng Dần làm tháng Giêng đầu năm, hay còn gọi là lịch kiến Dần. Như thế người Miêu – Dao ăn Tết theo lịch kiến Sửu, lấy tháng Sửu làm tháng Giêng. Lịch kiến Sửu là lịch của nhà Thương.
Người Dao còn bảo lưu được tập tục dùng lịch của nhà Thương, nên khả năng nhà Thương chính là tổ tiên của nhóm dân tộc này. Với nhận định như thế, có thể phân tích so sánh câu chuyện Bàn Vương với lịch sử lập quốc của nhà Thương.
Nhà Thương bắt đầu từ vua Thành Thang, được sự giúp đỡ của một hiền thần là Y Doãn đã diệt Hạ Kiệt. Căn cứ vào Trúc thư kỷ niên, Y Doãn được Thành Thang cử sang làm gián điệp bên nhà Hạ, lợi dụng sự bất mãn của nàng Muội Hỷ khi nàng không còn được Hạ Kiệt sủng ái để lấy tin tức về tình hình Hạ Kiệt. Sau khi nắm được nội tình nhà Hạ, Y Doãn trở về với Thành Thang.
Hành trạng của Y Doãn khá giống với sự tích long khuyển Bàn Hồ của người Dao. Cao Vương hay Cao Tân ở đây là Hạ Kiệt. Bình Hoàng là vị vua Thành Thang, nhờ sự giúp đỡ của Y Doãn đã thành công trong việc lật đổ Hạ Kiệt lập nên triều Thương. Y Doãn đã phò tá 4 đời vua Thương nối tiếp nhau, sau tự mình nắm quyền vua Thương, rồi cuối đời trao lại ngôi cho Thái Giáp.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Nhật từng phân tích ý nghĩa của chú chó Bàn Hồ:
– Khuyển hay Khang là tính chất của hướng Tây. Cẩu (chó) cũng là cửu, chỉ hướng Tây.
– Chú chó Bàn Hồ đi về Nam Sơn, sinh ra 6 người con trai và 6 người con gái, thành tổ tiên của 12 họ người Dao. Hướng Nam xưa nay là hướng Bắc nay, tượng bởi quẻ Cấn – núi. Số 6 là con số chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay) trong Hà thư.
Như thế Long khuyển Bàn Hồ có xuất xứ từ phía Tây và di dời lên phía Nam xưa (Bắc nay). Định vị này hoàn toàn tương ứng với vị trí Tây Bắc của nhà Thương so với nhà Hạ ở phía Đông Nam.
Chi tiết Bàn Vương (hay Bàn Hồ) đã dẫn người Dao bơi 7 ngày bảy đêm trên đại dương để đến nơi ở mới cũng tương đồng với việc nhà Thương đã năm lần bảy lượt di cư. Đặc biệt là dưới thời vua Bàn Canh dân nhà Thương đã theo vua vượt sông Dương Tử lên phía Nam (xưa) hay Bắc nay. Tên vua Bàn Canh cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa vị vua Thương này với người Dao.

IMG_8678

Một ngôi nhà người Dao ở Quản Bạ, Hà Giang.

Di chỉ thời Thương mang tên Bàn Long Thành nay ở tỉnh Hồ Bắc, ngay phía Bắc sông Dương Tử. Đây là dấn ấn rõ ràng nhất của sự kiện Bàn Canh dẫn dân Thương vượt hà. Long là từ chỉ vua nên Bàn Long Thành tức là thành của Bàn Vương, mà Bàn Vương lại là thủy tổ người Dao.
Truyền thuyết và tục thờ cúng Bàn Vương của người Dao như vậy xác nhận họ chính là hậu duệ của nhà Thương từ Thành Thang, Y Doãn, Bàn Canh. Nhà Thương gắn liền với việc phát triển của chữ viết, với chữ trên xương cốt và mu rùa (chữ giáp cốt) đã được phát hiện. Người Dao đến nay vẫn còn sử dụng loại chữ Nho đó để ghi chép, thờ cúng, cho dù họ có tiếng nói (phát âm) riêng. Trong lễ cúng của họ còn có điệu múa Bắt rùa độc đáo, có lẽ gắn với việc sử dụng mu rùa trong cúng bài từ thời Thương.

IMG_7483Các thầy cúng trong điệu múa Bắt rùa ở lễ hội Bàn Vương tại Hồ Thầu.

Văn hóa truyền thống Việt trong quản trị rừng

IMG_6033Trong quản trị rừng hiện nay ở Việt Nam chúng ta nói nhiều đến tri thức bản địa, đến quản lý rừng dựa vào cộng đồng, rừng cộng đồng và gần đây nữa là khái niệm khu bảo tồn do cộng đồng quản lý. Thúc đẩy yếu tố “cộng đồng” trong quản trị rừng là một xu hướng cần quan tâm trong chính sách lâm nghiệp. Khái niệm “cộng đồng” bản địa trước hết muốn nói đến tính chất gắn kết tập thể được hình thành qua một quá trình lâu dài, hay tức là văn hóa truyền thống, của cộng đồng người dân. Vì vậy, để tiếp cận phù hợp và đúng bản chất đối với vấn đề cộng đồng địa phương trong quản trị rừng cần xem xét làm rõ mối tương quan của văn hóa truyền thống Việt đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Văn hóa có thể được chia làm 3 loại hình: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và văn minh (văn tự, ngôn ngữ). Đây cũng là quan niệm của truyền thống phương Đông về Tam tài: Thiên, Địa, Nhân. Cõi Địa là những gì thuộc về vật chất như cái ăn (lương thực), cái mặc (trang phục), chỗ ở (kiến trúc), công cụ lao động, tri thức về tài nguyên thiên nhiên, nghề thủ công,… Cõi Thiên là những gì thuộc về tinh thần như tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, luật tục,… Cõi Nhân là con người, thể hiện qua văn tự, ngôn ngữ, lịch sử, truyền thuyết,…
Với việc phân chia các loại hình như vậy, thì khi đánh giá quan hệ của văn hóa đối với quản trị rừng rõ ràng không thể chỉ bó hẹp ở nghiên cứu luật tục hay tri thức bản địa (về tài nguyên) như hiện đang được thực hành. Phân tích quan hệ của văn hóa đối với rừng đòi hỏi tính đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, cũng như sự tương tác giữa các lĩnh vực đó với cộng đồng và môi trường, mới có thể bao hàm đầy đủ được ý nghĩa của văn hóa.
Khi ủng hộ thúc đẩy văn hóa cộng đồng trong quản trị rừng là hàm ý nói tới văn hóa truyền thống mà đã được hình thành và ổn định lâu dài trong cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, cần xác định rõ thế nào là “truyền thống” và những gì mà cộng đồng hiện tại đang lưu giữ có thực sự là theo truyền thống hay không?
Xã hội Việt Nam cũng như xã hội loài người về cơ bản phát triển từ hình thức săn bắn hái lượm của các bộ tộc nguyên thủy, tiến lên một bước làm nông nghiệp và thủ công nghiệp dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến. Bước tiếp theo là phát triển công nghiệp, tự động hóa dưới hình thức của nhà nước dân chủ quản lý đất nước. Soi chiếu vào lịch sử Việt ta thấy nhìn chung “truyền thống” là những gì được hình thành ở các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ban đầu mà chế độ phong kiến Việt Nam mới kết thúc vào năm 1945 sau Cách mạng tháng 8. Câu hỏi đặt ra là, vậy những nét văn hóa hình thành sau Cách mạng liệu có thể được gọi là truyền thống không? Những ứng xử văn hóa đó đối với tài nguyên rừng liệu có còn ý nghĩa thực tế trong thời đại ngày nay hay không? Liệu những truyền thống đó có còn phù hợp để khuyến khích trong quản trị rừng?
Thực tế ở Việt Nam đã có một sự đứt gãy lớn giữa quá khứ và hiện tại do chiến tranh và sự thay đổi chế độ xã hội. Điều này dẫn đến sự khác biệt khá rõ rệt giữa văn hóa hiện đại và văn hóa truyền thống. Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, những thay đổi có tác động sâu rộng đến cơ cấu và văn hóa các cộng đồng miền núi phải kể đến là việc di dân quy mô lớn nhằm khai phá kinh tế mới từ miền xuôi lên miền ngược và từ Bắc vào Nam. Việc di dân này đã làm thay đổi căn bản diện mạo của nhiều vùng miền núi. Ngày nay rất khó có thể tìm được một cộng đồng truyền thống nguyên vẹn như trước ở những khu vực có di dân, ví dụ như vùng Tây Nguyên hay Tây Bắc.
Du nhập của tôn giáo phương Tây vào Việt Nam cũng là một yếu tố tác động đáng kể khác tới văn hóa truyền thống. Đạo thiên chúa thay chỗ cho tục thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ rừng thờ núi ở các cộng đồng công giáo. Linh mục và nhà thờ thay cho quyền lực của các già làng trưởng bản truyền thống. Phân tích quản trị rừng ở cộng đồng do đó không thể không tính đến yếu tố thay đổi về tín ngưỡng.
Những đặc điểm của văn hóa truyền thống Việt (bao gồm cả ứng xử cộng đồng và với tự nhiên) cần được chú ý đến khi phân tích quản trị rừng. Đặc điểm trước hết của văn hóa truyền thống là nền văn hóa dựa vào niềm tin (tín ngưỡng), khác biệt so với cách tiếp cận dựa vào khoa học (science-based) của phương Tây. Văn hóa truyền thống thường đề cao các giá trị tinh thần hơn là các giá trị vật chất. Vì thế, ví dụ, đối với quản lý rừng cộng đồng truyền thống thì cơ chế chia sẻ quyền lực và trách nhiệm đối với tài nguyên sẽ quan trọng hơn cơ chế chia sẻ lợi ích từ rừng.
Góc nhìn căn bản của văn hóa truyền thống là lấy con người làm trung tâm, hay quan tâm trước hết ở sinh kế của người dân. Bảo tồn thiên nhiên mục đích cuối cùng cũng là để phục vụ đời sống nhân dân. Trong quá khứ gần đây, khái niệm bảo tồn còn chưa xuất hiện. Mục tiêu của nhiều khu vực làng xã miền núi lúc đó là khai hoang, mở rộng đất để sản xuất nông nghiệp và sinh sống. Hiển nhiên như vậy văn hóa truyền thống lúc này sẽ gắn bó với công cuộc khai mở đất đai của cha ông. Những nét văn hóa khai thác tự nhiên này ngày nay có thể không còn phù hợp, nhưng quan điểm phục vụ dân sinh trước tiên cần được tính đến trong các phân tích và nên đặt làm cách tiếp cận cho các can thiệp trong quản trị rừng.

IMG_6079Một đặc tính đáng khuyến khích của văn hóa truyền thống là tính tập thể. Nó khác biệt với sự đề cao các cá nhân và lợi ích vật chất trong kinh tế thị trường. Chính sự tuân thủ các quy định của tập thể và vì tập thể này mà các cộng đồng truyền thống tỏ ra rất bền vững trong quản lý các dạng tài sản công như tài nguyên rừng.
Tính tập thể của cộng đồng truyền thống dẫn đến chuẩn mực “phép vua thua lệ làng”. Đối với cộng đồng “lệ” của làng còn vai trò quan trọng hơn luật pháp của nhà nước. Vì mấy ai trong cộng đồng biết thế nào là pháp luật đâu, trong khi đó lệ làng là thứ mà họ sống và làm theo trong cuộc sống hàng ngày. Khuyến khích các lệ làng tốt, cùng với các cơ cấu quyền lực truyền thống (già làng, trưởng bản,…) do đó có ý nghĩa quan trọng hơn việc phổ biến lâm luật trong bảo vệ rừng ở cộng đồng.
Sự gắn kết cộng đồng truyền thống còn thể hiện qua cơ chế uy tín và trải nghiệm thực tế trong giáo dục và đào tạo. “Tiên học lễ, hậu học văn”. Cái đầu tiên người dân phải học là “lễ”, tức là cách ứng xử trong cộng đồng. Sau đó mới học đến kiến thức, học nghề (“văn”). Với phương thức giáo dục này người thầy trong truyền thống có một vai trò hết sức quan trọng, không chỉ đơn giản là lên lớp truyền đạt các kiến thức. Nếu người thầy “nói một đằng, làm một nẻo” thì có nói hay nói đúng đến mấy cũng chẳng ai làm theo. Người thầy trong truyền thống do đó chính là “mô hình” thực tế để người dân noi theo đó mà áp dụng cho cuộc sống của mình. Có “tôn sư” thì mới “trọng đạo”.
Phương thực học tập trong truyền thống là học qua trải nghiệm thực tế. Từ những gương mẫu, nhưng mô hình thật người ta áp dụng, vận dụng vào bản thân, thực hành trong chính điều kiện của bản thân, phải chịu trách nhiệm về kết quả của những thực hành đó. Những bài học học được qua thực tế sẽ được ghi nhớ, đúc rút kinh nghiệm và áp dụng lâu dài sau đó nên học rất hiệu quả và bền vững.
Cách học tập và thực hành truyền thống như vậy nên vận dụng khi thực hiện các hoạt động can thiệp nhằm thay đổi cách nghĩ, cách làm của cộng đồng. Không phải kiến thức của các nhà thực hành quản trị rừng mà là “đức độ”, tâm huyết của họ, sự gần gũi của họ với người dân, mới tạo ra được sự thay đổi thật sự và bền vững trong cộng đồng mà họ hướng tới.
Bảng sau nêu một vài so sánh tính chất của văn hóa truyền thống và hiện đại cùng những ví dụ hàm ý minh họa.

2018-09-06

Một số hành động khuyến cáo rút ra từ những phân tích trên cho việc thúc đẩy các truyền thống văn hóa tốt trong quản trị rừng:

  • Khuyến khích tinh thần tập thể, chia sẻ trách nhiệm trong cộng đồng.
  • Đề cao đạo đức xã hội cùng với việc tuân thủ pháp luật.
  • Khuyến khích thực hành các tín ngưỡng, bởi không có niềm tin thì không có văn hóa, mà không có văn hóa thì không có hành động đúng.
  • Tác động vào những người có uy tín trong cộng đồng, thay cho tác động vào các lãnh đạo hành chính của chính quyền.
  • Sử dụng các mô hình thực tế khi đào tạo và tạo điều kiện thử nghiệm cho người dân trong điều kiện của chính họ để đạt hiệu quả và tính bền vững của đào tạo.

BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, phiên bản thứ 10

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian. Cập nhật tháng 5/2018. Tổng số 480 trang.

Tôi kể chuyện xưa sử nước Nam
Thái Bình tuấn kiệt nổi Lưu Bang 
Quân Thần Lý Lữ chia thiên hạ 
Tây Thổ Triệu Trưng rủ áo vàng 
Bi tráng một thời kìa Tích Đặng 
Hùng anh sáu kỷ đó Hà Nam 
Cao Vương Tĩnh Hải lưu thành cổ 
Đại Việt rồng bay kết vẻ vang.

Giới thiệu và tóm tắt nội dung sách xem tại đây.

P1210324 (2)

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ĐỐI CHIẾU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ

ÔNG TRỜI BÀ TRỜI
—-Viêm Giao Bàn Cổ
—-Ngọc Hoàng thượng đế
—-Quốc mẫu Tây Thiên
—-Hành trình nữ thần Việt – Hoa – Chăm
—-Thần châu Xích huyện

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG
—-Mở sử Hoa Việt
—-Kinh Dương Vương
—-Đi cày Lịch Sơn
—-Lên núi xuống biển

TẢN VIÊN SƠN THÁNH
—-Gậy thần sách ước
—-Ngũ hành cung
—-Sơn Tinh – Thủy Tinh
—-Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT
—-Mẫu Thoải
—-Bát Hải Động Đình
—-Bạch Hạc Tam Giang
—-Hùng Hải trị nước
—-Phủ Ứng Thiên

NON SÔNG BÁCH VIỆT
—-Đầm Nhất Dạ
—-Giếng Việt
—-Mẹ Âu Cơ
—-Sinh Bách Việt
—-Thần Bổng
—-Chim bạch trĩ

THẦN MINH VĂN LANG
—-Linh Lang đại vương
—-Cao Lỗ tướng quân
—-Đồng Cổ sơn thần
—-Họ Chu Việt Nam
—-Thủy tổ họ Phan

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH
—-Mưa gió Đông Chu
—-Huyền Thiên Trấn Vũ
—-Thiên Tôn và Độc Cước

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT
—-Mỵ Châu – Trọng Thủy
—-Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
—-Tần An Dương Vương
—-Nước Tây Âu

THIÊN NAM ĐẾ THỦY
—-Người Tuấn kiệt
—-Nhâm Ngao
—-Thăng Long
—-Nam Việt Đế
—-Vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt

NAM QUỐC SƠN HÀ
—-Mũ đâu mâu
—-Thừa tướng Lữ Gia
—-Đỗ Động tướng quân
—-Bảy quận nước Nam
—-Chân Định linh thần

LỜI THỀ SÔNG HÁT
—-Tây Lý Vương
—-Mẫu vì Dương Vương
—-Ả Lã Nàng Đê
—-Nợ nước thù nhà
—-Tam Giang nhị thánh

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN
—-Tiền nhân họ Phùng
—-Nam Giao học tổ
—-Giao Châu Đặng cư sĩ
—-Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG
—-Tiếp Lạc khai Đinh
—-Đô Dương Mã bất tiến
—-Thì chi Đông Hán dám hung hăng
—-Khu Linh người nước Nam ta
—-Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP
—-Mạnh Hoạch
—-Nam Triệu
—-Đào liệt hầu
—-Bia cổ nói
—-Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
—-Tây Hưng đại vương
—-Khun Borom
—-Tộc người Thái
—-Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN
—-Bột Hải triều Nam
—-Dẹp Lâm Ấp
—-Gạch Giang Tây
—-Đằng Vương các tự

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG
—-Khúc tam vị chủ
—-Hạt Lý nảy năm cây
—-Thân thế Lý Công Uẩn
—-Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ
—-Mười hai sứ quân
—-Thủ lĩnh Đinh Bộ
—-Những bài sấm ký
—-Diễn Châu thái thú
—-Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ

PHỤ LỤC
—-Dịch tượng và ngôn ngữ
—-Thơ Sử thuyết họ Hùng
—-Chỉ dẫn di tích và địa danh
—-Tài liệu tham khảo

Những vị thần Lỗi Lạc: Thiên Y A Na, Cao Các, Man Nương, Bạch Mã

Trong tín ngưỡng dân gian ở khu vực miền Trung, như trong các miếu hội đồng hay trong văn sớ cúng thường nhắc tới một số tên các vị thần, không rõ lai lịch, nhưng lại được tôn thờ từ lâu. Như trong văn khế của thầy pháp đọc khi làm lễ tạ thổ ở Phú Yên có đoạn:
Cung thỉnh:
Cao Các thành hoàng đại vương chi thần thỉnh đáo lai lâm thỉnh đồng hiệp ta.
Thái giám Bạch Mã chi thần đồng lai hiệp tạ.
Thiên Y An Na Diễn Phi chúa ngọc hồng nương, phổ chi đức thượng đẳng thần đồng lai hiệp tạ.
Bổn thổ quản cai ngũ phương chủ Ngung Man nương phu thê nhị vị vãng thần…
Cao Các, Bạch Mã, Thiên Y An Na, Man Nương là ai? Đây là vị thần người Việt hay người Chăm? Tại sao những vị thần quen thuộc của người Việt là được thờ ở khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ?
Thực ra những vị thần được tôn thờ như vậy vốn đều là những con người thực sự có công, có ảnh hưởng lớn đến đời sống của khu vực Trung Bộ trong quá khứ xa xưa. Càng đi vào thời xa xưa lại càng thấy sự tương đồng giữ các nhân thần ở miền Trung với các vị thần của miền Bắc.
Vị thần thờ phổ biến nhất ở khu vực miền Trung là Thiên Y A Na thánh mẫu. Bá chúa Trầm đã được xác định là nhân vật Mai An Tiêm trong truyền thuyết Việt và cũng là hình ảnh chim Tinh Vệ lấp biển trong truyền thuyết Trung Hoa. Bà là người đã có công khai phá vùng đất ven biển miền Trung, quai đê lấp biển, phát triển nông nghiệp, hy sinh ngoài biển vì nhân dân. Do đó bà đã trở thành vị nữ thần tối cao trong tín ngưỡng ở miền Trung. Thiên Y A Na hoàn toàn không phải vị thần có nguồn gốc Ấn Độ và cũng không phải vị thần riêng của người Chăm, bởi ở cái thời khai thiên lập địa ấy người Chăm là một nhánh phương Nam trong cộng đồng người Việt của các vua Hùng.

IMG_5323Miếu thờ Thiên Y A Na ở Phú Lâm, Tuy Hòa, Phú Yên.

Vị thần khác cũng hay được nhắc đến trong sớ cúng và có nhiều miếu thờ, đình thờ thành hoàng ở miền Trung là Cao Các quảng độ đại vương. Cao Sơn Cao Các ở vùng Thanh Hóa Nghệ An đã từng được xác định chính là Tiết độ sứ Cao Biền dưới thời Đường. Do việc đánh dẹp Nam Chiếu, mà ngọn nguồn Nam Chiếu là khu vực miền Trung Việt, nên vị Cao Vương này được thờ suốt dải miền Trung, tới tận Phú Yên, Khánh Hòa như một người có công mở đất phương Nam. Cao Sơn Cao Các cũng là vị thần trấn Nam của kinh thành Thăng Long vì người đầu tiên xây thành Đại La chính là Cao Biền.
Một đoạn bản văn sớ ở Thừa Thiên Huế:
Thừa Thiên hiệu pháp, Khai hoàng Hậu thổ Nguyên quân, Thổ hoàng Địa kỳ Tử Anh phu nhân, Thái giám Bạch Mã tôn thần, Kim niên hành khiển đại vương, Thái tuế chí đức tôn thần, Đương cảnh thành hoàng đại vương, Bổn xứ thổ địa lý vực chánh thần, Khôn ly thổ hỏa nhị vị tiên nương, Ngũ hành liệt vị tiên nương, Lịch đợi tiên sư tôn thần, Đông trù tư mệnh táo quân, Ngũ phương thổ công tôn thần, Ngũ phương long thần thổ địa trú trạch thần quan, Ngọc tuyền kim tỉnh long vương, Tiên khai canh hậu khai khẩn chi thần, Thập bát long trạch liệt vị tướng quân, Thổ địa phước đức tài thần, Gia đường hương hỏa liệt vị oai linh, Ngũ phương chúa Ngung cổ tích chi thần, Môn thừa hộ úy cấm kỵ liệt vị đẳng thần, Phổ cập Man Nương thần nữ, Chúa Lỗi chúa Lạc châm chợ mọi rợ Man Di, Mê linh khô cốt phục thi cố khí, Thổ mộc tà tinh lỵ mị vong lương nội ngoại gia viên cư nhất thiết yếm trệ nam nữ vô tự âm linh u hồn liệt vị đồng lai hiến hưởng cộng bảo bình an…

So mien TrungVăn sớ này có nói đến tên: “Phổ cập Man Nương thần nữ, chúa Lỗi chúa Lạc”. Như trong văn khế ở Phú Yên còn gọi là “Chủ Ngung Man Nương”. Cái tên Man Nương thần nữ nhắc tới bà Man Nương trong sự tích Tứ pháp thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Đây là dẫn chứng cho thấy mối liên quan giữa sự tích Tứ pháp với khu vực miền Trung Lâm Ấp lúc này. Bà Man Nương trong truyện là hình ảnh đại diện cho khu vực miền Trung (Nam Man) khi đạo Bà Là Môn của Khâu Đà La truyền vào Giao Châu.
Chúa Lỗi chúa Lạc” là cụm từ khá hay. Lỗi  hay Lồi là từ thường dùng để chỉ người Chăm như thành Lồi ở Huế. Còn Lạc thì đã biết, chính là Lạc Việt, chỉ người Kinh. Cụm từ “lỗi lạc” nghĩa là chỉ người Chăm người Kinh hay Nam – Bắc. Tên hiệu trên nói rằng bà Man Nương là chúa (chủ) của cả người Chăm và người Kinh.

IMG_5262_1

Tháp Nhạn ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên.

Suốt dải miền Nam Trung Bộ từ Bình Trị Thiên tới Phú Yên Khánh Hòa có tục thờ thần Bạch Mã thái giám. Miếu, đình thờ vị này gặp ở nhiều nơi. Ngay như ở Hội An theo thống kê có đến 73% làng xã có thờ, có sắc phong cho thần Bạch Mã. Ở Phú Yên, đình Ngọc Lãng tại xã Bình Ngọc, TP Tuy Hòa và miếu Thái Giám dưới chân núi Ngọc (chân Tháp Nhạn) cùng nhiều nơi khác còn giữ tục thờ và các sắc phong cho thần Bạch Mã.
Vậy thần Bạch Mã là ai mà được tôn thờ đến vậy?
Tên thần “Bạch Mã” nhắc nhớ tới vị thần trấn Đông của kinh thành Thăng Long. Vị thần này có mỹ tự là “Long đỗ Quảng lợi Bạch mã đại vương”.  Còn thần Bạch Mã ở Hội An cũng thường có tên “Lợi vật Bạch Mã chi thần”.
Thần Bạch Mã ở miền Trung cũng là thần Bạch Mã của Thăng Long, điều này sẽ không khó hiểu nếu biết rằng thần Long Đỗ Bạch Mã của Thăng Long chính là Sĩ Nhiếp họ Phạm. Sĩ Nhiếp là vị vương đã cai quản toàn bộ khu vực Giao Châu 7 quận dưới thời Tam quốc. Miền Trung Việt lúc đó do con cháu của Sĩ Nhiếp họ Phạm quản lý (Phạm Hùng), sau này tách ra thành nước Lâm Ấp tồn tại gần 600 năm. Do đó người miền Trung lấy Sĩ Nhiếp – Bạch mã làm một vị thần tối cao là hoàn toàn hợp lý.
Sĩ Nhiếp cũng là vị Đô Hồ Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm ngày nay. Bản thân tên “Đô Hồ” của Phạm Tu cũng chỉ ra rằng ông là thủ lĩnh của người Hồ, tức là người Lâm Ấp lúc này (vùng nước Hồ Tôn thời Hùng Vương).
Chữ “thái giám” trong tên của thần Bạch Mã ở miền Trung không phải chỉ “hoạn quan” như nhầm tưởng. “Giám” là soi xét, coi sóc, như trong từ “giám đốc”. Thái giám phải hiểu là vị quan đứng đầu cai quản khu vực. Hiểu nôm na theo ngôn ngữ ngày nay là “Tổng giám đốc”. Chức danh này rất phù hợp với vị trí của Sĩ Nhiếp, là người cai quản toàn bộ phương Nam (Lâm Ấp) một cách độc lập tự trị trong thời loạn Tam quốc.
Dấu ấn của thời kỳ này trên khu vực miền Trung như vậy thể hiện qua hình tượng thần Bạch Mã cũng như Man Nương thần nữ. Vì Sĩ Nhiếp và Tứ pháp theo đạo Bà La Môn (Đế Thiên Đế Thích) nên khả năng hình ảnh Bạch Mã phải tìm trong đạo giáo này, chứ không phải trong đạo Phật.
Các vị thần được tôn thờ ở miền Trung, Nam Trung Bộ lại là những vị chủ quản của vùng miền Bắc (Cao Biền, Sĩ Nhiếp). Mối quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Việt đã có từ xa xưa, sâu sắc “như cành chung gốc lớn lên”, “như anh em của mẹ hiền” Việt Nam.

Nam Giao học tổ Đặng Sĩ

Xã Liên Bạt ở Ứng Hòa, Hà Nội là nơi có ngôi đình cổ Lương Xá mới bị hạ giải để thay bằng đình… bê tông. Lễ hội ở Liên Bạt là một lễ hội lớn nổi bật với tục rước kiệu giao quan giữa 3 thôn Bặt Trung, Bặt Ngõ và Bặt Chùa. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thức trong Hội làng Thăng Long – Hà Nội (tập 3) thì hội lễ làng Liên Bạt diễn ra vào mùa xuân ngày 15 tháng Ba hàng năm…
Thôn Bặt Trung rước long ngai bài vị Đức thánh đệ tam choàng áo màu vàng, tên gọi là Đặng Lang, cùng anh dạy dân chữ nghĩa, thủ tiết và hy sinh cùng ngày với anh ở bãi Cấm của làng, nay là lăng Thánh. Kiệu đốn theo sau thánh giá đặt sắc phong và hương nhang thờ thần, hai bên có hai pho tượng phỗng (kiểu tượng Chàm), mô phỏng tướng giặc bị quy phục…
Kiệu bát cống của thôn Bặt Chùa trên là long ngai bài vị Đức thánh đệ nhị, choàng áo màu tím, tức ông Đặng Xã, có công dạy dân Liên Bạt biết chữ nghĩa, xây dựng đồn binh chống lại giặc nhà Hán vào thời loạn Vương Mãng những năm đầu thế kỷ (8-23 sau Công nguyên). Ông giữ trọn khí tiết không chịu để thân mình rơi vào tay giặc và “hóa” ở bãi Cấm trên cánh đồng phía Đông Bắc cạnh làng. Đám rước của thôn Bặt Chùa có khác là thêm hai kiệu tư (bốn người). Mỗi người đặt một tượng tục gọi là thần đồng, cao 1,45m đi song song áp giá tả hữu kiệu bát cống rước thánh giá Đức thánh đệ nhị…
Đám rước Bặt Ngõ có kiệu bát cống trên uy nghi long ngai bài vị Đức thánh đệ nhất, tên là Đặng Sĩ, vị châu trưởng xứ Giao Châu hồi đầu Công nguyên có công mở trường dạy học giáo hóa dân làng Liên Bạt. Đức thánh đệ nhất choàng áo màu xanh…
Đám rước của ba thôn nhập làm một… Quả là “Tam quang hợp minh”…
Khi các vị thành hoàng đã yên vị, dân ba thôn lại mang kiệu tư, tổ chức đi rước văn. Đám rước vào nhà cụ Tú Mậu, cụ đồ nhiều chữ Hán nhất làng để rước bài văn tế do cụ đại diện người có học của làng soạn thảo, mang ra đình trình lễ thánh và để chủ tế lễ hội đồng.

1
Liên Bạt đình môn.

Câu đối ở cổng đền ba thôn Liên Bạt:
台岳拱朝鍾作三村文献地
春秋祈報造成壹境禮義風
Đài nhạc củng triều chung tác tam thôn văn hiến địa
Xuân thu ký báo tạo thành nhất cảnh lễ nghĩa phong.
Dịch:
Núi đài cúi chầu, ba thôn hun đúc nền văn hiến
Xuân thu tế đáp, một cõi tạo thành tục lễ nghi.
Khi xem xét sự tích ba vị thành hoàng này sẽ nhận thấy điều lạ, trái ngược với chính sử. Những hình ảnh Tam Thai, Ngũ Nhạc cũng như tục rước văn, rước thần đồng trong lễ hội Liên Bạt là dùng để ca ngợi công đức các vị họ Đặng trong giáo dục văn hóa, chữ nghĩa cho nhân dân trong vùng. Ba vị quan dưới thời Bắc thuộc sau Công nguyên ở nước ta mà lại có ân đức sâu dày với nhân dân Việt, dạy dân chữ nghĩa, tạo nên một miền đất Liên Bạt văn hiến còn lưu mãi tới ngày nay.
Lạ hơn nữa là vị châu trưởng Giao Châu là Đặng Sĩ cùng với hai người em đã chiến đấu chống “giặc Hán” đến hơi thở cuối cùng, bảo vệ đất nước, hy sinh ngay tại quê nhà. Vậy những vị quan cai trị Giao Châu này là ai? Thuộc về triều đại của người Việt hay thời ngoại xâm?
Ba anh em họ Đặng còn có công bình định phương Nam, đánh giặc Man, được thể hiện trong hình ảnh những tượng phỗng được rước cùng kiệu trong lễ hội.
Đối chiếu với sử sách hiện tại, người cai quan Giao Châu dưới thời nhà Tân của Vương Mãng là thứ sử Đặng Nhượng. Như thế rõ ràng vị Đức thánh đệ nhất ở Liên Bạt chính là Đặng Nhượng, người đã “tự cát cứ” Giao Châu vào thời Vương Mãng. Nhưng sử sách lại chép về sau Đặng Nhượng nghe lời tướng Hán là Sầm Bành, đầu hàng nhà Đông Hán và được phong tước hầu. Điều này trái ngược hẳn với sự tích ở Liên Bạt, khi mà cả 3 anh em họ Đặng đã kiên cường chống giặc Hán và 2 người em đã hy sinh tại bãi Cấm ở trong làng. Nơi đây nay còn quán Bặt Chùa cùng với khu rừng lăng thánh.

2
Khu lăng thánh và quán Bặt Chùa.

Người anh cả Đặng Sĩ (hay Đặng Nhượng) không hy sinh ở Liên Bạt nhưng ông cũng không hề theo giặc Hán nhận phong hầu. Thần tích ở đình Gia Lâm (Lệ Chi, Gia Lâm) đã cho biết vị Đặng cư sĩ đã từng đi học và làm quan ở Gia Lâm, và cũng hy sinh tại Gia Lâm. Cả 3 anh em họ Đặng đã bỏ mình vì nước, chứ không có chuyện hàng giặc như sử sách hiện đang chép.
Đặc biệt cái tên Đặng Sĩ và công nghiệp dạy chữ cho dân thời đầu Công nguyên của họ Đặng cho thấy Đặng Nhượng chính là “Nam Giao học tổ” Sĩ Nhiếp mà sử sách nói tới. Sử Việt thời kỳ đầu Công nguyên có tới 2 thời Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp thứ nhất là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang thời nhà Tân của Vương Mãng, là những người đã mở mang nền văn hiến ở Giao Châu và kiên cường chống giặc Hán xâm lược. Sĩ Nhiếp thứ hai ở vào cuối thời Đông Hán, nổi dậy cai quản Giao Châu 7 quận sau khởi nghĩa thắng lợi của Khu Liên.

3
Hoành phi tiền đình Ang Phao.

Dấu vết của Sĩ Nhiếp thứ nhất (Đặng Nhượng) còn thấy ở một số di tích khác như tại đình Áng Phao (Thanh Oai), nơi thờ một vị Cư sĩ chống lại ách đô hộ của Hán. Thực ra “cư sĩ” đọc thiết là “quý”, chỉ những người lãnh đạo, “quý tộc” lúc này. Từ này cũng tương đương với từ “cừ súy” (đọc thiết cũng là “quý”), trong chuyện Mã Viện đã bắt hàng trăm “cừ súy” Việt về phương Bắc. Cuộc tấn công của Mã Viện vào thời Đông Hán là tiến đánh các vị cư sĩ – cừ súy Việt hay Sĩ Nhiếp đang cai quản Giao Châu, chứ không phải đánh Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng họ Lã (Ả Lã Nàng Đê) diễn ra từ thời trước Công nguyên, chống chọi với Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức nhà Tây Hán.

4
Đình Bặt Ngõ.

Câu đối ở đình Bặt Ngõ ca ngợi công ơn của Đức thánh đệ nhất Đặng Sĩ – Nam Giao học tổ Sĩ Nhiếp:
教澤匡含開文峯五岳
神髙通鬱造秀氣三台
Giáo trạch khuông hàm khai văn phong ngũ nhạc
Thần cao thông uất tạo tú khí tam thai.
Dịch:
Giáo ơn thấm sâu, mở núi văn Ngũ nhạc
Thần thông cao vọi, tạo khí đẹp Tam thai.

Có một nền văn hóa Việt Nam (V)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

V

Trở lên chúng ta đã chứng minh rằng dân tộc Việt Nam vốn có một nền văn hóa và một nền văn hóa ấy rất có giá trị, chúng ta đã đánh liều nêu ra một vài tính chất căn bản của văn hóa Việt Nam từ trước đến nay. Sau cùng chúng ta đã xét lại vấn đề văn hóa Việt Nam sau này, và tuy đứng về một quan điểm riêng chúng ta cũng đi đến một kết luận như hai ông Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Hữu Đang trong quyển Một nền văn hóa mới.
Chúng ta đã nhìn về quá khứ và cũng đã nhìn tới tương lai. Nhìn về quá khứ, chúng ta đã nắm được một niềm tin chắc chắn. Nhìn tới tương lai, chúng ta đã thấy rõ đường đi. Vậy chúng ta có thể vững lòng đi tới. Một ngày mai xán lạn đương chờ đợi chúng ta./.

Có một nền văn hóa Việt Nam (IV)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

IV

Song như thế chưa đủ. Trong một bữa tiếp kiến các đại biểu văn hóa, Hồ Chủ Tịch đã thừa nhận văn hóa Việt Nam sau này cần phải có tính chất dân tộc nữa, và Chủ tịch có nói thêm rằng:
“Gốc của văn hóa mới, là dân tộc: nếu dân tộc hóa mà phát triển đến cực điểm thì tức là tới chỗ thế giới hóa đó; vì, lúc bấy giờ văn hóa thế giới sẽ phải chú ý đến văn hóa của mình, phải làm bạn với văn hóa của mình, và văn hóa của mình sẽ chiếm được một địa vị ngang với các nền văn hóa thế giới. Mình có thể bắt chước những cái hay của bất kỳ nước nào ở Âu Mỹ, nhưng điều cốt yếu là sáng tác. Mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả”.
Bằng vào những lời ấy, ta thấy rằng đối với Hồ Chủ tịch, tính chất dân tộc và tính chất quốc tế là một, vì cả hai đều do sáng tác mà ra, và Chủ tịch nhấn đi nhấn lại cào cái ý cần phải sáng tác, một hai khuyên ta phải sáng tác.
Như vậy rất đúng. Trong khi hoạt động về văn hóa ta không cần băn khoăn tự hỏi công trình văn hóa ta đương xây có tính chất dân tộc hay không,. Nếu công trình kia quả thực xuất từ tâm trí ta, nếu nó là một công trình sáng tác, tự nhiên nó sẽ mang tất cả bản sắc của giống nòi và của ta. Một bà mẹ có cần gì phải tâm tâm niệm niệm rằng sẽ đẻ một đứa con cho giống mình. Nếu đứa con ấy do chính bà sáng tác ra, không phải con xin hàng xóm, ắt không nhiều thì ít thế nào nó cũng giống cái cốt cách, cái tâm tính của bà. Và cho dầu ngày thường bà chỉ ăn bánh mì,, pho mát, đứa con bà vẫn thế.
Nói một cách khác, muốn dân tộc hóa nền văn hóa Việt Nam, tức là đặt ra vấn đề sáng tác. Trước là sáng tác những phương sách cấp thiết để giải quyết mọi vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong phạm vi đời sống Việt Nam. Nói sáng tác, chữ ấy hoặc có kẻ cho là lớn quá. Nhưng ít ra thì cũng phải cải tác. Bởi vì những điều kiện của đời sống Việt Nam, giống nòi, cảnh thổ, khí hậu, di sản tinh thần, chế độ kinh tế, tình hình chính trị v.v… đã là những điều kiện riêng thì những vấn đề Việt Nam cũng phải có những cách giải quyết riêng, không giống hẳn một phương sách nào đã được dùng trên thế giới.
Thứ nữa là sáng tác những công trình thuộc về tình cảm. Về phương diện này xưa nay, dân tộc ta vẫn nhiều khả năng. Một ngày kia thế giới hiểu ta hơn và ta cũng hiểu ta hơn, thì chắc chắn những công trình sáng tác của ta về phương diện này sẽ là một sự cống hiến rất quý vào kho tàng chung của nhân loại. Giờ đây súng đạn ta ít, tha hồ cho thiên hạ nói xấu ta, chính ta cũng nói xấu ta. Nhưng trong thế giới ngày mai, một khi súng đạn không còn là thước đo giá trị con người, sứ mệnh chúng ta sẽ vô cùng quan trọng. Chúng ta sẽ đưa đến, trong thế giới ngày mai, không phải một tôn giáo hay một triết lý mà dần hau đến đâu cũng chẳng mấy ai theo; chúng ta sẽ đưa đến, bàng bạc và linh động trong những nét, những lời, cả trong khí huyết nữa, một cách sống, một nhịp sống, hơn nữa, một đạo sống riêng để thay cho cái hỗn loạn, cái điên rồ vẫn ngự trị trong nền văn minh cũ đang phá sản. Đến lúc đó, người ta mới thấy dân tộc Việt Nam là cần cho nhân loại. Nó mà mất thì, sẽ tiêu diệt với nó một giá trị tinh thần vào bậc nhất. Tôi biết vô số người đương bảo tôn điên. Nhưng mặc. Về phương diện này không thể không tin ở sức sáng tạo lạ lùng của nòi giống.
Khó khăn hơn cả vẫn là sáng tác về học thuật tư tưởng. Ta phải thành thực nhận rằng xưa nay về học thuật tư tưởng ta rất kém. Nguyên do, như đã nói trên kia, là vì ta kém óc trừu tượng và khái quát. Không biết từ nay về sau ta có thể luyện thêm được cơ năng ấy không. Nhưng có một điều ta nghiệm thấy là ngôn ngữ phương Tây đều có tinh thần trừu tượng và khái quát đến một trình độ rất cao. Trừu tượng và khái quát có khi cơ hồ hóa ra quái dị. Người Pháp nói: “J’aime ce livre, j’aime vos paysants, j’aime ma patric, j’aime ma mère, j’aime mon chien. Bao nhiêu mối tình khác nhau, không nên lẫn lộn với nhau: yêu, thương, thích, mến, ưa mà cũng biểu diễn bằng một chữ! Thực nghèo nàn và khô khán quá lắm! Ai có ngờ chính chữ aimer mà cũng vô tình đến thế. Xét cho cùng chỉ vì trừu tượng và khái quát. Cái nguy của văn hóa phương Tây là ở đó; nhưng phương Tây mạnh cũng nhờ đó. Ta cần phải nắm cho được sức mạnh ấy. Cho nên, mặc dầu nước nhà độc lập, thanh niên trí thức Việt Nam vẫn cần phải biết cho đến nơi đến chốn một sinh ngữ phương Tây, không những để giao thiệp với người, để thâu thái kiến thức của người, mà còn để luyện thêm óc trừu tượng và khái quát cần cho mọi sự phát minh về khoa học, về triết học. Tôi không biết chắc ta sẽ thành công hay thất bại. Tôi lại nghĩ rằng thành công cũng có thể có một hai điều nguy hiểm về sau. Nhất là nếu vì lòng tự ái hẹp hòi, ta để cho những công trình sáng tác về tư tưởng ràng buộc ta, vương gót ta trên đường tiến hóa. Song những nhu yếu của thời đại, của dân tộc thôi thúc ta. Cả triều lưu của thế giới lôi cuốn ta. Dầu sao ta cũng phải cố gắng.

***

Vấn đề dân tộc hóa đặt ra vấn đề sáng tác. Mà một điều kiện cần để sáng tác là đại chúng. Cho nên văn hóa Việt Nam sau này phải được đại chúng hóa. Đại chúng hóa không những có lợi cho dân chúng mà lại có lợi cho văn hóa. Ai cũng phải nhận rằng sáng tác không phải sự nghiệp riêng của một người. Đó là sự nghiệp chung của đoàn thể ký thác vào một người, người ấy cố nhiên ohair mang trong mình tất cả tâm tình hoặc tất cả trí năng của đoàn thể. Một ít nhà học giả sống một cuộc sống lẻ loi không thể có sự nghiệp gì về văn hóa. Hãy xem trong lịch sử ta biết bao nhiêu thế hệ nhà nho kế tiếp nhau mài miệt trong sách vở của thánh hiền mà nào có sáng tác được gì đâu. Ấy chỉ vì họ thiếu sự nâng đỡ, sự thôi thúc của quảng đại quần chúng. Đến nỗi ngay chuyện văn chương là chuyện suốt đời của họ mà họ cũng chẳng lưu lại được gì đáng gọi là văn chương. Trong khi ấy, người bình dân Việt Nam, không học và cũng không dụng ý làm văn, đã sáng tạo nên những công trình văn chương bất hủ. Và các nhà nho như Đoàn Thị Điểm, như Nguyễn Du, như Nguyễn Công Trứ sở dĩ sự nghiệp còn lưu lại đến ngày nay là cũng bởi đã biết thoát ly ra khỏi sách vở để sống cuộc sống thực bên ngoài. Xem thế đủ rõ những khả năng dị thường của đại chúng về văn hóa. Hiện giờ hơn chín mười phần trăm người trong nước hoàn toàn sống trong u tối. Biết bao tài năng bị hy sinh một cách vô lý và tàn nhẫn. Ngày mai đây, nếu bấy nhiêu con người đều biết đọc, biết viết, đều có những kiến thức phổ thông tì cái quang cảnh cả một dân tộc cùng đứng dậy vươn mình lên ánh sáng chẳng những sẽ khiến ai nấy đều hởi lòng hởi dạ mà đồng thời sẽ thêm rất nhiều sinh khí cho văn hóa Việt Nam, sẽ phá tan cái không khí lạnh lùng giờ đây vẫn bao trùm cõi học.
Văn hóa phải khơi nguồn từ đại chúng: đó là một điều nhất định. Một khi văn hóa đi xa đại chúng ắt sẽ mất dần sức sáng tạo, sẽ khô héo dần đi. Văn hóa cũng như một cái cây, không thể sống lơ lửng giữa trời. Muốn cho nó đâm chồi nảy lộc, phải cho gốc rễ nó ăn sâu vào đất, nước. Các nhà nho ngày xưa đã không hiểu như thế, các nhà văn hóa sau này chớ rơi vào cái lầm của người trước. Nếu họ không phải từ trong đại chúng bước ra thì họ cũng phải đi sát với đại chúng, hơn nữa, phải đại chúng hóa mới hòng gây được sự nghiệp đáng ghi. Mà muốn đại chúng hóa trong tình thế bây giờ thì chỉ có một con đường: con đường cứu nước. Bởi vì giờ đây đại chúng đương lo giết giặc dựng nước để giành quyền sống. Muốn đại chúng hóa ắt phải lấy quyền sống của đại chúng làm quyền sống của mình, phải tranh đấu trong hàng ngũ đại chúng, phải hòa với đại chúng làm một. Cứu nước, đồng thời văn hóa sẽ cứu mình, vì sẽ được hưởng thụ mức sống mạnh mẽ và dồi dào của đại chúng.
Nói tóm lại văn hóa Việt Nam sau này cần phải khoa học hóa vì ta cần phải học những cái hay của người, nhưng chỉ học không, không đủ, còn phải dân tộc hóa nghĩa là phải sáng tác, mà một điều kiện thiết yếu để sáng tác là đại chúng hóa.