Ngọc Hoàng thượng đế

Người Việt cứ có chuyện gì là lại kêu “Trời”. Nhưng ông Trời là ai? Tại sao người Việt lại tin vào ông Trời đến vậy?
Trong Đạo Giáo Trung Hoa ông Trời là Ngọc Hoàng thượng đế, người cai quản Thiên đình. Trong Đạo Mẫu Tứ phủ ở Việt Nam vua cha của Thiên phủ cũng là Ngọc Hoàng thượng đế. Các sử gia với cái nhìn thiên kiến về tính xác thực của các thông tin trong tín ngưỡng và tôn giáo đều không muốn tìm xem Ngọc Hoàng thượng đế là nhân vật lịch sử nào.

Thực ra Ngọc Hoàng thượng đế là Hoàng Đế, người được coi là ông tổ của Hoa sử. Gọi là “Ngọc” vì đây đang là còn thời kỳ đồ đá. Gọi là “Hoàng” vì là màu của trung tâm trong Ngũ hành, tương ứng với vua. Ngọc Hoàng nghĩa là vị vua của thời tiền sử.

Ngay Đại Việt sử ký toàn thư cũng coi Hoàng Đế là vị vua đầu tiên của nước ta. Câu mở đầu của chính sử Đại Việt ghi rõ: “Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt…”.

Hoàng Đế của Trung Hoa lại là ông Trời của người Việt. Ở nước ta tới giờ vẫn còn những nơi riêng thờ Ngọc Hoàng như đền Đậu An ở làng An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Theo thần tích còn lưu giữ trong đền, vào năm “Thiên Định nhị niên” có Thiên tiên, Địa tiên mở cổng trời xuống hướng dẫn nhân dân khai phá vùng sình lầy, dạy cách săn bắn, hái lượm và trồng lúa nước. Ngoài ra còn có Ngũ lão tiên ông huy động dân làng khai hoang, diệt trừ thú dữ và dựng Thụy Ứng quán thờ trời để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu…

Đền Đậu An nằm trên mảnh đất hình đầu rồng, xung quanh có hồ nước trong xanh bao bọc. Do đó câu đối ở đền chép:
Thiên Định kỷ nguyên, Thụy Ứng Ngọc Hoàng lai giáng hạ
Địa linh thiên cổ, điện đài thượng đế ngự long đầu.

Dịch:
Thiên Định năm xưa, Thụy Ứng Ngọc Hoàng xuống hạ thế
Đất thiêng nghìn tuổi, điện đài thượng đế ngự đầu rồng.

Thap

Tháp đất nung và điện thờ Ngọc Hoàng ở đền Đậu An, Hưng Yên

Ngọc Hoàng thượng đế ở đền Đậu An còn có cả niên hiệu “Thiên Định” như một triều đại thật sự. Theo thông tin ở đây thì ngôi đền này đã được dựng từ năm 226 trước Công nguyên. Rõ ràng tục thờ Ngọc Hoàng là tín ngưỡng bản địa của người Việt bởi vì lúc đó nước ta còn chưa chịu ảnh hưởng của phương Bắc. Theo chính sử thì mãi tới năm 218 TCN thì nhà Tần lần đầu mới đánh chiếm Bách Việt. Trước đó Văn Lang, Âu Lạc là những quốc gia hoàn toàn độc lập, không liên quan gì tới phương Bắc.

Hoàng Đế trong Hoa sử có tên là Hiên Viên, là vua nước Hữu Hùng. Còn Thiên Nam ngữ lục thì chép:
Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Họ Thần Nông được thay bằng họ Hữu Hùng. Đối chiếu hai dòng sử thì thấy rõ vua Hữu Hùng là Đế Minh trong truyền thuyết họ Hồng Bàng vì sử Việt bắt đầu chính bằng “Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông…”.

Huyền sử Trung Hoa cho biết sau trận đánh quyết liệt giữa Hiên Viên với Xuy Vưu ở Trác Lộc thì tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghênh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế.

Hoàng Đế được tôn là Minh chủ hay Minh Đế, tức là Đế Minh của truyền thuyết Việt. Minh nghĩa là sáng, là tỏ, tương ứng với chữ Hiển trong Hán văn. Chính vì vậy Hoàng Đế – Đế Minh được gọi là Hiển Vương, tam sao thất bản chép thành Hiên Viên.

Hoàng Đế là ông tổ của dân tộc Hoa Việt, là vị vua Hùng chính thức đầu tiên của nước họ Hùng (Hữu Hùng). Tên Hùng Hiển Vương trong Ngọc phả Hùng Vương được chép là của Lạc Long Quân. Đây là sự lẫn lộn thường thấy giữa 2 vị quốc tổ họ Hùng này khi chép theo 2 dòng sử Hoa và Việt.

Câu đối ở đền Hùng – Phú Thọ:
Thiên thư định phận chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Dịch:
Sách trời định chốn chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt duy có tổ
Núi tỏa linh thiêng cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Ngọc Hoàng – Đế Minh đã dựng Minh Đô tại nơi ba con sông Đà, Lô, Thao hội tụ ở Phong Châu – Phú Thọ, bắt đầu thời đại có quốc gia, có vua của người họ Hùng, của cộng đồng người Bách Việt. Là quốc tổ khai sinh họ Hùng nên Đế Minh mãi được tôn là ông Trời trong tâm thức của người Việt cũng như người Hoa.

Quốc Mẫu Tây Thiên

Tục thờ Tây Thiên Quốc mẫu rất phổ biến ở vùng núi Tam Đảo. Riêng tỉnh Vĩnh Phúc có tới trên 50 nơi khác nhau thờ Mẫu Tây Thiên. Sự tích vị Quốc mẫu này tóm tắt như sau:
Thời Hùng Vương ở đạo Sơn Tây, Đoan Hùng phủ, Tam Dương Động, Đông Lộ trang có gia đình sinh một người con gái đặt tên là Lăng Thị Tiêu. Lớn lên trở thành một cô gái xinh đẹp, giỏi giang hiền thục. Đời Hùng Vương thứ bảy là Lang Liêu lên nối ngôi. Có lần vua Hùng Chiêu Vương (Lang Liêu) đi cầu tiên phật ở núi Tam Đảo đã gặp người con gái này và đưa về triều làm Chính phi. Nàng đã hết lòng yêu quý Hùng Chiêu Vương và đem tài năng của mình ra thi thố, giúp chồng trị quốc.
Khi nước Văn Lang bị giặc nhà Thục đe dọa, đem quân vây hãm kinh thành. Lăng Thị Tiêu đã chiêu mộ binh sĩ kéo về Phong Châu đánh tan quân địch, giải cứu triều đình. Khi nàng mất, được các triều vua phong là Tây Thiên quốc mẫu.

Mối tình giữa Lang Liêu và vị nữ thần núi Tam Đảo đã được lưu truyền như một huyền thoại đẹp thời Hùng Vương.
Hiện tại ở vùng Tam Đảo còn có cả một hệ thống các điện thờ liên quan tới Quốc Mẫu Tây Thiên. Nơi Mẫu sinh và Mẫu hóa nằm ở xã Đại Đình. Ở Đại Đình còn có Đền Thỏng là Hữu thần cung của Mẫu. Gần đó là xã Tam Quan nơi có Tả thần cung và Trung thần cung ở thôn Quan Ngoại. Qua Tam quan thì đến Đại đình … Hệ thống địa danh chỉ “cổ tích” rất rõ.

Den Thong
Đền Thỏng ở di tích Tây Thiên

Câu đối ở đền Thỏng:
Thạch lộ phó Tây Thiên, linh địa tồn danh tiên giáng
Cao sơn đăng Phù Nghị, cổ đài ký lập mẫu nghi.

Dịch:
Đường đá tới Tây Thiên, đất thiêng còn danh tiên hạ thế
Núi cao lên Phù Nghị, đài xưa ghi lập mẫu oai nghiêm.

Chỗ khó giải thích của truyền thuyết Tây Thiên Quốc Mẫu là Mẫu Lăng Thị Tiêu đã giúp vua Hùng đánh Thục. Thông thường, đây phải là vào đời vua Hùng cuối cùng (thứ 18) thì mới có giặc Thục (Thục Phán). Nhưng trong truyền thuyết ở Tam Đảo thì Lăng Thị Tiêu lại lấy Lang Liêu là đời vua Hùng thứ bảy. Vậy giặc Thục đây là Thục nào?
Để nhận diện đúng chuyện Tây Thiên Quốc Mẫu cần so sánh với các truyền thuyết khác trong tín ngưỡng dân gian, trong thần thoại và huyền sử Trung Hoa.
So sánh với hệ thống Tứ phủ thì thấy Tây Thiên quốc mẫu chính là Mẫu cửu trùng hay Mẫu thượng thiên, thần chủ của Thiên phủ. Cửu là số 9, chỉ hướng Tây nên Mẫu cửu trùng tương đương với Mẫu Tây thiên.
Tư liệu của GS Ngô Đức Thịnh cũng cho biết Mẫu Tây Thiên khi giáng đồng thường với tư cách của Mẫu đệ nhất thượng thiên. Mẫu thượng thiên là Mẫu cửu trùng chứ không phải Mẫu Liễu Hạnh. Các cung thờ ở Tây Thiên đều đặt Mẫu Tây Thiên ở vị trí cao nhất trong điện (vị trí của Mẫu thượng thiên), hai bên là Mẫu Thoải và Mẫu Thượng ngàn. Vậy là đã rõ nguồn gốc của Mẫu thượng thiên, chính là vị nữ thần núi Tam Đảo (Tam Đảo sơn trụ quốc mẫu).
So sánh với huyền sử Việt thì nàng Lăng Thị Tiêu là Lang Tiên, hay Vua Tiên, tương ứng với con gái bà Vụ Tiên trong Truyền thuyết họ Hồng Bàng:
Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh, lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Núi Ngũ Lĩnh ở đây là núi nào?
Ở Tây Thiên dân gian có câu:
Núi thờ cha Tản Viên
Núi thờ mẹ Tây Thiên
Đều hướng về Ngũ Lĩnh
Thờ núi Tổ linh thiêng.

Ngũ Lĩnh chính là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ vua Hùng ngày nay ở Phú Thọ.
Tản Viên là thần chủ Nhạc phủ ở núi Tản. Lăng Thị Tiêu là mẫu chủ của Thiên phủ ở Tam Đảo. Ngũ Lĩnh nghĩa là núi nơi có vua (Ngũ là số 5, chỉ vua, không phải 5 ngọn núi) Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Thiên Nam ngữ lục chép đoạn này về Đế Minh như sau:Đương thời giữa thủa Đế Minh
Chí khôi đại nghiệp ra danh cõi ngoài
Nhân nhàn xa giá đi chơi
Nam tuần xảy gặp một người thiếu niên
Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.
Như vậy con gái bà Vụ Tiên ở đây gọi là Khương Tiên. Tiên là số 1, chỉ hướng Nam (xưa). Khương là tính chất của phương Tây nên Khương Tiên đồng nghĩa với Tây Tiên = Tây Thiên Lăng Thị Tiêu.
Vì Đế Minh là Ngọc Hoàng thượng đế, cai quản thiên phủ nên Lăng Thị Tiêu – Khương Tiên là Mẫu thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Lý do mà Lăng Thị Tiêu được tôn làm Quốc mẫu là vì đã giúp vua Hùng đánh Thục. Trận chiến Hùng – Thục này là một trận chiến khác hoàn toàn với 2 cuộc chiến Hùng Thục thời Bát Hải Động Đình (Lạc Long – Âu Cơ) và Thục Phán An Dương Vương. Khi đã xác định Quốc mẫu Tây thiên là Mẫu Cửu trùng thì cuộc chiến Hùng Thục này phải xảy ra vào thời Hoàng Đế (Ngọc Hoàng thượng đế).
Huyền sử Trung Hoa chép:
Trận đánh dữ dội quyết định sự thắng bại giữa Hiên Viên với Xuy Vưu xảy ra ở Trác Lộc. Sương mù dày đặc, quân Hữu Hùng Thị bị Xuy Vưu vây chặt, không nhận định được phương hướng đánh ra giải vây, nên thường bị Xuy Vưu đánh bại phải tháo lui. Sự thảm bại của Hữu Hùng Thị thấy rõ trước mắt.
Trong lúc nguy cấp như thế, đấng Cửu Thiên Huyền Nữ hiện ra dạy Hữu Hùng Thị chế ra xe hai bánh chỉ Nam, có bộ phận chỉ rõ hướng Nam, để phân định phương hướng và vị trí tiến quân, lại dạy cho binh pháp. Nhờ vậy, Hữu Hùng Thị củng cố binh mã, từ trong đánh ra bất ngờ, làm cho binh đội Xuy Vưu thảm bại, bắt sống được thủ lãnh Xuy Vưu đem giết chết.
Thế là yên giặc, tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghinh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế.
Sau đó, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ cũng thường ứng hiện giúp vua Hoàng Ðế và những người hiền tài trong nước, như giúp Hoàng Hậu Nguyên Phi chế ra nghề nuôi tằm lấy tơ dệt lụa, giúp ông Dung Thành chế ra máy Cai Thiên để xem Thiên tượng, giúp ông Thương Hiệt chế ra chữ viết tượng hình để thay cho việc thắt nút ghi nhớ các sự việc. Ngoài ra Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền khoa Lục Nhâm Ðộn Giáp, và phép bói 64 quẻ Dịch mà đoán kiết hung.
Quốc Mẫu Tây Thiên chính là Cửu Thiên Huyền Nữ (Mẫu cửu trùng). “Giặc Thục” ở đây là bộ tộc phía Tây do Xuy Vưu lãnh đạo. Bộ tộc Hữu Hùng Thị của Hiên Viên như vậy đã được bộ tộc ở phía Nam (xưa) là Lang Tiên Thị (Lăng Thị Tiêu) giúp khi đánh bộ tộc phía Tây (Cửu Lê) của Xuy Vưu. Cửu Thiên Huyền Nữ còn là người đem lại nhiều sáng chế đến cho vua Hùng như Kim chỉ Nam, dịch học, chữ viết,… Với công lao to lớn thời lập quốc họ Hùng như vậy hiển nhiên Lăng Thị Tiêu được tôn làm Quốc mẫu và chiếm ngôi thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Các khu vực là nơi Mẫu sinh và Mẫu hóa ở Tam Đảo ngày nay lại là các làng của người dân tộc Sán Dìu. Bản thân những người dân tộc này tham gia lễ hội Tây Thiên với vai trò chủ nhân văn hóa và coi bà Lăng Thị Tiêu như vị Mẫu thần của dân tộc mình. Đây không phải là “sự tích hợp văn hóa liên tộc người”. Rất có thể người Sán Dìu là một bộ phận trong bộ tộc Lang Tiên Thị xưa ở chính vùng núi Tam Đảo này.
So sánh với thần thoại Trung Hoa thì Tây Thiên Quốc Mẫu còn là bà Tây Vương Mẫu.
Thần thoại Trung Hoa cho biết Tây Vương Mẫu là Dao Trì Kim Mẫu, cai quản núi Tây Côn Lôn , cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình.
Dao Trì tức là Giao Chỉ, là chỗ trung tâm của thiên hạ thời Hùng. Núi Côn Lôn của Tây Vương Mẫu như vậy là núi Tam Đảo.
Tây Vương Mẫu còn được 3 con chim Thanh Điểu thay nhau mang thức ăn tới. Ba con chim này sống ở trên núi Tam Nguy, ở phía Tây của núi Côn Lôn. Núi Tam Nguy gồm ba ngọn, cao vút xuyên qua cả mây trời nên mới có tên như vậy.
Tam Nguy của Tây Vương Mẫu chính là 3 ngọn của núi Tam Đảo luôn khuất trong mây trắng.

Cong Tay Thien
Tây Thiên và Tam Đảo trong mây

Việc xác định Tây Thiên quốc mẫu là Tây Vương Mẫu cũng giải đáp nốt truyền thuyết về mối tình Lang Liêu với nữ thần Tam Đảo.
Lang Liêu hay Hùng Chiêu Vương ở đây không phải là vị Lang Liêu làm bánh chưng bánh dày, chế tác dịch học (Chu Văn Vương). Lang Liêu với nghĩa là vua người Liêu, cùng với tên Hùng Chiêu Vương, là chỉ một vị vua thời Tây Chu (khi nhà Chu còn đóng ở đất Liêu – Di Lão).
Đây là chuyện Chu Mục Vương, vị vua thứ 5 của nhà Chu đã cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn, tìm được cung điện ngọc của Hoàng Đế và gặp Tây Vương Mẫu. Núi Côn Lôn là núi Tam Đảo nên Chu Mục Vương hay vua người Liêu (Lang Liêu) đã gặp nàng tiên núi Tam Đảo ở đây.
Trong tín ngưỡng, văn hóa dân gian Việt Nam lại luôn gặp những truyền thuyết, huyền thoại của Trung Hoa. Ta chép của Tàu chăng? Không phải. Ông Trời luôn có mắt. Cái gì của người Việt thì sẽ trở về với người Việt.
Muốn gặp “Mẹ trời” đối với người Việt thật không khó. Núi Tam Đảo – Côn Lôn vẫn còn đó. Tục thờ Tây thiên Quốc mẫu vẫn còn đó. Thần tiên chẳng ở đâu xa. Cỗ xe 8 ngựa của Chu Mục Vương chỉ là hình tượng của trí tuệ và thành tâm mà thôi. Có tâm có trí thì sẽ gặp được Trời. Cái lý “con cóc” lên giời của người Việt là như vậy.

Khải ngả Nam Giao

Xem phần mở đầu Đại Việt sử ký toàn thư:
Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu mới gọi là Việt Thường thị , tên Việt bắt đầu có từ đấy.

Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương

Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân…
Các sử gia Việt xưa một mặt chép chuyện của Hoàng Đế – Đế Nghiêu – Hy Thị – Đại Vũ ở đầu sử Việt, một mặt xuống dưới lại kể ngay chuyện Đế Minh – Đế Nghi – Lộc Tục – Kinh Dương Vương. Rõ ràng phần trên là chép theo Hoa sử (sách người Hoa), phần dưới là chép theo huyền sử Việt.
Theo Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời nhà Tống và phần bổ Tam Hoàng bản kỷ cho Sử ký Tư Mã Thiên của Tư Mã Trinh thời Đường thì dòng Thần Nông truyền từ Đế Minh – Đế Nghi – Đế Lai tới Du Võng thì xảy ra cuộc chiến giữa Hiên Viên và Xuy Vưu. Còn theo Truyện họ Hồng Bàng thì Lạc Long Quân đã lấy Âu Cơ là con của Đế Lai, nghĩa là cùng lúc với sự xuất hiện của Hiên Viên trong các sách của người Hoa.
Có thể thấy thời mở sử thì trong Hoa sử có huyền sử Việt (chuyện Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai), còn trong Việt sử có Hoa sử (chuyện Xuy Vưu, Hiên Viên). Các sử gia Hoa, Việt không phân định được nên đã chép thông tin từ cả 2 dòng sử. Có khác là sử gia Đường Tống nhấn mạnh vai trò của Hiên Viên và từ đó chép tiếp Hoa sử. Còn sử gia Đại Việt thì nhấn mạnh chuyện Lạc Long Quân, lấy đó chép tiếp Việt sử.
Thực ra 2 cách chép mở sử này đều là một chuyện vì Hoa chính là Việt, chỉ có 1 lịch sử mở nước Hoa Việt. So sánh 2 đoạn sử Hoa và Việt ở đầu Đại Việt sử lý toàn thư sẽ thấy rõ:
– Hoàng Đế mở muôn nước = Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông.
– Đế Nghiêu = Đế Nghi cai quản phương Bắc.
– Hy Thị định Nam Giao (chính là Đế Thuấn) = Lộc Tục làm vua phương Nam
– Đại Vũ chia 9 châu (trị thủy) = Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình.
Các sử gia thời Đường thời Tống có quan niệm Hiên Viên là tổ người Hoa Hạ, còn người Việt thì quan niệm Lạc Long Quân là tổ. Từ đó dẫn đến 2 cách chép khác nhau. Chuyện Hiên Viên đánh tây dẹp bắc lập nước Hữu Hùng trong Hoa sử đã dùng để thay cho chuyện Lạc Long Quân đánh Thục trong Việt sử.
Hiên Viên Hoàng Đế lập nước Hữu Hùng, vậy phải là … vua Hùng dựng nước của người Việt. Trong sự tích của Hiên Viên không hề có chữ Hoa hay chữ Hạ nào để xác định Hiên Viên bắt đầu Hoa Hạ.
Chuyện Lạc Long Quân thì ngược lại, Vĩnh Công Bát Hải Động Đình mở Hoa Đào Trang chính là bắt đầu Hoa Hạ. Lạc Long Quân mới là người mở đầu nhà Hạ của Hoa sử.

Cong den Hung Cổng lên đền Hùng ở Phú Thọ.

Câu đối ở đền Hùng:
Khải ngả Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch:
Bắt đầu ở ngả Nam Giao, nghìn năm Hồng Lạc xưng đế quốc
Sáng lên nơi Tây Thổ, một dải Tản Lô mãi lưu đền.

Câu đối trên đã khái quát đầy đủ phần mở đầu của sử Việt. Người họ Hùng đã phát triển theo 2 hướng. Đầu tiên nước mở ở Nam Giao do công của Nghiêu Thuấn hay Lộc Tục Kinh Dương Vương. Lập nên “đế quốc Hồng Lạc” là Lạc Long Quân. Hồng Lạc là tên khác của Hoa Hạ mà thôi. 50 người con theo cha Lạc Long đã xây dựng nhà Hạ, phát triển theo hướng Đông (Động Đình) và Nam (Nam Giao). Hướng Nam xưa là hướng Lạc = Nác = Nước, là hướng Bắc ngày nay.
Hướng thứ hai là hướng Tây trong vế đối dưới. Đây là hướng của Tản Viên, của Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, lập nước Văn Lang ở Phong Châu trên vùng đất Tam Giang (Đà, Lô, Thao).
Cuộc phân ly Lạc Long – Âu Cơ là hình ảnh của cuộc chiến Hùng – Thục trong thần tích Việt hay cuộc chiến tranh dành vương vị giữa Hạ Khải và Bá Ích trong Hoa sử. Dù phân tách nhưng cả hai vẫn đều là con cháu Đế Minh – Hiên Viên từ Hữu Hùng hay Họ Hùng ban đầu. Con cháu họ Hùng hai dòng Đông – Tây đã lại hòa hợp khi Thục Phán lập nước Âu – Lạc, thống nhất 2 vùng đất của cha Lạc Long, mẹ Âu Cơ.
Truyền thuyết Lạc Long – Âu Cơ đã xác định 2 hướng phát triển của người Bách Việt (trăm trứng sinh trăm trai) thời mở sử. Điều này hoàn toàn đúng với các phân tích di truyền nhân chủng học ngày nay. Thuyết “Nhất nguyên nhị phân” từ nghiên cứu ADN người Bách Việt đã cho thấy rõ 2 hướng lan rộng sang Đông Bắc và Tây của người Bách Việt. Cái gốc “nhất nguyên” của Bách Việt nằm ở vùng Nam Giao là Bắc Việt và Lưỡng Quảng ngày nay.

Tam phủ công đồng

Tam phủ công đồng là tín ngưỡng phổ biến của người Việt. Điện thờ Tam tòa thánh mẫu có thể gặp ở bất cứ đâu, trong các phủ, các đền, các đình, các chùa… Cùng với tín ngưỡng này là những tục lên đồng, hát chầu văn, đã thành những di sản văn hóa đặc sắc của người Việt. Có thể nói Tam phủ công đồng là Đạo thứ tư của người Việt, sánh cùng Tam giáo Nho Lão Phật. Một tín ngưỡng quan trọng như vậy nhưng tới nay vẫn không rõ nguồn gốc, mọi thứ vẫn còn nằm trong màn sương thần tích thần phả. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ tục tôn thờ nữ thần hay từ “nguyên lý mẹ” người Việt đã nâng tín ngưỡng này lên thành Đạo Mẫu. Nhưng Tam phủ và nhất là Công đồng đâu phải chỉ có các nữ thần thánh mẫu. Nay xin xem xét từng “phủ” trong Tam phủ để tìm về cái gốc của tín ngưỡng này.
Trước hết rõ ràng nhất là Thoải phủ hay Thủy phủ. Người đứng đầu Thủy phủ không ai khác là vua cha Bát Hải Động Đình. Trong bài “Rồng bay biển Bát” đã xác định vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng là Lạc Long Quân ở đất Đào Động – Đào Hoa Trang bên bờ biển Đông.
Vị Mẫu cai quản Thoải phủ là Mẫu Thoải mà theo các thần tích là con vua Động Đình, lấy Kinh Dương Vương hay Kinh Xuyên. Mẫu Thoải là con gái Thần Long Động Đình, trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, tức là mẹ của đức Lạc Long Quân.
Đền Dầm thờ Mẫu Thoải ở thôn Xâm Dương – Ninh Sở (Thường Tín – Hà Nội) chép Mẫu Thoải là “nàng Tiên thứ ba đến chầu Thượng Đế, chẳng may làm vỡ chén ngọc. Thiên triều nghị tội, giáng nàng xuống Thủy cung làm con gái Long Vương. Nàng được gả cho tướng quân Kinh Xuyên…”.
Xâm Dương đổi lại là Dương Xâm, phiên thiết là Dầm. Như vậy tên Xâm Dương chỉ là tên chữ của làng Dầm mà thôi.

Den Dam
Đền Dầm ở Xâm Dương

Đình làng Xâm Dương thờ một vị thần có mỹ hiệu Kiến Quốc Hùng Cơ vào thời Hùng Vương, có công giúp Sơn Tinh đánh Thục. Thần có 4 người con, đều sinh ra từ một bọc trứng. Người con đầu có tên Nhất Vĩnh Đông Hải, người con cuối là Tứ Vĩnh Ninh Giang…
Có thể thấy thần tích đình Xâm Dương cũng giống như thần tích của đền Đồng Bằng hay đền Lảnh Giang, đền Ninh Giang về sự xuất hiện của anh em Vĩnh Công từ một trứng đã giúp vua Hùng đánh Thục. Nhất Vĩnh Đông Hải là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình. Tứ Vĩnh Ninh Giang, Ninh Giang là tên sông Tranh, nơi có đền thờ Quan đệ ngũ tuần Tranh…
Người mẹ của Vĩnh Công trong truyền thuyết đền Đồng Bằng hay đền Lảnh là nàng Quý. Thực ra nàng Quý nghĩa là nàng Ba (trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). “Nàng tiên thứ Ba” chính là Mẫu Thoải, người cai quản phủ Tam (Thủy phủ) như thần tích đền Dầm đã chép. Thôn Xâm Dương có cả đền thờ Mẫu Thoải và thần tích về Vĩnh Công xuất thế, có thể chính là nơi Mẫu Thoải đã sinh ra Lạc Long Quân, vị vua của Động Đình sau này.
Câu đối ở đền Lảnh Giang (Duy Tiên – Hà Nội) nơi thờ Quan lớn đệ Tam:
Tam phủ hiển anh linh do truyền Hồng lĩnh Bắc
Tứ dân triêm huệ trạch viễn chấn Phượng thành Đông.

Dịch:
Tam phủ rõ linh thiêng, còn truyền đất Hồng Bắc
Tứ dân ngấm ân đức, xa vang thành Phượng Đông.

Tam phủ ở đây là Thoải phủ của Quan lớn đệ tam và Mẫu Thoải. Tam hay số Ba (nàng Ba hay nàng Quý) là con số chỉ phương Đông của Hà Thư. Thoải phủ ở phương Đông vì Lạc Long Quân và Mẫu Thoải đều gắn với thủy phủ Bát Hải Động Đình, tức biển Đông.
Hồng Lĩnh Bắc” rõ ràng không phải vùng đất phía Bắc núi Hồng Lĩnh của Nghệ An. Hồng Lĩnh Bắc là đất Đào – Hoa Hạ của Lạc Long Quân mà thôi.
Phượng thành Đông” ở đây chỉ thành Thăng Long. Rất có thể “Phượng thành Đông” là chỉ Đông Đô của dòng tiên phượng Âu Cơ.
Lần tìm tiếp theo thì Nhạc phủ chắc chắn là do Sơn Tinh hay Tản Viên quốc chúa cai quản. Mẫu Thượng Ngàn cũng có liên quan trực tiếp tới Tản Viên. Nếu theo truyền thuyết vùng xứ Đoài thì bà Ma Thị Cao Sơn, mẹ nuôi của ba anh em Nguyễn Tuấn, là Bà chúa thượng ngàn. Ngay cái tên Ma Thị Cao Sơn đã có nghĩa là “Mẹ núi cao”. Bà mẹ nuôi của Tam vị thánh Tản này cũng được thờ là Mẫu Thượng Ngàn ở đền Đợi, nằm gần quần thể đền Đồng Bằng ở Thái Bình.
Theo một số truyền thuyết khác như ở đền Bắc Lệ thì Mẫu Thượng Ngàn là công chúa La Bình, con của Tản Viên Sơn Thánh. Dù là truyền thuyết nào thì rõ ràng Nhạc phủ do dòng Tản Viên Sơn Thánh cai quản.
Nhạc phủ có thể ở phía Nam (xưa) vì núi là quẻ Cấn, chỉ hướng Nam xưa. Tản Viên Sơn Thánh là Kinh Dương Vương, người đã làm vua phương Nam trong truyền thuyết họ Hồng Bàng. Truyền thuyết đền Đồng Bằng cũng bắt đầu với địa danh “trấn Sơn Nam”, thật là đủ cả núi và nom.
Dòng phương Nam của Kinh Dương Vương đã kết hợp với dòng Thần Long Động Đình (Mẫu Thoải) ở phía Đông sinh ra Lạc Long Quân. Rất có thể chuyện Kinh Xuyên bị Thảo Mai dèm pha đuổi Mẫu Thoải ra khỏi nhà ám chỉ một cuộc phân ly nào đó giữa 2 dòng Nam và Đông này của người Việt thủa xưa.
Các vị thần của Thiên phủ khó xác định hơn vì Trời thì ở xa. Xa về thời gian. Thần chủ của Trời thì không ai ngoài Ngọc Hoàng thượng đế. Ngọc Hoàng thượng đế thì như đã biết là Hoàng Đế Hiên Viên của Hoa sử. Ngọc Hoàng không phải là vị thần của Đạo Lão đã chen chân vào tín ngưỡng Tam phủ, mà Ngọc Hoàng là vốn đã là thần chủ chính của Tam phủ.
Ở thôn Bằng Sở (Ninh Sở – Thường Tín – Hà Nội) có là đền thờ đức vua cha, tức Ngọc Hoàng thượng đế.

Ngoc Hoang dai dien

 Hoành phi Ngọc Hoàng đại điện ở Bằng Sở.

Còn vị Mẫu của Thiên phủ là Mẫu Cửu Trùng. Đền thờ Mẫu Cửu Trùng ở ngay cạnh đền Ngọc Hoàng ở Bằng Sở.
Câu đối ở đền Bằng Sở thờ Mẫu Cửu trùng:
Tứ phủ linh thanh, hộ quốc bảo dân thiên hạ mẫu
Cửu trùng trắc giáng, đằng vân giá vũ địa trung tiên.

Dịch:
Tứ phủ linh thiêng, giúp nước cứu dân mẫu nghi thiên hạ
Cửu trùng lên xuống, đi mây về gió vị tiên thế gian.

Mẫu Cửu Trùng (gọi tắt là Mẫu Cửu) cũng là Cửu Thiên Huyền Nữ trong truyền thuyết Trung Hoa, tức là người đã giúp đỡ Hiên Viên Hoàng Đế trong cuộc chiến với Xuy Vưu.
Cửu Thiên cũng giống như Bát Hải, không phải là chín trời tám biển. Cửu là số 9 chỉ hướng Tây trong Hà Thư. Cửu thiên nghĩa  là trời Tây. Cửu Thiên Huyền Nữ là bà Tây Vương Mẫu, vị chúa cai quản các tiên trên trời, vợ của Ngọc Hoàng thượng đế. Trong truyền thuyết Trung Hoa thì Tây Vương Mẫu là tiên chủ vườn Đào ở Diêu Trì. Nay có thể hiểu Tây Vương Mẫu hay Mẫu Cửu là bà Vụ Tiên ở đất Đào tại Giao Trì (Giao Chỉ?).
Bà Vụ Tiên theo Thiên Nam ngữ lục còn có tên là Khương Tiên:

Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.

Khương là tính chất của phương Tây trong Dịch lý. Khương Tiên – Tây Vương Mẫu – Cửu Thiên Huyền Nữ – Mẫu Cửu Trùng rõ ràng là một. Thiên phủ như vậy ở hướng Tây.

Den Mau Cuu

Đền Mẫu Cửu ở Bằng Sở

Còn “công đồng” nghĩa là gì? Công đồng không phải là cùng chung. “Công” ở đây nghĩa là quan, là công. “Công đồng” nghĩa là “tập thể” các quan của Tam phủ. Ban công đồng trong các đền được thờ như một triều đình có vua quan thực sự. Công đồng đọc tắt là “đồng”, trong các từ “lên đồng” hay “chầu đồng”. “Chầu đồng” nghĩa là triều phục các quan chứ không phải là “chầu nhi đồng” (?!) như vẫn giải thích.
Trên nền tảng Dịch học đã cho phép khớp nối các thần chủ trong hệ thống Tam phủ với các nhân vật của thần thoại Trung Hoa và truyền thuyết Việt. Điều này cũng chứng tỏ thêm cội nguồn của Trung Hoa chính là ở Việt Nam. Lịch sử người Hoa Việt thời quốc sơ chính là nguồn gốc làm nên tín ngưỡng Tam phủ dân gian ngày nay.
Truyền thuyết Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái:
Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.
Nay viết lại dưới ngôn ngữ của Tam phủ:
Đế Minh, tức Ngọc Hoàng thượng đế, cháu ba đời Thái Viêm Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên, tức Mẫu Cửu Trùng, rồi trở về, sinh ra Lộc Tục, tức Tản Viên Sơn Thánh. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Ngọc Hoàng thượng đế rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Tản Viên làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở biển Đông, sinh ra Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước, tức vua cha Bát Hải Động Đình, …

Đoạn sử khởi đầu của dân tộc thật đã chép đầy đủ các thần chủ của Tam phủ. Nguồn gốc Tam phủ công đồng nay đã rõ ràng. Lịch sử dân tộc từ xa xưa vẫn còn đang sống trong đức tin của người Việt.

Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương

Câu đối ở đền Hùng:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế.

Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nguyễn Khắc Xương dịch:
Trải qua ba đời đến ba đời vương, thánh thần truyền dõi.
Sinh trăm trai nở trăm giống Việt, tổ tiên xây đắp, con cháu vui bồi
.
Phần dịch của Nguyễn Khắc Xương biến các danh từ riêng (Tam Hoàng, Tam Vương, Bách Việt) thành danh từ chung, làm mất hết ý nghĩa lịch sử của câu đối.
Câu đối này nói rõ từ đời Tam Hoàng đến đời Tam Vương truyền nối nhau, đều là tổ tiên, lịch sử mở nước của Bách Việt. Trong khung cảnh của đền Hùng thì Tam Hoàng lẫn Tam Vương rõ ràng cũng là những đời vua Hùng. Vậy Tam Hoàng và Tam Vương ở đây là những ai?
Phần đầu của các vế đối gồm 3 âm tiết một đoạn, kết cấu theo kiểu của Tam tự kinh. Tam tự kinh là sách  “vỡ lòng” để học chữ Nho, được biên soạn từ thời Tống. Phần nói về khởi đầu lịch sử Trung Hoa trong sách này như sau:
Kinh tử thông, Độc chư sử.
Khảo thế hệ, Tri chung thủy:
Tự Hy Nông, Chí Hoàng Đế,
Hiệu Tam Hoàng, Cư thượng thế.
Đường hữu Ngu, Hiệu Nhị Đế,
Tương ấp tốn, Xưng thịnh thế.
Hạ hữu Vũ, Thương hữu Thang,
Châu Văn Võ, Xưng Tam Vương…

Dịch:
Thông kinh sách, Đọc truyện sử.
Xét mối đời, Biết trước sau:
Từ Hy Nông, Đến Hoàng Đế,
Kêu Ba Hoàng, Thời thượng thế
Đường và Ngu, Là Hai Đế,
Nhường vái nhau, Xưng thịnh trị.
Hạ có Vũ, Thương có Thang
Chu Văn Võ, Xưng Ba Vương.

Như vậy theo Tam tự kinh:
– Tam Hoàng gồm: Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế, là các vị vua thời thượng cổ (thượng thế).
– Tam Vương gồm: Hạ Vũ, Thương Thang và Chu Văn Vương – Chu Vũ Vương là các vị vua lập nên 3 triều đại thời cổ sử Hạ – Thương – Chu, gọi là Tam Đại.
– Ngũ đế gồm: Đường Nghiêu, Ngu Thuấn (Nhị Đế) và Tam Vương ở trên.
Câu đối ở đền Hùng trên đã nêu rõ thời Tam Hoàng và Tam Vương là lịch sử của người Bách Việt. Từ Phục Hy, Thần Nông, thậm chí Hoàng Đế Hiên Viên – ông tổ của Trung Hoa cổ đều là các triều đại của người Việt. Và cả thời Tam Đại huy hoàng của Trung Hoa là nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu cũng đều là những … Hùng triều khác nhau mà thôi. Tất cả cùng một gốc “Đĩnh bách nam khai Bách Việt” mà ra cả. Tam Hoàng, Ngũ Đế đều là lịch sử của người Bách Việt.
Dịch lại câu đối:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.
Có lẽ người Việt nên lấy những câu đối ở đền Hùng để làm “Tam tự kinh” về lịch sử cho mình vì nay có quá nhiều người đến những câu “ba chữ vỡ lòng” này về sử Việt cũng không hiểu và không muốn hiểu.

Năm rồng đọc về thủy tổ Kinh Dương Vương

Tục truyền rằng: “Họ Hồng Bàng làm vua nước ta đầu tiên. Tương truyền Đế Minh là con vua Thần Nông, gọi vua Phục Hy là bác, cháu nội Toại Nhân, chắt bốn đời ông Bàn Cổ. Đế Minh đã có vợ và sinh ra Đế Nghi, song khi đi tuần thú miền Ngũ Lĩnh lại lấy công chúa Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Rục. Lớn lên Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục thành lập bộ tộc Dâu, đóng lỵ sở ở Liên Lâu (Luy Lâu), đặt quốc hiệu là Việt Thường, xưng là Kinh Dương Vương, lấy con gái Động Đình Quân mà sinh ra Sùng Lãm…”
“Đó là nội dung học vẹt thầy giáo hương sư lúc còn bé của người làm sách…”
(Theo sách Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương, Trần Quốc Thịnh).

Những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác, từ thầy giáo làng cho đám trẻ học chữ Nho xưa đều nói tới Thần Nông, Phục Hy, Toại Nhân, Bàn Cổ là những vị tổ tiên của người Việt. Những vị thần thời thái cổ của Trung Hoa có thể là tiền nhân người Việt được không?

DenALu

Đền Á Lữ

Tại làng Á Lữ, huyện Thuận Thành – Bắc Ninh nay vẫn còn lăng mộ và đền thờ vị thủy tổ Kinh Dương Vương. Tương truyền lăng và đền này đã có từ rất lâu, tới thời vua Minh Mạng được sắc phong thêm và phục dựng lại với nhiều hoành phi câu đối cổ. Minh Mạng quả là một vị vua có tâm chí lớn, có ý khẳng định lại nguồn gốc “Hồng Lạc đế quốc” của người Việt.

Câu đối ở chính điện thờ Kinh Dương Vương:

Thái cực nhất nguyên thiên địa thủy
Viêm Giao Bàn Cổ đế vương tiên.
Liên hệ với câu mở đầu trong Thiên Nam ngữ lục:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời dưới đất giữa hòa nhân gian.

Câu đối này nói lên quan niệm của người Việt, trời đất sinh ra từ thái cực cùng một lúc với con người (Bàn Cổ). Lịch sử người Việt bắt đầu cùng thiên địa.
Dịch nghĩa:
Bàn Cổ Viêm Giao vị tiên vương đế
Một khối Thái Cực khởi mở đất trời.

Tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” thật lạ. Thì ra ông Bàn Cổ, thủy tổ Trung Hoa, là người Việt, sinh ra cùng trời đất tại vùng Viêm Giao hay Viêm Bang Giao Chỉ. Vùng đất khai thiên lập địa của Trung Hoa chính là ở Giao Chỉ.

Một câu đối ở bàn thờ Âu Cơ trong đền Á Lữ:
Lưỡng nghi khai sơn hậu quân Viêm Giao Bàn Cổ
Bách đại lai tư cung đồng bản ấp phúc thần.
Cụm tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” như vậy là một cụm từ ổn định, chỉ rõ ông Bàn Cổ là người đất Viêm Giao. Cụm từ “Lưỡng nghi khai sơn” muốn nói tới việc Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Từ một “Thái Cực” của Viêm Giao Bàn Cổ người Việt chia làm 2 ngả Bắc và Nam, từ đó mở ra trăm mối Bách Việt, lập ấp, lập thần.
Dịch nghĩa câu trên:
Hai ngôi mở nước, bậc quân vương con cháu Bàn Cổ Viêm Giao
Trăm trai phân tách, những phúc thần tôn kính chung của bản làng.

Hoành phi “Thần truyền thánh kế” được thấy ở cả nơi thờ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân trong đền Á Lữ. Để hiểu hoàng phi này cần liên hệ với câu đối sau ở đền Hùng – Phú Thọ:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương thần truyền thánh kế
Đĩnh Bách Nam khai Bách Việt tổ thiện tôn bồi.
Phải
chăng “Tam Vương” ở đây là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng
Vương? Thần Kinh Dương đã truyền ngôi cho thánh Lạc Long. Thánh Lạc Long
lại truyền tiếp cho Hùng Vương.

LangKinhDuongVuong

Lăng Kinh Dương Vương

Câu đối ở Lăng Kinh Dương Vương bên bờ sông Đuống:
Lập thạch kỷ công Nam thánh tổ
Phong phần tố phẫn Bắc thần tôn.
Câu này tương tự như câu đối ở đền Hùng – Phú Thọ:
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn.
Bắc thần tôn” với nghĩa theo mặt chữ là “con cháu thần phương Bắc”. “Thần phương Bắc” ở đây phải chăng là Viêm Đế Thần Nông?
Dịch nghĩa:
Lập bia ghi công thánh tổ phương Nam
Phong đất cho con cháu thần phương Bắc.

Theo Ngọc phả đền Bình Ngô (An Bình – Thuận Thành – Bắc Ninh): “Kinh
Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất, hiệu là Hùng Lộc Tục, lên ngôi năm
2879 trước công nguyên. Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ hai, hiệu là
Hùng Hiền Vương. Hùng Vương thứ 18 hiệu là Hùng Duệ Vương, mất ngôi năm
259 trước công nguyên. Mỗi hiệu Hùng Vương lại truyền ngôi vài đời, có
khi dài mấy trăm năm
.”

Ngày giỗ Kinh Dương Vương tại Á Lữ là ngày 18/1 âm lịch, là lúc ngài đi vào cõi Vĩnh Thiên (Vĩnh hằng thiên thu). Số 18 cũng như 18 đời Hùng Vương có nghĩa là trùng cửu, trường cửu hay Vĩnh cửu. Tháng 1 là tháng Giêng = Dương. 18/1 là lúc Kinh Dương Vương đi vào cõi Vĩnh Thiên.

Amtunguyen

Ở cổng đền Á Lữ đề:
Ẩm tư nguyên
Câu này cũng gặp ở hoành phi tại đền Hùng – Phú Thọ.

Liên hệ với câu đối ở bên cổng đền:
Quốc triệu hòa bình tư thủy tổ
Dân di? mỹ tục niệm Hồng nguyên.

Thông thường thành ngữ dùng “âm thủy tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn). Ở đây hoành phi đã bỏ đi chữ “thủy” có lẽ muốn nói cái gốc phải nhớ đây không phải là “hà” hay “thủy” mà là “Hồng nguyên”, là cái khởi đầu thủa Hồng hoa Viêm Giao Bàn Cổ.
Dịch nghĩa:
Vận nước bình yên nhớ thủy tổ
Mỹ tục nhân dân tự Lạc Hồng.

Cũng ở chính giữa cổng đền Á Lữ có câu:
Khải ngã Nam Bang Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển đinh Phúc Khang Nguyệt ? nhất đái thọ tân từ
Câu này gần với câu ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây Thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ.
Trong vế thứ hai ở đền Á Lữ dùng chữ “đinh”, còn ở đền Hùng nhiều người đọc là “vu”, tuy nhiên trên thực tế ở đền Hùng có lẽ cũng là chữ “đinh” (theo sách 5000 hoành phi câu đối  Việt Nam). “Đinh” với nghĩa là chắc chắn, rõ ràng.
Dịch nghĩa:
Mở đầu từ ngả Nam Bang, Hồng Lạc nghìn năm là nước lớn
Hiển hiện ở Phúc Khang, sông Nguyệt một dải vững đền nay.
“Phúc Khang”, sông Nguyệt có lẽ là chỉ vùng đất quanh Á Lữ và sông Đuống.

Những câu đối này thật mang một hào khí Lạc Hồng, từ nghìn năm xưa đã là “đế quốc”. Có lẽ những câu này được viết dưới thời Minh Mạng, khi nước Đại Nam lúc đó thực sự là một đế quốc sau khi thống nhất Bắc Nam Đông Tây gồm cả Chiêm, Lào, Chân Lạp, đúc cửu đỉnh ở Huế.

Trên ban thờ mẹ Âu Cơ có hoành phi cổ (từ thời Minh Mạng): “Bách Việt tổ”. Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nên là tổ của Bách Việt.

Câu đối hai bên ban thờ Âu Cơ:
Tương truyền Lĩnh động tiên sinh thánh
Tòng thử Viêm phương quốc hữu quân.
Dịch nghĩa:
Động Lĩnh tương truyền mẹ tiên sinh con thánh
Phương Viêm từ đó nước nhà có đế vương.

Câu đối khác ở ban thờ Âu Cơ:
Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
Câu này gần với câu ở ban thờ Kinh Dương Vương:
Nam cực hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Bắc phương đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
“Hà Lạc” ở đây chính là chỉ “trời đất”, chứ không phải dịch “vui vẻ”, “hòa khí”.

Các
câu đối thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ dùng cùng một hình thức vì vốn dĩ ba vị này được thờ ở 2 đền khác nhau tại Á Lữ. Sau đó đền Lạc Long Quân – Âu Cơ bị phá, mới di rời thờ chung trong đền Kinh Dương Vương thành đền Tam vị thánh tổ.

Dịch nghĩa câu ở ban thờ Âu Cơ:
Vương đồ Việt Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền Hồng Bàng, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.
Dịch nghĩa câu ở ban thờ Kinh Dương Vương
Vương đồ miền Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền phương Bắc, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.

Kinh Dương Vương là vị thủy tổ khai sử của người Việt. Mối liên hệ Viêm Giao Bàn Cổ – Kinh Dương Vương – Bách Việt cho thấy thực chất Trung Hoa cổ đại chính là lịch sử của người Việt.