Nam minh, Tinh Vệ

Thiên Nam ngữ lục kể về việc kết hôn của Kinh Dương Vương:

Kinh Dương ngày ấy đi chơi
Thuyền trăng buồm gió tếch vời Nam minh.

Ở chốn Nam minh ấy Kinh Dương Vương gặp con gái Thần Long:

Nàng rằng: thiếp con Động Đình
Thần Long là hiệu, Nam minh là nhà.

Nam minh được chú dẫn là «bể rộng ở phía Nam».
Sách Trang Tử, Nam hoa kinh có câu «Bằng chi tỉ ư Nam minh đã, đoàn phù dạo nhi thường giả cửu vạn lý».
Dịch nghĩa: Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không.
Như vậy Nam minh chính là biển Nam. Trong lịch sử Hoa Việt thì rõ ràng đây là vùng biển Đông ngày nay. Theo Thiên Nam ngữ lục như trên thì Nam minh là nơi gặp gỡ của Kinh Dương Vương và con gái Thần Long Động Đình. Hay Động Đình chính là biển Đông, là biển chứ không phải hồ Vân Mộng ở Hồ Nam.
Thiên Nam ngữ lục tả cảnh con gái Thần Long khi xuất hiện ở Nam minh:

Nhơn nhơn có khí tự nhiên
Ngỡ nhìn Tinh vệ lại lên chơi bời.

Liên hệ với câu chuyện Tinh Vệ điền hải (Tinh Vệ lấp biển), có xuất xứ từ thiên Bắc Sơn Kinh thuộc sách Sơn Hải Kinh, là một bộ cổ tịch thời Tiên Tần của Trung Quốc :
«Núi Phát Cưu có nhiều cây dâu chá. Có loài chim đậu trên đó, trông như con quạ, đầu có hoa văn sặc sỡ, mỏ trắng, chân đỏ, tên là Tinh Vệ, tiếng kêu như gọi tên nó. Đó là người con gái trẻ của vua Viêm đế, tên là Nữ Oa. Nữ Oa đi chơi ở biển Đông, bị chết đuối không về được, hóa thành chim Tinh Vệ, thường ngậm gỗ đá ở núi Tây để lấp biển Đông».
Thần thoại Trung Hoa thời Viêm Đế mà lại có biển Đông thì Viêm Đế phải ở chỗ nào? Chắc chắn Viêm Đế không thể ở tận Hoàng Hà. Thậm chí Viêm Đế cũng không ở vùng sông Dương Tử, để có dòng «Thần Nông Bắc» là người Hoa, «Thần Nông Nam» là người Việt như ý kiến của một số nhà nghiên cứu. Viêm Đế Thần Nông ở ngay trên vùng «đất thiêng Khương Thủy chính tông», giáp với biển Đông, tức là vùng Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Đây đúng là đất gốc tổ của người Hoa Việt từ thời thần thoại.
Con của Kinh Dương Vương và Thần Long Động Đình là Lạc Long Quân, lấy nàng Âu Cơ sinh trăm trứng, nở trăm con trai:

Làm tổ Bách Việt từ đây
Đã gồm phúc thọ lại rày đa nam.

Cũng như các sách sử khác ở đây khẳng định Lạc Long Quân và Âu Cơ là quốc tổ của chung cộng đồng Bách Việt. Diễn giải cách khác thì dòng Lạc Việt là suối nguồn của cả Bách Việt.
Khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay, 50 người con theo cha xuống biển:

Cha con xuống ở thủy cung
Mở mang chế độ, quan phòng đông nam.

Câu này cho thấy Lạc Long Quân đã mở mang đất nước theo hướng Đông Nam, chính là vùng thủy cung Nam minh, quê mẫu Thần Long Động Đình. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, Lạc Long Quân đã mở nước theo vùng ven biển Đông lên phía Nam (phía Bắc ngày nay). Việc này trùng khớp với khu vực của văn hóa khảo cổ Hạ Long từ quanh vịnh Bắc Bộ sang Quảng Đông, Phúc Kiến, tới cả Philippin.
Còn 50 người con theo mẹ lên núi :

Mẹ đem lên ở Tản Viên
Sửa sang giếng mối, giữ gìn qui mô.

Sau đó con trai cả lên ngôi Hùng Vương ở Phong Châu:

Thốt sự Hùng Vương là anh
Thay cha lên trị cung xanh cửu trùng
Làm đô ở đất Phong Châu
Việt Trì thế khỏe muôn thu nước nhà.

Tản Viên – Phong Châu là vùng Tây thổ trong truyền thuyết Hùng Vương, hay là núi Tây trong chuyện Tinh vệ lấp biển ở trên. Việt Trì có thể không phải là Ao Việt như vẫn dịch, mà Trì có nghĩa là «thế khỏe muôn thu». Việt Trì là nước Việt vững bền.
Trang Tử, Nam Hoa kinh, Tiêu dao du:
Biển Bắc có con cá gọi là cá Côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim Bằng, lưng rộng khỏang biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển (Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Nam là Ao trời.”
Trang Tử sống vào thời Tiên Tần, lúc đó Trung Hoa theo chính sử còn chưa tiến xuống phương Nam. Vậy làm sao Trang Tử có thể biết có cõi biển Nam (Nam minh), lại còn có hình cái Ao (mô tả chính xác hình ảnh của biển Đông)?
Rất có thể Trang Tử người nước Tống, là vùng đất Quảng Đông bây giờ, phía Nam đất này giáp biển Đông. Vì vậy trong tác phẩm Nam hoa kinh ông thường dùng nhiều hình ảnh về biển Đông hoặc biển Nam Hải.

Bát Hải Động Đình

Trong tín ngưỡng Đạo giáo ở Việt Nam có một vị thần khá đặc biệt là vua cha Bát Hải Động Đình. Đền thờ vị thần này tới nay còn lưu lại ở nhiều nơi như đền Đồng Bằng ở Thái Bình:

Bát Hải Động Đình là vua cha của nhiều vị thần khác trong đạo giáo:
– Quan lớn đệ nhị thượng ngàn, là con thứ hai của vua cha Bát Hải Động Đình, cai quản miền núi.
– Đệ tam thoải phủ, là con thứ ba. Đây cũng là Mẫu Thoải, là thủy thần.
– Đệ ngũ Tuần tranh, con thứ năm, bị lưu đày và thờ ở đền Kỳ Cùng Lạng Sơn.
– Ông hoàng Mười ở Nghệ An.
Tất cả những vị thần Đạo giáo này đều là từ thời Hùng Vương. Như vậy thì Đạo giáo ở Việt Nam đã chẳng phái có từ lâu, trước khi bị 1000 năm Bắc thuộc hay sao?

Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là vùng biển chứ không phải hồ. Bát là 8, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Bát Hải tức là … biển Đông. Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là biển Đông của nước ta, chứ chẳng phải đầm Vân Mộng ở Hồ Nam bên Tàu.
Vua cha Bát Hải Động Đình như thế cũng chính là Thần Long Động Đình, người sinh ra con gái, cưới Kinh Dương Vương trong truyền thuyết. Nói cách khác đây là “ông ngoại” của Lạc Long Quân, hay là dòng máu “ngoại” của dân Bách Việt.

Có nơi còn gọi là Bạt Hải Long Vương, như ở đền thờ tại Tiên Lãng Hải Phòng. Bát hay Bạt chỉ là hai cách ghi âm khác nhau. Nhưng có lẽ bất ngờ hơn khi biết Bạt Hải chính là … Bột Hải trong cổ sử. Đền thờ Cao Lỗ, vị tướng của Thục An Dương Vương ở Nho Lâm Diễn Thọ (Nghệ An) ghi rõ họ Cao xuất xứ từ Bột Hải, với bức hoành phi “Bột Hải triều Nam” và nhiều câu đối trong đền như:
Vạn cổ anh linh nguyên Bột Hải
Ức niên miếu mạo đối Cao Sơn
Bột Hải triều Nam thì không thể còn có chỗ nào khác là biển Đông của nước ta.

Việc xác định Bột Hải là Bạt Hải – biển Đông – Động Đình cho thấy các đảo Bồng Lai, Doanh Châu trong Hoa sử nằm ở rìa Đông Bột Hải, tức là danh thắng Vịnh Hạ Long nước ta. Tần Thủy Hoàng phái Từ Phúc đi tìm chốn Bồng Lai cũng là đi ra biển Đông. Tất cả cho thấy… Hoa sử bắt đầu từ chính vùng ven biển Đông Việt Nam, đúng với truyền thuyết Việt Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình và Lạc Long quân dẫn 50 người con mở mang thủy phủ Nam minh về phía Đông Nam…

Văn nhân góp ý:
Trong tâm thức người Á đông RỒNG là 1 biểu tượng cực kỳ hùng vỹ , mỗi lần rồng hiện là rung chuyển trời đất , sóng gào gió thét …, hình tượng rồng không thể tách rời môi trường của Rồng là biển cả , trong tứ linh Long-Ly-Quy-Phụng thì Rồng trấn phương Đông …ghép 2 thông tin biển cả và phương đông ta được ‘biển đông’…thực vậy chỉ ‘biển Đông’ mới xứng đáng với tầm cỡ của Rồng – Long.
Long cung của Long vương không thể nào xây ở cái đầm nước ngọt nông tèn tẹt chỉ vài ba thước nước như ở đầm Vân mộng được vì vậy họ Thần Long Động đình của Long mẫu là tổ mẫu của người Việt không thể sống ở vùng Hồ nam Trung quốc ngày nay.
Thông tin về họ Thần long ở động đình hồ đã mặc nhiên khẳng định Động đình hồ không phải
là cái đầm nước ngọt mang tên Vân Mộng ở Hồ nam , chỉ có biển Đông mới xứng với họ Thần long do đó Động đình hồ … chốn cội nguồn của   người họ Hùng nay là người Việt chỉ có thể là miền đất nằm bên bờ Biển đông chứ không thể là bất kỳ nơi nào khác .

Thục An Dương Vương

Một đoạn trong Thiên Nam ngữ lục về “Thục Kỷ – An Dương Vương”:

Thủa ấy có An Dương Vương
Người quê Ba Thục ở đàng phương tây
Anh hùng trí lực ai tày
Mới sai trấn cõi giáp rày Văn Lang.
Dòm Hậu Hùng nghiệp trễ tràng
Lăm le ý sắm mở mang xa gần
Vân Nam bèn mới dấy quân
Của mượn tượng mã, lưới ngăn nhân tài.

 

Như vậy ở thế kỷ XVII người ta vẫn xác định An Dương Vương người nước Thục ở phương Tây, dấy binh đánh Hùng Vương từ Vân Nam. Thế mà chẳng hiểu sao thời nay các sử gia lại đoán già đoán non là nước Thục của An Dương Vương gốc ở Cao Bằng, cố tình lờ đi sự đồng nhất về văn hoá và khảo cổ của vùng Vân Nam, Quảng Tây với Bắc Việt (trống đồng) với thời Hùng Vương.

Còn có tư liệu cho rằng Thục Phán là người ở Ai Lao. Thực ra Ai Lao Di hay Di Lão là tên của tộc người sinh sống ở vùng Vân Nam Quí Châu. Thục Phán ở Ai Lao cũng đồng nghĩa với Thục Phán xuất phát từ vùng Vân Quí.

Thêm một chi tiết trong giải mã câu chuyện An Dương Vương trong Thiên Nam ngữ lục: Câu chuyện kết thúc với việc Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự tử và tương truyền ngọc trai biển (do Mỵ Châu hoá thành) rửa ở giếng này sẽ rất sáng. Trong TNNL về việc này có câu:

Vì chưng duyên cũ vợ chồng
Hiệu Tẩy Chu tỉnh ở trong Loa Thành.

Tẩy Chu tỉnh” chính là giếng ngọc (giếng rửa hạt châu).
Như vậy Mỵ Châu hoá thân thành hạt châu, và chữ Châu ở đây còn gọi là Chu như trong câu thơ trên. Điều này hoàn toàn phù hợp với giải thích Mỵ Châu là con gái vua Chu trong Sử thuyết họ Hùng.
Dùng nước giếng để rửa châu cũng ám chỉ chữ “Thuỷ” là nước trong Trọng Thuỷ. Nước giếng là hình tượng của Trọng Thuỷ, ngọc châu là Mỵ Châu. Thuỷ cũng là chỉ phương Bắc, như trong tên của Tần Thuỷ Hoàng.
Câu chuyện An Dương Vương đúng là đã gói một giai đoạn lịch sử rất dài của dân Hoa Việt, từ:
– Nhà Thương sang nhà Chu: An Dương Vương kế Hùng Vương. Rồi việc sứ giả Thanh Giang trao cho Thục Vương Qui Tàng Dịch (móng của Kinh Qui).
– Xây dựng nhà Chu: qua việc Cao Lỗ xây thành Cổ Loa.
– Nhà Chu sang nhà Tần: với chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thủy, hay giữa con gái vua Chu (vua Chủ Cổ Loa) và chàng rể phương Bắc.

Long Hưng

Đại Việt sử ký toàn thư chép về Tiền Lý Nam Đế:
Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình [phủ] Long Hưng“.

Theo thần phả Tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ truyền ở đền Giang Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội, bản chính do Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân (1572) thì “vua Lý tên Bí (còn gọi là Bôn), tên chữ là Cử Long Hưng. Bố ông tên Lý Toản, mẹ là Lê Thị Oánh…

Như vậy “Long Hưng” không chỉ là tên quê mà còn là tên gọi Lý Nam Đế. Long Hưng tương ứng với “Hưng vương” như trong câu đối trên đền thờ Lý Nam Đế:
Hưng Vương vĩ lược cao thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân.

“Hưng” hay “Hên, Hơn”, đọc trệch ra thành “Hớn, Hán”.

Đại Nam quốc sử diễn ca (thế kỷ XIX) về sự xuất hiện của Lý Nam Đế:
Cỏ cây chan chứa bụi trần
Thái Bình mới có Lý Phần Hưng Vương.
Và khi vua lên ngôi:
Vạn Xuân mới đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên
Lịch đồ vừa mới kỷ niên
Hưng Vương khí tượng cũng nên một đời.
Thậm chí trong tác phẩm không hề nói tới tên Lý Nam Đế mà chỉ gọi là Hưng Vương. Không thể phủ nhận được, Hưng Vương chính là tên gọi của Lý Nam Đế cho mãi tới gần đây vẫn được sử dụng.

Văn nhân góp ý
Tôi nghĩ cụm từ Cử long Hưng không phải là họ và tên.
Cử là ký âm sai chữ Cả nghĩa là to nhất đứng đầu, tương tự Long là Lang nghĩa là chúa. Cử long Hưng chính xác là Cả lang Hưng tiếng Việt nghĩa là vua hay chúa đầu tiên tên Hưng.

Câu đối về Phùng Hưng

Theo sách Thần tích Việt Nam của Lê Xuân Quang, ở đền thờ Bố cái đại vương có câu đối:
Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam bang.

Tạm dịch:
Rung động nhà Lý Đường, năm Thuận Đức lừng oai kinh giặc Bắc
Nối vận vua Mai Đế, phủ lỵ Phong thành vững nước Nam.

Câu đối này cho một số thông tin liên quan đến Phùng Hưng:
– “Vận thừa Mai Đế“: cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng là tiếp nối khởi nghĩa của Mai Thúc Loan.
– “Phong thành phủ lỵ“: kinh thành chính của Phùng Hưng là Phong thành. Như vậy có thể Phùng là đọc sai của Phong.
– “Thuận Đức“: ở đây chính là chỉ triều đại của Phùng Hưng, đã làm giặc phương Bắc khiếp sợ. Phùng Hưng có niên hiệu là Thuận Đức.

Câu đối đã cho thông tin khá chi tiết về triều đại của Phùng Hưng: niên hiệu là Thuận Đức, thủ đô là Phong thành, tên nước là Nam bang.

Văn nhân góp ý:
Bách Việt trùng cửu và các bạn thân ,
Rất có thể … Vua hay chúa của Nam bang gọi là Nam chúa, ký âm Hán tự trệch đi thành Nam chiếu… và Nam Chiếu trở thành quốc hiệu, nước Nam Chiếu nghĩa là nước của vua phương Nam.

Thủy tổ thần thoại

Câu mở đầu sử kỷ nước Nam trong TNNL:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời, dưới đất, giữa hòa dân gian.

Câu này thể hiện rõ quan niệm Tam tài: thiên, địa, nhân. Con người sinh ra cùng lúc và sánh ngang với trời đất.  Có thể so sánh với việc ông Bàn Cổ dùng rìu bổ vỡ hỗn mang, khai thiên lập địa.
Tiếp theo thời Thần Nông:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Trong Hoa sử Hữu Hùng là nước của Hoàng Đế Hiên Viên, thủy tổ của người Hoa. Một lần nữa Thiên Nam ngữ lục khẳng định thông tin trong Đại Việt sử ký: «Thủa Hoàng Đế mở muôn nước», công nhận Hoàng Đế là thủy tổ của mình, của họ Hữu Hùng.
Dị bản chép:

Đất thiêng Khương Thủy chính tông
Cháu con nối dõi tổ tông thủ thành.

Khương Thủy đây có thể là sông Mễ Cương (Mê Kông). Họ Khương còn được nhắc đến trong tên bà Vụ Tiên:

Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.

Khi Kinh Dương vương lên ngôi ở phương Nam, nhân dân đến phục tùng:

Bao nhiêu rợ mọi gái trai
Làm hang đệm tổ cửa ngoài nẻo trong

Gần xa mến đức dái uy
Thói «hữu sào» ấy bỏ đi chẳng nhìn.

Ở đây lại nhắc đến Hữu Sào, cũng là một nhân vật của Hoa sử. Khi đọc sử Việt, dù là chính sử hay ngoại kỷ, ta đều thấy người Việt đều nhận những nhân vật thần thoại Bàn Cổ, Hoàng Đế, Hữu Sào là tổ tiên của mình. Trong khi theo Hoa sử đó là tổ tiên người Hoa Hạ. Người Việt nhầm lẫn, chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu chăng? Hay là người Hoa chính là người Việt?

Văn nhân góp ý:
Xin nhấn mạnh Viêm đế –Thần nông là nhân vật thần thoại tổ 3 đời của đế Minh không phải là Viêm đế anh em cùng cha khác mẹ với Hoàng đế.
Hoàng đế và Viêm đế cùng là con của Hùng quốc quân Thiếu Điển (có sách chép là Thiếu Khúc) là những nhân vật thời sơ sử Trung Hoa.
Khương thủy có tên Việt thời cận đại là Khung giang, các từ Khương – Cương – Khung – Khang theo Dịch học đều có nghĩa là hướng tây – phía tây.
Khương thủy hay Khung giang có cùng 1 nghĩa, chỉ con sông nằm ở phía tây đất Trung tâm (Giao chỉ?) ngày nay thường gọi là Mê kông hay Cửu long.

Điều rất quan trọng là Thiên nam ngữ lục xác định họ Thần nông sau đổi là họ Hữu Hùng vì vậy người Việt mới có 18 đời vua Hùng. Hùng vương quốc tổ thì mọi người Việt mặc nhiên công nhận nhưng thông tin Hoàng đế là vua Hữu Hùng quốc thì … chẳng ai để ý đến … trái khoáy hơn nữa đại đa số coi đó là ông vua tổ của người Tàu???

Khảo cổ thời Nam Việt và nguồn gốc Việt của các triều đại Trung Hoa

Bài này trình bày một số suy nghĩ khi đọc các tư liệu do Dr. Nguyễn Việt, một chuyên gia khảo cổ hàng đầu về thời sơ sử Việt Nam, cung cấp trên trang: http://www.drnguyenviet.com/

Trong bài Thạp đồng Đông Sơn của huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà:
“Chiếc thạp tôi muốn nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đạy nắp đồng. Chính giữa thân thạp là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng Châu…
Giá trị nhất của chiếc thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần sát gờ miệng… Tôi đã từng công bố và dịch những dòng chữ này, tuy nhiên chữ thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng thạp có thể đọc là „Long Xoang“.

龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升
…rất có thể đây là một biến âm của chữ Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi lập nước Nam Việt.

… có dòng chữ :“Danh Viết Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng để gọi chiếc thạp.
… Chủ nhân chiếc thạp BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“(第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52. Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội.
… Theo bà Phạm Lan Hương, chiếc thạp được bà sưu tầm có nguồn gốc Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá hiện mới có một chiếc thạp cùng cỡ và cũng có hoa văn thuyền người phát hiện được ở Xuân Lập… Khu vực phát hiện những chiếc thạp lớn có trang trí đẹp cùng thời hai chiếc thạp kể trên là vùng trung lưu Hồng Hà, từ Việt Trì đến Lào Cai (Vạn Thắng, Đào Thịnh, Hợp Minh, Lào Cai).”
Theo tư liệu trên có thể nhận định một số vấn đề:
– Văn hóa Nam Việt mang đậm nét văn hóa… Việt Nam (Đông Sơn). Từ ngữ cũng dùng phát âm địa phương.
– Hai chữ đầu chỉ địa điểm trên thạp (Long Xoang – Long Xuyên hay Long Khoang) nhiều khả năng không phải là tên huyện mà là tên quận. Một huyện lệnh thì quá nhỏ để có tiềm năng đúc riêng những đồ đồng cho mình.
– Địa danh này theo vị trí tìm thấy thạp (Thanh Hóa) và những thạp đồng khác cùng kiểu phải nằm ở Giao Chỉ, chứ không phải Nam Hải.
Nếu vậy thì chiếc thạp này có thể là một bằng chứng cho thấy Giao Chỉ là Long Xuyên thời Tần. Long Xuyên tương ứng với Tam Xuyên, tên quận mà Tần Thủy Hoàng đã gọi vùng đất của nhà Đông Chu khi thống nhất lục quốc.
Sử Tàu những đoạn liên quan đến Việt Nam có khá nhiều “huyện lệnh” rất khó hiểu. Triệu Đà là huyện lệnh mà lập quốc, xưng đế ngang với nhà Hán. Khu Liên, con công tào ở huyện Tượng Lâm, khởi nghĩa mà thành vương quốc
Lâm Ấp – Chiêm Thành. Đây là sự gán ghép vô lý những địa danh lớn (cấp quận) thành huyện nhỏ để vùi dập sự thật lịch sử.

Trong bài Triệu Đà:
“…Bản thân ông lấy vợ người Việt, đền thờ một trong số phu nhân người Việt của ông hiện ở Đồng (Đường) Xâm (Kiến Xương, Thái Bình)… Những nghiên cứu về đồ tuỳ táng chôn trong các khu mộ táng Nam Việt cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng ưu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như mộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt đều chôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hoá Đông Sơn, như trống đồng, thạp đồng, rìu chiến và nỏ…”
Không chỉ văn hóa mà phân tích di truyền cho thấy rõ rằng nước Nam Việt là nước của người Việt 100%.

Trong bài Âu Lạc và Giao Chỉ – một số vấn đề ngữ âm học lịch sử:
Khi kiểm định kỹ lại Sử Ký của Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ đã từng có (tước Hầu của vùng đất Giao ) chức Giao hầu do Lữ Sản em trai của Lữ Hậu đảm trách. Lữ Sản sau này được Lữ Hậu phong làm Lữ vương (tước Vương của vùng đất Lữ – nơi phát tích của tổ tiên Lữ Hậu). Trước khi chết, Lữ Hậu chia quân đội nhà Hán làm hai khối lớn, chính Lữ Sản được kiêm quản quân phương Nam. Điều này khiến ta có thể phỏng đoán đất Giao mà Lữ sản từng được phong hầu ở phương Nam, gắn với Giao Chỉ, Giao Châu chăng?
Thật kỳ lạ khi được biết em của Lữ Hậu là Giao Hầu và làm vương phương Nam, cũng là nơi phát tích của Lữ Hậu. Như vậy Lữ Hậu là người Giao Chỉ, và tất nhiên Lưu Bang lấy vợ từ thủa hàn vi cũng là người Giao Chỉ nốt.
Lạ hơn nữa Giao Chỉ dưới thời Lữ Hậu như sử chép là đất của Triệu Đà. Hoặc chí ít thì Triệu Đà cũng lập nước Nam Việt ngay sau khi Lữ Hậu mất. Như vậy Triệu Đà phải có liên hệ trực tiếp với Lữ Sản, là Giao hầu của phương Nam khi đó. Việc trong triều Nam Việt có thừa tướng là Lữ Gia cũng cho thấy vai trò của họ Lữ đối với nhà Triệu.
Lữ Gia thì được biết rõ là người Việt, chống Lộ Bác Đức trên đất Việt và có nhiều đền thờ ở đây. Tất cả khẳng định Giao Chỉ chính là nơi phát tích họ Lữ của Lữ Hậu và nhà Tây Hán.

Trong bài Hội nghị quốc tế về Văn hóa Hán và vấn đề thời thuộc Hán ở Việt Nam:
Hội nghị có ba báo cáo … văn hóa Hán ở Lĩnh Nam chỉ là những ảnh hưởng thượng tầng đan xen với văn hóa Yue (Việt) truyền thống và tạo ra một bản sắc địa phương riêng tác động trở lại văn hóa Trung Nguyên. Chính vì vậy, kết thúc vương triều Hán ở cuối thế kỷ 2 là sự trở lại của hai nhà nước phương nam vốn có nguồn gốc phi Hoa Hạ (Ngô và Thục) trong số ba nước tranh dành bá chủ thiên hạ. Nghiên cứu AND xương người chết chôn trong các hầm mộ thời Hán ở Lĩnh Nam do nhóm các nhà khoa học Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) tiến hành cho thấy chủ nhân mộ đa phần là người Yue (Việt)”.
Như vậy chính các học giả trung quốc cũng xác định nhà Ngô và Thục thời Tam quốc là hai nhà nước của người Việt.

Thật cám ơn các nhà khảo cổ đã có những dẫn liệu xác đáng cho thấy từ Triệu Đà, Lữ Hậu đến Tôn Quyền, Lưu Bị đều là người Việt tộc. Vấn đề còn lại là lịch sử thực sự của những triều đại này là thế nào? Đã là người Việt thì sử của những triều đại này cũng phải là sử Việt, chứ không phải sử Hán.

Ngũ Lĩnh sơn

Vùng đất đầu tiên của nước Nam trong Thiên Nam ngữ lục như sau:

Cõi xa ngoài Ngũ Lĩnh Sơn
Hiệu Xích Quỷ quốc, tuyệt ngàn Bắc Sơn.

Dị bản chép:

Cõi xa chốn Ngũ Lĩnh Sơn
Nỗi ngoài Nam Hải, tuyệt ngàn Bắc phương.

Những câu này làm người ta hiểu vùng đất đầu tiên của người Việt ở tận núi Ngũ Lĩnh ở Hồ Nam Trung Quốc, phía Bắc. Nhưng những tên Xích Quỷ quốc và Nam Hải cho thấy không hẳn như vậy vì vùng Hồ Nam làm gì có Nam Hải và tên nước ở phương xích đạo như vậy.

Khi xem tiếp xuống phần Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương và được Đế Minh phong làm vua Nam quốc thì vị trí của Ngũ Lĩnh Sơn càng phải xem xét lại:

Đế Minh bèn lập Đế Nghi
Làm vua Bắc quốc thay vì Thần Nông
Lộc Tục phong làm ngôi công
Mở mang quê ngoại, giữ dòng phiên bang
Hiệu xưng là Kinh Dương Vương
Đất vuông nghìn dặm, nước càng lâu xa
Mặc làm thiên tử vệ nghi
Lễ chầu thượng quốc, phẩm y chư hầu
Cõi bờ nam bắc phân nhau
Tây đông chí tự Ải Lào, Hải thanh
Nam thời suốt đến Chiêm Thành
Bắc qua Quế Lĩnh, chân thành Bắc Man
Kinh Dương đến Ngũ Lĩnh Sơn
Xưa lên ngôi báu, được yên lòng người.

Như vậy vùng Ngũ Lĩnh Sơn này nằm ở trong phạm vi lãnh thổ nước Nam của Kinh Dương Vương và ở phía Nam chứ không phải Bắc. Đặc biệt vị trí lãnh thổ nước Nam này được xác định:
– Phía Tây là Ải Lào. Thường ta hiểu Ai Lao là Lào ngày nay. Nay có thể thấy Ai tức là Ải, hay vùng đất. Ai Lao Di còn là tộc người ở Vân Nam, hay là đất Ba Thục trong ĐVSK. Ải Lào là vùng đất phía Tây của nước ta từ Vân Nam, Tây Bắc Việt và đất Lào giáp Thanh Nghệ ngày nay.
– Phía Đông là Hải Thanh. Rõ ràng Hải Thanh là biển Đông. Thanh là màu của phương Đông.
– Phía Nam đến Chiêm Thành, tương ứng với nước Hồ Tôn trong Đại Việt sử ký.
– Phía Bắc tới Quế Lĩnh, chắc là Quế Lâm, ở bắc Quảng Tây, giáp Quí Châu.
Thông tin về cương vực quốc gia này một lần nữa khẳng định những gì ghi trong Đại Việt sử ký cho nước Văn Lang: «đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình, nam giáp Hồ Tôn». Tuy nước Văn Lang như vậy có phần rộng hơn về phía Bắc.

Có thể thấy Ngũ Lĩnh Sơn của Kinh Dương Vương như vậy không phải là ở Hồ Nam mà chính là phần đất trung tâm của người Việt ở Bắc Việt, Quảng Tây. «Ngàn Bắc Sơn» hay «ngàn Bắc phương» của nước Xích Quỷ thực ra là ở phương Nam, chính là đất Nam Giao xưa. Tức là phương Nam Bắc có thể đã bị hoán chuyển, mới làm thông tin địa lý lịch sử trở nên lẫn lộn như vậy.

Hậu Nghệ

Thần thoại Trung Hoa về Hậu Nghệ:
Sau khi bắn mặt trời, mặt đất trở nên tối tăm, các loài ác thú, quỉ dữ được dịp xuất hiện, hại người. Vua Nghiêu sai Hậu Nghệ đi diệt trừ các quái thú như Khiết Du ở Nhược Thủy, Tạc Xỉ ở đầm Trù Hoa, Cửu Anh ở sông Hung Thủy, Đại Phong ở Thạch Khâu, Tu Xà hay Ba Xà ở hồ Động Đình. Tu Xà là một con mãng xà khổng lồ, gây ra sóng to, làm lật thuyền của người dân đánh cá, rồi ăn thịt những người đắm thuyền.
Hậu Nghệ cưỡi chiếc thuyền nhỏ đi trên mặt hồ Động Đình tìm con Ba Xà… Cuối cùng chàng chém nó thành mấy khúc…, xương nó chất thành núi Ba Khâu ở Hồ Nam…

Trong câu chuyện trên ta thấy:
– Hồ Động Đình (đầm Vân Mộng) ở tận Hồ Nam. Vậy làm sao thời Đế Nghiêu lại có thể đi đến được (từ Hoàng Hà vượt cả Trường Giang?)? Rõ ràng thời Nghiêu dân Hoa Hạ không hề ở vùng Hoàng Hà.
– Truyện Hậu Nghệ giết Ba Xà vô cùng giống chuyện Lạc Long Quân đánh Ngư tinh của Việt Nam. Lạc Long Quân theo sử Việt cũng là người Động Đình Hồ.
– Sau khi cơn hồng thủy chấm dứt vào thời Đại Vũ là thời kỳ khí hậu khô hơn, nước biển rút, mở ra những vùng đất mới và tất nhiên là những loài chim, thú, cá lớn được dịp phát triển mạnh. Người Hoa Hạ khi tiến ra khai phá những vùng đất mới này đã phải đấu tranh với những loài thú ở đây. Đó là ý nghĩa lịch sử của truyền thuyết Hậu Nghệ đánh yêu quái sau khi bắn mặt trời hay Lạc Long Quân đánh Mộc Tinh, Hồ Tinh, Ngư Tinh.
– Tên của con mãng xà là một chỉ dẫn về… vị trí của hồ Động Đình. Tu là Từ, dịch nghĩa của từ Thương, là tính chất của phương Đông trong Dịch lý. Ba là… tiếng Việt 100%, nghĩa là số 3, con số trấn phương Đông của Dịch Lý. Như vậy Tu Xà hay Ba Xà là con mãng xà ở… biển Đông.

Truyền thuyết Hoa còn có chuyện khi Đế Thuấn đi tuần, chết ở Thương Ngô, hai bà phi gieo mình xuống sông Tương chết theo. Linh hồn họ rong chơi ở vực sâu hồ Động Đình… Tất cả các địa danh Thương Ngô, sông Tương và hồ Động Đình đều cho thấy quê hương của người Hoa Hạ không hề ở Hoàng Hà.

Hồ Động Đình không phải chỉ có trong truyền thuyết Việt mà cả truyền thuyết Hoa. Việc gán hồ Động Đình vào đầm Vân Mộng cũng không thể giải thích nổi tại sao người Hoa Hạ ở Hoàng Hà lại có truyền thuyết với địa danh ở Hồ Nam. Chỉ có thể giải thích Hoa Hạ chính là người Việt xuất phát từ khu vực quanh Bắc Việt ngày nay.

Đất nước tôi

Tôi viết bài thơ đất nước tôi
Gian nan từ thủa mới ra đời
Ngọn gió Động Đình ru ta lớn
Trăng chiếu sông Đường nước đầy vơi.

Trăm trứng mẹ sinh dòng Bách Việt
Diệt quái cha rồng mở biển khơi
Lang Thang dân tiến chinh phương Bắc
Văn minh Âu Lạc mãi rạng ngời.

Trông vời con nước nước sông Đà
Hình bóng Tản Viên thấp thoáng xa
Hồng thủy cơn xưa còn chưa dứt
Mà nay lại nổi sóng yên ba.

Vó ngựa giặc thù xéo giang sơn
Cưỡi voi ra trận ắp căm hờn
Một trận quyết vì non cùng nước
Xả thân vương nữ mấy ai hơn.

Văn hiến là đâu? Sử là đâu?
Trắng đen sao đánh lẫn đổi mầu?
Ngoảnh mặt phương Nam nhìn quê mẹ
Đau thương hồn Việt đã bao lâu?

Bước lên Nghĩa Lĩnh chốn cửu trùng
Linh anh tiên tổ các vua Hùng
Cho con cho cháu tâm trí sáng
Tìm lại cha ông giống Lạc Hồng.