Đằng Vương gác ấy giờ đâu nhỉ?

Vương Bột, nhà thơ thời Sơ Đường vừa được ông Tập Cận Bình nhắc đến trong bài phát biểu khi so sánh với Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc lên núi làm thơ. Nhưng có lẽ ông Tập còn chưa biết Vương Bột làm bài thơ để đời của mình là bài Đằng Vương các tự là ở đâu và Vương Bột là người ở đâu…
Bài Đằng Vương các tự được Vương Bột viết khi trên đường đi thăm cha đang làm quan ở Giao Châu. Vương Bột ghé vào dự tiệc ở gác Đằng Vương tại đất Hồng Châu. Ngày nay người ta xây gác Đằng Vương và lập tượng Vương Bột ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Nhưng nếu đọc vào bài thơ này sẽ thấy gác Đằng Vương được nói đến phải nằm ở một chỗ hoàn toàn khác…
Bài Đằng Vương các tự mở đầu bằng việc “kê khai vị trí” của nơi làm thơ:
Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ.
Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư.
Đọc mấy câu này thấy rất giống với… đoạn đầu trong các thần tích ở Việt Nam, cũng bắt đầu nêu địa danh, rồi nói tới nước ta ở về phương Nam, lấy sao Dực sao Chẩn định ranh giới. Câu “Tinh phân Dực Chẩn” đã chỉ rõ ngay rằng nơi Vương Bột làm bài thơ này là ở phương Nam, ứng với vị trí vùng đất Việt Nam ngày nay chứ không phải ở Giang Tây, Trung Quốc.
Vậy Nam Xương và Hồng Châu ở Việt Nam là ở đâu? Xin thưa, Nam Xương là khu vực huyện Lý Nhân (Hà Nam). Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (người Hải Dương thời Lê Sơ) có hẳn một chuyện Người con gái Nam Xương, có chồng đi đánh giặc Chiêm, khi về hiểu nhầm vợ, gây nên oan gia rắc rối… Nam Xương là ở tỉnh Hà Nam.
Còn Hồng Châu vốn là tên vùng đất quanh tỉnh Hưng Yên. Ở ngay Kim Động, Hưng Yên còn có thờ vua Mây họ Phạm. Vị này được Lĩnh Nam chích quái chép trong truyện Vị thần xứ Đằng Châu, đã hiển linh thời Tiền Lê – Lý. Đằng Vương trong thơ của Vương Bột là nói tới có thể là Đằng Châu Phạm Phòng Ất ở Kim Động, Hưng Yên.
Thời Mạt Đường có Khúc Thừa Dụ là hào trưởng đất Hồng Châu đã dành quyền tự trị ở thành Thăng Long, khởi đầu nền tự chủ dân tộc. Việt sử thông giám cương mục cho biết: “Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu”. Đền thờ ba vị họ Khúc tại quê nhà ở xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, Hải Dương.
Cần biết rằng gác Đằng Vương là nhà lầu có gác do Lý Nguyên Anh thời nhà Đường xây không chỉ ở Giang Tây, mà còn ở một loạt các nơi khác như ở Tứ Xuyên và Sơn Đông. Rất có thể tại đất An Nam Lý Nguyên Anh đã cho xây một gác Đằng Vương ở gần khu vực thần Đằng cổ tích của Hưng Yên – Hồng Châu.
Truy xa hơn nữa, Hồng Châu bắt nguồn từ vùng đất Hoa Đào Trang hay phủ Hạ thời Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình, nay thờ ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Theo truyền thuyết Vĩnh Công Bát Hải Động Đình xuất thế cùng mấy người anh em, là những vị quan lớn trong Công đồng Tứ phủ. Trong đó vị Quan lớn đệ Tam thờ ở đền Lảnh, nằm giữa Hưng Yên, Phú Xuyên và Hà Nam. Quan lớn đệ Ngũ thờ ở Ninh Giang gần quê Khúc Thừa Dụ. Hồng Châu như thế có thể là cả một vùng đồng bằng rộng lớn nơi sông Hồng đổ ra biển gồm Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng.
Hong Chau

Vị trí Hồng Châu thời Đường.

Trong câu Địa tiếp Hành Lư của bài Đằng Vương Các tự thì Hành Lư có thể là hành Hỏa trong Ngũ hành, chỉ phương Nam (Lư = Lô = Lửa = La). Đây không phải núi Hành, núi Lư vì câu này đối ứng với câu trên Tinh phân Dực Chẩn. Ở trên dùng sao để định phạm vi thì ở dưới phải dùng những dịch tượng chỉ phạm vi lớn, chứ không thể dùng địa danh một hai ngọn núi.
Hai câu thơ tiếp theo của bài Đằng Vương Các tự:
Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ, khống Man Kinh nhi dẫn Âu Việt 
Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Như cổ áo của ba sông, vòng đai của năm hồ; khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt.
Vẻ rực rỡ của vật chính là đồ quý báu của trời; ánh sáng vằn rồng chiếu lên khu vực sao Đẩu sao Ngưu.
Vùng “ba sông năm hồ” là ở đâu?
Câu đối ở đền Hùng, Hy Cương, Phú Thọ:
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Dịch:
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.
Tam Giang là nơi ba con sông Đà, sông Lô và sông Thao hội tụ tại Việt Trì. Hay tỉnh Vĩnh Phúc xưa gọi là phủ Tam Đái. Đây là khu vực đất tổ Hùng Vương.
Câu “Khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt” thì quá rõ. Man Kinh là vùng đất người Kinh hay người Lạc Việt. Âu Việt là vùng phía Tây Bắc Việt. Man Kinh và Âu Việt hợp lại chính là nước Âu Lạc thời cổ. Nơi “tiếp dẫn miền Âu Việt” thì không thể nào lại ở tận Giang Tây, Trung Quốc được.
Phạm Sư Mạnh thế kỷ 14 có bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng.
Dịch:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang
Kiểu ngoài Bách Man về Cổ Lũy
Quốc Tây chống cự tráng Chân Đăng.
Bài thơ này có đủ cả vùng Tam Giang và Bách Man (Man Kinh – Âu Việt) như trong thơ Vương Bột.
Sang câu “long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư”. Thành ngữ “khí xạ Ngưu Đẩu” được dùng như trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão thời Trần: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu“. Ngưu Đẩu là những chòm sao của phương Bắc. “Xạ Ngưu Đẩu” chỉ ra rằng Vương Bột đang ở miền Nam, đối nghịch lên với phương Bắc.
Đến câu thơ:
Đài hoàng chẩm Di Hạ chi giao, tân chủ tận đông nam chi mỹ.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Đài, hào nằm gối lên giao giới vùng Di, Hạ; khách, chủ đều là những vẻ đẹp miền đông, nam.
Bàn đến vùng Di Hạ thì phải khảo cứu câu đối ở đình Chèm thờ Lý Ông Trọng:
Thiên thùy nguyên tinh, Di Hạ lẫm hùng uy, đồng tượng thanh cao Tần Bắc trấn
Địa lưu cố trạch, âm dương đồng hiển tướng, kim chương trù điệp Việt Nam phong.
Dịch:
Trời rủ khí nguyên, Di Hạ sợ hùng oai, tượng đồng thanh cao trấn Tần Bắc
Đất lưu nền cũ, âm dương cùng hiện tướng, sách vàng dày chất cõi Việt Nam.
Đất Di Hạ là nơi Lý Ông Trọng trấn giữ. Di Hạ thiết Dạ, là vùng đất Dạ Lang của người Ai Lao Di. Đây là khu vực phía Tây Bắc của Việt Nam (Vân Nam, vùng Tây Bắc). Câu thơ của Vương Bột ý nói đài gác nằm giao giới với vùng Tây Bắc, còn khách và chủ thì ở vùng Đông Nam. Vùng Đông Nam chính là đất Hồng Châu ở hạ lưu sông Hồng. Giang Tây của Trung Quốc làm gì có chỗ nào giáp với Di Hạ, và cũng không nằm ở phía Đông Nam.
Tới câu thơ:
Gia quân tác tể, lộ xuất danh khu
Đồng tử hà tri, cung phùng thắng tiễn.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Nhân gia quân làm quan tể tại Giao Châu, tôi đi thăm miền nổi tiếng đó
Kẻ đồng tử này đâu biết có việc chi, hân hạnh gặp buổi tiệc linh đình.
Vương Bột đi thăm cha làm quan ở Giao Châu và đến chơi đất Hồng Châu ở Hà Nam là hoàn toàn hợp lý. Còn đi Giao Châu mà lại rẽ vào Giang Tây thì đúng là phải có phép “Trùng cửu” mượn gió giời mới có thể đến được. Có thể thư tịch cổ đã lầm lẫn giữa Giang Tây là đất Tĩnh Hải thời Đường với tỉnh Giang Tây ngày nay. Tên gọi Giang Tây còn lưu lại trên những viên gạch Giang Tây quân của thời Đường bên dưới Hoàng thành Thăng Long, thành Hoa Lư hay thành nhà Hồ, và cả trên đất Thái Thụy, Thái Bình.
Những đoạn thơ tả cảnh tả tình tiếp theo trong bài Đằng Vương Các tự không chứa đựng thông tin về địa danh nên xin không bàn. Câu thơ “đắc” nhất “Ráng chiều với cò lẻ cùng bay” nghe giống cảnh vùng miền quê đồng bằng Bắc Bộ có cò bay trên ruộng lúa hơn là ở tận Giang Tây.

Chỉ bàn thêm hai câu:
Vô lộ thỉnh anh, đẳng Chung Quân chi nhược quán
Hữu hoài đầu bút, mộ Tông Xác chi trường phong.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Không có đường xin dải dây dài, như tuổi niên thiếu của Chung Quân
Nhưng có hoài bão vứt cây bút, yêu mến cơn gió dài của Tông Xác.
Tướng Chung Quân thời Hán xin dây đòi trói vua Nam Việt, tức là vua Triệu nước Nam Việt từ Triệu Đà. Ở đây nói tới thời Hiếu Vũ Đế cử Lộ Bác Đức đánh nước Nam Việt.
Còn vị Tông Xác thì không xa lạ gì với người Việt vì đây là là phó tướng của Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp thời Tiền Tống. Vị này lúc đánh Lâm Ấp về không hiểu bị ma ám hay sao mà lại chỉ lấy mỗi một chiếc áo và một cái lược về… làm kỷ niệm.
Vương Bột không tự nhiên nhắc tới 2 nhân vật Hán Chung Quân và Tông Xác như những tấm gương để noi theo. Vì đây là 2 người liên quan đến lịch sử khu vực phía Nam, nước Nam. Vương Bột có thể cũng là người Nam. Với tuổi trẻ khi làm bài Đằng Vương Các tự mà lại thông thạo lịch sử địa lý vùng phương Nam như vậy thì khả năng Vương Bột là người ở vùng này, chứ không phải ở nơi khác đến.
Vương Bột quê ở Long Môn. Long Môn không phải ở tận Sơn Tây, Trung Quốc, quá xa về phía Bắc để cha Vương Bột đi làm quan ở Giao Châu. Người Sơn Tây nói tiếng Trung… ngọng như tiếng Quan thoại ngày nay, làm sao làm được thơ Đường?
Long Môn có thể là khu vực sông Đà đổ vào sông Hồng, theo truyền thuyết là nơi Sơn Tinh phá núi khơi thông dòng trị thủy. Vương Bột quê ở miền núi Tản sông Đà thì cha làm quan ở Giao Châu và thông thạo địa hình vùng Tam Giang là hoàn toàn hợp lý. Từ nơi đó đi về Hưng Yên – Hà Nam xuôi theo sông Hồng thì mất 2 ngày là đúng. Đằng Vương Các ở Lý Nhân hoàn toàn có lý.
Cuối cùng, cái chết của Vương Bột ngoài biển, thi thể dạt vào Hội Thống ở Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An, được người dân nơi đây lập đền thờ, cả cha và con, càng chứng tỏ Vương Bột là người Việt, ở đất Việt và chết cũng về đất Việt.
Câu đối ở nơi thờ Vương Bột và cha là Vương Phúc Cơ tại Nghệ An:
Long Môn văn phái ba lưu viễn
Ngư Hải hương yên tuế nguyệt trường.
Dịch:
Long Môn văn phái sóng xa đến,
Ngư Hải khói hương năm tháng còn.

Di tượng Vương Bột ở xã Nghi Xuân, Nghệ An (Theo Tạp chí Văn hóa Nghệ An).

Văn Nhân xin thêm ý nhỏ…

…Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư…
Hành Lư rất có thể là ‘chữ tác đánh chữ tộ’ của Hồng Lô tức sông Hồng và sông Lô, là 2 trong 3 con sông Hồng Đà Lô mà hình thể tạo ra 3 giải lụa trong “Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ”  hoặc “Tam giang khâm đái thượng triều tôn”.

Nhiều tư liệu của Trung Quốc đã viết sông Lô thành ra Lư giang.

Trong văn hóa Việt hình thể uốn lượn của con sông được ví như con rồng. Long Môn chỉ nghĩa là cửa sông nhưng trong thư tịch cổ được dùng như 1 địa danh. Long Môn ở Giao chỉ là nơi Tam Giang đổ nước vào cái đầm lớn mà sau thành ra đồng bằng Bắc bộ ngày nay. Đấy là miền đất thiêng nơi vua Đại Vũ bạt cả 1 phần quả núi tên là ‘Long Môn sơn’ để khơi thông dòng nước hoàn tất việc trị thủy như đã chép trong sách Thượng thư.

Đường vương, vương đất Đường, chủ của Đằng vương các chỉ có thể là vương ở 1 trong 2 nơi:

– Đất Đường thời quốc gia sơ khai tức tính từ Hoàng Đế lập quốc cho đến Đại Vũ là miền Tam Giang. Lúc này Đồng bằng Bắc Bộ còn là cái đầm nước lớn gọi là ‘giồng’, sau bị chữ nghĩa hóa thành ra đầm Vân – mộng (vân mồng thiết vồng – giồng). Đầm Vân Mộng thông với Động Đình hồ chính là vịnh Bắc Việt ngày nay.

– Đất Đường thời Tam đại là miền Giang Tây ngày nay. Đằng – Đường – Thường chỉ có nghĩa là phương Nam xưa theo Dịch học (ngược với hiện nay). Sử Hùng Việt cho Trường Giang là ranh giới cực Nam (xưa) thời nhà Thương vì thế đất ven sông này gọi là đất Đường. Miền này sau gọi là Giang Nam, Giang Nam cùng với Lĩnh Nam tạo thành Hoa Nam. Chính vì thế Mông Cổ gọi cư dân nơi này là người Nam, phân biệt với người Bắc (nay) Trường Giang là người Hán.

Sự thực về thủy tổ của dòng họ Ban – Phan

Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào.
Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công. Quý Tôn Công là con thứ (Quý là thứ ba) của Tất Công Cao. Tuy nhiên, vấn đề chính là ở chỗ Tất Công Cao là người ở đâu?
Một ông họ Phan ở Hà Nam Trung Quốc phát biểu: Chỉ cần trong tộc phả có ghi “thủy tổ Quý Tôn Công” là đủ để chứng minh họ Ban Hàn Quốc có gốc gác từ tỉnh Hà Nam. Vị họ Phan Trung Quốc này hơi “lạc quan” quá. Theo sách vở ghi lại Tất Cao Công đến từ đất Huỳnh Dương, nhưng Huỳnh Dương này không chắc là ở Hà Nam – Trung Quốc.
Tư liệu họ Phan ở Việt Nam chép: Theo truyền thuyết vào đầu đời nhà Chu tại một bộ tộc phía Nam sông Trường Giang gần hồ Phiên Dương, vùng đất Việt Thường thuộc Dương Việt (Giang Tây), có người tù trưởng giỏi nghề cấy lúa, biết lợi dụng sông ngòi, lấy nước vào ruộng, tránh được nạn hạn hán làm cho mùa màng tươi tốt, nhân dân no đủ, ai cũng mến phục. Tin ấy truyền về vua Chu, Chu bèn mời người đó về triều giúp đỡ nhân dân cách dẫn nước vào ruộng cấy lúa nước, dần dần nhân dân sung túc, thiên hạ thái bình. Ðể đền ơn, lúc người ấy về bộ tộc, vua Chu cho được hưởng ruộng lộc tức là thái điền ở bộ tộc đó và đặt tên họ ghép 2 chữ Thái điền với ba chấm thủy đọc là chữ “Phan”. Họ Phan bắt đầu ra đời từ đấy. Người tù trưởng đó là Tất Công họ Phan, bộ tộc Phan.
Vậy đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, quê của Tất Công là ở Hà Nam hay Giang Tây, hay ở chỗ khác nữa?…
Theo chính sử Trung Hoa, Tất Công Cao mang họ Cơ, là con thứ 15 của Chu Văn vương Cơ Xương, em khác mẹ của Chu Vũ Vương Cơ Phát. Khi Cơ Phát lên nối nghiệp cha, ông giúp anh đánh đổ nhà Ân, dựng lên nhà Chu. Sau khi Chu Vũ vương mất, ông theo giúp Chu Thành Vương. Khi Chu Thành Vương sắp qua đời, ủy thác thái tử Chiêu cho Tất Công Cao và Thiệu Công Thích. Cơ Chiêu lên nối ngôi, tức là Chu Khang Vương. Thiệu Công Thích cùng Tất Công Cao hết sức phò tá Khang Vương.
Tất Công là người đã nối nghiệp Chu Công và Quân Trần cai quản Lạc Ấp, nơi an trí “đám dân ngoan ngạnh” của nhà Ân. Kinh Thư có bài Tất mệnh, là lời của Chu Khang Vương, nói về việc này:
Than ôi! Cha Thái sư! Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không nhu, đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần hòa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.
Ở đây Chu Khang Vương gọi Tất Công là “Cha Thái sư”. Vì công đức cai quản Lạc Ấp, hoàn tất (“thành toàn”) được công việc yên dân nên Cơ Cao được ban gọi là “Tất Công”.
Đặc biệt tại nhà thờ họ Phan Văn ở thị trấn Yên Thành (Nghệ An) tới nay còn lưu được câu đối về thủy tổ Tất Công:
采田氏自畢公芳留統譜
松嶽降爲崇郡恩諭髙門
Thái Điền thị tự Tất Công, phương lưu thống phả
Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận, ân dụ môn cao.
(Phiên âm và biên chép chữ Nho từ tư liệu của họ Phan đã chỉnh lý dựa theo nghĩa)
Dịch:
Họ Thái Điền từ Tất Công, tiếng thơm lưu truyền đời mãi
Thần Tùng Nhạc trị Sùng Quận, ơn đức tỏ tộc môn cao.
Thái Điền 采田 là chiết tự của họ Phan 潘 như tư liệu của họ Phan ở trên đã cho biết. Ở vế đối đầu họ Phan (Thái Điền) bắt đầu từ Tất Công thì đã rõ. Nhưng còn vế đối sau “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” thì phải hiểu thế nào?
Xem lại diễn biến đầu thời Chu. Khi Chu Văn Vương Cơ Xương khởi nghiệp đã chiếm nước Sùng (của Sùng Hầu Hổ) rồi đóng đô ở đất Phong. Nước Sùng chính là khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay. Đoạn sử này được truyền thuyết Việt chép là Âu Cơ quê ở Lăng Xương (Cơ Xương) lấy Sùng Lãm (Lạc Long Quân), rồi đem các con về Phong Châu lập nên nước Văn Lang (tức là Văn Vương).
Sau khi Chu Vũ Vương, truyền thuyết gọi là Vũ Ninh, cùng Thánh Gióng diệt nhà Ân, dời kinh đô về đất Cảo, thì đất Sùng là Lạc Ấp, nơi nhà Chu an trí đám ngoan dân của nhà Ân. Tất Công là vị quân chủ thứ 3 tại Lạc Ấp nên trong vế đối mới nói đến việc cai trị Sùng Quận (“vi Sùng Quận”). Bản thân tên gọi Cao Công cũng có thể là từ chữ Sùng mà ra vì Sùng chữ Nho nghĩa là Cao.
Xét “sơ yếu lý lịch” của Tất Công như trên thì đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, nơi xuất xứ và thành nghiệp của Tất Công, phải là ở Lạc Ấp. Lạc Ấp còn gọi là Lạc Dương. Dương là hướng Đông. Lạc Dương là kinh đô của thời Đông Chu sau đó. Nơi Tất Công làm nên sự nghiệp là ở đất Sùng – Cao tại Lạc Dương – Bắc Việt, chứ chẳng phải ở tận Hà Nam hay Giang Tây.
Đôi câu đối ở nhà thờ họ Phan tại Yên Thành còn cho một thông tin bất ngờ khác. “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” ứng với việc Tất Công cai quản đất Sùng. Như vậy Tất Công còn được gọi là “Tùng Nhạc”. Thông tin này liên hệ tới một vị Thủy tổ khác của họ Phan Việt Nam là Phan Tây Nhạc.
Theo truyền thuyết Việt thì Phan Tây Nhạc là một vị tướng theo Sơn Tinh giúp vua Hùng đánh giặc. Ở Hà Nội 2 làng Hòe Thị và Thị Cấm của xã Xuân Phương, Từ Liêm đã lập Phan Tây Nhạc làm thành hoàng làng. Lễ hội của 2 làng này còn lưu giữ tục lệ chạy thi – kéo lửa – thổi cơm, tương truyền do vợ của ông là Hoa Dung công chúa từng tổ chức để tuyển người giỏi nuôi quân. Phan Ông Tây Nhạc cùng vợ sau khi chiến tranh kết thúc về làng dạy nhân dân ở khu vực Phương Canh cấy lúa, dệt vải và sửa sang nghi lễ phong tục… 

Thi CamHội làng ở đình Thị Cấm.

Câu đối ở đình Thị Cấm:
貉鴻神將四千餘載聲靈水之汲與火之鑽漿食之爭迎猶彷彿之故壘行宮此地
瀘傘仙墟七十二祠胖嚮士於朝及農於埜工賈於廛市寔頂戴於陽扶陰助其間
Lạc Hồng thần tướng tứ thiên dư tải thanh linh, thủy chi cấp dữ hỏa chi toàn, tương thực chi tranh nghênh, do phảng phất chi cố lũy hành cung thử địa
Lô Tản tiên khư thất thập nhị từ phán hưởng, sĩ ư triều cập nông ư dã, công cổ ư triền thị, thực đính đái ư dương phù âm trợ kỳ gian.
Dịch:
Thần tướng buổi Lạc Hồng, bốn nghìn năm lẻ linh thiêng, lấy nước kíp giữ lửa, đua tranh nấu đồ uống thức ăn, còn như lũy xưa cung cũ phảng phấp đất nọ
Mộ tiên nơi Lô Tản, bảy mươi hai đền kính hướng, quan triều tới nông dã, chợ quán có thương gia thợ nghề, thực là phù dương trợ âm đứng đầu chốn đây.
Trong sự tích về Phan Tây Nhạc có thể thấy rõ công lao chính của vị này không phải là đánh giặc mà là an định dân tình nơi đô thị, giống như công nghiệp của Tất Công kể trong Kinh thư hay như trong tư liệu khởi nguồn của họ Phan về Tất Công. Tùng Nhạc và Tây Nhạc cùng một nghĩa vì Tùng = Tuấn (Sơn Tinh Nguyễn Tuấn có nơi chép là Nguyễn Tùng) = Tốn, là quẻ chỉ hướng Tây.
Phan Tây Nhạc theo Sơn Tinh ở đây không phải là theo Tản Viên Sơn Thánh của thời kỳ đầu dựng nước. Sơn Tinh ở đây là vị quê ở Lăng Xương, là hình ảnh của Âu Cơ (quê cũng ở Lăng Xương), tức là Cơ Xương – Chu Văn Vương. Như vậy sự tích của Phan Tây Nhạc hoàn toàn trùng khớp với Tất Công, vị Thái sư phụ trách an dân ở Lạc Dương đầu thời Chu.
Họ Phan Việt Nam hoàn toàn đúng khi nhận Phan Tây Nhạc làm Thượng thủy tổ của mình. Phan Tây Nhạc cũng là Tất Công nên truyền thuyết nguồn gốc họ Phan ở Việt Nam, Trung Quốc hay Hàn Quốc đều trùng nhau. Chỉ có điều, Thượng thủy tổ họ Phan là người Việt, lập công nghiệp lưu truyền đời thế ở đất Lạc Việt.

Văn Nhân thêm ý:
Theo lễ chế từ thời thái cổ, tùy từng thời dựa theo hình thế đất đai thiên hạ (có lúc rộng lúc hẹp), người ta chọn ra 5 ngọn núi tiêu biểu cho vùng giữa và 4 phương Nam Bắc Đông Tây gọi là Ngũ Nhạc để định kì Thiên tử vi hành đến nơi làm lễ tế trời đất, xem xét dân tình và thưởng người có công phạt kẻ có tội. Vì thế Ngũ Nhạc hay 5 ngọn núi thiêng tiêu biểu của 4 phương Thiên hạ mỗi thời mỗi khác. Ngũ Nhạc thời Nghiêu Thuấn không phải Ngũ Nhạc thời Tần Thủy Hoàng…, Thái Sơn trong câu ca dao “Công cha như núi Thái sơn” không phải là Thái Sơn thời Tần ở Sơn Đông, Trung Quốc.
Rất có thể ông Phan Tây Nhạc không phải là ông họ Phan tên là Nhạc mà nghĩa là ông họ Phan ở miền núi thiêng phía Tây. Luận xét trong cổ sử Việt thì Tây Nhạc thời kì này rất có thể là núi Tản Viên. Tản Viên chính xác là Tốn Vương, trong Hùng triều thế phổ là Hùng Việt vương Tuấn Lang. Gọi là núi Tản viên vì núi ấy được dành riêng thờ Tuấn Lang. Tản, Tán, Tốn, Tuấn đều có gốc từ quẻ Tốn, tượng của phong gió, chỉ phía Tây (nơi đấy cũng gọi là Phong Châu), ngược với quẻ Chấn, tượng của Sấm sét ở phía Đông, tức vùng đất có Đông Nhạc.
Tóm lại, Tây Nhạc cũng là miền Phong Châu, trong cổ sử là miền núi Tản sông Đà ngày nay.
Thông tin “Vua Châu ban cho con cháu Tất công đất Phan…” cũng có thể hiểu đất Phan là miền đất thiên tử Châu ban cho dòng họ Phan (lấy tên đất làm họ hay lấy họ đặt tên tên đất?).
Đất Phan nay ở đâu trên bản đồ?
Sử thuyết Hùng Việt cho đất Phan chính là lãnh thổ nước Phù Nam (phu nan thiết Phan), khởi lập từ Hỗn Điền sau đến Hỗn Bàn. Đời vua thứ 3 là Hỗn Bàn Bàn thì bị họ Phạm cướp mất miền đất ban đầu gây dựng (không phải cướp ngôi). Vua quan Hỗn Bàn Bàn phải chạy về Đông bán đảo Mã Lai và lập kinh đô mới ở đấy. Tư liệu lịch sử gọi là nước Pan Pan (pan – bàn – phan chỉ là biến âm).
Có lẽ thông tin về nước Phù Nam rút ra từ tư liệu lịch sử gốc viết bằng ngôn ngữ hệ Tạng Miến. Hỗn là biến âm của Hãn, nghĩa là chúa, là vương không phải họ. Điền lấy từ chữ Thái và Điền, ghép nên tên họ Phan chữ Nho. Thực sự Hỗn Điền nghĩa là chúa họ Phan hay vua nước Phan, nhưng do… “tứ sao thành … bản khác…” nên đời sau nhận không ra… Sự thể rõ hơn ở tên 2 vua Hỗn Bàn và Hỗn Bàn Bàn, theo nghĩa là vua họ Phan hay vua nước Phan, không có ai họ Hỗn tên Bàn Bàn và cũng chẳng hề có Brahman Ấn Độ nào tên là Kaudinya.
Ranh giới phía Bắc nước Phù Nam hay nước Phan chính là miền Phan Rang ngày nay. Đúng ra là Phan Ranh, không phải rang… Cam Ranh cũng có tư liệu chép là Cam Rang, ranh với rang chỉ là biến âm. Cam Ranh cạnh Phan Ranh là bằng chứng không thể chối bỏ về 1 miền biên giới của 2 nước ‘cổ’ tưởng là đã mất tích trên bán đảo Đông Dương. Nước Phan nhận ra được nhờ phiên thiết Hán văn ‘phù nam thiết phan’, còn nước Cam không thể là nước nào khác ngoài nước Chàm hay Campapura độc âm hóa khi viết bằng chữ Nho.
Chỉ cần phủi nhẹ lớp bụi mỏng là 1 quá khứ Đông Nam Á khác hoàn toàn hiện ra … Nhìn bản đồ phân bố trống đồng đã tìm được là thấy ngay… Đã đến lúc người Đông Nam Á phải chủ động xem xét lại toàn bộ lịch sử của mình.

Những “nỗi oan” của Triệu Đà

Trong sử Việt có lẽ không có vị đế vương nào lại phải chịu tiếng oan ức như Triệu Vũ Đế. Oan không phải vì những gì Triệu Vũ Đế đã làm, mà vì các sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian, biến một vị đế vương oai hùng đầu tiên của nước Nam người Việt thành một người Tàu xâm lược, thâm độc…

NỖI OAN THỨ NHẤT: TRIỆU ĐÀ LÀ NGƯỜI PHƯƠNG BẮC
Sử ký Tư Mã Thiên chép: Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Thông tin thư tịch chỉ có vậy, thế mà không biết căn cứ vào đâu sách vở lại chú thích huyện Chân Định đời Tần “nay là” huyện Chính Định, Hà Bắc, Trung Quốc??? Triệu Đà bị biến thành người nước Triệu thời Chiến Quốc, quê gốc Hà Bắc.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, cho những người bị đày đến đấy canh giữ. Ở phía Tây Bắc đánh đuổi Hung Nô từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Âm Sơn tất cả 34 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà để làm giới hạn. Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giã xây đình và thành lũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện.
Cùng năm Tần đánh Việt thì Mông Điềm mới vượt sông Hoàng Hà đánh Hung Nô và người Nhung, lập các huyện mới. Vậy đất Hà Bắc, tức là Bắc sông Hoàng Hà, tới lúc này mới lọt vào tay Tần, lấy đâu ra ông Triệu Đà người Hà Bắc lại cùng năm đó làm tướng Tần đánh Việt được?
Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Như vậy thời kỳ này đất Giao Chỉ đã nằm trong đất nhà Tần. Huyện Chân Định hoàn toàn có thể nằm ở chính Giao Chỉ chứ không đâu xa. Sự thật thì huyện Chân Định thời Tần là ở đất Thái Bình ngày nay. Chân Định là tên cũ của huyện Kiến Xương, mãi tới thời Thành Thái (1889) mới đổi là huyện Trực Định phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình.
Huyện Kiến Xương nay còn di tích là đền Đồng Xâm tại xã Hồng Thái thờ Triệu Vũ Đế, là bằng chứng rõ ràng rằng Chân Định của Triệu Đà là ở đất Thái Bình chứ không hề ở Hà Bắc, Trung Quốc. Tại Đồng Xâm Triệu Vũ Đế lấy vợ là Hoàng hậu Trình Thị. Như vậy Triệu Đà là người Việt chính gốc, chứ chẳng phải Tần hay Triệu nào ở tận Bắc Hoàng Hà.

Dong Xam

Đền thờ Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm, Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình.

NỖI OAN THỨ HAI: TRIỆU ĐÀ DẪN QUÂN TẦN XÂM LƯỢC VIỆT
Nỗi oan giời thấu thứ hai là Triệu Đà bị coi là kẻ xâm lược, đã cầm đầu quân Tần đánh Việt. Gọi là oan vì lần tìm hết các thư tịch cũ đều không hề có sách nào cho biết Triệu Đà đã cầm đầu quân Tần. Chỉ có trong Hoài Nam Tử có đoạn: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt. Cụm từ “Úy Đà” ở đây bị hiểu thành Triệu Đà. Hóa thành Triệu Đà cùng Đồ Thư đã dẫn quân xuống phương Nam.
Úy Đà là chức vụ của tướng Đồ Thư, với nghĩa như Đô Úy, tức là tướng thống lĩnh quân đội. Úy Đà biến thành tên riêng Triệu Đà dẫn đến nỗi oan chữ nghĩa khó giải của Triệu Vũ Đế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện chỉ chép: Thời Tần, Đà được làm lệnh ở huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải. Nếu Triệu Đà là tướng cùng Đồ Thư dẫn mấy chục vạn quân đánh Việt thì sao lại chỉ được làm một huyện lệnh nhỏ nhoi ở Nam Hải?
Huyện Long Xuyên nay là Long Biên, nơi còn đình đền thờ Triệu Vũ Đế tại xã Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Theo sự tích ở đình Xuân Quan thì Triệu Vũ Đế khi đi qua bến sông này đã thấy rồng bay lên nên sau nhân đó đặt tên là … Thăng Long. Đình Xuân Quan được xây trên hành cung cũ của Triệu Vũ Đế, có tên là điện Long Hưng.
Thiên Nam ngữ lục thì chép về Triệu Đà:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Triệu Vũ Đế lấy vợ ở đất Chân Định (Kiến Xương – Thái Bình), khởi nghĩa kháng Tần từ đất Long Biên (Thăng Long), hoàn toàn không phải kẻ xâm lược, dẫn quân Tần đánh Việt.

NỖI OAN THỨ BA: TRIỆU ĐÀ LỪA LẤY LẪY NỎ THẦN VÀ DIỆT AN DƯƠNG VƯƠNG
Triệu Đà bị coi là kẻ thâm độc, xâm lược nước ta vì truyền thuyết Việt kể Triệu Đà sau khi đánh An Dương Vương không được, phải giả vờ xin hòa, cho con là Trọng Thủy xin cưới công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương và xin ở rể. Trọng Thủy nhân cơ hội đánh tráo lẫy nỏ thần của nước Âu Lạc, rồi tìm cách về nước, dẫn quân sang, đuổi An Dương Vương cùng đường mà phải chém Mỵ Châu và đi vào biển…
Một lần nữa các sử gia Việt đã lấy truyền thuyết ghép nối vào lịch sử, nhưng ghép theo kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thư tịch Trung Hoa không hề có chỗ nào ghi Triệu Đà đánh An Dương Vương cả. Nam Việt Úy Đà liệt truyện chỉ ghi: Cao Hậu mất,… Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình.
Nếu Triệu Đà là người cầm quân Tần đánh Việt từ năm Tần Thủy Hoàng thứ 33 (214 TCN), lập ra quận huyện đầy đủ rồi, thì làm gì còn An Dương Vương và nước Âu Lạc nào sau đó nữa để mà Triệu Đà phải dụng tâm, khổ kể như vậy?
Các sử gia cho rằng Triệu Đà đã dùng phương sách “Hòa tập Bách Việt”, lấy vợ Việt, cho con trai mình lấy con gái vua Việt để dễ bề cai trị người Việt. Nhưng tất cả chỉ là chuyện kể trong truyền thuyết mà không có sử liệu nào cho biết rằng Triệu Đà đã đánh diệt An Dương Vương. Thậm chí truyền thuyết của người Choang ở Quảng Tây lại kể Trọng Thủy là hoàng tử của nước Tây Âu, cầm gươm “Hòa tập Bách Việt” sang nước Lạc Việt… Trọng Thủy ở đây không phải con của Triệu Đà.
Chuyện Trọng Thủy của nước Tây Âu đánh Lạc Việt đúng ra là chuyện Tần đánh Việt năm 257 TCN. Tây Âu ở đây là Tần. Trọng Thủy là con vua Tần. Nhà Tần còn mang họ Triệu như Tần Thủy Hoàng có tên Triệu Chính, lấy theo họ mẹ là Triệu Cơ. Sự trùng hợp này đã dẫn đến sự hiểu nhầm oan ức rằng Triệu Đà đã phái con sang do thám nước Việt và diệt An Dương Vương.
Bài thơ Khối tình con của Tản Đà nói đến chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy:

Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương.

Mỵ Châu là Việt thì Trọng Thủy là Tần, chứ không phải Triệu. Không phải Triệu Đà đã đánh An Dương Vương, mà là Tần Triệu đã thực hiện chính sách “hòa tập Bách Việt”, lập quận huyện ở trên đất Việt, di dời hàng vạn hộ dân xuống nơi đây.

NỖI OAN THỨ TƯ: TRIỆU ĐÀ TRỊ VÌ 70 NĂM, THỌ 121 TUỔI
Chính vì “Hội nhà sử” ngày nay quá tin vào những chú dẫn “đểu” của sử Tàu mà không suy xét nên Triệu Đà mới thọ đến 121 tuổi, làm vua 70 năm (từ năm 207 TCN đến năm 137 TCN). Chỉ với tuổi thọ này cũng đủ thấy “nỗi oan” của Triệu Đà to như cái đình mà vẫn được các “học giả” tin sái cổ.
Khi đọc kỹ Sử ký Tư Mã Thiên sẽ thấy có 2 lần Triệu Đà xưng vương. Lần thứ nhất là vào năm Tần Nhị Thế thứ hai (207 TCN) Triệu Đà chiếm lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt trước đó (Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải) và tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Lần thứ hai là sau khi Cao Hậu (Lữ Hậu) mất năm 180 TCN Đà uy hiếp Mân Việt và Tây Âu, tự tôn là Nam Việt Vũ Đế.
Theo vậy hóa ra Tây Âu Lạc thì không nằm trong 3 quận mà Tần đã chiếm (Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải)? Điều này vô lý vì sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống đã bị Giám Lộc, Đồ Thư giết thì sao mãi tới thời Tây Hán vẫn còn Tây Âu?
Tuổi thọ “xưa nay”… không có của Triệu Đà cùng với 2 lần xưng vương và sự vô lý về vị trí nước Tây Âu cho thấy, từ năm 207 TCN đến 137 TCN ít nhất phải có 2 nhân vật, cùng được gọi là Triệu Đà. Triệu Đà thứ nhất là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, giành lại đất đai của người Việt mà Tần lập quận huyện trước đó vào năm Tần Nhị Thế thứ ba (207 TCN). Còn Triệu Đà thứ hai nổi lên sau sự kiện Lữ Hậu mất (180 TCN), “mua chuộc” Mân Việt và Tây Âu theo mình. Nói cách khác một Triệu Đà chống Tần, còn một Triệu Đà chống Hán.

Luong lap

Cột nghi môn điện Long Hưng ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Câu đối ở điện Long Hưng, Xuân Quan nơi thờ Triệu Vũ Đế:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.
Dịch:
Một vùng vắng bóng Tần, vạn dặm mở ra vời xa Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, ngàn năm gây nền vững vàng đế vương.
Triệu Đà thứ hai là cháu Triệu Đà thứ nhất và có “mồ mả cha mẹ” ở phương Bắc đúng như Sử ký đã chép. Triệu Đà thứ hai có tên… Triệu Hồ, bởi vì Triệu Hồ không phải Triệu Văn Đế như sử vẫn chép. Chứng cứ rõ ràng là ngôi mộ vua Triệu mới phát hiện ở Quảng Đông vào những năm 1980. Trong mộ có ghi tên Triệu Mạt (hay Muội) và ấn vàng Văn đế hành tỉ (文帝行璽 ), nhưng lại còn có ấn vàng Thái tử (泰子). Như vậy người được chôn ở trong mộ là Văn Đế nước Nam Việt nhưng không phải Triệu Hồ vì Triệu Hồ là hàng cháu của Triệu Đà, không thể có chức Thái tử.

An Trieu Muoi

Ấn “Thái tử”, Ấn “Văn đế hành tỷ” ở mộ Triệu Muội tại Quảng Châu (ảnh theo Nguyễn Lương).

Với bằng chứng khảo cổ và minh văn phát hiện trong mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Đông thế thứ nhà Triệu Nam Việt trở nên rành mạch:
– 207 TCN đến 180 TCN: Vũ Vương Triệu Đà
– 180 TCN đến 137 TCN: Vũ Đế Triệu Hồ
– 137 TCN đến 124 TCN: Văn Đế Triệu Muội
– 124 TCN đến 113 TCN: Minh Vương Triệu Anh Tề
– 113 TCN đến 112 TCN: Ai Vương Triệu Hưng
– 112 TCN đến 111 TCN: Vệ Dương Vương Triệu Kiến Đức.
“Nỗi oan” 121 tuổi, 70 năm trị vì của Triệu Đà nay coi như được giải với 2 đời vua Triệu Vũ Hoàng kế tiếp nhau. Nhưng còn những nỗi oan vì sự vô lý của các sử gia đối với sử Việt thì chắc phải chờ thời gian soi xét…

Trước Bà Trưng, sau Bà Triệu, cùng một bậc người

Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn có lẽ đã là người lập “Hội phụ nữ” đầu tiên của nước Nam. Dưới cờ Nhị Trưng Vương có rất nhiều tướng lĩnh là nữ, cùng chung chí hướng, “đền nợ nước, trả thù nhà”. Nhưng người phụ nữ đầu tiên nắm quyền lãnh đạo đất nước có lẽ phải kể đến tiền nhân của Hai Bà Trưng là… Lữ Hậu.

Lữ Hậu, tên cúng cơm là Trĩ, người Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình). Tại đây bà được gọi là Hoàng hậu Trình Thị (thiết Trĩ). Lữ Trĩ là người vợ từ thủa hàn vi của Lưu Bang, được truyền thuyết Việt chép là Lý Bôn. Lưu Bang khởi nghĩa tại đất Bái, được chép là đất Thái Bình, cũng là Triệu Vũ Đế quê ở Chân Định (tên cũ của huyện Kiến Xương). Lưu Bang là người Tuấn kiệt, đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần thắng lợi, lên ngôi Hiếu Cao Tổ, Lữ Trĩ trở thành Lữ Hậu.

ly-bon

Lý Nam Đế và hoàng hậu Đỗ Thị Khương, tranh thờ ở Thái Bình.

Lưu Bang mất, Lữ Hậu nắm toàn quyền, phân phong cho họ Lữ những chức vụ quan trọng nhất, nắm binh quyền. Đáng chú ý là có tước Lữ Vương, là người cai quản vùng đất quê họ Lữ, tức là vùng đất Bái – Thái Bình xưa.

Lữ Hậu mất, họ Lữ định làm cuộc đảo chính nhưng không thành. Anh em Lữ Lộc, Lữ Sản bị các cận thần của Lưu Bang giết chết. Tuy nhiên, họ Lữ không tuyệt đường ở đây. Vị Lữ Vương ở phương Nam đã tôn một người cháu của Lưu Bang lên làm vua, lập nước Nam Việt, gọi là Triệu Đà, còn bản thân mình làm thừa tướng Lữ Gia. Họ Lữ ở Nam Việt “con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua“, nắm quyền hành lớn.

Năm 111 TCN Hiếu Vũ Đế cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt. Phiên Ngung thất thủ, Lữ Gia cùng vua Triệu Vệ Dương Vương và gia quyến lên thuyền đi về phía Tây. Tới cửa Đại Ác (cửa sông Đáy đổ ra biển ở Nam Định) cả vua Triệu và Lữ Gia bị bắt, giết.

Nhưng họ Lữ vẫn còn người. Hai hoàng phi nhà Triệu là Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền tích gọi là Ả Lã, con gái của Lữ Gia, đã chạy thoát về Phong Châu. Từ đây Nhị Trưng lập đàn thề ở cửa sông Hát, tưởng nhớ tới chồng là Triệu Vệ Dương Vương tử nạn ở cuối sông, phất cờ Quang Phục, đánh Tô Định, chiếm Luy Lâu, xưng là Tây Vu Vương hay gọi là Lang Tề (Nàng Đê).

Với thân phận là hoàng phi nhà Triệu nên khởi nghĩa Trưng Vương đã được sự tham gia đông đảo của con cháu các quan lại nhà Triệu trước đó, nhiều người là nữ, có hoàn cảnh cha hay chồng bị giết trong cuộc bình định Nam Việt của nhà Hiếu. Truyền thống nữ trung hào kiệt từ Lữ Hậu cùng với nợ nước thù nhà đã làm nên một “Hội thề” Hát Môn hùng tráng, lập nên quốc gia Hoàng Đinh độc lập.

Khởi nghĩa của các hoàng phi nhà Triệu dưới thời Hiếu – Tây Hán giành thắng lợi. Trưng Trắc lên ngôi vua của nước Tây (Đinh), là Tây Vu Vương. Nhưng chỉ ít lâu sau nhà Hiếu cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức, người từng đại phá Nam Việt, dẫn quân xuống đánh dẹp. Những trận đánh ác liệt giữa hai bên nổ ra ở Lãng Bạc – Bạch Đằng, rồi Cấm Khê, kết thúc bằng cái chết của Nhị Trưng Vương. Thiên hạ Trung Hoa lại thống nhất về một mối.

Nhà Hiếu truyền đời mấy trăm năm thì bị đại thần Vương Mãng soán ngôi. Vương Mãng mang hoài bão phục cổ, xây dựng một thế giới lý tưởng, đã thực hiện hàng loạt cải cách ảnh hưởng toàn diện đến xã hội. Nhân lúc Trung Hoa suy yếu người Hán tụ tập thành lũ giặc cỏ ở núi Lục Lâm, rồi diệt nhà Tân của Vương Mãng, biến Trung Hoa của người Hoa Việt thành Hán quốc (Đông Hán).

Trên đất Giao Châu các châu mục, thái thú lúc này là Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục cai quản, vừa lo chống giặc Hán bên ngoài, vừa dung nạp các hiền sĩ chạy loạn về phương Nam nương nhờ, mở trường dạy học, nêu cao văn hiến. Đặng Nhượng là Đặng cư sĩ thờ ở làng Lệ Chi, Gia Lâm. Đỗ Mục có thể là vị cư sĩ được thờ ở khu vực Thanh Oai – Chương Mỹ ngày nay (Đỗ Lang). Các vị này đã kiên cường chống lại sự bành trướng của Hán tộc xuống phương Nam và bỏ mình vì nước, như thần tích các nơi thờ cho biết.

Ang Phao

Đình Áng Phao, Cao Dương, Thanh Oai, Hà Nội, nơi thờ một vị Cư sĩ chống giặc thời Hán.

Giao Châu bị Mã Viện của Đông Hán chiếm, bắt hàng trăm các “cừ súy” Việt về Bắc. “Cừ súy” thiết “quý”, chỉ các quý tộc, tầng lớp lãnh đạo của người Việt. Truyền tích Việt trong các nơi thờ cúng chép thành “cư sĩ“. “Cư sĩ” cũng thiết “quý”. Đây là bằng chứng cho thấy cuộc tấn công của Mã Viện chiếm Giao Châu bắt các cừ súy Việt xảy ra vào thời đầu Đông Hán, đánh các “cư sĩ” là các châu mục, thái thú của nhà Tân.

Chiếm được Giao Châu Mã Viện xóa bỏ luật Việt, áp đặt luật Hán, thiết lập chế độ cai trị hà khắc ở Giao Châu. Sử ta đã lầm lẫn giữa cuộc hành quân của Lộ Bác Đức đánh Trưng Vương thời nhà Hiếu với cuộc tấn công xâm lược Giao Châu của Mã Viện thời Đông Hán.

Nước Nam mất, nhưng Hán tộc không được lúc nào yên ở phương Nam. Sử ghi trong hàng chục năm của thế kỷ thứ 2 người Nhật Nam, Cửu Chân liên tục nổi dậy. Đặc biệt khởi nghĩa của Khu Liên ở đất Tượng Lâm đã thành công, lập nên nước Lâm Ấp ở phương Nam. Khu Liên hay Khu Đạt, cũng là Triệu Quốc Đạt, cũng là Chu Đạt, người đã cầm đầu người Di khởi nghĩa ở Nhật Nam – Cửu Chân, buộc nhà Đông Hán phải cắm cột đồng phân giới Bắc Nam ở Man Thành Quảng Tây.

Em của Triệu Quốc Đạt là Triệu Thị Trinh, hay Bà Triệu, trong cuộc chiến này đã nổi danh là một nữ tướng xinh đẹp, dũng mãnh. Bà Triệu đi guốc vàng, mặc áo vàng, đầu voi phất ngọn cờ vàng, nối tiếp truyền thống nước Hoàng Đinh của Trưng Vương, chống giặc. Mã Viện lúc này đã buộc phải xây lũy đắp đê ở Cửu Chân, ngăn cản sự nổi dậy của cơn sóng khởi nghĩa phương Nam của Lệ Hải Bà vương.

Khu Liên – Triệu Quốc Đạt mang họ Lý của Lý Bôn – Lưu Bang, cũng được truyền thuyết Việt gọi là Lý Nam Đế vì đã lập nên nước Nam – Lâm Ấp. Hai Bà Trưng mang họ Lữ của Lữ Hậu, còn Bà Triệu mang họ Lý của Lưu Bang. Cái cội nguồn truyền thống, mối liên thông lịch sử giữa các triều đại của thời kỳ này cho giải thích về khí phách và chiến công của các vị nữ vương, nữ tướng người Việt.

Câu đối ở đình Luật Ngoại tại xã Quang Lịch, Kiến Xương, Thái Bình:
Trăng thu trải cuộc bể dâu, Nam nước Việt, Bắc giặc Lương, ghi ngàn đời sử.
Sông Bài nổi gương tiết nghĩa, trước Bà Trưng, sau Bà Triệu, cùng một bậc người.

Nhân ngày phụ nữ Việt Nam, xin ôn xưa kể cũ để biết phụ nữ Việt truyền thống anh hùng bất khuất thế nào. Chúc mừng các bà, các mẹ, các chị em người Việt Nam, con cháu Bà Trưng, bà Triệu, nhân ngày này.

Luận giải truyền tích Tứ bất tử từ góc độ đạo thần tiên ở Việt Nam

Hiện nay khái niệm Tứ bất tử trong văn hóa dân gian được quan niệm là tên gọi chung của bốn vị thánh là Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh Công chúa. Mỗi vị thánh tượng trưng cho sự bền vững, thịnh đạt của một lĩnh vực đời sống nên được coi là “bất tử”. Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì quan niệm cho rằng dân gian đã “bất tử” hóa những ước vọng của mình vào các vị thần không hoàn toàn hợp lý. Đúng hơn, những vị thần phải có phép “bất tử” thì mới có thể gọi là thần bất tử. Một số tài liệu thay vào chỗ của Mẫu Liễu Hạnh là Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không là dẫn chứng cho điều này vì Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không là nhà sư, đạo sĩ, không biểu trưng cho lĩnh vực nào của đời sống nhân dân. Không phải dân gian đã đem mong muốn của mình gửi gắm vào các vị thần mà là hành trạng, khả năng của chính những nhân vật này đã cho phép gọi họ là “bất tử”. Bất tử là mục đích tối cao của phép tu tiên trong Đạo giáo nên các thần bất tử là những nhân vật trong quá trình phát triển Đạo thần tiên ở nước ta. Từ nhận thức như vậy có thể xem xét lại ý nghĩa các truyền tích và vị trí của các vị thần trong Tứ bất tử. [i]

Tu bat tu tu phuTranh Tứ bất tử.

Tản Viên Sơn Thánh

Đứng đầu Tứ bất tử là Tản Viên Sơn Thánh vì đây là vị “Đệ nhất phúc thần” nước Nam[ii]. Tản Viên Sơn Thánh cũng là nhân vật có xuất xứ lâu đời nhất trong số các vị thần bất tử được nói đến. Theo thần tích đền Và (xã Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Nội) thì Tản Viên đã nhận được cây gậy thần đầu sinh đầu tử của Thái Bạch tử vi thiên tướng trên núi Tản. Từ đó Tản Viên xưng là Thần sư, đi cứu độ nhân gian, dùng gậy thần cứu sống được con rắn là con của Long Vương Động Đình. Khi xuống thăm Long Cung Tản Viên lại được thêm cuốn sách ước có phép nhiệm màu thay đổi trời đất…

Câu đối ở đền Và tóm tắt về sự tích của thần Tản Viên như sau:

神爲之靈地爲之靈亦人崇爲之靈屹爾東宮西鎮
山得其術水得其術卽今欲得其術渺乎僊杖約書
Thần vi chi linh, địa vi chi linh, diệc nhân sùng vi chi linh, ngật nhĩ Đông cung Tây trấn
Sơn đắc kỳ thuật, thủy đắc kỳ thuật, tức kim dục đắc kỳ thuật, diểu hô tiên trượng ước thư.
Dịch:
Thần tôn là thiêng, đất tôn là thiêng, cũng người tôn mà thành thiêng, cung Đông trấn Tây cao ngất
Núi được thành thuật, sông được thành thuật, nay muốn được xem thành thuật, gậy thần sách ước diệu kỳ.

Gậy thần sách ước” của Tản Viên là phép thuật gì? Chuyện này có thể hiểu khi so sánh truyền thuyết Tản Viên với chuyện của Đại Vũ trong thần thoại Trung Hoa:

Vũ đang đứng trên bờ quan sát sức mạnh của dòng nước thì thấy một ông già mặt trắng trẻo, mình cá, nhảy lên từ dòng sông… Ông già tự xưng là Hà Bá. Vị thần này cho Vũ một phiến đá to màu xanh… Đó chính là Hà đồ.[iii]

Rồi tiếp theo còn có chuyện Vũ gặp một con rắn thần ở trong hang, rắn dẫn Vũ tới gặp Phục Hy và Phục Hy trao cho Vũ một thanh Ngọc giản, có thể đo đạc được trời đất.

Có thể thấy chuyện Sơn Tinh được gậy thần sách ước và chuyện Đại Vũ được Hà đồ, Ngọc giản chỉ là một. “Ông già mặt trắng” là Thái Bạch Thần Tinh ở núi Tản. Thái Bạch cũng là Thái Hạo (Hạo trong Hoa ngữ nghĩa là sáng, bạch), là tên khác của Phục Hy trong truyền thuyết. Phục Hy tương truyền có mình rắn. Phục Hy là người tìm ra Bát quái nên hoàn toàn có thể Phục Hy cũng là Thái Bạch Tử Vi thiên tướng trong truyền thuyết Tản Viên.

Phục Hy là người đã chép Hà đồ từ lưng con Long Mã (tức là con rồng, rắn thần). Còn vua Vũ vẽ Lạc thư từ lưng con Thần Quy. Có thuyết khác lại cho rằng cả Hà đồ lẫn Lạc thư đều do Đại Vũ nghĩ ra. Dù thế nào thì rõ ràng phép thần của Tản Viên Sơn Thánh chính là Hà Lạc, được tiếp thụ từ tiền nhân và sáng tạo thêm trong quá trình trị thủy.

Gậy thần sách ước của Tản Viên Sơn Thánh xét thực chất chính là Hà đồ Lạc thư, trong đó bao hàm đạo Âm dương (sinh tử), Trời đất (Hà – Lạc). Nhờ những kiến thức khoa học này ở thủa bình minh của dân tộc mà Tản Viên Sơn Thánh đã quy tụ được các bộ tộc ở vùng Nam Giao (2 anh em Cao Sơn, Quý Minh), trị thủy thắng lợi. Thánh Tản do vậy đã trở thành vị thần bất tử đầu tiên của người Việt.

Chử Đạo Tổ

Xét trong Tứ bất tử thì người càng có vị trí thứ tự cao thì khả năng phép thuật linh ứng càng cao. Quan trọng hơn là thời điểm xuất hiện của người đó càng sớm trong chiều dài lịch sử. Vị trí thứ hai trong Tứ bất tử thuộc về Chử Đồng Tử. Sự tích Chử Đồng Tử được tóm tắt trong câu đối ở đền Đa Hòa (xã Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên):

淳孝格天沙渚幔帷成異遇
至誠通聖瓊林杖笠契真傳
Thuận hiếu cách thiên, Sa Chử mạn duy thành dị ngộ
Chí thành thông thánh, Quỳnh Lâm trượng lạp khế chân truyền.
Dịch:
Hiếu thuận động tới trời, Bãi Chử màn che thành kỳ ngộ
Thành chí thông tận thánh, Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.

Chử Đồng Tử vì hiếu thuận với cha nên đã kỳ ngộ gặp được Tiên Dung công chúa ở bãi Tự Nhiên. Sau đó nhờ thành tâm học đạo đã được tiên ông truyền cho phép màu ở núi Quỳnh Lâm. Phép màu của Chử Đồng Tử là cây gậy và chiếc nón thần. Gậy và nón là hình ảnh của vuông – tròn, âm – dương. Thần tích ở Đa Hòa còn kể tại đây có vị thần Cá (thần Dí) đã vật chết voi của nhà vua, nhưng khi được yêu cầu làm voi sống lại thì không làm được, bởi “phép cải tử hoàn sinh chỉ có Tản Viên Sơn Thần và Đức thánh Chử Đồng Tử là làm được...”. Điều này cho thấy không phải “thần” nào cũng có thể “cải tử hoàn sinh”. Chỉ có 2 vị thần bất tử là Tản Viên Sơn Thánh và Chử Đồng Tử là có phép thuật này.

Khi so sánh truyền thuyết Chử Đồng Tử và Tiên Dung với chuyện của các vị thần trong Đạo Giáo Trung Hoa thì thấy đây cũng là chuyện của Hậu Nghệ – Hằng Nga. Hậu Nghệ có vợ là Hằng Nga, là những vị thần bị đày xuống trần gian. Hậu Nghệ đi tìm thuốc bất tử, trải qua muôn vàn gian khó mới gặp và xin được của Tây Vương Mẫu một viên thuốc để trở thành bất tử. Khi về nhà Hằng Nga vô ý uống thuốc này nên đã bay lên mặt trăng.

Câu chuyện Hằng Nga – Hậu Nghệ trên đã chỉ rõ thế nào là thần bất tử trong quan niệm xưa. Khả năng bất tử là khả năng đặc biệt mà chỉ một số ít các vị thần mới có. Hậu Nghệ – Hằng Nga là những vị thần bất tử như Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng một đêm cũng bay về trời ở đầm Nhất Dạ như chuyện Hằng Nga về cung trăng.

Thần tích ở đền Đa Hòa còn kể Chử Đồng Tử lấy thêm một người vợ nữa là Tây Cung công chúa. Vị công chúa này cũng có phép thuật, giúp Chử Đồng Tử chữa bệnh cho nhân dân. Tây Cung công chúa như vậy ở đây tương đồng với Tây Vương Mẫu trong chuyện Hậu Nghệ tìm thuốc bất tử.

Trong lịch sử Trung Hoa thì Hậu Nghệ là người đã tiếm ngôi, làm gián đoạn nhà Hạ thời Hạ Thái Khang. Truyền thuyết về Chử Đồng Tử cũng kể về vua Hùng tức giận, đem quân đến đánh vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung, thể hiện một cuộc đụng độ đã xảy ra.

Liên hệ giữa Chử Đồng Tử và Hậu Nghệ rõ nhất là về ngôn ngữ. Có từ Chư hầu, chỉ rõ mối tương thông Chử – Hậu, là chư hầu của nhà Hạ đã tiếm ngôi (lấy con gái vua mà không được phép). Liên hệ Hậu – Chậu – Chử tương tự như trong những từ Hầu (đồng) – Chầu (đồng) – (ca) Trù đều chỉ hình thức xướng ca phục vụ nghi lễ cung đình (triều đình) xưa cả.

Hậu Nghệ có công bắn mặt trời, diệt các loài quái vật nên được nhân dân tôn thờ là thần Tông Bố, tổng quản các loài ma quỷ trong thiên hạ. Chử Đồng Tử tu tiên, có được phép cải tử hoàn sinh đi cứu người, chữa bệnh rồi được tôn là Chử Đạo Tổ. Tông Bố phiên thiết cho chữ Tổ. Như vậy cách gọi Tông Bố Hậu Nghệ trùng cả họ và tên với Chử Đạo Tổ.

Đổng Thiên Vương

Vị trí thứ ba trong Tứ bất tử theo quan niệm hiện tại là Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng cưỡi ngựa sắt đánh thắng giặc Ân. Tuy nhiên, khi xét quan niệm về thần “bất tử” là những vị thần có phép màu nhiệm, có sinh hóa, có liên quan đến đạo thần tiên (Đạo Giáo) thì nhân vật Thánh Gióng hoàn toàn không phù hợp là thần bất tử. Thánh Gióng không có phép màu nào, dùng sức khỏe đánh giặc. Đánh thắng giặc xong là thần “hóa”, bay về trời ở núi Sóc… và không quay trở lại nữa. Như vậy sao có thể gọi là thần “bất tử”?

Ở đây đã có sự nhầm lẫn do mặt chữ. Vị thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên Vương, chứ không phải Phù Đổng Thiên Vương. Phù Đổng là từ phiên thiết của chữ Phổng hay Bổng, chỉ Thánh Gióng. Còn Đổng Thiên Vương lại là Huyền Thiên Đại Thánh. Đền thờ Huyền Thiên Đổng Thiên Vương nằm ở làng Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội). Thần phả ở đền Bộ Đầu có tên “Bộ Đầu linh từ sự tích Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh, Thành hoàng nhất vị“. Các sách cũ[iv] đều cho rằng đền này thờ Huyền Thiên Đại Thánh. Bản thân đền được gọi là đền Quán Thánh.

Theo sự tích ở Huyền Thiên quán tại làng Ngọc Trì (xã Thạch Bàn, Gia Lâm, Hà Nội) thì Huyền Thiên nhiều lần giáng sinh, tu hành, từ đó có phép thuật trấn yêu ma các động. Còn Huyền Thiên ở đền Sái (Đông Anh) là người đã giúp Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Huyền Thiên còn là vị thần được thờ tại Trấn Vũ quán ở Hồ Tây (Hà Nội). Ở những nơi này tượng thờ Huyền Thiên đều được làm dưới hình dạng một người cao lớn, tay bắt quyết và dẫn dụ rắn rùa. Chữ Đổng như vậy thực ra là ký âm của Đùng, chỉ vị thần có thân hình to lớn.

Câu đối ở Quán Thánh (Hồ Tây) kể về sự tích Huyền Thiên Trấn Vũ:

武當山石鍊何年色相俱空真身尚在
玄天觀雲遊此日仙縱偶寄靈蹟長留
Vũ Đương sơn thạch luyện hà niên, sắc tướng câu không, chân thân thượng tại
Huyền Thiên quán vân du thử nhật, tiên tung ngẫu kí, linh tích trường lưu.
Dịch thơ:
Núi Vũ Đương năm xưa luyện đá
Mặc hình nhan thân cả ở cao
Mây bay Huyền quán ngày nào
Dấu tiên chợt hiện, biết bao giờ mờ.

Huyền Thiên không ai khác chính là Lão Tử, vì Huyền Thiên hay Huyền Nguyên là tên sắc phong của nhà Đường cho Lão Tử. Lão Tử, vị giáo chủ Đạo giáo, có khả năng giáng sinh nhiều kiếp, có phép màu trấn yểm yêu quỷ, quy xà nên Huyền Thiên Đổng Thiên Vương là một thần bất tử hoàn toàn hợp lý. Lão Tử hiện còn được thờ làm thành hoàng ở đình Thổ Hà (xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang), với công trạng giống như của Huyền Thiên tại đền Sái.

Có thể thấy phép thuật của Huyền Thiên Đổng Thiên Vương hạn chế hơn so với Chử Đạo Tổ. Trong khi Chử Đồng Tử có thể cải tử hoàn sinh, tham dự vào huyền cơ thiên địa, thì phép thuật của Đổng Thiên Vương hạn chế ở khả năng chữa bệnh dịch, diệt yêu trừ quỷ, chỉ hóa sinh chứ không cải tử hoàn sinh. Vì thế Đổng Thiên Vương được xếp ở vị trí thứ ba trong Tứ bất tử, sau Chử Đạo Tổ.

Bắt đầu từ vị thần bất tử thứ ba Đổng Thiên Vương ta thấy xuất hiện thông tin về đạo Phật. Lão Tử được coi trong một thân là thánh thần tiên phật. Quan niệm về luân hồi, chuyển kiếp đầu thai cũng là quan niệm của đạo Phật. Đạo giáo nói đến tu tiên, trường sinh bất lão và cải tử hoàn sinh chứ không đầu thai. Lão Tử ban đầu là một nhân vật trường sinh bất lão, luyện tiên đan (Thái Thượng Lão Quân). Sang đến hình ảnh Huyền Thiên mới thêm việc chuyển kiếp theo quan niệm đạo Phật.

Liễu Hạnh Thánh Mẫu

Khả năng hóa sinh nhiều lần và trong một ngôi gồm cả thánh thần tiên Phật thấy rõ hơn ở thánh mẫu Liễu Hạnh. Câu đối ở lăng mộ Liễu Hạnh tại Vụ Bản (Nam Định) nói về khả năng hóa sinh, chuyển thể của thánh:

五百餘年神故化
再三轉世聖而仙
Ngũ bách dư niên thần cố hóa
Tái tam chuyển thế thánh nhi tiên.
Dịch:
Năm trăm năm lẻ thần hóa cũ
Ba lần chuyển thế thánh là tiên.

Mẫu Liễu được tôn sùng vì trong các lần chuyển hóa thể hiện là người có “hiếu, trinh, từ”:

勝蹟肇仙鄉而聖而神而佛
靈聲振越甸惟慈惟孝惟貞
Thắng tích triệu Tiên hương, nhi thánh nhi thần nhi phật
Linh thanh chấn Việt điện, duy từ duy hiếu duy trinh.
Dịch:
Thắng tích mở Tiên Hương, là thánh là thần là phật
Linh thiêng vang Việt điện, bởi lành bởi hiếu bởi trinh.

Phép thuật cụ thể của Mẫu Liễu là gì thì truyền tích không đề cập đến. Có thể thấy khả năng của Mẫu Liễu hạn chế hơn nhiều so với Huyền Thiên Đổng Thiên Vương. So về năng lực và thời gian xuất hiện (thời Lê) thì Liễu Hạnh xếp thứ tư trong Tứ bất tử là đúng, cho dù Liễu Hạnh là Mẫu chủ của Địa phủ trong đạo Tứ phủ.

Như vậy, Tứ bất tử là 4 nhân vật đánh dấu những mốc trong quá trình hình thành và phát triển Đạo thần tiên ở nước Nam. Thứ tự và phương vị của Tứ bất tử được sắp xếp như sau:

– Đứng đầu là Tản Viên Sơn Thánh, người có gậy thần sách ước, là Hà thư Lạc đồ, những kiến thức khoa học thời sơ khai. Tản Viên là người đã tập hợp các bộ tộc Việt chiến thắng thiên tai trong thời kỳ dựng nước. Phương vị của Tản Viên là hướng Tây (Sơn Tây). Xét trong đạo Tứ phủ thì Tản Viên là thần chủ của Nhạc phủ.

– Thứ hai là Chử Đạo Tổ, cũng là người nắm được thuật Âm dương, có bảo bối là gậy nón, có khả năng cải tử hoàn sinh. Truyền thuyết Chử Đồng Tử là cách kể khác của chuyện Hậu Nghệ thời nhà Hạ. Chử Đồng Tử hay Chử Đông Tử, nghĩa là Người ở bãi phía Đông, là thần nắm hướng Đông và là thần trong Thoải phủ (Thủy phủ).

– Xếp thứ ba là Đổng Thiên Vương Huyền Thiên Lão Tử, là giáo chủ Đạo giáo, là thầy thuốc cứu dân độ thế, có khả năng trường sinh bất lão, có thể trừ yêu dẹp quỷ, trấn quy xà. Lão Tử là người đã giúp vua Chủ An Dương Vương xây thành Cổ Loa vào đầu thời Đông Chu. Đổng Thiên Vương là người trấn phương Bắc (Huyền phương), ứng với Thiên phủ.

– Cuối cùng là thánh mẫu Liễu Hạnh, thần chủ của Địa phủ trong đạo Tứ phủ, có khả năng tái sinh nhiều lần, đắc đạo thánh thần tiên phật, nổi danh hiếu trinh từ ở thời Lê. Liễu Hạnh là người thành Nam (Nam Định), nắm giữ phương Nam.


CHÚ THÍCH:

[i] Bài viết được trích lược từ sách Bước ra từ huyền thoại của tác giả.
[ii] Lĩnh Nam chích quái, Truyện núi Tản Viên.
[iii] Thần thoại Trung Hoa, Dương Tuấn Anh sưu tầm, tuyển chọn, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009.
[iv] Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam, Ngô Đức Thọ (chủ biên), NXB Văn học, 2003.

Giả thuyết mới về những lớp gạch bên dưới Hoàng thành Thăng Long

Hoàng thành Thăng Long là phức hợp di tích – di vật khảo cổ đồ sộ, với số lượng hàng triệu hiện vật, nhiều chủng loại và niên đại. Vị trí Hoàng thành là thành Đại La, trị sở của đất Tĩnh Hải dưới thời nhà Đường và tiếp đó là kinh đô Thăng Long của nước Đại Việt từ thời Lý. Các nền móng, công trình kiến trúc của Hoàng thành được xây dựng bằng những loại gạch thuộc các thời kỳ khác nhau. Nhiều viên gạch có in chữ Hán, ghi lại địa danh, quốc hiệu, niên hiệu của thời kỳ mà gạch được làm ra. Đây là những bằng chứng rõ ràng nhất về giai đoạn lịch sử đầy biến động của nước ta, khi nước Đại Việt độc lập mới ra đời. Bài viết nêu lên một cách hiểu mới về ý nghĩa lịch sử của những minh văn đúc trên 3 lớp gạch cổ nhất trong di tích Hoàng thành Thăng Long.[1]

Gạch Giang Tây quân
Lớp gạch ở tầng sâu nhất của Hoàng thành Thăng Long là loại gạch có chữ Giang Tây quân 江西軍 hoặc Giang Tây chuyên 江西塼. Đây là loại gạch tốt, được xác định là làm dưới thời nhà Đường. Tên gạch Giang Tây quân hiện nay được giải thích là thời đó hàng năm vào mùa thu và đông nhà Đường thường phái nhiều đội quân phòng thủ Lĩnh Nam, gọi là “quân phòng thu”, “quân phòng đông”. Các đoàn quân được tổ chức và mang phiên hiệu từng tỉnh ở Trung Quốc, mà chủ yếu là quân vùng Giang Tây.[2]
Lý giải trên tỏ ra không phù hợp với lịch sử thời kỳ này. Năm 866 tướng Cao Biền đánh đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi thành Tống Bình. Nhà Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân, bổ nhiệm Cao Biền là Tiết độ sứ. Cao Biền xây thành Đại La bắt đầu từ năm này. Như vậy, thành Đại La là trị sở của Tĩnh Hải quân do một Tiết độ sứ cầm đầu. Tiết độ sứ là người cầm cờ tiết độ, có toàn quyền thay mặt cho nhà vua trên khu vực mình quản lý. Chế độ phiên trấn tiết độ trên đất Tĩnh Hải lúc này gần như một chế độ tự trị. Với bối cảnh đó rất khó có khả năng quân đội từ một “quân” khác lại sang Tĩnh Hải quân để xây thành. Hơn nữa tại sao chỉ thấy mỗi quân Giang Tây có chữ in trên gạch để lại? Chữ Giang Tây quân ở đây chắc chắn phải có nghĩa khác.

Gach Giang TayGạch “Giang Tây quân” trưng bày ở Bảo tàng Thái Bình.

Gạch Giang Tây quân còn được tìm thấy ở một loạt các di tích khác trong lớp khảo cổ cùng thời như ở Thành nhà Hồ (Thanh Hóa), Thành Hoa Lư (Ninh Bình) hay ở khu vực phòng thủ ven biển Thái Thụy – Thái Bình[3]. Đặc biệt, ngay ở Hà Nội, tại di chỉ Hàm Rồng ở làng gốm Kim Lan (Gia Lâm) bên bờ sông Hồng cũng phát hiện được loại gạch này.
Đình làng Kim Lan thờ Cao Biền làm thành hoàng làng. Đôi câu đối cổ ở cột nghi môn đình Kim Lan:
静海甄傳瓷陶業
江西甎築大羅城
Tĩnh Hải chân truyền từ đào nghiệp
Giang Tây chuyên trúc Đại La thành.
Dịch:
Thầy Tĩnh Hải truyền nghề gốm sứ
Gạch Giang Tây đắp Đại La thành.
Việc gạch Giang Tây quân được dùng xây thành Đại La mới được biết trong khoảng những năm đầu thế kỷ 21 khi khai quật sâu xuống khu vực Hoàng thành Thăng Long. Vậy mà ở Kim Lan người dân đã biết từ lâu rằng thành Đại La được xây bằng loại gạch này và bởi Tiết độ sứ Cao Biền. Theo như thần tích tại đây, Kim Lan là làng gốm cổ có từ thời Cao Biền. Đây là một trong những nơi đã đúc nên loại gạch Giang Tây quân của thành Đại La. Gạch Giang Tây quân hoàn toàn không phải do đội quân từ nơi khác đến làm nên.
Đôi câu đối trên ở đình làng Kim Lan cho gợi ý về nghĩa tên gạch Giang Tây quân. Giang Tây thời Cao Biền là từ dùng tương đương với Tĩnh Hải. “Tĩnh” là tính chất tĩnh lặng của phương Tây theo Dịch học phương Đông. “Giang” là từ biến âm của “dương”, có nghĩa là biển (như trong từ “đại dương”). Khu vực miền Bắc Việt và phần Tây Quảng Tây thời Đường được gọi là đất Tĩnh Hải, nằm ở phía Tây của biển Đông. Trong khi đó, đối lập lại, khu vực Đông Quảng Tây và Quảng Đông được gọi là Thanh Hải, là vùng phía Đông của biển. Vì chữ Tĩnh Hải 静海 viết khá nhiều nét, nên trên các viên gạch để cho đơn giản người ta đã dùng từ đồng nghĩa ít nét hơn là từ Giang Tây 江西 thay thế.
Đáng chú ý là những viên gạch Giang Tây quân đã cho thấy đơn vị hành chính “quân” của thời Đường do một Tiết độ sứ cai quản (tức là một “sứ quân”) có phạm vi rộng lớn như thế nào. Trong giai đoạn tiếp theo, loạn 12 sứ quân lại chỉ được định vị ở quanh vùng đồng bằng sông Hồng, mỗi sứ quân chỉ có phạm vi quãng 1-2 tỉnh ngày nay. Điều này không khớp với qui mô của các “sứ quân” như thể hiện trên viên gạch Giang Tây quân ở Hoàng thành.

Kim Lan (2)Đình Kim Lan thờ Cao Biền ở Gia Lâm.

Đại Việt quốc quân thành chuyên
Lớp gạch tiếp theo ở Hoàng thành Thăng Long là gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên 大越國軍城塼. Loại gạch này đầu tiên tìm thấy ở cố đô Hoa Lư ở Ninh Bình. Điều này cho thấy Hoa Lư cũng như Thăng Long sau thời “Tĩnh Hải sứ” – “Giang Tây quân” đã chuyển thành “Đại Việt quốc”, là một quốc gia độc lập. Tên “Đại Việt quốc” trên các viên gạch ở Hoa Lư là một sự thách đố các nhà nghiên cứu lịch sử vì theo Đại Việt sử ký toàn thư mãi tới năm 1054 khi Lý Thánh Tông lên ngôi mới đặt quốc hiệu là Đại Việt. Do đó hiện có ý kiến cho rằng tên Đại Việt trên các viên gạch ở Hoa Lư là quốc hiệu thời Đinh – Lê và đầu Lý. “Việt Nam không có quốc hiệu Đại Cồ Việt mà chỉ có quốc hiệu Đại Việt…”[4].
Tuy nhiên, các giải thích như vậy không thật đầy đủ. Nếu từ thời Đinh nước ta đã gọi là Đại Việt thì tới Lý Thánh Tông còn “đặt quốc hiệu là Đại Việt”[5] làm gì? Hơn nữa thời Đinh và Tiền Lê kinh đô đang đóng ở Hoa Lư, tại sao gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên lại đã được dùng để xây cung điện ở thành Đại La?
Xét trên một phạm vi rộng của cả vùng Lĩnh Nam dưới thời kỳ Mạt Đường thì quốc hiệu Đại Việt trên các viên gạch ở Hoa Lư và Đại La phải là của nhà Nam Hán, kinh đô đóng ở Phiên Ngung (Quảng Đông). Năm 917 Lưu Nham (Lưu Cung) lên thay anh là Lưu Ẩn, tự xưng đế, lập nước quốc hiệu Đại Việt. Năm 923 Lưu Nham đánh Khúc Thừa Mỹ, nhập Tĩnh Hải quân vào nước Đại Việt. Đến năm Đinh Sửu (947) Lưu Nham cải quốc hiệu là Nam Hán[6]. Trong thời gian dài từ năm 923 đến 947 Lưu Nham có thể đã cho củng cố các thành trên đất Tĩnh Hải, xây hành cung ở Đại La và Hoa Lư.
Thiên sử thi chữ Nôm thế kỷ 17 Thiên Nam ngữ lục cung cấp thêm một dẫn chứng về sự hiện diện của Lưu Ẩn – Lưu Nham ở thành Đại La. Theo tác phẩm này sau khởi nghĩa của Phùng Hưng thì các quan cai trị Giao Châu của nhà Đường lần lượt là Tăng Cổn, Thông Đình, Lý Trác rồi đến Lưu Ẩn[7]:

Sau thằng Lưu Ẩn nó rày tới nơi
Khoe khoang trí ngõ hơn người
Đời Tống Chu Miện nên trai anh hùng
Binh sang ở giữa thành Long
Phúc thay nó lại có lòng cứu dân.

Theo sách này thì Lưu Ẩn đã vào thành Đại La của nhà Đường từ trước khi Lưu Nham lập nước Đại Việt. Nhận định những viên gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên là gạch thời Đại Việt của Lưu Nham được củng cổ thêm bởi tư liệu này.
Giai đoạn Đại La ở Hoàng thành Thăng Long như vậy không chỉ có 1, mà là có tới 2 thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất từ khi Cao Biển khởi dựng thành năm 866, là lúc khu vực miền Bắc nước ta thuộc Tĩnh Hải quân của nhà Đường. Giang Tây là tên gọi tương đương với Tĩnh Hải thời kỳ này. Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ năm 917 khi Lưu Nham lập nước Đại Việt và xây thành bằng gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên.

Gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo
Lớp gạch kế tiếp bên trên gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên là lớp gạch mang dòng chữ Lý gia đệ tam đế Long Thủy Thái Bình tứ niên tạo 李家第三帝龍瑞太平四年造. Tạm hiểu là gạch được chế tạo vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 đời hoàng đế thứ ba nhà Lý. Hoàng đế thứ ba nhà Lý có niên hiệu Long Thụy Thái Bình là Lý Thánh Tông. Như vậy viên gạch trên có niên đại năm 1057, 4 năm sau khi Lý Thánh Tông lên ngôi.

Gach Ly gia de tamGạch “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” ở Hoàng thành Thăng Long.

Gạch mang niên hiệu Long Thụy Thái Bình còn tìm thấy ở các di tích thời Lý khác như ở chùa Phật Tích (huyện Tiên Du, Bắc Ninh), tháp Tường Long (Đồ Sơn, Hải Phòng)[8]. Lý Thánh Tông cũng là người đã cho xây Văn Miếu, tháp Báo Thiên và các công trình quan trọng khác ở kinh thành Thăng Long.
Từ khi Lưu Nham lập nước Đại Việt năm 917 đến năm 1057 theo chính sử hiện nay thì khu vực miền Bắc nước ta đã trải qua hàng loạt triều đại của Ngô Quyền, Dương Bình Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành. Năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về La Thành, đổi tên là thành Thăng Long[9]. Vậy mà suốt quãng thời gian từ lúc Lý Thái Tổ dời đô (năm 1010) tới thời Lý Thánh Tông lên ngôi (năm 1054) ở Hoàng thành Thăng Long lại không hề tìm được loại gạch nào có niên hiệu tương ứng. Tại sao Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long mà lại không xây dựng một công trình nào trong thành?
Nếu theo đúng những lớp gạch hiện khai quật được ở Hoàng thành Thăng Long thì người đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, xây dựng thành quách cung điện ở đây phải là Lý Thánh Tông, vị hoàng đế thứ ba của nhà Lý. Lý Thánh Tông cũng là người đã đặt quốc hiệu Đại Việt năm 1054, bắt đầu một nền độc lập tự chủ thật sự của nước ta. Theo chứng cứ khảo cổ này tại Hoàng thành thì sự kiện dời đô và đặt tên thành Thăng Long có khả năng đã bị sử sách chép nhầm từ Lý Thánh Tông sang cho Lý Thái Tổ. Đây là giả thuyết cần được xem xét thêm, để tìm lại đúng lịch sử thật sự về thời kỳ khai sinh của nước Đại Việt.


CHÚ THÍCH:

[1] Bài viết gửi tạp chí Xưa và Nay tháng 10/2015.
[2] Đỗ Văn Ninh, Chương VII: Những viên gạch kể chuyện mình, trong Hoàng thành Thăng Long, Tống Trung Tín (chủ biên), NXB Văn hóa thông tin, 2006.
[3] Di tích khảo cổ học ở Thái Bình. Vũ Đức Thơm, Nguyễn Ngọc Phát, Bảo tàng Thái Bình, 2009.
[4] Đỗ Văn Ninh, xem chú thích trên.
[5] Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên tu soạn. Cao Huy Giu dịch. NXB Hồng Bàng, 2012.
[6] Việt Nam sử lược. Trần Trọng Kim, NXB Thời đại, 2010.
[7] Thiên Nam ngữ lục. Nguyễn Thị Lâm khảo cứu, phiên âm, chú giải. NXB Văn học, 2001.
[8] Thử tìm một mô hình tháp Phật giáo thời Lý qua các phát hiện ở chùa Phật Tích. Ngô Văn Doanh, TC Di sản văn hóa, số 4 (41), 2012, tr. 77 – 81.
[9] Việt Nam sử lược, xem chú thích trên.

Những biểu tượng trong bài ca dao “Anh là thợ mộc Thanh Hoa”

Anh là thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà… khéo thay!
Lựa cột anh dựng đòn tay
Bào trơn đóng bén nó ngay một bề.

Phần mở đầu bài ca dao tỏ ra đơn giản và tả thực. Một người thợ mộc Thanh Hoa khéo léo, làm được đủ mọi thứ. Phần mở đầu này không cho biết tiếp theo là nói về anh thợ mộc đang đục chạm cho công trình nào. Làm cầu, làm quán hay đang làm nhà?
Phần tiếp theo không phải là làm nhà mấy gian, mấy chái, mà lại chỉ dùng “bốn cửa” để định khung cảnh. Ý nghĩa biểu tượng của bài ca dao bắt đầu từ đây. Bốn cửa ở đây là bốn phương, bốn lĩnh vực của đời sống xã hội, của nhân sinh quan đương thời. Do đó bài ca dao được tiếp bởi 4 đoạn thơ lục bát, mỗi đoạn có 4 câu. Mỗi đoạn thơ nói về một lĩnh vực.

Bốn cửa anh chạm bốn dê
Bốn con dê đực chầu về tổ tông.
Bốn cửa anh chạm bồn rồng
Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo.

Đối với người Việt thì việc đầu tiên là việc thờ cúng tổ tông. Trong bài được biểu hiện bằng hình ảnh con dê. Dê đực là loài vật được dùng để tế lễ từ thời xa xưa. Cùng với đó là hình ảnh Rồng, con thì ấp, con thì leo. Rồng là nói đến vua, đến người lãnh đạo. Đoạn thơ này như vậy dành cho tổ tiên và vua, đúng theo đạo lý của Nho giáo.

IMG_5109

Đôn Tứ dương.

Đặc biệt hình ảnh diễn tả trong đoạn thơ thứ hai trùng khớp với hình trên chiếc đôn Tứ dương, một đồ đồng đặc trưng của thời Thương. Đôn Tứ dương có từ 3000 năm trước, dùng trong việc tế lễ thần linh. Trên chiếc đôn vuông này bốn góc là hình đầu 4 con dê lớn, sừng uốn cong, râu dài. Còn ở giữa 4 cạnh có hình đầu con vật nhỏ hơn với 2 sừng thẳng. Rất có thể đó là những con rồng con (rồng ấp). Hoa văn trên thân có hình “rồng leo” và chim phượng.
Chiếc đôn Tứ dương cũng cho hiểu thêm ý nghĩa của “bốn cửa” trong bài ca dao. Mỗi cửa là một hướng, một phương vị. Đôn có bố cục vuông nhưng có 8 hướng (4 dê và 4 rồng). Dê tiếng Hoa là dương, đồng âm với Dương trong Âm – Dương. Sừng dê cong vì Trời tròn (Trời là Dương). Còn 4 con rồng nhỏ là Âm. Âm thì ẩn, ém đi nên hình rồng nhỏ. Đất vuông (Đất là Âm) nên sừng rồng thẳng. Âm Dương được phối hợp thể hiện thành 8 hướng (Bát quái) trên chiếc đôn này.

IMG_5067Dê và Rồng trên đôn Tứ dương.

Bốn cửa anh chạm bốn mèo
Con thì bắt chuột, con leo xà nhà.
Bốn cửa anh chạm bốn gà
Đêm thì nó gáy, ngày ra ăn vườn.

Đoạn ca dao tiếp theo dùng 2 con vật Mèo và Gà. Mèo bắt chuột và leo xà. Đây là thể hiện không gian trên – dưới. Gà đêm gáy, ngày đi kiếm ăn. Hình ảnh biểu tượng của thời gian ngày – đêm. Như vậy trên bốn cửa của anh thợ mộc đã thể hiện đủ không gian và thời gian.

Bốn cửa anh chạm bốn lươn
Con thì thắt khúc, con trườn bò ra.
Bốn cửa anh chạm bốn hoa
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.

Đoạn về Lươn và Hoa cũng mang tính biểu tượng. Sau không gian và thời gian đã khắc ra ở đoạn trên, đoạn này hẳn là nói về “nhân gian”. “Thân lươn bao quản lấm đầu”, Lươn là biểu tượng của giới bình dân. Con thắt khúc, con trườn ra. Còn Hoa là biểu tượng của tầng lớp cao hơn, “tinh hoa”, với dáng vẻ và kích cỡ khác nhau. Có hoa nhỏ như hoa sói, có hoa lớn như hoa sen. Đoạn ca dao nói đầy đủ về các loại người trong xã hội.

Bốn cửa anh chạm bốn đèn,
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ.
Một đèn đọc sách ngâm thơ,
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.

Đoạn kết nói về Đèn. Đèn là biểu tượng của trí tuệ, của khoa học công nghệ, của lý trí. Do đó có đèn dùng để lao động sản xuất (dệt cửi, quay tơ). Có đèn để sinh hoạt văn hóa (đọc sách, ngâm thơ). Và cuối cùng là đèn để đợi chờ, tìm bạn.
Anh thợ mộc Thanh Hoa làm bài thơ dài dòng như vậy không phải khéo nói để “tán gái” (như căn cứ theo câu kết). Làm thợ, anh có tầm hiểu biết sâu sắc về thế giới và xã hội nên anh đã chạm khắc cả một thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt vào trong bài ca dao.

Bàn về tín ngưỡng Tam tứ phủ

Tu phu 2
Tứ phủ trong tranh Hàng Trống.

Tín ngưỡng Tam tứ phủ của Việt Nam đang được đề xuất là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Thế nhưng, bản chất của Tứ phủ là gì? Nguồn gốc Công đồng từ đâu? Tín ngưỡng Tam tứ phủ của Việt Nam được gọi là Đạo Mẫu nhưng hệ thống lý luận, lý giải lại còn quá nhiều câu hỏi chưa giải đáp, để có thể gọi là Đạo. Bản chất và nguồn gốc Đạo không rõ dễ dẫn đến các chuẩn mực trong thực hành đạo không có căn cứ để xác định, tín ngưỡng dễ biến thành mê tín dị đoan.
Khi nhìn nhận “đạo” và “đời” trong Tam tứ phủ luôn đi liền với nhau thì sẽ thấy rõ các thần linh trong Tứ phủ đều có phần “đời” thực, tức là họ đều là những nhân vật có thực hóa thần mà thành. Tín ngưỡng Tam tứ phủ do vậy bản chất là tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ những người có công, có đức trong quá khứ. Đây hoàn toàn không phải tín ngưỡng xuất phát từ việc tôn thờ trời, đất, nước, núi mà thành. Thiên, Địa, Nhạc, Thoải không phải là đối tượng thờ của tín ngưỡng này mà chỉ là các “phủ”, tức là chỗ ngự trị của các thần trong tín ngưỡng mà thôi.
Do tín ngưỡng Tứ phủ xuất phát từ tục thờ tổ tiên nên nó không hề thần bí, vô lý, mê tín. Trái lại, thờ tổ tiên là trách nhiệm của mỗi người Việt nên tín ngưỡng Tứ phủ là tín ngưỡng chung của mọi người Việt. Cũng vì đây là tục thờ tiền nhân nên tín ngưỡng Tứ phủ không phải là Đạo để có thể tu hành. Trong Đạo Giáo các đạo sĩ đi tu để thành tiên. Các Phật tử cũng đi tu để thành chính quả. Còn tín ngưỡng Tứ phủ không có khái niệm thanh đồng hay cung văn “đắc đạo”. Trong tín ngưỡng Tứ phủ quan trọng không phải là đi tu mà là thực hành tín ngưỡng (hầu đồng, thờ cúng).
Tứ phủ không phân cõi âm, cõi dương vì đơn giản tất cả các vị thần được thờ đều là tiền nhân đã khuất, hiển linh mà thành thánh. Thần thánh và con người đều chung một thế giới chứ không phân biệt. Khái niệm cõi âm, cõi dương là khái niệm của đạo Phật, không phải của tín ngưỡng Tứ phủ.
Tín ngưỡng Tứ phủ không hoàn toàn chính xác nếu gọi là Đạo Mẫu vì trong Tứ phủ số nam thần và nữ thần tương đương. Mỗi phủ luôn có một nam thần làm vua cha và một nữ thần làm mẫu cai quản.
Xuất phát từ nhận định tín ngưỡng Tứ phủ là đạo thờ tổ tiên người Việt, có thể nhận diện nguồn gốc lịch sử từng vị thần trong Tứ phủ công đồng. Trước hết để xác định xuất phát lịch sử của các thần trong Tứ phủ hãy đọc trang sử đầu tiên của người Việt được chép trong Truyện họ Hồng Bàng (Lĩnh Nam chích quái):
Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước.
Dưới đây xin dẫn tóm tắt đối chiếu truyền sử Việt với các thần chủ trong Tam phủ (gồm Thiên, Nhạc, Thoải). Địa phủ ra đời sau muộn nên không có mặt trong các truyền thuyết khởi thủy dân tộc.

THIÊN PHỦ
Đức vua cha của Thiên phủ là Ngọc Hoàng Thượng Đế, cai quản Thiên đình. Ngọc Hoàng Thượng Đế là Hoàng Đế Hiên Viên, người khởi đầu cổ sử Trung Hoa. Đây cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên được nói tới trong Truyện họ Hồng Bàng. Đế Minh được thờ tại núi Nghĩa Lĩnh (Ngũ Lĩnh) là đền Hùng ở Phú Thọ. Ngọc Hoàng Thượng Đế luôn hiện diện trong ban Công đồng ở các nơi thờ Tứ phủ.
Mẫu chủ của Thiên phủ là Mẫu Cửu Trùng. Mẫu Cửu Trùng được biết là Cửu Thiên Huyền Nữ, người đã giúp Hoàng Đế Hiên Viên khi khởi lập Trung Quốc. Trong truyền thuyết và tục thờ của người Việt thì Mẫu Cửu Trùng là Tây Thiên Quốc Mẫu ở núi Tam Đảo. Tây Thiên Quốc Mẫu là con gái bà Vụ Tiên trong truyền sử Việt. Tam Đảo là ngọn núi Côn Lôn của các thần tiên. Tây Thiên Quốc Mẫu cũng là bà Tây Vương Mẫu trong huyền thoại Trung Hoa.

THOẢI PHỦ
Mẫu chủ của Thoải phủ đã biết là Xích Lân Long Nữ hay Long Nữ Động Đình, vợ của Kinh Dương Vương. Truyện Tàu xuyên tạc ra thành Mẫu Thoải lấy Kính Xuyên, đi chăn dê, bị Thảo Mai vu oan… Mẫu Thoải là Quý Nương (nàng Ba) trong truyền thuyết về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình, cũng là mẹ của Lạc Long Quân.
Vua cha Thoải phủ là Bát Hải Động Đình, thờ chính tại đền Đồng Bằng (Thái Bình). Bát Hải Động Đình rõ ràng là biển (Hải), không hề là cái hồ nước bên Hồ Nam Trung Quốc như nhầm tưởng. Bát là số 8, chỉ hướng Đông trong Hà thư, chứ không phải có tới 8 vị Long Vương. Bát Hải Động Đình là vua biển Đông. Người đứng đầu của Thủy phủ – Thủy cung trong truyền sử Việt là Lạc Long Quân (dẫn 50 người con xuống biển). Bát Hải Động Đình do vậy chính là người cha của Việt tộc – Lạc Long Quân.
Thoải phủ là nơi cai quản của Ngũ vị tôn quan, là những vị quan trong ban Công đồng ở các nơi thờ Tứ phủ. Trong truyền thuyết Việt thì 2 vị quan lớn hay giáng đồng Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ là các thần Thổ Lệnh và Thạch Khanh ở sông Bạch Hạc Tam Giang. 3 vị quan lớn còn lại là các Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung, Đức Thánh Hạ thờ ở khu vực Vân Đình (Ứng Hòa).

NHẠC PHỦ
Vua cha của Nhạc phủ được Văn công đồng gọi là Ngũ Nhạc thần vương. Ngũ Nhạc thần vương không ai khác ngoài Tản Viên Sơn Thánh. Thần tích Sơn Thánh ở đền Và (Sơn Tây) chỉ rõ núi Ngũ Nhạc là núi Ba Vì, chứ chẳng phải 5 quả núi nào ở bên Tàu. Cũng thần tích này cho biết Tản Viên được phong là Nhạc phủ kiên thượng đẳng. Tản Viên Sơn Thánh cũng là Kinh Dương Vương, cha của Lạc Long Quân.
Vị trí mẫu chủ của Nhạc phủ khá rắc rối do mỗi nơi tôn một vị khác nhau làm Mẫu Thượng Ngàn. Về cơ bản Lê Mại đại vương hiển linh ở ải Chi Lăng cũng là Cao Mại, vị chúa Mường thứ ba trong Sơn trang ở Lâm Thao (Phú Thọ). Vị chúa Ba hay bà Chúa Ót cũng là nàng Diệu Thiện trong truyền thuyết về Nam Hải Quan Âm ở Hương Sơn.
Nhạc phủ đứng khá độc lập trong Tứ phủ, có hẳn một hệ thống Tam vị chúa Mường và ban Sơn trang. Việc này có lý do từ lịch sử, do phần rừng núi phía Tây nước ta (Nhạc phủ) có tới ngàn năm phân tách với miền đồng bằng sông Hồng (Thoải phủ). Phải tới thời Ngũ đại, Lưu Cung mới nhập hai vùng Đông và Tây Giao Chỉ vào nhau, dẫn đến sự tái hợp tín ngưỡng Tam phủ của người Mường và người Kinh.

P1160208 (2)Đền Suối Mỡ (Nghĩa Phương, Lục Nam, Bắc Giang) thờ Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương làm Mẫu Thượng Ngàn.

Đoạn Truyện họ Hồng Bàng đã dẫn ở đầu bài nay đã có thể viết lại dưới ngôn ngữ của Tam phủ:
Ngọc Hoàng thượng đế, cháu ba đời Thái Viêm Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được Mẫu Cửu Trùng (Mẫu Tây Thiên), rồi trở về, sinh ra Tản Viên Sơn Thánh (Ngũ Nhạc thần vương). Tản Viên Sơn Thánh mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Ngọc Hoàng thượng đế rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Tản Viên Sơn Thánh cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Ngọc Hoàng thượng đế liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Sơn Thánh làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở biển Đông, sinh ra Lạc Long Quân hiệu là Bát Hải Động Đình cho nối ngôi trị nước…

ĐỊA PHỦ
Ra đời sau cùng nhưng Địa phủ có đóng góp quan trọng vào tín ngưỡng Tam tứ phủ với sự xuất hiện của Mẫu Liễu Hạnh. Địa phủ là chốn con người nên với con người Mẫu Liễu trở nên đặc biệt quan trọng và linh thiêng. Điều này dẫn đến Mẫu Liễu đại diện luôn cho Mẫu Thượng Thiên, Thiên Địa hóa một trong Tam tòa thánh mẫu.
Nếu Địa phủ là nơi của con người, Thiên phủ là nơi của Thần Tiên thì rất có thể Thoải phủ là nơi của Tôm Cá và Nhạc phủ là của Cây cối Động vật. Mọi sinh linh trên thế giới này đều có chỗ trong tín ngưỡng Tứ phủ cả.
Mẫu Liễu Hạnh còn là vị thần bất tử thứ 4 trong Tứ bất tử. Tứ bất tử cũng có thể tương chiếu với Tứ phủ. Trong đó vị thần bất tử thứ nhất là Tản Viên Sơn Thánh ứng với Nhạc phủ. Vị thần bất tử thứ hai là Chử Đồng Tử ứng với Thoải phủ (ví dụ Chử Đồng Tử được thờ ở đền Lảnh cùng với Quan lớn đệ Tam Thoải phủ). Vị thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên Vương ứng với Thiên phủ.
Vị trí vua cha Địa phủ hiện đang còn bỏ ngỏ. Văn công đồng gọi đó là Thập Điện Minh Vương, nhưng khái niệm Thập điện là khái niệm của Đạo Phật, không phải của Tứ phủ (Tứ phủ không có cõi u minh – cõi âm). Trong khi đó có một nhân thần được Tứ phủ gọi là cha là Trần Hưng Đạo đại vương (Tháng Tám giỗ cha…). Trần triều được phối thờ ở hầu hết các nơi thờ Tứ phủ. Xét về thời gian xuất hiện của thánh (tương đương với thời kỳ của Mẫu Liễu) và ý nghĩa (cai quản cõi người) thì hợp lý nhất nếu tôn đức Hưng Đạo đại vương là Vua cha Địa phủ. Như vậy Tứ phủ trở nên đầy đủ, rõ ràng về bản chất và nguồn gốc, mới có thể mong “hoằng dương” được Đạo thánh.

BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI xuất bản trên Alezaa

Phiên bản số hóa của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian đã được phát hành trên kho sách điện tử Alezaa. Sách có thể tải về và xem trên các thiết bị điện thoại thông minh và máy tính bảng.

cover_l

GIỚI THIỆU SÁCH

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi những sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các danh nhân địa phương…

Lượm lặt, sắp xếp lại những thông tin từ văn thơ cổ, những truyền thuyết từ nơi đền miếu, chốn dân dã, cuốn sách nhỏ này có tham vọng lớn đi tìm sự thật cho giai đoạn lịch sử nước Nam từ thời khai thiên lập địa tới khi nước Đại Việt xứng tên độc lập. 18 bài viết về huyền thoại lịch sử, đúng hơn là về những con người đã làm nên huyền thoại muốn góp phần nào chút ánh sáng soi tìm lịch sử chân xác của dân tộc đã chìm đắm sau hàng ngàn năm tăm tối.

Những huyền thoại của dân tộc từ thủa Hùng Vương dựng nước như Lạc Long – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Phù Đổng Thiên Vương, Trọng Thủy – Mỵ Châu,… cho tới những truyền thuyết của những vị anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Lý Công Uẩn… được trình bày, khám phá từ góc độ văn hóa lịch sử. Cuốn sách còn dành nhiều trang phân tích nguồn gốc và sự hình thành của Đạo Mẫu Tứ phủ, Đạo Giáo và bàn luận về một số sự kiện trong Đạo Phật, Đạo Nho ở Việt Nam.

Sách được viết dưới dạng chuyện kể hấp dẫn, trích dẫn các minh văn trên cổ vật và văn bia, hoành phi, câu đối Hán Nôm và ảnh minh họa phong phú từ thực tế điền dã ở các địa phương. Sách hướng tới đối tượng bạn đọc rộng rãi, là những người có quan tâm tới văn hóa và lịch sử cổ truyền của dân tộc, với một tấm lòng thành kính đối với các bậc tiền nhân đã để lại những di sản văn hóa tinh thần vô giá của người Việt.

Lâm Ấp và Giao Châu (phần 3)

Về Sĩ Nhiếp người cùng thời có thư mô tả như sau:
Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được… Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà (Triệu Đà) cũng không hơn được.
Người Hồ đi theo xe Sĩ Nhiếp đốt hương ở đây là người Hời hay người Chăm, của đất Hồ Tôn từ thời Hùng Vương. Các Man Di đều sợ phục…
Những mô tả trên cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa Giao Châu Sĩ Nhiếp và vùng đất Hời ở Nam Trung Bộ. Các thái thú các quận của Giao Châu cũng là họ hàng của Sĩ Nhiếp, bao gồm cả quận Nhật Nam, nơi khởi lập của Lâm Ấp.
Năm 226 Sĩ Nhiếp mất, thọ 90 tuổi. Nhà Ngô muốn tập trung quyền lực của mình ở Giao Châu, xóa bỏ quyền tự trị của họ Sĩ, nên đã chia Giao Châu thành 2 phần, là Giao Châu ở phía Nam và Quảng Châu ở phía Bắc, cử 2 thứ sử mới đến cai trị, đẩy Sĩ Huy, con Sĩ Nhiếp đi cai quản 1 quận xa. Sau khi Sĩ Huy bị giết 2 châu này lại nhập lại thành Giao Châu như cũ, thể hiện rõ sự chia tách này là nhằm phế truất quyền lực của họ hàng Sĩ Nhiếp.
Đây là một sai lầm lớn của nhà Ngô, đặc biệt là việc Lữ Đại đã lừa giết Sĩ Huy. Hành động này đã phá vỡ liên minh 3 vùng Đông Giao Châu, Tây Giao Châu và Trung Bộ Việt đã hình thành từ thời Khu Liên, dẫn đến tình trạng bất ổn ở Giao Châu và sự đánh phá, phục thù liên tục của họ Phạm từ miền Trung sau này. Bắt đầu từ đây khái niệm Lâm Ấp mới bó hẹp là chỉ khu vực miền Trung Việt do họ Phạm cai quản.
Khởi nghĩa của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh mà chính sử cho là nổ ra vào thời gian này ở Cửu Chân thực ra là đã nhầm lẫn giữa 2 sự kiện. Triệu Quốc Đạt là Khu Liên (Khu Đạt), người đã chống quân Đông Hán ở Cửu Chân, lập nước Lâm Ấp từ vùng Tượng Lâm đổ về phía Nam. Còn sự phản kháng nhà Ngô sau khi Sĩ Nhiếp mất ở Giao Châu – Cửu Chân là của con cháu Sĩ Nhiếp họ Phạm khi nhà Ngô phế bỏ quyền tự trị của dòng họ này.
Mất đi người lãnh đạo có uy tín và công đức như Sĩ Nhiếp, Giao Châu dễ dàng lâm vào cảnh bạo loạn. Năm 263, khi Ngụy diệt hậu duệ của Lý Bí (Lưu Bị) ở phía Bắc, viên lại Lã Hưng giết chết thái thú Giao Châu là Tôn Tư, giành quyền cai trị. Sau đó Lã Hưng theo về nhà Tấn. Phần phía Nam Giao Châu rơi vào tay Hán tộc. Một phần đất Giao Châu nhà Ngô còn giữ được ở phía Bắc buộc phải tách ra thành Quảng Châu.
Nhà Ngô tìm cách chiếm lại Giao Châu nhưng mấy lần đều thất bại, thậm chí còn mất thêm quận Uất Lâm của Quảng Châu. Phải tới năm 269, tướng Ngô là Đào Hoàng mới thắng trận một cách vất vả, giành lại được Giao Châu và Cửu Chân từ tay quân Tấn. Nhà Ngô phong cho Đào Hoàng làm Giao Châu mục.
Đặc biệt đáng chú ý là việc Đào Hoàng mở mang đất đai cho Giao Châu. Tấn thư kể: Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương đất đai hiểm trở, Di Lão hung hãn, trải nhiều đời không phục, Đào Hoàng chinh phạt, mở đặt 3 quận, cùng với Cửu Chân thành hơn 30 huyện.
3 quận mới lập này của Giao Châu được Đào Duy Anh xác định như sau: Vũ Bình là phía Nam vùng Tây Bắc Việt, nơi có huyện Phong Khê đời Hán. Tân Xương là phía Bắc vùng Tây Bắc, nơi có thành Văn Lang. Còn Cửu Đức là vùng Nghệ An.
Đào Hoàng đã thảo phạt ai để mở 3 quận mới? Theo vị trí các quận trên thì vùng Tây Bắc Việt không thuộc Giao Châu thời trước Đào Hoàng, cũng không thuộc đất đai của nhà Tấn. Đây chính là vùng đất người Di Lão do Mạnh Hoạch cai quản. Còn chuyện thảo phạt đất Nghệ An đặt quận Cửu Đức cũng lạ kỳ. Vì như vậy thì ra vùng đất từ Thanh Nghệ đổ vào Nam không hề thuộc Giao Châu thời Ngô, mãi tới Đào Hoàng mới mở thêm được 1 quận ở quãng Bắc Trung Bộ. Tức là quận Nhật Nam không thể là vùng Trung Bộ Việt như đang được định vị.
Thoi Dao Hoang

Vị trí các quận Giao Châu thời Đào Hoàng.

Sự kiện Đào Hoàng đánh người Di Lão mở 3 quận Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương đã chứng tỏ đây vốn là khu vực đất đai thuộc Nam Triệu – Mạnh Hoạch quản lý. Nhà Ngô đã loại bỏ con cháu Sĩ Nhiếp, tấn công Mạnh Hoạch ở Tây Bắc và Thanh Nghệ, tiến sát vào vùng đất Lâm Ấp từ Hoành Sơn đổ về Nam của Phạm Hùng. Đất đai của nhà Ngô được mở rộng nhưng liên minh chống Hán hình thành từ thời Lâm Ấp – Khu Liên đã hoàn toàn bị phá vỡ. Đó là điều đau xót khi vì những lợi ích mâu thuẫn riêng mà nhà Ngô đã quên mất giặc ngoài của người Việt là Hán tộc, đang là nhà Tấn ở phương Bắc. Tấn là từ phiên thiết Tây Hán, chỉ rõ một triều đại của người Hán.
Từ góc độ người dân Việt ở Giao Chỉ thì Đào Hoàng là một vị châu mục có công đức lớn, đã giải phóng Giao Châu khỏi sự thống trị của Hán tộc (Tấn). Chính vì vậy mà khi Tôn Hạo định thuyên chuyển Đào Hoàng đi làm đô đốc Vũ Xương, dời đến Hợp Phố đã có nghìn người Giao Châu xin cho Hoàng ở lại. Tôn Hạo bèn cho Đào Hoàng ở lại Giao Châu.
Năm 280, nhà Tấn đem quân diệt Ngô, hạ Kiến Nghiệp, bắt sống Tôn Hạo. Tôn Hạo đích thân viết một bức thư khuyên Đào Hoàng quy thuận nhà Tấn. Đào Hoàng khóc suốt mấy ngày, sau cùng mới chịu, sai sứ đưa ấn bao về Lạc Dương. Nhà Tấn cho ông giữ nguyên chức cũ, lại ban tước Uyển Lăng hầu, Quan quân tướng quân.
Một vị tướng người Việt, đã vất vả giành giật Giao Châu từ tay quân Tấn, nay lại phải đầu hàng, thật đau xót, mới phải khóc suốt mấy ngày trước khi nộp lại ấn tín. Thời thế đã thay đổi. Đào Hoàng không thể theo gương Sĩ Nhiếp mà chống lại nhà Tấn nữa khi Ngô chủ đã hàng. Nhưng ông cũng đã tiếp tục giữ yên Giao Châu trong thời gian tiếp theo, không để nhà Tấn áp bức ở khu vực này.
Tấn thư còn ghi chuyện vua Tấn muốn giảm quân đội ở Giao Châu, Đào Hoàng dâng sớ nói:
Giao Châu khuất nẻo riêng một miền, chen vào giữa núi và biển, ngoài cách với Lâm Ấp chỉ có bảy trăm dặm. Tướng Di là Phạm Hùng mấy đời làm giặc lẩn lút, thường cướp phá trăm họ. Lại kết liên với Phù Nam, hăng vào quấy rối: nào đánh phá quận – huyện; nào giết hại quan, dân… Tôi khi xưa được nước cũ kén dùng, đóng quân ở miền Nam có hơn mười năm. Tuy trước sau đánh dẹp, giết được bọn Cừ Khôi nhưng trong núi, thẳm, hang cùng, vẫn còn có những quân nấp náu. Vả lại đám quân của tôi coi, vốn có hơn tám nghìn người. Đất miền Nam nóng ẩm, phần nhiều có khí độc. Lại thêm liên năm đánh dẹp, chết mòn mãi đi, hiện nay còn có hai nghìn bốn trăm hai mươi người. Nay bốn biển hỗn đồng, không đâu là không thần phục. Cố nhiên nên cuốn giáp, bỏ gươm chăm về lễ, nghĩa. Nhưng người trong châu này, chán chuyện yên vui thích gây họa loạn! Lại bờ biển phía nam Quảng Châu vòng quanh hơn sáu nghìn dặm, không chịu tòng phục đến hơn năm vạn nhà! Cùng với những bọn bất kham ở Quế Lâm cũng đến vạn nhà nữa! Đến như bọn chịu gánh vác việc quan, chỉ có hơn năm nghìn nhà. Môi răng của hai châu, vững được chỉ trông nhờ quân lính. Lại Ninh Châu. Hưng Cổ, tiếp giữ thượng lưu, cách quận Giao Chỉ nghìn sáu trăm dậm. Đường thủy, đường bộ đều thông. Giữ gìn lẫn cho nhau. Quân trong châu chưa nên rút bớt, để tỏ ra vẻ mảnh rẻ, trống rỗng…
Đào Hoàng đã viện lý do trong châu hay có bạo loạn, phải đối phó với Phạm Hùng ở Lâm Ấp… nên không thể giảm quân đội. Thực ra việc chống loạn và chống Lâm Ấp chỉ là một phần sự thật. Điều chính là Đào Hoàng không chịu giảm quân để duy trì vị thế tự trị của Giao Châu trước nhà Tấn. Vua Tấn đã không đạt được mục đích khi định hạn chế quyền lực của Đào Hoàng ở Giao Châu.

P1150393 (2)

Trán bia Tấn cố sứ trì tiết quan quân tướng quân Giao Châu mục Đào liệt hầu.

Năm 300 Đào Hoàng qua đời, người cả châu kêu khóc như chết mất cha mất mẹ. Người dân ở Giao Châu lập miếu thờ Đào Hoàng tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh, ngay cạnh thành Luy Lâu, trị sở của Giao Châu lúc đó. Tại đây còn lưu giữ được tấm bia chữ Hán cổ nhất Việt Nam mang tiêu đề Tấn cố sứ trì tiết quan quân tướng quân Giao Châu mục Đào liệt hầu. Mặt trước bia khắc niên hiệu Kiến Hưng thứ 2 (314), thời Tấn.

Mieu Dao HoangMiếu thờ Đào Hoàng ở thôn Thanh Hoài, Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Câu đối ở miếu thờ Đào Hoàng tại thôn Thanh Hoài:
威徳青藩吴北牧
恩施赤子越南慈
Uy đức thanh phiên Ngô Bắc mục
Ân thi xích tử Việt Nam từ.
Dịch:
Ngô Bắc mục oai đức rạng phiên
Mẹ Việt Nam ơn bày con đỏ.

Tục thờ Giao Châu mục Đào Hoàng như vậy vẫn còn tới nay. Người Việt hoàn toàn đúng khi coi vị châu mục này như từ mẫu, và thờ cúng hương hỏa không ngớt. Đào liệt hầu là người đã giải phóng Giao Châu khỏi tay nhà Tấn và duy trì sự yên ổn, tự trị cho vùng đất này ngay cả sau khi đã phải hàng Tấn.