Những khía cạnh trong tín ngưỡng thờ thần bất tử Chử Đồng Tử

Chử Đồng Tử đi vào trong tín ngưỡng dân gian là vị thần bất tử thứ hai trong Tứ bất tử nước Nam. Bản chất của tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử được làm rõ hơn qua nghiên cứu các thần tích dân gian về vị thủy thần cùng vùng sông nước sông Hồng này.

1.      Chử Đồng Tử ở vào thời Hùng Vương thứ mấy?

Truyện Đầm Nhất Dạ trong Lĩnh Nam chích quái ghi Chử Đồng Tử ở vào thời Hùng Vương thứ 3. Một số thần tích như ở đền Đa Hòa (Khoái Châu, Hưng Yên) ghi là đời Hùng Duệ Vương thứ 18. Nhưng cũng có nơi như ở thần tích đình Đa Ngưu (Văn Giang, Hưng Yên) lại ghi là đời Hùng Vương thứ 6. Xét sự tích Chử Đồng Tử mang đầy màu sắc huyền thoại xa xưa thì có thể thấy câu chuyện này không phải ở cuối thời đại Hùng Vương, mà là ở quãng giữa, nghiêng về gần đầu thời kỳ Hùng Vương. Việc đánh số thứ tự các vị vua Hùng là 3 hay 6 thực ra không có nhiều ý nghĩa vì không rõ trong từng trường hợp thứ 3, thứ 6 hay thứ 18 là tính từ vị tổ đầu tiên nào.

2.      Chử Đồng Tử là hình tượng một thủy thần

Việc xác định Chử Đồng Tử là một vị thủy thần đã được nhiều tài liệu nói đến qua hình thức phối thờ với những thủy thần khác như với Tứ Vị Càn Nương, với thần Cá Chép … Nhà Chử làm nghề đánh cá ở bãi Chử Xá, rồi khi cha mất Chử Đồng Tử trầm mình trong nước mà kiếm sống, nên tất nhiên khi hóa thần sẽ là thủy thần của vùng sông nước. Tuy nhiên, khác với các vị như Linh Lang Đại vương hay Quý Minh Đại vương là các “thủy thượng linh thần” trong dòng dõi theo cha Lạc Long Quân xuống biển, Chử Đồng Tử có xuất thân từ trong nhân dân lao động chài lưới ven sông biển, nhờ duyên kỳ ngộ mà đắc đạo thành tiên.

Trong các thần tích ở vùng Khoái Châu, khác hẳn với lời kể của Lĩnh Nam chích quái, Chử Đồng Tử không hề đi buôn bán. Ngọc phả đền Hóa Dạ Trạch kể: … Tiên Dung cũng sợ không dám trở về, mới cùng với Đồng Tử quây màn mà ở bãi Mạn Trù. Từ đó mà có tên gọi là Màn Chầu. Được vài tháng lại dựng nhà ở xứ Quỳnh Viên, châu Hoan. Sau đó Đồng Từ từ biệt Tiên Dung đi chu du bốn biển. Như vậy, Chử Đồng Tử là một vị nhân thần tu tiên đạo, chứ không phải là “ông tổ” nghề thương mại.

3.      Quỳnh Viên, nơi Chử Đồng Tử học đạo là ở đâu?

Bức đại tự trước cung thờ Chử Công Đồng Tử ở làng Đông Tảo Đông (Văn Giang, Hưng Yên) ghi Quỳnh Viên đắc đạo 瓊園得道. Các thần tích về Chử Đồng Tử ghi rất rõ Quỳnh Viên, nơi Chử Đồng Tử gặp lão tiên ông là ở Hoan châu, tức vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Hoan châu cũng là quê mẹ của Công chúa Tiên Dung (theo thần tích mẹ của Công chúa là Hoàng hậu Dương Thị Diễm người Đức Quang ở châu Hoan), nên sau khi Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử không quay về triều vua Hùng mà về quê mẹ sinh sống là điều tự nhiên. Di tích và truyền thuyết về Chử Đồng Tử, Tiên Dung ở Hoan châu nay vẫn còn là ở núi Nam Giới tại Thạch Hà, Hà Tĩnh.

4.      Những mối duyên kỳ ngộ của Chử Đồng Tử

Trong sự tích của Chử Đồng Tử có tới 3 mối duyên kỳ ngộ. Thứ nhất là việc gặp gỡ trong một hoàn cảnh bất ngờ với Công chúa Tiên Dung bên bãi sông. Thứ hai là việc gặp lão tiên ông ở Quỳnh Viên. Thứ ba là gặp Tây Cung Tiên nữ trong đầm Dạ Trạch. Ý nghĩa của sự kết hợp nhân duyên này là gì?

Ngọc phả kể khi Chử Đồng Tử ở Quỳnh Viên gặp ông lão bạc đầu hát như sau:
Sơn chi cao hề! Thuỷ chi thâm
Trần trung thiển hữu thức kỳ âm
Thức kỳ âm hề, kết giai âm
Ký kết âm hề, tuy vạn lý diệc tầm.
Ký kết đắc nhi dữ chi du hề
Nguyện đối dữ sơn cao, thuỷ chi thâm.

Dịch là:
Núi cao chừ, nước sâu thăm thẳm
Cõi trần mấy ai hiểu âm này
Hiểu âm này chừ kết giai âm

Đã kết âm chừ dẫu vạn dặm cũng tìm
Đã kết được rồi thì cùng du chơi
Xin sánh cùng với núi cao nước sâu.

Lời hát của lão tiên ám chỉ việc kết hợp giữa “núi cao” và “nước sâu”, là sự việc quý giá, vạn dặm cũng tìm. Sự kết hợp đó sẽ làm nên công trạng “sánh cùng với núi cao nước sâu”. Khi đặt lời hát của tiên ông vào trong bối cảnh của Chử Đồng Tử thì sẽ thấy rõ ràng rằng thủy thần Chử Đồng Tử là “nước”, còn Tiên Dung Công chúa phải là “sơn”. Đây là một sự kết hợp sơn – thủy khác trong truyền thuyết Việt bên cạnh cuộc gặp gỡ của Lạc Long Quân và Âu Cơ hay của Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sự kết hợp của 2 dòng lên núi và xuống biển đã được nhấn mạnh nhiều lần vào thời kỳ đầu của thời đại Hùng Vương, là nguồn gốc Tiên Rồng của trăm họ người Việt.

5.      Chử Đồng Tử đắc Tiên đạo hay Phật đạo?

Tất cả các thần tích ở các nơi phụng thờ Chử Đồng Tử đều ghi Chử Đồng Tử ở Quỳnh Viên đã gặp lão tiên ông mà được truyền thụ tiên đạo cùng với gậy và nón thần. Chỉ có Lĩnh Nam chích quái mới gọi vị Tiên ông này là lão Phật quang. Giai đoạn đầu của thời kỳ Hùng Vương (thứ 3) đâu đã có đạo Phật của Thích Ca để mà Chử Đồng Tử tu theo. Gậy trúc và nón tròn là biểu tượng của Âm – Dương rất rõ. Cùng với phép thuật đầu sinh đầu tử, cải hóa cả âm dương của cây gậy trúc thì chỉ có thể nói Chử Đồng Tử đã đắc Tiên đạo. Tín ngưỡng dân gian đã tôn ông là Chử Đạo Tổ. Các đạo sĩ thời Nguyễn đã liệt cả Chử Đồng Tử, Tiên Dung cùng Tây Cung Công chúa vào trong sách Hội chân biên như những vị tổ của Đạo giáo Việt Nam.

6.      Vì sao Chử Đồng Tử là thần bất tử thứ hai?

Trong bộ các vị thần Tứ bất tử nước Nam, Chử Đồng Tử được xếp ở hàng thứ hai sau Tản Viên Sơn Thánh. “Bất tử” là mục đích tu tiêu của đạo Giáo nên đây không phải là cách sắp xếp theo công trạng thành tích của các vị thần được thờ.
Tản Viên Sơn Thánh đứng đầu trong các vị thần bất tử bởi Thánh có cây gậy thần do Thái Bạch Kim Tinh trao truyền, có khả năng cải tử hoàn sinh, đã từng cứu sống con rắn con Long Vương Động Đình ở bên bãi Trường Sa, nhờ đó đi xuống Thủy phủ mà được thêm cuốn sách ước. Thánh Tản không hóa mà đã lên núi Tản Viên trở thành bất tử.
Chử Đồng Tử cũng vậy, nhờ học được phép tiên của lão tiên ông ở Quỳnh Viên, dùng cây gậy trúc cứu sống nhiều người ở xã Ông Đình, Mạn Trù, nên Chử Đồng Tử là thần bất tử. Chử Đồng Tử không hóa, mà một đêm bay về trời, mãi mãi bất tử ở nơi cung trăng.
Còn vị thần bất tử thứ ba là Thánh Dóng, tuy là bất tử bay về trời thành Thiên Vương, nhưng Phù Đổng chỉ có khả năng diệt giặc, mà không có khả năng cải tử hoàn sinh, cứu người chết sống lại như Tản Viên Sơn Thánh hay Chử Đạo Tổ. Do đó Phù Đổng Thiên Vương đứng hàng thứ 3 trong thần bất tử là hợp lẽ.

7.      Tây Cung Tiên nữ

Hiểu biết về thần bất tử trong chuyện Chử Đồng Tử còn đến từ nhân vật Công chúa Tây Nương. Ngọc phả kể: Bà mẹ từng nằm mơ thấy có một con chim xanh từ phương Tây bay đến, bay vào trong trướng, biến hóa thành một người con gái. Kế đó lại thấy một vị nữ nhân nói rằng: Ta vốn là Tây Cung Vương Mẫu ở trên trời. Người con gái này là con gái của ta, nay đem đến gửi cho nhà ngươi ở tại trần gian trong 3 kỷ.
Tây Nương đúng là đã ở trần gian trong 3 lần, lần đầu là sinh ra ở Đông Miên (Đông An, Hưng Yên) rồi mất, nhưng lần 2 lại thường xuyên về thăm gia đình, ruộng vườn, du chơi trên đường cái, cầu kiều. Lần thứ 3 là xuất hiện trong “kính cổ” khi gặp vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung.
Tây Vương Mẫu là vị thiên thần bất tử, đứng đầu các vị thần trên núi Côn Lôn của Đạo giáo. Tây Sa Công chúa là con của Tây Vương Mẫu đã lấy Chử Đồng Tử tức là Chử Đồng Tử đã có được tiên đạo bất tử. Các thần tích còn kể, Tây Sa Công chúa có khả năng chế thuốc chữa bệnh cứu người, điều mà Chử Đồng Tử không làm được vì cây gậy trúc phải đợi người chết đi mới cứu sống lại được. Câu đối ở đình Phương Trù (Khoái Châu, Hưng Yên) kể về việc này:
造化亦無權金鼎靈丹傳不死
神仙安可接石頭廟貌凛如生
Tạo hóa diệc vô quyền, kim đỉnh linh đan truyền bất tử
Thần tiên an khả tiếp, thạch đầu miếu mạo lẫm như sinh.

Dịch là:
Tạo hóa cũng vô quyền, đỉnh vàng thuốc thiêng truyền bất tử
Thần tiên khó thể tiếp, đầu ghềnh miếu mạo nghiêm như sinh.

8.      Chử Đồng Tử lập Trạch quốc

Ngọc phả chép: Việc xong, ba người (Chử Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa, Tây Cung Tiên nữ) lại đi. Phàm là trong huyện Đông An nơi nào ba người đến đều dựng gậy ở đất đó, lấy nón đội lên trên, tự nhiên trở thành lâu đài, thành thị, tài vật, hàng hóa. Từ đó gọi tên là bãi Tự Nhiên. Trong triều quan quân vui mừng mà đi đến tụ họp quá nửa. Vua cha Duệ Vương nghi ngờ là làm phản, bèn lệnh dẫn quân đến đánh. Khi đó trời đã tối, quan quân do đó đóng ở bên bờ trái.
Bức đại tự trước cung thờ ở đình Phương Trù ghi: Trạch quốc Tam Thanh 澤國三清, có ý nói rằng ba vị nhà Chử là người khởi đầu của một quốc gia vùng đầm lầy Dạ Trạch. Việc Chử Đồng Tử lấy Công chúa Tiên Dung không theo mệnh vua cha có nghĩa là Chử Đồng Tử đã tiếm đoạt ngôi quyền của vua Hùng, tự lập thành một nước riêng ở vùng đầm bãi ven bờ phải của sông Hồng. Quan quân triều Hùng Vương đóng ở bờ trái.
Tam Thanh là khái niệm 3 vị thánh khởi đầu trong Đạo giáo. Trạch quốc Tam Thanh là 3 vị tổ của vùng đầm Dạ Trạch, gồm có Chử Đạo Tổ là Thủy thần, Tiên Dung Công chúa là Sơn thần và Tây Cung Tiên nữ là Thiên thần (con của Tây Vương Mẫu – Mẫu Thượng Thiên). Khái niệm Tam phủ Thiên Nhạc Thủy như thế đã hình thành từ rất sớm, ngay trong truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Ban thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa và Tây Cung Tiên nữ ở đình Ngự Dội, Khoái Châu, Hưng Yên.
Đình làng Đông Tảo Đông, Văn Giang, Hưng Yên.
Gậy trúc, nón vẽ ở đền Hóa Dạ Trạch.
Hoành phi Quỳnh Viên đắc đạo ở đình Đông Tảo Đông.
Hoành phi Quỳnh Liễu cung ở đền thờ Mẫu trên núi Nam Giới, Hà Tĩnh.
Hoành phi Trạch quốc Tam Thanh ở đình Phương Trù, Khoái Châu, Hưng Yên.
Đình Phương Trù, Khoái Châu, Hưng Yên.

Ngọc phả ba vị triều Hùng Duệ Vương là Chử Công Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa và Tây Cung Tiên nữ

Thần tích làng Đông Tảo Đông, tổng Yên Vĩnh, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên  theo bản khai 1938 số TTTS 12104

Chữ húy nhất thiết cấm là bảy chữ: Toại, Vân, Đồng, Tử, Tiên, Dung, Tây.

Ngọc phả ba vị triều Hùng Duệ Vương là Chử Công Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa và Tây Cung Tiên nữ.

Chi Khảm, bộ thứ hai Thượng đẳng

Xưa đất Việt ta dựng cơ đồ phương Nam phân chia theo sao Ngưu, sao Đẩu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong là tông phái đế vương đất Việt ta. Đất tốt châu Hoan kiến lập kinh đô. Hình mạnh Nghĩa Lĩnh xây sửa miếu đền. Cha truyền con nối hơn hai ngàn năm, đều xưng tôn hiệu là Hùng Vương.

Lại nói, thời họ Hùng truyền 18 đời đến khi Duệ Vương ở ngôi, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong Châu. Vương là người có tài cao chí lớn, tư chất thánh triết, kế thừa cơ đồ thịnh vượng của tổ tông 17 đời gây dựng, trong sửa văn đức, ngoài giữ biên phương, cố sức để hưng bình mà yên Trung Quốc. Khi ấy Vương có một Hoàng hậu. Hoàng hậu Dương Thị Diễm người Đức Quang ở châu Hoan. Có 6 quý phi, một trăm cung tần. Sinh hạ được 20 nam hoàng tử, 4 nữ công chúa. Nhưng mệnh trời thương thay, đều đem thân chốn Bồng Lãng, một ngày mà thành người thiên cổ. Hoàng hậu buồn rầu không thôi, ngày ngày rơi nước mắt lẫn máu. Nên khi ấy bèn cùng vài chục người thị nữ loan giá đi chu du giải buồn. Một hôm nghe nói ở huyện Tam Dương phủ Tam Đới có núi Tam Đảo thờ phụng đền Trụ Quốc Mẫu, rất là linh ứng, cầu gì tất được như ý nguyện mong muốn. Hoàng hậu bèn thân cùng các thị nữ đến hành hương cầu đảo. Tối đó Hoàng hậu nằm mơ thấy có một bà lão ôm một đứa trẻ tiên đem cho. Hoàng hậu trong mộng giơ tay nhận lấy, bỗng nhiên tỉnh lại. Sáng ngày ra làm lễ bái tạ rồi trở về. Từ đó cảm động mà có mang thai, đến kỳ sinh được một người con gái (ngày mùng 4 tháng giêng), mặt phấn má đào, sắc rạng mặt hồ, nhan sắc đầy đặn, hình dáng yểu điệu. Vương mở tiệc mừng lớn, nhân đó đặt tên là Tiên Dung, phong hiệu là Công chúa. Đến khi được 18 tuổi Công chúa không muốn lấy chồng, chỉ thích đi du chơi. Vương yêu mến nên không cấm. Cứ mỗi năm vào quãng tháng ba, tháng tư lại trang trí một chiếc thuyền mà đi chơi chốn sông biển. Một hôm thuyền đi đến bến Chử gia ở địa phận xã Đa Hòa.

Trước đó ở xã Đa Hòa có một gia đình họ Chử, tên là Toại Vân. Vợ chồng tích đức làm việc nhân, ba sinh hương lửa, một gối thật là phong lưu, đầy đủ sao. Một hôm bà mẹ nằm mơ thấy có một ông lão đầu bạc ban cho một đứa trẻ. Từ đó mà cảm động có mang. Mùa thu ngày 20 tháng 8 sinh hạ một người con trai, nhân đó đặt tên là Đồng Tử. Đồng Tử vốn tư chất thông minh, bản tính hiếu thành. Năm 13 tuổi bà mẹ bất hạnh mà bị bệnh qua đời. Nhà cửa lại gặp lửa cháy, tài vật đều mất hết, chỉ còn mỗi một chiếc khố vải. Cha con ra vào cùng mặc chiếc khố đó. Đến khi người cha lâm bệnh sắp mất, mới dặn lại Đồng Tử rằng:

  • Con người ta ở đời bần cùng hay phú quý đều không ngoài ý trời. Nhà ta trước giàu sau nghèo đều do trời vậy, không thể nài kéo. Cha nay bị bệnh, số khó tránh khỏi. Nếu vạn nhất như thế nào, hình hài của cha đã có nắm đất che không lộ ra, nên hãy để thân trần mà chôn, giữ lại mảnh khố cho con làm cách che thân.

Dặn xong thờ dải một tiếng rồi mất. Đồng Tử khóc lóc động trời, nhưng tình thế không thay đổi được, đành ôm thi hài mà khóc rằng:

  • Cha ơi! Cha ơi! Sinh con khó nhọc. Nay nhà nghèo thân hèn, không có gì để báo đáp. Con nay còn ở trên đời nếu lòng trời không phụ, tất sau sẽ có nhiều quần áo.  Cha lúc sống đã là người không có tấm áo quần, nay mất đi há lại thành quỷ lõa thể hay sao?

Bèn đem chiếc khố liệm cho cha mà đem chôn ở bãi đất nhạn bay phía Bắc. Từ đó không có quần áo che thân, thật là rất đói rét, bèn ngâm mình trong nước sông, thấy thuyền buôn đi qua thì đứng lên xin ăn. Lại thả cần câu để làm kế sinh nhai.

Hôm đó thuyền của Tiên Dung đi tới. Đồng Tử nghe tiếng chiêng chống, lại thấy giáo mác cờ xí rợp trời. Đồng Tử sợ hãi chạy lên trên bãi, tìm nơi ẩn náu. Ở tại xã Mạn Trù có một chỗ cao có 5-7 khóm lau sậy, bèn nấp vào trong đám lau sậy, lấy tay đào cát thành hố, nằm nấp vào đó, lấy cát phủ lên trên để che thân đi.

Phút chốc thuyền của Tiên Dung tiến đến bãi cát đầu thôn của xã Mạn Trù. Tháng tư trời nắng nóng. Tiên Dung cùng vài người thị nữ đi lên bãi Màn Trù, thấy có một nơi cao ráo, bèn lệnh cho thị nữ quây màn lại để tắm rửa. Nước tắm chảy xuống làm trôi cát. Đồng Tử hiện ra. Tiên Dung kinh hãi, lặng im hồi lâu. Đồng Tử cũng rất sợ, ý muốn tìm cách chạy thoát. Tiên Dung thấy Đồng Tử muốn chạy thoát bèn nắm lấy tay mà nói rằng:

  • Ta vốn không muốn lấy chồng. Nay lại gặp gỡ ở đây, cả hai đều ở trần, tất là trời đã sai khiến vậy. Khanh hãy mau cùng tắm rửa với ta.

Tiên Dung sai ban cho quần áo, dắt tay xuống thuyền, mở tiệc mừng lớn. Đồng Tử kể lại rõ sự việc chôn mình trên bãi cát. Tiên Dung than thở rồi kết làm vợ chồng.

Vua cha Duệ Vương nghe tin, than rằng:

  • Con gái Tiên Dung của ta mà muốn lấy rể Đông sàng thì trong ngoài triều trăm quan đông đúc, sao không kết làm rể Đông sàng, mà lại nửa đường tự theo kẻ bần cùng ăn xin, sao như chuyện nghe tiếng đức mà thăng cho Thuấn được? Lòng ta thật hổ thẹn.

Bèn không cho phép về cung. Tiên Dung cũng sợ không dám trở về, mới cùng với Đồng Tử quây màn mà ở bãi Mạn Trù. Từ đó mà có tên gọi là Màn Chầu. Được vài tháng lại dựng nhà ở xứ Quỳnh Viên, châu Hoan. Sau đó Đồng Từ từ biệt Tiên Dung đi chu du bốn biển. Trên đường gặp một ông lão tóc trắng, tuổi khoảng 8-9 mươi, đầu đội nón tròn, tay cầm gậy trúc, vừa đi vừa hát rằng:

Sơn chi cao hề! Thuỷ chi thâm

Trần trung thiển hữu thức kỳ âm

Thức kỳ âm hề, kết giai âm

Ký kết âm hề, tuy vạn lý diệc tầm.

Ký kết đắc nhi dữ chi du hề

Nguyện đối dữ sơn cao, thuỷ chi thâm.

Dịch là:

Núi cao chừ, nước sâu thăm thẳm

Cõi trần mấy ai hiểu âm này

Hiểu âm này chừ kết giai âm

Đã kết âm chừ dẫu vạn dặm cũng tìm

Đã kết được rồi thì cùng du chơi

Xin sánh cùng với núi cao nước sâu.

Đồng Tử nghe hát biết là tiên nhân đắc đạo, bèn đến chắp tay nói:

  • Vẻ tiên thân tục, may mắn được thấy. Nghìn năm hiếm có sự gặp gỡ này. Xin chớ cho là đường đột.

Ông lão đầu bạc cười mà nói rằng:

  • Ta vốn là tiên nhân trên trời. Nhà ngươi cũng không phải khách trần tục. Nay đã gặp gỡ là thầy trò có duyên. Hơn nữa người tục mà thành tiên đã là điều lạ. Huống chi không phải người tục mà thành tiên thì có khó gì. Nhà người có muốn theo học ta chăng?

Đồng Tử cảm tạ nói:

  • Tiên ông đã mở lòng như vậy, đệ tử rất vui mừng, sai lại không theo.

Tiên ông bèn dẫn Đồng Tử ra ngoài hải đảo, đem hết phép thuật thần tiên, phi thăng, biến hóa truyền thụ cho Đồng Tử. Đồng Tử nhất nhất đều hiểu thấu. Đến lúc giã từ trở về Tiên ông lại trao cho nón vẽ và gậy trúc cùng với một đạo thần chú, dặn rằng:

  • Một đầu gậy có thể cứu người, đầu dưới gậy có thể trừ kẻ ác. Sau này khi về dựng gậy trên mặt đất, lấy nón phủ lên trên, tự nhiên sẽ thành lâu đài, trăm thứ. Người chết có thể sống lại, người bệnh có thể khỏi, đều ở tại trong thần chú của cây gậy trúc này. Chớ có xem thường.

Đồng Tử lại bái tạ mà nhận lấy, chia tay quay về với Tiên Dung. Thế là đã được 3 năm. Đồng Tử mới đem phép thuật thần tiên truyền thụ lại cho Tiên Dung. Từ đó vợ chồng cùng thành tiên. Một hôm vợ chồng lại trở về huyện Đông An, đi chơi ở đất hai xã Đa Hòa, Mạn Trù.

Lại nói, trong trang xã Đông Miên, huyện Đông An có một người con gái gia đình nông dân. Bà mẹ từng nằm mơ thấy có một con chim xanh từ phương Tây bay đến, bay vào trong trướng, biến hóa thành một người con gái. Kế đó lại thấy một vị nữ nhân nói rằng:

  • Ta vốn là Tây Cung Vương Mẫu ở trên trời. Người con gái này là con gái của ta, nay đem đến gửi cho nhà ngươi ở tại trần gian trong 3 kỷ.

Thế là bà mang thai mà sinh là nương (ngày mùng 10 tháng 2). Nương  tính thích thanh tịnh, ăn chay và các đồ hương hoa. Năm 36 tuổi không có bệnh gì mà mất. Thế nhưng có lúc lại hiện về thăm nhà cửa ruộng vườn, có lúc du chơi trên cầu, đường cái. Có người gặp muốn hỏi thì bỗng nhiên biến mất. Mọi người đều lấy làm kinh lạ, cho rằng nương đã đắc đạo thành tiên.

Khi ấy Đồng Tử và Tiên Dung đi đến địa giới hai xã Ông Đình và Yên Vĩ, thấy nương đang du chơi nơi kính cổ. Tiên Dung thấy nương có dung nhan chim sa cá lặn, có tướng mạo hoa nhường nguyệt thẹn, bèn chỉ cho Đồng Tử nói:

  • Lang quân có muốn lấy cô nương này làm thứ thất không?

Đồng Tử mỉm cười. Tiên Dung biết được ý đó bèn tiến đến Tây Nương cười mà nói rằng:

  • Nàng là Tiên hay là người trần? Là phong nữ hay hoa kiều? Lang quân của ta thiên tư cao xa, tài mức thông minh. Nàng làm thiếp cho người đó chẳng phải tốt sao? Ta tuy là con gái vua nhưng không có lòng đố kỵ và kiêu căng. Nàng và ta làm chị em chẳng phải vui sao?

Tiên Dung dứt lời, Tây Nương đáp rằng:

  • Ta chẳng qua nương ẩn trong hình hài này mà thôi. Ta là tiên nữ Tây Cung, còn vợ chồng nàng cũng đã học thành tiên thuật vậy. Nay không hẹn mà gặp, là do trời hay do người đây?

Tiên Dung nói:

  • Mưu sự bởi người, thành sự do trời. Nay trong việc này là do người vậy.

Thế rồi cả hai cùng cười lớn, dắt tay nhau đi đến chỗ Chử Công ngồi, làm lễ kết thành vợ chồng. Đương lúc đó thấy trong ấp Ông Đình đem ra 6 thi thể người chết mang đi chôn. Chử Công bèn nói với Tiên Dung và Tây Nương rằng:

  • Ta có phép tiên có thể cải tử hoàn sinh. Nay thấy có người chết, ta muốn cứu. Các nàng có thuận theo không?

Tiên Dung cùng Tây Nương nói:

  • Cứu người là việc phúc lớn, sao lại không theo.

Dứt lời ba người cùng đến vào Ông Đình, quả nhiên cứu được 5-6 tử thi. Từ đó tiếng tăm khắp xa gần trong huyện Đông An đều truyền tới. Khi ấy xã Mạn Trù gặp bất hạnh, thiên tai hoành hành, bệnh dịch phát tác. Người bệnh trong làng bị 20-30 người. Người chết 5-6 người. Người chết không có người chôn. Người bệnh không có người nuôi. Bèn tìm Chử Đồng Tử cùng với Tiên Dung và Tây Nương ba người mời về trong làng. Đồng Tử nói một cách nặng nhọc rằng:

  • Xã Mạn Trù là nơi ta và Tiên Dung gặp nhau. Ta mải đi chơi thăm thú mà không để ý, khiến cho người dân mắc bệnh và mất như vậy thật là lỗi của ta vậy.

Bèn cùng với Tiên Dùng và Tây Nương đến xã Mạn Trù, theo phép mà tiên ông đã truyền thụ để cứu xã Mạn Trù, người chết được sống lại, người bệnh khỏi bệnh. Thế là nhân dân, nam nữ, già trẻ xã Mạn Trù ai nấy đều vui mừng, nhảy nhót, làm lễ xin được làm thần tử, xin được lập sinh từ để ngày sau lo hương khói. Đồng Tử bèn dựng gậy ở đất Mạn Trù, lấy nón đội lên trên, miệng ngâm thần chú. Tự nhiên biến thành một tòa nhà to lớn, lưu ở xã Mạn Trù để làm nơi ngày sau hưởng thần.

Việc xong, ba người lại đi. Phàm là trong huyện Đông An nơi nào ba người đến đều dựng gậy ở đất đó, lấy nón đội lên trên, tự nhiên trở thành lâu đài, thành thị, tài vật, hàng hóa. Từ đó gọi tên là bãi Tự Nhiên. Trong triều quan quân vui mừng mà đi đến tụ họp quá nửa.

Vua cha Duệ Vương nghi ngờ là làm phản, bèn lệnh dẫn quân đến đánh. Khi đó trời đã tối, quan quân do đó đóng ở bên bờ trái. Đồng Tử cùng với Tiên Dung than rằng:

  • Đạo làm con sao dám chống lại mệnh của cha.

Đến nửa đêm bỗng mưa to gió lớn đập lên nơi đất ở đó. Lâu đài, của cải cùng với Đồng Tử, Tiên Dung, Tây Nương đều cùng một lúc bay lên trời (ngày 11 tháng 11). Trời sáng, quan quân trở về thuật lại sự việc, tâu lên Duệ Vương. Vương mới biết họ đã đắc đạo thành tiên, bèn xa giá đến xem nơi đất đó, thấy bùn đất ngàn dặm, nhân đó gọi là đầm Nhất Dạ.

Đương khi đó thấy một người con gái cưỡi hạc trắng từ phương Tây đến, đứng ở trong đầm, tự xưng là Tây Cung Tiên nữ, vâng mệnh của Đồng Tử, Tiên Dung đến tạ quân vương. “Chúng thần xin nhận tội không trọn đạo làm con, xin vua cha thứ tội.” Tạ xong lại theo trong đầm mà bay lên không mà đi.

Vương cảm việc đó, bèn sắc phong là Nội Trạch Tiên Cung Tiên nữ, cho được cùng thờ hưởng với Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa. Lập đền thờ chính ở xã Đa Hòa. Ban chiếu truyền trong huyện Đông An, nơi nào ngày trước ba vị có lập cung đền và có đi qua trú ngụ, thì đến đền chính Đa Hòa nghênh đón thần hiệu về phụng thờ.

Khi ấy nhân dân xã Mạn Trù cũng đến Đa Hòa làm lễ nghênh thần hiệu của ba vị về miếu trước đây Chử Công đã dựng để phụng thờ. Từ đó hễ trong dân có việc cầu xin đều linh ứng. Nên nhân dân đều nghiêm túc phụng thờ thêm, bốn mùa tám tiết hương hoa đúng như nghi thức.

Phong Chử công Đồng Tử Chí thánh Linh thông Thượng đẳng thần.

Phong Tiên Dung Công chủ Thiên tiên Uyển diễm Thượng đẳng thần.

Phong Nội Trạch Tây Cung Tiên nữ Huyền diệu Thượng đẳng thần.

Lại nói, trải đến thời Tiền Lý Nam Đế cùng chống cự với các tướng Lương là Bá Tiên, Dương Sàn. Nam Đế không may nửa đường mà mất, trao lại quyền cho đại tướng Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục bèn dẫn quân trở về đầm Nhất Dạ cố thủ. Một hôm trai giới lập đàn cầu đảo trời đất bách thần. Trong một lúc thấy có một người nam cưỡi rồng

từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng trao cho, để chế ra đâu mâu, đặt trên nỏ, hướng vào đâu nơi đó khắc yên. Quang Phục bái nhận, lại hỏi tính danh. Người nam đó cười rằng:

  • Chử Đồng Tử chính thị là ta.

Rồi lại cưỡi rồng bay lên không mà đi. Quang Phục bèn sai chế tạo nỏ thần móng rồng, một trận đánh mà bại được giặc. Bèn lên ngôi tự lập làm Triệu Việt Vương. Mới truy tôn Chử Công là Hoàng đế. Tiên Dung Tây Nương là Tả Hữu Hoàng hậu. Lại cho phép dân các xã thờ ba vị đều tu sửa miếu điện mà phụng thờ. Xuân thu sai quan đến tế lễ. Từ đó trải Đinh, Lê, Trần, Lý cùng với hoàng gia ta khai sáng cơ đồ, thường có giúp nước cứu dân, cầu mưa tránh lũ đều có nhiều linh ứng, nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự, để bốn mùa hương lửa, vạn đời là lệ thường. Tốt đẹp thay!

Vâng khai sinh hóa các lễ cùng với các chữ nhất thiết cấm là năm chữ Đồng, Tử, Tiên, Dung, Tây. Y phục hai màu vàng, tím cấm dùng khi làm lễ.

Ngày sinh thần của Chử Công là ngày 12 tháng 8, làm lễ trên hoa quả, dưới lễ tam sinh, ca hát 10 ngày.

Ngày sinh thần của Tiên Dung là mùng 4 tháng Giêng, lễ như tháng 8, ca hát 1 ngày.

Ngày sinh thần Tây Nương là mùng 10 tháng 2, lễ hát y như tháng Giêng.

Ngày hóa thần ba vị cùng ngày là 11 tháng 11, lễ dùng cỗ chay.

Năm Hồng Phúc thứ nhất, giữa xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các điện Đại học sĩ, thần Nguyễn Bính vâng soạn.

Đình làng Đông Tảo Đông

Vài điều làm rõ về Linh Lang và Lạc Long Quân ở Bình Đà

Làng Bình Đà ở Thanh Oai có 2 di tích là đình Ngoại thờ Linh Lang Đại vương, là thủy thần xuất thế thời Lý và đền Nội thờ Lạc Long Quân. Bản khai 1938 của làng ghi vậy. Trong bản khai cũ chỉ có thần tích của Linh Lang Đại vương mà không có sự tích của Lạc Long Quân. Tuy nhiên, không hiểu sao sau này lại thấy có sự tích lưu ở đền Nội Bình Đà về Lạc Long Quân được chép với niên hiệu Thái Bình Thiên Quốc, và nội dung ná ná như Cổ Lôi ngọc phả. Rõ ràng đây là tư liệu được đưa vào di tích sau năm 1938, không phải tư liệu gốc của đền.

Bia ở đền Nội ghi khá đơn giản, rõ ràng: Dân có tổ, tổ có miếu, nước thì thờ, làng thì cúng, đều là để tưởng nhớ vậy. Làng ta phụng thờ quốc tổ Lạc Long Quân từ xưa… Không có đoạn sự tích như Cổ Lôi ngọc phả kể từ Kinh Dương Vương, rồi Lý Long Cảnh, Sùng Lãm… Đền Nội Bình Đà đơn giản là một nơi thờ Lạc Long Quân, không có mộ tổ của cụ nào được ghi chép ở đấy cả.

Về bức giá tượng trong đền Nội, các tài liệu ghi là có chữ “Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ …“, tức là nói đến Hùng Vương. Nhưng bản khai 1938 lại ghi rằng bức giá tượng đó có chữ “Ngũ thập tử tòng phụ, ngũ thập tử tòng mẫu “, tức là nói đến truyền thuyết bách noãn của Lạc Long Quân.

Hiện nay, Linh Lang Đại vương ở Bình Đà được làm lễ ngày hóa là ngày 26/2 âm lịch. Theo Cổ Lôi ngọc phả thì Lạc Long Quân hóa ngày 28/2, tức là gần trùng với ngày hóa của Linh Lang Đại vương. Ngày 6/3 âm mà hiện nay đền Nội đang làm chính lễ hội, không phải là ngày hóa của Lạc Long Quân, mà là ngày khánh hạ của làng mà thôi.

Ở đình Ngoại trên bia và trên đại tư cho biết đây là 1 trong 4 đền thiêng của Thanh Oai (Thanh Oai tứ linh từ chi nhất). Câu đối ở đình:

Thần tích thái hy kỳ, lịch đại bao phong, Thanh Oai tứ linh từ chi liệt

Võ công do hách trạc, xã dân sùng bái, Lý triều bát thế kỷ dĩ lai.

Dịch nghĩa:

Thần tích thật kỳ lạ, các đời bao phong, là trong 4 đền thiêng của Thanh Oai

Võ công còn rạng tỏ, xã dân sùng bái, từ thời Lý tám đời tới nay.

Nếu đền thờ Linh Lang Đại vương đã là một trong 4 đền thiêng của Thanh Oai, thì sao đền thờ Lạc Long Quân lại không được xếp trong các đền thiêng này? Rõ ràng ở đây coi đình thờ Linh Lang và đền thờ Lạc Long Quân là 1 cụm di tích, thờ chung 1 vị thần mà thôi.

Điều lạ nữa là trong đình Ngoại Bình Đà tuy thờ Linh Lang là tướng quân, nhưng hai bên lại bày ban văn võ, giống y như bên đền Nội. Có đủ ban văn võ hai bên thì người được thờ phải là vua.

Như vậy thực ra làng Bình Đà vốn chỉ thờ 1 vị thần là Linh Lang Đại Vương, cũng là Lạc Long Quân. Đình Ngoại là đình thờ, chỉ có bài vị. Đền Nội là đền thờ nên có bức giá tượng. Việc trùng ngày hóa của 2 vị, cùng là Thủy thần hiển linh thời Lý, cùng 1 đền thiêng của Thanh Oai… là những dẫn chứng cho nhận định rằng Linh Lang Đại vương chính là quốc tổ Lạc Long Quân.

Bia ở đền Nội Bình Đà
Bức giá tượng Ngũ thập tử tòng phụ, Ngũ thập tử tòng mẫu ở đền Nội Bình Đà
Bia đình Ngoại Bình Đà
Hoành phi: Nhất tứ linh từ, ở đình Ngoại Bình Đà
Bụi Trúc hóa long ở sân đình Ngoại Bình Đà
Bài vị cổ Linh Lang Đại vương ở đình Ngoại Bình Đà
Ban Võ ở đình Ngoại Bình Đà
Ban Văn ở đình Ngoại Bình Đà

Mười tám đời Hùng Vương là những ai?

Theo Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, sưu khảo bởi Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt thì 18 đời Hùng Vương gồm:

Giai đoạn Sơn triều Thánh tổ:

1. Hùng Vũ Vương, bắt đầu vào quãng 5.000 năm trước. Tên thường gọi là Thái Tổ Đế Minh. Tên thờ là Đột Ngột Cao Sơn, hay đầy đủ là Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng Đế. Chính đền thờ tại núi Hùng Nghĩa Lĩnh.

2. Hùng Hy Vương, tên thường gọi là Đế Nghi. Tên thờ là Viễn Sơn Thánh Vương. Đền chính tại núi Hùng Nghĩa Lĩnh. Khu vực thờ khác là ở núi Hồng Lĩnh của Nghệ Tĩnh.

3. Hùng Anh Vương, tên thường gọi là Lộc Tục. Tên thờ là Ất Sơn Thánh Vương. Đền chính ở núi Hùng Nghĩa Lĩnh. Khu vực khác là ở vùng chân núi Lịch, Sơn Dương, Tuyên Quang.

4. Hùng Việt Vương, tên thường gọi là Kinh Dương Vương. Tên thờ là Nam Thiên Thủy Tổ Tản Viên Sơn Thánh. Chính đền ở vùng núi Ba Vì.

Giai đoạn Kinh triều Lạc thị:

5. Hùng Hoa Vương, quãng 4.000 năm trước. Tên thường gọi là Lạc Long Quân. Tên thờ là Linh Lang Đại vương hay vua cha Bát Hải Động Đình. Chính đền ở An Phụ, hồ Dâm Đàm. Đền thờ ở nhiều nơi khác trên vùng Đồng bằng Bắc Bộ và ven biển.

6. Hùng Uy Vương, là triều đại phục hưng sau sự gián đoạn bởi Trạch quốc của Chử Đồng Tử. Hoa sử gọi là nhà Hạ Trung hưng.

7. Hùng Huy Vương, người Dao gọi là Bàn Vương, sáng lập ra nhà Thương ở vùng Nam sông Dương Tử.

8. Hùng Duệ Vương, là triều đại nhà Ân sau khi theo Bàn Canh vượt Dương Tử tiến lên Hoàng Hà.

Giai đoạn Thục triều Văn Lang:

9. Hùng Chiêu Vương, quãng 1.100 TCN. Tên thường gọi là Văn Lang. Tên thờ là Âu Cơ. Đền chính ở Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ.

10. Hùng Quốc Vương, tên thường gọi là Vũ Ninh. Tên thờ là Hùng Linh Công. Đền chính ở Y Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang

11. Hùng Tạo Vương, tên thường gọi là An Dương Vương. Hoa sử gọi là Đông Chu Vương. Đền chính ở Cổ Loa.

12. Hùng Nghị Vương, tên trong Hoa sử là Dịch Hu Tống của nước Tây Âu hay Chu Vương thời Chiến Quốc.

Giai đoạn Hoàng triều Triệu Hiếu:

13. Hùng Định Vương, tên thường gọi là Tần Vương. Tần Thủy Hoàng xưng đế năm 221 TCN.

14. Hùng Trịnh Vương, tên thường gọi là Lý Bôn hay Lưu Bang. Tên thờ là Triệu Vũ Đế. Đánh đổ nhà Tần năm 206 TCN. Chính từ thờ tại Đồng Sâm, Thái Bình.

15. Hùng Triệu Vương, tên thường gọi là Triệu Quang Phục. Lập quốc Nam Việt và xưng đế năm 179 TCN. Đền chính ở vùng Dạ Trạch và các đền ven cửa Độc Bộ ở biển Nam Định, Ninh Bình.

16. Hùng Hiếu Vương, tên thường gọi là Lý Phật Tử. Hoa sử gọi là nhà Tây Hán.

17. Hùng Trưng Vương, bắt đầu quãng năm 110 TCN. Tên thường gọi là Bà Trưng. Tên thờ là Ả Lã Nàng Đê. Đền chính ở Hát Môn.

18. Hùng Tân Vương, tên thường gọi là Vương Mãng. Trên đất Việt là giai đoạn các thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang.

Hỏi kỹ chuyện qua mà chép sử
Thấy rành như vẽ mới làm thơ.

Link bản đồ:

Hội Thống Thượng thượng thượng đẳng thần

Tại xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An từng có một ngôi đền lớn nằm trên con đường thiên lý Bắc Nam, gọi là đền Hội. Theo ghi chép trong cuốn Địa chí Nghi Lộc (2014) thì:

Đền Hội: ở xóm Hoàng Xá, xã Cẩm Trường cũ, bên cạnh quốc lộ 1A có 3 toàn, tòa trong (gọi là thượng điện) 3 gian đặt ngai thần, cao 2 m, rộng 1m. Tòa giữa (trung điện) 3 gian đặt 8 tượng (ông phỗng bằng gỗ, quì hai bên). Tòa ngoài (hạ điện) 5 gian 2 hồi, là nơi hội họp, tế tự. Trước có cổng tam quan 3 gian (1 chính, 2 phụ). Tượng 2 voi đá nằm trong hai gian phụ, hai tường bên có tượng hai ông tướng đứng hầu. Phía trước có hai cây gạo cổ thụ. Toàn bộ cột kèo oai bẩy của đền bằng gỗ lim. Mái lợp ngói mũi hài, trên nóc có hình lưỡng long chầu nguyệt. Phía ngoài có hai bia đá.
Đền Hội thờ vị tướng người Tàu có sắc phong là: Thống chế Nam Thiên Mạch Sơn Trấn quốc lịch đại gia phong Thượng thượng thượng đẳng tôn thần.
Hiện nay đền đã bị phá, chỉ còn hai bia đá
.
Đền Thánh: Thờ Khổng Tử cách đền Hội 300 m về phía Nam có 2 tòa. Phía trước có một bia đá, đền này đã bị phá, bia đá vẫn còn...
Đại tế ở đền Hội (gọi là tế Kỳ Yên) hàng năm vào các ngày 17-18-19 tháng Giêng, các thôn rước thần ở thôn mình về hội tế ở đền Hội. Ngày 17 rước ông chủ tế về đền, ngày 18 rước thần các thôn về đền, ngày 19 đại lễ. Ngày tế lễ, có đội bát âm (đội nhạc gồm 8 người). Đêm diễn tuồng chèo…

Di tích đền Hội (ở xóm Hoàng Xá) thờ “Thống chế Nam Thiên Mạch Sơn trấn quốc, lịch đại gia phong Thượng Thượng Thượng đẳng tối linh tôn thần” cũng được Ninh Viết Giao nhắc đến trong cuốn Tục thờ thần và thần tích Nghệ An. Tác giả cho biết đền này nhiều làng trong tổng Kim Nguyên cũng phụng tự và làng Kim Chi ở xã Nghi Liên có đến Kim Cẩm cũng thờ Mạch Sơn Trấn quốc Thượng đẳng thần (thờ vọng thần ở đền Hội thuộc xã Nghi Trung).

Vị Thống chế Nam Thiên Mạch Sơn trấn quốc là ai mà được lịch đại gia phong Thượng Thượng Thượng đẳng tối linh tôn thần? Chắc chắn đây không phải “người Tàu” như Địa chí Nghi Lộc chép. Với mức độ gia phong 3 lần Thượng Thượng Thượng đẳng tối linh thì đây phải là một vị thần rất cổ. Cách bài trí trong đền với ngai thần rất lớn (cao 2 m, rộng 1 m), 8 vị phỗng chầu cũng nói lên điều này. Tam quan đền 3 gian, có 2 voi đá và 2 tướng đứng hầu. Đặc biệt có 2 cây gạo cổ thụ, nằm ngay trên con đường thiên lý Nam Bắc đi qua Quán Hành, xưa kia chắc chắn là một điểm dừng quan trọng của tuyến đường này. Hai cây gạo gợi ý về tục thờ các vị thủy thần thời Hùng Vương, như ở nhiều nơi trên miền Bắc.

Đền Hội nằm cách cửa Hội, cửa sông Lam đổ ra biển giữa hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, chỉ có khoảng hơn 10km. Cửa Hội là một mạch nguồn quan trọng được nhắc tới trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả:
Xưa Kinh Dương Vương vào ngày mùng 5 tháng Hai năm Nhâm Tuất vâng lệnh đem các tướng dời đến Nam Miên, trấn giữ và cai trị đất nước. Trên đường Vua ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa có đại cuộc chân long quý mạch để lập đô ấp, trấn trị thiên hạ. Qua Hoan Châu vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc phong cảnh tươi đẹp như lâu đài muôn nhẫn, tên là núi Hùng Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, xưa gọi là Cựu Đô, nay là Ngàn Hống. Vùng đất này non biển đúc linh, núi sông khe hồ hội chầu, tụ họp ở ven biển tại xã Hội Thống. Ở cửa Hội Thống núi chạy quan co, sông chảy cuốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông. Vua bèn xây dựng đô thành cung điện lâu đài cửa ngọc, làm nơi cho bốn phương triều cống.

Cũng tại cửa Hội Thống Kinh Dương Vương đã lạc thuyền rồng đến xứ hồ Động Đình và gặp được Tiên nữ Thần Long, kết duyên mà sinh ra Lạc Long Quân.

Kinh Dương Vương có tên là Lộc Tục, hay Lạc tộc, được vua cha Đế Minh mệnh cho cai quản (thống chế) phương Nam nên được gọi là Nam Thiên Thánh Tổ. Kinh Dương Vương cũng là Lạc Thị và cũng chính là Tản Viên Sơn Thánh. Đền Hội nằm gần cửa Hội Thống thờ Thống chế Nam Thiên Mạch Sơn Trấn quốc thì rõ ràng đây chính là vị thần của cửa Hội Thống, tức là Kinh Dương Vương. Chữ Mạch có thể là đọc khác của chữ Lạc. Nam Thiên Lạc Sơn trấn quốc không còn ai khác là Nam Thiên Thánh Tổ Lạc thị Tản Viên Sơn.

Đây là phát hiện quan trọng, cho thấy Kinh Dương Vương khi đóng đô ở vùng Cựu Đô ở Nghệ Tĩnh xưa được gọi là Thống chế Nam Thiên Mạch Sơn Trấn quốc và được thờ tới nay ở khu vực cửa Hội (Nghi Trung, Nghi Liên, xưa là tổng Kim Nguyên). Dấu vết thời đại Hùng Vương ở Nghệ Tĩnh như vậy còn rất đậm nét, từ tục thờ Tam Lang Long Vương (Lạc Long Quân), Thống Chế Nam Thiên Mạch Sơn, hay thậm chí cả Âu Cơ như ở xã Nghi Khánh, Nghi Lộc. Chưa kể đến các vị thần Cao Sơn Cao Các cũng có thể là các vua Hùng thờ rất phổ biến ở vùng này.

Hiện tại Viện NC Hán Nôm còn lưu được bản khai thần sắc của tổng Kim Nguyên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An số hiệu AD.b1/15, trong đó có sắc phong thời Lê cho Mạch Sơn… Đại vương. Còn trong nguồn của Viện thông tin Khoa học xã hội có bản khai thần tích thần sắc làng Kim Cẩm, tổng Kim Nguyên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ký hiệu TTTS007418/19 gồm 3 trang tiếng Pháp cho vị thần Mạch Sơn Trấn quốc. Đền Kim Cẩm nay thuộc xã Nghi Liên như trên.

Hiện tại ở xã Nghi Trung, đền Hội Thống đã bị phá. Ở vị trí đền xưa nay là trạm xăng dầu, chỉ còn lưu lại 2 tấm bia đá và một số đá kê chân cột xưa. Tấm bia lớn còn nguyên vẹn có tiêu đề “Trùng tu Chân Lộc huyện từ vũ bi ký” (Bia ghi chép về việc trùng tu từ vũ huyện Chân Lộc”). Bia này có được giới thiệu và dịch (theo bản viết tay lưu giữ tại Thư viện Nghệ An) trong cuốn Văn bia Nghệ An (2004), nội dung nói việc dời Từ vũ từ ấp Hùng Quần đến thôn Kỳ Cẩm, ca ngợi đất ấy. Bia ghi Thiệu Trị năm thứ hai Nhâm Dần (1842).

Tấm bia nhỏ hơn ở đây đã bị vở, chỉ còn lại một nửa. Đối chiếu theo sách Văn bia Nghệ An thì đây là bia ghi việc dời và làm văn từ huyện Nghị Lộc: Văn từ Nghi Lộc trước ở thôn Kỳ Cẩm thuộc xã Nghi Liên, nay dời đến khu Ba xã, tức ở Quán Hội, thuộc xã Nghi Trung bây giờ. Bia làm năm Đồng Khánh thứ ba (1888).

Như vậy cả 2 tấm bia còn lại đều là bia của văn từ. Một bia ghi văn từ chuyển từ ấp Hùng Quần đến Kỳ Cẩm (Nghi Liên), bia sau đó ghi lại chuyển từ Kỳ Cẩm đến đến Quán Hội xã Nghi Trung. Còn bia của đền Hội được nhắc đến trong Địa chí Nghi Lộc thì chưa rõ ở đâu.

Xã Nghi Trung là nơi có nhà thờ họ Nguyễn Đức, một dòng họ văn học nổi tiếng với các danh nhân như nhà phê bình văn học Hoài Thanh. Nhà thờ họ Nguyễn Đức nằm ngay gần đền Hội xưa, cùng xóm Hoàng Xá, nay đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Đền Hội ở Nghi Lộc thực chất là đền thờ thần cửa Hội Thống, là Nam Thiên Thánh Tổ Kinh Dương Vương, gặp Động Đình Long Nữ tại vùng cửa biển này. Đền vốn là nơi làm đại lễ Kỳ Yên của cả tổng Kim Nguyên xưa, nay gồm khu vực xã Nghi Trung và Nghi Liên, hàng năm vào tháng Giêng. Đền cũng từng là nơi có văn từ của huyện Nghi Lộc, nơi cúng bái các bậc tiên hiền, nho sĩ đỗ đạt của cả huyện. Rất cần thiết khôi phục lại ngôi đền cổ của vùng này và tục thờ Thống Chế Nam Thiên – Kinh Dương Vương tại đây.

Hai tấm bia còn lại ở Quán Hội xưa
Đá kê chân cột của khu vực đền Hội
Hoa Gạo trên đất Nghệ An
Nhà thờ họ Nguyễn Đức ở xóm Hoàng Xá, Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An.

2 chuyện cần bàn thêm

Sau bài viết của tác giả Văn Nhân Nguyễn Quang Nhật “Sử Việt, 2 chuyện cần bàn“, xin góp bàn thêm về giai đoạn đặc biệt phức tạp nhưng cũng hết sức hào hùng này trong lịch sử nước Nam người Việt.

1. Chuyện số 1:

Lý Nam Việt Đế là Triệu Vũ Đế, cũng là Cao Tổ Lưu Bang. Tuy nhiên, còn người làm vua Nam Việt tiếp theo Lưu Bang thì cần xem thêm. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, vị này:

– Ngay khi nhà Tần diệt vong đã tự xưng là Nam Việt Vũ Vương.
– Sau đó mấy năm được Lưu Bang cử Lục Giả mang phẫu phù đến sắc phong Vương chính thức.
– Khi Lữ Hậu mất thì xưng Đế, thuần phục Tây Âu và Mân Việt.

Xét theo truyền thuyết Việt, người được Lý Nam Đế trao lại quyền nước Nam, tự xưng Dạ Trạch Vương rồi xưng Hoàng đế phải là Triệu Quang Phục. Theo thần tích Hạ Mạo thì Quang Phục là dòng dõi Hùng Vương, cháu ngoại của Đông Chu Quân, được vua ban cho họ Lê, khởi nghĩa cùng Triệu Vũ Đế và được gả con gái là Triệu Hậu cho. Vì thế Quang Phục khi xưng Đế đã lấy tên triều đại của mình theo Triệu Cao Tổ Lưu Bang.

Đoạn văn tế độ Triệu Vũ Đế ở Đồng Sâm: 

Công tham lưỡng đại,
Uy nhiếp bách Man.
Thuỷ đế khai thất quận chi đồ, Hán hùng tịnh thế,
Mẫu nghi chính lục cung chi biểu, Chu hậu đồng ban. 

Người kế tục Lưu Bang – Lý Bôn ở Nam Việt là Triệu Quang Phục, xưng là Triệu Văn Đế. Đôi búa sắt lưu ở đền Đồng Xâm tương truyền là do nhà Hán, tức do Lưu Bang, đã trao cho Triệu Việt Vương. Phải chăng đây là khi Lưu Bang nhập Quan Trung nhà Tần, để lại binh quyền Nam Việt cho Triệu Việt Vương?

2. Chuyện số 2:

Khu Liên là Triệu Quốc Đạt – Đô Dương, người đã nối tiếp cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng của bà Trưng – bà Triệu cuối thời Đông Hán. Thêm nữa, khi khảo sát các di tích và sự tích về Lý Nam Đế ở nước ta đã phát hiện có 2 vị vua đều được được gọi là Lý Nam Đế. Vị thứ nhất ở vùng Thái Bình, Long Hưng dựng nghiệp là Triệu Vũ Đế – Lưu Bang như đã nêu ở chuyện thứ 1. 

Vị thứ hai ở vùng Sơn Tây (quận Nhật Nam), từ nhỏ nuôi chí lớn ở trong chùa, khởi nghĩa lập ra nước Lâm Ấp. Khu Liên do đó là Lý Nam Đế thứ 2, vị vua đã “thác thủy” Lâm Ấp địa. Sau khi Khu Liên mất, đã giao lại quyền bính cho một người bên họ ngoại là Hữu tướng Phạm Tu, tức Sĩ Nhiếp. Phạm Tu là người có công bình định đất phương Nam – Lâm Ấp (miền Trung bộ), giao cho một người con là Phạm Hùng cai quản. Sĩ Nhiếp Phạm Tu duy trì chế độ tự trị kéo dài 40 năm đối với nhà Đông Hán rồi Đông Ngô.

Còn phần phía Tây Bắc Việt do người anh của Khu Liên là Đào Lang Vương Lý Thiên Bảo cầm quân. Lý Thiên Bảo mất, con là Lý Phật Tử lên thay. Dòng họ Lý ở vùng đất quận Nhật Nam xưa được sử Việt gọi là Nam Triệu (Nam Chiếu). Còn Hoa sử gọi là Tây Nam Man Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch và Sĩ Nhiếp chia đôi nước Lâm Ấp của Khu Liên thành 2 phần Đông Tây, lấy bãi Quân Thần ở Thượng Cát làm ranh giới. Đây cũng là ranh giới 2 quận Giao Chỉ và Nhật Nam từ thời Tây Hán.

Các di tích ở vùng Sơn Tây thờ Lý Nam Đế như ở Giang Xá (Hoài Đức) chính là nơi khởi nghĩa của Lý Khu Liên. Câu chuyện về 2 vị vua Lý Nam Đế này nay đã lẫn lộn vào nhau, nên trong sự tích mỗi nơi đều thấp thoáng chuyện của cả 2 vị ở 2 thời kỳ khác nhau.

Câu đối ở Giang Xá:

Thiên Đức hồng cơ long đỉnh Bắc
Vạn Xuân cung khuyết phượng thành Đông.
 

Tướng Ông trong hội cờ người lễ hội Giang Xá.

Y Sơn linh tích Hùng Ninh Vương

Khu vực Hiệp Hòa, Bắc Giang có di tích thờ một thần tướng đánh giặc Ân là Hùng Linh Công. Cụm di tích thờ Hùng Linh Công nằm quanh núi Y Sơn (Hòa Sơn) tại đây. Theo truyền thuyết và các tài liệu thư tịch cổ thì: vào thời kỳ Hùng Vương thứ 6 có quan trị sự xứ Kinh Bắc tên là Hùng Nhạc dòng dõi Hùng Vương. Ông đã ngoài 60 tuổi, bà ngoài 40 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Nhân ngày đầu xuân, ông bà đi thăm Châu Lạng và vãng cảnh trên dòng sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay), qua vùng núi Ia thì trời sẩm tối. Ông bà đã vào chùa Ia (Y Sơn Tây Tự) nghỉ trọ lễ phật cầu phúc. Đêm ấy xảy ra thần mộng: “Thiên thần thị ngã ứng hoài thai”.

Sau đó, quan bà Cao Tiên phu nhân mang thai sinh ra một người con trai vào ngày 12 tháng 10 năm Đinh Hợi, đặt tên là Hùng Linh Công. Hùng Linh Công khôi ngô tuấn tú, năm 17 tuổi văn võ song toàn. Đức vua nghe tin đã triệu về Kinh đô để thi kén hiền tài. Hùng Linh Công tỏ ra xuất sắc.

Khi có giặc lang thú, hổ, báo phá hoại dân lành, Đức vua sai Hùng Linh Công cầm quân đi dẹp. Người đã dẹp yên và bắt những con mãnh thú đầu đàn mang về nuôi thuần hóa để sử dụng.

Khi giặc Ân xâm lược nước ta, Đức vua giao cho Hùng Linh Công ba vạn quân và phong chức Nhạc phủ thống lĩnh tướng quân cầm quân dẹp giặc cùng Đức Thánh Gióng. Sau khi đánh tan quân giặc, đất nước thanh bình, Hùng Linh Công trở lại vùng núi Ia, thấy phong cảnh non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình, Người đã đóng bản doanh tại đây và hiển thánh vào ngày mùng 8 tháng 8 Âm lịch.

Hôm ấy đang trời quang mây tạnh, bỗng mây đen kéo đến, mưa gió, sấm chớp nổi lên và có 3 tiếng sét trên đỉnh núi, dân chúng thấy một người mình mặc giáp trụ, tay cầm thanh kim đao cưỡi con hổ đen bay lên trời. Sau đó, Hùng Linh Công biến mất. Tạnh mưa, dân làng lên đỉnh núi thấy cây trầm cổ thụ trên đỉnh núi héo khô, dân làng thấy làm điềm lạ đã mang cây tạc tượng Hùng Linh Công, lập đền phụng thờ để bày tỏ lòng thành kính nhớ ơn.

Sau khi Phụ thân và Mẫu thân Hùng Linh Công từ trần, Đức vua cảm kính trước câu chuyện thần mộng và công lao của Người đối với dân, với nước nên đã cho dân làng thờ hai ông bà Hùng Nhạc tại Hậu đường chùa Ia (Y Sơn Tây Tự) và phụng thờ Hùng Linh Công tại đền Ia.

Hùng Linh Công là vị tướng đánh giặc Ân có tục lệ thờ lớn và linh thiêng nhất sau Phù Đổng Thiên Vương. Một đoạn trong bộ câu trường đối ở đền Ia (Y Sơn linh từ): “Đương dữ Sóc phong liệt tướng thành sở vị, giang Nam nhất nhân giang Bắc nhất nhân”. Dịch là: “Cùng với núi Sóc các tướng nổi danh rằng: một người ở phía Nam sông, một người phía Bắc sông”

Nhưng nếu Thánh Dóng xuất phát là một đứa trẻ ở làng Phù Đổng thì Hùng Linh Công lại là dòng dõi họ Hùng chính thống, cầm đầu quân đội đánh giặc. Câu đối ở đền Ia:

雄派奇跡垂不朽
和峰遺像凜如生
Hùng phái kỳ tích thùy bất hủ
Hòa phong di tượng lẫm như sinh.
Dịch nghĩa:
Tích lạ dòng Hùng trùm bất hủ
Núi Hòa tượng mãi vẫn như sinh.

Nếu cuộc chiến của Hùng Vương thứ 6 đánh giặc Ân đã được xác định là cuộc chiến lập quốc của nhà Chu thì người con của vua Hùng đã cầm đầu quân đội miền núi đánh giặc Ân phải là Cơ Phát, con của Văn Vương Cơ Xương. Cơ Phát ban đầu có tên là Ninh Vương, rất có thể đây chính là dấu vết lưu lại trong cái tên Linh Công. Đất phong ban đầu của Cơ Phát có thể chính là vùng Bắc Ninh xưa, gọi là Vũ Ninh theo tên của Vũ Vương.

Trong quần thể di tích Y Sơn còn có ngôi chùa Y Sơn Tây tự nơi thờ cha và mẹ của thánh Hùng Linh Công. Trước chùa là đình “Phật tự xuân hội”, nơi diễn ra lễ hội Y Sơn. Trước sân chùa từng có một đôi Long mã, rất giống với đôi Long mã ở trước sân đền Thượng núi Sóc Vệ Linh. Lễ hội Y Sơn còn được biết đến trò diễn “tướng quản” đặc sắc, khi các tướng quản voi ngựa của thánh Hùng Linh Công đến làm lễ trước chùa.

Theo góc nhận định mới, Hùng Linh Công là Ninh Vương Cơ Phát thì cha và mẹ của thánh sẽ là Văn Vương Cơ Xương và bà Thái Tự Chu Hậu. Còn “Phật” ở thời Ân – Chu tất nhiên không phải là Phật Thích Ca, mà là Đạo sĩ Khương Tử Nha, được truyền thuyết Việt kể là Lão Phật giáng thế giúp vua Hùng nước Văn Lang. Trước khi ra trận đánh giặc Ân Vũ Vương Cơ Phát đã làm lễ trước vua cha và mẹ cùng với bái tướng Khương Tử Nha là Thượng phụ.

Cùng với Hùng Linh Công ở Hiệp Hòa còn thờ đức Vua Bà Mã Yên Sơn tại đình Bé dưới chân núi Hòa Sơn. Khi tế lễ Hùng Linh Công đồng thời cũng khấn tên Đức Vua Bà. Nếu Hùng Linh Công là Vũ Ninh Cơ Phát thì Vua Bà Mã Yên Sơn sẽ là bà Nghị Địch, người vợ của Vũ Vương. Bà Nghi Địch được thờ là tổ của nghề nấu rượu ở làng Vân, Việt Yên, cũng cùng đất Bắc Giang. Đây là một dẫn chứng khác cho thấy Vũ Ninh Cơ Phát từng dựng nghiệp ở vùng đất này.

Câu đối trong đền Ia nói về sự hiển hách của Hùng Linh Công:
平石奇功垂罔極
扶丁偉績永猶傳
Bình Thạch kỳ công thùy võng cực
Phù Đinh vĩ tích vĩnh do truyền.
Dịch nghĩa:
Dẹp Thạch kỳ công trùm khắp chốn
Trợ Đinh tích lớn mãi còn truyền.

“Bình Thạch” ở đây nói đến việc Hùng Linh Công đã dẹp được Thạch Linh Thần tướng, là tướng cầm đầu quân đội nhà Ân trong sự tích thời Hùng. Rất bất ngờ là cũng ở khu vực Bắc Giang tại vùng Việt Yên có di tích thờ Thạch Linh Thần tướng thời Hùng Vương. Đền Ia ở núi Y Sơn nằm ở đầu sông Cầu thì đền thờ Thạch Linh Thần tướng nằm ở phía dưới của dòng sông này.

Về các công trạng của Hùng Linh Công, ở đền Ia còn có câu đối:
青隴威加平虎患
月江波湧護龍舟
Thanh lũng uy gia bình hổ hoạn
Nguyệt giang ba dũng hộ long chu.
Dịch nghĩa:
Núi biếc thêm oai dẹp nạn hổ
Sóng dồn sông Nguyệt trợ thuyền rồng.

Ở đền Ia đặc biệt còn có dấu tích một phiến đá lớn với sự tích rằng Vua thủy tề đã cho người đội đá theo dòng sông mang đến đặt phiến đá gần cổng đền làm thành một cây cầu. Dưới gầm cầu bây giờ vẫn còn dấu vết hình đầu người và các đầu ngón tay của người đội đá. Cạnh cây cầu xưa còn có một ngôi miếu nhỏ thờ vị tướng là Quý Minh Đại vương. Phải hiểu dấu tích về phiến đá thần này như thế nào? Tại sao “vua thủy tề” lại phải cho đội đá đến tế thần Nhạc phủ (Hùng Linh Công là Nhạc phủ thống lĩnh tướng quân)?

Quý Minh Đại vương được biết là một vị thủy thần giúp vua Hùng đánh Thục. Trong chuyện này thì Quý Minh Đại vương là tướng bên phía nhà Ân (được gọi là Hùng Duệ Vương) chống lại quân nhà Chu (quân Thục) đến từ miền Tây rừng núi (Nhạc phủ).

Câu đối đền Ia cho phép lý giải hình tượng phiến đá của Vua thủy tề (Thủy thần Quý Minh) này. Vì Hùng Linh Công đã “bình Thạch” Linh Thần tướng của quân đội nhà Ân, nên quân nhà Ân (trong hình tượng thủy thần Quý Minh) đã đội phiến đá (Thạch Linh) ngược dòng sông Cầu (từ Việt Yên) lên đến Y Sơn để quy hàng Hùng Linh Công. Phiến đá của Vua thủy tề do đó cũng tương tự như hình tượng các nữ tướng Ân được đem đến đền làm lễ chém tướng trong lễ hội đền Sóc và đền Phù Đổng.

Như vậy, các di tích ở Bắc Giang, nơi chiến trường xưa giữa quân đội Chu Thục và Ân Thương nay là những nơi đất phong thần thờ tự các vị tướng lĩnh của cả 2 bên trong cuộc chiến khốc liệt phạt Thương lập Chu cách nay trên 3.000 năm. Vũ Vương Cơ Phát được thờ dưới tên Hùng Linh Công ở Hiệp Hòa, bái Lão Phật Khương Tử Nha làm tướng, tế bái cha Văn Vương và mẹ Thái Tự rồi đánh dẹp Thạch Linh Thần tướng ở Việt Yên, hàng phục tướng của nhà Thương là Quý Minh. Giò hoa tre – quả trám – bông lúa trong lễ hội Y Sơn như nhắc lại sự tích về một thời mở thế thái bình của nước Văn Lang xưa.

Tượng đức thánh Hùng Linh Công ở đền Ia
Đình “Phật tự xuân hội” trước chùa Ia
Hậu điện chùa Ia
Thạch Linh Thần tướng ở Việt Yên.
Phiến đá của vua thủy tề Quý Minh trước đền Ia
Hậu cung đình Bé Hòa Sơn
Hoa tre trong lễ hội Y Sơn

Việt Nam Lạc Thị – Những vị Lạc Vương ở Bắc Ninh

Ở khu vực huyện Thuận Thành và Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh ven dòng sông sông Đuống có tín ngưỡng thờ các vị thần từ thời Hùng Vương mang tên là Việt Nam Lạc Thị. Những vị “họ Lạc” thủy tổ nước Việt Nam này là ai?

Thần tích về các vị Lạc Thị ở Bắc Ninh như sau (theo thần phả đình làng Nghi Khúc, Gia Bình):

Xưa Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai, dáng vẻ sinh đẹp, trí dũng kiêm toàn, người người đều nể phục. Năm mươi người con theo cha về biển, chia trị các xứ bờ biển. Năm mươi người con theo mẹ về núi chia trị núi rừng đất đai các xứ. Tôn con trưởng danh hiệu Hùng làm vua. Thứ làm Lang. Truyền 18 đời gọi là Hùng Vương. Tên nước là Văn Lang.
Tổ thờ ở Á Lữ. Tổ đi chu du thiên hạ, kiến xem hình thế. Một lần qua làng, thấy trước có 3 chẽ sông quanh co. Sau có 3 ngọn núi nhấp nhô đẹp đẽ. Sơn thủy hữu tình. Nhân đó dựng hành cung ở bờ sông, đặt tên là Nghi Giang cung. Chợt thấy 3 con rồng, mình dài vài trượng, lưng to mấy vòng. Trên đỉnh đầu có ấn vàng. Trong ấn nổi lên 2 chữ LẠC VƯƠNG. Lối lên ở ngã ba sông. Cá, tôm, rùa, ba ba đi theo. Sóng to gió dữ không thể kể xiết. Sau đó một đi chơi vùng Đại Đoan (nay là Đại Bái – Đoan Bái sông), một đi chơi sông Nghi Tuyền (nay là Nghi An sông), một đi chơi sông Bình An (nay là Bình Ngô – Yên Ngô sông).
Khoảnh chốc trở lại chỗ rồng nổi lên, vua thấy khác lạ, bèn ghi mật chúc rằng: “Đây là nơi rồng ẩn”. Về sau đời đời xa cách, vật đổi sao rời. Chỗ đó chỉ còn nền cung , tre lá, cây cỏ mọc lên thành bụi, rất lấy làm lạ. Sau hơn một trăm năm ở nơi sông này có một ngày mưa gió rất lớn, nghe như biển động chừng 1 canh giờ. Mây mưa chợt tạnh. Nhân dân nhìn thấy nền cung cũ gần nửa biến thành một đầm nước lớn, sâu bao nhiêu chẳng biết mà đo. Tục gọi là “Vực Thiêng”.
Dân bèn dựng miếu thờ. Gặp năm tai hạn, dân đốt hương khẩn cầu: Hoạn này hãy qua, yên tạnh như có nắng hạn được mưa, mùa màng tươi tốt. Nhân dân địa phương cảm kích vui mừng, nhân đó dựng đền thờ ở nơi cũ. Thờ cúng hàng năm.
Thủy thần ba vị tên chữ gọi là:
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhất Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ nhị Đại vương
– Việt Nam Lạc Thị Đệ tam Đại vương.
Trải qua được các triều đại vua ban tặng. Hàng năm cứ đến tháng Hai ngày mùng 4, làng vào đám nhập tịch. Già trẻ nghi lễ khênh rước đến đền thờ, mật xin thần hiệu, múc một bình nước rước về đình (tên đình là đình Phúc Lộc), làm lễ cầu phúc. Năm nào bình nước thơm mát thì được mùa – bình yên tươi tốt. Nước chua thiu – gặp tai. Nước nhạt đục – ấy hạn. Rất có linh ứng. Thường ngày tùy theo dân đến cầu mong điềm lành, điều tốt.
Đến năm Cảnh Hưng dân địa phương có nạn binh lửa. Vật quý cũ sắc tặng phong các đạo bị thất lạc. Sau này lại được khâm mông làm:
– Tôn thần Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Khai sơ Sáng thủy Khải minh Thùy hiến Uông nhuận Dực bảo Trung hưng Đại Vương.
– Hương Mát Hùng tài Đại lược Anh nghị Quả đoán Linh thông Hiển ứng Anh uy Hùng lược Đặc đạt Đại Vương.
– Quý Lang Diên hựu Đốc hỗ Tích chỉ Phong công Khải thánh Tập cái Từ tường Đoan chính Tập phúc Chiêu tường Đại Vương
.

Đây là khu vực duy nhất có tư liệu nói về Lạc Vương (3 con rồng trên đầu có ấn có chữ Lạc Vương). Tên “triển khai” đầy đủ của Lạc Vương ở đây là Việt Nam Lạc Thị Đại vương. Việt là chỉ tộc Việt, đất Việt. Nam là đất phương Nam, khởi dựng từ Kinh Dương Vương thụ mệnh vua cha làm vua phương Nam. Lạc Thị là họ Lạc, ở đây là Lạc chứ không phải họ Hùng. Lạc Thị là một giai đoạn của thời đại Hùng Vương.

Có 3 vị Lạc Thị là 3 vị thủy tổ của Việt – Nam mang họ Lạc. Các đền đình thờ Lạc Thị ở Bắc Ninh nay thường chuyển thành thờ các vị thủy tổ người Việt, mà cụ thể một số nơi theo tư liệu sắc phong và thần tích cho biết trước đây thờ thần Việt Nam Lạc Thị thì:

  • Đền Á Lữ, Thuận Thành nổi tiếng được biết đến vì là nơi có lăng Kinh Dương Vương. Ngoài Kinh Dương Vương ở Á Lữ còn thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ và vua Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Đại Bái (Bưởi Nồi), Gia Bình nay được ghi là thờ Lạc Long Quân.
  • Đền làng Bình Ngô, Thuận Thành nổi tiếng với cuốn Hùng Vương ngọc phả, tức là thờ chính là Hùng Vương.
  • Đình làng Đoan Bái (Bưởi Đoan), cùng cụm di tích 4 làng Bưởi với làng Đại Bái, nay trở thành một nơi thờ đủ các vị thủy tổ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Quốc Vương.
  • Đình làng Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên) thờ thần Bách Noãn.

Như vậy tục thờ Việt Nam Lạc Thị là thờ các vị vua khai sáng “Việt Nam” và Bách Việt (Bách Noãn), lần lượt có thể xác định là:

  • Việt Nam Lạc Thị Đệ nhấtKinh Dương Vương như ở đền Á Lữ.
  • Việt Nam Lạc Thị Đệ nhịLạc Long Quân như ở đình Đại Bái.
  • Việt Nam Lạc Thị Đệ tamHùng Quốc Vương như ở đền Bình Ngô.

3 vị khai sáng tổ của dòng Lạc theo cha xuống biển đã hiển hóa thành 3 con rồng với dấu ấn Lạc Vương tại vùng ven sông Thiên Đức, lưu truyền thành tín ngưỡng thờ Lạc Thị. Sự tích này cũng cho phép giải thích vì sao chữ Lạc 貉 lại viết dùng bộ Trãi. Bộ Trãi 豸 biểu thị loài bò sát không chân, rất có thể gắn với hình tượng những con rồng Lạc trên dòng sông Đuống này.

“Vực Thiêng” ở làng Nghi Khúc (Bưởi Cuốc) vốn là hành cung Nghi Giang thời Lạc Thị, là chốn cực kỳ linh thiêng của nước ta, giống như khu vực “Giếng Việt” của thời sau vậy. Khu vực ven sông Đuống có lẽ chính là nơi xuất phát của truyền thuyết sinh trăm trứng (Bách Noãn) trong huyền sử Hùng Vương.

Sau thời kỳ Sơn triều với Tam vị Hùng Vương Thánh Tổ ở vùng núi Phong Châu, giai đoạn Lạc triều từ Kinh Dương Vương truyền qua Lạc Long Quân rồi các đời Hùng Vương được truyền thuyết hóa bằng con số 18 đời ở vùng đồng bằng ven sông biển.

Câu đối ở đình làng Đại Mão, Gia Bình, nơi thờ Tam vị Lạc Thị:

Thiên đãng thánh thần khai Bách Việt
Địa xưng văn hiến ngưỡng tam linh.

Các di tích thờ Việt Nam Lạc Thị ở Bắc Ninh.
Sắc phong cho Kinh Dương Vương miếu ở Á Lữ, Thuận Thành: Khai sơ Sáng thủy Khởi minh Thùy hiến Việt Nam Lạc Thị Linh ứng Trung đẳng thần.
Ngai vị ba vị Việt Nam Lạc Thị ở đình làng Nghi Khúc, Gia Bình.
Bia sự tích Việt Nam Lạc Thị ở đình làng Đại Mão, Thuận Thành.
Tượng đồng Lạc Long Quân và Âu Cơ ở đình làng Đoan Bái, Gia Bình.
Nghi môn đền Bình Ngô, Thuận Thành.

Đi suốt thời đại Hùng Vương

Nhận thức về thời đại Hùng Vương là một quá trình rất dài, rất khó mà nếu không có tâm, không có sức thì khó có thể nhận ra được chân tướng dù là ở những chi tiết nhỏ nhất. Sẽ là quá đơn giản, nếu không nói là thô thiển và ấu trĩ, khi cho rằng 18 đời Hùng Vương chỉ là sự việc trong chốc lát vài trăm năm, rằng vua Hùng nào cũng giống như vua Hùng nào, không đội lông chim thì chắc cũng phải đóng khố… Sự thực 18 triều đại Hùng Vương của người Việt đã trải qua gần 3.000 năm lịch sử, phát triển từ thấp đến cao, từ thời kỳ đồ đá qua đồ đồng tới đồ sắt, từ khi con người mới đang ăn lông ở lỗ cho tới thời kỳ thiên hạ hàng triệu dân thống nhất trên vùng trời Đông. Xã hội thời Hùng Vương trong quá khứ người Việt đã bước từng bước qua 4 nấc thang phát triển Hồng – Lạc – Âu – Triệu ứng với 4 danh xưng thủ lĩnh thiên hạ là Tổ – Phụ – Vương – Đế.

Thời đại Hùng Vương bắt đầu từ khi núi sông Bách Việt có Tổ. Hoàng Đế Hữu Hùng Đế Minh 5.000 năm trước mở nước họ Hồng Bàng, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ, là ngọn núi Thái Sơn đột ngột vươn lên từ trong bóng đêm thủa hồng hoang chập chững của con người Việt. Tam vị Hùng Vương Sơn nối nhau kế trị, đạo thánh thần minh, vạn đời tín ngưỡng là những vị Thánh Tổ ngự ở đền Hùng trên núi Hy Cương. Sơn triều Hùng Vương Thánh Tổ được nối tiếp bởi Tản Viên Sơn, vị Kinh Dương Vương sơ khai Nam Việt, Nam Thiên Thánh Tổ, gậy thần sách ước lập nên thiên hạ nước Xích Quỷ, đóng đô miền Ngũ Lĩnh – Ba Vì, vượt lên thiên tai địch họa, mở mang bách nghệ, đặt nền móng vạn thế thịnh vượng cho nhân dân Việt.

Bước ngoặt của xã hội Việt 4.000 năm trước được đánh dấu bằng Vua cha Lạc Long Quân, xuất thế Rồng bay biển Bát, theo bờ biển thoái mà khai mở vùng Động Đình ven sông biển, dùng cày cấy và đánh cá mà tạo sự tự chủ cho cuộc sống của con người đối với thiên nhiên. Xã hội Việt bắt đầu thời kỳ thị tộc Phụ đạo, cha truyền con nối. Lịch sử ghi rằng Lạc triều truyền 18 đời, mở đất theo hướng Đông Nam xa vạn dặm. Hai triều đại Hạ Thương – họ Việt Thường mang dấu ấn thời theo cha Lạc Long xuống biển, kéo dài ngàn năm, cho tới thời Hùng Duệ Vương thì biên giới phía Nam (Bắc nay) đã vượt qua Dương Tử sang đến Hoàng Hà.

Song song với dòng theo Cha Rồng xuống biển Đông, dòng dõi trăm trứng theo Mẹ Tiên lên núi cũng làm nên kỳ tích, vượt dải núi Ai Lao ở Vân Nam, tiến đến Ba Thục ở Quý Châu, làm chủ toàn bộ miền Tây thiên hạ. Tới thời Lạc Vương đời cuối là Hùng Duệ Vương vào hơn 3.000 năm trước, Thục chủ Âu Cơ, theo điềm Phượng gáy non Kỳ, lấy văn đức làm gốc rễ, thụ nhận thiên mệnh, nắm được triết lý nhân sinh mà tác Dịch, tượng trưng trong bánh chưng bánh dày, thay thế Lạc Vương mà dựng nước Âu Lạc, lên ngôi là Thiên tử của toàn Thiên hạ. Chu Vương – Lang Liêu của nước Văn Lang đã phân phong trăm chư hầu, lập ra trăm quan, đặt ra trăm họ, phong cho trăm thần. Thục triều đã tạo dựng nên đất đai và các dòng tộc Bách Việt, hình thành nếp gấp về văn hóa và các vùng lãnh thổ lâu dài cho mãi tới ngày nay.

Thiên hạ với thập nhị hành khiển.

Trăm dòng Bách Việt có lúc thịnh lúc suy, trải qua thời Xuân Thu, Chiến Quốc hợp lại dần thành những Ngũ Bá, Thất Hùng. Để đến thế kỷ III trước Công nguyên, Triệu Đà diệt An Dương Vương, chiếm lục quốc, rồi xưng Hoàng Đế, thống nhất Trung Hoa, phân chia quận huyện mà trị. Nhà Tần Triệu duy trì không được lâu, nhưng chế độ nhất thống Trung Hoa đã là xu thế không thể đảo ngược. Triệu Vũ Đế Lưu Bang từ một thường dân áo vải tranh hùng với Hạng Sở rồi một lần nữa gồm thâu Trung Quốc, khai cơ Vạn Xuân. Phương Nam được phong cho hậu duệ nhà Chu là Nam Việt Vương Triệu Quang Phục cai quản. Cao Tổ và Lữ Hậu mất, Triệu Quang Phục tự xưng Đế, đi xe hoàng ốc, cắm cờ tả đạo, phân đôi Thiên hạ cùng nhà Hiếu. Nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn phát triển cực thịnh dưới thời quốc gia Nam Việt. Tới thời Hiếu Vũ Đế có hùng tài đại lược, chiếm lại đất phương Nam, đuổi Triệu Việt Vương cùng đường nơi cửa khẩu Đại Nha. Trung Hoa nhất thống tập quyền về một mối, đánh dấu giai đoạn phát triển xã hội cao nhất trong thời đại Hùng Vương.

Lịch sử chân thực của thời đại Hùng Vương khẳng định dòng giống con Rồng cháu Tiên của người Việt và khắc ghi công ơn tiên tổ đã làm nên nền văn minh thuộc vào hàng sớm nhất trên thế giới, với phạm vi bao trùm khắp trời Đông. Nguồn cội và công ơn này mãi còn trong tâm thức người Việt.

Câu đối ở nghi môn đền Thượng trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh:

Thông thông uất uất, trung hữu lăng yên tẩm yên, Long phụ Tiên mẫu chi tinh linh, khởi hựu hậu nhân võng khuyết

Cổ cổ kim kim, kiến thử sơn dã thủy dã, Thánh tổ Thần tôn chi sáng tạo, ô hô tiền nhân bất vong.

Dịch nghĩa:

Xanh xanh tốt tốt, trong có này lăng này tẩm, là tinh linh của Cha Rồng Mẹ Tiên, đó giúp đời sau không thiếu

Xưa xưa nay nay, thấy đây kìa sông kìa núi, là sáng tạo bởi Tôn Thần Tổ Thánh, hỡi ôi người trước mãi còn!

Rồng trong tâm thức hướng biển của người Việt cổ

Truyền thuyết khởi nguồn Họ Hồng Bàng kể 50 người con theo cha Rồng Lạc Long Quân đi về phía Đông xuống biển là các Thủy thượng Linh thần. 50 người con theo mẹ Tiên Âu Cơ lên vùng miền núi phía Tây là các Sơn thần. Như thế rồng là hình tượng đã đi vào trong văn hóa Việt ngay từ buổi đầu dựng nước với tâm thức hướng ra khai phá miền biển Đông.

1. Ca dao xưa:

Mồng bốn cá đi ăn thề

Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Truyền thuyết Việt về Rồng đầu tiên là trong điển tích cá vượt Vũ Môn hóa rồng. Đây là sự tích kể về thời vua Kinh Dương Vương khởi dựng nước Nam. Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh, người đã chống lại nước lũ ngập ngang trời thời Đường Nghiêu. Vũ Môn nơi Tản Viên Kinh Dương Vương trị  thủy là dải Thác Bờ gập ghềnh hiểm trở trên dòng sông Đà. Hình ảnh cá hóa rồng còn lưu lại ở nhiều đền thờ Tản Viên Sơn Thánh quanh vùng Ngũ Lĩnh núi  Ba Vì. Cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương nghìn đời của bậc tiền nhân thời lập quốc, đã tìm tòi tri thức về thế giới quan và nhân sinh quan mà nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

Người đã kết duyên cùng với Kinh Dương Vương sau cuộc gặp gỡ bên bờ Động Đình là Thần Long Nữ. Tản Viên Kinh Dương Vương  đã cứu được con rắn, con của Long vương Động Đình, rồi đi xuống Thủy cung mà lấy được cuốn sách ước. Mẫu Thần Long đại diện cho tộc người sinh sống ở vùng sông biển ở phía Đông, xưa được gọi là hồ Động Đình. Câu chuyện Mẫu Thoải (Mẫu Thủy phủ) còn được kể trong truyền thuyết về thư sinh Liễu Nghị, đã xuống Thủy cung truyền thư báo tin mà cứu được Xích Lân Long Nữ. Liễu Nghị như thế là một cách kể khác của Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh. Mẫu Thoải và Liễu Nghị được thờ như các vị thủy thần có khả năng ngăn mưa chống lụt ở chùa Ông (chùa Sộp) và chùa Bà (chùa Dựa) tại Thanh Miện, Hải Dương.

2. Kinh Dương Vương lấy mẫu Thần Long sinh ra Lạc Long Quân nên Lạc Long Quân thừa hưởng vị trí quân chủ của cả dòng Lạc bên cha và dòng Long bên mẹ. Lạc Long Quân đứng đầu các tộc người vùng sông biển nên khi hóa sinh về biển được tôn là Vua cha Bát Hải Động Đình, là vị vua chủ của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Rồng đã trở thành biểu tượng vật tổ của người Việt vào thời khai phá miền Thủy phủ Động Đình.

Tín ngưỡng thờ những vị thủy thần Long Vương rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng ven biển, trải dài qua Thanh Hóa, Nghệ An, vào tới tận Hà Tĩnh. Ở khu vực ven biển huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh có một loạt các di tích thờ Tam Lang Long Vương như Miếu Ao Thạch Trị, đình Đại Hải… Đặc biệt nhất là đình Thạch Lặc nằm ngay trên di chỉ khảo cổ tiền sử cồn sò, nơi đã phát hiện được di cốt người Việt cổ với niên đại 4000 – 5000 năm trước. Đây là bằng chứng rất rõ ràng rằng các vị Long Vương là những quân chủ vùng ven sông biển, lấy nghề đánh bắt thủy hải sản mà sinh sống từ thời kỳ dựng nước trên 4000 năm trước.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả cho biết những người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển được gọi là các Thủy thượng Linh thần. Chữ Linh có phát âm khác là Lung, cũng là Long, chỉ rồng. Linh Lang tức là Long Vương. Vị thần hồ Tây Uy Linh Lang do đó chính là vua cha Lạc Long Quân của thời sơ sử. Hồ Dâm Đàm là đầm rồng của Thủy quốc Động Đình, nơi Long Quân cùng với những người anh em trấn trị tại đó. Sự tích này còn ghi trong Lĩnh Nam chích quái về việc Long Quân cùng Lục bộ Thủy phủ dâng nước diệt con cáo chín đuôi ở Hồ Tây. Long Quân còn là thần chính khí Long Đỗ, vị thành hoàng của kinh thành Thăng Long xưa.

3. Hình tượng rồng đã xuất hiện từ rất sớm trên những di vật khảo cổ đồ đồng thời Ân Thương (trên 3000 năm trước). Thường gặp nhất là hình rồng 1 chân, gọi là quỳ long, rất phổ biến trên các đồ đồng từ thời kỳ này. Truyền thuyết Long sinh cửu tử với 9 đứa con của rồng là 9 cách thể hiện hình tượng rồng trên các đồ dùng với những chức năng khác nhau. Ví dụ như hình mặt thú Thao thiết thường gặp trên các đỉnh đồng xưa. Hình Tiêu đồ với mặt rồng ngậm vòng, thường dùng trên các bình đồng làm quai cầm hay tay nắm cửa. Nhai tí là tên gọi cho hình rồng đúc trên chuôi các loại vũ khí như giáo, dao găm… Công phúc là loại rồng dẫn thủy, gặp trên các ấm đồng có vòi rót dài hình rồng… Rồng đã biến hóa vào mọi mặt của đời sống người Việt cổ.

Trong văn hóa tín ngưỡng, các vị Long Vương còn gặp ở một dạng thể hiện khác. Ở Nhật Tân có sự tích bà phi của vua Diệu Đế sinh ra một bọc, đem để ở bãi Nhật Chiệu, rồi nở thành 7 con rồng bay lên trời. 7 con rồng này là thần Uy Linh Lang và Đoài hồ thất giáp (7 giáp của hồ Tây). Tại bãi này người ta trồng 7 cây hoa gạo (mộc miên) để tưởng nhớ đến các vị thần rồng. Ngày sinh của Uy Linh Lang và những người anh em cùng bọc của mình là vào 10 tháng 2 Âm lịch. Đây cũng là lúc hoa gạo vào mùa nở đỏ rực ở bên bờ sông Hồng. Những cây hoa gạo nở hoa đỏ tháng 2 là hình ảnh rất sống, rất thực của Rồng bay lên trên đất Thăng Long.

Ở Long Hưng điện tại xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên có sự tích vua Triệu Đà đi qua nơi đây, thấy rồng bay lên nên đã đặt tên là Thăng Long. Tên gọi Thăng Long của vùng Long Biên – Hà Nội như thế có từ thế kỷ 3 trước Công nguyên. Thăng Long là hình ảnh “Phi long tại thiên” của hào từ thứ năm trong quẻ Càn của Kinh Dịch. Đây là hào từ chỉ sự thăng hoa cao nhất của người quân tử. Rồng bay lên tức là trạng thái thành đạt, khi vua lên ngôi Hoàng đế, lập nên một triều đại.

Gắn với vua Triệu Vũ Đế còn có là di vật cổ là tượng một con Rồng đá lớn, cao bằng người, ở trên núi Châu Sơn (nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh). Con rồng đá này được tạo hình có mỏ chim, có cánh như thể hiện sự kết hợp giữa rồng và phượng. Con Rồng đá núi Châu Sơn là linh vật của ở đền thờ Triệu Vũ Đế có từ thời Hán. Nó là di vật chứng minh cho sự kiện Triệu Đà khởi nghĩa kháng Tần, lập căn cứ ở vùng núi này.

4. Ở một hướng phát triển khác, trong dòng tộc người Việt theo mẹ Âu Cơ lên núi, rồng được thể hiện khá nhiều trên các đồ đồng văn hóa Đông Sơn. Những hình rồng ở đây được gọi là Giao long. Hình Giao long thường gặp thành từng cặp ở trên các lưỡi rìu, lưỡi giáo, trống đồng, đồ trang sức… của văn hóa Đông Sơn. Ở đây Giao long được thể hiện như một loài thú có 4 chân, đuôi như có lông, trải dài hoặc cuộn, có mõm dài, có mào. Tiền thân của hình tượng Giao long có thể là loài cá sấu (hay thuồng luồng), vốn là loài bò sát lớn sinh sống phổ biến ở các vùng sông nước miền Bắc nước ta vào thời trước Công nguyên. Sự xuất hiện của hình tượng rồng Lạc (giao long) này cùng với hình chim Âu trên các đồ đồng Đông Sơn chỉ rõ sự hợp nhất hai dòng Âu – Lạc, lên núi xuống biển vào thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên.

Liên quan đến hình tượng Rồng lịch sử còn ghi vua Triệu Việt Vương khi ẩn trong đầm Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) đã được một vị thủy thần là Quý Minh Đại vương, cưỡi rồng vàng hạ xuống, tháo móng rồng trao cho để làm thành bảo bối mũ đâu mâu. Oai lực của đâu mâu móng rồng chỉ vào đâu là giặc ở đó tất tan. Những nơi thờ Triệu Việt Vương ở vùng đầm Dạ Trạch luôn thờ cùng với các vị thủy thần tại đây như Quý Minh Đại vương hay Linh Lang Đại vương. Những ngôi đình, ngôi đền cổ thờ các vị thần này được thể hiện bằng những bức chạm rồng thành hàng bầy, vô cùng sinh động. Phải chăng đó là trạng thái “Quần long vô thủ” như hào từ thứ 6 của quẻ Càn trong Kinh Dịch nói tới, chỉ sự thái bình thịnh vượng?

Hiện vật khảo cổ tiêu biểu thường gặp sau thời kỳ nước Âu Lạc là các gương đồng. Những chiếc gương thời Hán được chôn theo người chết với ý nghĩa dẫn đường cho vong linh về với tiên giới, về với tổ tiên. Trên các gương đồng thời Hán, rồng được thể hiện là Thanh Long, một trong bốn loài linh thú (tứ linh). Chữ viết trên gương đồng ghi: Rồng trái, hổ phải trừ đi điều xấu. Con rồng trên gương đồng như thế là biểu tượng của sự cát tường, may mắn. Cùng thời kỳ này còn hay gặp hình ảnh các vị chân nhân cưỡi rồng bay trên mây. Đây là thể hiện sự đắc đạo phi thăng thành Tiên. Hình tượng cùng chủ đề này gặp ở trên mảng chạm tại đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội), khắc họa những vị tiên có thân rồng. Chủ đề rồng thời kỳ đầu Công nguyên gắn liền với quan niệm tu tiên của Đạo giáo.

Từ khi Kinh Dương Vương trị thủy, vượt Vũ Môn hóa rồng, mẫu Thần Long và vua cha Lạc Long Quân dẫn con dân người Việt chinh phục miền sông nước ven biển Đông, hình tượng rồng đã đi vào tâm thức tín ngưỡng của người Việt, là biểu trưng cho nhiều mặt của đời sống như ăn, uống, làm nông nghiệp, thủy lợi, chiến đấu bảo vệ quê hương. Rồng bay lên trên đất Thăng Long là khi người Việt đạt đến chế độ phát triển tổ chức xã hội cao nhất, Triệu Vũ Hoàng Đế nhất thống sơn hà, hải nội. Những vị chân nhân đắc đạo cưỡi rồng phi thăng bất tử thành tiên. Con rồng biểu tượng vừa cho sự chinh phục miền sông nước biển Đông thời lập quốc, vừa là sự thăng hoa tinh thần của xã hội người Việt khi thiên hạ thống nhất một dải.

Bài viết đăng trên Tạp chí Năng lượng mới số Tết năm Giáp Thìn 2024.