Thần tích Giao Châu Đặng thái thú ở nghè Gia Lâm

Tấm bia thời Lê lưu tại nghè Gia Lâm, xã lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội khắc sự tích vị Thái thú Giao Châu họ Đặng thời Hán, có công giáo dân hóa lý, dẹp yên 7 quận, hy sinh vì nước, hiển ứng nhiều đời.

IMG_4310

Gia Lâm xã thần tích bi ký  嘉林社神跡碑記

漢昭帝時累朝一位大王譜籙(艮支部上等)國朝禮部正本
昔雄王山原聖祖啟運應圖二十年餘雄王建國青山萬里創雄都宫殿之基碧水一泓開聖帝明王之道以度物濟人統十五部號之百越為肈祖焉
詩云
初開南越自涇陽一統山河十八王十八世傳千古在億年香火億年芳
却説
粤昔西漢時內地龍編猶屬我國間有鄧公諱 運其先人繼世承資蔭配本郡人謝氏諱謹傳家詩禮累世簪纓所謂當門而配公課童頗精醫術樂能行善事賑資救苦無一人不遂其生無一物不寧其养小善亦為十堊不作半點害人休着意毫利己莫私心此地方皆稱其積善之家必有餘慶
公年近六旬謝氏年四十餘然男子尚晚後謝氏夣見蛇精入懷而有孕時(甲午年二月十一日)生下一男天資穎異相貌殊常三歲而知禮義能敬讓聞學而知聽音而審七歲入學經史精通才能武蓺命名曰居士當時士子多嘆服之共稱為聖童公年十八父母皆爼落三年喪畢公潛心墳典教誨士民聞交州教化未明綱疇未叙公循循然善誘之而後民知禮義也南州華風公之功也
民皆暮之共推為州長時漢昭帝命周章為交州太守章聞公教化服人為之疏舉帝大嘉之封列 侯公既受命行縣邑觀民風適至京北道 (古號北江郡)順安府嘉林縣嘉林寨見民風樸陋學術寡聞公乃傳設行在于嘉林寨地頭以教文字
纔得一年民皆慕之值珠崖儋耳蒼梧廣信番禺麓冷七郡商長作亂騷動民生帝聞之咨廷臣疇能了此以為本州太守岑彭舉公德望服人必能安集帝許之命為州守 使平賊
公乃選嘉林寨得家下二百餘移檄諸郡縣來附者以萬数刻日直擣九真命将士分屯堅守不得挑戰因遣文吏移檄論之以信義示之以祸福賊聞之感悟束甲來降七郡告平公遂振旅還州府(即龍編地)
自公為太守刑罰清省民皆安業公暇復詣嘉林行在曉人以恩誼民皆拜謝請因此舍為後為祀所公許之日卽遂並囘州府居之
及至哀帝時間有王莽亂公将兵守開公兵方至安南不意漢兵猝至公曰漢兵方拒莽何故往南.使閉關不約漢将大忿破關門直入境.公見漢兵盛至卽引兵退囘州府無何漢兵夜至重園公騎馬拒戰解得園出至龍編處仰天而嘆曰人臣事君必死無二不圖至此知我者.其天乎遂爼于龍編地不見卽化矣(時八月初十日)
一項間江濤湧沸蛟龍送出漢兵皆驚遂引去以事聞之帝遣使諭祭于龍編地勅封福神準許府民立廟祀之餘如九真南海日南海陽加林等處常被公教化者皆迎美字囘民奉事
及至平帝聞公名績表見於漢有功遣使勅封一封濟世護國居士大王
曁至陳太宗時寇元來侵京城被陷陳國俊奉命祈禱百神各諸祠經一日適至京北順安府嘉林縣嘉林區(陳時為庄)夜宿神祠祈神陰扶討賊俟平勅封上等神
夜至四更末國俊公乃朦朧睡去忽夢見一老翁上頭白髮從此而來自稱居士靈神謂曰我北朝正氣南國遺踪學富五車直擬青雲得路聞将軍東往平冦自願從乃陰扶護法立功勿可憂之神人言訖没变矣項間将公醒出暗想夢中顯有靈神所助定明日拜謝返囘京國已而出戰於白藤江忽然天地晦冥風濤湧出帥将帥兵神靈發動蛇蛟向扶於水上陳國公乃刀戰一陣馬兒大敗斬得正将與裨将數萬頭血可船行屍如山積自此
盡除元冦陳國公反囘奏于太宗曰元賊早平亦賴於神助太宗乃加封陰扶一位當境城隍護法居士大王興國同休永為𢗝武欽哉
却説自以而後稔着靈應故多有帝王加封美字
迨至黎太祖起義平明柳昇及得天下太祖乃加封一位普濟剛毅英靈勅旨頒嘉林庄重修廟殿以奉祀之猗歟休哉
一奉開生化各节與諱字切禁運謹居士準許嘉林庄奉祀
一生神二月十一日正例禮用上齊盤下黑猪𥸷酒唱歌三日卽止
一化神八月初十日正例禮用上齊盤下牛猪𥸷酒白方圓餅
一例慶賀祈福三月初十日禮用上齊盤下随宜唱歌十日卽止
洪福元年孟春吉日翰林禮院東閣大學士臣阮炳奉撰正本
皇朝永祐六年仲秋吉日管監百靈知殿雄嶺少鄉臣阮賢再遵舊正本

Phiên âm:
Gia Lâm xã thần tích bi kí
Hán Chiêu Đế thời lũy triều nhất vị đại vương phổ lục (cấn chi bộ thượng đẳng) quốc triều lễ bộ chính bản.
Tích Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khải vận ứng đồ nhị thập niên dư. Hùng Vương kiến quốc thanh sơn vạn lí sáng hùng đô cung điện chi cơ, bích thủy nhất hoằng khai thánh đế minh vương chi đạo. Dĩ độ vật tế nhân thống thập ngũ bộ hiệu chi Bách Việt vi triệu tổ yên.
Thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa ức niên phương.
Tức thuyết:
Việt tích Tây Hán thời nội địa Long Biên do thuộc. Ngã quốc gian hữu Đặng Công húy Vận, kỳ tiên nhân kế thế thừa tư ấm, phối bản quận nhân Tạ Thị húy Cẩn, truyền gia thi lễ lũy thế trâm anh, sở vị đương môn nhi phối. Công khóa đồng pha tinh y thuật, lạc năng hành thiện sự, chẩn tư cứu khổ, vô nhất nhân bất toại kỳ sinh, vô nhất vật bất ninh kỳ dưỡng, tiểu thiện diệc vi thập ác bất tác bán điểm hại nhân, hưu trứ ý hào lợi kỷ mạc tư tâm, thử địa phương giai xưng kỳ tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh.
Công niên cận lục tuần, Tạ Thị niên tứ thập dư nhiên nam tử thượng vãn. Hậu Tạ Thị mộng kiến xà tinh nhập hoài nhi hữu dựng. Thời (Giáp Ngọ niên nhị nguyệt thập nhất nhật) sinh hạ nhất nam, thiên tư dĩnh dị, tướng mạo thù thường, tam tuế nhi tri lễ nghĩa, năng kính nhượng, văn học nhi tri, thính âm nhi thẩm. Thất tuế nhập học kinh sử tinh thông, tài năng vũ nghệ mệnh danh, viết cư sĩ đương thời. Sĩ tử đa thán phục chi Công, xưng vi Thánh đồng. Công niên thập bát, phụ mẫu giai trở lạc.
Tam niên tang tất, Công tiềm tâm phần điển giáo, hối sĩ dân. Văn Giao Châu giáo hóa vị minh, cương trù vị tự. Công tuần tuần nhiên thiện dụ chi nhi hậu dân tri lễ nghĩa dã. Nam Châu hoa phong công chi công dã. Dân giai mộ chi cộng thôi vi Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế mệnh Chu Chương vi Giao Châu thái thú. Chương văn Công giáo hóa phục nhân vi chi sớ cử đế đại gia chi phong Liệt hầu. Công ký thụ mệnh hành huyện ấp, quan dân phong thích chí Kinh Bắc đạo (cổ hiệu Bắc Giang quận) Thuận An phủ Gia Lâm huyện Gia Lâm trại, kiến dân phong phác lậu, học thuật quả văn. Công nãi truyền thiết hành tại vu Gia Lâm trại địa đầu dĩ giáo văn tự. Tài đắc nhất niên dân giai mộ chi.
Trị Châu Nhai Đam Nhĩ Thương Ngô Quảng Tín Phiên Ngu Lộc Lĩnh thất quận thương trưởng tác loạn, tao động dân sinh. Đế văn chi tư đình thần trù năng liễu thử dĩ vi bản châu Thái thú. Sầm Bành cử Công đức vọng phục nhân, tất năng an tập. Đế hứa chi mệnh vi châu thú sử bình tặc.
Công nãi tuyển Gia Lâm trại đắc gia hạ nhị bách dư, di hịch chư quận huyện lai phụ giả dĩ vạn sổ. Khắc nhật trực đảo Cửu Chân, mệnh tướng sĩ phân truân kiên thủ, bất đắc thiêu chiến. Nhân khiển văn lại di hịch luận chi dĩ tín nghĩa kì chi dĩ họa phúc. Tặc văn chi cảm ngộ thúc giáp lai hàng. Thất quận cáo bình. Công toại chấn lữ hoàn châu phủ (tức Long Biên địa).
Tự công vi thái thú hình phạt thanh tỉnh, dân giai an nghiệp. Công hạ phục nghệ Gia Lâm hành tại hiểu nhân dĩ ân nghị. Dân giai bái tạ, thỉnh nhân thử xá vi hậu vi tự sở. Công hứa chi nhật tức toại tịnh hồi châu phủ cư chi.
Cập chí Ai Đế thời gian hữu Vương Mãng loạn. Công tương binh thủ khai công binh phương chí An Nam bất ý Hán binh thốt chí. Công viết Hán binh phương cự Mãng hà cố vãng Nam, sử bế quan bất ước. Hán tướng đại phẫn, phá quan môn trực nhập cảnh. Công kiến Hán binh thịnh chí tức dẫn binh thối hồi châu phủ. Vô hà Hán binh dạ chí trọng viên. Công kị mã cự chiến giải đắc viên xuất, chí Long Biên xứ ngưỡng thiên nhi thán viết: Nhân thần sự quân tất tử vô nhị bất đồ chí thử tri ngã giả, kì thiên hồ, toại trở vu Long Biên địa bất kiến tức hóa hĩ (thời bát nguyệt sơ thập nhật).
Nhất hạng gian giang đào dũng phí giao long tống xuất. Hán binh giai kinh toại dẫn khứ. Dĩ sự văn chi Đế khiển sứ dụ tế vu Long Biên địa, sắc phong phúc thần, chuẩn hứa phủ dân lập miếu tự chi dư như Cửu Chân Nam Hải Nhật Nam Hải Dương Gia Lâm đẳng xứ, thường bị Công giáo hóa giả giai nghênh mĩ tự hồi dân phụng sự.
Cập chí Bình Đế văn Công danh tích biểu kiến vu Hán hữu công, khiển sứ sắc phong Nhất phong Tế thế Hộ quốc Cư sĩ Đại vương.
Kỵ chí Trần Thái Tông thời khấu Nguyên lai xâm, kinh thành bị hãm. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh kì đảo bách thần các chư từ kinh nhất nhật, thích chí Kinh Bắc Thuận An phủ Gia Lâm huyện Gia Lâm khu (Trần thời vi trang) dạ túc thần từ, kì thần âm phù thảo tặc sĩ bình sắc phong thượng đẳng thần.
Dạ chí tứ canh mạt Quốc Tuấn Công nãi mông lông thụy khứ, hốt mộng kiến nhất lão ông thượng đầu bạch phát tòng thử nhi lai, tự xưng Cư sĩ linh thần, vị viết: Ngã Bắc triều chính khí, Nam quốc di tung, học phú ngũ xa trực nghĩ thanh vân đắc lộ. Văn tướng quân Đông vãng bình khấu, tự nguyện tòng nãi âm phù hộ pháp lập công, vật khả ưu chi thần nhân ngôn cật một biến hĩ hạng gian.
Tướng Công tỉnh xuất ám tưởng mộng trung hiển hữu linh thần sở trợ, định minh nhật bái tạ, phản hồi kinh quốc dĩ nhi xuất chiến vu Bạch Đằng giang. Hốt nhiên thiên địa hối minh, phong đào dũng xuất, suất tướng suất binh thần linh phát động xà giao hướng phù vu thủy thượng. Trần Quốc công nãi đao chiến nhất trận Mã Nhi đại bại, trảm đắc chính tướng, dữ tì tướng sổ vạn đầu huyết khả thuyền hành thi như sơn tích tự thử. Tận trừ Nguyên khấu Trần Quốc Công phản hồi tấu vu Thái Tông viết Nguyên tặc tảo bình diệc lại vu thần trợ. Thái Tông nãi gia phong Âm phù Nhất vị Đương cảnh Thành hoàng Hộ pháp Cư sĩ Đại vương Hưng quốc Đồng hưu Vĩnh vi Kỳ vũ khâm tai.
Tức thuyết: Tự dĩ nhi hậu nhẫm trứ linh ứng, cố đa hữu đế vương gia phong mĩ tự.
Đãi chí Lê Thái Tổ khởi nghĩa bình Minh Liễu Thăng, cập đắc thiên hạ. Thái Tổ nãi gia phong Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh, sắc chỉ ban Gia Lâm trang trùng tu miếu điện dĩ phụng tự chi y dư hưu tai.
Nhất phụng khai sinh hóa các tiết dữ húy tự thiết cấm Vận Cẩn Cư sĩ, chuẩn hứa Gia Lâm trang phụng tự.
Nhất sinh thần nhị nguyệt thập nhất nhật chánh lệ lễ dụng thượng trai bàn, hạ hắc trư tế tửu xướng ca tam nhật tức chỉ.
Nhất hóa thần bát nguyệt sơ thập nhật chánh lệ lễ dụng thượng trai bàn hạ ngưu trư tế tửu bạch phương viên bính.
Nhất lệ khánh hạ kì phúc tam nguyệt sơ thập nhật lễ dụng thượng trai bàn hạ tùy nghi xướng ca thập nhật tức chỉ.
Hồng Phúc nguyên niên mạnh xuân cát nhật. Hàn lâm lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.
Hoàng triều Vĩnh Hữu lục niên trọng thu cát nhật. Quản giám bách linh tri điện Hùng lĩnh thiểu hương, thần, Nguyễn Hiền tái tuân cựu chính bản.

Dịch nghĩa:

Bia ký thần tích xã Gia Lâm
Bản phả lục một vị đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế (chi Cấn bộ thượng đẳng), Bộ Lễ quốc triều chính bản.
 Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khai vận mở đồ hơn hai mươi năm. Vua Hùng lập nước núi xanh vạn dặm, xây kinh đô Hùng, dựng nền cung điện, nước biếc thăm thẳm, bắt đầu đạo đế thánh vua minh, giúp vật giúp dân, thống nhất 15 bộ lấy tên là Bách Việt, là tổ tiên đầu tiên vậy.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Truyền rằng:
Xưa nước Việt ta, Long Biên còn thuộc về Tây Hán. Bấy giờ có ông họ Đặng, tên húy là Vận, tổ tiên ngày trước đã được ban tước phong, đời nay kế thừa gia tài phúc ấm. Ông lấy vợ người bản quận, họ Tạ, tên húy là Cẩn, con nhà thi lễ, dòng dõi trâm anh, hai người rất xứng đôi. Thủa nhỏ ông rất tinh thông y thuật, thích làm điều thiện, vốn tính hay ban chẩn, giúp đỡ người nghèo, không ai là không giúp đỡ sinh sống, không vật nào bệnh tật mà không chăm dưỡng, từ việc nhỏ đến việc ác lớn đều không phạm, không có ý tư lợi cá nhân, được người địa phương đều nói là tích thiên thì gia đình sẽ gặp nhiều điều phúc.
Năm ông gần 60 tuổi, Tạ Thị đã ngoài 40 mà chưa có con trai. Về sau Tạ Thị nằm mơ thấy một con rắn tinh nhập vào mà có thai. Vào ngày 11 tháng 2 năm Giáp Ngọ, bà sinh được một cậu con trai, tướng mạo khác thường, thiên tư kỳ lạ. Năm lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, thường hay kính nhường, theo học mà hiểu, nghe nhạc biết thẩm thấu. Lên 7 tuổi cho đi học, tinh thông kinh sử, rất giỏi võ nghệ, là một Cư sĩ đương thời. Sĩ tử ai nấy đều thán phục và gọi Ông là “Thánh đồng” (Thánh trẻ con). Năm 18 tuổi, cha mẹ qua đời. Ba năm phục tang xong, trong lòng ông thầm nghĩ phải lấy điển lễ lớn để dặn dạy sĩ dân.
Bấy giờ dân Giao Châu học hành chưa thấu, tam cương, cửu trù chưa biết thứ bậc. Ông liền thuận theo tự nhiên khuyên bảo những điều tốt lành. Nhờ đó mà dân biết được lễ nghĩa. Phong cách tốt đẹp của Nam châu có được cũng có công của Ông. Cảm phục sĩ dân mến mộ và cùng tôn ông làm Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu. Chu Chương nghe danh tiếng Ông giáo hóa quy phục được dân chúng bèn dâng sớ tiến cử lên vua. Vua rất vui mừng, liền phong ông chức “Liệt Hầu”. Ông nhận mệnh đi xuống huyện ấp xem xét cuộc sống dân tình và phong cảnh nơi đây. Đến đạo Kinh Bắc (tên xưa là quận Bắc Giang), phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, trại Gia Lâm, thấy phong tục tập quán nơi đây còn lạc hậu, kỹ nghệ còn sơ sài, Ông liền truyền thiết lập một nơi tại trại Gia Lâm để dạy học cho nhân dân. Mới được một năm, nhân dân đều ngưỡng mộ kính phục.
Gặp lúc tù trưởng của 7 quận: Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lĩnh, (Quế Lâm?) làm loạn, quấy nhiễu dân sinh. Vua nghe tin liền nói đình thần nào có thể dẹp yên sẽ cho làm Thái thú bản châu. Sầm Bành tiến cử ông có đức vọng, quy phục được lòng người, tất sẽ dẹp được. Vua bằng lòng lệnh ông cho cầm đầu châu đi dẹp loạn.
Ông tuyển chọn ở trại Gia Lâm được hơn 200 người, lại truyền hịch đi các quận huyện đến giúp thêm được vài vạn người. Ngay hôm đó tiến thẳng đến Cửu Chân, lệnh cho các tướng sĩ phân ra các đồn để giữ vững, không được khiêu chiến. Nhân đó, sai quan văn truyền hịch, khuyên cho họ hiểu tín nghĩa, bảo họ thấy rõ điều họa phúc. Giặc nghe thấy tỉnh ngộ bỏ binh khí, mũ giáp ra hàng, 7 quận giặc loạn đã được dẹp yên. Ông cho rút quân về phủ (tức đất Long Biên).
Từ khi ông làm Thái thú, hình phạt được giảm nhẹ, dân chúng đều được yên ổn làm ăn. Ông lại thong thả đến cung Gia Lâm, dạy cho dân hiểu về ân nghĩa và tình đoàn kết. Nhân dân thấy đó mà cảm phục bèn thưa với Ông “nơi đây ngày nay là học đường, ngày sau làm nơi phụng thờ”. Ông bằng lòng, rồi cùng sĩ tốt về châu phủ.
Tới thời Ai Đế gặp lúc Vương Mãng nổi loạn, Ông mang quân đi trấn giữ cửa ải. Quân ông đi đến An Nam, bất ngờ quân Hán kéo đến. Ông nói, quân Hán đang đánh nhau với Vương Mãng thì cớ gì lại kéo sang nước Nam, liền sai đóng cửa quan không cho vào. Tướng Hán rất tức giận sai phá cửa quan tiến thẳng vào. Ông thấy quân Hán thế rất mạnh, liền rút quân về châu phủ. Chẳng bao lâu quân Hán đến kịp, nhân lúc đêm tối, chúng bủa chặt vòng vây. Ông cưỡi ngựa cự chiến, thoát vòng vây chạy ra ngoài. Đến Long Biên, ông ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bề tôi vì vua mà chết, không có hai lòng, ta đến nông nỗi này có lẽ chỉ có trời mới hiểu vậy! Rồi quay lại không nhìn thấy Long Biên mà hóa (nhằm ngày 10/8). Một dải sông rộng nổi sôi sóng, giao long đưa tiễn.  Quân Hán kinh sợ quay đầu chạy.
Việc này đến tai vua, vua sai sứ giả đến cúng tế ở đất Long Biên, phong làm phúc thần, cho người dân trong phủ lập miếu thờ, cùng với các nơi như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Gia Lâm, là những nơi Ông đã có công giáo hóa nhân dân, đều đón mĩ tự về phụng thờ.
Đến vua Bình Đế nghe sự tích của Ông có công giúp Hán đã sai sứ giả sắc phong Nhất phong Tế thế Hộ quốc Cư sĩ Đại vương.
Tới tời Trần Thái Tông, giặc Nguyên xâm phạm, kinh thành bị vây. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần, các đền miếu đều ghé qua, tới đạo Kinh Bắc, phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, khu Gia Lâm (thời Trần là trang), ban đêm trú trong miếu thần, cầu thần âm phù dẹp giặc, sẽ phong là thượng đẳng thần.
Tới cuối canh tư Quốc Tuấn Công chợp mắt, bỗng mơ thấy một ông lão đầu bạc trắng tiến đến, tự xưng là Cư sĩ linh thần, nói rằng: ta là chính khí của Bắc triều, vết lưu của nước Nam, học vấn phong phú 5 xe, con đường sự nghiệp có thể coi là thành đạt, nay nghe tướng quân sang Đông dẹp giặc, tự nguyện theo âm phù giúp phép lập công, xin chớ lo lắng. Dứt lời thì biến mất trong không gian bao la. Tướng công tỉnh dậy, nhớ lại giấc mộng có thần thiêng hiển hiện trợ giúp, định ngày lành bái tạ, về lại kinh đô mà xuất chiến ở sông Bạch Đằng. Bỗng thấy trời đất mờ tỏ, gió to sóng lớn xuất hiện, quân tướng xuất hiện, thần linh phát động rắn rồng nổi lên mặt nước. Trần Quốc Công vung đao xông trận, Mã Nhi thua to, chém được tướng cầm đầu, còn tì tướng đầu rơi cả vạn, máu chảy thành sông, thây chất như núi.
Trừ hết giặc Nguyên, Trần Quốc Công về tâu lên Thái Tông rằng dẹp giặc Nguyên là có sự trợ giúp của thần. Thái Tông liền gia phong Âm phù Nhất vị Đương cảnh Thành hoàng Hộ pháp Cư sĩ Đại vương Hưng quốc Đồng hưu Vĩnh vi Kỳ vũ, kính vậy.
Truyền rằng: Từ đó về sau, đều linh thiêng hiển ứng, cho nên được nhiều các bậc đế vương phong thêm mĩ tự.
Đến đời Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ liền phong thêm: “Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh”. Sắc chỉ ban cho trang Gia Lâm trùng tu miếu điện để phụng thờ Ngài một cạnh trọng thể.
Phụng khai các tiết ngày sinh, ngày hóa cùng chữ húy “Vận, Cẩn, Cư sĩ” nhất thiết cấm. Cho phép trang Gia Lâm được phụng thờ.
Nhất sinh Thần ngày 11 tháng 2, theo lệ chính: lễ dùng trên mâm chay, dưới thịt lợn đen, xôi, rượu, ca hát, 3 ngày thì dừng.
Nhất hóa Thần ngày mùng 10 tháng 08, chính lệ lễ dùng trên mâm chay, dưới trâu lợn, xôi, rượu, bánh dày.
Nhất lệ khi làm lễ mừng cầu phúc ngày 10 tháng 3, lễ dùng trên mâm chay, dưới tùy nghi hành lễ, ca hát mười ngày thì dừng.
Ngày lành tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Phúc nguyên niên bậc bề tôi Đại học sĩ Đông các của Viện Hàn Lâm là Nguyễn Bính phụng soạn bản chính.
Ngày lành tháng đầu Thu Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 bậc bề tôi là quan Bộ Lại Nội các, tuân theo bản chính cũ viết.

 

Thần tích Giao Châu Đặng thái thú ở trang Triền Đổ, Hải Dương

Đình làng Lý Đỏ, xã Tân Việt, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương hiện còn lưu được một tấm bia đá khắc sự tích vị thần được thờ ở làng, là một vị họ Đặng, làm Thái thú Giao Châu dưới thời Tây Hán, có công dạy học cho nhân dân và dẹp loạn ở bảy quận Giao Châu.

IMG_5144

TÔN THẦN SỰ TÍCH BI CHÍ 尊神事迹碑誌

Hán Chiêu đế triều công thần nhất vị đại vương phổ lục (cấn chi bộ thượng đẳng) quốc triều lễ bộ chính bản.
Tích Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khải vận ưng đồ nhị thập niên dư. Hùng Vương kiến quốc thanh sơn vạn lý, sáng hùng đô cung điện chi cơ, bích thủy nhất hoằng, khải thánh đế minh vương chi đạo, độ vật tế nhân, thống thập ngũ bộ hiệu chi Bách Việt, vi triệu tổ yên.
Hựu thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa ức (niên?) phương.
Tức thuyết:
Việt tích Tây Hán thời nội địa Long Biên do thuộc ngã quốc gian, hữu Đặng Công húy Vận, kì tiên thụ phong thế thừa tư ấm, phối bản quận nhân Tạ Thị húy Cẩn, truyền gia thi lễ lũy thế trâm anh, sở vị đương môn nhi phối. Công khóa đồng pha tinh y thuật, lạc hành thiện sự hảo chẩn tế.
Công niên cận ngũ tuần, Tạ Thị tứ thập dư nữ hữu sổ nhân, nam tử thượng vãn. Hậu chí Giáp Ngọ niên bát nguyệt thập nhất nhật sinh hạ nhất nam, tướng mạo thù thường, thiên tư dĩnh dị, tam tuế tri lễ nghĩa, thường năng kính nhượng, văn học nhi tri, minh âm nhi thẩm. Thất tuế nhập học nãi mệnh danh viết Thiện Quang. Thập hữu tam tuế thông sử tử pha tri vũ nghệ. Đương thần sĩ tử đa thán phục chi cộng xưng vi “thánh đồng”.
Thập hữu bát tuế khảo tỉ giai thư lạc hĩ. Tam niên tang tất, Công tiềm tâm phần điển giáo hối sĩ dân. Văn Giao Châu giáo hóa vị minh cương trù vị tự. Công tuần tuần nhiên yên dụ chi nhi hậu dân tri lễ nghĩa dã. Nam châu hoa phong công chi Công dã. Dân giai mộ chi cộng thôi vi Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế mệnh Chu Chương vi Giao Châu thái thú. Chương văn Công giáo hóa phục nhân vi chi sớ cử Hán đế đại hỉ chi phong “liệt hầu”.
Công ký thụ mệnh hành huyện ấp, quan dân phong thích chí Hải Dương đạo (tích hiệu Hồng Châu) Thượng Hồng phủ, Đường An huyện, Triền Đổ trại, kiến dân phong phác lậu, học thuật quả văn, nãi truyền thiết lập học đường dĩ giáo văn tự. Tài nhất niên dân giai mộ chi.
Trị Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngu, Lộc Lãnh (Quế Lâm?) thất quận thương trưởng tác loạn, tao động dân sinh. Đế văn chi tư đình thần trù năng liễu? thử dĩ vi bản châu Thái thú. Sầm Bành cử Công đức vọng phục nhân tất năng an tập. Đế hứa chi mệnh vi châu thủ sử Công bình tặc.
Công tuyển đắc cường tráng bản trang nhị thập bát nhân, di hịch chư quận huyện lai phụ giả dĩ vạn sổ, khắc nhật trực đảo Cửu Chân, mệnh tướng sĩ phân truân kiên thủ bất đắc thiêu chiến. Nhân khiển văn lại di hịch luận chi hiểu dĩ tín nghĩa kì dĩ họa phúc. Tặc văn chi cảm ngộ thúc giáp lai hàng. Thất quận cáo bình. Công toại chấn lữ hoàn phủ (tức Long Biên địa).
Tự công vi Thái thú hình phạt thanh tỉnh, dân giai an nghiệp. Công hạ phục nghệ vu Triền Đổ trang hành tại hiểu nhân dĩ ân nghị. Dân giai bái tạ, thỉnh nhân thử kim vi học đường hậu vi tự sở. Công hứa chi toại dữ sĩ tốt quang tịnh hồi châu phủ sử đại trí cống vu Hán đế.
Thời Công niên thất tuần nhất nhật tọa phủ đường hốt kiến xích quang tự thân trung phi xuất đằng không tự biến tức nhật vô bệnh nhi một hĩ (thời Bính Ngọ niên nhị nguyệt sơ thập nhật).
Nhân dân gia thần sĩ tốt giai đại kinh nãi hành biểu tấu vu Hán đế, toại dĩ sự văn chi khiển sử dụ tế vu thử địa (Long Biên), sắc phong phúc thần, chuẩn hứa phủ dân lập miếu tự chi dư như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Triền Đổ đẳng xứ thường bị Công giáo hóa giả giai nghênh mĩ tự hồi dân lập miếu tự chi.
Hất chí Hán Bình Đế danh tích biểu kiến vu Hán hữu công, nãi khiển sử sắc phong nhất phong bản cảnh thành hoàng Đông biên Uy quốc Duệ trí Anh linh Thiện quang Tự công Linh phù Tôn thần, chuẩn hứa Triền Đổ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương chư từ ? gian phụng sự.
Chí Tống Thái Bình gian khiển Hầu Nhân Bảo ? tướng binh nhị thập vạn thủy lục tịnh tiến ? đạo Nam xâm. Thời Lê Đại Hành tự tướng đại phát tinh binh thập vạn cự chiến, tiến chí Thượng Hồng phủ Đường An huyện chu binh viết thủy khiển tiến chí đế dữ tướng suất nhập vu thử từ (miếu?) chí túc vu thần từ chi thần âm phù thảo tặc Hầu, bình gia phong Thượng đẳng.
Minh nhật đề binh xuất chiến Nguyên binh quả (hiệu?) kỳ tướng Nhân Bảo cập khâm ? đẳng giai tựu hí hựu
? đại tướng Biện. Phụng huân hoàn kinh sư khải hoàn, hậu hưởng tướng sĩ, nhân vị viết Nguyên tặc tảo bình diệc lại vu âm phù mặc trợ toại gia phong bách thần, nhất phong Thiện Quang Tế thế Hộ quốc Tí dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hỗ Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tỵ Thiện văn Bác tể Phổ thí Từ huệ Hậu ân Hoành mô Viễn lược Cương nghị Đốc thật Thùy hưu Quả đoạn Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng (?) Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt đại vương.
Tức thuyết: Tự thử dĩ hậu giai nhẫm trứ linh ứng cố đa hữu niên vương gia phong mĩ tự.
Đãi chí Trần Thái Tông thời Nguyên Khương lai xâm, kinh thành bị hãm. Trần Quốc Tuấn mệnh kỳ đảo bách thần các chư từ, kinh nhất vị đại vương diệc hữu hiển ứng âm phù cập bình đắc Mã Nhi tặc. Thái Tông nãi hoài phong mĩ tự Nhất vị Đại vương Linh ứng Anh triết Hiển hữu Trợ thuận.
Kỵ chí Lê Thái Tổ khởi nghiệp bình Minh Mộc Liễu Thăng, cập đắc thiên hạ. Thái Tổ nãi gia phong Nhất vị Phổ tể Cương nghị Anh linh, sắc chỉ ban Triền Đổ trại trọng tu miếu điện dĩ phụng chi y thứ hưu tai.
Hoàng triều Cảnh Hưng niên gian toại gia phong Duyên phúc Tích khánh.
Phụng khai sanh hóa các tiết dữ húy tự thiết cấm Thiện Quang, chuẩn hứa Triền Đổ trại tự chi.
Nhất sinh thời bát nguyệt thập nhất nhật chính lệ nhập biển tự sơ lục nhật lệ hữu khai đình, lễ mộc dục, lễ dụng thượng trai bàn, hạ sinh mễ tế tửu, bạch viên bính, xướng ca, chí nhất thập nhất nhật tức chỉ.
Nhất hóa thần nhị nguyệt sơ thập nhật chính lệ, lễ dụng thượng trai bàn, hạ tùy nghi hành lễ xướng ca tịnh cấm.
Hồng Phúc nguyên niên mạnh xuân cát nhật Hàn Lâm Lễ Viện Đông Các đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.
Hoàng triều Vĩnh Hữu lục niên thu nguyệt cát nhật, Nội các Lại bộ tái tuân cựu chính bản phụng.
Vi Duy Tân nhị niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật phụng tuyên.

Dịch nghĩa:
Bản phả lục một vị đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế (chi Cấn bộ thượng đẳng), Bộ Lễ quốc triều chính bản.
Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khai vận mở đồ hơn hai mươi năm. Vua Hùng lập nước núi xanh vạn dặm, xây kinh đô Hùng, dựng nền cung điện, nước biếc thăm thẳm, bắt đầu đạo đế thánh vua minh, giúp vật giúp dân, cai quản 15 bộ lấy tên là Bách Việt, là tổ tiên đầu tiên vậy.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Truyền rằng:
Xưa nước Việt ta, Long Biên còn thuộc về Tây Hán. Bấy giờ có ông họ Đặng, tên húy là Vận, tổ tiên ngày trước đã được ban tước phong, đời nay kế thừa gia tài phúc ấm. Ông lấy vợ người bản quận, họ Tạ, tên húy là Cẩn, con nhà thi lễ, dòng dõi trâm anh, hai người rất xứng đôi. Thủa nhỏ ông rất tinh thông y thuật, thích làm điều thiện, vốn tính hay ban chẩn, giúp đỡ người nghèo.
Năm ông gần 50 tuổi, Tạ Thị đã ngoài 40, sinh được mấy người con gái mà chưa có con trai, về sau, vào ngày 11 tháng 8 năm Giáp Ngọ, bà sinh được một cậu con trai, tướng mạo khác thường, thiên tư kỳ lạ. Năm lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, thường hay kính nhường, theo học mà hiểu, nghe nhạc biết thẩm thấu. Lên 7 tuổi cho đi học, liền đặt tên là Thiện Quang. Năm 13 tuổi, tinh thông kinh sử, rất giỏi võ nghệ, sĩ tử đương thời ai lấy đều thán phục và khen là “Thánh đồng” (Thánh trẻ con).
Năm 18 tuổi chẳng may cha mẹ
qua đời. Ba năm phục tang xong, trong lòng ông thẩm nghĩ phải lấy điển lễ lớn để dặn dạy sĩ dân. Bấy giờ dân Giao Châu học hành chưa thấu, tam cương, cửu trù chưa biết thứ bậc, ông liền thuận theo khuyên bảo những điều tốt lành. Nhờ đó mà dân biết được lễ nghĩa. Phong cách tốt đẹp của Nam Châu có được cũng có công của ông. Cảm phục sĩ dân mến mộ và cùng tôn ông làm Châu trưởng.
Lúc này, Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu. Chu Chương nghe danh tiếng ông giáo hóa quy phục được dân chúng bèn dâng sớ tiến cử lên vua. Vua rất vui mừng, liền phong ông chức “Liệt Hầu”. Ông nhận mệnh đi xuống huyện ấp xem xét cuộc sống dân tình và phong cảnh nơi đây. Đến trại Triền Đổ, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, đạo Hài Dương (xưa gọi là Hồng Châu), thấy phong tục tập quán nơi đây còn lạc hậu, kỹ nghệ còn sơ sài, ông liền truyền cho nhân dân thiết lập một học đường để dạy học cho nhân dân. Mới được một năm, nhân dân đều ngưỡng mộ kính phục.
Gặp lúc tù trưởng của 7 quận: Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lĩnh, (Quế Lâm?) làm loạn, quấy nhiễu dân sinh. Vua nghe tin liền nói đình thần nào có thể dẹp yên sẽ cho làm bản châu Thái thú. Sầm Bành tiến cử ông có đức vọng, quy phục được lòng người, tất sẽ dẹp được. Vua bằng lòng lệnh ông cho cầm đầu châu đi dẹp loạn.
Ông tuyển chọn trai tráng của bản trang được 28 người, lại truyền hịch đi các quận huyện đến giúp thêm được vài vạn người. Ngay hôm đó tiến thẳng đến Cửu Chân, lệnh cho các tướng sĩ phân ra các đồn để giữ vững, không được khiêu chiến. Nhân đó, sai quan văn truyền hịch, khuyên cho họ hiểu tín nghĩa, bảo họ thấy rõ điều họa phúc. Giặc nghe thấy tỉnh ngộ bỏ binh khí, mũ giáp ra hàng, 7 quận giặc loạn đã được dẹp yên. Ông cho rút quân về phủ (tức đất Long Biên).
Từ khi ông làm Thái Thú, hình phạt được giảm nhẹ, dân chúng đều được yên ổn làm ăn. Ông lại thong thả đến học đường ờ trang Triền Đổ, dạy cho dân hiểu về ân nghĩa và tình đoàn kết. Nhân dân thấy đó mà cảm phục bèn thưa với ông “nơi đây ngày nay là học đường, ngày sau làm nơi phụng thờ”. Ông bằng lòng, rồi cùng sĩ tốt về châu phủ, sai người thay tiến cử lên Hán Đế.
Năm đó ông vừa tròn 70 tuổi. Một hôm, ông đang ngồi tại phủ đường, bỗng một ánh sáng đỏ bay lên không trung rồi biến mất. Hôm đó là ngày 10 tháng 02 năm Bính Ngọ. Nhân dân, gia thần, sĩ tốt đều rất hoảng sợ, bèn làm biểu tâu lên Hán Đế. Đế liền sai sứ về dụ tế tại nơi đất này (Long Biên) và ban sắc phong phúc thần. Cho phép dân trong phù lập miếu phụng thờ. Còn các nơi như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Triền Đổ là những nơi do ông giáo hóa đều đón mỹ tự về phụng thờ.
Đến thời Hán Bình, vua biết được danh tiếng cúa ông có công lao với nhà Hán, liền sai sứ mang sẳc đến phong tặng cho ngài là: “Bản cảnh Thành hoàng Đông biên Uy quốc Duệ trí Anh linh Thiện quang Tự công Linh phù tôn Thần”. Cho phép Triền Đổ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương các nơi cùng thờ phụng.
Đến đời nhà Tống, niên hiệu Thái Bình, vua Tống sai bọn Hầu Nhân Bảo mang 20 vạn quân thủy bộ sang xâm chiếm nước ta. Vua Lê Đại Hành tự mình mang 10 vạn quân tinh nhuệ đến cự chiến với giặc. Quân ta tiến đến huyện Đường An, phủ Thượng Hồng thì gặp quân Tống theo đường thủy kéo vào. Vua cùng tướng soái bèn cho quân vào đền Thần ở bên sông trú binh. Đêm cầu khấn Thần âm phù giúp đánh giặc, sau khi dẹp yên quân giặc sẽ tấn phong “Thượng đẳng”. Sáng hôm sau đề binh xuất chiến, quân giặc Nguyên quả nhiên bị thất bại nặng nề. Tướng Hầu Nhân Bảo cùng các tướng và quân giặc đều bị giết, bắt sống được đại tướng Biện. Quân ta chiến thắng trở về.
Sau đó, Vua khao thưởng tướng sĩ, nhân đó nói rằng: “Quân giặc Nguyên sớm dẹp được yên là nhờ có Thần âm phù trợ giúp”, gia phong cho thần là: Thiện Quang Tế thế Hộ quốc Tí dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hỗ Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tỵ Thiện văn Bác tế Phổ thí Từ huệ Hậu ân Hoành mô Viễn lược Cương nghị Đốc thật Thùy hưu Quả đoán Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng (?) Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt đại vương.
Truyền rằng: Từ đó về sau, đều linh thiêng hiển ứng, cho nên được nhiều các bậc đế vương phong thêm mỹ tự.
Đến thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên Khương xâm lấn nước ta, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần ờ các đền, Đại vương cũng linh thiêng ứng hợp âm phù, dẹp tan được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong mỹ tự: “Nhất vị Đại vương Linh ứng Anh triết Hiển hựu Trợ thuận”.
Đến đời Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh, chém tướng Mộc Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ liền phong thêm: “Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh”. Sắc chỉ ban cho trại Triền Đổ trùng tu miếu điện để phụng thờ Ngài.
Hoàng triều Cảnh Hưng (1740 – 1786), được phong thêm “Diên phúc tích khánh”.
Phụng khai các tiết ngày sinh, ngày hóa cùng chữ húy “Thiện Quang” nhất thiết cấm. Cho phép trại Triển Đổ được phụng thờ.
Nhất sinh Thần ngày 11 tháng 8, theo lệ chính: Từ ngày mùng 6 mở cửa đình, lễ mộc dục (tắm gội); lễ dùng trên mâm chay, dưới thịt, xôi, rượu, bánh dầy, ca hát, đến ngày 11 thì dừng.
Nhất hóa Thần ngày mùng 10 tháng 02, chính lệ lễ dùng trên mâm chay, dưới tùy nghi hành lễ, cấm ca hát.
Ngày lành tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Phúc nguyên niên bậc bề tôi là Đại học sĩ Đông các của Viện Hàn Lâm – Nguyễn Bính phụng soạn bản chính. Ngày lành tháng đầu Thu – Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 bậc bề tôi là quan Bộ Lại Nội các, tái tuân theo bản chính cũ phụng viết.
Ngày 24 tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 cung kính phụng khắc bia./.

Nho văn:
漢昭帝朝功神一位大王譜籙(艮支部上等)国朝礼部正本
昔雄王山原聖祖啟運膺圖二十年餘雄王建国青山萬里創雄都宫殿之基碧水一泓啟聖帝明王之道以度物濟人統十五部號之百越為肈祖焉
又詩云
初開南越自涇陽
一統山河十八王
十八世傳千古在
億年香火億(年)芳
却説
粤昔西漢辰內地竜編猶属我国間有鄧公諱運其先受封世承姿蔭配本郡人謝氏諱謹傳家詩礼累世簪纓所謂當門而配公課童頗精醫術樂行善事好賑济
公年近五旬謝氏四十餘女有数人男子尚晚後至甲午年八月十一日生下一男相貌殊常天資穎異三歲知禮義常能敬讓聞學而知明音而審七歲入學乃命名曰善光十有三歲通史子頗知武藝當辰士子多嘆服之共稱為聖童十有八歲考妣皆狙落矣三年喪畢公潛心墳典教誨士民聞交州教化未明綱疇未叙公循循然焉誘之而後民知禮義也南州華風公之功也
民皆暮之共推為州長辰漢昭帝命周章為交州太守章聞公教化服人為之疏舉漢帝大喜之封列侯
公既受命行縣邑觀民風適至海陽道(昔号洪州)上洪府唐安縣繵堵寨見民風樸陋學術寡聞乃傳設立學堂以教文字纔一年民皆慕之
值珠儋耳蒼梧廣信番禺麓冷(?)七郡商長作乱騷動民生帝聞之咨廷臣疇能(了?)此以為本州太守岑彭舉公德望服人必能安集帝許之命為州守使公平賊
公選得强壯本庄二十八人移檄諸郡縣來附者以萬数刻日直擣九真命將士分屯坚守不得挑戰因遣文吏移檄論之曉以信義示以祸福賊聞之感悟束甲來降七郡告平公遂振旅還府(即龍編地)
自公為太守刑罰清省民皆安業公暇復詣於纏堵庄
行在曉人以恩誼民皆拜謝請因此今為學堂後為祀所公許之遂與士卒光並回州府使代致貢于漢帝
辰公年七旬一日坐府堂忽見赤光自身中飛出騰空自変即日無病而没矣辰(丙午年二月初十日)
人民家臣士卒皆大驚乃行表奏于漢帝遂以事聞之遣使諭祭于此地(竜編)敕封福神準許府民立廟祀之餘如九真南海日南海陽纏堵等處常被公教化者皆迎美字囬民立庙祀之
迄至漢平帝名績表見於漢有功乃遣使敕封一封本境城隍東邊威国睿智英灵善光字公灵扶尊神準許瀍堵九真南海日南海陽諸祠?間奉事
至宋太平間遣侯仁宝?将兵二十萬水陸並進?道南侵辰黎大行自将大發精兵十萬拒戰進至上洪府唐安縣週兵曰水遣進至帝與将帥入于此祠(庙?)至宿于神祠祗神陰扶討賊侯平加封上等明日提兵出戰元兵果(𪵊?)其将仁宝及欽?等皆就戲又𫉬大将卞奉勲還京師凱還後享将士因謂曰元賊早平亦賴於陰扶黙助遂加封百神一封善光濟世護国庇民扶運揚武翊聖保境顯祜厚德至仁孚感顯應肇謀佐𨐓善文博济普施慈惠厚恩宏謨遠畧剛毅篤寔垂休果断雄毅福衍聰明睿知雄勇厥英威灵感妙通雄傑大王
却説自此以後皆稔著灵應故多有年王加封美字
迨至陳太宗辰元羌來侵京城被陷陳国俊命祈禱百神各諸祠經一位大王亦有顯應陰扶及平得馬兒賊太
宗乃褱封美字一位大王灵應英蜇顯佑助順曁至黎太祖起業平明木柳昇及得天下太祖乃加封一位普济剛毅英灵勅旨頒瀍堵寨重修庙殿以奉之猗次休哉
皇朝景興年間遂加風延福錫慶
奉開生化各节與諱字切禁善光準許纏堵寨祀之
一生辰八月十一日正例入扁自初六日例有開庭礼沐浴礼用上齊盘下牲粢酒白圓餅唱歌至一十一日即止
一化神二月初十日正例礼用上齊盘下随宜行礼唱歌並禁
鴻福元年孟春吉日韩林礼院東阁大學士臣阮炳奉撰正本
皇朝永佑六年秋月吉日內阁吏部再遵舊正本奉
為維新二年六月二十四日奉鐫

Long Đỗ là ở chỗ nào?

Nói tới Thăng Long Hà Nội ai cũng biết chuyện thần Long Đỗ hiển linh trước Cao Biền và được lập làm thành hoàng của thành Thăng Long. Long Đỗ là “rốn rồng”, tức là huyệt mạch chính của “kinh đô rồng”. Vậy cái “rốn rồng” ấy nằm ở đâu?
Nhiều người nghĩ rằng thần Long Đỗ hiển linh ở sông Tô Lịch thì cái long mạch của đất Thăng Long phải nằm ở đâu đó quãng đầu sông Tô Lịch và sông Hồng, có thể là hồ Tây. Thậm chí có học giả cho rằng Long Đỗ là ở núi Nùng. Nhưng thực tế ở cả ở hồ Tây hay núi Nùng đều không có di tích nào nói về Rồng hay Long Đỗ cả.
Nếu nói tới “kinh đô Rồng” thì Long Đỗ phải là nơi có Rồng xuất hiện, tức là có Rồng bay lên. Ở Hà Nội nơi có Rồng bay lên phải là… Long Biên. Ngay cái tên cũng đã cho biết đây mới là chỗ có Rồng xuất hiện.
Rồng bay lên từ nước, điều này quá rõ. Rồng làm sao mà lại ẩn ở trên núi (như núi Nùng) được. Mặt nước của vùng Long Biên thì rõ là sông Hồng. Xét các làng dọc khúc dòng sông Hồng ở vùng Long Biên (Gia Lâm) ta thấy ở đây còn đậm đặc các di tích và sự tích về sự xuất hiện của Rồng.
Xa nhất là đình làng Xuân Quan, còn gọi là điện Long Hưng, nơi thờ Triệu Vũ Đế, ở Văn Giang, Hưng Yên. Sự tích ở đây ghi:
Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy… Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ.

Long Hung dien
Long Hưng điện (đình Xuân Quan).

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà:

Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Tên gọi Thăng Long đầu tiên là dành cho khu vực Long Biên từ thời Triệu Vũ Đế, tức là còn trước thời Lý hơn ngàn năm.
Thăng Long hay Long Hưng là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, Rồng bay lên trời. Hào ngũ quẻ Càn chỉ điềm thành nghiệp của bậc đế vương.
Bên cạnh Xuân Quan, ngoài bãi ven sông là làng Kim Lan (thuộc Gia Lâm, Hà Nội nay), nơi thờ Cao Vương Biền. Đây cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Hàm Rồng với những hiện vật từ thời Đường. Thiên Nam ngữ lục cho biết, Hàm Rồng là nơi được “Phong thủy vương” Cao Biền chọn làm nơi táng mả:

Dân làm cự cứu bảo nhau
Tôn Biền làm chủ giữ âu Long thành
Đến Kim Lan cơ đầu ghềnh
Lục nơi cải tử hoàn sinh chẳng cùng
Mạch tòng Tản Lĩnh giáng long
Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu
Biền già ở cõi Nam Châu
Người nhà bèn táng ở đầu Kim Lan.

Bên cạnh chỗ rồng bay lên (Long Hưng) ở Xuân Quan là miệng rồng (Hàm Rồng) ở Kim Lan. Rõ ràng đây là một huyệt mạch quan trọng, nơi Cao Biền đã lựa chọn. Chú ý theo Thiên Nam ngữ lục thì đây là chỗ “Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu”. Ý nghĩa của “ba sông” sẽ còn gặp ở dưới đây.
Dọc sông tiếp theo gần hơn về phía Bắc là làng Bát Tràng. Đình làng Bát Tràng thờ các thành hoàng là Lưu thiên tử, Lữ hoàng hậu, Bạch Mã tôn thần, cùng 3 vị khác. Thần Bạch Mã cũng là thần Long Đỗ, liên quan tới Rồng thì đã rõ. Còn Lưu Thiên Tử hay Lưu Bang thì chả phải ai khác chính là Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan. Lữ Hoàng Hậu là Lữ Hậu, vợ và người đã cùng khởi nghĩa với Lưu Bang từ thủa hàn vi.

Hoi Bat TrangHội đình làng Bát Tràng.

Phía trên làng Bát Tràng về phía Bắc là làng Đông Dư. Nơi đây có chùa Nội Long nằm bên bờ sông Hồng ở Đông Dư Thượng. Nội Long tự nghĩa là “chùa trong mắt rồng”. Vậy đây cũng là đất thiêng nơi, con Rồng Long Biên lộ đầu.
Làng Đông Dư thờ các thần Cao Sơn và Linh Lang đại vương. Cao Sơn là Cao Vương Biền (như thờ ở Kim Lan). Cách Đông Dư không xa là đền Trấn Vũ ở làng Ngọc Trì, Gia Lâm, nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Vậy là ở khu vực này đã hội tụ đủ 4 vị thần của Thăng Long Tứ trấn: Huyền Thiên, Cao Sơn, Bạch Mã và Linh Lang.
Ấn tượng hơn nữa cũng ở khúc sông này, phía bên bờ Tây của sông Hồng là vùng đất Lĩnh Nam của quận Hoàng Mai (trước là huyện Thanh Trì). Các làng ở Lĩnh Nam đều có sự tích gắn với Rồng.
Làng Thúy Lĩnh ở ven sông Hồng, đối diện với Kim Lan qua sông, thờ Linh Lang đại vương, tương tự như bên làng Đông Dư. Sự tích Linh Lang cũng là Rồng, vì khi sinh ra đã liên quan đến Rồng (bà mẹ đi tắm ở hồ Tây thì gặp giao long), rồi sau khi thần dẹp yên quân giặc đã hóa thành con rắn lớn (tức là Rồng) bơi xuống hồ Tây.
Câu đối ở đình Thúy Lĩnh:
氣鎮龍都歷代褒崇隆祀典
霛扶鴻越弌方康阜仰神庥
Khí trấn Long Đô lịch đại bao sùng long tự điển
Linh phù Hồng Việt nhất phương khang phụ ngưỡng thần hưu.
Dịch:
Khí trấn Đô Rồng, các đời ca tôn điển tế hậu
Thiêng phò Hồng Việt, một phương đông đúc ngưỡng điềm thần.

Thuy Linh
Chính điện đình Thúy Lĩnh.

Một làng khác của vùng Lĩnh Nam là làng Nam Dư Hạ khá đặc biệt. Đình làng này thờ luôn Rồng, được gọi dưới tên Tam đầu Cửu vĩ Long vương. Tam đầu Cửu vĩ cũng là một vị thần quen biết trong đạo Mẫu Tứ phủ, đại diện cho Thủy thần Hà bá.
Theo thần tích còn lưu lại, có vị sư tổ Từ Phong thường du ngoạn ở ven kinh thành Thăng Long, có lần đi qua đất Nam Dư thấy cảnh sắc đậm đà, bến thuyền xuôi ngược quyến rũ lòng người, ngài bỗng thấy có một con rồng từ đất bay lên nhào lượn trên không trung rồi biến vào vòm trời xanh. Đức tổ cho đây là chốn tiềm long (nơi rồng ẩn) nên quyết định xây phủ đệ ở lại Nam Dư, đồng thời, ngôi chùa lấy tên là Thiên Phúc, mở một con đường rất thẳng từ cung điện nhà vua tới chùa và xây ngôi đình làng cho dân thờ Long Vương thần.
Câu đối ở đình Nam Dư Hạ:
勝景南天黎帝殿
威風畬地水王宫
Thắng cảnh Nam thiên Lê đế điện
Uy phong Dư địa thủy vương cung.
Thậm chí trong đình còn có bức biển (hoành phi) đề: Long Đỗ Nam Dư 龍肚南畬.
Vậy Long Đỗ là ở đây chứ đâu nữa.
Chữ Dư 畬 trong tiếng Nho nghĩa là ruộng tốt. Liên hệ với quẻ Càn, hào nhị: Hiện long tại điền, gặp Rồng tại ruộng. Như thế khu vực Đông Dư – Nam Dư ý chỉ là nơi Rồng bắt đầu xuất hiện.

IMG_3880
Hoành phi “Long Đỗ Nam Dư” ở đình Nam Dư Hạ.

Đình Nam Dư Hạ còn có đình còn 3 cổ hiệu bát cống nguyên vẹn, sơn son thếp vàng, chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì, trau chuốt đầu rồng, thân rồng, đuôi rồng, tương truyền được các thợ của Long cung một đêm đã tạo ra.
Đình Nam Dư Thượng thờ các vị thành hoàng là Minh Hoa An Quốc đại vương cùng phu nhân Hoàng Phi Trân và Đương Thống đại vương cùng phu nhân Nguyệt Thái. Tương truyền, Minh Hoa An Quốc Đại vương là con vua Hùng Vương thứ 17, có công trong việc trị quốc an dân. Đương Thống đại vương còn gọi là Thống Công, em Sơn Thánh, sống dưới triều Hùng Duệ Vương. Sơn Thánh lấy công chúa Mị Nương còn Thống Công lấy công chúa Nguyệt Thái.

Kieu Nam Du Thuong
Kiệu rồng ở Nam Dư Thượng.

Câu đối ở chính điện đình Nam Dư Thượng:
南上屹灵祠鴻貉遺徧傳五嶺
西茶餘勝地清潭舊跡儼三江
Nam Thượng ngật linh từ, Hồng Lạc di biên truyền Ngũ Lĩnh 
Tây Trà dư thắng địa, Thanh Đàm cựu tích nghiễm Tam Giang.
Dịch:
Nam Thượng cao đền thiêng, Hồng Lạc để lan truyền Ngũ Lĩnh
Tây Trà tốt lành đất, Thanh Đàm vết cũ oai Tam Giang.

Câu đối nói tới những địa danh khá lạ. Tây Trà là tên gọi cũ của Nam Dư. Còn Ngũ Lĩnh thời Hùng Vương liệu có phải đây là gốc của tên Lĩnh Nam (Ngũ Lĩnh – Nam Dư?) cho khu vực này? Tên gọi Ngũ Lĩnh cùng với sự tích các vị thần thời Hùng Vương cho thấy khu vực này là một trọng điểm cư dân của thời kỳ này.
Câu đối nhắc tới tên Tam Giang, chỉ một vùng đất ở quanh Long Biên. Tam là số 3, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Phương Đông cũng có tượng là Rồng nên Tam tương ứng với Long. Tam Giang do đó tương đương với Long Xuyên hay Long Biên. Thiên Nam ngữ lục như trên đã nói khu vực này là: Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu, cũng là ý này.
Hội làng Nam Dư Hạ và Nam Dư Thượng đều có làng Bát Tràng và Đông Dư bên kia sông sang giao lưu, cúng tế. Trong lễ hội rước nước chung của 3 làng này thì khi ra sông lấy nước cũng đều có bái vọng đình Bát Tràng. Tục kết chạ giữa Nam Dư và Bát Tràng là một tục xưa còn lưu giữ được.

Ban do
Bản đồ các khu vực ven bờ sông Hồng ở đoạn Lĩnh Nam – Gia Lâm.

Huyện Thanh Trì vốn có tên là Long Đàm, tức là đầm Rồng, tương truyền là đầm nước có Rồng ở. Sau này Long Đàm mới đổi thành Thanh Đàm, rồi Thanh Trì. Trong câu đối nói tới Thanh Đàm là địa danh này.
Tên Tam Giang còn ẩn ý trong tên Tam đầu Cửu vĩ Long vương. Tam là hướng Đông, Cửu là hướng Tây trong Hà thư. Tam đầu Cửu vĩ Long vương nghĩa là con Rồng đầu ở phía Đông, đuôi ở phía Tây. Xét ở khúc sông này thì đúng vậy. Đầu Rồng ở bờ Đông nơi có Hàm Rồng (tại Kim Lan), mắt Rồng (ở Đông Dư) và nơi rồng bay lên (ở Xuân Quan). Còn đuôi Rồng ẩn trong Long Đàm (Thanh Trì) ở phía bên bờ Tây.
Long Đàm chính là Long Đỗ, cái rốn của kinh đô Rồng xưa, mà dấu vết vẫn còn lưu lại trong các sự tích và địa danh ở đây.

Sự tích Đế Thích, dấu vết sớm của Hindu giáo ở miền Bắc Việt

IMG_4912
Thiên Đế điện ở Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Ở thôn Cầu Váu, xã Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên có một ngôi đền cổ khá đặc biệt, nơi thờ Đế Thích, gọi là Thiên Đế Điện. Theo một bản thần tích chép lưu tại đền thì sự tích vị Thiên Đế này như sau:

Đế Thích có tên là Đại Phạm Thiên vương Thiên chủ Đế Thích Đế Hoàn Nhân Thánh đế, thống trị sáu cõi dục. Ngọc Hoàng là Hạo Chí tôn Huyền khung Cao Thượng Đế. Trong năm tháng Giêng ngày mồng 9 là ngày lễ mừng của các Chư Thiên Thượng Đế (xem Đạo tàng diên quang tập).
Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế. Thời Đế Thích năm 11 có Tây phương Đại Càn Bà Vương dâng một người con gái cho Thượng Đế làm Ngọc Chi phu nhân. Bà Vương khi về phương Tây tâu lên xin cho tìm gặp Đế Thích. Thượng Đế đồng ý, ra ý cho đặt ra một cái vạc dầu, để khi Đế Thích đến, sẽ mời vào vườn hoa thưởng ngoạn, dẫn tới chỗ vạc dầu sôi mà ném vào.
Bỗng có một người áo trắng (tức là Phật) bảo Đế rằng là có mưu hại Đế. Ta sẽ cho một chiếc quạt. Đế nên đi từ Bắc về Nam, nếu bị đuổi kịp thì dùng quạt này mà quạt.
Bà Vương thấy vạc dầu đã sôi thì chạy vào vườn hoa tìm Đế. Lúc đó người áo trắng hóa thành Đế. Bà Vương liền túm và ném vào vạc dầu, nhưng bỗng trong vạc hết sạch dầu. Bà Vương kinh sợ hỏi: Thần hay Phật vậy. Rồi Bà Vương quay ra tìm Đế.
Đế dùng quạt quạt, tức thì thành ba núi năm non. Bà Vương lè lưỡi nuốt chửng, núi non tiêu sạch. Đế chạy đến nước Nam Việt, ở Cổ Lộng Lâm (nay là tỉnh Kinh Bắc, phủ Thuận Thành, huyện Văn Giang, Vĩnh Bảo xã, địa phận thôn Ốc Nhiêu) thấy tình thế bức bách liền chạy vào trốn trong đàn trâu cùng lũ trẻ chăn trâu. Bà Vương chạy lách qua đó đi thẳng về phía Nam.
Đế đi ra rồi vào một quán. Người trong quán dâng cho Đế xôi rau. Lại thấy sau quán có 12 người con gái không có mắt ôm 8-9 đứa trẻ nhỏ. Đế hỏi vì sao lại ra như vậy. Họ đáp chúng tôi là tiên nương 36 động Bồng Thái đang lên chầu Trời thì bị Bà Vương móc mất mắt như thế này.
Đế về tâu sự việc đó lên Thượng Đế. Thượng Đế trao cho Đế lục thần ngũ trí để diệt Càn Bà Vương, đốt Cổ Lộng Lâm trừ hổ lang, chấm hóa lại mắt cho 12 tiên nàng, sau đó dẫn họ quay về Trời.
Từ đó, Đế thường đi tiêu du ba ngàn thế giới, linh thiêng hiển rõ. Dân Vĩnh Bảo lập sửa cung đền phụng sự, gặp khi trời hạn cầu phúc được ứng báo như ý vậy (xem Bảo Kính Đăng Tâm thượng tập cũng có chép việc này).
Tích thiêng Thiên Đế xưa có văn bia, tới nay mưa vùi gió rập, chuyện cũ khó truy. Tương truyền xã Vĩnh Bảo, xã Triền Quán có một ngôi nhà cỏ, có bà lão bán nước chè ở đó. Bỗng thấy một đại trượng phu từ trên không hạ xuống, dung mạo đường đường khác thường, đi vào quán và hỏi: Bà có thấy một thiếu phụ kiều diễm mặc áo trắng đi qua đây không? Chưa kịp đáp thì ngay lúc đó Bà Vương xông đến. Đế phất áo, mở chiếc quạt thần ra quạt hóa thành ngọn lửa lớn ,đốt diệt Bà Vương. Trong chốc lát 15 loại quỷ cùng kéo tới. Đế dùng cung thiêng bắn chúng, một lúc diệt hết lũ quỷ. Đế cưỡi trên một chiếc xe bò đi tới bờ Tây Nghĩa Trụ. Nhân dân ở trong xã đều bái yết.
Đế nói: Ta là Đế Thích của cõi trời 33, xuống cứu giúp nhân dân, diệt Bà Vương và 15 loại quỷ hại dân. Dứt lời, bay lên không mà về. Bản xã lập đền miếu tại đó để thờ, cung phụng đồ tế lễ, gặp khi hạn hán thì nghênh thánh giá về Triền Quán để cầu đảo, thường được ứng mưa. Nhân dân bốn biển cầu là ứng vậy.
Thiên Đế ở trên cõi trời 33 mỗi năm tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín dùng kính báu chiếu về Nam Hải các châu động xem nhân gian thiện ác. Những người thường xuyên tụng kinh, làm việc thiện tất được sự che chở của huyền giới (xem Bắc triều đại lịch).

IMG_5017Bản thần tích lưu ở đền Cầu Váu.

Tục thờ Đế Thích Thiên cho thấy rõ Hindu giáo đã xuất hiện ở miền Bắc Việt từ rất sớm. Thậm chí thần tích ghi từ thời… ông Bàn Cổ năm thứ 48. Vị thần ngự trị trên 33 tầng trời là thần Indra trong Ấn Độ giáo. Kinh đô của cõi trời này theo là Thiện Kiến thành, trong thần tích gọi là Thiện Tiên. Đây cũng chính là đỉnh núi Tu Di, ngọn núi thần thánh trong Phật giáo.
Câu đối trong đền Cầu Váu:
恩霑法雨三千界
喜倍天僊十二娥
Ân triêm pháp vũ tam thiên giới
Hỉ bội thiên tiên thập nhị nàng.
Dịch:
Ơn thấm mưa phép ba ngàn giới
Mừng thêm tiên trời mười hai nàng.
Cũng chính thần Indra (Đế Thích) là vị thần chống lại vua quỷ La Sát và các giống quỷ Dạ Xoa. Trong thần tích trên gọi là quỷ vương Càn Sát Bà và 15 loại quỷ.
Câu đối trong đền Cầu Váu:
帝座至尊御三十三天統三千世界
天神妙化除十五鬼類救十二僊娥
Đế tọa chí tôn, ngự tam thập tam thiên, thống tam thiên thế giới
Thiên thần diệu hóa, trừ thập ngũ quỷ loại, cứu thập nhị tiên nga.
Dịch:
Đế ở ngôi cao, ngự trời ba mươi ba, trị ba ngàn thế giới
Thần trời phép nhiệm, diệt quỷ mười lăm loại, cứu mười hai nàng tiên.
Chi tiết khác rất đặc biệt, điển hình của Hindu giáo là việc Thiên Đế cưỡi bò. Vị thần cưỡi bò là vị thần hủy diệt Shiva với con bò thần Nandin. Thần Shiva trong tranh của Ấn Độ có nơi thể hiện là dùng Cung và Lửa để hủy diệt. Còn Đế Thích ở Văn Giang cũng dùng Cung và Quạt ra lửa để diệt quỷ.
Ở Thiên Đế điện tại Cầu Váu trong khám thờ cấm cung là tượng một vị Thiên Đế đang cưỡi một con bò màu mận chính. Sự tích Thiên Đế cưỡi bò đi dọc sông cho thấy đây là hình ảnh của thần Shiva.

IMG_4960
Thiên Đế cưỡi Bò thần trong khám thờ đền Cầu Váu.

Câu đối trong đền Cầu Váu nói tới sự tích cưỡi bò:
光芒赤電疑弓影
靉靆黃雲想犢車
Quang mang xích điện nghi cung ảnh
Ái đãi hoàng vân tưởng độc xa.
Dịch:
Sáng lòa chớp đỏ ngờ cung bóng
Mù mịt mây vàng ngỡ xe trâu.
Hay câu khác:
弓掛何年秋電赤
犢歸甚𩂜暮雲黄
Cung quải hà niên thu điện xích
Độc quy thậm xứ mộ vân hoàng.
Dịch:
Cung khoác năm nào sầu chớp đỏ
Trâu về xứ ấy tối mây vàng.

IMG_4985
Tượng chim thần ở nội điện đền Cầu Váu.

Điều đáng chú ý là con sông này mang tên Ngưu Giang, thường được gắn với truyền thuyết con Trâu vàng (Kim ngưu). Nhưng với ngôi đền Thiên Đế ở Cầu Váu và sự tích thần cưỡi bò thì Kim Ngưu hay Hoàng Ngưu phải là con Bò. Cái tên Kim ngưu như vậy bắt nguồn từ ảnh hưởng của tín ngưỡng Hindu giáo ở khu vực này.
Câu đối nói tới Kim Ngưu:
億年顯跡金牛上
萬古靈祠義冑西
Ức niên hiển tích Kim Ngưu Thượng.
Vạn cổ linh từ Nghĩa Trụ Tây.
Dịch:
Nghìn năm rõ tích Kim Ngưu Thượng
Vạn thế đền thiêng Nghĩa Trụ Tây.
Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp cũng có câu đối nói tới con sông Bò (Ngưu giang) này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

Đôi câu đối ở chùa Đậu.

Một điểm nữa là Thiên Đế điện cũng là nơi để cầu đảo khi gặp hạn hán. Bởi vì thần Indra – Đế Thích là thần Giông tố, có phép làm mưa.
Câu đối nói tới việc cầu đảo, cầu mưa, cầu phúc ở đền Thiên Đế Cầu Váu:
仙升佛降今如見
國擣民祈古以來
Tiên thăng Phật giáng kim như kiến
Quốc đảo dân kỳ cổ dĩ lai.
Dịch:
Tiên lên Phật xuống nay như thấy
Nước cúng dân cầu xưa tới giờ.
Bản thân tên thôn Cầu Váu hay bằng chữ Nho là Cầu Bảo 求保, nghĩa là cầu sự bảo trợ của thần.
Câu đối khác ở Cầu Váu nói tới sự bình an ở đây nhờ có Thiên Đế:
曲奏霓裳天上月
人皆絃管陸中仙
Khúc tấu nghê thường Thiên thượng Nguyệt
Nhân giai huyền quản Lục trung Tiên.
Dịch:
Nghê thường tấu khúc Trăng trên Trời
Đàn hát cùng người Tiên tại đất.
Thiên Đế làm mưa còn gặp trong tục thờ Tứ pháp, với di tích chùa Đậu ở Thường Tín, nơi Sĩ Nhiếp đã cho dựng Kính Thiên Điện (nơi thờ Thiên Đế?). Tại chùa Đậu còn có chùa Vua (Thiên Đế) và hiện tìm thấy một bức tượng lạ hình một vị thần có 6 tay. Rất có thể đây chính là bức tượng Thiên Đế – thần Shiva của Hindu giáo.
Hình tượng con Bò thần cũng gặp trong sự tích của Tứ pháp và Sỹ Nhiếp, là 2 con “cừu” đá, 1 con ở chùa Dâu nơi thờ Pháp Vũ cùng Thạch Quang Phật, 1 ở lăng mộ Sỹ Nhiếp. Bản thân Thạch Quang Phật vốn là một tảng đá có hình Linga, mà Linga là biểu tượng của thần Shiva. Chùa Dâu không gì khác vốn là một điện thờ Thiên Đế, bên trong thờ Linga, ngoài thờ Tứ pháp là Tứ đại thiên vương của Hindu giáo, ngoài sân có chú bò thần Nadin ngồi chầu ở chân tháp Hòa Phong.

IMG_4569
Con Bò ở lăng Sỹ Nhiếp tại Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Trong thần tích thì Đế Thích được Thượng Đế ban cho lục thần ngũ trí nên là người rất thông tuệ. Truyền thuyết dân gian kể thành chuyện Đế Thích là một kỳ thủ tài giỏi, đã từng so tài cùng Trương Ba và hồi mạng cho họ Trương khi mất. Đền thờ Trương Ba và Đế Thích nay ở xã Liêu Hạ, Yên Mỹ, Hưng Yên. Câu chuyện Hồn Trương Ba này cũng mang đậm màu sắc của Hindu giáo.
Các câu đối ở đền Cầu Váu thường gắn liền chuyện Đế Thích diệt quỷ Càn Sát và đánh cờ cùng Trương Ba:
滅鬼一弓方顯聖
出人半局始知天
Diệt quỷ nhất cung phương hiển thánh
Xuất nhân bán cục thủy tri thiên.
Dịch:
Trừ quỷ một cung nơi hiển thánh
Giáng nhân nửa cuộc mới biết trời.
Hay như câu:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.
Khả năng cải tử hoàn sinh là một quyền năng rất lớn, chỉ có những bậc Thiên thần đặc biệt mới làm được. Ở đền Cầu Váu ngoài cửa nghi môn có 2 bức tượng lớn, được gọi là tượng Nam Tào Bắc Đẩu. Tức là những vị nắm sổ sinh tử của chúng sinh.

Tượng Nam Tào, Bắc Đẩu đền Cầu Váu.

Câu đối ở đền:
世無乾𩴳弓常静
人盡張公命可囬
Thế vô Càn Sát cung thường tĩnh
Nhân tận Trương Công mệnh khả hồi.
Dịch:
Đời không Càn Sát cung thường tĩnh
Người đến Trương Công mệnh còn hồi.
Như thế, Hindu giáo đã vào miền Bắc Việt từ rất sớm. Sau này những đền thờ Hindu bị chuyển thành “chùa”, tưởng rằng là thờ Phật. Bản thân các vị thần Hindu cũng được gọi là các chư Phật. Hindu giáo hay Bà La Môn, Ấn Độ giáo vốn là tôn giáo có trước Phật giáo. Về sau khi đức Thích Ca ra đời, một bộ phận lớn tín đồ Bà La Môn mới cải sang đạo Phật. Đạo Phật tới này còn dùng rất nhiều biểu tượng và thần điện của Bà La Môn.
Câu đối ở đền Cầu Váu liên quan đến nhận định này:
色空理悟曇而聖
生化機玄帝又天
Sắc không lý ngộ Đàm nhi Thánh
Sinh hóa cơ huyền Đế hựu Thiên.
Dịch:
Biết lẽ sắc không Phật mà Thánh
Diệu kỳ sinh hóa Đế cùng Trời.
Hay câu:
永清鬼類神哉佛
保惠黔黎聖即天
Vĩnh thanh quỷ loại Thần tai Phật 
Bảo huệ kiềm lê Thánh tức Thiên.
Dịch:
Mãi không loại quỷ Thần như Phật
Giữ ái dân đen Thánh cũng Trời.

 

Đôi điều về các vị tổ Thiền phái Trúc Lâm và Đạo Giáo

Một trong những tư tưởng nổi bật của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần là tư tưởng nhập thế tích cực. Tư tưởng này như một cương lĩnh đường lối hoạt động của Thiền phái mà được thể hiện rõ trong bài Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông:
Cư trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm
Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.
Hay trong câu:
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật đồ công.
Sau này có ý kiến cho rằng Trần Nhân Tông khi xuất gia đã không còn tích cực nhập thế, không còn tham gia việc thế tục nữa. Nhưng thực tế không phải vậy.
Tư tưởng nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm rất có thể là ảnh hưởng từ Đạo Giáo. Ngay khi Trần Nhân Tông xuất gia đầu tiên ở hành cung Vũ Lâm đã có đạo sĩ luôn đi cùng Phật Hoàng như trong bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ thể hiện.
Trần Quang Chỉ trong bài dẫn đề trên bức tranh này đã ghi:
Tuổi ngoài 40, ngài bỗng có chí xuất gia, bèn truyền quốc đồ cho con, vào động Vũ Lâm tu tập… Thủa ấy có đạo sĩ Trung Quốc là Lâm Thời Vũ tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi, có lúc viễn du giáo hóa, tế độ các nước láng giềng. Các ngài đi về phương Nam, đến tận Chiêm Thành, khất thực ở kinh đô…
Nguyên văn là Trung quốc đạo sĩ Lâm Thời Vũ 中國林時雨. Ở đây “trung quốc đạo sĩ” nghĩa là một đạo sĩ trong nước, chứ không phải đạo sĩ đến từ Trung Quốc, vì để chỉ xuất xứ từ phương Bắc khi đó sẽ dùng nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh. Còn khái niệm Trung Quốc ở thời Trần rất không rõ ràng. Nhà Nguyên không phải Trung Quốc vì là người Mông Cổ. Còn nhà Minh thời đó (Minh Thành Tổ) đang làm chiếm cả vùng Bắc Việt thì sao phải phân ra Trung Quốc với An Nam?
Tương tự như trong cùng bài giới thiệu trên của Trần Quang Chỉ phần đầu có đoạn nói Trần Nhân Tông kỳ trị quốc dĩ nhân kỳ sự trung quốc dĩ thành 其治國以仁其事中國以誠. Câu này phải hiểu là “Trị nước có nhân, xử lý việc trong nước với tấm lòng chân thành”. Còn hiểu là “đối với Trung Quốc một cách thành thực” (???) thì câu trở nên rất vô lý và tối nghĩa.
Tên Lâm Thời Vũ giống một danh hiệu hơn là một tên riêng. Họ Lâm ở Việt Nam rất hiếm. Để hiểu danh hiệu này của một người Việt “trong nước” thì cần dùng tiếng Việt (tiếng Nôm) làm căn cứ.
Xét ra thì từ “Vũ” (cho dù nó được ghi âm bằng chữ Nho là 雨, 禹 hay 武) vốn dùng để chỉ Vua trong tiếng Việt.  Trong văn hóa Trung Hoa các vị vua khai mở triều đại được đặt tên hiệu là Vũ, như Đại Vũ khai mở nhà Hạ, Chu Vũ Vương lập nhà Chu,…
Vũ là biến âm của Ngũ, là con số 5, số trung tâm của Hà đồ và Lạc thư (河圖洛書), là Dịch tượng dùng để chỉ thủ lĩnh của cộng đồng, của Thiên hạ. Do đó nó tương đương với từ Vua của tiếng Nôm.
Khi hiểu như vậy ta sẽ thấy “Vũ Lâm” có nghĩa là “chỗ vua tu ẩn” (Lâm 林 ở đây là khu vực rừng núi). Còn “Lâm Thời Vũ” tức là người tháp tùng vua. Dùng nghĩa của chữ Lâm 臨, “lâm thời” nghĩa tiếng Việt là “đi theo”. Nghĩa này đúng như bài giới thiệu đã ghi: Lâm Thời Vũ tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi.
Bên cạnh Phật Hoàng Trần Nhân Tông luôn có một đạo sĩ đi cùng, tới mức gọi luôn là ông Lâm Thời Vũ – “Đi Theo Vua”, chứng tỏ ảnh hưởng của Đạo Giáo tới việc tu thiền của Phật Hoàng rất lớn.
Ngay cả khi Trần Nhân Tông sang tận Chiêm Thành, thì tín ngưỡng ông không quên thúc đẩy ở đây là đề cao một vị thần bản xứ. Sách Trung Châu nhân vật ký của Lam Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương ghi:
Khi lên xứ Trầm Hương – Đại Điền, nhớ lại tích xưa, tưởng niệm công đức của vợ chồng bà Tinh Vệ – Chấn Long, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là Thiên Y Thánh Mẫu, và bàn với chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi đền thờ ông bà Tinh Vệ. Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền. Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho Thiên Y Thánh Mẫu và 2 bên trụ đền tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngự đề…

IMG_3140
Bia và tháp mộ Tam tổ Huyền Quang ở chùa Đại Bi.

Ảnh hưởng hay sự hòa đồng của Đạo Giáo trong Thiền phái Trúc Lâm còn thấy rõ ở sự tích của vị tổ thứ ba là Huyền Quang tôn giả. Xuất xứ của Tam tổ Huyền Quang hiện còn được lưu trên bia đá Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng nay ở chùa Đại Bi, xã Thái Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh. Sách Tổ gia thực lục chép nội dung tương tự như trên bia chùa Đại Bi, tóm tắt chuyện này như sau:
Thủy tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan hành khiển dưới triều Lý Thần Tông. Trải qua nhiều đời đến tổ phụ là Tuệ Tổ có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không ra làm quan, chỉ thích chuyện hay, sách lạ và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại chùa Ma Cô Tiên. Trong khi chợp mắt bỗng mơ thấy một con khỉ lớn đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà… Lê Thị hoài thai Sư đến 12 tháng…
Trước khi sinh nhà của Sư ở phía Nam chùa Ngọc Hoàng, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là thiền sư Huệ Nghĩa mộng thấy Đức Phật chỉ Tôn giả A-Nan bảo hãy tái sinh làm pháp khí Đông độ và phải nhớ lại duyên xưa…
Chùa Ma Cô Tiên ở núi Chu Sơn (Châu Sơn hay Trâu Sơn) gần quê của Huyền Quang nay là chùa Cô Tiên ở Châu Cầu, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh. Sự tích Ma Cô Tiên gắn với công cuộc khởi nghiệp của một vị đế vương lớn tại núi này là Triệu Vũ Đế. Tục thờ Triệu Vũ Đế vốn được phổ biến ở 8 làng trong khu vực núi Châu Sơn là Ngọc Xá, Cựu Tự, Châu Cầu, Thất Gian, Hữu Bằng, Kim Sơn, Long Khê.
Như thế hình tượng con khỉ lớn đội mũ triều thiên mặc áo hoàng bào ở đây chính là chỉ Triệu Vũ Đế. Sự tích này ám chỉ Huệ Quang là dòng dõi từ Triệu Vũ Đế. Điều này rất có thể vì Huệ Quang là dòng dõi nhà Lý. Theo thông tin địa phương ở Châu Sơn, thân tộc nhà Lý đã di cư đến đây khi triều đại đổi sang nhà Trần. Lý cũng là họ của nhà Triệu Nam Việt vì Triệu Vũ Đế là Lý Bôn.

IMG_3765Bia Thánh tổ Cô Tiên tự bi ký tại chùa Cô Tiên ở Châu Cầu.

Điểm chú ý khác là Ma Cô Tiên được gọi là Thánh tổ trên bia còn lưu ở chùa Cô Tiên tại Châu Cầu. Còn sắc phong của làng Châu Cầu gọi bà là Thông huyền Diệu hóa Thanh hư Nhàn uyển Dực bảo Trung hưng Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa. Có thể thấy đây là một vị tổ mẫu của Đạo Giáo. Chữ “Cô” chỉ người nữ tu. Ma Cô Tiên cũng là một phúc thần phổ biến trong Đạo Giáo.
Việc bà mẹ của Huyền Quang ngụ ở chùa Cô Tiên mơ thấy khỉ mang triều phục ném mặt trời hồng vào lòng mà sinh ra Huyền Quang ám chỉ khá rõ rằng Huyền Quang có xuất xứ từ Đạo Giáo. Thêm vào đó là việc nhà sư ở chùa Ngọc Hoàng cũng mơ thấy Huyền Quang là A-Nan Tôn giả giáng thế. Chùa Ngọc Hoàng nay ở thôn Thái Bảo, xã Đại Lai, Gia Bình, Bắc Ninh. Bia chùa còn ghi đây là “Ngọc Hoàng quán”, tức đây vừa là chùa vừa là quán. Quán thờ Ngọc Hoàng cho thấy yếu tố Đạo Giáo rất rõ.

IMG_3242
Bia Ngọc Hoàng quán ký ở chùa Ngọc Hoàng.

Huyền Quang còn được biết là người đã chắp bút (định bản) tác phẩm Bảo đỉnh hành trì bí chỉ toàn chương, được mô tả là gồm các nghi lễ trong đạo Phật; các bài văn, các đạo bùa dùng trong lúc làm đàn chay, giải oan, phá ngục v.v.
Có thể thấy yếu tố bùa chú, đàn tràng, cúng giải oan, phá ngục… của Đạo Giáo được đưa vào Phật giáo thời Trần bởi chính Tam tổ Huyền Quang, hay chính qua Thiền phái Trúc Lâm từ Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

IMG_3114Đền Tam tổ ở chùa Đại Bi.

Câu đối ở đền thờ Trúc Lâm tam tổ tại chùa Đại Bi (Gia Bình, Bắc Ninh):
悲海運潮音喚醒山河千載夢
南天重聖瑞光囬社稷萬斯民
Bi hải vận triều âm, hoán tỉnh sơn hà thiên tải mộng
Nam thiên trùng thánh thụy, quang hồi xã tắc vạn tư dân.

Dịch:
Bể thương nổi tiếng triều, đánh thức núi sông ngàn năm mộng
Trời Nam dày điềm thánh, sáng soi đất nước vạn nhân dân.

 

Lịch đại đế vương miếu (Trung Quốc Bắc Kinh)

Dịch từ trang https://baike.baidu.com/item/%E5%8E%86%E4%BB%A3%E5%B8%9D%E7%8E%8B%E5%BA%99/3263484

Vào tháng 1 năm 2019, di tích bảo vệ văn hóa trọng điểm quốc gia của Hoàng gia này sẽ tròn 15 năm từ khi ra mắt. Chương trình tu bổ Miếu Lịch đại Đế vương đã được phê duyệt, và hiện đang đóng cửa để sửa chữa. Dự kiến sẽ bắt đầu xây dựng vào nửa đầu năm nay và mở cửa trở lại sau khi hoàn thành vào năm 2020.
Miếu Lịch đại Đế vương, thường gọi là Đế vương miếu, tọa lạc tại số 131 phố Nội Đại, cửa Phụ Thành, quận Tây Thành, thành phố Bắc Kinh. Được khởi dựng vào thời Minh Gia Tĩnh năm thứ mười (1531), ban đầu là nền chùa Bảo An, tới năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530) thì được cải tạo lại và trùng tu năm Thanh Ung Chính thứ 9 (1729).
Miếu Lịch đại Đế vương là nơi các vua hai triều Minh Thanh thờ tự các vị hoàng đế mở nghiệp và các vị khai quốc công thần của các triều đại trong quá khứ. Vua Càn Long đã điều chỉnh nhiều lần và cuối cùng xác định 188 vị đế vương được thờ tự tại đây. Càn Long thậm chí còn đưa ra quan điểm về “dòng giống Trung Hoa không bao giờ tuyệt”. Đây là một di tích kiến trúc tinh xảo của Trung Quốc, là nơi thu hút người Hoa trong và ngoài nước thờ cúng Viêm Hoàng tổ tiên, tôn vinh các nhà hiền triết, tăng cường niềm tự hào lịch sử và sự gắn kết dân tộc, một địa điểm ngưng tụ văn hóa quan trọng của Trung Quốc.

Giới thiệu
Miếu Lịch đại Đế vương ban đầu được xây dựng thời Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530), là nơi các vua hai triều đại Minh Thanh cúng tế tổ tiên, có địa vị tương đương với Thái miếu và Khổng miếu, cùng gọi là 3 ngôi miếu lớn của hoàng gia Minh Thanh tại Bắc Kinh.
Người Trung Quốc từ cổ tới nay có tập quán cúng tế tổ tiên, Tam Hoàng được xem là tổ tiên đầu tiên của người Trung Quốc, nên các đế vương các đời đều ngưỡng mộ. Các vị hoàng đế ban đầu là những tấm gương cho các thế hệ tiếp theo học hỏi và noi dõi, vì vậy việc cúng tế  các vị vua này được chú trọng.
Ban đầu, hoàng đế sáng lập nhà Minh là Chu Nguyên Chương đã xác định cúng tế 16 vị đế vương. Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh định đô ở Bắc Kinh sau đó xác định 25 vị vua được thờ cúng. Các thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long đã đặc biệt coi trọng Miếu Lịch đại Đế vương. Khang Hi từng ban một sắc lệnh: ngoài những người vô đạo bị xử chết và các vị phản quốc, tất cả các hoàng đế đã từng lên ngôi đều được lập bài vị trong đền.
Càn Long sau khi điều chỉnh, cuối cùng xác định 188 vị đế vương để thờ tự, từ Minh Gia Tĩnh năm thứ 9 đến cuối thời nhà Thanh có 380 năm, tại Miếu Lịch đại Đế vượng tổng cộng đã cử hành hơn 662 lễ cúng tế lớn.
Miếu Lịch đại Đế vương chiếm 21.500 m2, hiện là nơi ngôi đền duy nhất ở Trung Quốc thờ Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa, các bậc đế vương các đời cùng với các văn thần võ tướng của hoàng gia các nhà Minh Thanh. Đó là bằng chứng lịch sử cho tiến trình phát triển quốc gia nhiều dân tộc thống nhất kế thừa liên tục không ngừng của Trung Quốc.
Thời Dân quốc sau đó việc thờ cúng bị dừng lại, chuyển cho ngành giáo dục sử dụng. Thời thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển cho Trường trung học nữ đệ tam của thành phố Bắc Kinh sử dụng, sau đó đổi tên thành Trường trung học 159 Bắc Kinh.
Năm 1979 được công nhận là di tích bảo tồn văn vật của thành phố Bắc Kinh. Năm 1996 Quốc vụ viện công bố là di tích bảo tồn văn vật trọng điểm quốc gia.

Bài trí
Điện Sùng thánh Cảnh đức được đặt ở vị trí trung tâm, toàn điện là kiến trúc mái chính và 2 chái bên, cùng với Thái Hòa điện của Cố Cung nằm cùng một cấp, trung bình cao 21m, mặt chính có 9 gian, vào sâu 5 gian, theo tiêu chí lễ chế đế vương “cửu ngũ chi tôn”.
Bên dưới là một loại gạch lát sàn được làm đặc biệt cho hoàng gia, còn được gọi là “gạch vàng”. Các viên gạch vàng mang lại cho mọi người cảm giác mịn màng và ngọc bích, và chúng không bị trơn khi bước lên. Các hạt rất mịn và dày đặc. Các “gạch vàng” được sử dụng để cải tạo đã được làm trong các “lò ngự” ở Tô Châu ngày nay. Các vật liệu, nung và chế biến có quy trình nghiêm ngặt. Trước khi đặt, chúng được xử lý bằng cách ngâm dầu và mài bề mặt.
Trong sảnh chính, có bảy cung khám phụng thờ bài vị của 188 hoàng đế các đời Trung Quốc. Trong khám thờ ở vị trí chính trung là bài vị Phục Hy, Hoàng Đế, Viêm Đế, hai bên phải trái chia ra có 6 khám, dùng thờ Ngũ Đế và Hạ, Thương, hai nhà Chu, Cường Hán, Thịnh Đường, Ngũ đại thập quốc, Kim, Tống, Nguyên, Minh các đời, tất cả là 185 bài vị đế vương.
Điện Cảnh đức Sùng thánh Đông Tây hai bên có các điện thờ, dùng để thờ cúng Bá Di, Khương Thượng, Tiêu Hà, Gia Cát Lượng, Phòng Huyền Linh, Phạm Trọng Yêm, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, tất cả 70 bài vị của các vị đại hiền tướng, danh tướng. Ở giữa, Quan Vũ một mình lập một miếu, thành ra miếu trong miếu khá đặc biệt.
Điện Cảnh đức Sùng thánh trong Miếu Lịch đại Đế vương, cửa Cảnh Đức, hai điện phối thờ Đông và Tây chủ yếu còn giữ được  các đồ thời nhà Minh để lại, trong khi các bức tranh tường và gạch tráng men chủ yếu là vào thời Càn Long của triều đại nhà Thanh.
Mặc dù Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn, Khổng Miếu và các tòa nhà khác đều được xây dựng từ thời nhà Minh, nhưng không có nhiều hiện vật của nhà Minh được bảo tồn. Do đó Miếu Lịch đại Đế vương nơi còn giữ lại được một số lượng lớn các cấu kiện thời Minh là rất hiếm.

Lịch sử xây dựng
Triều Minh dời đô về Bắc Kinh, việc tế tự các đế vương thời trước được tiến hành hoặc ở Nam Kinh hoặc ở vùng ngoại ô Bắc Kinh tại điện văn hóa Cố Cung. Hoàng đế Gia Tĩnh vào năm thứ 9 (1530) đã khởi dựng Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh, thờ cúng các nhân vật được thu tập trước đây từ Nam Kinh, chỉ dùng bài vị, không làm tượng. Năm Gia Tĩnh thứ 14 (1545) loại bỏ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt và Mục Hô Lý cùng 5 bài vị đại thần nhà Nguyên.
Sau đó, ngôi đền cũ ở Nam Kinh đã bị bỏ hoang. Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh trở thành nơi duy nhất trong cả nước thờ phụng đế vương các đời. Trong lịch sử lâu dài của lịch sử Trung Quốc, một loạt các nhân vật từ Tam Hoàng Ngũ Đế cho đến các đế vương các đời đã được hình thành. Việc tế tự các vị này của hậu thế là một bộ phần của lễ chế quốc gia từ xưa.
Ngay từ thời kỳ Tiên Tần, Sách “Lễ Ký, Tế pháp”, đã nêu rằng việc “làm pháp cho dân”, “hy sinh vì việc công”, “vất vả gây dựng đất nước”, “chế ngự thiên tai”, “giảm thiểu hoạn lớn” đều được linh ứng mà tế tự, từ Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Văn Vương, Vũ Vương đều là những nhân vật tiêu biểu quan trọng cho thờ cúng.
Các triều đại Tần và Hán đối với việc thờ cúng Tam Hoàng Ngũ Đế cùng các đế vương các đời trước được duy trì liên tục và có sự phát triển thay đổi: từ lăng mộ đến đền thờ, từ cúng tế từng nhân vật đến các nghi lễ tập thể. Từ thờ cúng các đế vương mở nước đến thờ các đế vương giữ nghiệp, từ thờ cúng các đế vương người Hoa Hạ – Hán đến thờ cúng các đế vương của các dân tộc khác, từ chủ yếu thờ các đế vương tới thờ các hiền thần có công vun đắp trong quá trình phát triển.

Triển lãm lịch sử phát triển Miếu
Triển lãm lịch sử phát triển Miếu Lịch đại Đế vương tại điện phía Đông, chủ yếu giới thiệu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, Minh Gia Tĩnh Chu Hậu Thông, Thanh Thuận Trị Đế Phúc Lâm, Thanh Khang Hy Đế Huyền Diệp, Thanh Ung Chính Đế Dận Chân, Thanh Càn Long Đế Hoằng Lịch là 6 vị hoàng đế nhà Minh và Thanh đã sáng lập, bổ sung và phát triển việc thờ cúng Miếu Lịch đại Đế vương. Việc làm của họ tạo thành dòng phát triển chính của hệ thống nghi lễ thờ cúng tại Miếu Lịch đại Đế vương.

Tế tự
Ở điện chính của ngôi đền thờ tự các nhân vật chính, 38 vị chính được đặt tại đây. Trong phần trưng bày giới thiệu cả các hoàng đế sáng lập và các hoàng đế giữ nghiệp, cả các nhân vật đế vương người Hoa Hạ – Hán và cả các nhân vật người dân tộc khác, phản ánh đặc điểm lịch sử của quốc gia đa sắc tộc thống nhất tiếp nối ở Trung Quốc. Thêm vào đó cũng giới thiệu với công chúng nhiều văn thần võ tướng lớn, bao gồm nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, nhờ đó làm phong phú nội dung của triển lãm.
Khu đơn nguyên thứ nhất: Chủ yếu để thờ các nhân vật đế vương thời Tam Hoàng Ngũ Đế.
Khu đơn nguyên thứ hai: Thờ các nhân vật thời Tần Thủy Hoàng, Tào Tháo, Dương Kiên.

Triển lãm
Họ tên là biểu tượng hình ảnh cá nhân, nó gắn với bạn theo mỗi người từ lúc sinh ra. Tuy nhiên, bạn có thể không biết hết ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, họ của bạn bắt nguồn từ đâu, sống ban đầu ở đâu, có bao nhiêu năm lịch sử, có bao nhiêu vị tiên hiền, đặc biệt tổ tiên của bạn là ai? Có liên quan đến Tam Hoàng Ngũ Đế không? Đối với hầu hết mọi người, đó là một bí ẩn rất thú vị cần được trả lời.
Triển lãm chuyên đề “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà” có tuyến trưng bày chủ yếu gồm 8 vị hoàng đế cổ xưa Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu Đế, Thuấn Đế, mà từ đó phát triển ra cho tới nay thành trăm họ khác nhau. Trước tiên, giới thiệu các vị thủy tổ của mỗi họ (bao gồm viễn tổ và tiên tổ), biển hiệu đề họ, sảnh đường nối liền, các quận có thờ họ, các họ khác có liên hệ huyết thống, dòng gốc đã phát di ra các nơi, các bậc tiên hiền xưa cùng các thắng tích quan trọng.
Tại trung tâm thờ Tam Hoàng Ngũ Đế của Miếu Lịch đại Đế vương tổ chức triển lãm chuyên đề “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà”, giúp bạn tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên, thông qua những tri thức liên quan về văn hóa dòng họ, làm sâu sắc hơn việc lý giải thủy tổ cộng đồng dân tộc Trung Hoa – Tam Hoàng Ngũ Đế.
Hy vọng rằng khi bạn bước vào phòng triển lãm “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà”, bạn thực sự có thể cảm thấy: Trăm họ một nhà, bắt nguồn từ Hoa Hạ!
Kèm theo danh sách họ trăm nhà trong triển lãm:
Theo hệ từ Viêm Đế : Khương, Lữ, Khâu (Khâu), Sài, Đinh, Cao, Hứa, Lô, Tạ, Thôi, Thân, Lôi, Dịch, Liên, Hướng, Tập, Cung, Kỉ, Phương, Chương, Nhạc, Tiêu, Tề, Hạ, Nhiêu.
Theo hệ từ Hoàng Đế: Nhâm, Trương, Vương, Chu, Ngô, Trịnh, Dương, Quách, Cổ, Tương, Thái, Mao, Tiết, Hàn, Hà, Vu, Thiệu, Ngụy, Khang, Phùng, Cát, Uông, Dư, Cáo.
Theo hệ từ Thiếu Hạo: Kim, Tần, Triệu, Mã, Lương, Từ, Hoàng, Giang, Lí.
Theo hệ từ Chuyên Húc: Chúc, Tào, Chu, Đổng, Lục, Phan, Ôn, Tô, Cố, Nghiêm, Phí, Sở, Hạ, Tằng, Bạch, La, Long, Trang, Hùng, Diệp, Bành, Tiễn, Trầm.
Theo hệ từ Đế Khốc: Thang, Tống, Tiêu, Khổng, Đái, Lâm, Vũ, Đặng, Phó.
Theo hệ từ Nghiêu Đế: Y, Kì, Đào, Đường, Lưu, Đỗ, Phạm, Phòng, Hồng.
Theo hệ từ Thuấn Đế: Diêu, Ngu, Trần, Hồ, Điền, Viên, Trâu, Chân, Tôn.

Kiến trúc
Bước vào cửa Cảnh Đức về phía Bắc là khoảng sân lớn nhất của Miếu Lịch đại Đế vương. Ở giữa sân là điện Cảnh Đức Sùng Thánh, là kiến trúc chủ thể của Miếu Lịch đại Đế vương. Theo bản vẽ “Đại Thanh hội điển đồ”, điện Cảnh Đức Sùng Thánh, rộng 9 gian, mái phủ, góc mái uốn cong, rường cột năm sắc, nền lát đá. Ở phía Nam, có ba cấp bệ, ở giữa có 3 cấp, ở mỗi bên trái và phải đều có một cấp. Phía Đông và Tây có 1 bệ, ở giữa đều có 2 cấp. Điện Cảnh Đức và Ngự Bi đình ban đầu được làm bằng men xanh. Vào năm Càn Long thứ 29 chúng được đổi thành men vàng.
Tên điện Cảnh Đức Sùng Thánh có ý là “cảnh ngưỡng đức chính, sùng thượng thánh hiền” (ngưỡng mộ chính đức, tôn tùng thánh hiền). Kiến trúc này cho dù ở các hình chế, mái, cột, dầm, phù điêu, họa sắc cùng các hạng mục bên trên là phong cách của kiến trúc hoàng gia, theo quy định tối cao. Chỉ có cung điện, lăng mộ và các tòa nhà hoàng gia mới có thể sử dụng hình thức này.
Điện Cảnh Đức Sùng Thánh rộng chín gian, sâu năm gian, tượng trưng nghĩa “Cửu ngũ chí tôn” của Thiên tử. Mỗi không gian được bao quanh bởi bốn cột theo cả hai chiều rộng và sâu được gọi là một gian. Không phụ thuộc vào kích thước, gian là đơn vị thấp nhất trên mặt bằng của điện, tùy theo vật đặt trong gian to hay nhỏ mà gian được thiết kế to nhỏ và ít nhiều tương ứng. Xét các di chỉ thời nhà Thương và các đồ tế tự nhà Hán thì số gian trong các kiến trúc sớm của Trung Quốc chủ yếu là số chẵn, và ở giữa gian phải là một trụ cột. Mọi người chỉ có thể vào và ra từ một phía. Vì vậy, nó dần dần thay đổi thành số lẻ. 9 gian là đẳng cấp cao nhất.
Tòa điện này làm theo kiểu mái trùm, góc cong, và gạch của nó là gạch tráng men vàng. Các trụ cột của nó được tạo thành từ 60 loại gỗ tốt, và các bức tranh của nó là rồng vàng trên ấn. Trong điện treo tấm biển do Hoàng đế Càn Long ngự đề. Bên trên biển có 4 chữ “Báo công quan đức”. Trong điện chia làm 7 khám thờ, và tổng cộng phụng sự 188 bài vị của các đế vương trong quá khứ. Bài vị nền đỏ chữ vàng. Sảnh chính được xây dựng trên một bục cao, và có một cái đài trước đền. Có lan can đá ở các hướng Đông, Tây và Nam. Có ba bệ ở phía Nam của đài, ở giữa là đường đi cho vua.
Kiến trúc tổng thể của điện Cảnh Đức Sùng Thánh trang nghiêm và trang trọng, với giá trị thẩm mỹ cao.

Đặc điểm kiến trúc
Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh là một di tích bảo tồn văn hóa trọng điểm quốc gia. Đây là một di sản kiến trúc lịch sử cấp hoàng gia. Miếu Đê vương là một quần thể kiến trúc, theo bố cục được thiết kế trên xà, giữa có tuyến trục. Ở trục giữa trên là nơi có kiến trúc đẹp cao cấp. Từ phía Nam đến phía Bắc, có một bức tường tranh lớn, sau đó là cổng miếu, và sau đó là cửa Cảnh Đức. Sau đó là tòa nhà chính điện Cảnh Đức Sùng Thánh, sau điện có kho đựng đồ tế khí. Ở chính điện hai bên phải trái có 4 đình Ngự Bi cùng các điện phối thờ Đông và Tây.
Trục trung tâm từ cửa Miếu, cửa Cảnh Đức, điện Cảnh Đức Sùng Thánh, kho tế khó chiếm từ Bắc hướng Nam. Kiến trúc thực tế hàng ngàn năm của Trung Quốc cho rằng ở Bắc hướng Nam là hướng quay lý tưởng nhất. Thiên văn học cổ đại dựa vào các chòm sao chia thành Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, đại diện cho các hướng Đông Tây Nam Bắc. Vì người xưa thường quay mặt về phía nam để quan sát, do đó bản đồ các thiên tượng được trình bày trên Nam dưới Bắc, và những vị vua cai trị các thời đại đã quay mặt phương Nam để trị thiên hạ.
“Kinh Dịch” nói: Thánh nhân quay mặt phương Nam để lắng nghe thiên hạ, hướng về chỗ sáng mà trị vì. Ở các kiến trúc cổ của Trung Quốc trong bố cục thì chính điện thường nằm ở vị trí trung tâm. Miếu Lịch đại Đế vương có bố cục tại trung tâm là điện Sùng Thánh. Tòa nhà này vượt lên cao cách biệt với mái đầm góc bay, dùng gạch tráng men màu vàng. Chiều rộng của đại điện rộng khoảng 51m, và chiều sâu của năm gian là khoảng 27m. Nó là lễ chễ “Cửu ngũ chí tôn”. Ngôi đền cao 21m và có 60 cây cột trụ gỗ Chò. Nóc điện là các cột lớn với các dầm xà khổng lồ chống đỡ mái đền. Đại điện bên trong vẽ hoa văn xoắn, các mảng bám bên ngoài được vẽ rồng vàng cuốn ấn, đặc biệt tráng lệ.
Thần vị của Tam Hoàng Ngũ Đế cùng với các đế vương các thời được phụng thờ trong điện Cảnh Đức Sùng Thánh. Lớp chính điện này có quy cách tương đồng như của Tử Cấm Thành. Sảnh chính nằm trên một bục đài cao. Phía trước điện có một cái bục rộng, lan can đá và đường đi của vua hạm khắc hoa văn mây núi. Thần vị của các công thần danh tướng các đời được sắp xếp “văn Đông võ Tây”, được thờ ở trong các điện phối thờ bên Đông và Tây. Các điện phối thờ Đông và Tây được kiến trúc bằng các ngói men đen, mái đầm, nóc hướng cao. Hai bên điện chính có 4 ngự bi đình, có kiến trúc đẹp, lợp ngói men vàng, mái đầm, nóc hướng cao. Bên trong đình để bia chạm khắc các hình sông núi biển hồ. Các bia ngự của Ung Chính và Càn Long to cao hùng vĩ, chạm trổ tinh vi.  Trán bia được chạm khắc hình tròn chim đại bàng và rồng, từ cao nhìn xuống, oai nghiêm khác thường, so với các loại bia ngự khác trên cả nước là loại tốt nhất. Những con rùa dưới tượng đài cũng vô cùng to lớn, cổ kính và mạnh mẽ.
Ở phía Đông Nam Miếu có một số tòa nhà như nhà bếp, kho, chỗ giết mổ, giếng, và một tháp chuông. Cổng đền rất long trọng, với hai bia Hạ Mã trước cửa và một bức tranh tường đỏ khổng lồ. Trên bia Hạ Mã có dòng chữ “Quan chức, nhân dân đều xuống ngựa ở đây” khắc bằng tiếng Hán, tiếng Mông Cổ, tiếng Mãn, cho thấy sự uy nghi và tôn quý của Miếu Lịch đại Đế vương.
Hiện trạng của Miếu Lịch đại Đế vương là diện mạo của thời kỳ huy hoàng nhất của Thanh Càn Long, có bố cục rất nghiêm ngặt và tráng lệ, khí thế to lớn. Vì nó chủ yếu giữ lại cấu trúc ban đầu khi nhà Minh xây dựng, giá trị kiến ​​trúc và giá trị văn hóa là vô cùng lớn. Đây là ngôi đền hoàng gia duy nhất hiện còn ở Trung Quốc.

Trang trí nghệ thuật
Các trang trí ở Miếu Lịch đại Đế vương đã được các chuyên gia khảo sát và chia làm 3 giai đoạn:

  1. Trang trí thời Minh Gia Tĩnh khi mới xây dựng, tức năm 1530.
  2. Trang trí thời Thanh Ung Chính khi đại tu, tức năm 1729.
  3. Trang trí thời Càn Long khi sửa chữa, tức năm 1764.

Những trang trí có giá trị nhất trong Miếu Lịch đại Đế vương là những bức làm khi khởi lập, những bức này vẫn còn được bảo tồn trong Miếu tới nay, nhưng tiếc là người thường không dễ nhìn thấy. Trên trần của điện Cảnh Đức Sùng Thánh có mảng tranh trên trần, có ba gian tranh vẽ, trang trí hết sức kỹ thuật, là những bức tranh rất có giá trị của nhà Minh. Ở cửa Cảnh Đức bên sườn cao cũng có một bức tranh màu về thời kỳ Minh Gia Tĩnh khởi tạo, cũng ở trên trần nhà. Trang trí của nó khác với chính điện, và thợ có tay nghề kém tinh tế hơn trong đại điện.
Ngoài ra, tường phía Đông là nhà bếp nhà kho, cũng còn lưu được một số dấu tích trang trí từ thời khởi lập. Ở khu giết mổ có ở mặt Nam và Tây mỗi phía còn một mảnh trang trí. Các thế hệ sau này đã thực hiện các bức tranh thời nhà Thanh trên lớp phủ cũ, vì vậy họ để lại một số dấu vết.
Ngoài bức tranh trần ba gian điện Cảnh Đức Sùng Thánh còn có mẩu bức tranh bằng tấm gỗ trắng. Điều này cho thấy đó là tác phẩm gốc của thời Minh Gia Tĩnh. Sau đó, các đường gờ không được sửa chữa nhiều lần. Tại sao nhà Thanh khi đại tu sửa di tích đã không động tới bức tranh của Minh Gia Tĩnh? Chuyên gia về xây dựng cổ đại đã phân tích rằng có thể nhà Thanh muốn để lại một thông điệp cho các thế hệ tương lai.
Những bức trang trí quy mô lớn do nhà Thanh làm cũng là một lý do giải thích việc này. Nếu người sở hữu phải xây dựng lại cung điện cũ, họ không có nhiều nguồn tài lực. Do đó chỉ làm lại những trang trí ở bên dưới là đủ. Các bức tranh thời Minh được làm ban đầu trên trần nhà, và người thường không nhìn thấy chúng, vì vậy chúng sẽ không được thay thế. Có lẽ do đó đã vô tình được bảo tồn. Cũng có thể là nếu dỡ bỏ các bức phía trên thì sẽ động chạm đến các vật bên dưới, không thuận tiện để di dỡ.

Lễ hội tế tự
Miếu Lịch đại Đế vương ban đầu được xây dựng năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1531), tiếp tục được sử dụng vào thời nhà Thanh, cho tới nay đã có 470 năm lịch sử. Miếu Lịch đại Đế vương là trung tâm thờ tổ tiên Phục Hy, Viêm Hoàng, là nơi duy nhất trong cả nước tập trung điện thờ Tam Hoàng Ngũ Đế, đế vương các đời và các công thần danh tướng cùng với các vị tiên hiền Trung Hoa ở trong một miếu điện thờ thần thánh. Hiện đây là di tích bảo vệ văn vật trọng điểm quốc gia, có giá trị lịch sử cao. Nó được mở cửa cho công chúng vào năm 2004 sau khi chính phủ đầu tư mạnh vào việc sửa chữa toàn diện vào năm 2000.
Việc khai trương Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh đã mang lại một sản phẩm du lịch mới trong thị trường du lịch tại đây. Do bối cảnh văn hóa và lịch sử đặc biệt, Miếu Lịch đại Đế vương đã trở thành điểm thu hút mới của các công ty lữ hành lớn trong nước. Năm 2004, Miếu Lịch đại Đế vương bắt đầu tổ chức lại các hoạt động tế tự tổ tiên người Hoa. Với sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch thành phố Bắc Kinh, các hoạt động nghi lễ của Miếu Lịch đại Đế vương được tổ chức hàng năm, kết hợp với tìm hiểu lịch sử của đất nước, thử nghiệm ẩm thực quốc gia và các trò vui chơi cấp quốc gia cùng với Miếu tạo ra một sản phẩm du lịch riêng biệt. Nó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc quy tập người Hoa trong trong và ngoài nước. Nó đã trở thành một địa điểm tinh thần cho người Hoa trong và ngoài nước để tìm kiếm gốc rễ và tổ tiên. Nó trở thành điểm biểu tượng mở rộng của tuyến du lịch văn hóa và trở thành điểm quan trọng của Thế vận hội nhân văn 2008.

Lễ nhạc
Con người ngày nay khá xa lạ với hệ thống nghi lễ cổ xưa. Các nghi lễ cổ xưa đã mất từ ​​lâu. Nền tảng của lễ nhạc cổ đại là Chu Lễ. Lễ nhạc thời Chu nay khó tìm được dấu vết. Tuy nhiên, văn hóa lễ nhạc truyền thống, như máu và nước, đã thấm vào máu thịt của dân tộc Trung Hoa, và luôn ảnh hưởng đến quan niệm, tâm lý, hành vi và cảm xúc của người ngày nay.
Lễ nhạc là gì? Các học giả tin rằng: nghi thức và âm nhạc là tất cả các mô phỏng hoặc biểu hiện của vũ trụ và quy luật tự nhiên. Nghi lễ được xây dựng theo các nguyên tắc khác nhau của thế giới, luân chuyển bốn mùa, sự phát triển lẫn nhau của sáu khí và các nguyên tắc phù hợp của tất cả mọi thứ. Âm nhạc là thành phần và sự chuyển động của quy luật tự nhiên. Quy luật của sự thay đổi và mô phỏng và cảm giác của hình thức. Quà tặng và âm nhạc được tạo ra để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nghi lễ chủ yếu được sử dụng để phân biệt đối xử, để phân biệt các cấp bậc cao quý của từng thành viên để họ làm rõ tình trạng, nhiệm vụ và nghĩa vụ tương ứng.
Âm nhạc chủ yếu được sử dụng “cầu hòa”, điều chỉnh cảm xúc bên trong của con người và điều phối các mối quan hệ tương thân tương thích giữa người với người. Cả hai nghi thức và âm nhạc đều phải ở mức độ vừa phải. Nếu vượt qua phạm vi, nó sẽ gây hỗn loạn. Lễ và nhạc như anh chị em sinh đôi, không thể tách rời. Trong hệ thống văn hóa lễ nhạc, lễ chiếm vị trí chính, nhạc là để phối hợp. Nói chung, các nghi lễ khác nhau cần có nhạc và múa khác nhau, và không được trộn lẫn, cũng như và những người ở đẳng cấp độ khác nhau thì dùng các loại lễ nhạc mức độ khác nhau. Từ hoàng đế, chư hầu, đại phu đến các học giả, múa nhạc được sử dụng một cách nghiêm ngặt nhất định. Quy mô của ban nhạc, số lượng các nhóm nhảy, các bản nhạc diễn tấy, lời từ cho ca xướng và thậm chí các quy trình biểu diễn đều dựa trên các dịp âm nhạc khác nhau và bản sắc khác nhau của các nhạc sĩ, không được vượt khác.

Miếu không Phật
Có một câu truyền miệng phổ biến ở khu vực Bắc Kinh về Miếu Lịch đại Đế vương: “Có nước không cầu, có bia không tượng, có chuông không trống, có miếu không Phật”. Một số người thường coi miếu và Phật là một. Trên thực tế, có rất nhiều ngôi miếu không có Phật. Người xưa để tế tự các vị thần tự nhiên đã thiết lập các đàn tế, như ở Bắc Kinh Thiên Đàn, Địa Đàn, Nguyệt Đàn, Nhật Đàn, Xã tắc Đàn, v.v. Các đàn tế này thường được đặt ngoài trời. Hầu hết việc cúng tế tổ tiên xưa được thực hiện trong nhà, và những nơi thờ cúng tổ tiên được gọi là đền thờ hoặc miếu thờ.
Đàn cùng với miếu ban đầu được làm khá sơ sài. Sau này, một số nơi việc tế tự các vị thần tự nhiên được đổi lại thành miếu, ví dụ như miếu lớn để thờ Thái Sơn. Thêm vào đó, với sự du nhập của Phật giáo và sự truyền bá Đạo giáo, các công trình tôn giáo thường được gọi tên chung là miếu, chẳng hạn như nhiều ngôi chùa “miếu” Phật giáo và đền thờ Đạo giáo ở trên núi. Theo cách này, cùng một từ “miếu”, nhưng một số là các kiến trúc tôn giáo và một số vẫn được sử dụng cho việc cúng tế. Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh không phải là nơi tu tập của tôn giáo xét theo đối tượng thờ. Họ không phải là các vị thần hay chư Phật. Họ là tổ tiên của thời lịch sử của Trung Quốc, từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh các bậc đế vương cùng với các công thần danh tướng.
Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh là một ngôi đền hoàng gia trong triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Nó được thành lập vào thời Minh Gia Tĩnh thứ mười năm 1531 và có lịch sử hơn 470 năm. Các triều đại nhà Minh và nhà Thanh phụng sự tổ tiên Trung Hoa và các tiên hiền trong lịch sử, thực hiện một loạt nghi lễ trong ngôi đền linh thiêng và trang nghiêm này. Hoạt động nghi lễ này được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu hàng năm theo hệ thống nghi lễ quốc gia. Hoàng đế Minh Gia Tĩnh, Hoàng đế Thanh Khang Hy, Ung Chính và Càn Long đã đích thân đến tế lễ ở Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh. Trong thời gian bình thường, hoàng đế đã chỉ định một đại thần triều đình đến tế lễ.
Do đó, Miếu Lịch đại Đế vương có một địa vị chính trị quan trọng, cũng giống Thái Miếu là nơi các vị hoàng đế nhà Minh và nhà Thanh thờ cúng tổ tiên trực tiếp của mình và Khổng Miếu là nơi thờ phụng Khổng Tử, gọi chung là ba ngôi miếu hoàng gia Minh Thanh ở Bắc Kinh. Để dùng cho việc thờ cúng ở Miếu Lịch đại Đế vương, một ngôi miếu có địa vị lịch sử rất cao, kiến trúc của nó được làm theo những tiêu chuẩn rất cao và phong cách hoàng gia sang trọng, khí phái. Ngày nay, Miếu Lịch đại Đế vương đã chính thức mở cửa, đã được sửa chữa và khôi phục một phần theo đúng hình dáng ban đầu và mô hình của thời Càn Long của nhà Thanh. Kiến trúc này là một “tượng đài của văn hóa nhân loại”, và kiến trúc sư nổi tiếng Lương Tư Thành gọi kiến trúc cổ là “cột mốc của lịch sử”. Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh là một công trình kiến trúc kinh điển “đất này không danh tiếng mà thắng có danh tiếng”. Nó nói với mọi người về thông tin lịch sử và văn hóa phong phú.

Những điều mới biết về Ma Cô Tiên ở Châu Sơn

Ma Cô Tiên trong thần thoại Trung Hoa là một nữ thần trường thọ cùng với Tây Vương Mẫu. Thế nhưng ở Việt Nam lại có di tích và tục thờ Ma Cô Tiên từ lâu đời, gắn liền với một giai đoạn giao thời đặc biệt giữa huyền thoại và lịch sử.
Đại Nam nhất thống chí chép: Núi Trâu Sơn còn gọi là núi Vũ Ninh ở phía Đông huyện Quế Dương 12 dặm, núi non liên tiếp kéo dài, trên núi có Việt Tỉnh (Giếng Việt). Tục truyền đời Hùng Vương, vua nhà Ân sang xâm lăng, đóng binh ở dưới núi. Đổng Thần Vương đánh phá, Ân Vương chết tại núi này, người nơi ấy lập đền thờ, lâu năm đền bỏ hoang. Đến đời Tần có Thôi Lượng sửa sang lại. Ân Vương cảm ơn ấy sai Tiên Ma Cô trao thuốc tiên cho con của Lượng, chữa được bệnh bướu cổ. Ở bên núi có đền Ma Cô Tiên, lại có hai đền thờ, thờ Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương.

IMG_3798
Một tấm bia
? Cô Tiên tự với chữ bị xóa.

Ở Trâu Sơn nay tại làng Châu Cầu (xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh) có ngôi cổ tự mang tên chùa Cô Tiên. Khi xem các bia đá cổ tại chùa thì phát hiện thấy tất cả những chỗ có tên chùa đều bị đục mất 1 chữ trước chữ Cô Tiên. Theo ông Nguyễn Quang Khải, là một nhà nghiên cứu tôn giáo có thâm niên ở Bắc Ninh, thì cách đây hơn 30 năm ông đã từng đọc bia tại chùa này. Khi đó chữ bị đục vẫn còn nhận ra là chữ Ma và như thế chính tên ngôi chùa này là chùa Ma Cô Tiên 麻姑仙.
Sự tích về Ma Cô Tiên được ghi trong Truyện Giếng Việt của Lĩnh Nam chích quái: Tiết Thượng nguyên tháng Giêng, phương dân đi lễ đền, có người cúng một cặp bình pha lê. Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, bỗng bình rơi xuống đất, vỡ sứt một mảnh; người ta bắt Ma Cô lại đòi bồi thường. Ma Cô mặc áo rách, không ai biết là người tiên; họ mới lấy roi đánh. Thôi Vỹ thấy thế thương hại, cởi áo đền hộ nàng; Ma Cô được khỏi đánh.
Chuyện Ma Cô Tiên đánh vỡ bình ở đền được Thôi Vỹ (con của Thôi Lượng) cứu giúp rất giống truyện Từ Thức gặp tiên làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du, cũng trong Bắc Ninh. Từ Thức sau vào hang động gặp được Giáng Tiên, còn Thôi Vỹ rơi xuống giếng rồi gặp Ma Cô Tiên, được Ma Cô Tiên tìm người con gái gả cho Thôi Vỹ. Từ Thức ra về bằng một cỗ xe đi rất nhanh còn Thôi Vỹ được kể là do Dương quan đưa về. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trên núi, nay con dê ấy còn ở sau đền Việt Vương trên núi Trâu.
“Con dê đá” ấy nay đúng là vẫn còn ở Trâu Sơn, nhưng nó không phải là Dê. Nay ở làng Cựu Tự của xã Ngọc Xá còn một tượng đá lớn cao gần bằng người, có hình một con vật kỳ lạ, có chân móng guốc, có sừng cong như sừng dê. Nhưng con vật này trên thân có vảy và có cánh ngắn ở cổ vai. Quan sát kỹ còn nhận ra con vật này có mỏ nhọn như mỏ chim.

IMG_2719Tượng linh vật đá ở làng Cựu Tự.

So sánh với các hình tượng linh vật cổ chợt nhận ra, đây là con Phi Liêm, một dạng kết hợp giữa Rồng và Phượng. Phi Liêm là linh vật phổ biến vào thời Tần Hán ở Trung Quốc. Phi Liêm tượng trưng cho thần gió (Phong Sư) và là tiền thân của các hình tượng Thiên Lộc, Tỳ Hưu, Kỳ Lân sau này.
Truyện Giếng Việt cho biết: Đến đời Nhâm Ngao, Triệu Đà Nam xâm lại đóng quân ở núi này, lại trùng tu miếu mạo, cúng tế hậu hĩnh.
Như thế đền thờ Ân Vương ở Trâu Sơn đã được Triệu Đà cho xây sửa cúng tế hậu hĩnh. Đền Ân Vương cũng là nơi mà Ma Cô Tiên đã gặp Thôi Vỹ. Có thể nhận định rằng hình con Phi Liêm đá ở làng Cựu Tự chính là vết tích còn lại của ngôi đền Ân Vương được truyền thuyết nói tới.
Một sự tích khác được kể là giặc Ân khi tới núi Vũ Ninh (tức Trâu Sơn) đã bắt nhân dân ta phải cho ngựa đá ăn… Đây cũng là liên hệ giữa con “Ngựa đá” ở Trâu Sơn với nơi thờ Ân Vương. Tượng Phi Liêm bằng đá nay còn lại ở làng Cựu Tự là linh vật của đền thờ Ân Vương. Bản thân tên làng Cựu Tự nghĩa là nơi thờ cũ, cũng chỉ ra điều này.
Vậy còn đền thờ Triệu Vũ Đế được nói tới ở Trâu Sơn là ở đâu?

IMG_2533Khu đất trước đây là đình làng Hữu Bằng, với những tấm bia của đình bị vứt bỏ.

Sắc phong năm Minh Mệnh thứ 1 còn sao lưu được của làng Hữu Bằng xã Ngọc Xá cho thông tin: Sắc chỉ Bắc Ninh tỉnh Võ Giang huyện Bằng Xá Thất Gian nhị xã nhĩ nhị xã tòng tiền phụng sự Triệu Vũ Hoàng đế miếu tiết mông ban cấp.
Làng Hữu Bằng cũng là nơi còn lưu được bức tượng Triệu Vũ Đế bằng gỗ lớn bằng người thật cùng với nhiều bia công đức của đình làng. Thông tin từ sắc phong trên cho biết 2 xã Bằng Xá và Thất Gian được ban cấp phụng thờ miếu Triệu Vũ Hoàng Đế. Như thế bức tượng gỗ này và đình làng Hữu Bằng thực chất vốn là của miếu Triệu Vũ Đế được truyền thuyết và sách vở nói tới ở Trâu Sơn.

Tuong Trieu Vu De 2
Tượng Triệu Vũ Đế còn lại ở chùa Hữu Bằng.

Một chứng thực khác cho tục thờ Ma Cô Tiên ở Châu Sơn được bất ngờ tìm thấy tại chùa Đại Bi, xã Thái Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh. Chùa Đại Bi là nơi vị Tam tổ Trúc Lâm Huyền Quang lập nên để tưởng nhớ tới cha mẹ mình và nay còn đền thờ Huyền Quang. Trong sân chùa có mộ của vị Đại Sĩ này với tấm bia Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng khắc năm Tự Đức thứ 18. Tấm bia cho biết Huyền Quang vốn họ Lý, tên Đạo Tái. Bà mẹ họ Lê một lần đi lấy thuốc trên núi Châu Sơn, nghỉ tại chùa Cô Ma Tiên, mơ thấy một con khỉ đội mũ triều thiên mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà. Bà về có thai 12 tháng mới sinh ra con trai…
Tấm bia chùa Đại Bi là bằng chứng trực tiếp về sự tồn tại của ngôi chùa Ma Cô Tiên ở núi Châu Sơn. Câu chuyện con khỉ hầu mặc áo hoàng bào đội mũ triều thiên ở núi Châu Sơn mang đầy ẩn ý. Châu Sơn nơi chùa Ma Cô Tiên như đã biết là khu vực thờ Triệu Vũ Đế, xưa còn là hành cung của vua Triệu khi khởi nghĩa (khi lập đền thờ Ân Vương ở núi Vũ Ninh). Hình tượng khỉ mặc triều phục rõ ràng là chỉ Triệu Vũ Đế. Câu chuyện này muốn nói Tam tổ Huyền Quang là hậu duệ của họ Triệu (thực ra là họ Lý). Thông tin của người dân địa phương ở Châu Sơn cho biết nơi đây cũng là nơi ẩn trú của tôn thất nhà Lý khi nhà Trần lên thay.

IMG_3115
Bia Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng ở chùa Đại Bi.

Vị trí của ngôi chùa/đền Ma Cô Tiên ở núi Trâu/Châu Sơn như thế đã được xác định là chùa Cô Tiên tại làng Châu Cầu. Tuy nhiên, Ma Cô Tiên là ai mà lại có sự tích từ xa xưa và được thờ tự như vậy?
Truyện Giếng Việt kể Ma Cô Tiên dắt một người con gái đem cho Vỹ, bảo đem về làm vợ chồng, lại cho hòn ngọc Long Tụy. Cái tên Châu Cầu 珠球 có nghĩa là viên ngọc, là mối liên hệ với câu chuyện này.
Trong số các tấm bia còn lại ở chùa Cô Tiên có tấm bia Thánh Tổ Cô Tiên Tự Bi mà trên đó còn có thể đọc được một phần bài minh kể về sự tích của vị Thánh Tổ này. Bài minh này bắt đầu bằng việc ca ngợi chùa “? Cô Tiên” là một nơi “cổ tích danh lam” trên vùng đất “long sơn hổ thủy”, đã từng một thời rất thịnh đạt (nhất thời phát đạt). Nơi đây đã từng có một vị đế vương được các nơi xa phải ngưỡng chầu (viễn xứ triều ngưỡng) vì công nghiệp đã dẹp yên nạn binh đao, lưu danh vạn thế. Trong bài minh cũng đề cập đến một nhân vật nữ đã lấy chồng ở phương xa (nữ công viễn giá) và cuối cùng cho biết nơi đây từng là nơi tụ hội của các bậc anh kiệt (nam quán quần anh).
Thông tin từ bài minh trên tấm bia Thánh Tổ Cô Tiên Tự cho thấy Cô Tiên hay Ma Cô Tiên là một nhân vật có thật, liên quan đến một vương triều huy hoàng trong lịch sử và đã được tôn thờ như một vị “Thánh tổ”.

IMG_3810.JPG
Bia Thánh Tổ Cô Tiên Tự Bi Ký ở chùa Châu Cầu.

Làng Châu Cầu trước đây cũng thờ Triệu Vũ Đế làm thành hoàng làng. Hiện Bảo tàng Bắc Ninh còn lưu được bản sao sự tích về Triệu Vũ Đế và hoàng hậu Trình Thị nhưng là bản sao lục thần tích của xã Đường Sâm ở Kiến Xương phủ, Chân Định huyện (tỉnh Thái Bình ngày nay). Đặc biệt là tất cả các sắc phong hiện còn cho thành hoàng làng Châu Cầu lại không phải sắc phong cho Triệu Vũ Đế.
Hiện làng Châu Cầu còn sao lưu được 9 đạo sắc phong, đạo sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) ghi tên Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa. Đạo sắc cuối cùng là năm Duy Tân năm thứ 3 ghi tên thần sau 9 lần gia tặng là Thông huyền Diệu hóa Thanh hư Nhàn uyển Dực bảo Trung hưng Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa chi Thần.

dsc03934.jpg
Bản sao sắc phong Đồng Khánh nhị niên.

Vị thần được thờ ở Châu Cầu có tên là Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa/Phu nhân. Có thể thấy đây cũng chính là vị Ma Cô Tiên thánh tổ, đã xuất giá lấy chồng xa như trong bia chùa Châu Cầu nói đến.
Danh phong Đệ nhất Cửu trùng chỉ một vị trí rất cao của vị thần này vì Cửu trùng là từ dùng chỉ Vua (Vua Bà). Đệ nhất Cửu trùng Phu nhân trong bối cảnh của Châu Cầu thì chỉ có thể chỉ vị Hoàng hậu của Triệu Vũ Đế, tức bà Trình Thị.
Có thể nhận ra: Ma = má = mẫu. Thiên tiên Thánh mẫu do đó tương đương với tên Ma Cô Tiên. Trong đó chữ Cô chỉ người phụ nữ tu hành, cùng hàm ý trong các tên Thiên tiên, Thánh tổ, Thông huyền, Diệu hóa. Hoàng hậu Trình Thị không chỉ có quyền quản Cửu trùng mà còn là một đạo sĩ, thánh tổ của một đạo giáo. Thật bất ngờ khi biết rằng hoàng hậu của Triệu Vũ Đế là người đã từng có thực quyền nhiếp chính, được tôn xưng là Mẫu nghi thiên hạ và hóa thần trong văn hóa Việt Nam và Trung Hoa như một vị tiên đầy quyền năng.

Triều đại Phùng Hưng qua di tích và lễ hội làng Triều Khúc

IMG_3530

Hội xuân năm nay 2019, làng Triều Khúc (Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội) đón nhận bằng văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cho lễ hội của làng. Đây là lễ hội kỷ niệm ngày tức vị thành hoàng làng là Bố Cái đại vương Phùng Hưng. Hội làng Triều Khúc đặc biệt được nhiều người quan tâm bởi lễ hội có điệu múa “Con đĩ đánh bồng”, trong đó các thanh niên trai làng ăn mặc trang phục sặc sỡ, đầu quấn khăn đỏ, mặc áo trắng, vai và hông đeo tua năm sắc, nhảy múa từng cặp khi rước kiệu thánh và tế lễ tại đình.
Câu hỏi thường xuất hiện ở người xem hội là tại sao trai lại đóng giả gái và ăn mặc như vậy? Nguồn gốc của điệu múa tương truyền có từ thời Phùng Hưng khởi nghĩa, nhưng ý nghĩa của nó thì ít người hiểu đúng.
Không khó nhận ra, các tua năm màu mà các trai làng trang sức là hình ảnh lông chim phượng hoàng ngũ sắc, hình ảnh gặp khá nhiều trên các chạm khắc tiên múa trong các đình làng. 2 tầng tua ở vai và hông thể hiện cánh và đuôi của chim phượng. Khăn đội đầu màu đỏ là mào phượng.

IMG_3504
Điệu múa Con đĩ đánh bồng tại sân đình Triều Khúc trong lễ tế.

Hình ảnh người chim đánh trống bồng và nhảy múa từng được so sánh với hình tượng Nhạc công thiên thần Gandharva trong Hindu giáo. Hình tượng này gặp trong các hiện vật thời Lý Trần, mà thường bị gọi thành là người hình chim Khẩn Na La (Kinari). Có nhiều nhận định cho rằng hình tượng này vốn là từ văn hóa Chăm ở phía Nam ảnh hưởng ra ngoài Bắc. Liệu có phải đội quân của Phùng Hưng chính là quân đội người Chăm phương Nam đã tiến ra Bắc đánh thành Tống Bình thời Đường?
Liên hệ giữa nghĩa quân của Phùng Hưng với hình tượng chim Phượng còn thấy trong các câu đối lưu giữ tại đình Triều Khúc. Câu đối ở chính điện tại đình:
武徳滅唐朱鳥天猶橫劍氣
神權破漢白藤海尚沸濤聲
Vũ đức diệt Đường, Chu Điểu thiên do hoành kiếm khí
Thần quyền phá Hán, Bạch Đằng hải thướng phí đào thanh.

Dịch:
Đức võ diệt Đường, hơi kiếm mãi lan trời Chu Tước
Quyền thần phá Hán, tiếng sóng sục sôi cửa Bạch Đằng.

Chu Điểu hay Chu Tước là một trong bốn con vật linh của Tứ linh chỉ phương hướng. Chu Điểu thiên là trời phương Nam.
Câu đối ở 2 cột trụ 2 bên đầu hồi đình Triều Khúc:
帝大羅一統山河衮冕承天傳鳳曆
神南越萬民父母衣冠終古拜龍宫
Đế Đại La nhất thống sơn hà, cổn miện thừa thiên truyền phượng lịch
Thần Nam Việt vạn dân phụ mẫu, y quan chung cổ bái long cung.
Dịch:
Vua Đại La thống nhất núi sông, xiêm miện theo trời truyền lịch phượng
Thần Nam Việt muôn dân cha mẹ, áo mũ xưa nay bái cung rồng.

Trong câu đối này triều đại của Phùng Hưng được ghi là “truyền phượng lịch”, hay triều đại lấy chim Phượng làm biểu tượng. Rất có thể chữ Phượng hay đọc là Phụng cũng chỉ họ Phùng. Ba anh em Phùng Hưng, Phùng Hải, Phùng Dĩnh phất cờ khởi nghĩa được tái hiện bằng hình ảnh những con chim Phụng bay nhẩy trong điệu múa Con đĩ đánh bồng của hội làng Triều Khúc.

IMG_2277.JPG
Chim Phượng trên vì mái đình Triều Khúc.

Đình Triều Khúc theo sự tích là do Phùng An, con của Phùng Hưng lập ra trên gò Lĩnh Hán, là đại bản doanh của Phùng Hưng khi tiến đánh thành Tống Bình. Ban đầu nơi này có tên là Đại Cổ miếu. Vấn đề là tại sao miếu mới lập lại gọi là “Cổ”?
Chữ “Cổ” ở đây thực ra phải là chữ Cả, chỉ thủ lĩnh. Chính xác là Đại Cả miếu, tức là miếu thờ vị vua lớn ban đầu. Chữ Đại Cả này tương đương với từ Bố Cái hay Đại Vương trong tên tôn xưng của Phùng Hưng.
Như trong vế đầu của câu đối trên, Phùng Hưng còn được gọi là “Đế Đại La”. Trong số các hoành phi câu đối còn lưu được khá nhiều ở đình Triều Khúc thì có ít nhất 10 câu nói tới từ Đại La này với nghĩa chỉ Phùng Hưng. Ngay ngoài cột nghi môn, có đôi câu đối:
天瑞應同胞三聖文交海武大羅羽翌丹心扶震日
帝業成中國一家東珥河西傘岳鬱蔥此氣繞乾坤
Thiên thụy ứng đồng bào tam thánh, văn Giao Hải vũ Đại La, vũ dực đan tâm phù chấn nhật
Đế nghiệp thành trung quốc nhất gia, Đông Nhị hà Tây Tản nhạc, úc thông thử khí nhiễu kiền khôn.
Dịch:
Điềm trời ứng cùng bọc ba thánh, văn Giao Hải, võ Đại La, vùng vẫy lòng son giúp ngày đế
Nghiệp vua thành trong nước một nhà, Đông sông Nhị, Tây núi Tản, tốt xanh khí đó quấn đất trời.

Vế đầu câu đối cho biết anh em Phùng Hưng, Phùng Hải, kẻ văn người võ vẫy vùng lập nên đế thống. Ở đây từ “Chấn nhật” là lấy câu trong Kinh Dịch của quẻ Chấn: Đế xuất hồ Chấn.

IMG_1817.JPG
Nhà tiền tế đình Triều Khúc với hoành phi La Thiên Hiển Thánh.

Như thế, trong câu đối này Phùng Hưng có võ công hiển hách và có tên là Đại La. Hoành phi ở nhà tiền tế của đình Triều Khúc chính giữa đề La Thiên hiển thánh. Còn bên trong nội điện nơi đặt tượng Phùng Hưng có câu đối ngắn:
帝越泰磐龍肚鼎
羅天星宿漢山宫
Đế Việt thái bàn Long Đỗ đỉnh
La Thiên tinh túc Hán Sơn cung.
Dịch:
Vững nền vua Việt đỉnh Long Đỗ
Sao giữ trời La cung Hán Sơn.
Long Đỗ đỉnh chỉ việc Phùng Hưng dựng nghiệp ở đất Long Đỗ – Thăng Long. Còn Hán Sơn chỉ gò Lĩnh Hán, đại bản doanh của ngài khi đánh thành Tống Bình, nay là Triều Khúc.

IMG_2375
Nội cung đình Triều Khúc.

Tới đây ta có một phát hiện bất ngờ. Đại La hay La Thiên là danh xưng chỉ tên nước hay tên triều đại của Phùng Hưng. Đất nước do Phùng Hưng khởi dựng có tên là nước La, gọi tôn xưng là Đại La, tương tự như các tên gọi Đại Việt, Đại Đường, … Như thế thì khả năng rất cao, tên La thành của Hà Nội chính là chỉ tên triều đại của Phùng Hưng và có từ lúc này. Trước đó, khu vực này đang là thành Tống Bình. Chỉ sau khởi nghĩa của Phùng Hưng thì mới thấy xuất hiện tên thành Đại La.
Quan trọng hơn, chữ La nghĩa là chỉ phương lửa, phương nóng hay phương Xích đạo, phương Nam ngày nay. Cái “la bàn” với cây kim La Kinh có 2 đầu chỉ 2 hướng La và Kinh hay Nam và Bắc.
Xưa còn có câu ca dao:

Ai ơi chớ lấy kẻ La
Cái tương thì khú, cái cà thì thâm.

Kẻ La chỉ người phương Nam, tức là người Chăm thời đó. Khởi nghĩa Phùng Hưng thực chất bắt đầu từ đất Chăm ở phía Nam nhà Đường, gọi thành Nam Đường, rồi ra Đường Lâm. Đất Đường Lâm của Phùng Hưng là Nam Đàng hay Nam Đàn ở Nghệ An. Sử còn ghi địa danh là Phúc Thọ. Từ đây, vị quan lang phụ mẫu người Chăm theo đạo Hindu đã dấy binh, đánh ra Bắc dẹp nhà Đường, lập nên nước Đại La, tức quốc gia phương Nam. Hoa sử gọi nước này là Nam Chiếu.
Nước đã đánh bại nhà Đường ở phương Nam đầu thời Đường thì chỉ có nước Nam Chiếu, mà thành phần sắc tộc chính là người Thái Mường, xưa gọi là người “Chăm” hay “Chiêm”, cũng là Chim, chỉ người phương Nam (Chu Điểu như trong câu đối đầu đã dẫn).
Theo ghi chép của Hoa sử, nước Nam Chiếu ban đầu do Bì La Các thành lập, rồi truyền cho con là Các La Phượng. Phân tích tên những vị vua đầu của Nam Chiếu cho thấy liên hệ trực tiếp tương ứng với khởi nghĩa của Phùng Hưng.

  • Bì La Các: chữ La như đã biết, chỉ triều đại của Phùng Hưng. Bì Các tương đương với Bố Cái, chỉ vị thủ lĩnh đầu tiên, người khai mở triều đại.
  • Các La Phượng: chữ La như trên, là tên triều đại – Đại La. Các hay Cái là từ chỉ thủ lĩnh. Chữ Phượng chính là hình ảnh con chim Phượng hay Phụng, chỉ họ Phùng. Các La Phượng như thế tương ứng với Phùng An, người con đã nối nghiệp Phùng Hưng.

Nước Nam Chiếu theo sử sách có danh xưng là Đại Lễ. Dễ thấy Đại Lễ tương đương với tên gọi Đại La đã được khám phá là tên gọi triều đại của Phùng Hưng lập ra.
Câu đối khác trong đình Triều Khúc nói tới tên Đại La:
福壽帝開基九道歲星當越炤
大羅神翊運五洲雨雪到南晴
Phúc Thọ đế khai cơ, cửu đạo tuế tinh đương Việt chiếu
Đại La thần dực vận, ngũ châu vũ tuyết đáo Nam tình.
Dịch:
Phúc Thọ vua mở nền, chín đạo tháng năm giữ sáng Việt
Đại La thần bốc vận, năm châu mưa tuyết đến trời Nam.

Hindu giáo trong văn hóa Việt cổ

Ảnh hưởng của Ấn Độ đến văn hóa Việt tưởng chừng bắt đầu sớm nhất là Phật giáo. Chứng tích thường được dẫn một cách “chắc chắn” là chuyện Man Nương và Phật Tứ Pháp dưới thời Sỹ Nhiếp. Tuy nhiên, thực tế Phật giáo không phải là tín ngưỡng sớm nhất đến nước ta từ Ấn Độ.

duong long
Tháp Dương Long ở Tây Sơn, Bình Định, gồm 3 tháp thờ bộ ba vị thần Hindu giáo là Brahma, Visnu và Shiva.

Truyện Dạ Xoa Vương trong Lĩnh Nam chích quái:
Xưa về thời thượng cổ, ngoài nước Âu Lạc của nước Nam Việt có nước Diệu Nghiêm, hiệu là Dạ Xoa Vương, có người gọi là Trường Minh Vương, có người gọi là Thập Đầu Vương. Nước ấy phía Bắc giáp nước Hồ Tôn Tinh. Nước Hồ Tôn Tinh gọi là Thập Xoa Vương, Thái tử gọi là Vy Tư.
Vợ Vy Tư gọi là Bạch Tinh Hậu Nương, dung mạo mỹ lệ, đời ít ai có; Dạ Xoa Vương nghe tiếng mà thích bèn đem dân chúng vây đánh nước Hồ Tôn Tinh, bắt được nàng Bạch Tinh Hậu Nương.
Vy Tư giận mới thắng lĩnh bọn di hậu dẹp núi lấp biển hết thảy hóa ra đất bằng, phá nước Diệu Nghiêm, giết Dạ Xoa Vương, lại đem nàng Tinh Hậu trở về.
Nước Hồ Tôn Tinh là tinh của loài khỉ bây giờ là nước Chiêm Thành vậy.
Truyện này chép rằng nước Nam Việt – Âu Lạc là một nước, song song cùng thời với nước Văn Lang (mà biên giới phía Nam giáp Hồ Tôn). Điều này chứng tỏ Văn Lang và Âu Lạc là tên của cùng một quốc gia thời Hùng Vương mà thôi. An Dương Vương lập nước Âu Lạc cũng là Hùng Vương dựng nước Văn Lang.

da xoa duong long
Hình chạm đá các Dạ Xoa trên tháp Dương Long ở Tây Sơn, Bình Định.

Phía Nam của nước Văn Lang – Âu Lạc có nước Hồ Tôn. Câu chuyện thái tử Vy Tư nhờ khỉ tinh cứu vợ Bạch Tinh Nương dễ thấy là mang bóng dáng của sử thi Ramayana, kể về chuyện giữa chàng Rama và nàng Sita.
Vợ Rama, nàng Sita, tình nguyện theo Rama vào rừng sống ẩn, luyện tập võ nghệ. Quỷ vương Ravana ở đảo Lanka lập mưu cướp nàng Sita đem về làm vợ. Hắn dụ dỗ và ép buộc nàng nhưng nàng đã kịch liệt chống cự. Mất Sita, Rama đau buồn khôn xiết. Chàng quyết tâm cứu bằng được vợ trở về. Trên đường đi, Rama gặp và giúp đỡ vua khỉ Xugriva, sau đó chàng được tướng khỉ Hanuman cùng đoàn quân khỉ giúp. Cuối cùng Rama cũng c­ứu được Sita.
Rama là một hóa thân của thần bảo tồn Visnu, một trong ba vị thần tối cao của Hindu giáo. Có thể tên gọi Trường Minh Vương cùng nghĩa với thần bảo tồn – Visnu.

khuong my
Hình khỉ trên tháp Khương Mỹ (Quảng Nam).

Hình tượng khỉ gặp trên trang trí các tháp Chăm cổ ở Quảng Nam như ở Trà Kiệu hay Khương Mỹ.
Phía Nam của nước Hồ Tôn là nước Dạ Xoa của Thập Đầu Vương. Dạ Xoa là bộ chúng của thần quỷ Kubera. Cũng có chỗ Dạ Xoa đồng nghĩa với quỷ La Sát (Rakshasa). Thủ lĩnh của quỷ La Sát là Ravana có 10 đầu, là kẻ thù của Rama đã bắt cóc nàng Sita trong sử thi Ramayana. Như thế Thập Đầu Vương là hình tượng của chúa quỷ La Sát Ravana. Và Truyện Dạ Xoa Vương hoàn toàn khớp với sử thi Ramayana.

300px-ravanaChúa quỷ La Sát Ravana (ảnh internet).

Truyện Dạ Xoa Vương cho biết Hindu giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đến vùng Trung Bộ và Nam Trung Bộ Việt từ thời Hùng Vương. Còn ở miền Bắc Việt liệu có ảnh hưởng của tôn giáo này không?
Dấu chứng rõ ràng của đạo Hindu – Bà La Môn ở Bắc Việt là Truyện Man Nương. Dưới thời Sỹ Nhiếp, vị đạo sĩ Bà La Môn đến từ Ấn Độ tên là Khâu Đà La đã có quan hệ với một người con gái địa phương là Man Nương, từ đó sinh ra 4 vị thần Tứ Pháp là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Tứ pháp được thờ và cầu mưa trong tín ngưỡng dân gian ở miền Bắc Việt.
Vị thần mưa trong Hindu giáo là thần Indra. Còn gọi là thần Đế Thích. Vị này có màu sắc chủ đạo là màu nâu đỏ, nay còn thấy trong việc thể hiện của tục thờ Tứ pháp dùng màu mận chín cho các tượng thờ.
Thần Indra còn có các tên Hán là Kiều Thi Ca (Kaucika) và Nhân Đà La. Có thể thấy những cái tên này rất gần với tên Khâu Đà La trong Truyện Man Nương.
Một trong những tính chất của thần Indra là tính thác loạn. Tính chất này cũng thể hiện trong quan hệ với Man Nương, sinh ra đứa bé gái. Hoặc truyền thuyết dân gian vùng Thuận Thành kể về thần Thạch Quang ban đêm thường xuyên hiện hình cưỡng hiếp phụ nữ ở trong làng. Hình của Thạch Quang Phật ở chùa Dâu được nhiều người nhận xét rằng đó là một dạng Linga. Mà Linga là biểu tượng của thần Shiva trong Hindu giáo. Đây là bằng chứng rất rõ ràng rằng tục thờ Tứ Pháp ở Bắc Việt chính là đạo Hindu.

p1150359
Tượng Thiên Vương trong tháp Hòa Phong của chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Đặc biệt là hình ảnh Tứ pháp cầu mưa tương ứng với hình tượng hộ pháp Tứ đại Thiên Vương của Hindu giáo.  Trong truyện Phong thần diễn nghĩa, Tứ đại thiên vương được coi là bốn vị thần cai quản mưa thuận gió hóa – “Phong Điều Vũ Thuận” gồm Nam phương Tăng Trưởng Thiên Vương, Đông phương Trì Quốc Thiên Vương, Bắc phương Đa Văn Thiên Vương và Tây phương Quảng Mục Thiên Vương. Như vậy chức năng làm mưa làm gió của các vị thiên vương này đã chuyển vào văn hóa Việt dưới dạng thần Tứ pháp.
Ở chùa Dâu, tượng Tứ đại thiên vương được đặt bên trong tháp Hòa Phong. Tên tháp Hòa Phong cùng một nghĩa với cầu mưa thuận gió hòa.

cuu chua dau
Con “cừu” ở chùa Dâu.

Trước tháp Hòa Phong ở chùa Dâu và lăng Sỹ Nhiếp tại Thuận Thành, Bắc Ninh có tượng con cừu đá. Con cừu đá này tương truyền là của Khâu Đà La.

bo nandi
Bò Nandi trước đền Preah Ko ở Strung Treng (Cambodia).

Thực ra đây là hình ảnh bò thần Nandi, vật cưỡi của thần Shiva trong Hindu giáo. Hình ảnh con vật nằm phục 4 chân là đặc trưng của bò thần Nandi. Ở Ấn Độ có loại bò sừng cong vặn xuống tương tự như tượng ở chùa Dâu. Bản thân thần Indra cũng có hóa thân là con bò đực.

shiva chua dauTượng sáu tay ở chùa Đậu.

Thêm một liên hệ nữa là ở chùa Đậu (Thường Tín) người dân đã tìm thấy một bức tượng lạ, hình dáng như một đạo sĩ đang ngồi thiền, nhưng lại có 6 cánh tay. Đây không phải là một vị bồ tát hay Quan Âm vì vị này đội mũ như đạo sĩ và không ngồi trên tòa sen. Nhiều khả năng bức tượng này thể hiện một vị thần của Hindu giáo, có thể là thần Shiva.

shiva chien dan
Tượng thần Shiva cưỡi trên con bò thần ở tháp Chiên Đàn (Quảng Nam).

Như vậy, Truyện Man Nương dưới thời Sỹ Nhiếp là dấu ấn sâu sắc của Hindu giáo chứ không phải đạo Phật. Rất nhiều hình tượng của Hindu giáo sau này được thấy trong điêu khắc thời Lý Trần như hình chim thần Garuda (Kim Sỉ Điểu), người chim Kinara (Khẩn Na La), nhạc công thiên thần Ganharva (Cát Thàn Bà) hay vũ nữ Apsara chưa chắc đã là ảnh hưởng của văn hóa Chăm, mà có thể chúng đã sớm xuất hiện trong văn hóa Việt từ những năm đầu Công nguyên.

 

 

 

 

Muốn lên Côn Lôn tìm Huyền Phố

Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh ở thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch Tam Giang lộ
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng
Giang vi trì tiệm thạch thành bích
Ốc tự tăng sào tháp đậu đăng
Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố
Đoàn phong vạn lý khoái phi bằng.
Bài thơ rất hào hùng kể về những sự tích xung quanh vùng châu Chân Đăng, thời Lý Trần là khu vực Phú Thọ. Bài thơ đặc biệt ở chỗ dùng rất nhiều những địa danh của cổ sử nên nó như một bức thông điệp ẩn của quá khứ Việt.
Bốn câu đầu của bài thơ đã từng được lý giải bởi tác giả Nguyễn Quang Nhật, nói về những sự kiện của nhà Chu từ việc lập quốc trên vùng đất Phong Châu – Tam Xuyên, rồi dời đô từ Kiểu kinh của Tây Chu về thành Cổ Loa bắt đầu thời Đông Chu cho tới thất bại của Quốc Tây – nước Chu trước cường Tần – Chân Đăng.
Bốn câu thơ tiếp theo xem qua tưởng chỉ là tán tụng, nhà cao sông sâu, nhưng đặc biệt câu thơ thứ bảy: Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố, Muốn lên núi Côn Lôn tìm hỏi Huyền Phố, lại tiếp tục chứa đựng những ẩn ngữ của quá khứ cần được xem xét.
Núi Côn Lôn, ngọn núi huyền thoại nơi thần tiên Trung Hoa ngự trị ở đâu mà Phạm Sư Mạnh đang ở châu Chân Đăng (Phú Thọ) lại nổi hứng muốn lên tận đó để tìm hỏi phố tiên (Huyền Phố)?

Tay Thien.jpgTây Thiên Tam Đảo.

Ngọc phả Hùng Vương khi chép về Kinh Dương Vương mở nước có đoạn:
Vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông, xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy địa hình trùng điệp, núi đẹp sông hay. Vua bèn tìm địa mạch, nhận thấy từ núi Côn Lôn giáng xuống qua cửa ải, tựa như cầu vồng thoát mạch, rồng vút đi xa…
Như vậy núi Côn Lôn ở gần Phú Thọ – Phong Châu phải là ngọn núi Tam Đảo cao ngút. Đây cũng là nơi ngự trị của Tây Thiên Quốc Mẫu mà truyền thuyết Trung Hoa gọi là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu còn có tên là Dao Trì Kim Mẫu, thực ra chính xác phải là Giao Chỉ Kim Mẫu, tức là vị Quốc Mẫu ở vùng Giao Chỉ. Vườn đào tiên của Tây Vương Mẫu không đâu xa mà là trên núi Tam Đảo.
Ở Tam Đảo còn lưu dấu vết sự tích về Tây Vương Mẫu và núi Côn Lôn. 3 hòn đảo trong biển mây phủ của Tam Đảo theo địa chí cổ đó là Phù Nghì cao 1.250m; Thiên Thị (Kim Thiên) cao 1.585m; Thạch Bàn cao 1.585m.
Trong câu thơ của Phạm Sư Mạnh có nói trên núi Côn Lôn có khu Huyền Phố, nơi thần tiên tụ hội. Còn trên núi Tam Đảo có đỉnh Thiên Thị, nghĩa là Chợ Trời vì nơi đây đỉnh núi bằng phẳng với nhiều viên đá lô nhô như những vị tiên đang đi hội chợ. Đỉnh này cũng gọi là Kim Thiên, tức là “giữa trời”, chính nơi Thiên phủ vì Kim là màu của trung tâm trong Ngũ hành. Sự trùng khớp về địa danh Huyền Phố và Thiên Thị thêm một lần nữa khẳng định núi Tam Đảo chính là núi Côn Lôn trong truyền thuyết thần tiên Trung Hoa.

Thach Ban.jpgThạch Bàn trên đỉnh Tây Thiên (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn có tên gọi là do trên đỉnh có một tảng đá lớn, rộng bằng phẳng, được gọi là bàn cờ tiên. Tuy nhiên thực chất tảng đá này là một di tích cự thạch (dolmen) của thời kỳ tiền sử. Những cự thạch có hình dạng tương tự, là những phiến đá phẳng, hình nhọn đầu, được xếp trên những chân trụ đá (thường là 3 chân) cũng gặp ở khu vực quanh núi Tam Đảo như ở Đại Đình (Tam Đảo, Vĩnh Phú).
Cự thạch được cho là nơi người xưa dùng để cúng tế, hay nói cách khác đó là những đàn tế cổ.

Cu thach Dai Dinh.jpgCự thạch ở Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phú (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn cũng là nơi từng có ngôi chùa mang tên Đồng Cổ. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn đã cho biết: “Sườn núi có chùa Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông tốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi. Trên đỉnh núi cao lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày“.
Đồng Cổ là trống đồng. Ý nghĩa của việc dùng trống đồng đã từng được khám phá qua quẻ Dự trong Kinh Dịch. Quẻ Dự có lời tượng là: Lôi xuất địa phấn Dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.
Dịch giải: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đao đức, long trọng dân lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Sấm nổ trên mặt đất là chỉ cách đánh trống đồng. Lời tượng này cho biết trống đồng được dùng làm nhạc khí khi tiến hành tế lễ thượng đế và tổ tiên.
Phối hợp các thông tin đàn tế cự thạch và đền Đồng Cổ trên đỉnh Thạch Bàn ta chợt nhận ra đây chính là đàn tế trời của thời Hùng Vương. Trên đỉnh núi cao, nơi xuất xứ của bà mẹ trời Tây Thiên Quốc Mẫu mà đặt đàn tế bằng đá và dùng trống đồng để tế thì chỉ có thể là tế trời, xưa gọi là tế Giao.
Đàn tế của thời kỳ này có thể liên quan đến sự tích của Hùng Chiêu Vương Lang Liêu. Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh vương triều Hùng chép như sau:
… Vua bèn khởi hành xa giá đi xem phong cảnh. Xe loan tới nơi, vua thấy núi non như gấm vóc, lâu đài thiên tầm trùng điệp, khe biếc ngòi xanh, sóng nước nhè nhẹ nối nhau, cảnh trí phong quang, có hoa ngào ngạt, đầu núi lô nhô, có bạch long giáng khí, xưa lập chùa gọi là Tây Thiên.
Vua cho dựng đàn, rồi chỉnh biện lễ chay, sau quần thần dâng lễ đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở trường công đức ở chùa, sớm đảo tối cầu, qua bảy ngày bảy đêm, nam nữ bốn phương tập hợp cùng vui vẻ đến đây chiêm ngưỡng, chim trong rừng nghe đến kinh, cá dưới nước đến nghe giảng kệ.
Công đức viên thành. Vua ngự trên suối Thạch Bàn để xem cảnh tiên, bỗng thấy điện vũ huy hoàng, khói mây óng ánh, mây rồng bốn phía tựa như lâu đài Tây Trúc mênh mang, một bầu sơn thủy, bèn mật khấn với trời, sai bách quan văn võ đứng chầu trang nghiêm. Vua yết lễ, khấn rằng:
– Xin trời giáng thần tiên để được gặp gỡ, thực vui sướng ba đời!…
Như vậy có thể thấy rõ đỉnh Thạch Bàn là đàn tế trời đất và cầu tiên dưới thời Hùng Chiêu Vương – Lang Liêu. Truyền thuyết Trung Hoa chép sự kiện này trong chuyện Chu Mục Vương cưỡi cỗ xe bát mã lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu. Chiêu cũng là Chu. Hùng Chiêu Vương chỉ một vị vua nhà Chu.
Thạch Bàn như vậy là một đàn tế trời cầu tiên của nhà Chu nước Văn Lang. Còn Tam Đảo là ngọn Côn Lôn nơi thần tiên Thiên phủ ngự trị.