Lan man câu chuyện ở đời
Ngẫm xem thật giả mấy lời cà kê
Đừng tưởng nòng nọc con Trê
Đứt đuôi lên cạn rõ về với ai
Đừng tưởng cứ lớn là tài
Cứ bé là kém, là ngoài văn minh
Đừng tưởng cứ chữ là Kinh
“Toàn thư tứ khố” trá hình trắng đen
Đừng tưởng cứ Việt là hèn
Cứ Tàu là mạnh, thói quen bốc trời
Đừng tưởng Sử ký rõ mười
Dân gian truyền thuyết là nơi tù mù
Đừng tưởng tiến sĩ, giáo sư
Sách chất cả tủ mà như mắt mờ
Đừng tưởng Vương Bột làm thơ
Đằng Vương các tự bên bờ Trường Giang
Đừng tưởng lạnh Bắc nóng Nam
La bàn chỉ hướng thế gian lộn vòng
Đừng tưởng thiên hạ Liêu Mông
Man Di Nhung Địch ngoài vùng Trung Nguyên
Đừng tưởng Phật có trước Tiên
Vũ Đương Lão Tử hóa miền Cổ Loa
Đừng tưởng cứ Hán là Hoa
Cứ Việt là Lạc, cứ Bà là Chiêm
Đừng tưởng lạc hậu Tây Nguyên
Nhà rông, công trĩ ở trên trống đồng
Đừng tưởng đem có nói không
Đừng tưởng mắt thánh lấy bông che mù
Đừng tưởng người Việt ngu ngơ
Đừng tưởng xã thử thành hồ làm ghê.
Chân Định tứ linh thần
Nếu ở Nam Định có Thiên Bản lục kỳ kể về 6 sự lạ đất Thiên Bản thì ở Thái Bình cũng có Chân Định tứ linh từ, hay 4 ngôi đền thiêng của đất Chân Định. Chân Định là tên cũ của khu vực Kiến Xương. Tứ linh từ của Chân Định là nơi thờ “tứ linh thần”, 4 vị thần thiêng trên đất Thái Bình.
Ngôi đền thiêng đầu tiên được nhắc đến là đền Vua Rộc tại thôn An Điềm, xã Vũ An của huyện Kiến Xương. Trước kia, đền nằm trong khu rừng nguyên sinh hiếm hoi của đất Thái Bình, được bao quanh bởi cây cối tươi tốt và hồ nước mát lạnh, quang cảnh rất bình yên. Theo thần tích của đền thì đây là nơi thờ 2 vị Đông Hải đại vương và Tây Hải đại vương. Tuy nhiên, thần tích không cho biết những “đại vương” này là ai, ở thời kỳ nào. Những nghiên cứu trước đây “đoán” Đông Hải đại vương là Đoàn Thượng, còn Tây Hải đại vương thì… không biết…
Đền Vua Rộc ở Vũ An, Kiến Xương.
Câu đối cổ trong đền Vua Rộc chép:
不記何年跡扥南交雙顯聖
相傳此地名髙真定四靈神
Bất ký hà niên, tích thác Nam Giao song hiển thánh
Tương truyền thử địa, danh cao Chân Định tứ linh thần.
Dịch:
Không biết tự năm nào, dấu thác Nam Giao hai hiển thánh
Lưu truyền nơi đất nọ, danh cao Chân Định bốn linh thần.
Vế đối đầu cho biết đền Vua Rộc thờ 2 vị thần đã “hiển thánh” ở Nam Giao từ thời lâu lắm rồi, không biết năm nào nữa. Vế đối sau cho biết hai vị thần đó được xếp vào bộ “Tứ linh thần” của Chân Định. Với thông tin này thì người được thờ ở đây không thể là tướng quân Đoàn Thượng, một nhân vật khá rõ ràng vào cuối thời nhà Lý ở thế kỷ 13.
Một số tác giả cho biết chữ Lạc có thể phục nguyên âm là Rộc, chỉ ruộng lúa. Tới nay người Mường vẫn gọi ruộng là rộc. Vua Rộc như vậy có thể là Vua Lạc hay Lạc Vương, phù hợp với thời Nam Giao mở nước.
Vết tích của 2 vị thần Nam Giao ở đền Vua Rộc có thể được xác định trong một câu đối khác tại đây:
瑞應金龜神爪依依留井上
威揚木馬健蹄隠隠仰橋邊
Thụy ứng Kim Quy, thần trảo y y lưu tỉnh thượng
Uy dương mộc mã, kiện đề ẩn ẩn ngưỡng kiều biên.
Dịch:
Linh ứng Rùa Vàng, móng thần y nhiên nơi giếng cũ
Oai dương Ngựa Gỗ, vó hùng thấp thoáng chốn cầu biên.
2 vế đối của câu đối này nói tới 2 sự kiện của 2 nhân vật. Vế đối đầu khá rõ, chỉ chuyện chiếc móng mà vua An Dương Vương nhận từ thần Kim Quy và chiếc giếng nơi Trọng Thủy trẫm mình. Vế đối thứ hai nói về một con chiến mã bằng gỗ xuất chinh nơi biên ải.
Tại Thái Bình, vua An Dương Vương được thờ ở khá nhiều nơi với tên xưng phong Nam Hải đại vương. Ở làng Thao Bồi (nay thuộc xã Phương Công, huyện Tiền Hải) thần tích kể về người vợ của An Dương Vương là bà Trần Thị Chân, còn gọi là Châu Nương hay Thục Nương. Châu Nương sinh ra công chúa Mỵ Châu. Sau khi Mỵ Châu chết làng Thao Bồi lập miếu “Nhị vị mẫu tử” thờ mẹ con Châu Nương, Mỵ Châu…
Nam Hải đại vương An Dương Vương còn thờ ở nhiều nơi khác tại Thái Bình như ở làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải), làng Cọi (Vũ Hội, Vũ Thư). Ở đây An Dương Vương được kể như một vị vua từng có công giúp an định và phát triển đời sống dân tình vùng ven biển. Như vậy, có thể thấy An Dương Vương là vị linh thần thứ nhất được thờ tại đền Vua Rộc. Nam Hải đại vương đã hiển thánh ở Nam Giao cũng hoàn toàn hợp lý.
Ngôi đền thiêng thứ hai của đất Chân Định là đền Sóc Lang ở xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư. Đền này thờ Mộc đức tinh quân, rất thiêng nhưng cũng không rõ sự tích ra sao. Chỉ biết có một cây gỗ trôi từ thượng nguồn về, nhân dân vớt đục thành tượng mà thờ. Nay nếu so sánh với câu đối trong đền Vua Rộc thì Mộc đức tinh quân phải là Thánh Gióng với con “ngựa gỗ” xuất chinh chốn “kiều biên”. Cái tên đền “Sóc Lang” hay Sóc Vương cũng cho thấy vị linh thần ở đây là Thánh Gióng đã bay về trời nơi núi Sóc. Nhị vị đại vương ở đền Vua Rộc như thế là An Dương Vương và Sóc Vương Thánh Gióng, rất phù hợp về không gian (Nam Giao) và thời gian.
Phương đình trước Chùa Keo Thái Bình.
Ngôi đền thiêng thứ ba của đất Chân Định là đền Lại Trì ở xã Vũ Tây, huyện Kiến Xương. Theo thần tích và văn bia lưu tại di tích, đây là nơi thờ Đại pháp thiền sư Không Lộ, họ Dương, húy là Minh Nghiêm, là người làng Giao Thuỷ, phủ Thanh Hà (tỉnh Nam Định), nối đời làm nghề đánh cá. Thân mẫu họ Nguyễn, người ở ấp Hán Lý, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang (tỉnh Hải Dương). Năm 1060 Không Lộ cùng Đạo Hạnh và Giác Hải đã sang Tây Trúc để tu luyện về đạo Phật. Năm 1061 thời vua Lý Thánh Tông, sư về nước và dựng chùa Nghiêm Quang (sau đổi tên là Thần Quang Tự) ở làng Dũng Nghĩa (xã Duy Nhât, Vũ Thư, Thái Bình) để truyền bá đạo Phật, hoằng dương Phật pháp. Chùa này được biết đến với tên chùa Keo Thái Bình.
Thời đó đạo Phật được nhà Lý coi là quốc giáo. Đức Dương Không Lộ là người hiểu về đạo Phật sâu sắc, là giáo chủ của cả vùng, ngoài việc truyền bá đạo phật, nhà sư còn có công lớn trong việc mở mang các công trình trị thuỷ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đưa nhân dân lao động thoát khỏi đói khổ. Ông còn là người am hiểu về y thuật có công chữa bệnh cho vua Lý Thánh Tông được phong làm quốc sư. Sau Dương Không Lộ sang Trung Quốc chữa bệnh cho thái tử nhà Tống rồi xin đồng về đúc chuông, tạc tượng.
Đền Lại Trì là nơi bà Nguyễn Thị, mẹ của Không Lộ đã tu hành và hóa. Còn Chùa Keo Thái Bình là nơi Không Lộ trụ trì. Câu đối ở khu thờ thiền sư Không Lộ tại chùa Keo:
法手濟群方李代特生之聖
靈丹扶九鼎南邦不死之神
Pháp thủ tế quần phương, Lý đại đặc sinh chi thánh
Linh đan phù cửu đỉnh, Nam bang bất tử chi thần.
Dịch:
Làm phép cứu chúng phương, đời Lý riêng sinh là thánh
Thuốc thiêng chữa cửu đỉnh, bang Nam bất tử là thần.
Cửu đỉnh là 9 chiếc đỉnh, hình tượng chỉ vương quyền, chỉ Vua. Câu đối nhắc đến chuyện thiền sư Không Lộ đã chữa bệnh cho vua Lý và cứu giúp nhân dân trong vùng. Thiền sư Không Lộ do đó đã được phong làm quốc sư thời Lý (Lý triều quốc sư).
Câu đối trên cũng xác định Không Lộ là một trong những thần bất tử nước Nam. Khái niệm thần bất tử không giống với linh thần. Ngoài việc là một linh thần (thần thiêng), thần bất tử phải là người có phép thuật, có khả năng “bất tử”, tức là khả năng cải tử hoàn sinh, trường sinh bất lão hay đầu thai chuyển thế. Thường thì đó phải là những người tu hành đắc đạo thần tiên.
Trước khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được xếp là một trong Nam thiên Tứ bất tử thì Không Lộ thiền sư và Từ Đạo Hạnh đã được coi là các thần bất tử. Tuy nhiên, tư liệu ở đền Lại Trì trên chép Không Lộ làm Quốc sư và chữa bệnh cho vua dưới triều Lý Thánh Tông. Trong khi chuyện Từ Đạo Hạnh đầu thai lại vào thời Lý Thần Tông. Đồng thời thiền sư Không Lộ ở đây mang họ Dương, không phải họ Nguyễn (Nguyễn Minh Không) như trong những truyện của Từ Đạo Hạnh. Những chi tiết này cho thấy truyền thuyết về việc hóa thân đầu thai của Từ Đạo Hạnh thành vua Lý Thần Tông cần được xem xét thêm cho đúng với sự việc thật sự đã xảy ra.
Ngôi đền thiêng thứ tư của đất Chân Định là đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương. Đền này thờ đức Khai Cơ Triệu Vũ Đế, người đã lập nên nước Nam Việt thời trước Công nguyên. Đền Đồng Xâm là chứng tích rành rành về “những nỗi oan” của vua Triệu Đà. Sử sách chép Triệu Đà người Chân Định… Chân Định đây là đất Kiến Xương, Thái Bình ở Việt Nam, hoàn toàn không phải ở đâu xa lắc xa lơ tận Hà Bắc, Trung Quốc. Bản thân tên huyện Kiến Xương cũng có thể liên quan tới công nghiệp của Triệu Vũ Đế vì Kiến Xương nghĩa là kiến thiết nên nền tảng ban đầu, tương ứng với danh hiệu Khai Cơ của Triệu Vũ Đế tại đây.
Về thời nhà Triệu, ở Kiến Xương còn có nhiều chuyện lạ. Ở đình Luật Nội và Luật Ngoại (xã Quang Lịch, Kiến Xương) thờ 2 mẹ con bà Phương Dung và Thạch Công đã tận trung báo quốc, giúp Triệu Việt Vương đánh giặc Lương và hy sinh ở quãng sông Lịch Bài tại Kiến Xương. Điều lạ là cha của Thạch Công lại là ông Hùng Tuệ Công, dòng dõi vua Hùng, từng làm phủ doãn Chân Định. Câu đối ở đình Luật Ngoại:
壹門義烈雄母子
萬古山河趙越王
Nhất môn nghĩa liệt Hùng mẫu tử
Vạn cổ sơn hà Triệu Việt vương.
Dịch:
Một nhà nghĩa liệt mẹ con họ Hùng
Vạn năm sông núi đức vua Triệu Việt.
Từ thời Hùng Vương trước Công nguyên tới thời của Triệu Việt Vương chống giặc Lương theo sử sách ngày nay có dư 500 năm. Làm sao bố làm quan thời Hùng mà con lại có thể giúp vua Triệu đánh giặc? Truyền thuyết nhầm lẫn hay chính sử đã sai?
Câu đối khác ở đình Luật Ngoại:
浩氣塞滄溟節烈一門皇趙日
芳名傳國母頡頏天古二徵間
Hạo khí tắc thương minh, tiết liệt nhất môn Hoàng Triệu nhật
Phương danh truyền quốc mẫu, hiệt hàng thiên cổ Nhị Trưng gian.
Dịch:
Khí lớn chất biển khơi, một nhà tiết nghĩa khi Vua Triệu
Danh thơm truyền quốc mẫu, ngàn năm bay bổng đất Hai Trưng.
Sử sách đã có sự nhầm lẫn. Triệu Việt Vương không phải vị vua ở thế kỷ thứ 6. Triệu Việt Vương gần thời Hùng Vương và thời Hai Bà Trưng phải là vua Triệu của nước Nam Việt. Nước Nam Việt được Triệu Vũ Đế lập từ những năm 200 trước Công nguyên. Có vậy thì những quan lại, công tướng của Triệu Việt Vương mới có thể mang họ Hùng.
Những cái tên Chân Định, Kiến Xương hay cả Thái Bình đều liên quan đến vị khai cơ Triệu Vũ Đế. “Ai đặt tên cho đất Thái Bình” thì không rõ, nhưng tên này chí ít đã có từ thời Triệu Vũ Đế vì Thái Bình là từ phản thiết của chữ Bái. Triệu Vũ Đế ở Chân Định là Bái Công đã lãnh đạo nhân dân Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi, lập ra quốc gia Nam Việt độc lập, xưng đế, là một thiên tử thực sự của thiên hạ.
Gác mái đình Luật Nội.
Thử sắp xếp Chân Định Tứ linh thần theo các phương vị (Tứ trấn):
– Thục An Dương Vương nên xếp ở hướng Tây, vì Thục nghĩa là hướng Tây. Thục Phán đến từ hướng Tây. An Dương Vương có danh Tây Hải đại vương trong đền Vua Rộc.
– Sóc Vương Thánh Gióng ở đền Sóc Lang với tên Mộc đức tinh quân xếp ở hướng Đông vì hành Mộc là hành của phương Đông, ứng với tên Đông Hải đại vương ở đền Vua Rộc.
– Đồng Xâm Triệu Vũ Đế hợp lý nhất xếp ở hướng Bắc vì công nghiệp “Bắc tiến” của vị vua này. Xâm hay Thâm đều là màu xám, tối của hướng Bắc.
– Không Lộ thiền sư ở đền Lại Trì và chùa Keo có thể xếp ở trấn Nam vì vị thiền sư này gốc Nam Định.
Tứ linh từ, Tứ linh thần, Tứ trấn của đất Chân Định như vậy đã hội tụ đầy đủ cả.
Phủ Tam ở Thái Bình
Trong đạo Tứ phủ thì phủ Tam là Thoải phủ. Các vị thần trong phủ này đều liên quan tới số Ba – Bát hay Tam – Tám. Mẫu Thoải là Mẫu đệ Tam, là nàng Ba (thần tích đền Dầm ở thôn Xâm Dương, Ninh Sở Thường Tín, Hà Nội) hay nàng Quý (Quý là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). Vua cha Thoải phủ là Bát Hải. Vị quan của Thoải phủ là Quan đệ Tam. Rồi ông Hoàng Bơ và cô Bơ thoải phủ (Bơ = Ba).
Đứng đầu Thoải phủ trước hết phải kể đến Vua cha Bát Hải Động Đình, người được thờ chính tại đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bát Hải hoàn toàn không phải nghĩa là 8 cửa biển. Bát hay Ba (số 3 và 8) đều là 2 con số của Hà thư chỉ phương Đông. Phủ Tam ở Động Đình là biển Đông. Nơi đây cũng gọi là vùng Đào Động.
Câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng:
桃江洞口祁千跡
生化神仙萬古傳
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Dịch:
Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
Nơi sông Đào đổ ra cửa Động là đất Thái Bình, tức là nơi sông Hồng (Đào) đổ ra biển Đông (Động Đình hồ). Trên mảnh đất này do đó lưu dấu rõ ràng các nhân vật của phủ Tam (Thoải phủ).
Thần tích đền Đồng Bằng mở đầu như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thụy An – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Tiếp đó Quý Nương sinh ra một bọc trứng, nở ra 3 con hoàng xà. Con hoàng xà lớn sau trở thành Vĩnh Công giúp vua Hùng đánh giặc Thục. Vĩnh Công được tôn là Vua cha Bát Hải Động Đình, đứng đầu Thoải phủ. Còn 2 con hoàng xà em được tập hợp trong trận chiến với quân Thục, trở thành 2 vị quan lớn dưới trướng Vĩnh Công.
Đền An Cố ở Thụy An, Thái Thụy, Thái Bình.
Hiện ở An Cố có đền lớn thờ một vị thần là Nam Hải đại vương. Vị này có cha là Phạm Xuyến, tên gọi Hải Công. Phạm Hải cũng giúp vua Hùng đánh Thục, xây dựng làng xóm ở miền ven biển, rồi một ngày hóa bên bờ biển ở An Cố.
Câu đối ở đền An Cố:
勦蜀冦固皇圖雄貉山河餘正氣
弭天灾安邑宇太平草木囿淳風
Tiễu Thục khấu cố hoàng đồ, Hùng Lạc sơn hà dư chính khí
Nhị thiên tai an ấp vũ, Thái Bình thảo mộc hữu thuần phong.
Dịch:
Trừ giặc Thục, vững hoàng đồ, non nước Lạc Hùng bao chính khí
Ngăn thiên tai, yên thôn ấp, cây cỏ Thái Bình đậm thuần phong.
Phạm Hải và Phạm Vĩnh ở Thái Bình được họ Phạm ghi nhận là những người họ Phạm đầu tiên được nhắc tới ở Việt Nam. Thực ra Phạm Hải và Phạm Vĩnh chỉ là một người. Trang An Cố như trong thần tích đền Đồng Bằng là quê mẹ của Vĩnh Công Bát Hải. Sự tương đồng về tên gọi, sự tích, địa điểm xác thực nhận định Nam Hải Đại Vương ở An Cố là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng.
Một minh chứng khác là tại đền An Cố gian ngoài cấm cung thờ 4 vị là Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan tuần phủ và Quan thần sát. Đây là chỉ dẫn trực tiếp cho thấy Phạm Hải liên quan tới Ngũ vị tôn quan của Tứ phủ. Ngũ vị tôn quan hợp thành Ban công đồng, trong đó có Quan đệ nhất thượng thiên, Quan đệ nhị giám sát, Quan đệ Tam thoải phủ, Quan đệ Tứ khâm sai, Quan đệ ngũ tuần tranh. Phạm Hải đứng đầu Ban Công đồng thì còn ai khác ngoài Vua cha Bát Hải Động Đình, vua cha của các vị quan lớn Tứ phủ.
Gian thờ Quan đệ nhị ở đền An Cố.
Vị Quan lớn của phủ Tam là Quan đệ Tam với nơi thờ chính tại đền Lảnh (Yên Lạc, Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam), nơi chân cầu Yên Lệnh. Quan lớn Lảnh chính là Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh, vị thần Bạch Hạc Tam Giang trong truyền thuyết (Lĩnh Nam chích quái). Địa danh Yên Lệnh nghĩa là nơi “yên nghỉ” của Trưởng Lệnh, vì Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội) gần đó. Tương tự, An Cố rất có thể là nơi “an nghỉ” của vị thánh Cả (Cổ – Cố) vì đó là nơi Vua cha Bát Hải đã “hóa”.
Văn chầu Quan đệ Tam bắt đầu như sau:
Trịnh giang biên doành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng Nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ Tam hoàng tử giáng sinh đền rồng.
“Trinh Giang” là đọc lệch của sông Vĩnh, con sông nơi giáng sinh Vĩnh Công Bát Hải và 2 em ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Còn “Nam minh” là biển Nam, ở đây cho thấy Động Đình chính là biển Nam minh hay biển Đông.
Sự tích về Quan Đệ Tam – Trưởng Lệnh hay hiệu thờ của thần là Trung Thành Phổ Tế Đại Vương ở vùng Phú Xuyên có vài dị bản khác nhau. Theo các thần tích phổ biến nhất như ở đình Đa Chất thì Trưởng Lệnh là 1 trong 5 người con của ông Đào Công Bột đã giúp vua Hùng đánh Thục. Họ Đào ở đây thực ra liên quan đến vùng Đào Động ở Thái Bình. Còn Bột Hải Công tương đương với Vua cha Bát Hải (Bột là biến âm của Bát).
Sự tích khác ở đình Cổ Chế (xã Phúc Tiến) thì cho biến Trưởng Lệnh mang họ Phạm. Họ này cũng là họ của Vua cha Bát Hải (Phạm Vĩnh hay Phạm Hải).
Đặc biệt thần tích của đình Cát Bi (xã Thụy Phú) còn cho biết Trưởng Lệnh là con của ông Nguyễn Cao Hành và bà Đoan Trang… Sự thể tưởng như khác biệt, vô lý, nhưng xét kỹ thì:
– Ông Nguyễn Cao Hành là dòng Tản Viên Sơn Thánh vì theo truyền thuyết về Tản Viên, cha của Sơn Thánh là ông Nguyễn Cao Hành.
– Bà Đoan Trang là Mẫu Thoải (“Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang”), mẹ của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng.
Đây là chuyện Kinh Dương Vương (Kinh Xuyên) lấy con gái Thần Long Động Đình trong Truyện Họ Hồng Bàng. Kinh Dương Vương ở đây là Tản Viên Sơn Thánh, đã “cùng vui với các loài thủy tộc” hay đã kết bạn với Thủy Tinh và xuống Thủy cung nhận cuốn sách ước trong thần tích về Tản Viên ở vùng Sơn Tây. Bát Hải Động Đình, vị vua cha của Thủy phủ, do vậy không ai khác là con của Kinh Dương Vương và Xích Lân Long Nữ, tức là cha Lạc Long Quân, thủy tổ của người Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, rõ ràng là vị vua của miền Thủy phủ – Động Đình.
Sự kết hợp các bộ tộc Nam Giao của Tản Viên (Lạc) và phía Đông của Long Nữ Động Đình (Long) đã khởi nguồn Việt tộc bởi cha Lạc – Long Quân. Đây là ý nghĩa của câu chuyện về Bát Hải Động Đình. Với sự giúp đỡ của bên mẹ (các vị quan lớn Thoải phủ) Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình đã đánh đuổi dòng tộc hướng Tây (=Thục) để lập nên quốc gia Đào – Hoa – Hạ (Hoa Đào trang) trong sử Việt.
Câu đối ở đền An Cố:
雄貉山河成萬古
都臺事業定千秋
Hùng Lạc sơn hà thành vạn cổ
Đô đài sự nghiệp định thiên thu.
Dịch:
Núi sông Lạc Hồng thành vạn cổ
Sự nghiệp đô đài định ngàn thu.
Người đã dựng thành non sông Hùng Lạc ngàn thu thì còn ai ngoài cha Lạc Long Quân?
Tượng Nam Hải đại vương ở đền An Cố.
Cuối cùng, ở đất Thái Bình nơi cửa Động còn truyền tích về vị Hoàng Bơ Thoải phủ. Hoàng Bơ xuất thế tại làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải). Không rõ cái tên Kênh Xuyên này có liên quan gì tới tên Kinh Xuyên của Kinh Dương Vương trong sự tích Mẫu thoải không. Đền thờ Hoàng Bơ nay được dựng ở Hưng Long (Tiền Hải), là nơi vị thần này đã giúp dân hàn gắn con đê biển, ngăn sóng lớn. Nơi Hoàng Bơ đi ra biển (“hóa”) gọi là An Long, cũng tương tự như những cái tên An Cố của Phạm Vĩnh và Yên Lệnh của Quan đệ Tam thoải phủ…
Viết thêm:
Theo “Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư”, ” Bách Việt Tộc Phả” thì cụ bà họ Đỗ, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương. Cụ sinh ngày mồng tám tháng tư và hoá (mất) ngày rằm tháng bảy. Cụ thường được gọi theo họ là Đỗ Quý Thị (tức Quý bà họ Đỗ). Cụ lấy chồng người họ Nguyễn tên là Nguyễn Minh Khiết tức là Đế Minh. Hai cụ sinh ta Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương). Họ Nguyễn Vân ở làng Vân Nội vẫn cúng giỗ cụ hằng năm với bài văn cúng: “Thỉnh tổ tổng khoa – Cúng gia tiên”. Mộ và miếu thờ cụ ghi trong thư tịch cũ trên đây nay vẫn còn ở Ba La, thị xã Hà Đông.
Do có sự bất hoà với chồng (Đế Minh), Cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của Cụ giúp cho Lộc Tục Trưởng thành: Cụ theo đạo Bà La môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi, hết lòng giúp cháu (con của chị) cho đến khi Lộc Tục được cha là Đại Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên là Xích Quỷ. Tám vị mà Lộc Tục gọi là cậu (em mẹ) sau đều trở thành các vị “Kim Cương”, thường được gọi là Bát Bộ Kim Cương.
Công chúa Đoan Trang họ Đỗ tên là Quý Thị trong tộc phả này chính là Mẫu Thoải, hay Quý Nương sinh Hoàng xà ở Thái Bình. Cụ là con của Long Đỗ Hải Vương, tức là con gái của Thần Long Động Đình.
Tộc phả trên chép hơi nhầm lẫn ở chuyện tiếp theo. Bà Đoan Trang là mẹ của Lạc Long Quân, ở đây chép là Lộc Tục, sau thay cha cai quản đất nước. “Sự bất hòa” của bà Đoan Trang với chồng được nhắc tới là chuyện Mẫu Thoải bị Thảo Mai dèm pha và Kinh Xuyên ruồng bỏ. 8 em trai của dòng Mẫu Thoải đươc chép là Bát bộ kim cương trong đạo Phật là các vị quan lớn đã phò giúp Vĩnh Công – Lạc Long Quân đánh Thục, giành ngôi vị vương quyền.
Quan Thánh đế quân là ai?
Tục thờ Quan Công hay Quan Thánh đế quân ở Việt Nam nhiều sách cho rằng là bắt nguồn từ tín ngưỡng ngoại lai của Trung Quốc. Sự thể tưởng là rõ ràng vì ai cũng biết Quan Công là tướng của Lưu Bị nhà Thục qua truyện Tam quốc diễn nghĩa. Nhưng vậy thì người Việt dựng tượng, lập miếu thờ Quan Công có đúng đạo không?
Thời Tam Quốc phía Đông Giao Chỉ thuộc đất của Tôn Quyền do Sĩ Nhiếp cai quản. Phía Tây Giao Chỉ thuộc đất của Mạnh Hoạch, thần phục nhà Thục của Lưu Bị. Khảo cổ học ngày nay của chính các nhà khoa học Trung Quốc xác nhận hai nước Ngô và Thục là quốc gia phi Hán (TS. Nguyễn Việt). Như vậy về bản chất thời kỳ Tam Quốc là thời kỳ hai quốc gia của người Bách Việt là Ngô và Thục chống lại giặc ngoại (Ngụy) xâm. Quan Công là đại tướng của nhà Thục, có công chống Hán quân thì hiển nhiên cũng là một danh nhân của người Việt trong cuộc chiến đấu chống giặc phương Bắc.
Trong truyền thuyết Việt thời kỳ Lưu Bị được lưu truyền dưới tên Lý Bí hay Hậu Lý Nam Đế. Người anh cùng khởi nghĩa của Lý Bí là Lý Thiên Bảo thực ra là Lưu Biểu ở Kinh Châu. Trong bức thư của vua Hán gửi cho Sĩ Nhiếp đã gọi Lưu Biểu là “nghịch tặc”:
“Giao Châu ở cõi xa, một dải sông biển ở phía nam, ơn trên không truyền đến, nghĩa dưới bị nghẽn tắc, thế mà nghịch tặc Lưu Biểu lại sai Lại Cung dòm ngó đất Nam”.
Nghịch tặc của nhà Hán lúc này thì chỉ có thể là đồng đảng của quân khởi nghĩa Khăn Vàng từ Trương Giác. Khởi nghĩa của Lưu Bị dựng nên nhà Thục thực chất là nối tiếp cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng ở Kinh Châu, Quý Châu, Ích Châu, chống lại quân Hán.
Sách Từ điển văn hóa cổ truyền Trung Hoa có ghi: “ Đến thời Tống Chân Tông, Hà Đông có yêu ma hoành hành hút cạn nước Diêm Trì, lại sắp đưa quân Tây Nhung tới quấy nhiễu biên giới, tình thế vô cùng nguy ngập. Chân Tông phái sứ thần đến núi Long Hổ ở Tín Châu cầu cứu Trương Thiên Sư. Trương Thiên Sư phái Quan Vũ đi trừ yêu. Bảy ngày sau bầu trời phủ đầy mây đen, trời tối như mực, sấm chớp liên hồi, năm ngày sau trời quang đãng, yêu ma đã hàng phục. Chân Tông bèn phong cho Quan Vũ là Võ An Vương, sai đến núi Ngọc Tuyền tế lễ”.
Trương Thiên Sư là Trương Đạo Lăng, tổ sư của các thủ lĩnh quân Khăn Văng Trương Giác, Trương Lương, Trương Bào. Vậy mà Trương Thiên Sư lại “phái Quan Vũ đi trừ yêu”. Quan Vũ không phải là người đã tham gia đánh dẹp quân Khăn Vàng mà ông chính là một tướng lĩnh trong khởi nghĩa này. Quan Vũ trở thành một tướng “hộ giáo” của khởi nghĩa Khăn Vàng.
Ở Việt Nam Quan Công được thờ phổ biến không chỉ ở miền Nam, nơi có nhiều người Hoa, mà còn ngay ở Hà Nội. Ở nội thành Hà Nội có ít nhất 4 làng từng lập Quan Công làm Thành hoàng. Quan Công còn là một trong những người được thờ chính ở đền Ngọc Sơn ngay trung tâm Hà Nội với tên Quan Thánh đế quân.
Hình thức thờ Quan Công gặp ở 2 dạng. Thứ nhất Quan Công biểu trưng cho tinh thần thượng võ, trung nghĩa, tiết liệt, được thờ làm thần chủ các võ miếu. Ở hình thức này Quan Công được thể hiện ở dạng một võ tướng, mang đại đao, có Châu Xương và Quan Bình đứng hầu…
Một hình thức thứ hai như ở đền Ngọc Sơn Hà Nội, Quan Công được thờ là Quan Thánh đế quân, dưới dạng một vị thần của Đạo giáo. Đền Ngọc Sơn được xây bởi hội Hướng Thiện từ thế kỷ 19. Hội Hướng Thiện tập hợp các sĩ phu Hà Thành do Vũ Tông Phan làm hội trưởng. Hội này sau thực hành tín ngưỡng Tam Giáo, trong đó Quan Thánh đế quân được tôn vinh khá cao. Thậm chí có người còn cho rằng Quan Thánh đế quân đã lên thay ngôi của Thượng đế…
Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng: Quan Công thờ tại gia đình thì là vị thần phù hộ cho gia chủ (nam giới), thờ ở đền miếu là vị thần phù hộ cộng đồng, thờ ở Đạo quán là một trong ba mươi sáu tướng của Huyền Thiên thượng đế chuyên trừ tà ma cứu độ chúng sinh, thờ ở chùa là Già Lam bồ tát hộ trì tam bảo (Sổ tay hành hương đất phương Nam).
Như vậy Quan Công không chỉ còn là một võ tướng mà trở thành một nhân vật Đạo giáo quan trọng. Tại sao lại như vậy? Ở đây có khả năng trong tín ngưỡng Hoa Việt đã có sự “trộn lẫn” giữa 2 nhân vật: giữa Quan Công thời Tam Quốc với một vị “Quan” khác, là đạo sĩ.
Vị “Quan” đó là… Quan Thánh, được thờ ở đền Trấn Vũ cạnh Hồ Tây. Quan hay Quán đều cùng là một chữ Nho 觀. Đền Quan Thánh ở Hồ Tây không phải là quán (nơi thờ phụng của Đạo giáo) thờ Thánh mà là đền thờ vị thần có tên là Quan Thánh. Người thờ ở đền Quan Thánh là Huyền Thiên Trấn Vũ, người đã có công cử thần Kim Quy tới giúp vua An Dương Vương diệt trừ yêu quỷ xây thành Cổ Loa trong truyền thuyết.
Một nơi khác thờ Huyền Thiên cũng được gọi là đền Quán Thánh là đền Bộ Đầu ở xã Thống Nhất (Thường Tín, Hà Nội). Rõ ràng Huyền Thiên được gọi là Quan Thánh vì đền Bộ Đầu không hề là “quán” của Đạo Giáo. Huyền Thiên ở đền Bộ Đầu còn có tên Đổng Thiên Vương, là một trong 4 vị tối linh Hương Bổng Đổng Đằng của nước ta.
Huyền Thiên là vị thần trấn phương Bắc (huyền phương). Phương Bắc cũng gọi là hướng Quan vì khi người ta đứng tay mặt ở hướng mặt trời mọc (Đông), tay chiêu ở hướng mặt trời lặn buổi chiều (Tây) thì mắt sẽ nhìn (quan) về hướng Bắc. Quan Thánh có nghĩa là vị thánh trấn phương Bắc, đồng nghĩa với Huyền Thiên hay Bắc Đế Trấn Vũ.
Huyền Thiên là ông tổ của Đạo Giáo (Lão Tử), đứng ngôi Thái thanh Đạo đức Thiên tôn trong Tam thanh. Đổng Thiên Vương cũng là vị bất tử thứ ba trong Tứ bất tử Việt Nam, ứng với ngôi Vua cha của Thiên phủ trong Tứ phủ. Đây chính là lý do vì sao Quan Công lại trở thành vị thần Đạo giáo. Trong tín ngưỡng này Quan Công được lấy làm “hóa thân” của Quan Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ do trùng “họ” Quan với Huyền Thiên. Cách “hóa thân” này gặp khá phổ biến trong Đạo Mẫu Tứ phủ, ví dụ như các hàng Chầu thường là hóa thân của các Mẫu tương ứng.
Đền thờ chính của Huyền Thiên Trấn Vũ là đền Sái ở Thụy Lôi (Đông Anh, Hà Nội), nơi Huyền Thiên đã diệt Bạch Kê Tinh, giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Trong khuôn viên đền Sái bên cạnh khu chính thờ Huyền Thiên có một am nhỏ thờ Quan Công. Câu đối ở Ngũ môn đền Sái:
仰望祠前萬里祥雲呈聖瑞
與和舍共九天甘露灑人家
Phiên âm:
Ngưỡng vọng từ tiền, vạn lý tường vân trình thánh thụy
Dữ hòa xá cộng, cửu thiên cam lộ sái nhân gia.
Dịch:
Ngưỡng vọng trước đền, muôn dặm mây lành trình thánh đẹp
An hòa thôn xóm, chín tầng ban phúc khắp nhân gia.
“Huyền Thiên Đại Quán” ở núi Sái, Đông Anh.
Một sự trùng hợp là câu đối này cũng là câu trong kinh giáng bút tại đền Tam giáo Vọng Từ ở làng Hòa Xá (Đồng Phú, Chương Mỹ, Hà Nội). Đền Vọng Từ này một trong những nơi hành sự của Hội Hướng Thiện (Hội đã xây đền Ngọc Sơn). Liên quan giữa Quan Thánh đế quân và Huyền Thiên Trấn Vũ lại một lần nữa thể hiện ở đây.
Như vậy, Quan Thánh đế quân cho dù ở vai võ tướng Quan Công hay đạo sĩ Quan Thánh thực ra đều là gốc người Việt. Truyền thống người Việt thờ Quanh Thánh đế quân hoàn toàn đúng đạo, đúng nghĩa lý.
Văn Nhân xin thêm ý:
Quan Công là nhân vật trung nghĩa nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, được nhiều đời và rất nhiều nơi thờ kể cả ở Việt Nam .
Thực ra trung thành tuyệt đối với Lưu Bị không phải là mấu chốt để Quan Công được lịch sử đánh giá cực cao như thế.
Nhìn nhận bối cảnh lịch sử thời Lưỡng triều phục quốc theo sử thuyết Hùng Việt …
Tư liệu lịch sử viết: … Lưu Bị liên kết với tướng Khăn Vàng là Cung Đô ở Nhữ Nam. Tháng 6 năm 201 Tào Tháo sai Sái Dương mang quân tấn công Lưu Bị ở Nhữ Nam. Quan Vũ cầm quân ra trận giết chết Sái Dương. Tào Tháo bèn tự cầm đại quân tiến đánh. Quân Tào giết chết tướng “Khăn Vàng” Cung Đô, Lưu Bị không chống nổi, phải bỏ chạy về Kinh Châu nương nhờ Lưu Biểu…
Chi tiết hiếm hoi làm đảo lộn lịch sử Trung Hoa… dù mới chỉ nói mé mé… Lưu Bị liên kết với tướng Khăn Vàng là Cung Đô trong buổi đầu tạo dựng sự nghiệp…., chưa dám nói thẳng ra sự thực lịch sử: Lưu Bị là lãnh tụ của quân khởi nghĩa Khăn Vàng ở Nhữ Nam.
Trong bài viết trên tác giả cũng đã khẳng định vai vế lịch sử của Lưu Biểu thời gian này: …. Nghịch tặc đối với vua quan triều đình Đông Hán, tức hãn quốc Đông.
Chân tướng thực sự của cặp Lưu Biểu – Lưu Bị lộ ra trong dòng sử Việt: Lưu Biểu và Lưu Bị chính là Lý thiên Bảo và Lý Bí; 2 lãnh tụ của khởi nghĩa Khăn Vàng đã lãnh đạo dân … Thiên hạ nổi dậy lật đổ ách thống trị của Đông Hán, tức Đông hãn quốc.
Lịch sử Trung Hoa không có thời Tam quốc, chỉ có thời Lưỡng quốc kháng Ngụy hay thời “thù trong – giặc ngoài” (Ngụy là ngoại, cũng là giả – dã).
Lưu Bị còn có tên là Lưu Huyền Đức. Thực ra … Lưu là biến đổi của Lý, Đức chỉ là đế chép sai. Trong ngôn ngữ dựa trên Dịch tượng thì Huyền màu đen và phương Nam – nom – nhìn chỉ là một. Lưu Huyền Đức của sử Trung Hoa không ai khác chính là Lý Nam đế trong sử Việt. Lưu Bị chính là Lý Bí .
Tại sao vì trung thành với Lưu Bị – Lý Bí mà Quan Công được cả người Việt và Hoa ngưỡng mộ như thế?
Trong con mắt của Quan Công thì Lý Bí – Lưu Bị hay Lưu hoàng thúc là người kế nghiệp chính thống sự nghiệp chính trị của Lưu Bang, không phải là Quan Công trung thành với Lý Bí mà là trung thành với tổ quốc họ Hùng mà Lý Bôn – Lưu Bang, ông cha của Lưu Bị – Lý Bí có công dựng nên 1 triều đại.
Triều Lý Bôn theo Sử thuyết Hùng Việt là Hùng triều thứ 17, triều đại quan trọng đúng danh nghĩa sau cùng của Hữu Hùng quốc. Triều Tân Hùng Duệ lang của Vương Mãng chỉ là sự kéo dài thêm 1 chút (duệ là kéo dài thêm ra) thời độc lập tự chủ trước khi mất nước – mất Thiên Hạ vào tay các Hãn; chúa tổ của bọn Lục Lâm Thảo khấu.
Tào Tháo tìm mọi cách chiêu hàng ông nhưng Quan Công dứt khoát cự tuyệt vì dưới mắt ông Tào Tháo là giặc xâm lược…
Tư liệu còn chép giai thoại:
Tôn Quyền khiến Gia Cát Cẩn đến Kinh Châu, nói với Quan Công: “Tôi đến có ý kết giao hai nhà. Chúa tôi có con trai thông minh, nghe ngài có con gái tuyệt sắc, nên muốn cầu thân…
Nhưng Vân Trường nổi giận nói: “Con gái ta ví như loài hổ, há lại gả cho loài khuyển?”.
Rõ ràng trong cái nhìn của Quan Công thì chúa tôi Tôn Quyền không hơn loài khuyển mã, chỉ là đám phản nghịch dám xưng đế tiếm ngôi khi đã có dòng dõi nhà Lý là Lý Bí – Lưu Bị kế thừa sự nghiệp ông tổ Lý Bôn duy trì quốc thống (sử Tàu mập mờ lộn sòng… nước Thục Hán kế tục quốc thống của Tây Hán).
Quan niệm này ngày càng được nhiều người chấp nhận, coi thời Lưu Bị là thời hậu Lưu Bang, người Việt coi Lý Bôn là Lý Nam đế cũng là Nam Việt đế. Còn Lý Bí là Lưu Huyền Đức – hậu Lý Nam đế.
Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh
(dựa trên thống kê của Hida Romi – Oshima Sachio, 2012, có bổ sung thêm một số thông tin)
|
STT
|
Địa điểm
|
Thông tin
|
|
|
1
|
Ung châu Tiên Du tự
雍州仙遊寺
|
Niên đại
|
601 (Nhân Thọ 1)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bảo tàng Tiên Du tự
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Ảnh thác bản chưa công bố. Ảnh văn bia có trên website kênh truyền hình Phượng Hoàng – Trung Quốc
|
||
|
Kích thước
|
khoảng 50x50cm
|
||
|
2
|
Kỳ châu Phượng Tuyền tự
岐州鳳泉寺
|
Niên đại
|
601 (Nhân Thọ 1)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bảo tàng huyện Phù Phong
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Bắc đồ[5] (t9), tr.143
|
||
|
Kích thước
|
32x34cm
|
||
|
3
|
Đồng châu Đại Hưng Quốc tự
同州大興國寺
|
Niên đại
|
601 (Nhân Thọ 1)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Uỷ ban quản lý văn vật huyện Đại Chi tỉnh Thiểm Tây
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Thiểm Tây bi thạch tinh hoa, tr.30
|
||
|
Kích thước
|
Chưa có thông tin
|
||
|
4
|
Thanh châu Thắng Phúc tự
青州勝福寺
|
Niên đại
|
601 (Nhân Thọ 1)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bảo tàng Thành phố Thanh châu
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Bắc đồ (t9), tr.144
|
||
|
Kích thước
|
63x77cm (trán bia: 31x27cm)
|
||
|
5
|
Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự
京城大興縣龍池寺
|
Niên đại
|
601 (Nhân Thọ 1)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Không rõ
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Bắc đồ (t9), tr.142
|
||
|
Kích thước
|
35x30cm
|
||
|
6
|
Tín châu Kim luân tự
信州金輪寺
|
Niên đại
|
602 (Nhân Thọ 2)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bạch Đế thành Tây Bi Lâm
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Bắc đồ (t.9), tr.153
|
||
|
Kích thước
|
43x46cm
|
||
|
7
|
Lộ châu Phạn Cảnh tự
潞州梵境寺
|
Niên đại
|
602 (Nhân Thọ 2)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Không rõ
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Chưa có thông tin
|
||
|
Kích thước
|
Chưa có thông tin
|
||
|
8
|
Đặng châu Đại Hưng Quốc tự
鄧州大興国寺
|
Niên đại
|
602 (Nhân Thọ 2)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bảo tàng Thành phố Khai Phong
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Bắc đồ (t.9), tr.156
|
||
|
9
|
Tử châu Hoa Lâm tự
梓州華林寺
|
Niên đại
|
604 (Nhân Thọ 4)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Sưu tập tư nhân Nhật Bản
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Nakamura Nobuo (2004)
|
||
|
10
|
Nghi châu Thần Đức tự
宜州神德寺
|
Niên đại
|
604 (Nhân Thọ 4)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bảo tàng Diệu huyện
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Thiểm Tây bi khắc tinh hoa, tr.32
|
||
|
11
|
Liêm châu Hoa Thành tự
廉州花成寺
|
Niên đại
|
604 (Nhân Thọ 4)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Không rõ
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Bắc đồ, tr.166
|
||
|
12
|
Kinh thành Diên Hưng tự
京城延興寺
|
Niên đại
|
601 (Nhân Thọ 1)
|
|
Nơi lưu giữ
|
Bảo tàng Hàm Dương
|
||
|
Ảnh thác bản
|
Hàm Dương bi thạch, tr.18
|
||
Ảnh: Thác bản bia Bắc Ninh (chụp tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học 2012)

Thứ hai là sự phân bố các chữ trên một dòng. Về cơ bản, minh văn Ung châu, Kỳ châu và Đồng châu có bố cục mỗi dòng 11 chữ, minh văn Thanh châu và Đại Hưng huyện mỗi dòng có 12 chữ. Trong khi đó, minh văn Giao châu có bố cục mỗi dòng 13 chữ.

Như đã trình bày ở phần trước, hiện nay tại Trung Quốc đã phát hiện được 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp. Tuy nhiên, theo khảo sát tư liệu của chúng tôi, chỉ có 2 trường hợp được phát hiện thông qua khai quật khảo cổ học.
Trường hợp thứ nhất là khai quật khảo cổ học tại tháp xá lợi chùa Tiên Du thuộc Ung châu (Tây An, Thiểm Tây) năm 1998. Tháp này nhiều khả năng đã được tu sửa dưới thời Đường. Ở địa cung dưới chân tháp đã phát hiện 1 hòm đá vuông mỗi cạnh khoảng 58cm, cao 40cm, bên trái hòm đá đặt một tấm bia làm bằng đá xanh, một mặt khắc minh văn “Xá lợi tháp hạ minh” năm Nhân Thọ 1 (601) thời Tùy, một mặt khắc minh văn “Tiên Du xá lợi tháp minh” năm Khai Nguyên 4 (716) thời Đường. Bốn phía hòm đá khắc hình 10 tiên nữ cầm các loại nhạc cụ. Bên trong hòm đá có một hòm đồng dài 11,7cm, phía trước rộng 5,48cm, cao 8,4cm, phía sau rộng 3,9cm, cao 6,2cm. Bên trong hòm đồng lại có 1 bình lưu ly cao 4,65cm. Bên trong bình có 10 hạt xá lợi (Lưu Á Vận, 1998).
Trường hợp thứ hai là khai quật nền tháp chùa Thần Đức ở Nghi châu (nay nằm trong phần đất của chùa Diệu Huyện, Thiểm Tây) năm 1964. Tháp này được xây dựng năm Nhân Thọ 4 (604). Hòm đá đựng xá lợi được tìm thấy bên dưới nền tháp, xung quanh được quây bằng gạch. Bốn phía và phía trên hòm đá lại được chặn bởi các phiến đá hình chữ nhật. Thành nắp hòm được trang trí hoa lá, thân hòm khắc cảnh A Nan và các đệ tử đau buồn sau khi Phật Thích Ca lên Niết Bàn cũng như hình Tứ Đại Thiên Vương, Kim Cương Lực Sĩ. Hòm đá có hình vuông mỗi cạnh 103cm, cao 119cm. Nắp hòm cao 52cm, phía trên có khắc 9 chữ “Đại Tùy hoàng đế xá lợi bảo tháp minh”. Điều đáng chú ý là bia được đặt bên trong hòm đá. Phần nắp hòm bên trong được cắt gọt giật cấp sâu 10cm, rộng 52,5cm. Bia khắc minh văn được đặt lọt trong phần giật cấp đó. Bên trong hòm đá có các hòm đồng nạm vàng đựng xá lợi và một số bảo vật như vòng vàng, hòm đồng đựng tóc, bình đồng đựng tro cốt (Dương Hoằng, 2006).

Như vậy, có thể thấy về mặt hình dáng, hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh và hòm đá tìm thấy tại chùa Tiên Du và chùa Thần Đức tuy có kích thước khác nhau nhưng hình dáng tương đối giống nhau, đặc biệt là phần nắp có góc bạt chéo. Qua so sánh, có thể suy đoán hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh chính là hòm đá đựng xá lợi.
Ảnh: Thác bản mộ chí Tô Hiếu Từ

[42] Về cuộc thảo luận xung quanh di chỉ Lũng Khê và các thành cổ Luy Lâu – Long Biên, xin tham khảo Nishimura (2011).
Ghi chú: Bài viết được đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 2013 (『考古学』雑誌〈越南〉、第1号、2013年). Do một số vấn đề về kỹ thuật, bài viết đăng trên Tạp chí là phiên bản cũ của bài viết, có chứa một số lỗi nhập liệu và thiếu phần mộ chí của Tô Hiếu Từ. Vì vậy, tác giả đăng tải bài viết chính xác ở đây để đính chính và bổ sung những phần còn thiếu sót.
Góp phần nhận thức minh văn thời Lưu Tống phát hiện tại nghè thôn Thanh Hoài (Thuận Thành, Bắc Ninh)
|
1 (Giáp Tý)
甲子 |
2 (Ất Sửu)
乙丑 |
3 (Bính Dần)
丙寅 |
4 (Đinh Mão)
丁卯 |
5 (Mậu Thìn)
戊辰 |
6 (Kỷ Tị)
己巳 |
|
7 (Canh Ngọ)
庚午 |
8 (Tân Mùi)
辛未 |
9 (Nhâm Thân)
壬申 |
10 (Quí Dậu)
癸酉 |
11 (Giáp Tuất)
甲戌 |
12 (Ất Hợi)
乙亥 |
|
13 (Bính Tý)
丙子 |
14 (Đinh Sửu)
丁丑 |
15 (Mậu Dần)
戊寅 |
16 (Kỷ Mão)
己卯 |
17 (Canh Thìn)
庚辰 |
18 (Tân Tị)
辛巳 |
|
19 (Nhâm Ngọ)
壬午 |
20 (Quí Mùi)
癸未 |
21 (Giáp Thân)
甲申 |
22 (Ất Dậu)
乙酉 |
23 (Bính Tuất)
丙戌 |
24 (Đinh Hợi)
丁亥 |
|
25 (Mậu Tý)
戊子 |
26 (Kỷ Sửu)
己丑 |
27 (Canh Dần)
庚寅 |
28 (Tân Mão)
辛卯 |
29 (Nhâm Thìn)
壬辰 |
30 (Quí Tị)
癸巳 |
|
31 (Giáp Ngọ)
甲午 |
32 (Ất Mùi)
乙未 |
33 (Bính Thân)
丙申 |
34 (Đinh Dậu)
丁酉 |
35 (Mậu Tuất)
戊戌 |
36 (Kỷ Hợi)
己亥 |
|
37 (Canh Tý)
庚子 |
38 (Tân Sửu)
辛丑 |
39 (Nhâm Dần)
壬寅 |
40 (Quí Mão)
癸卯 |
41 (Giáp Thìn)
甲辰 |
42 (Ất Tị)
乙巳 |
|
43 (Bính Ngọ)
丙午 |
44 (Đinh Mùi)
丁未 |
45 (Mậu Thân)
戊申 |
46 (Kỷ Dậu)
己酉 |
47 (Canh Tuất)
庚戌 |
48 (Tân Hợi)
辛亥 |
|
49 (Nhâm Tý)
壬子 |
50 (Quí Sửu)
癸丑 |
51 (Giáp Dần)
甲寅 |
52 (Ất Mão)
乙卯 |
53 (Bính Thìn)
丙辰 |
54 (Đinh Tị)
丁巳 |
|
55 (Mậu Ngọ)
戊午 |
56 (Kỷ Mùi)
己未 |
57 (Canh Thân)
庚申 |
58 (Tân Dậu)
辛酉 |
59 (Nhâm Tuất)
壬戌 |
60 (Kỷ Hợi)
癸亥 |
Cổ Luỹ – Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên
Tư liệu từ nguồn: http://dzunglam.blogspot.com/2013/07/co-luy-phu-tho-trong-boi-canh-khao-co_18.html




“Ai oán” Việt Tần
Theo quan niệm hiện nay thì cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên của người Việt với phương Bắc là khi tướng Tần Đồ Thư đem đại quân tiến đánh phương Nam năm 216 TCN. Cho dù không có thư tịch Trung Hoa nào nhắc tới tên Thục An Dương Vương nhưng các sử gia ngày nay “bịa” ra giả thuyết Tần đã diệt nước Tây Âu của Thục Vương là bố của Thục Phán, rồi Thục Phán liên kết với nước Lạc Việt của vua Hùng để làm cuộc kháng chiến trường kỳ chống Tần, kết thúc bằng thắng lợi oanh liệt, giết Đồ Thư, mang lại độc lập…
Nhưng một khi đã nhận ra những “nỗi oan” vô lý của Triệu Đà trong chuyện xâm chiếm nước Âu Lạc thì những “nỗi ai oán” của An Dương Vương và Tần Vương cũng không kém phần bức xúc…
AI LÃNH ĐẠO NGƯỜI VIỆT CHỐNG TẦN THẮNG LỢI?
Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
“Người Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Tây Âu là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã đánh chiếm vùng đất Việt, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương?
Theo sử Việt An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu Lạc năm 256 TCN, nếu 50 năm sau (năm 207 TCN) vẫn còn sống thì đã ngoài 70-80 tuổi, làm sao mà còn lãnh đạo người Việt đánh Tần? Chưa kể chuyện Triệu Đà đánh nước Âu Lạc của An Dương Vương nay bị dời tới năm 179 TCN, tức là vào lúc An Dương Vương đã ngoài trăm tuổi, vậy mà vẫn còn có con gái Mỵ Châu đang ở tuổi cập kê mười tám đôi mươi?!
Trong khi đó, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.
Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm (hoặc Lâm Ấp), Tượng Quận và Nam Hải mà Tần lập ra trên đất Việt. Vì vậy Triệu Đà mới là “người Tuấn kiệt” đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.
Sử sách ghi rõ ràng thời gian và nhân vật trong cuộc chiến với quân Tần như thế mà các sử gia Việt Nam vẫn không muốn công nhận. Bởi vì họ thích An Dương Vương, một người Việt, chiến thắng quân Tần hơn là Triệu Đà. Có điều họ không nhận ra, Triệu Đà cũng là người Việt, vua Việt chẳng khác gì An Dương Vương. Triệu Đà khởi nghiệp từ đất Thái Bình, lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần thắng lợi, giành lại đầy đủ các quận mà Tần lập ra trên đất Việt ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất.
TẦN CHIẾM VIỆT NHƯ THẾ NÀO?
Nếu Triệu Đà không phải người đã xâm lược nước Âu Lạc thì người đã đánh diệt An Dương Vương chỉ có thể là nhà Tần. Truyền thuyết Việt cũng như người Choang ở Quảng Tây (truyện Thần cung bảo kiếm) chép chi tiết sự kiện Tần đánh Việt qua câu chuyện thương tâm Trọng Thủy – Mỵ Châu. Trọng Thủy là người Tần như trong bài thơ sau, hiện còn lưu ở am Mỵ Châu tại thành Cổ Loa:
Hoàng thành đoạn kính thảo ly ly
Vãng sự thương tâm bất khả ti
Tần Việt nhân duyên thành oán ngẫu
Sơn hà kiếp vận đáo nga mi…
Dịch (theo Đỗ Văn Hỷ):
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài…
Để chuẩn bị cho cuộc tấn công Âu Lạc, Tần Vương đã cử vương tôn của mình là Trọng Thủy sang kết hôn với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu, nhằm dò xét quân tình. Trọng là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý. Thủy là hành thủy chỉ phương Bắc, như trong tên hiệu của Tần Thủy Hoàng. Trọng Thủy là vị vương tử thứ ba của nhà Tần.
Khi Trọng Thủy đã nắm được mọi đường ngang lối dọc ở Âu Lạc, kiếm cách trốn về nước, rồi dẫn đạo quân của Đồ Thư tổng tấn công nước Âu Lạc. Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống bị Tần diệt như sách Hoài Nam Tử kể là An Dương Vương, vua của nước Âu Lạc, đã phải “cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển”.
Sự thực thì việc Trọng Thủy ở rể trên đất Việt là chuyện Dị Nhân Doanh Tử Sở, cháu của Tần Chiêu Tương Vương, làm con tin tại nước Triệu. Doanh Tử Sở lấy người thiếp của Lã Bất Vi là Triệu Cơ hay Châu Cơ, được truyền thuyết Việt chép là nàng Mỵ Châu. Doanh Tử Sở lên ngôi có hiệu là Tần Trang Tương Vương. Còn Châu Cơ – Mỵ Châu là người sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng. Câu chuyện Lã Bất Vi “buôn vua” chỉ là sự sao chép lệch lạc của mối nhân duyên Tần Việt ở thành Cổ Loa.
Như vậy Tần đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương không phải vào thời Tần Thủy Hoàng mà là vào năm 257 TCN, thời điểm sử Việt chép An Dương Vương đánh Hùng Vương. Tần Thủy Hoàng khi thống nhất Trung Hoa đã tiến hành chính sách “hòa tập Bách Việt”, “đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn” tới đất Lục Lương, phân chia quận huyện trên đất Việt. Sử Việt đã chép lẫn cuộc tấn công của Đồ Thư đánh Dịch Hu Tống – An Dương Vương năm 257 TCN với việc di dân quy mô lớn của Tần Thủy Hoàng năm 216 TCN.
NHỮNG DANH NHÂN ĐẤT VIỆT THỜI TẦN
Tần Thủy Hoàng là đứa con của 2 dòng máu Tần Việt (Trọng Thủy – Mỵ Châu) nên dưới thời Tần các danh nhân ở đất Việt rất được trọng dụng. Truyền thuyết Việt còn ghi chuyện Lý Thân, người làng Thụy Hương, Từ Liêm, được Tần Thủy Hoàng gả con gái và giao chức Tư lệ hiệu úy, trấn thủ đất Hoa Di. Khi Lý Thân mất, Tần Thủy Hoàng vô cùng thương tiếc, cho đúc tượng đồng to bằng người thật đặt ở Hàm Dương, đủ thấy sự quý mến của Tần Thủy Hoàng với Lý Ông Trọng như thế nào.
Câu đối ở đình Chèm thờ Lý Ông Trọng:
Tần quan lỵ chỉ Trung Hoa tướng
Việt điện nguy nhiên thượng đẳng thần.
Dịch:
Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa
Điện Việt còn đây thần thượng đẳng.
Một chuyện khác về thời Tần được chép trong Lĩnh Nam chích quái là Truyện Giếng Việt. Truyện mở đầu như sau:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn… Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang lại đền miếu…
Thôi Lượng làm quan tới chức ngự sử đại phu dưới thời Tần. Ngự sử đại phu tức là chức quan phó của thừa tướng, rất cao trong hàng quan chức thời Tần Hán. Rõ ràng đã có một triều Tần trên đất Việt, với những người Việt làm phò mã, ngự sử đại phu. Điều này chỉ có thể hiểu được khi biết rằng một nửa dòng máu của Tần Thủy Hoàng là dòng máu Việt từ nàng Mỵ Châu mà ra.
CON ĐƯỜNG ĐÔNG DU CỦA TẦN THỦY HOÀNG
Sự có mặt của triều Tần trên đất Việt sẽ không hề vô lý khi biết rằng Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Lục quốc đã cho dời đô về phía Nam, gần biển hơn. Tần Thủy Hoàng bản kỷ (Sử ký Tư Mã Thiên) chép:
Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Thủy Hoàng cho rằng ở Hàm Dương người thì đông mà cung đình các vua trước thì nhỏ nói:
– Ta nghe vua Văn Vương nhà Chu đóng đô ở đất Phong và Vũ Vương đóng đô ở Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương.
Bèn sai xây cung để tiếp các triều thần ở phía Nam sông Vị….
Con đường Tần Thủy Hoàng cho làm để đi thông ra biển qua đất Vân Dương cũng là nơi Thủy Hoàng sau đó đi tuần du phương Đông năm thứ 37 (211 TCN), lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần. Chỗ có thể lên núi để nhìn ra biển Nam Hải thì chắc chắn phải là ở vùng ven biển Đông ngày nay.
Trong những lần Đông du đó Tần Thủy Hoàng đã gặp vị đạo sĩ bác sĩ Yên Kỳ Sinh. Chuyện Yên Kỳ Sinh được sách Trung Quốc chép như sau:
Yên Kỳ Sinh người Phụ Hương, thuộc Lang Gia. Ông bán thuốc ở ven biển Đông Hải. Người đời gọi là Thiên Tuế Ông. Tương truyền khi Tần Thủy Hoàng đông du đã gặp ông, ban cho ông hàng vạn vàng ngọc. Ông bèn để tất cả lại nơi Phụ Hương đình rồi bỏ đi. Ông để thư lại cho Tần Thủy Hoàng đến tìm ông dưới núi Bồng Lai. Tần Thủy Hoàng mấy lần sai người ra biển tìm ông nhưng đều bị bão phải quay về. Bèn lập đền thờ ở Phụ Hương đình và hơn 10 nơi ven biển.
Yên Kỳ Sinh chẳng xa lạ gì với người Việt vì đỉnh núi Yên Tử ở Đông Triều, Quảng Ninh chính là một trong những lưu tích của Yên Kỳ Sinh. Tần Thủy Hoàng gặp Yên Kỳ Sinh khi đi tuần du như vậy là ở ven biển Đông. Con đường Thủy Hoàng mới mở do đó cũng là con đường chạy ra biển Đông, đi qua đất Việt.
Vị trí các quận cực Nam của nhà Tần.
Chứng tích về vị trí con đường của Tần Thủy Hoàng mở còn được thấy trong chuyện về Triệu Đà. Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Nhâm Ngao, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói:
– Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi.
“Chặn đứt con đường mới” là chặn con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở đi ra Vân Dương. Dương là hướng mặt trời lên, hay hướng Đông. Vân Dương nghĩa là phía Đông của đất Vân Nam, tức là vùng Bắc Việt – Quảng Tây. Câu nói của Nhâm Ngao chỉ rõ con đường Tần Thủy Hoàng mới mở là đi qua đất Nam Việt nơi Nhâm Ngao và Triệu Đà đang quản lý. Đó cũng là nơi có các di tích của đạo sĩ Yên Kỳ Sinh thời Tần Thủy Hoàng.
Tại con đường Đông du đó, Lưu Bang thời trẻ đã từng đứng quan sát Tần Thủy Hoàng đi qua mà ngậm ngùi mộng đế vương (Cao Tổ bản kỷ). Lưu Bang không phải ai khác chính là Triệu Đà ở đất Thái Bình. Do vậy, Lưu Bang – Triệu Đà mới có thể thấy Tần Thủy Hoàng đi du ngoạm ở khu vực đất Quảng Ninh ngày nay…
An Dương Vương hiển nhiên là người Việt. Tần Thủy Hoàng ít nhất có nửa dòng máu mẹ là người Việt. Triệu Đà cùng Lưu Bang cũng là người Việt từ đất Thái Bình. Dòng sử Việt từ thời các vua Hùng dựng nước tới nhà Hiếu của Lưu Bang chưa hề bị đứt mạch. Đã đến lúc người Việt phải trả lại sự thực cho những “nỗi oan ức” của tiền nhân…
Mục lục BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, phiên bản 4
Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI cập nhật tháng 11/2015. Tổng số 492 trang.
Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.
MỤC LỤC
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ÔNG TRỜI BÀ TRỜI
Viêm Giao Bàn Cổ
Ngọc Hoàng thượng đế
Quốc mẫu Tây Thiên
Núi Côn Lôn
ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG
Mở sử Hoa Việt
Kinh Dương Vương
Lên núi xuống biển
Thần châu Xích huyện
TẢN VIÊN SƠN THÁNH
Gậy thần sách ước
Ngũ hành cung
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Ngũ Nhạc và Ba Vì
RỒNG BAY BIỂN BÁT
Mẫu Thoải
Bát Hải Động Đình
Bạch Hạc Tam Giang
Đầm Nhất dạ
Giếng Việt
NON SÔNG BÁCH VIỆT
Mẹ Âu Cơ
Sinh Bách Việt
Thần Bổng
Chim bạch trĩ
Cổ vật Thương Chu
LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH
Lão Tử làng Thổ Hà
Xây thành Cổ Loa
Huyền Thiên Trấn Vũ
Ông Đổng
Nam thiên Tứ bất tử
NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT
Mỵ Châu – Trọng Thủy
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
Họ Chu Việt Nam
Tần An Dương Vương
HƯƠNG BỔNG ĐỔNG ĐẰNG
Đức thánh Chiêm
Bến Vĩnh Khang
Vua Mây họ Phạm
Luận về tứ linh
THIÊN NAM ĐẾ THỦY
Người Tuấn kiệt
Nhâm Ngao
Long Hưng
Nam Việt Đế
NAM QUỐC SƠN HÀ
Mũ đâu mâu
Chân Định linh thần
Thừa tướng Lữ Gia
Tam Giang nhị thánh
Bảy quận nước Nam
LỜI THỀ SÔNG HÁT
Tây Lý Vương
Ả Lã Nàng Đê
Mẫu vì Dương Vương
Nợ nước thù nhà
Hống Hát họ Trương
NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN
Tiền nhân họ Phùng
Nam Giao học tổ
Giao Châu Đặng cư sĩ
Vị thần sông Tô
ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG
Tiếp Lạc khai Đinh
Đô Dương Mã bất tiến
Thì chi Đông Hán dám hung hăng
Khu Linh người nước Nam ta
Tây Đồ Di
SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP
Mạnh Hoạch
Nam Triệu
Đào liệt hầu
Bia cổ nói
Lưu Phương và Lý Bát Lang
BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
Tây Hưng đại vương
Khun Borom
Tộc người Thái
Tam vị chúa Mường
GIANG TÂY SỨ QUÂN
Bột Hải triều Nam
Dẹp Lâm Ấp
Gạch Giang Tây
ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG
Khúc tam vị chủ
Hạt Lý nảy năm cây
Đại Hưng bình bảo
Giữa huyện Phù Hoa
TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ
Thời 12 sứ quân
Thủ lĩnh Đinh Bộ
Diễn Châu thái thú
Qua cửa Thần Phù
LỜI BẠT
ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ
PHỤ LỤC
Đối chiếu truyền thuyết và lịch sử
Dịch tượng và ngôn ngữ
Thơ Sử thuyết họ Hùng
Chỉ dẫn di tích và địa danh
Tài liệu tham khảo












