10 đứa con của rồng trong văn hóa Hoa Việt

Truyền thuyết “Long sinh cửu tử” xuất hiện dưới thời Tống – Minh đã tập hợp lại một số hình tượng thú giống rồng có vai trò trang trí trong kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật truyền thống như thao thiết, bồ lao, nhai tí, bí hí, si vẫn,… Số lượng những đứa con rồng theo các tài liệu khác nhau lên tới hơn 10 loại. Những hình tượng này có vai trò khá quan trọng trong văn hóa truyền thống vì chúng làm nên nét riêng biệt của các di tích đền đài và các đồ vật thờ liên quan.
Tuy nhiên, câu hỏi về nguồn gốc nguyên mẫu ban đầu và ý nghĩa sơ khởi của những biểu tượng các đứa con của rồng là gì thì hiện vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Những khảo sát gần đây của các học giả Việt Nam mới dừng lại ở các văn vật từ thời Đinh Lý, chưa đủ để trả lời cho câu hỏi này. Truy nguyên nguồn gốc các đứa con của rồng phải lùi xa hơn nữa, vào lúc và ở nơi mà hình tượng rồng ban đầu xuất hiện thì mới có thể biết những đứa con của rồng được “sinh ra” và “lớn lên” như thế nào. Đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được vai trò của văn hóa Việt Nam trong việc hình thành các hình tượng này.
Hình tượng Rồng trong văn hóa Trung Hoa xuất hiện khá sớm, ngay từ thời kỳ đồ đá mới đã có hình rồng bằng đá ngọc trong văn hóa Hồng Sơn hay trên tông ngọc của văn hóa Lương Chử. Sang tới thời Thương, thiên hạ Trung Hoa bước vào giai đoạn đồ đồng thì con rồng trở thành biểu tượng hoa văn mỹ thuật rất phổ biến trên các vật dụng. Trên hầu hết các đồ đồng thời kỳ này đều có thể bắt gặp hình rồng với những biến thể khác nhau, rất đa dạng. Đồ đồng Trung Hoa đạt đỉnh cao rực rỡ vào thời Thương Chu, tương ứng thời gian với văn hóa trống đồng Đông Sơn, một nền văn hóa cũng không kém phần huy hoàng ở phía Nam.
Trong truyền thuyết Việt thì sự phát triển của hình tượng Rồng được thể hiện qua Truyện Họ Hồng Bàng. Dòng dõi theo cha Rồng Lạc Long Quân đi xuống biển về phía Đông Nam xưa, tức là Đông Bắc nay, hình thành nên khu vực văn hóa khảo cổ Ân Thương. Dòng theo mẹ đi lên núi về phía Tây Bắc được nhấn mạnh hơn với các hình tượng chim hạc và hươu (Hà và Lạc) trên trống đồng Đông Sơn, chính là văn hóa Chu. Trên thực tế, có thể gặp những hiện vật giao thoa giữa cả 2 dòng văn hóa cha Rồng mẹ Tiên này như hình tượng giao long trong văn hóa Đông Sơn hay chim hạc trên đồ đồng Thương.
Ở Việt Nam tồn tại cả 2 dòng đồ đồng nói trên. Dòng đồ đồng Đông Sơn có mặt ở nước ta thì đã rõ. Còn dòng đồ đồng Thương Chu thường được gọi là đồ đồng Hán, cho dù niên đại của những đồ đồng này có trước thời Hán.
Nghệ thuật thời Thương Chu cũng như Đông Sơn mang tính chất biểu tượng cao. Giai đoạn càng cổ xưa thì tính biểu tượng lại càng cao. Tới cuối thời Chu các hoa văn, hình trang trí trên đồ vật bắt đầu dần trở nên “tả thực” hơn. Sang thời Hán đồ đồng làm dưới dạng các tượng người, thú giống như thật. Cũng chính vì tính biểu tượng cao này mà đồ đồng cổ Thương Chu đóng vai trò nguồn gốc cho các hình tượng văn hóa sau này của phương Đông.
Hình tượng Rồng trong văn hóa phương Đông đạt đỉnh cao đầu tiên là trên các đồ đồng thời Thương Chu – Đông Sơn. Do đó đây cũng là lúc mà “rồng sinh con”, hay là lúc hình thành các biến thể của hình tượng rồng, phù hợp và đáp ứng các yêu cầu khác nhau của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng. Vì vậy, muốn tìm nguồn gốc những đứa con của rồng cần khảo sát hình tượng rồng trong các đồ đồng của thời kỳ này.
Ý nghĩa và nguồn gốc của những hình tượng thường được thể hiện qua ngay tên gọi. Nên việc tìm hiểu các hình tượng con của rồng cần đi sâu phân tích tên gọi của chúng. Nhiều khi tên gọi đọc lên nghe tưởng là tiếng Hán, tên chữ lạ hoắc, nhưng thực ra đó chỉ là cách ghi âm tiếng Nôm mà thôi, vì thực tế các hình tượng này là hình tượng của văn hóa Việt (Bách Việt). Áp dụng “Nôm na pháp” giúp cung cấp thêm thông tin xác thực về ý nghĩa và nguồn gốc của các hình tượng con của rồng.

1. Bí hí
Bí hí 贔屭 theo nghĩa của chữ là “gắng sức làm”. Hình tượng này có hình dáng của con rùa, dùng để đỡ các vật nặng. Các tác giả hiện nay liên hệ nó với truyền thuyết Nữ Oa chặt chân con Ngao ngoài biển để chống trời hay so sánh với con rùa vũ trụ trong Ấn Độ giáo. Tuy nhiên, Rùa đội bia hay đội vật nặng trong văn hóa phương Đông không thiếu gì khả năng từ những nguồn gốc khác thuyết phục hơn.
Truyền thuyết Việt cho biết người Việt cổ theo hình dáng của con Rùa mà làm ra nhà sàn với các cột lớn chống đỡ cho ngôi nhà. Vậy biểu tượng rùa mang vật nặng hoàn toàn có thể xuất phát ngay từ khi người Việt biết làm nhà sàn, một loại nhà phổ biển trên toàn cõi Đông Nam Á. Hình ảnh Nữ Oa chống trời cũng chỉ là biểu tượng hóa của cách bắt chước rùa làm nhà sàn, chống mái (trời) bằng cột mà thôi. Người Hán ở vùng sông Hoàng Hà không có “bản quyền” về truyền thuyết này vì họ không hề làm nhà sàn mà chỉ có các loại nhà đắp đất. Đồng thời họ cũng không có các loài rùa lớn hay ba ba. Xuất phát điểm của người Hán ở Thiểm Tây thậm chí không hề giáp biển để mà có con Ngao cho Nữ Oa chặt chân. Con rùa chống vật nặng như vậy vốn xuất phát từ vùng ven biển Đông trong lịch sử tộc Việt.
Trên đồ đồng Thương Chu nét biểu tượng của Rùa – Bí hí nằm ở những cái chân của các đồ vật. Chân đỉnh, chân vạc, chân ấm… của các đồ đồng thời kỳ này đều làm to, ngắn, trông giống như chân voi. Bí hí còn có tên là Bá hạ, có thể cùng nghĩa là chống đỡ từ phía dưới. Vậy là có thể thấy chân Rùa hay yếu tố Bí hí trong các đồ đồng cổ bởi người Việt đã theo hình con rùa mà làm nhà, làm chân cột chống đỡ các đồ vật.

IMG_5465
Phần chân của chiếc hủy quang tê giác thời Tây Chu.

Con Rùa còn liên quan trực tiếp tới văn chương chữ nghĩa qua một số truyền thuyết. Đó là việc Việt Thường cống vua Ðường Nghiêu rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa. Rồi từ trên lưng con rùa thần mà Đại Vũ đã ghi lại Lạc thư. Hay Phục Hy chép Bát quái cũng từ lưng rùa. Hiển hiện hơn, loại chữ cổ xưa của Trung Hoa từng được phát hiện cũng là chữ viết trên mu rùa, gọi là chữ Giáp cốt. Chính vì những sự tích này mà con Rùa mới gắn với chữ nghĩa, mới đội văn bia nơi đền miếu.
Cái tên gọi Bí hí như vậy chỉ nên dùng để chỉ Rùa khi nó đội các vật nặng (tháp, công trình kiến trúc), hoặc chỉ các chân đỡ giống như chân Rùa. Những con rùa đội bia nên vẫn gọi là Rùa thì hơn vì nó không có tính chất “gắng sức làm” của từ bí hí mà mang tính chở văn chương.

2. Thao thiết
Xuất hiện sớm nhất trong số các đứa con của rồng trên văn vật cổ là hình tượng Thao thiết. Chữ ghi âm này hiện dùng là 饕餮, gắn với bộ thực 食 là ăn uống. Tuy nhiên hình tượng Thao thiết ban đầu không phải chỉ xuất hiện trên các đồ đựng thức ăn. Nó xuất hiện đầu tiên trên tông ngọc của văn hóa Lương Chử dưới dạng một bộ mặt có mắt, mũi to, miệng rộng. Sau đó Thao thiết phát triển gặp phổ biến trên các đồ đồng thời Thương có hình mặt thú mắt to, mũi lớn, có sừng. Thao thiết là bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng hình tượng những đứa con của rồng trong truyền thuyết Long sinh cửu tử chính là bắt nguồn từ các hình trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu.

download (1)Ống tông có mặt Thao thiết của văn hóa Lương Chử.

8b434-lich20ba20cu
Lịch đồng thời Tây Chu với hình Thao thiết ở 3 mặt.

Tông ngọc cũng như các đồ đồng đỉnh, lịch, bình rượu,… thời Thương có mục đích sử dụng chính không phải để đựng thức ăn mà là đồ tế khí. Vì vậy bộ mặt Thao thiết thực chất ban đầu mang nghĩa thần quyền, tạo cảm giác kỳ bí cho hiện vật. Về sau Thao thiết thể hiện tính uy nghiêm, sự cứng rắn của vương quyền.
Thao thiết còn gọi là Thú diện văn. Gốc của từ này đơn giản có thể là dạng tiếng Việt “đầu cứng”, thể hiện trong các thành ngữ “mặt sắt đen sì” hay “rắn mặt”. Thao là biến âm của từ Đầu. Thiết là cứng, là kim loại.
Thao thiết thường có hình dạng một mặt thú, có sừng như sừng trâu. Vị thần đầu trâu trong văn hóa phương Đông là Viêm Đế Thần Nông. Cũng vị thần này đã dạy dân trồng lúa, có cái ăn cái mặc. Có thể vì vậy mà chữ Thao thiết được viết với bộ thực 食 (lương thực). Thao thiết như thế là biểu tượng của Thần Nông hay của sự no đủ.

IMG_1879Ấm đồng thời Tây Chu trang trí toàn bằng Thao thiết ở cả phần thân và nắp.

3. Tiêu đồ
Tiêu đồ 椒啚 thường có hình mặt thú, nhưng kích thước nhỏ hơn Thao thiết (trong tương quan so với đồ vật có hình tượng này). Đặc điểm nữa là Tiêu đồ có ngậm vòng hay tay nắm với ý nghĩa đóng kín, nắm chắc, khác với Thao thiết có miệng mở rộng.
Tiêu đồ còn có tên là Phô thủ. Phân tích có thể thấy, cả 2 tên này đều cùng một nghĩa. Tiêu tương đương với Phô, nghĩa là nhô lên, nhô ra. Đồ là âm đọc khác của Đầu. Như thế hiểu đơn giản đây là hình cái đầu thú nhô ra. Truyền thuyết kể Tiêu đồ là loài trai ốc. Điều đó có nghĩa là hình Tiêu đồ không có thân, chỉ có đầu nhô ra.
Hình đầu thú nhỏ ngậm vòng hay ngậm tay cầm gặp nhiều trên đồ đồng Thương Chu. Ví dụ trên các chiếc bình có vòng bên hông. Hay thậm chí ở quai các chiếc tước đồng có hình đầu thú ngậm quai cũng có thể coi là tiền thân của biểu tượng Tiêu đồ.

IMG_7247 (2)Hình đầu thú ngậm vòng trên chiếc bình thời đầu Chiến Quốc (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

IMG_5408
Tay cầm chiếc tước thời Thương có hình đầu thú.

Hình Tiêu đồ tương tự còn gặp cả trên các đồ đồng Đông Sơn, như trên thố đồng hay tay nắm cửa.

P1170134Tay nắm hình mặt thú (Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng lịch sử).

P1170135Thố đồng Đông Sơn có hình mặt thú ngậm vòng (Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng lịch sử).

4. Kim nghê
Cho dù cụm từ Toan nghê 狻猊 tiếng Hán dịch là sư tử nhưng chắc chắn nguồn gốc Kim nghê không phải lấy nguyên mẫu của sư tử vì phạm vi phương Đông chưa bao giờ có sư tử sinh sống. Kim nghê lại càng không bao giờ đi đỡ tượng hay làm thú cưỡi cho Phật.
Hình tượng một con vật như loài thú móng vuốt trên nắp đồ vật thực ra đã gặp từ thời Chiến Quốc. Như trên nắp một chiếc liễn đồng thời này, hình dáng hoàn toàn giống Kim nghê ngày nay.

IMG_7255Phủ đựng thức ăn thời Xuân Thu (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

Hay một hình ảnh khác là như trên chiếc nồi hổ ba chân cũng khoảng thời Chiến Quốc. Chức năng của nó là làm tay cầm cho phần nắp (vung nồi).

IMG_1473

Như vậy ban đầu Kim nghê vốn là hình con hổ trên nắp các đồ dùng. Vì Hổ cũng là Hỏa, là lửa, nên Kim nghê dùng biểu trưng cho các vật nóng, sau thành ra loại thích khói lửa để trên nắp các lư hương hay chỗ hóa vàng.
Cần phân biệt hình tượng Kim nghê (nghê trên đồ kim loại) với con Nghê chầu ở các di tích thờ cúng, thường bằng gỗ, đá, sành sứ. Con Nghê ở các di tích mang ý nghĩa là con vật đứng chầu ngay ngắn (ngô – nghê – ngay, thực ra đều là tiếng Việt cả), nghiêm trang. Do đó có rất nhiều loại Nghê khác nhau cùng chức năng đứng chầu từ nghê chó, nghê rồng, nghê sư tử, nghê kỳ lân, đến cả nghê cá.

5. Bồ lao
Bồ lao 蒲牢 là biểu tượng có hình rồng hai đầu, thường dùng làm quai treo chuông. Theo truyền thuyết thì đó là một loài thú hoặc chim ở biển, khi gặp cá kình thì kêu rất to. Chi tiết loài Bồ lao sống ở biển cũng đủ thấy đây là hình tượng của văn hóa Bách Việt vì địa bàn của Hán tộc vốn không giáp biển. Chưa kể một vài tài liệu nói Bồ lao ở biển Nam Hải hay biển Đông. Biển Đông thì chỉ có thể là ở giáp vùng đất Việt ngày nay.
Chữ Lao nghĩa là vật hiến tế. Chữ Bồ không có nghĩa, có thể đơn giản là từ chỉ định “con”, “cái”. Bồ lao hiểu nghĩa đen là con vật dùng để hiến tế. Có thể con vật hiến tế cho thủy thần (cá kình) xưa khi bị giết hay bị ném xuống nước kêu rất to. Người ta mới lấy đó làm truyền tích cho hình tượng Bồ lao.
Hình tượng rồng 2 đầu hay 2 con rồng đấu đuôi vào nhau gặp trên các não bạt, bác (dạng chuông nhỏ) từ thời Chiến Quốc. Những con rồng này được thể hiện với phần miệng đang há to như đang kêu. Rõ ràng rồng hai đầu trên nhạc khí đồng thời Chiến Quốc là tiền thân của hình tượng Bồ lao trên các chuông đồng sau này.

hien_vat 8_kienthuc_cxeoChuông đồng thời Xuân Thu (Ảnh internet).

Bac Son 042
Chuông đồng Chiến Quốc có hình rồng đấu đuôi.

6. Nhai tí
Nhai tí hay Nhai xải có chữ là 睚眥. Chữ này nghĩa thường là nhìn một cách khinh bỉ. Hình tượng Nhai tí dùng đúc tạc ở chuôi cán vũ khí.
Hình rồng trên cán vũ khí đã xuất hiện từ thời Chiến Quốc trong cả đồ đồng Thương Chu cũng như đồ Đông Sơn. Ban đầu là cả một cụm rồng nối nhau như trên chuôi kiếm. Cũng có những chiếc qua đồng của thời này với phần chuôi là hình cả con rồng. Như vậy hình tượng Nhai tí cũng có nguồn gốc là trang trí rồng trên vũ khí đồng từ thời Chiến Quốc.

IMG_7244 (2)Qua đồng thời Chiến Quốc (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

img_4597-e1508257236855.jpg
Chuôi kiếm có hình hủy long.

7. Si vẫn
Si vẫn 螭吻 còn gọi là Ly đầu hay Ly thủ, nghĩa là đầu con Ly. Hình tượng này dùng trên nóc nhà ở nơi tiếp giáp của mái. Dân gian gọi là con Kìm (ở đỉnh mái) hay con Sô (biến âm của Si) ở góc mái.
Gợi ý về nguồn gốc của Ly đầu là chiếc bình Phỏng Chu Ly thủ phương hồ của vua Minh Mạng làm phỏng theo đồ đồng thời Chu năm 1838. Trên hình mộc bản có thể thấy rõ “Ly thủ” là đầu một loài thú như con hươu, có sừng ở vị trí phía trên nắp của bình.

4
Bản rập Phỏng Chu Ly thủ phương hồ (Ảnh theo Trung tâm lưu trữ quốc gia IV).

Hay thường gặp trên đồ đồng thời Thương như trên dữu (loại bình có nắp và quai) ở chỗ tiếp giáp là hình đầu trâu. Tương tự ở vị trí đó trên các loại đôn vuông hoặc tròn là hình đầu dê với sừng cong, thậm chí cả đầu voi.

duu-e1508257492201.jpg
Dữu đồng đựng rượu thời Thương.

DonĐôn tứ dương thời Thương.

Như thế, nguyên mẫu Ly đầu là hình trang trí đầu thú ở phần tiếp giáp các bộ phận. Có thể chữ Ly này đồng âm với từ ly rời, chỉ chỗ mà các bộ phận có thể tách nhau. Hoặc Ly = lề, chỉ chỗ tiếp giáp. Từ “vẫn” cũng có nghĩa là mép, chỉ nơi tiếp giáp. Không quan trọng hình đầu thú này có ngậm vật hay không. Thời kỳ đầu Thương Chu thể hiện ở vị trí tiếp giáp trên là các loài hươu, dê hay trâu. Về sau hình tượng này được “long hóa” thành ra hình đầu rồng, trong khi tên gọi vẫn là Ly hay Si.

8. Trào phong
Trào phong 嘲風 là biểu tượng hình một con thú dáng như con hổ đang ngẩng đầu (đón gió). Hình tượng này thường đặt trên bờ dải các công trình kiến trúc. Dân gian gọi là con Náp. Xét trên đồ đồng Thương Chu thì hình tượng tạo nổi ở bên hông các vật dụng chính là tiền thân của Trào phong sau này trên các công trình kiến trúc.
Ví dụ trên chiếc bình thời Xuân Thu, một dạng bình tiêu biểu của thời kỳ này có 2 con vật nửa hổ nửa rồng đang ngoảnh đầu ra ngoài. So sánh thì thấy vị trí và hình tượng của nó rất giống với Trào phong trên đền đài. Hoặc trên chiếc bình thời Chiến Quốc có 4 con rồng được tạo bám 4 góc bình. Nhưng hình rồng hổ ở thành bình đồng Thương Chu chính là tiền thân của con Trào phong sau này trên đền đài.
Hình con Náp hay Trào phong phân biệt với con Kìm hay Si vẫn (con Sô) ở chỗ hình này gồm nguyên cả con thú, đầu ngẩng và đặt ở vị trí lưng chừng, chứ không phải vị trí tiếp hợp các bộ phận.

Binh Xuan thuBình thời Xuân Thu.

Binh Chien quoc
Bình thời Chiến Quốc.

9. Bệ ngạn
Chữ Ngạn trong Bệ ngạn 狴犴 nghĩa là tù ngục. Chữ Bệ có bộ Khuyển, chỉ một loài vật. Loài vật hình như con hổ, hung dữ dùng bày nơi công đường và nhà ngục cũng đã có từ thời Chiến Quốc. Dưới đây là hình một loài hổ cũng tương đối “long hóa” của thời này.

Bac Son 069

10. Công phúc
Công phúc 蚣蝮 là hình tượng được dùng trang trí cầu cống vì tương truyền loài này thích uống nước. Có thể Công là đọc sai của từ Cống. Còn Phúc nghĩa là con rắn. Loài rắn ưa nước gọi là Công phúc.
Rồng uống nước thì cũng có nhiều mô típ trên đồ đồng Thương Chu. Ban đầu là hình rồng có chức năng làm vòi các ấm rượu, như hình rồng trên ấm đồng Tây Chu sau.

IMG_1855

Tới thời Đường rồng hút nước biến thành 2 tay cầm của chiếc bình.

IMG_1435

Thêm một hình tượng nữa là Phụ hí. Chữ phụ 負 có nghĩa là vác, cõng. Chữ hí 屭 có lẽ cũng như trong tên Bí hí, chỉ việc nặng. Phụ hí là hình tượng sử dụng trên các bia, mộ, được dùng thành cặp đôi. Hình dáng hoàn toàn giống rồng. Tiền thân của Phụ hí trên đồ đồng Thương Chu có thể là hoa văn trang trí các quai vạc, quai đỉnh, thông thường cũng là 2 con rồng đầy đủ. Ví dụ như hoa văn 2 con quỳ long trên quai của chiếc lịch thời Tây Chu sau. Vị trí trang trí này cũng phù hợp với cái tên Phụ hí vì nó mang nghĩa mang vác của tay quai đồ vật.

IMG_7292

Như vậy, các hình tượng con của rồng khác nhau đều có nguyên mẫu từ các hình trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu. Điều này hoàn toàn hợp lý vì đồ đồng Thương Chu là một trong những nấc thang đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, làm nền tảng cho sự phát triển các biểu tượng nghệ thuật sau này trên các công trình kiến trúc và vật dụng truyền thống. Cho dù tên chữ Nho của những hình tượng này đọc nghe lạ tai nhưng bản chất các hình tượng đó vẫn là văn hóa Bách Việt, là dòng giống của cha Rồng xưa xuống khai phá vùng ven biển Đông Bắc.

Vài điều qua Ngự chế minh văn cổ khí đồ của vua Minh Mạng

Năm 1838 Vua Minh Mạng cho đúc 33 đồ đồng phỏng theo hình dáng đồ vật của các triều đại Thương, Chu tới Hán. Ban đầu gọi là “bác cổ đồ” (tức chế tạo những đồ vật đã xem xét kỹ của thời xưa), sau đó (năm 1839) đổi làm “cổ khí”. Nhà vua đã tự tay viết đề các bài minh văn trên từng “cổ khí” đó. Hình vẽ các cổ khí này và các bài minh văn được các quan đương thời tập hợp lại thành một cuốn sách có tên là Ngự chế minh văn cổ khí đồ. Mộc bản của cuốn sách này cùng các hình vẽ cổ khí nay vẫn còn được lưu ở Trung tâm lưu trữ quốc gia IV tại Đà Lạt. Một số các cổ khí này được giữ và trưng bày tại Bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh.
33 cổ khí này gồm chủ yếu là các vật đựng như Đỉnh 鼎, Lịch 鬲, Đôn 敦, Quỹ 簋, Tôn 尊, Dữu 卣, Cô 觚, Hòa 盉, Giả 斝, Hồ 壺, Di 彝, Bôi 杯 và Xa 車. Các nhân vật cổ đại có đồ dùng được phỏng theo là gồm:
– Thời Thương có: Phụ Ất, Phụ Kỷ, Phụ Tân, Tổ Mậu, Phụ Phụ Đinh, Hợp Tôn Tổ Đinh. Chữ 父 thời Thương nghĩa chỉ thủ lĩnh (xưa gọi thủ lĩnh là Cha, Bố), nên phải đọc là Phụ chứ không phải Phủ. Các vua nhà Thương lấy thập can làm tên nên có các tên Ất, Kỷ, Tân, Mậu, Đinh. Như Hợp Tôn Tổ Đinh có thể là vua Ân Vũ Đinh và người vợ tên là Phụ Hảo (mộ Phụ Hảo đã được phát hiện ở Ân Khư, Hà Nam).
– Thời Chu có: Văn Vương, Vương Bá, Ung Công Giám, Tử Phụ Cử, Trọng Câu Phụ, Thúc Bang Phụ, Thái Sư Vọng, Kỷ Dậu, Tử Ất. Các vị tiền bối thời nhà Chu ngoài Văn Vương là vua, còn lại có một số anh em của vua (bậc chú bác – Bá, Thúc). Chu Vương Bá có thể là vị bác của Chu Vũ Vương, làm thủ lĩnh nước Ngô (Ngô Thái Bá). Tương tự, Trọng Câu Phụ có thể là Trọng Ung, bác của Chu Vũ Vương, sau kế nghiệp anh là Thái Bá cai quản nước Ngô. Thúc Bang Phụ là người chú vua, có thể chỉ Chu Công, phụ chính cho cháu là Chu Thành Vương. Nói chung đây đều là các công thần lập quốc của nhà Chu, được phân phong ở các nước chư hầu.
Những nhân vật được chọn đều là những vị vua, những danh nhân thời Thương Chu có công trong việc kiến tạo và phát triển Trung Hoa cổ đại. Đây hoàn toàn không phải tư tưởng Nho giáo vì không hề thấy có thờ (phỏng theo) ông tổ Nho học là Khổng Tử.
Một số cổ khí không có tên người mà gọi theo hình dáng và hoa văn như Miệt ngạo (蔑敖 với nghĩa miệt thị – ngạo mạn, có hình mặt thú mắt lớn), Hủy (兕 tê giác), Tượng (象 con voi), Hồ (壺 hình cái bầu rượu), Quỳ long (夔龍 rồng một chân), Bàn quỳ trực văn (蟠夔直文 hình rồng một chân cuộn tròn và hoa văn thẳng), Ngữ (敔hình một loại nhạc cụ)Sơn lôi (山雷 có hoa văn núi và sấm), Lôi văn (雷文 hoa văn sấm chớp), Thao thiết (饕餮 hoa văn mặt thú), Ly thủ phương (螭首方 đầu con Ly, có hình vuông), Giao ly (蛟螭 hình con Giao Ly), Sơn long ôn (山龍溫 bình giữ ấm có hoa văn rồng, núi), Hy thủ (犧首 đầu con Hy – giống như con trâu), Cưu (鳩 chim tu hú).
Những loại đồ vật, hoa văn cùng tên gọi các nhân vật trên hoàn toàn phù hợp, giống với các hiện vật được biết ngày nay về đồ đồng thời Thương Chu. Rõ ràng vua Minh Mạng rất thạo các đồ vật cổ thời Thương Chu và để “phỏng cổ” theo các mẫu vật này chắc chắn nhà vua đã phải có sách hoặc hiện vật của thời đại tương ứng. Đây là một công việc làm mang tính chất “bác học” (“bác cổ”) xem xét tra cứu cẩn thận, chứ không phải tùy hứng. Những sách và những cổ vật Thương Chu đó nhà vua lấy ở đâu ra? Tại sao cổ vật Thương Chu lại được biết rõ vậy ở nước Đại Nam? Nên nhớ rằng thời Minh Mạng còn chưa có ngành “khảo cổ học” ở phương Đông và di chỉ Ân Khư ở Hà Nam, Trung Quốc còn chưa được biết đến.

8b434-lich20ba20cu
Một chiếc lịch thời Tây Chu tìm thấy ở Việt Nam, rất giống với chiếc Miệt ngạo lịch của vua Minh Mạng.

Cổ khí đầu tiên trong số này là chiếc đỉnh phỏng theo đỉnh Sách mệnh thời Thương. Đỉnh Sách mệnh 册命 nhà Thương là chiếc đỉnh làm khi vua Thương (Thành Thang) lên ngôi (sách mệnh = nhận mệnh trời), được lấy làm cổ khí đầu tiên. Ngự chế đề (bản dịch của Trương Sỹ Hùng, Thái Trung Sử): Ta nhận mệnh sáng của trời và của vua cha, ngự trị nước Đại Nam. Noi theo nhân nghĩa để mong được sánh với Ngũ Đế Tam vương. Việc chính trị chưa được cực trị thì lòng ta vẫn cảm thấy hổ thẹn. Con cháu ta phải gần gũi với người hiền, tránh xa kẻ nịnh bợ, chớ có ham mê tửu sắc, để có thể sửa trị được nước nhà, ngôi báu đời đời bền vững.
Ngay trong bài minh đầu tiên vua Minh Mạng đã nhấn mạnh việc làm của mình là muốn sánh cùng thời Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa. Đây hoàn toàn không phải kiểu “chơi trội”, đúc phỏng cổ vật của Tàu để sau này người Tàu có cái mà xem (?!). Việc làm của vua Minh Mạng hoàn toàn có ý thức tự tôn dân tộc rất cao, ý thức được nước Đại Nam là dòng dõi Trung Hoa chính thống, tiếp nối sự nghiệp huy hoàng từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế.
Tương tự, trong bài minh của chiếc phỏng Thương Phủ Kỳ đỉnh ngự chế đề: Cổ xưng Tam Đại, truyền chi vĩnh niên, lương pháp thi hiệu, ái dân kính thiên. Dịch nghĩa: Thời cổ ca ngợi thời Tam Đại, truyền tụng đến muôn đời. Noi theo khuôn phép tốt, phải yêu mến dân và tôn kính trời.
Đặc biệt, trên chiếc đỉnh phỏng theo đỉnh của Chu Văn Vương ngự chế đề: Phỏng kỳ khí, pháp kỳ nhân. Bang tuy cựu, mệnh duy tân. Bách thế tử tôn, vạn tải tuân tuần. Dịch nghĩa: Phỏng theo đồ vật ấy, noi theo con người ấy, nước tuy là nước cũ (nhưng) mệnh trời ban cho thì lại mới. Con cháu trăm đời của ta, hãy muôn năm noi theo.
Câu “Bang tuy cựu, mệnh duy tân” lấy ở Văn Vương – Đại NhãChu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân” của Kinh Thi. Tuy nhiên trong bối cảnh này thì có thể thấy vua Minh Mạng đã cho rằng mình là nối mệnh trời trên đất đai bang quốc xưa của nhà Chu. Bang xưa của nhà Chu, mệnh mới của nhà Nguyễn. Đây là một trong những câu văn chứng tỏ quan điểm của vua Minh Mạng về nguồn gốc của nước Đại Nam nối tiếp nhà Chu Trung Hoa.
Trên chiếc di phỏng Chu với hoa văn “bàn quỳ trực” ngự chế đề: Phỏng cổ khí, tư sở trọng. Tử tử tôn tôn, vĩnh bảo dụng. Dịch nghĩa: Phỏng theo đồ vật xa mà nghĩ đến điều trọng yếu. Con con cháu cháu ta hãy mãi mãi trân trọng giữ gìn mà sử dụng.
Những chữ “tử, tôn, vĩnh, bảo, dụng” là những chữ Kim văn thường gặp trên đồng khí Thương Chu. Ở đây cho thấy vua Minh Mạng là người rất am hiểu các minh văn trên đồ đồng cổ từ thời Thương Chu.

IMG_0881Cửu đỉnh ở trước thế miếu nhà Nguyễn tại Huế.

Cũng vua Minh Mạng là người đã cho đúc Cửu đỉnh nay ở Thế miếu tại thành nội Huế trước khi đúc đồ phỏng cổ ngự chế vài năm (1836). Bài thơ Phỏng cổ chú thành Cửu Đỉnh an thiết vu Thế miếu đình tiền cung nghệ tế cáo lễ thành thi dĩ chí sự do vua đề như sau (theo phiên âm của Nguyễn Huy Khuyến):
Viên dụng cống kim phỏng cổ tiên
Chú thành Cửu Đỉnh trí đình tiền
Tam tài cự tế giai thành tượng
Vạn vật hình dung tận thủ yên
Ký pháp Hạ hoàng tăng thức khuếch
Khởi phương Tống chủ phí đào chân
Nguy nga ngật lập an bàn thái
Tử tử tôn tôn vĩnh bảo truyền.
Dịch thơ:
Đồng cống nay dùng phỏng cổ nhân
Đúc thành chín đỉnh đặt trước sân
Tam tài lớn nhỏ đều nên mẫu
Vạn vật dáng hình chọn hết lần
Theo phép Hạ vương mà phóng đại
Chẳng so Tống chủ phí rèn hun
Sừng sững đứng đây như Bàn Thái
Cháu con mãi giữ báu truyền chân.
Một lần nữa ta lại thấy cụm từ “Tử tử tôn tôn vĩnh bảo”, là cụm từ thường dùng trong kim văn thời Thương Chu. Cũng một lần nữa bài thơ trên nhấn mạnh ý của vua Minh Mạng “noi gương các vị vua Tam đại” như những tiền nhân (cổ tiên) của mình trong việc trị nước an dân.

IMG_7262 (2)Kim văn khắc trên một chiếc liễn đồng thời Tây Chu mang dòng chữ Kỳ vạn niên tử tử tôn tôn vĩnh bảo dụng (ảnh chụp của Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

Cửu đỉnh Huế, 33 cổ khí có minh văn ngự chế cùng với miếu Lịch đại tại Huế là những chứng tích rõ ràng về quan niệm của nhà Nguyễn tiếp nối truyền thống Trung Hoa từ Hạ Thương Chu cho nước Đại Nam.

Văn nhân thêm ý:
Theo quan niệm và rõ rệt hơn nữa là lễ chếcổ điển Thiên hạ xưa thì ai nắm Cửu đỉnh người ấy là vua của muôn dân Thiên hạ.
Điều quan trong trong việc làm của vua Minh Mạng là tuân giữ lễ chế ngàn xưa để lại. Ý nghĩa sâu xa của việc này là khẳng định chính thức tiếp nối quốc thống Hữu Hùng quốc khởi từ thời đế Hoàng hay đế Minh xuyên qua vua Vũ đúc Cửu đỉnh mà ngày nay người ta quen miệng gọi là Trung Hoa.
Việc làm động trờ như thế mà sao các Đại Hãn nhà Mãn Thanh lại dửng dưng như không biết?
… Thưa… rất dễ hiểu vì họ là khan – hãn của Đại hãn quốc, tức nước của giống Hung Nô, có biết gì về lễ chế truyền từ Tam hoàng Ngũ đế đâu… Với họ thì cái ngai vàng có đầu rồng chẳng khác gì cái yên ngữa… Gọi Khan – Hãn Hung Nô là đế này, đế nọ… chỉ là sự múa vút vung vít của đám gia nô về sau viết sử Đại Hãn quốc mà thôi. Không tin xin bạn nhìn cái ấn “hoàng đế” của (Quý Do) hãn, khả hãn thứ 3 của đế quốc Mông Cổ.

guyuk_khans_stamp_1246(Hình lấy từ Internẻt)

Và bức thư mà ông ta gửi cho giáo hoàng Innôcentê IV năm 1256.

letterguyugtoinnocence.jpg
(Hình lấy từ Internet)

Có chữ “Tàu” nào đâu?
Vậy mà bỗng chốc biến một cái… ông ta hóa thành “Nguyên Đinh Tông” của nhà Nguyên Trung Hoa mới hay chứ…
Lưu truyền trong dân gian Việt có những tích xưa chứa đựng thông tin ít ai ngờ đến, hoặc… không dám tin… vì quả thật quá rõ, như tích “cá vượt Vũ môn hóa rồng”. Quả thật, quá rõ ở ngay tên “Vũ môn”. Môn là cửa thì biết rồi, nhưng Vũ là gì thì không nghĩ đến hoặc không dám nhận đó chính là chỉ vua Vũ trong cổ sử Trung Hoa. Xưa vua Vũ chống lụt đã cho đục bạt cả 1 phần quả núi tên là Long Môn sơn để khai thông dòng chảy. Vũ môn cũng gọi là Long Vũ môn, chính là nơi cá vượt để hóa rồng trong cổ tích. Long môn là địa danh có thật mà theo nhà nghiên cứu Bách Việt trùng cửu thì Long Môn chính là thác Vạn Bờ chắn ngang dòng sông Đà ngày nay.

Phù Đổng Thiên Vương và nhà Chu

Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”
Câu đối ở chính điện đền thờ Thánh Dóng tại làng Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội):
神威古及今文郎國四最靈之右
壯烈南而北武寧部一大定之功
Thần uy cổ cập kim, Văn Lang quốc tứ tối linh chi hữu
Tráng liệt Nam nhi Bắc, Vũ Ninh bộ nhất đại định chi công.
Dịch:
Oai thần từ trước tới nay, nước Văn Lang tứ linh chưng giúp
Oanh liệt trong Nam ngoài Bắc, bộ Vũ Ninh nhất định đây công.
Câu đối này cho biết Phù Đổng thiên vương là một trong Tứ linh của nước Văn Lang. Đây là ghi chép thứ 2 ít ỏi về bộ Tứ linh thần nước Nam còn lưu lại tới nay. Phù Đổng thiên vương là 1 trong Tứ linh chứ không phải trong bộ Tứ bất tử. Ở các nơi thờ Thánh Dóng đều không hề có tư liệu cổ nào nói Thánh Dóng là thần bất tử.

p1060322Thủy đình ở đền Phù Đổng.

Câu hát phường Ải Lao trong lễ hội Phù Đổng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Vào ngày lễ hội này 28 cô gái trẻ đóng làm 28 tướng Ân, đối địch với Thánh Dóng. Thông tin từ sự tích của làng Phù Đổng hoàn toàn phù hợp với thời Ân Thương. Thời kỳ này nhà Ân còn đang trong giai đoạn chế độ mẫu hệ. Phụ nữ làm tướng chỉ huy quân đội nhà Ân điển hình như trường hợp nữ tướng Phụ Hảo dưới thời Ân Vũ Đinh đã cầm quân đánh nước Quỷ Phương.

phuong-dong-thoi-an
Một chiếc phương di đồng thời Ân Thương có minh văn tìm thấy ở Việt Nam.

Sự xuất hiện của phường hát Ải Lao trong lễ hội Phù Đổng đánh đố các nhà nghiên cứu, vì không ai hiểu Thánh Dóng đánh giặc Ân thì liên quan gì tới nước Lào hay nước Chăm ở đây. Ý kiến cho rằng đây là phường hát do Lào hoặc Chăm cống tiến xem ra không hợp lý vì cần biết rằng các bố trí, lễ tục trong hội Phù Đổng đều mang tính biểu trưng rất cao. Không thể có chuyện cả một “đạo quân” lớn của Thánh Dóng trong lễ hội lại chỉ là hàng “nhập khẩu” để hát cho hay.
“Đạo quân” Ải Lao là biểu tượng hoàn toàn xác thực cho quá khứ lịch sử khi nhận ra rằng Ai Lao Di là tộc người ở Vân Nam, Quý Châu. Ai Lao thiết Âu, là phần đất Âu trong nước Âu – Lạc đã cùng tham gia với Thánh Dóng đánh giặc Ân. Biểu tượng của phường Ải Lao là ông Hổ. Hổ cũng là con vật thiêng được người Ai Lao Di ở Vân Nam Quý Châu thờ.
Đền Thượng ở xã Phù Linh, Sóc Sơn, nơi tương truyền Thánh Dóng cởi áo giáp bay lên trời trong hậu cung có 7 bức tượng thờ.  Có tài liệu chép rằng 7 bức tượng này là gồm: Phù Đổng Thiên Vương, Vu Điền Quốc Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Nữ Oa Bộ Thiên, Na Tra Thiên Tử, Tả Xiên Xiên Lực Sĩ, Hữu Vạn Vạn Tinh Binh.
Vu Điền quốc vương phải chăng là vua đất Điền? Điền quốc là một nước từng tồn tại ở vùng Vân Nam, chính của người Ai Lao Di hay Di Lão xưa.
Đặc biệt tư liệu trên nói tới Na Tra thiên tử. Na Tra là nhân vật được biết đến trong truyện Phong Thần, là nhân vật đã theo Khương Thái Công và Chu Vũ Vương diệt Trụ.
Phù Đổng Thiên Vương sự tích diễn âm cũng chép lời của Thánh Dóng:
Vốn ta nay thái tử Na Tra
Vị Hùng Vương loạn quốc gia
Khâm sai đế mệnh dẹp trừ Ân binh.
Na Tra cùng với Thánh Dóng đánh giặc Ân. Vậy đây phải là cuộc chiến lịch sử của Trung Hoa khi nhà Chu diệt Ân Trụ Vương.
Thần tích đền Phù Đổng có đoạn:
Thiên Vương thao trận khiến quan quân giặc Ân toán loạn, bèn giết Ân Vương ở dưới Chu Sơn…
Thiên vương đánh tan giặc Ân, vứt tre trên ruộng tại xã Nghiêm Xá, huyện Quế Dương. Tre ở đây sau này rất xanh tốt, có thần miếu gọi là miếu Tam Giang đại vương.
Làng Nghiêm Xá nay ở thị trấn Phố Mới (Quế Võ, Băc Ninh) là nơi thờ đức thánh Tam Giang. Đức thánh là người ở xứ Ngõ Đông, thôn Đống Cải. Cha mẹ sinh được hai anh em… Khi hai người đang đập đất trên đồng thấy Thánh Dóng đuổi giặc chạy qua liền vác vồ đi theo và lập công lớn…
Ta chú ý tên thánh là Tam Giang đại vương.
Cùng với làng Phù Đổng mở hội còn có làng Lệ Chi Nam (Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội). Hội ở làng Lệ Chi Nam gọi là hội Phù Dóng. Theo thần tích thì làng Lệ Chi Nam thờ một vị tướng quân thời Hùng Vương tên là Bùi Duy Trí. Ông là người giỏi võ nghệ nên được vua cho chỉ huy một đạo quân lớn. Khi giặc Ân kéo quân vào chiếm đất Châu Sơn thuộc bộ Vũ Ninh vua Hùng phong cho Bùi tướng công chức Đô Thống, thống lĩnh đại quân đi đánh giặc Ân. Sau nhiều trận đánh ác liệt, quân của vị tướng họ Bùi vẫn không thắng nổi quân giặc hung ác… Khi Thánh Dóng ra trận, tướng Đô Thống cho tập trung tất cả binh mã tại làng Lệ Chi rồi tiến về phía núi Châu Sơn cùng Phù Đổng tham chiến… Sau khi mất vị tướng này được phong là Tam Giang đại vương, hiệu Châu Đô Thống.
Các thần tích trên đã cho những cái tên quan trọng trong chuyện này là Châu Đô Thống, Châu Sơn và Tam Giang. Châu đây là chỉ nhà Châu hay Chu, triều đại đã đánh diệt nhà Ân. Châu Đô Thống nghĩa là tướng thống lĩnh quân đội nhà Chu. Châu Sơn ở bộ Vũ Ninh ghép thành Chu Vũ Vương. Cơ Phát trước khi lên ngôi thiên tử có tên là Ninh Vương. Nhân danh Châu Đô Thống và địa danh Châu Sơn chính là tên gọi của nhà Chu còn lưu lại mãi tới ngày nay trong truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương.
Tam Giang ở đây là vùng đất của nhà Chu vì khi Tần Thủy Hoàng lập quận huyện đã lấy đất của Đông Chu lập thành quận Tam Xuyên. Tam Xuyên = Tam Giang. Tam Giang là nơi 3 con sông lớn hội tụ Đà, Lô, Thao tại ngã ba Việt Trì. Tam Giang xưa chỉ vùng Bắc Bộ Việt, là phần Lạc trong nước Âu – Lạc.
Như thế trong truyền thuyết về Phù Đổng thiên vương có đủ Ải Lao – Tam Giang hay Âu – Lạc, là 2 khu vực khởi phát chính của nhà Châu – Chu khi Ninh Vương Cơ Phát phát động các chư hầu làm cuộc tổng tấn công Trụ vương.
Câu đối ở đình Chi Nam (Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội):
鐵馬出神威朱粵山頭天古頌
金旗揚將略白騰海口萬年聲
Thiết mã xuất thần uy, Chu Việt sơn đầu thiên cổ tụng
Kim kỳ dương tướng lược, Bạch Đằng hải khẩu vạn niên thanh.
Dịch:
Ngựa sắt tỏ thần oai, đầu non Chu Việt khen ngàn thủa
Cờ vàng nêu mưu tướng, cửa biển Bạch Đằng vọng vạn năm.
“Chu Việt sơn đầu” ở đây nói tới núi Chu – Châu Sơn, là nơi Châu Đô Thống đánh giặc Ân. Núi Châu Sơn là ngọn núi đã được kể trong Truyện Giếng Việt của Lĩnh Nam chích quái, nơi vua Ân tử trận, có miếu thờ, cột đá buộc ngựa… Cuộc chiến mà vua Ân tử trận thì chỉ có cuộc chiến của Vũ Vương Cơ Phát nhà Chu dẹp Trụ Vương mà thôi.

img_0043
Núi Châu Sơn nhìn từ hồ Phùng Dị.

Núi Châu Sơn ở Vũ Ninh rất có thể như vậy là nơi hội quân ban đầu của Vũ Vương trong cuộc chiến phạt Ân Trụ Vương, đánh dấu sự thay đổi triều đại Trung Hoa từ Thương sang Chu. Nhà Chu được gọi chính xác trong câu đối trên là Chu Việt. Người đời sau không hiểu gọi thành núi Trâu Sơn, mất đi danh hiệu gốc của quốc gia thời Văn Lang – Âu Lạc trong đị danh này.
Câu đối khác ở đền Sóc Sơn:
天上降神鐵馬鐵韉朱粵動
水中顯聖金鎗金甲太原寒
Thiên thượng giáng thần, thiết mã thiết tiên Chu Việt động
Thủy trung hiển thánh, kim thương kim giáp Thái Nguyên hàn.
Dịch:
Thần xuống từ trời, ngựa sắt yên đồng rung Chu Việt
Thánh tỏ trong nước, giáo vàng giáp bạc lạnh Thái Nguyên.
Một lần nữa lại có cụm từ Chu Việt. Chu Việt chỉ rõ quốc danh nước Việt thời Thánh Dóng là Chu. Nước Văn Lang của Vũ Vương nhà Chu (Vũ Ninh) ban đầu như vậy gồm 2 phần Âu và Lạc, được gọi trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương là Ải Lao và Tam Giang.

Cao Biền và Trang Nghị đại vương trên đất Thái Bình

Năm 1985 ở khu vực chợ Quài (Thái Hà, Thái Thụy, Thái Bình) Bảo tàng Thái Bình đã tiến hành đào một miệng giếng cổ và phát hiện hàng trăm viên gạch mang dòng chữ Giang Tây quân 江西軍. Giang Tây quân là gạch loại gạch của Tĩnh Hải quân thời Đường, mà Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân đầu tiên là Cao Biền. Đây cũng là loại gạch được tìm thấy ở lớp gạch dưới cùng trong Hoàng thành Thăng Long và một số thành cổ khác như thành Hoa Lư (Ninh Bình), thành nhà Hồ (Thanh Hóa).
Theo nhận xét của đoàn khai quật khu vực này tập trung đậm đặc loại gạch trên ở trong khoảng đất dài khoảng 1000m, rộng từ 50-100m. “Di tích khảo cổ Thái Hà – Thái Phúc cao, hẹp, dài, án ngữ cửa Kỳ Bố và cửa Đại Toàn… Rất có khả năng đây là một công trình quân sự phòng thủ ven biển…”.

Thai Binh

Gạch Giang Tây quân ở Thái Bình.

Ở chùa Phúc Lâm của thôn Phúc Tiền (Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình), cũng là nơi phát hiện loại gạch Giang Tây khi nhà chùa đào đất lấy cát sau chùa. Cùng với những viên gạch Giang Tây quân này nhà chùa còn đào được 1 hũ tiền Khai Nguyên thông bảo, tức là tiền mang niên hiệu Khai Nguyên (713-741) của vua Đường Huyền Tông. Tiền Khai Nguyên thông bảo là loại tiền được dùng phổ biến trong suốt thời nhà Đường. Chùa Phúc Lâm do đó có thể là một trạm hoặc kho quân dụng trong tuyến phòng thủ ven biển dưới thời Đường.
Trong khuôn viên chùa Phúc Lâm nay còn một ngôi đền nhỏ thờ thành hoàng làng. Trước đây đình Phúc Tiền (Thái Phúc) theo Danh mục thần tích thần sắc Thái Bình có thờ tướng quân Cao Biền. Sau đình bị phá nên nhà chùa mang các đồ thờ về dựng một ngôi đền nhỏ để tiếp tục thờ.
Câu đối ở đền thờ thành hoàng trong chùa Phúc Lâm:
文物彬彬地是前東材舊邑
宫庭飭飭歲在己未春新修
Văn vật bân bân, địa thị Tiền Đông tài cựu ấp
Cung đình sức sức, tuế tại Kỷ Mùi xuân tân tu.
Dịch:
Văn vật mộc mạc, đất ở Tiền Đông nơi ấp xưa
Cung quán nghiêm trang, năm tại Kỷ Mùi xuân mới sửa.
“Văn vật” ở đây phải chăng nói tới những viên gạch có chữ Giang Tây quân?

IMG_6915Đền thờ thành hoàng ở chùa Phúc Lâm (Phúc Tiền, Thái Thụy, Thái Bình).

Những viên gạch Giang Tây quân và tục thờ Cao Biền tại Thái Phúc đã xác nhận đây là một điểm đồn binh quan trọng của Cao Biền trên đất Tĩnh Hải. Thần tích của một nơi khác ở Thái Bình đã kể lại rõ ràng diễn biến của việc này. Đó là thần tích về Trang Nghị đại vương ở Hoa Dương (nay là xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình). Hoa Dương xã thần tích chép như sau:
Giữa Đời Đường Hàm Thông đời vua Ý Tông lại cử Yêu Vệ tướng quân Cao Biền: ông họ Cao húy là Biền, cháu của Cao Sùng, con của Cao Luân, mẹ người họ Lý vốn người ở Quảng Đông, gia truyền làm thầy địa lý tinh thông, đời nối đời làm quan. Vào thời Đường, thay quan chức Tù trưởng bằng chức Đô hộ Tổng quản Kinh lược Chiêu thảo sứ tướng quân tất phải trao cho Cao Biền. Cao Biền khấu tạ (vua Đường) đem quân ra đi, tới cửa biển làm lễ cầu đảo trời đất, rồi lệnh cho hơn 5 vạn tinh binh xuống thuyền ra đi từ cửa biển thuận buồm xuôi gió hứng khởi ngâm một vần thơ:
Ba quân lẫm liệt xuất trùng quan
Vạn dặm sóng cồn vạn dặm an
Tự hồng mao chẳng nề sống thác
Thờ vua nợ nước dám từ nan?
Vừa khi đi tới địa đầu huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam, có một ngày đi qua địa đầu trại Yến Liên, sau đổi là trang Hoa Dương, ở đó có một con sông nhỏ.
Đoạn trên trong thần tích tại Hoa Dương kể rất rõ việc Cao Biền xuất quân từ bên phương Bắc theo đường biển đổ bộ vào cửa biển nước Nam tại Thái Bình. Đó cũng là lý do để Cao Biền xây dựng một tuyến phòng thủ ven biển tại đây như đã thấy qua di tích gạch Giang Tây quân ở trên.
Đại Việt sử ký toàn thư chép về lần tiến quân này của Cao Biền:
Ất Dậu (865) (Đường Hàm Thông năm thứ 6). Mùa thu, tháng 7, Biền trị quân ở trấn Hải Môn, chưa tiến. Giám quân là Lý Duy Chu ghét Biền muốn tống đi, nhiều lần giục Biền tiến quân. Biền đem hơn 5000 quân vượt biển đi trước, hẹn Duy Chu đem quân ứng viện. Biền đi rồi, Duy Chu cầm quân còn lại không đi. Tháng 9, Biền đến huyện Nam Định và Châu Phong, người Man gần 5 vạn đương gặt lúa, Biền đánh úp, chúng tan cả, chém được bọn Trương Thuyên, thu lấy lúa đã gặt để nuôi quân.
Như vậy việc đổ bộ của Cao Biền vào Nam Định (đúng ra là đất Thái Bình) của Châu Phong (có lẽ là Tĩnh Hải hay Giang Tây) là trận thắng đầu tiên của quân nhà Đường trước quân Nam Chiếu. Nhờ có trận thắng này mà lực lượng ban đầu của Cao Biền đã đứng vững trên đất Giao Châu.
Đoạn tiếp theo thần tích thôn Hoa Dương kể tại đây Cao Biền gặp 4 vị thần, tự xưng là tứ vị Lôi Đình (Lôi Oanh): một vị tên là Thanh Cung, một vị tên là Chàng Chiểu, một vị tên là Từ Kinh, một vị tên là Trang Nghị,… Vốn là thần nắm giữ gió mây sấm chớp, chăm chăm phụng mệnh trời giáng làm Thủy thần trông coi bốn phía phương dân, cai quản đất đai cảnh thổ.
Lại nói, bấy giờ ở đất Phong Châu có trên 5 vạn tên giặc Man vào xâm lấn bờ cõi. Viên quan dâng tấu vua Đường, vua sai quan truyền lệnh cho Biền công Thứ sử Giao Châu đem quân đi đánh Nam Chiếu (tức Ai Lao), Biền công lập tức điều quân đi đánh Nam Chiếu. Trong một ngày, quan quân vừa tới trang Hoa Dương, huyện Ngự Thiên phủ Tiên Hưng, Biền công ra lệnh cho quân đình trú ngự tại thần từ, kỷ đảo xin thần phù hộ cho quân đi đánh giặc đợi sau khi chiến thắng trở về, sẽ phong sắc cho thần là Thượng Thượng đẳng.
Sáng hôm sau ông bái yết thần từ, đề binh tiến thẳng tới Nam Chiếu đại phá giặc, chém đầu Chánh tướng và Tỳ tướng của chúng gồm 20 thủ cấp, thu hồi vũ khí, xe ngựa của chúng nhiều vô kể. Giặc tháo chạy tan tác chẳng biết đi lối nào hết. Từ đây thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự, Biền công làm sớ tâu lên vua Đường: giặc Man đã quét sạch cũng là nhờ công âm phù trợ của thần linh.
Vua ban sắc cho Tứ Vị Lôi Oanh là Thượng đẳng phúc thần để thần cùng được trường tồn với trời đất mà việc phụng thờ thần trở thành nghi thức muôn thuở vậy thay.
Cao Biền được nhà Đường cử sang An Nam để đánh dẹp giặc Nam Chiếu. Bước tiến quân đầu tiên của Cao Biền là dẫn quân đi thuyền vào đất Thái Bình. Tứ vị Lôi Oanh ở Thái Bình đã hiển linh phù trợ Cao Biền trong trận chiến này. 4 vị “thần sấm” này là ai mà lại trợ giúp Cao Biền đánh Nam Chiếu?
Xét các vị thủy thần của khu vực đất Thái Bình thì 4 vị thần này chỉ có thể là những người trong Ngũ vị tôn quan trong thần tích thờ vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Nói cách khác, đây chính là những người anh em đã theo Lạc Long Quân (vua Hùng) đánh Thục, gây dựng nên triều đại cha truyền con nối đầu tiên của Trung Hoa. Vì là những vị thần có công đánh Thục ở phía Tây nên các vị này mới hiển linh giúp Cao Biền đánh giặc Nam Chiếu (Ai Lao – cũng là ở phía Tây).
Chữ Lôi là quẻ Chấn, chỉ hướng Đông. Hướng Đông là hướng biển (Động Đình), là hướng Bát (số 8 của Hà thư) trong tên Bát Hải Động Đình. Lạc Long Quân có nơi như ở làng Bình Đà (Hà Nội) còn được gọi là Pháp Lôi là với ý này.
Tứ vị Lôi Oanh còn gọi là Lôi Đình. Lôi là quẻ Chấn, tương đương với hướng Đông, tính Động. Lôi Đình = Động Đình. Tứ vị Lôi Đình là Ngũ vị tôn quan của Động Đình.
Xét tên của 4 vị Lôi Oanh ở Hoa Dương thì đây là 4 phương vị:
– Thanh Cung rõ nhất là hướng Đông vì Thanh, màu xanh là màu phương Đông.
– Chàng Chiểu là hướng Tây vì Chiểu – Chiêu – Chiều, hướng mặt trời lặn.
– Từ Kinh là hướng Bắc vì Kinh hay Canh là can chỉ phương Bắc (như trong kim La Kinh).
– Trang Nghị như thế phải là thần hướng Nam. Chưa hiểu liên hệ từ ngữ thế nào.
Địa danh Hoa Dương cũng có thể xuất phát từ “Hoa Đào trang”, là nơi lập nghiệp của vua cha Bát Hải Động Đình. Hoa – Hạ là tên của vương triều do Lạc Long Quân lập nên, xuất phát từ đất Thái Bình.
Trang Nghị đại vương là vị thần thời Hùng Vương, công thần lập quốc của Lạc Long Quân và là một trong 5 vị quan lớn của ban Công đồng trong Tứ phủ. Một vị cổ thần anh linh đã 4000 năm như vậy mà bị biến thành bố của Thái sư Trần Thủ Độ thì… con cháu quá to gan, chẳng mấy bữa các cụ hiển linh vặn cổ cho chẳng còn đường mà sống…

Đọc dịch một số câu đối ở đền Hát Môn

Dan the Hat Mon

Đàn thề Hát Môn.

Đền Hát Môn, nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, là một di tích có nhiều minh văn lưu lại trong các bức hoành phi, câu đối. Những câu đối ở ngôi đền này đều do các bậc đức cao vọng trọng, học nhiều hiểu rộng soạn viết và cung tiến từ thời Nguyễn. Do đó đây là những câu đối có văn phong, thi pháp hay, ca ngợi tinh thần và sự nghiệp của Hai Bà Trưng.
Thời gian trước tác giả Phạm Hy Sơn đã từng đọc và dịch một số câu đối ở đền Hát Môn. Gần đây, trong cuốn sách mới xuất bản Đền Hát Môn di tích lich sử quốc gia đặc biệt, nhóm chuyên gia của Viện nghiên cứu Hán Nôm cũng đã có phần đọc và dịch rất chi tiết các hoành phi câu đối ở đền này. Tuy nhiên, do tính chất của cổ văn dùng trong câu đối rất súc tích, sử dụng nhiều điển cổ và thông tin của cổ sử nên để hiểu thêm về những câu đối ở đền Hát Môn, bài viết dưới đây xin đưa ra một cách giải nghĩa cho một số câu đối khó dịch của di tích lịch sử này.

Câu 1

大義復夫讎猶令東漢當辰嶺南六十五城勞逺略
鴻圖肇國統從此皇丁而後越甸數千餘載定天書
Đại nghĩa phục phu thù, do lệnh Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.

21558761_1473665936057985_2705221036556420372_nSách Đền Hát Môn chép chữ “lệnh” 令 thành chữ “kim” 今.
Ở câu đối này triều “Hoàng Đinh” đối lại với nhà “Đông Hán”, rõ ràng là chỉ triều đại do vua Trưng lập nên. Trong câu đối nói triều Hoàng Đinh này cách thời điểm viết câu đối (thời Nguyễn – thế kỷ 19) “trên mấy nghìn năm”. Vì thế đây không thể là triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng vào thế kỷ 10 được. Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cũng không có liên quan gì tới Hai Bà Trưng cả, nên đưa vào câu đối này không hợp lý.
Đinh là một dịch tượng chỉ phương hướng. Đinh, hay Tĩnh là tính chất của phương Tây. Vì Hai Bà Trưng khởi nghĩa từ “Châu Phong”, là vùng đất Tây Thổ, nên triều đại của Trưng Vương có tên là Đinh. Đinh là quốc danh của triều đại Trưng Vương còn lưu truyền mãi tới thời nhà Nguyễn như trong câu đối trên.
Dịch:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán cùng thời, sáu mươi lăm thành Lĩnh Nam lập kế lớn
Cơ đồ dựng quốc thống, từ đó Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm Việt Điện định sách trời.

Câu 2

越祖百男閒出英雌能復國
唐初雙女未聞閨綉自興王
Việt tổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.

Duong so

Câu đối này trong sách Đền Hát Môn lẫn lộn vị trí 2 từ “gián” (nhàn) 閒 và văn 聞. Chính xác như trong ảnh thì ở vế đối đầu là chữ 閒, đọc là “gián” với nghĩa là xen lẫn. Vế sau phải là “văn” 聞 với nghĩa là nghe thấy.
Thời sơ Đường ở đây không phải thời đầu nhà Lý Đường (thế kỷ 7), mà là nói tới thời Đường Nghiêu Ngu Thuấn. Đó là lấy tích hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh mà so sánh với Hai Bà Trưng. Nga Hoàng và Nữ Anh là hai con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn mất hai vị vương phi này đã tự vẫn theo chồng ở sông Tương. Còn hai bà Trưng khi chồng là Thi Sách bị giặc giết thì lại tự mình phất cờ khởi nghĩa, giành thắng lợi, xưng vua. Hai Bà sau đó cũng tử tiết trên sông, do đó được so với 2 vị nữ thần sông Tương thời Đường Ngu.
Dịch:
Tổ Việt trăm trai, xen có anh thư hay phục quốc
Sơ Đường đôi gái, chưa nghe khuê tú tự xưng vua.

Câu 3

西江姊妹神湘女
東漢縱横霸粵王
Tây Giang tỷ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Tây Giang ở đây không phải nghĩa là sông Tây, mà là chỉ Hai Bà khởi nghĩa ở miền đất phía Tây (của biển Đông). Giang = Dương, chỉ biển. Tây Giang hay Giang Tây là tên khác của vùng đất Tĩnh Hải dưới thời nhà Đường. Cái tên này còn gặp trên các viên gạch “Giang Tây quân” trong các di tích thời Đường ở nước ta.
Dịch:
Tây Giang em chị thần Tương nữ
Đông Hán dọc ngang xứng Việt vương.

Câu 4

馬鐙一戎征死了貪残猶(裭?)魄
象棚三(據?)戰生還矍鑠尙驚魂
Mã đặng nhất nhung chinh tử liễu tham tàn do sỉ? phách
Tượng bằng tam cứ? chiến sinh hoàn quắc thước thượng kinh hồn.

 

Câu đối này dùng một số chữ dị thể nên việc đọc ở các tác giả không thống nhất. Như chữ ở vế đối đầu Phạm Hy Sơn đọc thành hổ (虎?), dịch thành “con cọp”, còn sách Đền Hát Môn đọc là “quý” 愧 nghĩa là thẹn, xấu hổ. Bài này đề xuất đọc là “sỉ” 裭. “Sỉ phách” là mất vía.
Vế đối sau cũng có chữ dị thể khó đọc. Sách Đền Hát Môn đọc thành “cứ” (據?) nhưng lại ghi chữ là 捷 (tiệp). Câu đối này do vậy rất khó hiểu chính xác nên dịch thường không thoát ý.
Dịch:
Bước ngựa một xa chinh, dù mất tham tàn còn khiếp vía
Lầu voi ba trận chiến, sống về quắc thước thật kinh hồn.

Câu 5

旰宵東雒中興主
鞅掌西湖矍鑠翁
Cán tiêu Đông Lạc trung hưng chúa
Ương chưởng Tây Hồ quắc thước ông.

“Cán tiêu” 旰宵 nghĩa đen là chiều tối, chỉ sự tối tăm, suy vi. Sách Đền Hát Môn chép thành “can tiêu” 干標, không có nghĩa.
Đông Lạc chỉ nhà Đông Hán, đóng đô ở Lạc Dương. “Trung hưng chúa” chỉ Hán Quang Vũ, người được coi là phục hưng nhà Hán. “Quắc thước ông” là người khỏe mạnh, chỉ Mã Viện.
Câu đối dùng những hình ảnh đối lập “cán tiêu” – “trung hưng”, “ương chưởng” – “quắc thước”, để nhấn mạnh, ca ngợi tầm vóc của cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương.
Dịch:
Đông Hán tối tăm này chúa hưng 
Tây Hồ nhọc nhằn kia ông khỏe.

Câu 6

順徔古有虞嬪南面奚裨天下治
剛猛史称孫妹東行莫雪使君仇
Thuận tòng cổ hữu Ngu tần, Nam diện hề tì thiên hạ trị
Cương mãnh sử xưng Tôn muội, Đông hành mạc tuyết sứ quân cừu.
“Ngu tần” ở đây nói tới các vị phu nhân của Đế Thuấn (Ngu Thuấn) là Nga Hoàng và Nữ Anh. “Nam diện” là trong tích “quay mặt phương Nam mà xưng vương”, chỉ việc làm vua. Vế này so sánh Hai Bà Trưng với 2 phi tần đã giúp Đế Thuấn.
“Tôn muội” có thể nói tới em gái Tôn Quyền của Đông Ngô, quyết đi theo chồng là Lưu sứ quân (Lưu Bị). Vế này so sánh Trưng Vương khởi nghĩa báo thù chồng, cương quyết như em gái Tôn Quyền.
Dịch:
Tòng thuận xưa có phi tần vua Ngu, quay mặt phương Nam giúp trị thiên hạ
Dũng mãnh sử nêu em gái họ Tôn, đi về phía Đông rửa thù sứ quân.

Câu 7

縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Câu đối này tương truyền do Cao Bá Quát đề ở cột trụ nghi môn đền Hát Môn. Các tài liệu thường dịch câu đối này không chính xác do Cao Bá Quát sử dụng cụm từ chiết tự trong vế đối này. Trong vế đối thứ nhất có cụm từ “kim đao” 金刀 là chiết tự của chữ Lưu 劉, họ của các vua nhà Hán.
Vế đối thứ nhất nói tới chí khí của Trưng Vương đã khởi nghĩa chống quân Hán, lập nên một “thiên hạ”, một mảnh trời riêng của mình. Vế đối thứ hai nói tới cột đồng do Mã Viện nhà Đông Hán dựng nên, nhưng ở đây lại là để đánh dấu phân giới đất đai với Trưng Vương. Trưng Vương thậm chí còn không bằng lòng với vị trí cột đồng phân giới này.
Dịch:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.

Câu 8

爾城以北分中国
銅柱而南入帝圖
Nhĩ thành dĩ Bắc phân Trung Quốc
Đồng trụ nhi Nam nhập đế đồ.
Câu đối này nêu 2 sự vật. Một là tòa thành làm địa giới giữa nhà Hán và nước của Trưng Vương (sử chép là Man thành ở Quảng Tây). Hai là cột đồng, cũng dùng để xác lập địa đồ đế vương. Khí phách của câu đối ở chỗ “phân Trung Quốc” và “nhập đế đồ”, khẳng định triều đại của Trưng Vương ngang hàng với nhà Hán, cùng phân chia thiên hạ Trung Hoa và cùng xưng đế.
Dịch:
Thành kia làm Bắc chia Trung Quốc
Đồng trụ về Nam nhập đế đồ.

Câu 9

始終臣節坤貞吉
咫尺神祠萃引孚
Thủy chung thần tiết Khôn trinh cát
Chỉ xích thần từ Tụy dẫn phu.
Câu đối này dùng 2 quẻ của Chu Dịch. Quẻ Khôn mang tính chất bền vững, tốt đẹp nên gọi là “trinh cát”. Quẻ Tụy nghĩa là tụ tập, có lời hào nhị: Dẫn cát, vô cữu, phu nãi lợi dụng thược (dẫn dắt, lôi kéo nhau theo đường công chính, không lỗi, tâm thành lễ mọn vẫn được tốt lành). “Tụy dẫn phu” là việc tập hợp mọi người dẫn tới niềm tin thành kính.
Dịch:
Trước sau giữ lễ, sự bền đẹp của quẻ Khôn
Gang tấc đền thần, dẫn tín tâm của quẻ Tụy.

Câu 10

湯武鉞旄三戰後
雄庞城郭百年前
Thang Vũ việt mao tam chiến hậu
Hùng Bàng thành quách bách niên tiền.
Thang chỉ vua Thành Thanh, người sáng lập nhà Thương của Trung Hoa. Vũ chỉ Vũ Vương, người đánh Trụ diêt Ân, lập nên nhà Chu. “Thang Vũ việt mao” chỉ khí thế khởi nghĩa mạnh mẽ của những vị khai mở triều đại.
Dịch:
Thang Vũ phất cờ ba cuộc sau.
Hùng Bàng thành dựng trăm năm trước.

Nam Triệu Trưng Vương

Khởi nghĩa Trưng Vương là một cuộc khởi nghĩa độc đáo, có tầm vóc to lớn trong lịch sử nước ta. Lễ hội đền Hát Môn, nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa, đã được xếp hạng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các bài viết, khảo cứu về Trưng Vương đã có nhiều, lại một lần nữa được tập hợp trong cuốn sách Đền Hát Môn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vừa xuất bản 2017.
Tuy nhiên, những câu hỏi tồn nghi về khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong các tài liệu này vẫn chưa được làm rõ một cách thỏa đáng. Ngoài việc cho rằng ông Thi Sách tên là Thi chứ không phải Sách thì có lẽ không có thông tin khám phá gì nhiều trong những tài liệu này.

IMG_3360Tế lễ hội đền Hát Môn.

Dưới đây, xin nêu một số điều đáng chú ý rút ra từ các tư liệu dân gian về khởi nghĩa Trưng Vương ở khu vực Hát Môn.
Thần tích về tướng Hoàng Thông thời Hai Bà Trưng ở đình Yên Dục, xã Hiệp Thuận, Quốc Oai, Hà Nội kể:
Xưa vua Hùng Vương truyền mười tám đời, phương Nam mở nước, non sông ứng vận sao Dực sao Chẩn, đất Bắc mới phong, phân thuộc về sao Đẩu sao Ngưu. Sau vua Thục An Dương Vương làm vua được năm mươi năm thì họ Triệu lấy mất. Đến thời thuộc về nhà Hán ở trang Kiều Lộc, có một nhà họ Hoàng tên là Sáng, vợ là Phùng Thị Tam.
Ông bà lành hiền nhân đức, sớm nào cũng thắp hương thờ trời, trước làm sao sau làm vậy. Năm Nguyên Phong nhà Hán thứ năm nhằm hôm mười hai tháng mười bà Phùng thị nằm mộng thấy đỏ rực trong nhà…
Được hơn một năm,… Ngài sinh ra hình dáng mặt mũi như hoa, da như mỡ. Đến khi lớn tài kiêm văn võ, tài giỏi hơn cả người mới đặt tên là Thông. Bấy giờ có tên Tô Định, người nhà Hán sang làm quan Thái thú, giết oan ông Thi Sách, thuế dịch nặng nề, dân không chịu được, kẻ hào kiệt khắp nước nổi lên.
Bấy giờ bà Trưng Trắc giận tên Tô Định giết chồng, bà ấy chiêu tập quân lính thu dụng hào kiệt để đuổi đánh tên Tô Định. Ngài ở trang Kiều Lộc cùng khởi quân hiệp cùng các xứ đi theo bà Trưng Trắc lấy lại các phủ huyện. Tên Tô Định chay thoát. Ngài đuổi đến trang Trảo Oa thì giết được.
Tướng Hoàng Thông ở Hiệp Thuận (gần Hát Môn) như vậy sinh vào năm Nguyên Phong thứ sáu. Nguyên Phong là niên hiệu của Hiếu Vũ Đế nhà Tây Hán. Năm Nguyên Phong thứ sáu là năm 105 TCN. Vậy mà Hoàng Thông lại theo Hai Bà Trưng, đánh đuổi, thậm chí còn là người đã giết được Tô Định. Nếu theo sử sách ngày nay, khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra ở Hát Môn năm 40 sau Công nguyên. Tính từ năm Nguyên Phong thứ sáu tới lúc này thì Hoàng Thông đã là 145 tuổi. Thần tích nhầm hay… sử gia nhầm?
Câu đối ở đình Yên Dục (dẫn theo sách Đền Hát Môn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt):
Mộng Hiệp nhất đóa vân, Sài Lĩnh chung anh đĩnh sinh hiển hách
Uy soái tam thôn sĩ, Lộc Thành ứng nghĩa thu phục sơn hà.
Dịch nghĩa:
Một đám mây lành đất Mộng Hiệp, núi Sài linh thiêng sinh ra bậc hiển hách
Uy linh thống soái ba thôn, quân sĩ thành Lộc ứng nghĩa thu phục non sông.
Thông tin về năm sinh của vị tướng đã giết Tô Định ở vùng sông Hát núi Sài vào năm Nguyên Phong nhà Tây Hán cho thấy khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tại Hát Môn không phải xảy ra vào thời Đông Hán. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thực chất nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt ở Phiên Ngung bị diệt vào thời Tây Hán.
Thần tích đền Hát Môn thì chép:
Trưng Vương thu được hơn 60 thành, giành lại đất Nam, dẹp yên giặc Tô Định. Nước Nam thống nhất, bách quan nghênh giá đón Trưng Vương vào thành Chu Diên, lên ngôi tự xưng là Trưng Vương, phong cho Nhị Nương là Phó vương, được tự do ra vào cung cấm, tham dự triều chính. Vua họ Trưng đóng đô ở Mê Linh, đặt quốc hiệu là Triệu.
Thần tích đền Hát Môn như thế cho biết quốc hiệu nước của Trưng Vương là Triệu. Đối chiếu với Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái:
“Người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế”. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
So sánh 2 thông tin này thì thấy rõ nước Triệu (Nam Triệu) của Trưng Vương chính là xuất phát từ nước Nam Việt của Triệu Vũ Đế. Điều này một lần nữa xác định thêm nhận định rằng khởi nghĩa của Trưng Vương phải nổ ra vào thời Tây Hán. Trưng Vương là hậu quân của nhà Triệu Nam Việt đã rút về Phong Châu chống lại nhà Tây Hán.

IMG_3516Lễ rước của các làng trong hội đền Hát Môn.

Câu đối khác của đình Yên Dục:
Hiển thánh tích trưng Sài lĩnh mộng
Phù vương tâm bạch Hát giang ba.
Dịch nghĩa:
Di tích thờ bậc hiển thánh rạng rỡ núi Sài
Lòng sáng phò vua trào dâng nơi sông Hát.
Các câu đối ở đình Yên Dục đều nói tới mối liên quan giữa tướng Hoàng Thông với núi Sài và sông Hát. Sông Hát là nơi Trưng Vương khởi nghĩa, liên hệ với tướng Hoàng Thông thì dễ hiểu. Nhưng còn Sài Sơn ở Quốc Oai thì liên quan gì đến vị tướng này và tới khởi nghĩa Hai Bà Trưng?
Để lý giải điều này thì cần biết Sài Sơn là di tích gắn với thừa tướng nhà Triệu là Lữ Gia. Tương truyền là nghĩa quân Lữ Gia đã tử tiết ở núi Sài. Như vậy hậu quân của nhà Triệu Nam Việt chính là nghĩa quân của Lữ Gia đã rút từ Phiên Ngung về Phong Châu.
Theo thần tích của thôn Nại Xá, nơi từng có đền thờ Thi Sách, thì Trưng Vương có tên thời con gái là Ả Lã. Ả Lã nghĩa là con gái họ Lã. Trưng Vương là con gái của thừa tướng Lữ Gia. Ông Thi Sách, chồng của Trưng Vương, như thế không ai khác chính là vị vua Triệu cuối cùng của nước Nam Việt là Triệu Kiến Đức, người đã bị quân Tây Hán truy sát ở cuối sông Hát.
Mối thù không đội trời chung giữa họ Lữ – nhà Triệu với Tây Hán đã làm nên cuộc khởi nghĩa Trưng Vương và sự chống đối bền bỉ sau này của Nam Triệu – Nam Chiếu ở vùng Phong Châu – Tây Bắc Việt. Mối thâm thù này được ghi lại qua các câu đôi ở các di tích như câu đối do Cao Bá Quát đề ở cột trụ cổng đền Hát Môn:
縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Câu đối này thường bị hiểu sai do Cao Bá Quát đã dùng phép chiết tự ở đây. Trong vế đối thứ nhất cụm từ “kim đao” 金刀 là chỉ chữ Lưu 劉, họ của các vua Hán. Câu đối này có thể được dịch như sau:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.

img_8025-2.jpg
Ngoại đình đền Hát Môn.

Tương tự, câu đối tại đền Đồng Xâm (Thái Bình) nơi khởi nghiệp Triệu Vũ Đế:
靈跡億年遺鉄斧
帝图四百少金刀
Linh tích ức niên di thiết phủ
Đế đồ tứ bách thiểu kim đao.
Dịch:
Tích thiêng vạn năm lưu búa sắt
Đất vua bốn hướng chẳng họ Lưu.
“Thiết phủ” là chiếc búa sắt lưu ở đền Đồng Xâm, là một linh vật của đất Thái Bình, tương truyền là cây búa Triệu Vũ Đế được ban cho khi khởi nghiệp. Kim 金 đao刂là chiết tự của chữ Lưu 劉 như nói ở trên.
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định):
趙氏有天存社稷
漢人無地出楼船
Triệu thị hữu thiên tồn xã tắc
Hán nhân vô địa xuất lâu thuyền.
Dịch:
Còn trời họ Triệu còn xã tắc
Không Hán, lên thuyền đất chẳng chung.
Họ Lữ đã cùng vua Triệu Vệ Dương Vương kiên quyết lên thuyền đi về Giao Châu chống lại Tây Hán.
Mối tương quan Triệu Vũ Đế – Lữ Gia – Trưng Vương thể hiện rất rõ. Nước Nam Việt từ Triệu Vũ Đế khởi lập không mất, mà nó được truyền thừa sang phía Tây qua cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương, lập nên nước Nam Triệu, rồi còn hùng bá một phương tới mãi sau này với tên Nam Chiếu.

Triệu Vũ Đế và núi Trâu Sơn

Cuốn sách Nhà Triệu mấy vấn đề lịch sử do Trung tâm nghiên cứu văn hóa minh triết vừa mới xuất bản tập hợp một số bài nghiên cứu của các tác giả có tiếng hiện nay bàn về vai trò của Triệu Đà trong sử Việt với ý muốn công nhận nhà Triệu là một triều đại chính thống trong sử Việt. Các bài viết này dẫn luận khá nhiều thông tin và tư liệu thành văn, khảo cổ, tín ngưỡng dân gian. Trong số đó đặc biệt đáng chú ý là thông tin của Bảo tàng Bắc Ninh về tục thờ Triệu Đà ở tỉnh này.
Theo thống kê của các tác giả Nguyễn Văn An và Lưu Ngọc Thành trong sách này tại tỉnh Bắc Ninh hiện còn lưu giữ được các sắc phong thờ Triệu Vũ Đế ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế và phu nhân Trình Thị làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.

Huu BangChùa Hữu Bằng ở Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Xâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Ở Thái Bình có nhiều di tích thờ Triệu Đà vì đó là nơi ông lấy vợ là hoàng hậu Trình Thị. Ở vùng Văn Giang – Hưng Yên có đền thờ Triệu Vũ Đế là vì đó là nơi ông từng đóng quân khi khởi nghĩa và thấy rồng bay lên (Long Hưng) trên sông Nhị Hà. Còn tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?
Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục đầu giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.
Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…
Sau các tướng Nhâm Ngao, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.
Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Ngao, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu…
Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”.
Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn.
Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà, hoàn toàn khớp với thông tin mà bảo tàng Bắc Ninh cho biết về tục thờ Triệu Vũ Đế ở vùng Quế Võ. Chùa Hữu Bằng (xã Ngọc Xá) nay còn tượng Triệu Vũ Đế có thể coi là ngôi “chùa Việt Vương” mà Truyện Giếng Việt đã nói tới.

Bia daHàng bia đá ở chùa Hữu Bằng.

Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Ngao và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.
Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Ngao ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?
Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép:
Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.

Trau Son 2Núi Trâu Sơn nhìn từ quốc lộ 18.

Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.
Một liên hệ khác, Truyện Đầm Dạ Trạch cũng có thông tin liên quan tới Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn:
… Đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu…
… Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh.
Triệu Quang Phục lên ngôi thay Lý Nam Đế thì phải đóng đô ở chốn phồn hoa đô hội, chứ sao lại vào núi Trâu Sơn làm gì? Ở đây phải hiểu là thành Trâu Sơn của Triệu Việt Vương vốn là căn cứ chống giặc từ khi khởi nghĩa chưa thành công. Mạnh dạn hơn, những chuyện Triệu Quang Phục ẩn nấp trong đầm, dùng thuyền lẻn ra đột kích, chính là chuyện Triệu Đà trú quân ở núi Trâu Sơn chống Tần.
Các tài liệu tới nay rất hay nhầm lẫn Triệu Quang Phục với Triệu Đà vì cả hai đều là Triệu Việt Vương. Ví dụ, cũng trong cuốn sách mới xuất bản đã dẫn ở đầu bài có đăng ảnh đình Phù Sa (ở Yên Mô, Ninh Bình) và ghi chú là đình thờ Triệu Đà. Thực tế là đình Phù Sa thờ Triệu Quang Phục, nằm trong hệ thống các di tích thờ vua Triệu này ở vùng cửa sông Đáy (cửa Đại Ác, nơi Triệu Quang Phục theo truyền thuyết đã tử tiết).
Câu đối ở đình Phù Sa:
兜鍪聖武興南李
獨木神兵走北梁
Đâu mâu thánh vũ hưng Nam Lý
Độc mộc thần binh tẩu Bắc Lương.
Dịch:
Đâu mâu võ thánh dấy Nam Lý
Độc mộc binh thần đuổi Bắc Lương.

Phu SaĐình Phù Sa ở Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình.

Sự nhầm lẫn này không phải ngẫu nhiên, mà thực ra chuyện Triệu Quang Phục chính là chuyện của nhà Triệu Nam Việt. Khởi nghĩa của Triệu Quang Phục vùng đầm Dạ Trạch là nói tới thủa ban đầu của Triệu Vũ Đế ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh. Sau đó, như đã biết, Triệu Vũ Đế chuyển quân về đóng ở Long Biên, nơi có di tích điện Long Hưng (Xuân Quan) ngày nay. Từ đó, đế nghiệp của họ Triệu bắt đầu hưng thịnh, với việc thấy rồng vàng bay lên trên sông Hồng.
Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vũ Đế lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Ngao về Bắc. Chị ruột Nhâm Ngao lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà…
Đây là cách kể khác của phần đầu khởi nghĩa Triệu Đà – Triệu Việt Vương tại “đầm Dạ Trạch” (cùng nơi với Chử Đồng Tử) và liên quan đến Nhâm Ngao. Đầm Dạ Trạch của Triệu Việt Vương như thế không phải ở bãi Tự Nhiên (Long Biên) mà là ở Trâu Sơn – Vũ Ninh, nơi ngày nay còn ngôi “chùa Việt Vương” với tục thờ Triệu Vũ Đế tại huyện Quế Võ.

2017-08-24 (1)Vị trí các khu vực được nói tới liên quan đến Triệu Vũ Đế.

Tóm tắt lại phần khởi nghiệp của Triệu Đà ở đồng bằng sông Hồng: Triệu Vũ Đế người Chân Định (có thể là Chân Đăng, đời Trần là vùng Việt Trì – Phú Thọ như được tiến sĩ Phạm Sư Mạnh nói tới trong bài Tuần thị châu Chân Đăng), lấy vợ là bà Trình Thị ở Kiến Xương (Thái Bình). Sau đó tụ tập nhân dân Việt chống Tần ở vùng núi Trâu Sơn (Bắc Ninh). Khi Nhâm Ngao mất (bị thần Xương Cuồng vật chết) Triệu Đà tiếp vị trí của Nhâm Ngao ở Long Biên và bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi.
Đây cũng chính là đoạn đầu khởi nghĩa của Lưu Bang trong Hoa sử. Lưu Bang người đất Phong (Phong Châu – Vĩnh Phú), lấy bà Lữ Trĩ (Trình Thị thiết Trĩ) ở đất Bái (Thái Bình phản thiết Bái). Một lần áp giải dân phu đi làm ở Lịch Sơn (Lịch Sơn là dãy núi giữa Tuyên Quang và Vĩnh Phúc ngày nay vẫn mang tên này), giữa đường dân phu bỏ trốn nhiều. Lưu Bang biết theo luật pháp nhà Tần quan áp giải để dân phụ trốn như thế sẽ phải chịu tội chết, nên đã thả hết dân phu và cùng nhau lên núi ẩn náu (núi Trâu Sơn – Vũ Ninh). Mười năm lẩn tránh trong núi, lấy cướp làm nghề (truyền thuyết gọi là đánh du kích ở đầm Dạ Trạch), chống đối lại nhà Tần.
Núi Trâu Sơn là địa danh Mang Đường nơi Lưu Bang tụ tập bè đảng ban đầu trong Sử ký Tư Mã Thiên. Nơi mà Lữ Hậu (Trình Thị) đã theo “khí mây” mà tìm đến với Lưu Bang.
Tới khi Tần Thủy Hoàng mất, viên huyện lệnh (Nhâm Ngao) đất Bái (lúc này là huyện Long Xuyên ở khu vực Long Biên – Từ Sơn) vì lo lắng loạn lạc nên theo lời Tiêu Hà cho mời Lưu Bang về trợ giúp. Sau đó viên huyện lệnh này lại đổi ý, dẫn tới việc nhân dân trong thành nổi dậy, giết Nhâm Ngao (Truyện Giếng Việt kể là bị thần Xương Cuồng vật chết), rồi tôn Lưu Bang làm thủ lĩnh (Bái Công). Lưu Bang chém con rắn trắng (truyền thuyết Việt chép là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng), bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần.
Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương. Rõ ràng ý nghĩa của hình ảnh “Long hưng” sâu sắc hơn chuyện chém rắn như cách kể của Hoa sử.

Rong Phu SaRồng ở đình Phù Sa.

Chi tiết trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao phải hiểu đây là Triệu Cao… Tổ, tức là Cao đế Lưu Bang. Lưu Bang trong sử Việt được chép là Lý Bôn. Triệu Quang Phục nối nghiệp của Nam Đế Lý Bôn, “hưng Nam Lý”. Triệu Quang Phục tức chính là các vị vua Triệu nước Nam Việt đã tiếp ngôi của Cao đế Lưu Bang ở miền Nam
Vấn đề Triệu Đà trong sử Việt nay nhìn nhận lại, không chỉ ở việc công nhận sự chính thống của triều đại này, mà cần làm sáng tỏ thân thế và sự nghiệp vị “Hưng đế” đầu tiên của nước Nam người Việt. Triệu Đà – Lý Bôn – Lưu Bang là một nhân vật sinh ra gặp cảnh loạn lạc, thời thế tạo anh hùng, đã buộc phải nắm lấy ngọn cờ khởi nghĩa, lật đổ nhà Tần, lập nên triều Hiếu huy hoàng của người Việt.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ pháp

Tứ pháp là bộ bốn vị thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (Mây, Mưa, Sấm, Chớp), được kể trong Truyện Man Nương. Chuyện xảy ra dưới thời Sỹ Nhiếp, liên quan tới vị sư đến từ Ấn Độ là Khâu Đà La. Tứ pháp được tạo tượng thờ từ thân cây dung thụ, nơi ẩn chứa đứa con gái của Man Nương và Khâu Đà La và được tin là các thần cầu mưa rất linh ứng.
Sự tích Tứ pháp được tóm tắt trong câu đối sau ở chùa Đậu (chùa Thành Đạo thờ Pháp Vũ ở Thường Tín, Hà Nội):
萬古仰玄功涸潤枯繁嘉惠普霑南海甸
两間鍾灝氣樹藏石化慶源溯自士王朝
Vạn cổ ngưỡng huyền công, hạc nhuận khô phồn, gia huệ phổ triêm Nam hải điện
Lưỡng gian chung hạo khí, thụ tàng thạch hóa, khánh nguyên tố tự Sỹ Vương triều.
Dịch:
Vạn năm ngưỡng phép thiêng, thấm hạn tưới khô, ơn lành phủ khắp điện Nam Hải
Hai gian đúc khí lớn, giấu cây hóa đá, nguồn tốt đến từ triều Sỹ Vương.
Thụ tàng” chỉ chuyện Man Nương sinh con, mang cho Khâu Đà La, Khâu Đà La giấu đứa bé trong cây Dung thụ, sau trở thành Tứ pháp. “Thạch hóa” chỉ chuyện phần cây Dung thụ có đứa bé con Khâu Đà La cứng như đá, rìa búa bổ vào đều mẻ. Sau được tạc thành Thạch Quang Phật.
Trong các bài viết trước đây đã từng xác định, Tứ pháp là bốn tính chất hay là hiện thân của thần dông tố Indra, vị thần tối cao của đạo Bà La Môn. Khâu Đà La và bản thân Sỹ Nhiếp là những tu sĩ theo Bà La Môn giáo.

Bia chua DauBia đá “Tu tạo Pháp Vũ tự bi” chùa Đậu.

Chùa Đậu ở Thường Tín còn gọi là chùa Vua, không phải là chùa dành cho vua chúa (Sỹ Nhiếp không xưng vua), mà là chùa thờ Vua. Vua ở đây là thần Phạm Thiên – Đế Thích của đạo Bà La Môn. Chùa này theo các tư liệu vốn có tên là Kính Thiên điện hay điện thờ Trời.
Tương tự, ở thành phố Hà Nội cũng có chùa Vua thờ thần Đế Thích. Khu vực chợ gần đó gọi là chợ Trời, không phải là chợ ở ngoài trời, mà là khu vực thờ ông Trời. Chùa Vua đúng tên mà nay còn ghi ở đó là Thiên Đế điện.
Đế Thích là vị thần cai quản thời tiết và chiến tranh. Cũng vì vậy mà dân gian kể thành ra Đế Thích rất giỏi chơi cờ. Chơi cờ tướng là nghệ thuật điều binh khiển tướng, tức là tổ chức chiến tranh.

Thiên Đế điện – chùa Vua Hà Nội.

Đạo Bà La Môn như vậy rất thịnh hành dưới thời Sỹ Nhiếp ở cả miền Bắc và miền Trung Việt. Họ Phạm của Sĩ Nhiếp cũng như họ Phạm ở Lâm Ấp có thể vừa là pháp danh trong đạo, vừa là họ. Trong quan niệm của Bà La Môn thì tầng lớp thống trị là con của thánh thần. Thần Bà La Môn là Phạm Thiên nên người cai quản đất nước cũng mang họ Phạm.
Như thế trung tâm Luy Lâu vốn khởi đầu không phải là bởi Phật giáo mà là đạo Bà La Môn. Chỉ sau khi Sỹ Nhiếp mất thì Phật giáo ở đây mới bắt đầu nổi lên, bằng sự xuất hiện của sư tổ Khương Tăng Hội, chép dịch kinh và truyền đạo. Việc Khương Tăng Hội từng sang Kiến Nghiệp để thuyết giáo cho Tôn Quyền nay có thể hiểu lại.
Khi Sỹ Nhiếp mất, Tôn Quyền cho Lữ Đại sang thay họ Sỹ – Phạm cai quản Giao Châu. Việc Đông Ngô khuyến khích Phật Giáo ở Giao Châu như thế còn có ý nghĩa về chính trị, nhằm loại bỏ “tàn dư” của thời Sỹ Nhiếp do Bà La Môn giáo thống trị. Giao Châu từ đó chuyển sang chịu ảnh hưởng của đạo Phật. Trong khi khu vực miền Trung vẫn tiếp tục do họ Phạm lãnh đạo và tiếp tục theo Bà La Môn giáo. Khương Tăng Hội không chỉ từ Giao Châu sang thuyết giáo Tôn Quyền mà có thể đã dựa vào Tôn Quyền để khuếch trương Phật giáo tại Giao Châu, nơi vốn là lãnh địa của Bà La Môn giáo họ Phạm.
Vị sư tổ Thiền tông Khương Tăng Hội đã soạn các bản kinh bằng chữ Nho rõ ràng là với mục đích truyền bá Phật Giáo ở Giao Châu sau thời Sỹ Nhiếp. Tác phẩm Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội do đó không phải là kinh nguyên văn của Ấn Độ được dịch mà là sách do Khương Tăng Hội sáng tác với mục đích truyền giáo vào Giao Châu – Trung Quốc. Chính vì vậy mà trong Lục độ tập kinh ta thấy xuất hiện có những mô típ điển hình của truyền thuyết Việt như chuyện sinh trăm trứng hay chuyện sừng tê bảy tấc rẽ nước (An Dương Vương). Thiền sư Lê Mạnh Thát đã từng lấy đây làm dẫn chứng để cho rằng các truyền thuyết của nước ta là đi chép từ kinh của Ấn Độ. Như vậy là không hợp lý. Ngược lại, đây là những truyền thuyết Việt đã được Khương Tăng Hội vận dụng đưa vào trong kinh Phật để cho phù hợp với tâm lý và tư tưởng người Việt khi mới truyền giáo. Thủ pháp truyền giáo này được áp dụng ở thời kỳ đầu du nhập đạo Phật sang phương Đông như thời Đông Tấn có sư Tuệ Viễn đã dùng các điển tích của Trang Tử để giảng đạo Phật ở Trung Quốc.
Việc một khu vực chuyển từ ảnh hưởng của Bà La Môn giáo sang Phật giáo gặp rất phổ biến ở thời kỳ đầu của Phật giáo. Sự việc này được hình ảnh hóa thành ra 2 vị thần tối cao của Bà La Môn giáo là Indra (Đế Thích) và Brahma (Phạm Thiên) trở thành 2 vị hộ pháp khi Phật tổ ra đời. Trong các chùa ngày nay thường gặp tượng của Phạm Thiên và Đế Thích đặt ở 2 bên tượng Cửu long (Thích Ca sơ sinh) hoặc thờ thành ban Đức Ông riêng.

Duc OngBan thờ Đức Ông chùa Bộc.

Ở chùa Bộc có ban thờ Đức Ông nằm phía bên trái chính điện. Bức tượng Đức Ông này có quần áo trang phục như một vị vua và được cho là hình tượng của vua Quang Trung. Tuy nhiên, đôi câu đối hai bên ban thờ này chép:
洞裡無塵大地山河留棟宇
光中化佛小天世界轉風雲
Động lý vô trần, đại địa sơn hà lưu đống vũ
Quang trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân.
Dịch:
Trong động bụi không, đất rộng núi sông lưu đền mái
Giữa quang phật hóa, một trời thế giới chuyển gió mưa.
Đoạn câu đối “tiểu thiên thế giới chuyển phong vân” là chỉ thần Đế Thích, vị thần cai quản chuyện làm mưa làm gió ở trên thế giới này đã theo Phật. Tứ pháp, Vân Vũ Lôi Điện, là hiện thân của thần Đế Thích, bắt nguồn từ Bà La Môn giáo du nhập vào Giao Châu dưới thời Sỹ Nhiếp. Sau này, từ khi Khương Tăng Hội soạn kinh và truyền giáo ở Giao Châu thì các điện thờ Tứ pháp mới chuyển hóa thành các chùa thờ Phật.

Bàn về loại gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo

Loại gạch có dòng chữ  Lý gia đệ tam đế Long Thủy Thái Bình tứ niên tạo là loại gạch sớm nhất của nhà Lý còn để lại cho tới nay. Loại gạch này gặp ở một số di tích quan trọng, cụ thể là:
1. Hoàng thành Thăng Long: đây là lớp gạch gặp khá nhiều, nằm trên các lớp gạch Giang Tây quânĐại Việt quốc quân thành chuyên. Ở Thăng Long loại gạch này còn dùng để xây tháp Báo Thiên (nay đã mất dấu tích) vì Phạm Đình Hổ trong sách Tang thương ngẫu lục đã chép:
… Những hòn gạch hoa, hòn viên nào cũng khắc chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo”. Lại có câu thơ:
Lý Thị cố cơn thành mậu thảo
Thái Bình duy tích uỷ tàn chuyên.
(Lý Thị nền xưa vùng cỏ tốt
Thái Bình hiệu cũ đống sành hoang). 

P1120725

2. Chùa Phật Tích, Bắc Ninh: Ngôi chùa này nổi tiếng với bức tượng Phật ngồi trên tòa sen của đời Lý. Dưới nền chùa Phật Tích ở Tiên Du, Bắc Ninh đã phát hiện một nền tháp được xây dựng có sử dụng loại gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (ảnh từ Internet).

cdv-nenmong-10_jpg

3. Tháp Tường Long, Đồ Sơn, Hải Phòng:
Ở trên dãy Đồ Sơn còn một nền tháp khá lớn được xây dựng bằng những viên gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo. Tương truyền rằng vua Lý Thánh Tông khi đi qua đây, đêm nằm mộng thấy rồng vàng xuất hiện, nên cho xây một tòa tháp cao, đặt tên là Tường Long. Di vật còn lại ở khu vực này ngoài nền gạch có nhiều viên gạch có chữ còn có một phần bệ tượng Phật thời Lý trang trí tương tự như bệ tượng Phật ở chùa Phật Tích.

IMG_5731 (2)So sánh các viên gạch ở 3 địa điểm khác nhau trên có thể thấy những viên gạch này đều làm theo một tiêu chuẩn, hình chữ nhật, ở chính giữa có ô gồm 2 dòng chữ 李家第三帝龍瑞太平四年造 (Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo) bằng loại chữ khải khá đẹp và giống nhau.
Khó có thể chấp nhận rằng những viên gạch này làm từ cùng một chỗ, rồi mang vận chuyển đi các nơi cách xa nhau như vậy để xây. Nhiều khả năng khuôn chữ và khuôn gạch là thống nhất, từ một chỗ. Còn gạch được sản xuất ở từng địa phương có di tích.
Dù thế nào thì sự đồng nhất giữa các viên gạch này cho thấy các di tích này được làm một cách tập trung từ triều đình của Lý Thánh Tông, cùng một lúc, cùng một khuôn, chứ không phải hành động ngẫu nhiên của các địa phương. Bản thân chữ “tạo” trên gạch có thể không phải chỉ là làm ra viên gạch đó, mà là chỉ công trình dùng loại gạch này được xây dựng năm như ghi trên gạch. Nói cách khác, những viên gạch này là một dạng văn bia của các di tích mà chúng được dùng để xây nền móng.
Về nghĩa, Lý gia đệ tam đế thì đã rõ là vua Lý Thánh Tông. Nhưng tại sao gạch xây thành Thăng Long lại là gạch của vua Lý Thánh Tông chứ không phải Lý Thái Tổ? Lý Thái Tổ theo sử sách hiện tại đã cho dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhân đi trên sông Hồng thấy rồng vàng bay lên nên đặt tên kinh thành là Thăng Long. Nhưng tại sao không tìm thấy viên gạch nào mang niên hiệu Thuận Thiên của Lý Thải Tổ ở Thăng Long cũng như ở các nơi khác? Thay vào đó lại là việc xây dựng thành Thăng Long và một loạt các điểm khác dưới thời Lý Thánh Tông, năm thứ 4.
Căn cứ vào hiện vật khảo cổ để lại là những viên gạch được ghi chữ rõ ràng thì người xây thành Thăng Long, và hiển nhiên cũng là người đã dời đô ra Thăng Long, phải là vị vua thứ ba của nhà Lý là Lý Thánh Tông.
Thêm vào đó Lý Thánh Tông mới là người đã đặt tên nước là Đại Việt. Trước đó, 2 vị vua đầu nhà Lý không thấy sử sách chép gọi tên nước là gì. Như thế Lý Thánh Tông khi lên ngôi đã chính thức xưng hoàng đế, đặt tên nước là Đại Việt và tiến hành dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

IMG_5704

Một phần bệ tượng Phật và chân cột chạm hoa sen còn lại ở khu tháp Tường Long.

Còn sự kiện thấy rồng bay lên trên sông Hồng được xác nhận bằng di tích tháp Tường Long ở Đồ Sơn của Lý Thánh Tông. Tường Long nghĩa là rồng hiện hình tỏ tường. Tháp Tường Long nằm trên dải núi Đồ Sơn hình như một con rồng 9 khúc đang ngậm ngọc (đảo Hòn Dấu). Đồ Sơn cũng rất gần với của sông Hồng đổ ra biển là cửa Thái Bình. Nếu tính đường sông thì từ kinh đô Thăng Long tiến ra biển gần nhất chính là đi về cửa Thái Bình giữa Hải Phòng và tỉnh Thái Bình ngày nay.
Đặc biệt, niên hiệu của vua Lý Thánh Tông ghi trên gạch cũng liên quan tới sự kiện này. Long Thụy Thái Bình nghĩa là chỉ điềm rồng (long thụy) khi vua lên ngôi (thái bình), hoặc thậm chí chỉ rồng bay lên trên đất Thái Bình, tức là khu vực Đồ Sơn.
Con Rồng ở đất Thái Bình có khả năng chỉ… Lạc Long Quân, mà được vùng này thờ là vua cha Bát Hải Động Đình tại đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Câu đối ở đền Đồng Bằng:
四千年國俗尚神捌海龍飛傳異蹟
十八號雄朝出世洮江虎略振靈聲
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Những viên gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo là bằng chứng xác thực việc thiên đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đã xảy ra dưới thời Lý Thánh Tông. Lịch sử của nhà Lý do đó buộc phải xem xét lại, để trả về đúng vị trí và công nghiệp cho 3 vị vua đầu triều Lý.

Đồng Cổ Sơn thần là ai?

Bài của tác giả Hoàng Tuấn Công cho rằng các đền Đồng Cổ ở Thanh Hóa không phải là thờ thần trống đồng mà là thờ thần núi Tam Thai hay núi Khả Lao.
http://nongnghiep.vn/den-dong-co-tho-ai-post159518.html
Xin bàn thêm về ý kiến này.

IMG_9156Đền Đồng Cổ ở phố Thụy Khê, Hà Nội.

Trong thần điện Việt không có “thần núi” với nghĩa là quả núi được tôn lên thành thần. Người Việt không thờ những vật thiên nhiên làm thần, mà chỉ tôn thờ những nhân vật có thật làm thần. Những cái tên gọi kiểu Thần núi, Thần sông… là chỉ “chức danh” của các vị thần, hay của các nhân vật có thật được tôn vinh. Nó tương tự như có ông Chủ tịch phường nhưng ông ta là người thật chứ không phải là “cái phường” được tôn làm Chủ tịch.
Hiểu như vậy thì Đồng Cổ Sơn thần đúng là một vị thần núi, nhưng là một nhân vật lịch sử được đảm nhận vai trò làm thần ở núi Đồng Cổ. Nhân vật đó là ai?
Trong bài trên có dẫn sách Thanh Hóa kỷ thắng:
“…Trong đền thờ thần có trống đồng (…). Nguyên thần là tinh khí của trái núi, rất linh ứng. Xưa Hùng vương đi đánh Chiêm Thành trú binh dưới chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy thần nhân nói rằng:
– Nguyện được đem trống đồng đi phù trợ vương chiến thắng.”
Như thế vị thần Đồng Cổ này đã có từ thời Hùng Vương, dùng trống đống trợ vua đánh giặc Chiêm Thành.
Câu đối ở đền Đồng Cổ (Thụy Khê, Hà Nội):
可牢山毓秀鍾英萬古灵聲長不泯
蘇瀝水营祠勒石前朝御墨尚留香
Khả Lao sơn dục tú chung anh, vạn cổ linh thanh trường bất miến
Tô Lịch thủy doanh từ lặc thạch, tiền triều ngự mặc thướng lưu hương.
Dịch:
Núi Khả Lao sinh tú đúc anh, vạn cổ tiếng thiêng dài bất tận
Nước Tô Lịch lập đền khắc đá, tiền triều đề ngự lưu tôn hương.
Chiếu theo dòng sử mới thì vị thần trồng đống chính là Cao Lỗ. Phân tích từ ngữ ta thấy Khả Lao và Cao Lỗ là tương đồng:
– Khả = Cả = Cao
– Lao = Lão = Lỗ, vốn là từ chỉ nước Lào hay nước Lỗ xưa.
Còn có Khả Lao đọc phản thiết là Khao Lả = Cao Lỗ.
Khả Lao hay Cao Lỗ nghĩa là vị thủ lĩnh đứng đầu nước Lỗ hay nước Lào.
Vị trí nước Lỗ xưa là vùng lưu vực sông Mã, tức là phần Bắc Lào và vùng Thanh Hóa ngày nay. Đó cũng là nơi có thần Đồng Cổ và có những nơi sản xuất trống đồng từ xa xưa ở Đông Sơn.
Như vậy Đồng Cổ Sơn Thần chính tướng quân Cao Lỗ hay vị thái sư Chu Công của nhà Chu.
Sự tích Cao Lỗ chế nỏ thần từ chiếc móng rùa của thần Kim Quy chỉ việc Chu Công viết hào từ để hoàn thiện bộ Kinh Dịch, và cũng là chỉ việc Cao Lỗ chế tạo trống đồng, một pho sách Dịch khắc trên đồng. Nhà Hạ có Liên Sơn Dịch, là Dịch khắc trên đá núi. Nhà Thương có Quy Tàng Dịch, là Dịch khắc trên mai rùa (trong hình tượng Thanh Giang – Thương sứ Kim Quy). Còn nhà Chu nay với phát hiện Trống đồng là chiếc nỏ thần của Chu Công – Cao Lỗ thì có thể gọi là Đồng Cổ Dịch – Dịch đúc trên trống đồng. Trống đồng – Dịch lý là ánh sáng soi đường cho người Việt trong đời sống cũng như trong việc chống ngoại xâm.
Đồng Cổ Dịch hay Dịch trống đồng một lần nữa xác định chủ nhân của Kinh Dịch là người Việt và lịch sử văn hoá phương Đông buộc phải viết lại.