Dịch theo bản ngọc phả chép tay hiện lưu tại đình Hội xã Tuy Lộc, Cẩm Khê, Phú Thọ. Những phần in nghiêng là những ý khác so với bản dịch trong Lý lịch di tích của đình Hội.
Ngọc phả triều Hùng Do Thượng thư bộ Lễ triều Lê, Quản giám Tri điện vâng sao ngọc bảo cổ truyền
Hoàng đế Bệ hạ phụng ban sắc văn thần hiệu như sau:
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Tuấn triết Hồng huân Anh linh Hiển ứng Hùng Nghị Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Phổ thông Quảng tế Uy vũ Thần công Cao Sơn Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh Thành hoàng Thánh trí Thần tài Nguy đức Phổ huệ Cao Minh Đại vương Thượng đẳng thần.
Sắc phong Đương cảnh Thành hoàng Dương võ Trợ quốc Ý đức Thần uy Hổ Lang Đại vương.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Yểu điệu Phong tư Nương ả Diễn Kỳ Công chúa.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Vĩ tích Phong công Lý Lý Cửa Đường Đại vương.
Sắc phong Đương cảnh thành hoàng Từ huệ Trinh thục Đoan trang Ý hành Nương nương Nhược Ứng Công chúa tôn thần.
Cho phép trang Áo Lộc, huyện Hoa Khê, quận Lâm Thao, trấn Sơn Tây phụng thờ để giúp bảo vệ lê dân. Vâng thay!
Xưa trời Nam mở vận, vạch ngang núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước phương Bắc ban đầu được phong thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu mà chia ranh giới. Từ thủa Đế Minh là cháu ba đời của vua Viêm Đế đi tuần thú ở Ngũ Lĩnh phương Nam, gặp thần được nữ Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục hơn hẳn người anh Đế Nghi nên Đế Minh muốn truyền lại ngôi báu. Lộc Tục cố chối từ nhường cho anh. Do vậy Đế Minh lập Đế Nghi làm Thái tử trị vì phương Bắc, còn phong cho Lộc Tục ở phương Nam, hiệu là Hồng Bàng thị, tên Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương vâng thừa mệnh vua cha đem oai trời đến vùng núi Nam Miên. Thấy núi chạy nhấp nhô, nước chảy quanh co, bèn lập đô ấp để định cho bốn phương đến triều cống. Một hôm nhân nhàn rỗi vua đi tuần thu. Bất chợt thuyền rồng chạy thẳng đến hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền trên mặt nước mà ngắm cảnh. Chợt thấy một người con gái mỏng eo tuyệt sắc, từ dưới đáy nước xuất hiện, dung nhan tuyệt đẹp. Vua sai chèo thuyền đến hỏi thăm. Đáp rằng:
Thiếp tên là Thần Long, vốn là con gái của Động Đình Quân.
Vua thích thú bèn dẫn vào trong thuyền. Sau đó hỏi lấy về, lập Thần Long làm chính chủ hậu cung. Thần Long sinh Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm. Long Quân lấy con gái vua Động Đình Đế Lai tên là Âu Cơ, gặp ứng điềm rồng, sinh một bầu trăm trứng vào ngày 25 tháng Mười hai. Có Tứ đại Thiên vương giáng xuống bảo vệ mà nở ra trăm trai. Tám tướng nhà trời phù giúp đến khi biết cười nói thì tám tướng bay về trời.
Đế cầu đảo trời đất thì có một người trời xưng là thần Tây thành, sinh vào thời Hoàng Đế, có một cuốn sách trời có thể bói mà biết được trời đất, hô danh chúng tiên, nên đặt được cho trăm tên, trăm hiệu, trăm họ, trăm vương vậy, mà phân thứ tự. Trăm trai chầu nhận tên gọi và thứ bậc. Anh em đều vui mừng, theo như vậy mà lưu truyền. Người con trưởng nối ngôi vua tên là Hùng Lân, hiệu là Hiền, gọi là Thượng thánh Cao minh Nguyên triều Hoàng đế.
Long Quân truyền ngôi cho Thái tử xong thì nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là nòi tiên. Nước lửa tương khắc, khó mà hợp cùng nhau.
Bèn phân 50 người con theo mệnh cha. 50 người con theo về mệnh mẹ, chia nhau các đầu núi góc biển, đều thuộc mệnh theo Hiền Vương. Những người theo cha về biển gọi là Thủy thượng linh thần. Tuy cùng chia biệt, nhưng cùng ở một thời. Khi nghe có việc thì lập tức đến tương trợ. Do đó triều Hùng trị nước được hơn 2650 năm, thật là lâu dài vậy.
Đến đời Duệ Vương, sự yên bình kể đã lâu, nước chảy đã đầy, nên truyền quốc cho Thục Vương. Thục Vương vốn là Bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của Hùng Vương. Tuy nhiên, truyền rằng khi cùng chung lửa với trời Nam thì sau đó Thục lập cột đá ở trên núi Nghĩa Lĩnh, chỉ trời mà thề rằng:
Trời đất không rời, mãi còn dòng dõi Hùng Vương. Nước Nam trường tồn hệ mạch con cháu.
Kể rằng:
Hùng Nghị Vương là Thái tử của Hùng Hy Vương. Mẹ là Dương Thị An sinh Nghị Vương vào ngày sinh ngày 12 tháng Ba. Lúc đó ngày đêm đang tranh tối tranh sáng thì sinh ra Hoàng đế. Vua lên ngôi, đường đường nối tiếp 17 nhành họ Hùng, bỏ cung cất giáp, không dùng quân binh để an dưỡng thiên hạ. Nhân dân theo sự giáo huấn sáng suốt. Được năm mươi năm bỗng nghe thư từ biên giới gửi về báo gấp. Chủ bộ phụ đạo Ai Lao cầu viện vì tướng Thục đến xâm chiếm. Nghị Vương bèn tuyển 8 vạn tinh binh, xuất quân sang Ai Lao để cứu Bộ chủ. Lạc tướng Hổ Lang hầu cùng Uy Lang, Huệ Lang và Mị nương nương Diễn Kỳ cùng theo giá đi chinh phạt Đông Bắc. Thuyền rồng đi thẳng đến Hoa Khê thì thấy có một người tên Lý, tự đón quỳ tâu ở bên đường, xin được theo quân đi lập công. Lại thấy có một người con gái xinh đẹp từ mặt nước nổi lên. Vương hỏi thì đáp rằng:
Thiếp tên là Công chúa Từ Huệ, là con của Long Vương, xếp hàng thứ 5.
Ông Lý họ Lý đón vào trong trang Áo Lộc. Vua trú quân ở trong trang. Các Quan lang, Lạc tướng vâng mệnh đóng quân ở các nơi trong trang động. Người đời sau nhân thấy linh thiêng nên lập thành đền thờ (cộng có 5 miếu). Nghị Vương cùng với các lang tướng điều quân đánh Thục chúa. Quân Thục nghe tin bèn viết thư gửi tới Nghị Vương mà tạ rằng:
Thần đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống lại cỗ xe vạn thặng.
Thục chúa lui quân, không dám dòm ngó Ai Lao nữa. Nghị Vương dẫn quan về thành đô Phong Châu, hưởng nước được hơn trăm năm thì mất (tức ngày mồng 7tháng Ba). Chôn cất ở núi Quy Bối (nay là chùa Hoa Long). Thái tử Duệ Vương lên ngôi, là đời Hùng thứ 18.
Hùng Cao Sơn là quan, con trai thứ 6 của Nghị Vương. Mẫu là Phạm Thị Doanh sinh Cao Sơn vào ngày mồng 10 tháng Giêng, tên húy là Uy Lang, gọi hiệu là Cao Sơn (nhân việc lên núi Hùng Lĩnh thấy có mây ngũ sắc về mang thai nên đặt như vậy).
Ba năm sau vào ngày mồng 7 tháng Giêng lại sinh một con trai, có thần thái đẹp đẽ, nên đặt tên là Huệ Lang, gọi hiệu là Cao Minh (nhân vào giờ Ngọ ban ngày nên đặt hiệu như vậy).
Hai chàng đến khi trưởng thành, ngày ngày thường ở yên trong lầu Nam mà học xem sách, không cần người chỉ bảo, lại thạo lược thao, hùng tài vượt đời. Khi theo vua cha Nghị Vương đi dẹp giặc Thục đến vùng trên của Hoa Khê, đóng quân tại đồn Áo Lộc. Đến khi xe vua trở về đô thành, lại trừ dẹp được yêu quái, hổ sói, quỷ mị. Dẹp xong mãn nguyện nên đi chơi khắp nơi ở 13 châu. Đâu đâu cũng tới. Cùng ngắm cảnh khắp các núi khe. Sau hóa (Uy Lang hóa vào ngày 12 tháng Giêng, Huệ Lang hóa ngày 15 tháng Giêng) ở trang Lãng Ngọc núi Tam Điệp (nay còn đền ở đó). Hai chàng được 75 trang động phụng thờ.
Hổ Lang Đại vương vốn là người Tam Đới, Phong Châu (tức nay là trang Cẩm Đái). Cha tên Hồ Công Năng, mẹ là Trần Phương Lan. Vào đêm mồng 10 tháng Hai nằm mơ thấy rằng: Năm tới sẽ sinh con, lại được đại quý, là sao sáng Võ Đức giáng sinh để giúp nước trừ tàn, giúp dân dẹp nạn. Dứt lời, Trần Thị bỗng tỉnh lại biết là điềm ứng tốt lành, bèn để nghiệm xem thế nào. Đến sau 3 tháng thì thấy đúng là có mang thai. Đến ngày 16 tháng Mười hai năm Mậu Tuất tối đó thấy ánh sáng chiếu đầy nhà, trở dạ mà sinh ra một người con trai. Mọi người đều vui mừng. Đến khi trưởng thành thì tài kiêm văn võ, phẩm cách kỳ lạ, mặttựa da sắt, mắt sáng như điện, bước đi như rồng hổ, thực là một người con trai kỳ lạ. Nhân đó đặt tên là Võ Tuấn. Duệ Vương sau ban húy là Hổ Lang tướng, hóa vào ngày 20 tháng Ba. Nguyên theo Nghị Vương dẹp giặc Thục, đóng quân ở trang Áo Lộc. Sau được đặc biệt phong ở đó, ban hiệu là Hổ Lang hầu, có 27 đền thờ phụng. Miếu quay hướng Càn Tốn, rất là đẹp đẽ vậy.
Công chúa là con gái thứ 8 của Nghị Vương. Mẹ là Phạm Thị Doanh. Vào ngày mồng 8 tháng Mười một sinh ở lầu Tây, tên gọi là Công mị nương Diễn Kỳ. Hóa ngày 13 tháng Mười một. Đến ngày 23 thì tế chôn cất ở ấp Thủy An. Nguyên theo Nghị Vương đến Áo Lộc, nhân xem sông núi thấy có một địa thế là đất nơi vạn đời thành hoàng không đổi, nên có khấn người anh nếu có linh thiêng thì hôm sau đến giúp cho được cùng hưởng lộc. Khấn xong Công chúa quay trở về đến bên bờ sông. Bỗng nhiên mưa to gió lớn nổi lên, rồi Công chúa đã hóa.
Cửa Đường Đại vương là người trên trang Áo Lộc trong triều Hùng Nghị Vương. Cha họ Dương kết bạn với Mai Huyền Tiêm. Khi Đế phạt Huyền Tiêm thì ông đổi sang họ Lý. Ngày 15 tháng Mười hai sinh một người con trai, sắc vẻ cùng phong tư chỉnh tề, có tài ba lược sáu thao, văn võ cùng tài. Đến khi lớn thì chiêu quân ý muốn giúp nước. Nhân Nghị Vương đi qua trang, đón Đế đóng quân, theo quân mà lập công. Sau theo nghiệp võ, làm quan tới chức Hữu quân Lạc tướng. Đến khi mất người dân trong làng xem trọng công lao đó với quốc gia, có đức tốt lành với nhân dân mà lập đền để thờ. Rất là linh ứng. Tên húy là Lý. Gặp Nghị Vương ở trên đường nên nhân đó được ban tên là Cửa Đường. Hóa vào ngày 18 tháng Mười một. Đến ngày mồng 8 tháng Mười hai thì chôn cất. Miếu ở bên hướng Cấn Khôn có giếng nước là dấu tích.
Nhược Ứng là con của Long Vương, lên bờ vào ngày mồng 8 tháng Giêng gặp Nghị Vương (lấy làm ngày sinh), xin theo quân lập công. Đến khi dẹp được giặc thì lên phía ngược dòng nước mà hóa (tức ngày 18 tháng Ba). Nghị Vương hỏi thì nói rằng:
Tên là Từ Huệ, con của Long Vương.
Cho nên đặt tên thụy là Công chúa Nhược Ứng.
Niên hiệu Hồng Đức năm thứ nhất tặng sắc cho 7 vị, còn những người chưa được gia phong thì phong thêm một bậc. Niên hiệu Cảnh Hưng từ đầu đến năm thứ 42 tặng mỗi vị hai chữ, sắc cho phụng thờ theo như trước, làm rạng sự tích mà làm lễ chay các loại. Công chúa thì dùng nước sạch. Chúa thì dùng rót một phong rượu trắng. Còn lại thì dùng thịt trâu làm cỗ. Đấu vật. Diễn rối ôi lỗi. Nghênh đón voi ngựa, đi đầu đặt ngũ quả, mía, chuối xanh, cỗ bánh.
Lại cung thỉnh: Đức vua Hao Khắc Đại vương, Đức vua Hao Sóc Đại vương, Đức vua Lãng Lương Đại vương, Đức vua Vực Chỉ Đại vương, Đức vua Ngã Tư Đại vương, Đức vua Quỳnh Hoa Công chủ, Đức vua Quế Hoa công chủ, Đức vua Bạch Hoa Công chủ, Cùng hai bên Hai bộ Tiên cung Nương nương, Mười ba Vương tử, Tám vị Long minh vương.
Bộ Lễ triều Lê Thượng thư Quản giám tri điện vâng sao ngọc phả báu cổ truyền
Hoàng đế bệ hạ khâm phung sắc chỉ và thần hiệu là:
Đệ nhất Tuấn triết Hồng huân tôn thần Thượng đẳng
Đệ nhị Linh ứng tôn thần
Đệ tam Anh linh tôn thần.
Sắc phong ba vị đại vương
Hùng chấn linh thanh, Tôn nghiêm chính thuận. Anh dục sơn xuyên, Tú chung hà hải. Cao phối thiên, hậu phối địa, bảo quốc hộ dân, Hách quyết thanh, trạc quyết linh, truyền phù quốc kỳ. Nguy đức tuấn liệt, Phổ huệ thuỳ hưu.
Vua kế ngôi truy phong, lễ có tăng phẩm trật, tuyên tặng vị thứ nhất là Thượng đẳng, vị thứ hai và thứ ba là Tôn thần Trung đẳng. Cho phép trang Ha Xá (xã Mỹ Giang cũ) tổng Vĩnh Lại, huyện Đa Cẩm, quận Thượng Hồng, trấn Dương Tuyền, phụ lão vâng lĩnh sắc văn ba vị, rước về phụng thờ, để cùng giúp bảo hộ lê dân. Vâng thay!
Xưa Phiên Ngung là đất danh hương. Đất bằng, sông đẹp. Trong lại có Lục Giả là tướng Lạc hầu. Đương thời Hán Quang Vũ lấy người thiếp cung tần thứ ba, hết mực sủng ái. Bà chuyên tâm tạo phúc, tích thiện, làm điều nhân, sớm tối hương khói thờ phụng Thượng đế, ba sinh hương lửa một cảnh phong lưu dư giả, giàu có sao.
Vào một ngày tháng Giêng năm Quý Hợi bà cung tần thứ ba Lê Thị Lang nửa đêm mộng thấy ánh sáng đỏ chiếu đầy nhà, chốc lát có một con rắn hoa trắng cuốn khúc bò tới, hóa thành ba đóa hoa sen trắng. Bà họ Lê giơ tay lấy được ba đóa hoa sen trắng đó. Thế là bà có thai. Mang thai được 13 tháng, đến ngày 13 tháng Hai năm Giáp Tý thì trở dạ. Ngày 15 thì đến kỳ sinh một người con mặt đẹp như hoa đào, sắc sáng rọi nước hồ. Người người đều mừng là bậc danh tướng, danh thần, không phải người thường ở nhân gian có được.
Đến một ngày tháng Giêng năm Đinh Mão, bà Lê Lang lại mộng thấy một cây đào có một cành, nở hoa kết thành hai quả. Thế rồi có mang thai. Mang thai một năm rưỡi đến ngày 12 tháng Chín năm Mậu Thìn thì trở dạ. Ngày 15 thì đến kỳ sinh. Khi sinh hương thơm bay ngào ngạt, diện mạo khác thường, hình dung quý phái. Cha mẹ thấy việc sinh người con thứ nhất mặt đẹp như hoa đào, ôn lương chính trực nên đặt tên là Tuấn Lương. Người con thứ hai và thứ ba sinh đôi cùng bọc nở ra hai anh em, rạng rỡ vạn đời như thánh thần nên đặt tên là Anh Dung và Lang Hà. Tài năng như sông núi, tư chất thông minh, hiểu biết hơn người. Ở yên một phòng mà tự học đọc xem sách, không cần người chỉ dạy. Lại thạo đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi trưởng thành, văn võ toàn tài.
Khi ấy Hán Quang Vũ đến nước Văn Lang chiêu tập quân sĩ được 13 vạn, phao lên là 30 vạn quân. Đem quân đến nước Văn Lang mưu đồ chiếm nước. Chia thành hai lộ thủy bộ mà đi. Đến Loa thành chia nhau đánh Đông dẹp Tây, bày binh bố trận để đánh với quân Thục. Thục Vương có Rùa vàng tháo móng để làm lẫy nỏ thần, bắn trong một phát diệt được hai ba trăm người, nên quân Triệu đánh không lại, phải về giữ ở quận Vũ Ninh. Lại chọn ngày lành dẫn quân đến đền Phù Đổng ở Tiên Du, lập đàn chay thành tâm bái yết trời đất và bách linh các nơi. Xuất giáng một ông lão cao hơn 8 thước, râu tóc bạc trắng, xuống ngồi ở nơi đàn tế, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy vậy lấy làm lạ, vào tâu với Triệu Vương. Vương thân đón ông lão vào trong đàn, rồi hỏi:
Nay ta muốn dẹp Thục Vương chiếm nước, trừ tàn. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.
Ông lão tính toán bấm quẻ hồi lâu rồi nói với Triệu Vương rằng:
Như nay chiếm nước phải dùng nhân tài, phong tước cho Tuấn Lương cùng với hai người em. Thiên hạ này sẽ được yên trị. Tự nhiên nghiệp đế sẽ hưng vậy.
Lời nói vừa dứt thì bay lên không mà biến mất. Vương biết là lời dạy của thiên thần, bèn lệnh cho sứ giả đi chiêu tập ba người anh em, quả là nhân tài võ nghệ, đại lượng khoan dung. Triệu Vương triệu tập trăm quan, vào ngày lành lập đàn phong tước, bái Tuấn Lương là Tổng thống, bái Anh Dung là Lạc hầu, bái Lang Hà là Thứ sử. Lại ban cho 5.000 binh mã thành một đạo đi hướng Đông.
Triệu Vương thầm bày mưu kế, cử trăm quan cầu hôn với con gái của Thục Vương. Triệu Vương có con trai Trọng Thủy cầu hôn với Ngốc Nương (tức Mỵ Châu). Vợ chồng hết mực tin tưởng, yêu thương nhau. Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng:
Vua ta có vật gì là chân quý?
Mỵ Châu nói:
Vua cha có lẫy nỏ, chính thực là Rùa vàng đã tháo móng để làm lẫy, có thể địch được trăm ngàn người.
Trọng Thủy ngầm lấy một lẫy nỏ khác mà đổi đi, rồi nói với vợ rằng:
Có chiếc gối gấm lông ngỗng này hãy mang theo người. Đến đâu thì rải nơi ngã rẽ để biết dấu đường vậy.
Trọng Thủy trở về, báo với Triệu Vương. Vương lập tức gọi Tuấn Lương đến bàn bạc, định ngày phát binh tới đánh. Triệu Vương dẫn một đạo quân, giao cho quan Tuấn Lương cùng hai ông em dẫn 5.000 quân, lập tức đến thành Phong Khê bày trận đánh Thục Vương. Vương thấy nguy bèn lấy nỏ thì đã thấy mất lẫy. Thục thua to. Vương cưỡi ngựa ngồi ở trước, Mỵ Nương ngồi đằng sau. Chạy tới cửa sông Nghệ Hoan thì gọi:
Rùa vàng cứu ta.
Rùa nổi lên, hô rằng:
Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đó, Hãy giết đi.
Rùa đón Thục chúa xuống thủy cung. Quân sĩ thua to. Triệu Vương thắng lớn, cùng với quan Tuấn Lương dẫn quân về thành, tụ tập quân sĩ đãi yến ăn mừng.
Vào giờ tốt ngày mùng 10 tháng Giêng năm Đinh Hợi, Quang Vũ lên ngôi, lập đô ở Phiên Ngung, phong tước thăng cấp cho quan Tuấn Lương, cai quản thiên hạ thái bình, nhân dân no đủ. Bèn phân quan chức, định ra quốc luật.
Ngày 12 tháng Mười một năm Ất Mùi, Tuấn Lương bị bệnh, thân thể mệt mỏi, dựa vào lan can mà mơ màng thiếp đi. Ngày 14 quan Anh Dung và quan Lang Hà cũng bị cảm sốt. Tuấn Lương trong cơn mê thấy một người, mình mặc áo xanh, tay cầm cờ vàng, tự xưng là thiên sứ, quỳ trước sân mà nói rằng:
Thượng đế có sắc sai gọi Tuấn Lương cùng với hai em về chầu Thượng đế.
Tuấn Lương tỉnh ra, dặn lại. Ngày 15, 16 không bệnh mà mất. Quan viên cùng bệ hạ trong triều đều thương xót. Đến ngày 15 tháng Tám, cùng hội nghị xét tên những trung thần có công lớn với nước, giao cho bộ lễ viết sắc thưởng công cho Tuấn Lương ở 72 đền thờ, cho tiền lập miếu, cùng với cấp cho phụng thờ, giao cho Quản giám đem sắc phong thần đến các trang sách chỗ các miếu đình. Khi đi đến huyện Đa Cẩm, dừng ở đó, tề tựu trang Ha Xá, tổng Vĩnh Lại trao cho phụ lão sắc văn ba vị đón về phụng thờ. Phụ lão cùng nhau nghênh thỉnh danh sư đến trang này, xem thiên văn địa lý, thấy đúng là trang Ha Xá có núi bằng nước đẹp, là đất có thế quý, xây một tòa dựa Càn hướng Tốn, dựa Mão hướng Dậu. Tòa nhà này có ấn đường thẳng giữa tạo án, hai sông hợp dải, phía sau có rồng vòng ôm ấp, lại có dòng nước chầu đến, Huyền vũ quay quanh, đất đẹp thế tinh phong, phát nhiều đinh, giàu có, sau này có giai nhân đẹp đã, ngoại giao anh hoa.
Trang Ha Xá phụng thờ muôn năm hương lửa thêm sáng, trải các đời linh thiêng như còn đó. Khi sinh có võ công rạng rỡ anh linh giúp vận nước. Khi hóa tất được trang sách thờ tự tôn nghiêm, bảo hộ cho sinh dân. Trang này được nhờ ơn đức lớn lao vậy.
Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.
Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ nhất ngày lành tháng giữa thu, Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại tuân theo bản chính của triều trước vâng sao.
Triều Lê bộ Lễ bộ Thượng thư tri điện bách thần vâng sao tích báu cổ truyền
Hoàng đế bệ hạ ban sắc chỉ… (phần sắc chỉ không dịch)
Năm Giáp Thìn ngày 15 tháng Giêng Đệ nhị tiên cung tên là Tiên Dung Châu xuất thần, tất là tiên nhân giáng sinh nên nhân đó gọi là Giáng Tiên. Đến khi trưởng thành da trắng mịn màng, trong sáng như gương soi, mày loan như mặt trăng mới mọc, mắt trong như sóng thu. Người xưa nói như hoa như ngọc, đủ đầy mà hình dung đẹp đẽ. Thường ở yên trong nhà tự đọc sách, không cần người chỉ bảo. Lại thành thạo đàn sáo, tinh thông thơ sách, trộm kỹ diệu của Tương Phi, xem tài cao của Lộng Ngọc. Khi nhàn nhã thường đi chơi ở Thăng Long, đất Giao Chỉ. Vì thế mà gặp vua Hùng đời thứ tám là Huy Vương. Vua đem sính lễ kết làm chính thất cung phi. Được hai năm thì có thai. Mang thai tháng 12 thì đến kì sinh nở. Năm Giáp Ngọ ngày mùng 10 tháng Sáu đi tắm ở sông Nhuệ chỗ ngã ba sông. Tắm đến ngày 12 thì sinh được một bầu năm quý tử. Nên có lời ca ngợi rằng: Một bầu sinh xuất năm anh em Vạn đời rạng rỡ một thần thánh. Tên tuổi bao trùm, nghìn năm ghi trong tín sử, vạn đời tiếng thiêng rờ rỡ, thông minh mưu rộng, công nhiều tích lớn, đuổi di dẹp giặc, thế nước bền lâu, tỏ tường trong sách sử.
Lại nói người đất Phong Châu nước Việt Thường mà đúc nên khí thánh. Vào năm Giáp Ngọ ngày mùng 10 tháng Sáu tắm gội 12 ngày đến kỳ mà sinh. Hôm đó hương thơm bay ngào ngạt, người người vui mừng. Khi trưởng thành 5 anh em đều nhiều lần lập công lớn, dẹp giặc đem lại yên bình cho đất nước. Triều đình vỗ về, sắc phong quan lớn. Sau khi hóa vua lại ban cho chỉ tặng là Thượng đẳng thần. Cả năm vị quý tử anh em đến năm Thân ngày 12 tháng Mười một thì cùng hóa, được ban sắc phong là Thủy thần. Nhà vua hội nghị trong triều, cử Giám quốc sư đi phát sắc phong thần cho 17 nơi lập đền phụng thờ.
Giám quốc sư đem sắc phong đi đến trang trại Thịnh Phúc, quận Quảng Nguyên, báo với các phụ lão, cho 30 quan tiền để xây miếu đền, dựa Càn hướng Tốn. Trước có ba sông hợp dòng, sau có sông núi ôm ấp, giữa nôi lên 5 gò đất, đúng thế đất người nhiều vật giàu, tất sẽ phát anh tài. Giao cho trang Thịnh Phúc phụng thờ đền thiêng, đời đời tiếp nối. Khi còn sống có võ công vẻ vang, khi hóa thiêng có tiếng thiêng hiển hách, âm phù cho vận nước. Sau khi hóa trang dân địa phương tất tôn nghiêm mà thờ cúng, giữ nước giúp dân, có thờ nên có ban ơn vậy. Tốt thay. Lành thay… (phần lệ thờ và sắc mệnh không dịch)
Đền linh thiêng thờ Quảng Xung Linh Tế Đại vương ở xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An. Đền thượng đẳng thờ Quảng Bác Uyên Dung Đại vương ở xã Thịnh Đức, huyện Phú Xuyên. Đền thượng đẳng thờ Quảng Xuyên Linh Quang Đại vương ở xã Quảng Tái, huyện Sơn Minh. Đền thượng đẳng thờ Quảng Tế Linh Ứng Đại vương ở xã Bài Nhiễm, huyện Duy Tiên. Đền thượng đẳng thờ Quảng Hoá Cư Sĩ Đại vương ở xã Vĩnh Trung, huyện Thanh Trì.
Thần tích vạn Liên Ngạc, xã Liên Ngạc, tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông
Danh tiếng Hải Độc Long Vương lưu truyền từ xưa, mà dấu tích thiêng rạng tỏ từ triều Trần. Sự cũ ở phường Hoa Ngạc, nguyên ở bờ Bắc sông Từ Liêm, gọi là phường Võng La, thuộc huyện Yên Lãng, Sơn Tây. Bờ đối diện bên kia sông là ghềnh Thượng Bạc. Phường này quen lấy đánh cá làm nghề nghiệp sinh sống, có một mái đình ba gian dựng bằng gỗ lá cũ nát quay mặt ra phía sông để phụng thờ một vị thủy quan Hà bá. Trải qua tháng năm vào tháng ba năm Canh Tý một đêm có một ông lão trong phường mắc võng ở cuối ghềnh nằm uống rượu, ngủ thiếp đi mộng thấy một người, áo mũ đủ đầy, xưng rằng:
Ta là Hải Độc Bát Đại Long Vương. Nay đến đất này để cưới con gái ông Nghị. Nhà ngươi hãy mau cuốn sạch chỗ võng này, nếu không sẽ gặp họa đến đó.
Tối hôm đó mưa gió nhè nhẹ. Ông lão trong phường uống rượu chưa tỉnh, nằm mơ màng ngủ rất sâu. Bỗng sóng lớn trùng trùng nổi lên. Thuyền cá theo sóng dập dềnh trôi ra gần giữa sông. Ông lão trong cơn nguy cấp dập cầu:
Lão ngu dốt lỡ say rượu không có mắt, tự thấy vạn lần đáng chết. Cúi xin Long Vương tha thứ.
Đang lúc giữa đêm bỗng nhiên mưa gió rung động, người trong phường đều sợ hãi tỉnh dậy. Chỉ nghe tiếng ông lão kêu to, một tiếng Long Vương, hai tiếng Long Vương. Mọi người đều không biết Long Vương tên gọi cụ thể thế nào. Rồi dưới ánh sét chiếu sáng thấy một con cá lớn dài hơn trượng, nhảy lên ở giữa sông, vảy giáp chênh vênh, đầy sông như thấm phủ một màu trắng. Khi sóng gió ngừng lại, tức thì con cá lớn bỗng hóa thành một người áo mũ đầy đủ đứng trên mặt nước nói nghiêm khắc rằng:
Sông suối nơi nơi đều là quản hạt của ta. Lão này đã biết tội nên ban cho được sống trở về.
Ai ai cũng tận mắt thấy sự hiển linh như vậy, mới biết Long Vương là thủy thần, bèn cùng cất tiếng cầu xin:
Toàn phường kính mộ nhờ uy đức Long Vương mà già trẻ được an toàn. Nay sau xin được tạo tượng để phụng thờ, mong được xem xét cho thành việc để báo đức lớn này.
Chốc lát không thấy đâu nữa, sóng gió trở lại như xưa. Đến sáng hôm sau nghe truyền là đêm đó thủy thần đã lấy vợ là con gái ông Nghị ở xã Thượng Thụy, tên là Nhạc phi. Cả nhà 5 người cùng đưa tiễn đến đầu ghềnh thì dòng nước ở đó dẫn vào trong sông mà biến, không biết còn mất ra sao.
Trên đây là điềm thần như vậy. Năm đó, tháng Sáu tháng Bảy nước lũ dâng cao, đầu bãi Võng La bị lở. Sau ba tháng 10 phần lở hết 7-8. Nhân dân phiêu tán. Phường đó mới dời đến nơi bến sông xã Hoa Ngạc, nơi có bãi sông mới bồi để ở tại đó. Nơi đó gọi là phường Hoa Ngạc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Từ đó trong đình kính cẩn phụng thờ chính vị là thần Hải Độc Bát Đại Long Vương, cùng phối thờ Hà Bá Thủy quan. Mỗi khi có việc cầu đảo đều rất linh ứng.
Xưa Trần Độ Tông ra Bắc cung xem đua thuyền bỗng gió lớn nổi lên bốn bề, thuyền đều nghiêng chìm. Vua vội sai trung quan quỳ hướng ra sông cầu đảo, xin Thủy thần hiển linh, nếu cứu vớt được các binh lính trong thuyền, Trẫm sẽ lập tức tặng thêm tên hiệu để báo đáp ơn thiêng. Cầu đảo chưa xong thì đã sóng yên gió lặng. Binh lính đều được cứu thoát không chịu cảnh chết đuối. Vua bèn tăng cấp cho thần sông. Hễ là xã dân nào có phụng thờ thủy thần đều được cho phong tặng sắc. Phong là Thượng đẳng Hộ quốc Hải Độc Bát Đại Long Vương.
Khi quân Minh chia đường hai đạo thủy quân đến xâm phạm, một đạo đóng ở sông Bạch Đằng, một đạo đóng ở bến Vạn Kiếp. Khi đó vua sai các quan chia nhau theo ven sông đi đến các miếu thần sông để đọc chỉ rằng:
Giặc Minh dám gây cảnh bạo ngược, người và thần cùng căm phẫn. Các vị thủy thần vốn có tiếng anh dị, sao để thuyền giặc đóng đầy sông như vậy? Nếu như có thể linh hiển lập kỳ tích đuổi quân giặc, khi thành công sẽ phong tặng thêm nhiều.
Bỗng một đêm vào cuối canh hai, gió lớn dồn mây, trời tối như mực, không trông thấy mặt người. Trong quân doanh thuyền giặc như có binh mã xông vào. Mọi người trong lòng đều phấn khích. Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão nhân đó mà hai cánh trước sau xông đến đánh. Quân Minh thua chạy, chết đuối quá nửa. Truyền rằng đêm qua trong các miếu thờ ở ven sông ngựa gỗ đều lấm bùn đất, đao gỗ đều có vết sứt như là đã có đánh trận vậy. Mới biết đó là thủy thần đã dẫn các âm linh đoạt hồn giặc, hiển giúp quân đội. Bèn sắc phong Thuận thiên Dực vận Hải Độc Trạc linh Thượng đẳng Hộ quốc Quảng nguyên Đại Long Vương.
Vua Thánh Tông triều Lê thân chinh đi đánh Chiêm Thành, thuyền rồng đi đến cửa biển Nhật Lệ. Vào lúc chính Ngọ, bỗng mây đen bốn bề kéo tới, gió lớn sóng cả ngất trời. Thuyền gần lật tới 4 lần. Bỗng trên không trung xuất hiện một vị đại nhân, mũ đen, áo đỏ, đai trắng, cưỡi mây mà tới. Đi đến đâu thì sóng gió lập tức dừng yên. Đêm đó vua mộng thấy một người tự xưng là Quảng Nguyên Long Vương, chức quản các nơi sông biển, nay thấy Vua dẫn quân đi viễn chinh nên đặc biệt đến để trợ giúp, quần áo người này giống như thấy lúc ban ngày. Từ đó ba quân vượt biển như đi trên đất bằng. Khi thắng lợi trở về bèn sắc phong là Thuỷ phủ Chí tôn Cam Lâm Hiển thánh Thượng đẳng Hộ quốc Quảng nguyên Đại Long Vương.
Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc Đô Thành hoàng Đại vương
Xét sách sử trong sách Giao Châu ký cùng với Báo cực truyện, vương vốn họ Tô tên Lịch, là quan lệnh Long Độ, ở làng Long Độ bên sông nhỏ, ba đời anh em nhường nhịn sống chung với nhau. Nhà Tấn cử làm chức Hiếu liêm, cắm cờ biểu dương trước cửa làng, nhân đó lấy tên Tô Lịch đặt cho thôn. Thời Đường Mục Tông, Trưởng khánh Trung đô hộ Lý Nguyên Gia thấy cửa Bắc thành Long Biên có dòng nước chảy ngược bèn tìm đất để dời phủ trị, tìm được đất đó. Khi chuẩn bị xây dựng doanh phủ bèn cho người dân cũ ở đó rót rượu thỉnh mệnh làm thần thành hoàng, lập đền phụng thờ. Đến đêm hiển linh báo với Nguyên Gia rằng:
Nhờ ơn sứ quân ủy thác cho tôi làm chủ thành. Nếu ngài có thể giáo hóa được cư dân trong thành cho hết lòng trung hiếu tiết nghĩa, thì mới tôi mới có thể nghe theo mệnh mà cùng ở được.
Nguyên Gia bằng lòng vâng theo. Đến khi Cao Vương xây La thành, nghe chuyện ấy cho tế lễ lập nơi thờ thần là Đô phủ Thành hoàng.
Khi Lý Thái Tổ dời đô, thần thường nhập mộng đến dập đầu bái mừng vạn tuế. Vua lấy làm lạ hỏi tính danh xưng thế nào. Thần tâu lại như trước. Vua cười nói:
Thần muốn giữ việc hương lửa trăm năm phải không?
Thần đáp rằng:
Chỉ mong cơ đồ đất nước được lâu dài muôn vạn năm, đâu chỉ là hương lửa trăm năm.
Vua hiểu ra, bèn sai quan Thái chúc đem rượu tế, phong thần làm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương, thường tôn là minh chủ. Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng của bản triều sắc phong hai chữ Bảo quốc, năm thứ 4 tặng thêm hai chữ Trấn linh. Niên hiệu Hưng Long năm thứ 21 tặng thêm hai chữ Định bang để mà lưu truyền công thần trợ giúp.
Dịch theo thần tích xã Liễu Châu tổng Phú Xuyên huyện Tiên Phong tỉnh Sơn Tây.
Vào thời Hùng Vương thứ 18 vua Duệ Vương trị vì, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước Văn Lang, quốc đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có hùng tài đại lược, tư chất thánh triết, trong sửa văn đức, ngoài phòng biên phương, dốc sức để hưng bình mà yên Trung Quốc. Than ôi, thế nước đến lúc cáo chung, cơ đồ họ Hùng vào lúc cuối. Vua tuy sinh nhiều hoàng tử nhưng đều theo nhau về với tổ tiên. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa, về sau chỉ còn hai vị nữ công chúa. Người thứ nhất là công chúa Tiên Dung, sau gả cho ông Chử Đồng Tử quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam. Còn người thứ hai là công chúa Ngọc Hoa, cung thiềm còn khóa, cành ngọc vẫn đóng, nhân duyên tốt lành còn chưa định kỳ. Vua muốn tìm người tài để gả, rồi sẽ nhường ngôi báu cho, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, đề là “lầu kén rể cầu hiền”, ban chiếu truyền đi trong thiên hạ ai là người anh tài đức độ, có thể nối được ngôi vị thì sẽ gả công chúa cho.
Ngày ấy có Tản Viên Sơn Tinh cùng với Động Đình Thủy Quân là hai tướng cùng thầy học cùng nhau đến thành dự thi. Vua xem thấy là kỳ tài bèn phán rằng:
Nay hai khanh đều là bậc anh hùng. Ánh trăng đèn sách chưa thể định được về tay ai. Ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm tất sẽ gả con gái cho.
Thế là Thủy Tinh trở về cung Động Đình, do cầu kỳ tìm vật lạ (nguyên có cuốn sách ước Sơn Tinh đã cầm giữ). Sơn Tinh đi thẳng ra dưới lầu, lấy ở trong túi ra, dùng sách thần mà ước. Bỗng thấy voi trắng chín ngà cùng các kỳ trân dị vật trong chốc lát đã đầy đủ hết. Sơn Tinh đến vâng nạp sính lễ trước. Vua bèn gọi Sơn Thánh đến gả con gái cho. Lễ cưới xong thì đón về động ở núi Tản Viên. Sau thấy Thủy Tinh đem sính lễ đến. Vua nói với Thủy Tinh rằng:
Sơn Tinh đã định đặt sính lễ, việc này theo như giao ước trước đây, hối hận cũng không kịp.
Thủy Tinh từ đó về sau oán hận, trở về tâu với Đế Quân, xin binh mã, thường tiến đánh Sơn Thánh, tích thù kết oán. Cho nên tới nay mỗi năm vào tháng 7 tháng 8 thường dâng nước đến đánh. Người dân ở dưới núi đều bị ngập lụt, mưa gió. Các nơi đều bị thiệt hại nặng, đều là do từ việc này mà ra vậy.
Lại nói, Duệ Vương từ khi có được rể hiền là Sơn Thánh thì hưởng nước thanh bình, nhàn du bốn biển, như con vua tiên ông nơi đất xưa quê lạ, sông núi Thần Phù, Yên Tử, cao thấp mặt trời hồng, đám mây trắng, trăng gió ở Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc. Lúc thì dạo chơi trên sông tiểu hoành ngắm trăng, nhàn thưởng cái thú vị của người câu cá. Đi qua xã Đồng Bảng, huyện Ma Nghĩa mà xây dựng hành cung Bắc. Lại du xuân săn bắn, đi đến xã Tri Lai lại lập hành cung Tây. Đi qua các xã Vật Lại, Cổ Đằng bèn xây dựng hành cung Trung tại đó. Lại đi qua vùng đất huyện Phúc Lộc mà lập hành cung Nam ở Bể Cạn.
Đến xã Vân Già thì lập hành cung Đông. Một hôm (ngày mồng 3 tháng Giêng) thánh giá đi đến xã Liễu Châu phủ Tam Đái, có một ngôi đền thủy thần được người dân phụng thờ từ xưa (Miếu thủy thần này ở xã Liễu Châu đã được xây dựng từ thời Hùng Vương khi Lạc Long Quân sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai, bèn phân làm trăm vương. Năm mươi người theo cha là Thủy thần. Năm mươi người theo mẹ là Sơn thần. Năm mươi vị Thủy thần này tùy đang còn tại thế nhưng được phong thần để bảo giữ các nơi. Do đó xã Liễu Châu thờ phụng ba vị như vậy, đều không có tên thần). Đến khi Duệ Vương và hai vị Tả Hữu kiên thần của Sơn Thánh đi qua ngôi đền (tức là đền Thủy thần được xã Liễu Châu phụng thờ), bèn hỏi người dân rằng:
Dân các ngươi ở đây thờ phụng đền nào vậy?
Người dân bèn tâu rằng:
Từ xưa tới nay tiểu dân ở đất này phụng thờ đền Thủy thần.
Vua cùng với Sơn Thánh nói với dân rằng:
Thủy thần ngày nay có thù với nước nhà. Dân các ngươi sao dám thờ vậy? Hôm tới sẽ sai binh sĩ cùng dân các ngươi trừ khứ ngôi đền này đi.
Dứt lời tới ban đêm bỗng thấy trên sông sóng dồn vạn nhẫn, khí mây đầy sông mù mịt nổi lên, dâng nước đập sóng, dẫn đến nơi cung đền. Một chiếc thuyền rồng bỗng nổi lên trên mặt nước. Lại thấy ba người đường đường từ trong thuyền đi tới, đâu đội mũ rồng rạng rỡ, mình mặc áo long bào, giáp lân. Phía trước có hai người ôm một bàn đầy vàng cùng với một thanh ngọc đem tới trước nhà vua. Ba người cùng dập đầu làm lễ. Duệ Vương hỏi rằng:
Chức danh các vị thế nào? Ở đâu đến đây?
Ba người tâu rằng:
Chúng thần vốn là quan của Thủy quốc. Nay thấy Thánh vương ngự giá đến nơi chúng thần quản trị nên Thủy quốc có tấc lòng đem đến yết diện Thánh vương làm lễ mừng. Xin được chiếu cố cho.
Duệ Vương lại phán rằng:
Thủy quốc từ khi xảy ra sự việc tranh hôn sai ước đến nay trong lòng chứa oán tích thù. Bất thường mà dẫn quân đến đánh Sơn Thánh. Ngày hôm nay sao lại có lòng với Trẫm như thế?
Thủy quan tâu rằng:
Hôn sự vốn là do Đông Long cung. Nguyên căn là do quan Long hầu gây việc ác, đem họa đến cá nước. Còn Thủy quốc cùng với Dương đình đều có oán. Vả lại việc vị quân đó phản lại nước đều chỉ là do người đó, lỗi này cũng do việc hôn nhân, không phải do chúng thần. Xin Bệ hạ xét tình đó vậy. Nay may mắn được gặp Bệ hạ đi đến địa phương nơi đóng của chúng thần, chúng thần cùng nhau lên tại đây. Tuy là núi sông không cùng, nhưng đều là từ một bầu trăm trứng tạo ra của Tiên hoàng đế (Lạc Long Quân sinh một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai. Năm mươi người theo cha là Thủy thần. Năm mươi người theo mẹ là Sơn thần, tức là trăm vương). Tí Ngọ cùng chia, nhưng đều cùng chung một nguồn phân phái vậy. Đâu phải là người ngoài.
Vua nghe lời nói đó, hỏi Sơn Thánh rằng:
Lời nói này cũng có lý, cũng là người một nhà.
Sơn Thánh tâu rằng:
Việc này có thể giải quyết được. Lại có thể phong tặng thêm.
Dứt lời Sơn Thánh cho gọi đón ba vị thủy quan vào trong cung, cùng chầu hai bên nhà vua. Ngày hôm đó sai mổ trâu, mở yến hội lớn, ca hát hơn mười ngày. Mây mưa mù mịt, gió sấm nổi lên. Việc yến hội xong, ngày hôm đó (từ mùng 6 đến 15 tháng Giêng thì ngừng) ba vị thủy quan từ biệt, trở về Thủy quốc. Mưa gió ù ù mà lên. Bỗng thấy giữa sông có một tiếng sấm nổ, mưa gió đều yên tạnh.
Khi ấy Duệ Vương quay giá trở về thành. Còn Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiên thần vẫn đóng quân ở đất đó (tức là Liễu Châu). Đến đêm bỗng thấy gió lớn thổi đến, ở nơi đền Thủy thần có một cây lớn bị gãy. Sáng sớm nhân dân đến nơi xem, lại thấy có một con Giải nằm ở trên cành cây gãy đó. Nhân dân đến đánh đuổi đi thì tự nhiên biến mất. Từ đó nhân dân gặp nhiều bệnh tật. Dân bèn làm lễ tâu với Sơn Thánh. Sơn Thánh nói với dân rằng:
Tất là do Thủy quan tác quái.
Ngay hôm đó Sơn Thánh sai mổ trâu, truyền dân đến làm lễ. Sơn Thánh thỉnh rằng:
Thủy quốc, Dương đình đều cùng huyết mạch. Nhân dân ở đây đều là thần tử một nhà. Nay trót vô lễ, xin được tạ vậy.
Từ đó, nhân dân đều được yên ổn. Bèn sai sửa chữa đền miếu (tức đền Thủy thần). Khi công việc xong, Sơn Thánh nằm mộng thấy một người, mình mặc áo trắng, cưỡi một con ngựa trắng tiến thẳng vào sân mà bái. Sơn Thánh hỏi rằng:
Ở đâu đến đây? Danh chức như thế nào?
Người áo trắng trả lời rằng:
Vốn tôi là giang sứ, vâng mệnh Thủy quân đến tạ Thánh vương. Sau có một bài thơ sai thần mang đến, xin ngài hãy xem.
Thơ rằng:
Sơn thuỷ giai đồng hợp nhất nguyên
Hạnh phùng thánh giá vãng giang biên
Thuỷ cung đắc hội sơn tiên khách
Vạn cổ hưởng đồng nhất thốn tiên.
Dịch là:
Sông núi đều cùng hợp một dòng
May thời thánh giá đến bên sông
Thủy cung được hội sơn tiên khách
Vạn thế hưởng cùng một dải hồng.
Xem xong thì bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là mộng. Sơn Thánh lại truyền làm lễ tạ.
Việc xong, ngay hôm đó (tức mùng 6 tháng Hai), nhân dân làm lễ tạ Sơn Thành, đều xin được làm thần tử. Sơn Thánh đồng ý, bèn truyền cho Tả Hữu hai quan trị nhậm hai cung (một là cung Phú Thứ, một là cung Phong Nhẫm).
Một hôm Sơn Thánh lại đến xã Yên Tiết tổng Đường Xá huyện Yên lạc, lại đi qua Sơn Dương, Tam Dương, đi đến huyện Bình Tuyền xứ Thái Nguyên, bèn lập hành cung ở đất đó, gọi là cung Ngọc Lậu. Còn các địa phương mà đã đi qua sau này đều lập đền thờ phụng.
Lại nói, Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiên thần (tức Tả Hữu phán quan, vốn là người động Lăng Sương, cũng là cùng tông phái với Sơn Thánh. Người cha là Nguyễn Ban, mẹ là Tạ Thị Hoan, nằm mộng thấy hai ngôi sao bay lạc vào trong mồm mà nuốt đi, do đó sinh một bầu hai con. Đến tuổi trưởng thành cha mẹ đặt tên là Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng. Khi đó cùng với Sơn Thánh đi học với tiên sinh Lý Đường. Đang khi đi học Sơn Thánh cùng với hai ông đều rất thông minh. Sơn Thánh thường nói với hai ông rằng:
Ta nếu có được ngôi trời thì sẽ cho hai ông là phụ tá hai bên.
Về sau cha mẹ Sơn Thánh cùng với hai ông đều mất. Từ đó cùng không đi học nữa, thường lên núi Tản Viên đỉnh Ngọc Lĩnh. Tính cách cương cường dũng mãnh. Người người đều gọi là thiên thần giáng thế. Đến khi Sơn Thánh tạo thành nghiệp lớn, quản được núi thiêng Ngọc Tản thì cho hai ông làm Tả Hữu kiên thần, giữ gìn hai bên núi Tản, làm chủ quản chúng man các nơi động sở. Một người bái là Cao Sơn Đại vương, một người là Quý Minh Đại vương, lấy làm phù tá hai bên cho Sơn Thánh vậy) quay giá về triều. Đến mùa hè tháng Tư, Duệ Vương sai sứ thần ban thêm sắc chỉ về dân (tức xã Liễu Châu), phong thêm mỹ tự cùng với đền Thủy quan (tức ngày mùng 10 tháng Tư). Hôm đó dân ấp làm lễ ăn mừng. Khi ấy mưa gió nổi lên, bốn bề mù mịt bay thẳng đến nơi đền thờ. Người dân đều kinh sợ, phục xuống. Nước sông như vang như sấm, ba ngày thì dừng. Duệ Vương phong thêm mỹ tự là:
Phong Thủy phủ Phù Tang Châu Lâm Đại Long Quân
Phong Thủy phủ Vô Biên Trang Nghiêm Vân Hải Long Quân
Phong Thủy phủ Đại Thiên Long Chủ Bát Hải Long Vương.
Cả xã Liễu Châu đều thờ.
Lại nói, khi Duệ Vương tuổi thọ đã được trăm năm, đến năm Kỷ Mùi, Thục Vương nghe nói Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử đều theo nhau về chốn tiên bồng, không có người nối dõi, nhân đó bèn khởi binh đến đánh để chiếm lấy nước. Duệ Vương lo lắng. Sơn Thánh tâu rằng:
Bệ hạ khoanh tay rủ áo mà trị thiên hạ, sao phải lo lắng. Như sự thế hiện nay, thần xin được thay công thánh giá, thần xin được tự tìm tướng tài cùng với ba vạn quân mạnh. Thiên hạ trong ít ngày sẽ được yên định vậy.
Vua đồng ý. Thế là Sơn Thánh dẫn hai vị kiên thần động Lăng Sương (tức là các vị phán quan Tả thánh và Hữu thánh, phụ giúp Sơn Thánh vậy). Lại cùng vị cao tăng người xã Vân NHưng huyện Lập Thạch tên là Điểu, phong làm Đô thống Điểu Sơn Đại Vương, cùng với trung quân là Thái phó Nghi Lĩnh hầu theo đường sông Lô mà ứng chiến. Khi việc bày bố đã định, Sơn Thánh bèn dẫn tướng sĩ bản bộ đến bái tạ. Ngay hôm đó tiến đến xã Vân Chương, trú tại đây. Đến đêm vào lúc giữa canh hai, Điểu Sơn tướng quân mộng thấy một người xưng là Đao Sơn tiểu thần, tự xin theo tòng chinh âm phù cho hoàng gia, bỗng nhiên kinh sợ mà tỉnh dậy, bèn đem mộng đó tâu với Sơn Thánh. Sơn Thánh sai mổ trâu để khao tế, cầu đảo bách thần âm phù cho thế nước, đến khi biên giới được dẹp yên tất sẽ tâu lên Vua mà phong tặng (về sau phong Sơn Thánh là Tản Viên Sơn Thánh Quốc Trụ Đại vương, phong Tả thánh là Tản Viên Sơn Tả Thánh Quốc chủ Phù Dực Đại vương, Hữu thánh là Cao Sơn Quốc chủ Quý Minh Đại vương, Điểu Sơn tướng quân là Điểu Sơn Đại vương, Đao Sơn thần là Đao Sơn Đại vương, còn những người khác cũng được phong thêm).
Từ hôm đó đại quân tiến thẳng đến quân Thục, dẫn quân mã của mình, chia quân đánh dẹp, thế như sấm sét, đánh một trận lớn, thu được dấu ấn của quân Thục. Sơn Thánh bèn cho viết một bức thư của Thục chúa gửi tướng Thục, báo rằng:
Nước Văn Lang có một thần tướng. Nay các ngươi vâng mệnh dẫn quân đến đánh nước người, thì chớ có khinh động. Hãy đợi đến khi có chiếu thư báo tới thì việc này mới định được.
Viết xong thì lấy dấu ấn của quân địch đóng vào thư, sai người mặc quần áo của quân địch (tức là vị cao tăng hóa hình), tư xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến đồn chính, đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư bèn ra sức cố thủ, nếu nghe có biến cũng không kịp gửi thư báo gấp. Sơn Thánh bèn dẫn quân ngày đêm đi hơn năm ngàn dặm, thẳng đến thành đô Thục, đánh một trận lớn, bắt sống chính tướng quân địch cùng với tất cả binh mã. Ba nhánh quân thủy bộ tự nhiên phải lùi chạy. Thế là Sơn Thánh quay trở về khải hoàn, đuổi hết quân địch, binh mã về triều báo tin chiến thắng. Ngay hôm đó mà đi gấp, không kể ngày đêm mưa gió. Đại quân tiến đến địa phận xã Vĩnh Thái huyện Quảng Đức (sau đổi thành phường An Thái) thì ngừng nghỉ. Cho nên ngày sau ở đất đó nhân dân đều thờ phụng.
Lại nói, ngày hôm đó Duệ Vương nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận, tâu với vua rằng:
Mười tám đời cơ đồ họ Hùng, lòng trời có hạn nên mới bày ra việc Thục Vương thừa cơ gây hấn với Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của Tiền hoàng đế. Thế nước tốt xấu đều do định trước. Vua sao vì yêu mến khung cảnh trời Nam mà chống lại đạo trời vậy? Tất đem đến thế cục chinh chiến chết chóc, hai đến sinh linh. Chi bằng hãy cho cầu hòa mới là bậc hiền quân vậy. Cho gọi Thục đến nhường ngôi, tất là Bệ hạ có đức của Thánh vương vậy.
Vua nói:
Lời của ông thật là thiện lành. Rất có lý, có lý. Trẫm sẽ nghe theo lời này.
Bèn cho gọi Thục Vương đến nhường ngôi. Khi đó ngày mùng 9 tháng Giêng năm Giáp Thìn, Thục An Dương Vương nhận cơ đồ họ Hùng, bèn lên ngôi nắm quyền chính thống. Việc xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và Tả Hữu kiên thần (một quản Lãng Sơn, thuộc phía Đông là vai trái, một quản Nộn Sơn, thuộc phía Tây là vai phải), cùng với vị Cao tăng, công chúa Ngọc Hoa cùng ngày bay lên trời hóa sinh bất diệt, đi mây về gió, ra âm vào dương, hoặc cưỡi xe rồng, hoặc ngồi xe phượng, dạo chơi Lãng Uyển, Bồng Doanh, ngắm cảnh sông núi, thế tục, giữ nước giúp dân, thật có nhiều hiển ứng.
Khi đến trời thu ngày mùng 6 tháng Tám, nhân dân xã Liễu Châu bỗng thấy binh mã của hai ông trở về cung sở. Dân bèn làm lễ bái mừng. Hai ông nói với dân rằng:
Địa mạch dân nơi đây có biến bất thường, lại có nhiều nạn lũ lụt.
Bèn truyền nhân dân xây dựng ở hai bên sông hai cung (tức là hai đền ở thôn Thượng, Hạ) để trấn áp lũ lụt, để bảo vệ nếp sống thuần hậu cho dân. Dứt lời thì tự nhiên biến mất.
Lại nói, khi Thục Vượng trị vì, nhân dân thường gặp hạn nặng, hoa mày khô héo. Nhân dân đói khát, bèn cầu khấn bách thần giúp nước, cầu phong ở các đền thiêng có nhiều hiển ứng linh thông thì gia phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần. Đến mùa đông ngày mùng 10 tháng Mười An Dương Vương lại phong thêm mỹ tự.
Phong Thuỷ phủ Phù Tang Châu Lâm Đại đế Động Đình Quân
Phong Thuỷ Phủ Vô Biên Trang nghiêm Vân Hải Động Đình Quân
Phong Cao Sơn Hữu thánh Quốc chủ Quý Minh đại vương
Phong Tản Viên Sơn Tả thánh Quốc chủ Đại vương.
Toàn xã Liễu Châu cùng phụng thờ. Đền thờ ba vị Thủy quan ở chỗ bãi dâu nằm ở giữa, cả xã cùng thờ. Còn hai đền thờ Tả Hữu của Sơn Thánh (một là nơi Đồng Bàn, một là ở nơi Bãi Di) do thôn Thượng, Hạ lập riêng để cúng tế, do các vị cùng sinh cùng hóa nên không phân ra tế cúng riêng được.
Lại nói, qua thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương tổng cộng 340 năm cho tới khi nước Nam trải qua bốn họ Đinh, Lê, Lý Trần, Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý, khai mở cơ đồ, thường có công giúp nước cứu dân, nên đế vương các thời có phong thêm mỹ tự, vạn năm hưởng cúng tế, hương hỏa vô cùng (các triều Đinh, Lê, Lý, Trần truy phong mỹ tự).
Phong Thuỷ phủ Phù Tang Châu Lâm Đại đế Động Đình Quân
Phong Thuỷ Phủ Vô Biên Trang nghiêm Vân Hải Động Đình Quân
Phong Thuỷ phủ Đại Thiên Long chủ Bát Hải Long Vương
Phong Cao Sơn Hữu thánh Quốc chủ Quý Minh Đại vương
Phong Tản Viên Sơn Tả thánh Quốc chủ Đại vương.
Hai thôn xã Liễu Châu phụng thờ.
Các ngày sinh hóa, các tiết tiệc lệ cùng với chữ húy, màu sắc phục đều được khai như sau.
Ngày mùng 3 tháng Giêng là ngày các vị thánh vương đi đến xã nhà. Làm lễ bái mừng ở nơi thôn Thượng, bày lập ở sân ngoài nơi đền thờ (lợn đen mổ chia làm ba cỗ, gọi là cỗ sồng, rượu ngọt một vò lớn, lấy trúc trắng làm cần, ba cần cùng cắm vào vò rượu, bánh chay ba mâm, cơm ba nồi, xôi xanh và đỏ mỗi vị hai bát, ca hát một ngày đêm)
Ngày mùng 6 đến ngày 15 tháng Giêng là ngày chính lệ Sơn Thánh cùng các thủy thần hội yến du xuân (cỗ trâu, lợn đen, ca hát, đấu vật, các xã cùng đến phụ tế)
Ngày mùng 6 tháng Hai là chính lệ làm lễ bái tạ, hai đền đều cùng làm lễ (cỗ trâu, lợn đen, rượu ngọt, bánh trôi 30 viên, mâm chay các thứ).
Ngày mùng 10 tháng Tư là chính lệ khánh hạ khai sắc ba vị thủy quan, dân làm lễ (trâu trắng lấy da làm chả, trứng gà sống 3 quả đặt vào trong bồn nước cùng với rượu ngọt, ca hát, chèo thuyền 3 chiếc)
Ngày 12 tháng Năm là chính lệ ngày sinh hai thánh (lợn đen, rượu ngọt, cỗ trâu các thứ, ca hát). Hai đền Thượng Hạ, trái phải đều tế cùng ngày.
Ngày 15 tháng Bảy là ngày khánh hạ cả 3 đền (gà, lợn).
Ngày mùng 6 tháng Tám là ngày khánh hạ hai thánh Tả Hữu (lợn đen, xôi, rượu).
Ngày mùng 10 tháng Chín là chính lệ hóa thần của hai thánh Tả Hữu (cỗ trâu, lợn đen, rượu ngọt, mâm chay các thứ).
Ngày mùng 10 tháng Mười là ngày khánh hạ mở sắc đền Thủy thần (trâu trắng như kê ở trước, trứng gà, rượu ngọt, ca hát các thứ).
Các chữ húy Tang, Lâm, Trang, Hải, Long, Hiển, Sùng đều cấm dùng.
Lễ phục hai màu xanh và hồng cấm dùng.
Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu mùa xuân ngày mùng 5 tháng Ba, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.
Ngọc phả Long hầu bộ Thủy Thượng đẳng Trung Thành Phổ Tế Đại vương, là công thần triều Hùng Duệ Vương họ Việt Thường
Chính bản bộ Lễ quốc triều
Xưa nước Việt ta tương truyền triều Kinh 18 nhánh, truyền đến Hùng Duệ Vương tại ngôi, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có lòng nhân đức như trời, có trí tuệ như thần, rủ áo khoanh tay, lấy việc chăm lo cho nhân dân làm gốc. Đương thời khắp nơi đều gọi là bậc vua hiền.
Đang khi đó ở đất Ái Châu, phủ Kinh Môn, huyện An Lão, châu Cửu Giang có một gia tộc danh tiếng họ Đào, tên là Bột, lấy vợ người trong huyện tên là Phạm Thị Hương. Gia tộc ông Bột kế truyền là dòng dõi quan lại, có nề nếp thơ văn lễ nhạc, lấy việc nhân nghĩa làm gốc. Khi ông Bột ở tuổi 16 đã có trí dũng hơn người, tài năng vượt trội, tinh thông văn võ, ra đi thi ứng tuyển được nêu danh. Vua cho làm chức Thiếu phó, bổ nhiệm là Bộ trưởng Hoan Châu.
Nhận chức được 5-6 năm, trong châu đều yên bình, giàu đủ. Vua lại gọi về triều, thăng chức làm Hình tào Thượng thư. Về sau dẹp được giặc ở Hải Dương, một trận quét sạch, Vua bổ nhiệm làm Bộ trưởng Hải Dương, chủ trị một vùng. Chẳng may bà chính phi mất sớm. Ông lại lấy con gái của huyện lệnh huyện Kim Bảng phủ Lỵ Nhân bộ Giao Chỉ tên là Nguyễn Hương, lập làm Đệ nhị phi nhân. Bà tuổi 19, có đức hạnh kiêm toàn, đẹp người đẹp nết, má phấn môi hồng, mày ngài mắt phượng, thân tự tỏa ra mùi hương thơm, nhan sắc tuyệt trần, thế gian không ai sánh. Từ khi ông bộ trưởng Bột lấy về, loan phượng cùng xứng đôi, cầm sắt giao duyên, uyên ương tình nồng mặn mà, cầm sắt hòa thanh ý tốt. Qua 3-4 năm càng thêm hòa hợp ân ái.
Lại nói, khi ông Bột nhận chức bộ trưởng Hải Dương, cả quận được thanh bình, giàu đủ. Một hôm bỗng nhiên mặt biển không có sóng mà nước dâng ngập khắp thành. Khi đó, ông Bột cùng Đệ nhị phi nhân đi tránh nước lụt bèn lên trên đài cao mà ngồi, dựa vào lan can trên lầu. Lúc ấy, bà phi ngoái nhìn ra dòng nước sông chảy, ngắm cảnh trăng trong nước biếc. Đang khi ngắm cảnh bỗng thấy trên dòng nước có 5 quả trứng nổi lên giữa dòng, trôi thẳng đến trước mặt bà phi.
Năm quả trứng tỏa sáng huy hoàng một vùng mặt nước, trôi đến dưới bên đài gác. Bà phi thấy vậy lấy làm lạ. Ông bộ trưởng cũng quay ra xem, rồi chỉ vào đó nói với bà phi rằng:
Đây tất là châu báu dưới biển mà Long quân đem đến cho ta. Phi nhân hãy vớt châu lên xem thử trứng đó như thế nào.
Bà phi bèn vâng mệnh vớt trứng lên xem, được một ổ 5 quả trứng đều sáng rực rỡ như ngọc trắng. Ông bộ trưởng thấy vậy lại nói với bà phi rằng:
Đúng là vật lạ quý báu của trời ban.
Liền nói với bà phi thu đem cho vào trong áo để cất giữ. Bỗng nhiên trứng tự nhiên vỡ ra, tiếng vang như sấm, chảy thành nước cả, mùi thơm ngào ngạt. Bộ trưởng và bà phi lấy làm kinh sợ sự việc quái lạ dị thường. Đến khi nước rút đi, bộ trưởng cùng phu nhân đi xuống gác về cung, nghĩ lại sự quái dị của mấy quả trứng, bèn lập đàn cầu đảo trời đất trăm thần để xua đuổi điềm trứng quái. Nửa đêm hôm đó ông bộ trưởng nằm mộng thấy giữa trời có một đám mây bay năm màu. Xem kỹ lại thấy có một mặt rồng, hai mắt rất sáng và to, đôi râu rồng dài trắng, miệng ngậm một dải gấm hồng, dài thả thẳng xuống mặt đất. Ông bèn xem dải gấm đó, thấy có viết bốn câu thơ rằng:
Phó hứa Đào gia ngũ noãn [thần] Nhất bào cụ xuất ngũ long quân Thiên tài cộng giáng phù gia quốc Phúc triệu hà nghi hữu quái vân.
Nghĩa là:
Trao gửi họ Đào năm trứng thần Một bầu sẽ nở năm Long quân Thiên tài giúp nước đều cùng giáng Là phúc không sai, chớ ngỡ ngần.
Vị chủ công đọc xong, dải gấm bỗng nhiên rơi xuống phủ quấn ba vòng lên người ông. Vị chủ công bỗng tỉnh lại, biết là điềm trong mộng. Từ đó phu nhân bỗng có thai. Đến năm Đinh Mão ngày 12 tháng Hai sinh được một bầu, nở ra năm người con trai, đều thực là có diện mạo đẹp đẽ kỳ lạ, thân hình cao lớn, ở trên lưng đều có một hàng vảy cá chạy tới hậu môn hình 28 vì tinh tú, đều là vảy màu đỏ. Vị thứ nhất trên đầu hai bên đều có mọc thịt sừng, hình như quả trứng gà. Vị thứ hai ở dưới chân có 10 cái vảy, đầu dài và hình giống như vuốt rồng, màu như đầu ngọc. Vị thứ ba tay dài quá gối, mặt rộng tai to, sáng như mặt trời hồng mới mọc, mắt phượng mày ngài, mũi rồng hàm én. Vị thứ tư tóc như lông lân, hình xoắn ốc lên phía trên. Vị thứ năm mũi rồng hàm én, mắt tròn sáng như sư tử. Cả năm người đều khác xa người thường, thế gian hiếm có.
Đang khi sinh trời đất mù mịt, mưa to gió lớn nổi lên, sấm sét ầm ầm, nước sông dâng lên tràn vào cửa nhà, rắn vào đầy sân. Người người không dám ở đó, đều sợ hãi trộm nhìn. Đến khi sinh được trăm ngày ông bộ trưởng bèn đặt tên cho năm người con tài tử. Ông thứ nhất là ông Cự. Ông thứ hai là ông Hồng. Ông thứ ba là ông Trưởng. Ông thứ tư là ông Thạch Khanh. Ông thứ năm là ông Quý Lân.
Nuôi dưỡng lớn lên tới lúc 7 tuổi, khi đó các ông đều có khí chất vốn kỳ lạ, khác hẳn người thường. Đức tính khoan dung đại lượng, trí dũng hơn người, tư chất chính trực, trung hòa, thông minh kỳ dị, tài cao vượt thế. Khi đi du hành ở ngoài đường trên đều có một đám mây hình tròn, che trên đầu, bốn phía hào quang sáng rạng rực rỡ, một vùng trong mát. Thân hình tựa rồng kỳ quái. Người đời thấy đều sợ hãi.
Đến năm 15 tuổi các ông văn võ kiêm toàn, có thuật lạ của thánh thần, sức có thể nâng đỉnh, lực có thể bạt núi, tính lại rất ưa nước. Anh em thường ra chơi ngoài bến sông. Ngày thường tắm ở nơi bến nước. Thường đứng trên đầu sóng, đi trên mặt nước như bay, qua sông như giẫm trên mặt đất. Hoặc có lúc lặn ẩn dưới đáy sông, đến cuối ngày vẫn chưa lên. Những hôm như thế tất thiên hạ có mưa to gió lớn nổi lên mù mịt. Một tháng vài lần chơi mát như thế. Nhân dân xem xét thấy đều cùng kinh hồn lạc phách, đều gọi là năm thánh giáng trần. Khi đó, ông bộ trưởng đã biết năm người con đúng là mệnh thủy thần khác thường, nhưng không dám tiết lộ cho người trong triều đình biết.
Đến khi lên 16 tuổi, bà phu nhân qua đời (tức là ngày mùng 10 tháng 2). Ông bộ trưởng cùng với năm vị làm lễ chôn cất. Lại nói, khi đó thiên hạ gặp nạn hạn hán, khô cháy cây cỏ trong ba bốn năm liền. Nhân dân trong thiên hạ đều bị đói khát, nhiều bệnh tật. Lại sinh ra trộm cướp. Vua trong lòng thương xót sinh linh, bèn mở trường để tuyển người hiền lương chính trực, có hiếu đễ, anh tài, có học vấn uyên bác, văn võ kiêm toàn, có tài đức để có thể giữ nước yên dân. Hịch truyền đi thiên hạ có ai như vậy thì lên kinh vào đình dự thi.
Do đó, năm ông nghe hịch, trong lòng rất vui mừng, bèn đến bái hỏi cha là ông bộ trưởng cho lên kinh dự thi. Ông bộ trưởng đồng ý. Khi đó năm ông đi đường thủy lên đến kinh thành. Lúc ấy vua Duệ Vương đêm nằm mộng thấy có một người to cao 9 thước đường đường, áo mũ rực rỡ, đai giáp huy hoàng, lại dẫn năm con rồng tiến thẳng đến trước mặt gặp vua. Vua bèn hỏi:
Ngài ở đâu đến? Sao lại có năm con rồng dẫn đến cho trẫm?
Người đó nói:
Vâng mệnh Hoàng thiên là quyền Thiên tào đại sứ, truyền đem năm rồng giáng thế, dẫn đến cho vua để đảm nhận việc nước. Lại đem đến một chương thơ của trời cho vua mở xem.
Vua nghe vậy bèn nghiêng thân làm lễ, vâng nhận thiên chương, mở ra xem thấy có một bài thơ nhỏ rằng:
Ngũ long phó giáng hứa thần quân Hữu thị quân phân hữu thị thần Huynh đệ nhất bào Đào thị xuất Khả phù ư quốc, tế ư dân.
Nghĩa là:
Năm rồng đem đến giao vua đây Thực là vua sáng, bề tôi này Họ Đào cùng bọc anh em đó Trợ nước giúp dân, đã có ngày.
Vua đọc xong bỗng nhiên tỉnh lại, biết là điềm trong mộng báo ứng, bèn mở trường thi để xem có người tài trong thiên hạ. Khi đó anh em năm vị đến vào trường thi, đều đúng là bậc văn võ thánh thần, tài năng kỳ lạ. Trong trường mây khói mù mịt, gió mát khí lành. Anh tài trong thiên hạ, cùng một trường các sĩ tử đều tôn nhường sợ hãi vậy.
Khi đó anh em cùng lọt vào khoa bảng, vào yết kiết sân rông gặp vua. Vua thấy năm ông diện mạo đường đường, khác lạ so với người thường, đúng là hình ảnh của long hầu, dung nhan của thủy quốc. Vua mừng thầm, nói rằng:
Ngày hôm nay vua tôi mới gặp gỡ lần đầu, nhưng trời đã có báo trẫm giao phó cho năm khanh. Nay quả được năm rồng, tất nước nhà sẽ không có tai họa nữa.
Ngày hôm đó vua mở tiệc, lập đàn cầu đảo tế trời đất trăm thần. Vua đứng trước đàn. Năm ông cùng đứng chầu ở dưới. Hai bên trăm quan cùng làm lễ. Vua khấn rằng:
Phục trông Hoàng thiên Hậu thổ, các vị bách thần tinh túc cùng đến giáng đàn chứng giám. Trẫm trong mông thấy năm rồng được Hoàng thiên ban xuống để giữ nước giúp dân. Nay lại được năm người con họ Đào, đúng được hiển hiện năm rồng mà Thiên đình đã giáng mệnh. Dám xin Hoàng thiên báo ứng tại đàn.
Bỗng nhiên thấy mây gió nổi lên giáng xuống giữa đàn như được sự chứng giám, tỏ rõ sự hiển ứng của Hoàng thiên. Vua khấn xong trong giây lát bỗng trời đất mù mịt, sấm chớp ầm ầm, mưa gió nổi lên giáng xuống đàn. Vua cùng trăm quan đều lấy làm kinh dị. Làm lễ xong thì mây mù đều tự nhiên ngưng tạnh. Trời đất trong sáng.
Ngày hôm đó vua phong ông thứ nhất là Đông long Thái sư. Ông thứ hai là Tây long Thái phó. Ông thứ ba là Nam long Trưởng lệnh, quyền đảm Trung Hoa tể quốc, làm Thổ Lệnh cai quản thống nhất cầm đầu 50 thủy thần. Ông thứ tư làm Bắc long Thái bảo, cai quản thống nhất thuyền rồng, làm tướng quân Thạch Khanh. Ông thứ năm là Thiếu long Chưởng đài Chính ngự. Lại tăng phong cho thân phụ là ông bộ trưởng làm Đại vương.
Khi ấy thiên hạ thanh bình, không có tại họa hạn hán hay ngập lụt, tất cả đều mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Nhân dân giàu có, đều không lo đói khát, thực là niềm vui cảnh thanh bình. Khi đó vua bèn giao cho năm vị long hầu đi trấn nhậm các phương, kiêm quản chưởng các dải sông nước để làm chủ tể bảo vệ nhân dân. Khi ấy, ông thứ nhất làm chủ tể quận thành Hải Dương, đóng ở ngã ba sông Hồng. Sau nơi đó đều thành nơi cho gia thần phụng thờ. Ông thứ hai làm chủ tể đạo Sơn Tây ở ngã ba hợp lưu của sông Lâm Thao, sông Đà, sông Chiểu, tục gọi là ghềnh Ba Chậu (Triệu). Về sau đất đó dân đều lập đền phụng thờ.
Ông thứ ba là ông Trưởng là chủ tể quận thành Sơn Nam, đóng tại đất trang Tông Chất, huyện Phù Vân, phủ Thường Tín. Cung điện dựng ngự ở nơi trán rồng chỗ ba sông Lương, sông Du, sông Tô hợp lưu, là đất có địa hình quý chín rồng tranh ngọc, núi dựng nước giao, thật là đất anh linh lớn lao, đóng tại ở chính nơi đất trán rồng, theo hướng chính là hướng Quý Đinh, rồng nước cùng chầu ở mặt chính, phượng hoàng nhảy múa ở hai bên. Ông thứ ba là ông Trưởng xây thành và cung điện ở đó.
Ông thứ tư là ông Quý xây thành và cung điện ở thành Kinh Bắc, ngã ba sông Vũ, sông Cẩm, cung đóng ngự ở thế chính đầu vùng đất chim loan. Ông thứ năm xây thành ở Nam Chân, quận Giao Chỉ, ngã ba sông Vạn và cửa biển, cung ngự đóng ở chính cục đầu con lân.
Ba ông Cự, ông Hồng, ông Quý khi vâng mệnh đi dẹp quân Thục, một trận dẹp yên, rồi về nước đi đảm nhận các nơi cung sở đầu sông, đều hóa thành rắn dài trăm trượng, đi xuống sông mà tự hóa sinh bất diệt. Như thế, ông thứ nhất là ông Cự, ông thứ hai là ông Hồng, ông thứ năm là ông Quý đều cùng hóa trước. Vua truyền cho các vùng đất mà các ông trấn nhậm đầu sông và nơi hóa đều lập đền phụng thờ. Sắc phong là Thượng đẳng (vẫn có những tích riêng).
Từ khi năm ông vậng mệnh triều đình đi trị nhậm các nơi để trấn năm phương, bảo vệ cai quản thiên hạ đều được thanh bình, giàu mạnh.
Lại nói, quan Trưởng lệnh là chủ tể một bộ Sơn Nam. Đất trang Tông Chất đều là gia thần tại đó. Khi ấy, nhân dân ở trong trang (tức trang Tông Chất) có 9 tộc chia thành 8 giáp (khi đó các họ Phạm, Lê, Đặng, Bùi, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Trịnh, Trương là 9 tộc), đều theo quan Trưởng Lệnh làm chân tay, gia thần, cộng tất cả được 289 người, đều là những người khỏe mạnh. Ông bèn lấy ba người ở đất đó (tức là trang Tông Chất) cũng là những người có tài, khỏe mạnh, dũng cảm, cùng làm quản thuộc nội đao, phụ trách các gia thần 289 người, cùng quản trị nhân dân, đều là các tì tướng.
Khi đó ba vị Nguyễn Công Minh, Bùi Công Tài, Đặng Công Cán là người phụ trách nội vụ, theo hầu ông (sau ba vị đều hóa, vua cùng phòng làm Bản thổ thần quan, lập miếu thờ ở trong dân). Từ đó nhân dân trang Tông Chất đều chịu ơn đức lớn của ông Trưởng. Triều đình miễn hết đóng góp quân lương. Người ở đất Tông Chất một phương đều nổi danh hiển hách. Nhà cửa giàu quý, đất đai trù phú, mua thềm đất đai, đều là công đức to lớn của ông Trưởng đã nuôi dưỡng nhân dân. Công tựa núi cao, biển rộng, lòng nhân đức như trời đất vô cùng, đều là công nuôi dưỡng vậy.
Lại nói, khi cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối, thế nước đã cùng. Vua Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử đều theo nhau về tiên hương. Sáu vị công chúa sau chỉ còn hai. Vị thứ nhất là công chúa Tiên Dung. Vị thứ hai là công chúa Mỵ Nương. Cả hai đều là bậc hào kiệt trong giới nữ lưu, là bậc thần thánh trên thế gian, có nhan sắc tuyệt trần, đức hạnh thế gian hiếm có. Công chúa thứ nhất là Tiên Dung được gả cho Chử Đồng Tử quê ở trang Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, Sơn Nam. Công chúa thứ hai là Mỵ Nương được gả cho Tản Viên Sơn Thánh, quê ở động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây. Khi ấy vua chọn được người con rể thiên tài, bèn nhường ngôi cho. Tản Viên Sơn Thánh không nhận, chỉ xin được giúp việc chính sự quốc gia. Được hơn 10 năm, thiên hạ thanh bình, trong phủ không có việc phải lo.
Khi đó, vua gọi ông Trưởng Lệnh cùng với ông Quý Khanh, cả hai anh em cùng về triều chầu vua. Hai ông vâng mệnh về triều. Từ đó vua tôi hợp đức, thiên hạ yên bình. Được vài năm thì Thục chúa nghe đồn rằng Duệ Vương tuổi cao, không có người nối hậu, nhường ngôi cho con rể Tản Viên, bèn tích trữ binh mã hơn 30 vạn quân đến đánh Duệ Vương để chiếm lấy nước ta. Thư từ biên cương gửi gấp về báo. Vua bèn gọi Tản Viên Sơn Thánh cùng ông Thổ Lệnh Trưởng (Trận đó năm anh em ông vẫn còn đủ. Vua có phong tước, chia các đạo đế chiến đấu. Đến khi yên ổn ba ông về triều rồi hóa trước, có tích riêng) cùng đến chầu vua hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:
Thần xin được thay thánh giá, tự chọn tướng tài nghênh chiến với tướng Thục ở các đạo bộ binh.
Ông Trưởng Lệnh tâu rằng:
Thần xin được nghênh chiến các đạo quân thủy.
Vua đồng ý. Khi đó vua phong Tản Viên Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần, cai quản cầm đầu 50 sơn thần. Lại phong cho ông Trưởng Lệnh là Thuỷ tào kiêm Thượng đẳng thần, cai quản cầm đầu 50 thủy thần, tước vị là Trung Thành Đại vương.
Ông Trung Thành đóng giữ quận Sơn Nam, đến Ái Châu, Hoan Châu, châu Bố Chính, quản đến các cửa biển của sông Lương, sông Ô, sông Cửu Đầu, sông Bạch Đằng các mặt nghênh chiến với đạo quân thủy của quân Thục. Sơn Thánh nghênh chiến từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, Cao Bằng, Tụ Long, Bảo Lạc, Côn Lôn, Bắc Tạ đến đất 16 châu. Sơn Thánh cùng Trưởng Lệnh Trung Thành Đại vương cùng dẫn thủy bộ các tướng, mười vạn quân mạnh, một ngàn tàu bè, cùng làm lễ trước bệ rồng. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa cùng đi. Một đạo quân của Sơn Thánh tiến thẳng đến các đồn của đại tướng Thục ở Mộc Châu, châu Phù Hoa, Việt Châu.
Một đạo thủy quân của Trưởng Lệnh Trung Thành Đại vương tàu bè thẳng tiến, ra từ cửa biển Thần Phù đến các dải sông từ các vùng Sơn Nam, Hải Dương, Ái Châu, Hoan Châu, châu Bố Chính, sông Ô. Thủy bộ hành quân, cùng ngày đến đánh một trận. Quân Thục thủy bộ đều thua to, chạy tẩu tán. Truy kích chém được ngoài ba ngàn đầu, bắt sống tướng Thục dẫn về kinh thành. Dâng biểu tâu lên là đã dẹp yên quân Thục.
Vua nghe tin rất vui mừng, bèn hạ chiếu triệu hai đạo thủy bộ về. Các đạo đều vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết trước bệ. Vua mở yến tiệc lớn. Từ đó thanh bình. Con vua cháu chúa nhàn du trong thiên hạ.
Khi ấy Trung Thành Đại vương xin vua cho trở về quận cũ (tức các quận Hải Dương, Sơn Nam) để thăm hỏi cha là ông bộ trưởng Bột. Vua đồng ý, ban cho vàng bạc, lụa là, gấm vóc hàng ngàn cân. Ông làm lễ bái tạ, rồi rời xa giá trở về châu quận, trên đường đi đến huyện Kim Bảng, phủ Lị Nhân xứ Sơn Nam thì thấy thân phụ là ông Bột đang về triều để thăm viếng ba vị long hầu đã hóa. Hỡi ôi, xa trông thấy thuyền rồng ở giữa sông Kim Mai thì bỗng nhiên trời đất tối tăm, mưa gió sấm chớp nổi lên. Ngày hôm đó (mùng 10 tháng 11) thuyền rồng của ông Bột chìm mất, ông hóa vậy (Về sau vua phong là Bột Hải Đại vương, lập đền ở nơi đó mà thờ phụng).
Khi đó Trung Thành Đại vương dâng biểu tấu. Vua nghe tin bèn sai quan sứ về nơi hóa làm lễ, truyền cho địa phương lập đền thờ phụng.
Lại nói, làm lễ cho thân phụ xong, vua lại triệu ông về triều, phong là Thổ Lệnh Thống quốc Đại vương, bổ nhiệm nhận thành Phong Châu, trấn giữ thành Bạch Hạc Tam Giang, làm Thống quốc Trưởng Lệnh Đô đài Lạc Long hầu Đại tướng quân.
Từ đó thiên hạ thanh bình, trong phủ vô sự. Quan Trưởng Lệnh xin vua đi chơi thiên hạ, xem xét các nơi là gia thần, tìm xem những nơi đất đẹp có long mạch để lập hành cung thờ cúng. Vua đồng ý. Ông bèn làm lễ ở triều đình. Ngay hôm đó rời xe đi các nơi trong thiên hạ.
Thế là ông đi du chơi vãng ngắm cảnh đến đất quận Sơn Nam. Nhân dân các phủ huyện đều dựng cung nghênh đón, là lễ mừng. Khí đó, ông lập sông Bạch Hạc là cung thứ nhất, thứ hai là bến Tông Chất ở ngã ba sông Lương, ngự ở chính nơi đầu tồng, đều là vùng đất du cung. Cung chính ở đất trang Tông Chất ngự trấn ngã ba nơi sông Lương, sông Du, sông Tô hợp lưu. Đất dựng cung ở tại nơi trán rồng, đều là chín rồng tranh ngọc, tất cả đều quay đầu về chầu ở đất chính cung, mặt trước có án ngọc.
Khi đó ông lại về chơi cung ở thành Tông Chất, truyền dựng một nơi hội tụ ở trong dân ấp. Dòng sông Du chảy tới cung này ở phía trước thì. Thường khi đi lại ông ngự thuyền rồng theo ba sông nhằm hướng sông Du mà tiến vào thẳng đến nơi hội họp trong dân. Ở tại nơi hội họp trước sân còn theo chính cục hướng Quý Đinh, lại lập giếng loa ở phía bên trong ấp để dưỡng khí đẹp của rồng xanh, cho được giàu mạnh người và vật. Ông lại cho làm một nơi bên đường có thế đất một dải vàng để làm cung nơi đất cấm. Năm tháng về đó dừng chân ở lại. Do đó ông là người đã mở ra đất này.
Hai nơi hành cung đều được miễn đóng binh lương. Hôm ấy (tức mùng 10 tháng Tám) xe của ông tiến về đến nơi cung Tông Chất. Nhân dân làm lễ bái mừng. Ông bèn ở lại trong cung (tức là cung sông Lương đất Tông Chất), mở tiệc vui vẻ, bèn gọi nhân dân, phụ lão cùng đến dự tiệc. Đang túc ăn uống tiệc tùng, ông Trưởng Lệnh Đại vương mới làm một bài thơ rằng:
Hà hải chung linh tự xuất thân Tu my nhĩ mục bất vi bần Cung đình xứ xứ giai ngô hữu Hương hoả trường lưu tại xã dân.
Nghĩa là:
Sông biển đúc thiêng vốn xuất thân Tai mắt tóc mi chẳng thể hèn Khắp chốn cung đình là ta giữ Hương lửa mãi lưu trong xã dân.
Lại nói, ông đóng binh ở đó, mở tiệc vui mừng tới hơn 10 ngày. Ông lại rời xe đi chơi các nơi trong thiên hạ, xây dựng hành cung, cộng là 172 nơi. Lại trở về triều, làm biểu dâng tâu xin vua cho các đất có hành cung làm nơi gia thần sở thuộc. Lại xin ba huyện Phù Vân, Thượng Phúc, Nam Xương đều là nơi gia thần sở thuộc, cùng giữ gìn nơi hội đồng ở cung Tông Chất. Vua đồng ý.
Đến sau đó Thục chúa lại đem trăm vạn quân tinh nhuệ đến đánh Duệ Vương để chiếm nước ta. Vua lại gọi Tản Viên Sơn Thánh cùng với Trưởng Lệnh Đại vương dẫn các đạo quân thủy bộ đánh một trận dẹp yên được. Khi đó ông Trưởng Lệnh ra quân dẹp giặc có làm một bài thơ rằng:
Vạn lý phong lôi, vạn lý vân Bất từ lao khổ sự quân thân Trung cần nhất tiết thiên hà phụ Vạn sự giai phù tại ngã thân.
Nghĩa là:
Vạn dặm gió mưa, vạn dặm mây Chẳng từ lao khổ, việc vua đây Một lòng trung cẩn trời không phụ Muôn sự đều do ở thân này.
Lại nói, sau có giặc rất mạnh ở Hồng Châu. Vua gọi Trưởng Lệnh Đại vương sai đem quân đánh dẹp. Ông vâng mệnh làm lễ tạ, đem quân xuống thuyền rồng, tiến quân theo đường thủy, đánh một trận lớn, bắt được tướng giặc Trương Dũng, chém đều treo dưới cờ chỉ huy. Quân giặc thua to, bỏ chạy. Đuổi theo, chém vô số. Một xe không thoát, một ngựa không còn. Gửi về kinh thành, dâng biểu tấu. Vua bèn hạ chiếu gọi về. Ông vâng mệnh trở về.
Khi đó Trưởng Lệnh Đại vương tiến thẳng về theo đường thủy, dọc vào dải sông Lương nhỏ. Chỉ có hai chiếc thuyền rồng cùng người em ruột là ông Khanh quay thẳng về thành, theo dòng sông lớn là sông Nguyệt Đức mà tiến. Hôm đó (mùng 10 tháng Giêng), hai chiếc thuyền của ông đi thẳng vào trong ấp (tức là ấp trang Tông Chất) theo dải sông Du nhỏ mà vào thẳng cung Hội đồng. Ông bèn bỏ thuyền bên sông mà lên cung. Nhân dân làm lễ bái mừng. Ông mở tiệc vui vẻ, bỏ giáp ngừng ninh, khao thưởng ba quân.
Ở đó đến mùng 10 tháng Sáu, ông lại sai chèo thuyền rồng đi ra chơi bên ngoài cung ở ngã ba sông Lương. Ông lên cung, bỏ ra ngồi nghỉ. Được một lúc bỗng thấy trời đất u ám, giữa ngày mà như đêm, nước sông sóng cả dập dồn. Cá, ba ba, giao long, rắn hoa đều nổi trên mặt nước, cùng hướng về chầu trước cung. Đáy nước ba sông ầm ầm như tiếng sấm vang đến, phá mở một cửa giếng ở trong cung nơi ngự chính. Nước ngập đầy cung. Ông bèn theo dòng nước giếng mà ra trước cung nhập vào ngoài sông. Lại thấy ông cưỡi cá chép, tay cầm thẻ bài ngọc, bỗng nhiên hóa (do đó trước nơi cung có mảng sông nước hình như đuôi cá còn tới nay). Đang khi đó lại thấy thuyền của ông đều có rồng vàng trong thuyền bay ra trước cung ngoài sông thì bay lên trời mà biến. Còn hơn trăm trượng, vảy đỏ rực rỡ. Vạn nhận bỗng mưa to gió lớn.
Khoảng ba ngày sau thấy trời đất trong sáng. Nhân dân đều lấy làm sợ hãi kinh dị, bèn làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua nghe tin vô cùng thương tiếc bề tôi tài giỏi, lại có công lớn với nước, bèn lệnh cho trăm quan đến nơi hóa (tức cung Tông Chất ở ngã ba sông Lương, sau nhà Lê đổi thành cung Đa Chất). Sau cho sửa dựng lại cung sở làm nơi đền hóa chính. Nhân dân địa phương ở đó (tức là ở đền Đa Chất sông Lương) đều phụng thờ. Còn như dân các trang của ba huyện là gia thần sở thuộc về quy tế ở đền hóa chính sông Lương, mỗi năm xuân thu đều đến phụ tế. Để giữ hương lửa ở Tông Chất cho miễn đóng binh lương, ruộng thờ 30 mẫu 3 sào. Hai kỳ xuân thu làm quốc tế.
Trăm quan vâng mệnh đến nơi hóa mà tế. Khi tu sửa đền miếu hoàn thành bèn làm lễ đến xem trong giếng (đi đến nơi đó) thấy giếng ở trong cung nơi ngự chính mà ngài đã hóa có tiếng động ầm ầm như tiếng sấm. Trăm quan thấy việc linh ứng trước mắt, bèn làm lễ tạ. Trở về triều dâng tấu lên vua. Vua nghe vậy thấy đáng xưng là linh ứng. Ngay hôm đó vua phong thêm mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, cho vạn năm hưởng tế lộc cùng với nước nhà, mãi là lệ thức. Lại ban cho áo mỹ cùng với các đồ tế khí, cho phép Tông Chất làm nơi hương lửa hộ nhi, đều miễn đóng binh lương, xuân thu quốc tế. Còn ba huyện cùng là nơi hành cung thần tử, xuân thu phụ tế ở trang Tông Chất tại đền ngã ba Lương. Mỗi năm hai kỳ nhân dân ba huyện đến phụng thờ phụ tế ở đền hóa chính Tông Chất. Ba huyện mỗi kỳ phụ tế nộp 100 quan tiền.
Khi đó vua lại truyền hịch đi thiên hạ các nơi có cung sở trước đây đều lập miếu phụng tự. Cộng là 172 nơi được vua phong. Phong Trung Thành Thượng đẳng tối linh Đại vương, cho phép thôn Phú Nhiêu phụng thờ hương lửa.
Lại nói, về sau vua nhớ nghĩa quân thần, bèn lại truyền lập ở thành Phong Châu nơi ngã ba sông Bạch Hạc một quán tên là Tam Thanh. Lại truyền vẽ tượng, vẽ ông Trưởng, ông Khanh hai tướng tay cầm long đao đứng hai bên trái phải của quán. Ngày tháng vua tưởng nhớ diện mạo hai ông, nên thường ra ngự ở quán đó (tức quán Tam Thanh) để xem thể diện của hai ông. Việc xây dựng đã xong.
Khi triều Hùng mạt vận, thế nước đến lúc cuối, vua nhường ngôi cho Thục vương (tức bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái Hùng Vương). Từ đó trải qua Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương cộng là 349 năm, cho tới khi vua Đường sai Lý Thường Minh làm quan Đô hộ Nam bang.
Bèn tiến đánh giặc Ai Lao. Một hôm Thường Minh dẫn quân đi đến đền Tông Chất huyện Phù Vân (tức đền thiêng nơi ta), đền thiêng Ba Lương. Một tối quan đô hộ Thường Minh làm lễ cầu khấn xin được âm phù giúp nước, sau này dẹp được giặc sẽ tâu lên vua Đường tăng phong mỹ tự, vạn đời cùng hưởng với nước nhà, cùng hưởng phúc thanh bình. Khấn xong quan đô hộ nằm ở nơi cung chính trong đền. Mộng thấy một người thân cao mười trượng, tay cầm long đao, đường đường đến đứng ở giữa cùng, mà nói rằng:
Tôi nghe ngài khấn thỉnh, nên đã đến đây xin được giúp nước nhà.
Đang nói chưa dứt thì ông tỉnh lại, biết là mộng thần cảm ứng báo cho, bèn làm lễ tạ. Sáng ngày dẫn quân tiến thẳng đến thành Phong Châu, lại thấy quán ở bèn đóng quân một đêm tại đó. Thấy hình dạng hai tướng giống y như người trong mộng, ông vui mừng báo rằng:
Nếu quả như đã gặp trong giấc mộng ở đền sông Lương, xin hãy âm phù giúp dẹp giặc thành công. Sau này tất sẽ tấu xin vua Đường phong tăng làm Nam thiên Thượng đẳng phúc thần, vạn đời hưởng lộc, cùng với nước nha yên lành, mãi là lệ thức không đổi, mãi thịnh vậy.
Lý Thường Minh khấn xong, đến nửa đêm lại thấy đường đường hai tướng, thân dài mười hai thước, mũ rồng, giáp vàng, áo gấm, tay cầm long đao. Hai ông múa đao đi tuần du quan trước sân ba vòng. Bỗng nhiên một ông bước một bước sang bến Việt Trì (đến nay do đó còn dấu chân tại bến đá). Tự nhiên biến mất.
Thường Minh tận mắt thấy sự linh nghiệm kỳ dị bèn làm lễ rạ. Ngay hôm đó tiến quân thẳng đến dẹp Ai Lao, một trận là yên. Sau Thường Minh dẹp được giặc Ai Lai, tâu lên vua Đường. Vua bèn tôn xưng là đền thiêng bậc nhất trời Nam, phong tăng là Thượng đẳng phúc thần, vạn đời trời Nam hương lửa cùng với nước nhà hưởng yên lành. Cho phép trang Tông Chất phụng thờ. Phong Trung Thành Phổ Tế Đại vương Hộ quốc An dân Đại vương.
Lại nói, trời Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng cơ đồ, thường có nhiều lần anh linh giúp nước cứu dân, nên trải các đời đế vương phong thêm mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, hương lửa vô cùng.
Trung Thành Vương là thủy thần ngã ba sông Lương. Dọc sông có tên thờ là Thổ Lệnh Trưởng. Năm Vĩnh Huy thời Đường Cao Tông Lý Thường Minh là đô đốc Phong Châu, đi qua bên sông, thấy núi sông tươi đẹp, thắp hương cầu khấn, mộng gặp thần nhân. Một xưng là Thổ Lệnh, một xưng là Thạch Khanh, chạy đến đua tài. Thạch Khanh nhảy một bước tới bên bờ Nam đã thấy Thổ Lệnh đến đứng ở bên sông trước. Thạch Khanh lại nhảy tới bờ Bắc, lại thấy Thổ Lệnh đã đứng ở bên bờ sông đó trước. Do vậy mà kính sợ, cho tô tượng phụng thờ. Lý Thái Tông đi thuyền qua đây, cũng có tưởng nhớ công lao, tăng phong mỹ tự là Trung Thành Đại vương. Các triều đại cũng đều có sắc phong.
Truyện Thổ Lệnh đất Phong châu
Thần vốn là hạo khí của núi sông, tục gọi là Thổ Lệnh Trưởng. Xưa tại thời Hán Tấn, có sự linh ứng, bảo vật phúc dân. Trăm họ địa phương được nhận nhiều ơn huệ. Người dân lập một ngôi đền cỏ để làm chỗ cầu đảo, mãi là quy định, đời đời không đổi. Đến những năm Vĩnh Huy nhà Đường, đô đốc Phong Châu là Lý Tiên Minh, là người ôn hòa, cung kính, phong nhã, biết thương vật yêu dân. Là người quản lệnh ở đây, nên các danh thắng trong châu, không nơi nào là ông không ghé chân qua. Do đó, những việc dù là nhỏ trong dân giam, dù là một cái cây một ngọn cỏ mà có sự hoa lệ không thay đổi thì đều định xuống thành tình khúc để nắm bắt được sự kỳ diệu đó. Khi ấy người người đều gọi là vị quan lệnh tốt.
Một hôm ông đi đến cửa sông Bạch Hạc, bỗng trông thấy một quán nhà tranh ba gian, được xây dựng rất sơ sài. Tiên Minh liền đến xem nơi trú nghỉ cùng với phẩm vị tinh tế thì biết đây là ngôi đền cổ linh thiêng, tự nhiên như có sự cảm nhớ, bèn ngẩng lên trời mà than rằng:
Bản chức vâng mệnh đến nơi nhân dân muốn để giúp yên nghiệp. Nhân dân được nhờ ơn sâu của thần là điều mong muốn của bản chức. Nay thấy như ở đây một mảnh đất trong dân gian đã muốn trở thành cô quạnh hoang vắng, nhưng lại vẫn có mấy gian hương lửa, kính ngưỡng sao vẫn đủ đầy, ngày sóc buổi vọng vẫn thiêng thay.
Nên do đó mà có ý tu sửa. Lại xem địa thế nơi đây, trăm tầng dải biếc, ngàn dặm núi xanh, nước tựa như huyền, cùng núi uốn khúc, bàn long cứ hổ, núi đất sừng sững dựng thành một vạt dải đẹp đẽ. Bèn cho kiến thiết gạch gỗ dựng lại, thợ giỏi vẽ tường, tô vách, đẹp mắt đẹp lòng, trở thành một nơi đại danh thắng linh thiêng vậy.
Lại dựng ba pháp tượng cực kỳ to lớn, dựng riêng nhà giải vũ trái phải, cùng tiền đường hậu đường. Lại sai thợ trang sức tô vẽ tượng thần, tùy theo nơi mà bày trí thêm bớt các đồ tinh diệu, đương nhiên anh khí linh thiêng không thể chê được. Nhân đó mà thắp hương khấn rằng:
Tôi là chủ quản châu này. Nhân thấy ngôi miếu tranh sơ sài, việc xây tạo mới đã thành. Bây giờ nếu thần kỳ có linh thiêng, xin sớm hiện chân thân đúng như hình dạng thánh tượng vậy.
Bèn trai giới, tắm rửa tinh sạch rồi đi nằm. Đêm đó sau lúc trống canh điểm ba tiếng, bỗng mộng thấy có hai di nhân đến thẳng vào trong nhà, chia hai bên mà ngồi. Một người ngồi ở bên trái, đầu bù xù, răng lộ ra, mặt như hình quả bí, mũi to, râu ria
thần thái đẹp đẽ, đầu quấn khăn gấm vuông đoạn xanh đoạn hồng, thân mang áo khoác lân gấm viền biếc, chân xỏ giầy mây ngao điểu màu đen, tay trái cầm đằng đao, tay phải xếp khiên trúc. Một người ngồi ở bên phải trán rộng, mắt đỏ, mặt tròn như hình bánh, bảy đoạn căn cột xếp thành so le, mắt hổ môi dầy, hình dung cổ quái, đầu đội khăn gấm vuông xen các màu tím hồng, thêu vàng, mình khoác áo bào hoa thêu xanh trắng, chân đi giày sò tía núi nghiêng, vái chào Tiên Minh nói:
Đã lâu nghe đại danh của sứ quân như sấm nổ bên tai, nên muốn vội tới đây yết kiến, sau là để bày tỏ ý trịnh trọng. Nay nhân nhớ đến triều xưa nên đặc biết đến để ngồi tiếp ngài.
Tiên Minh thấy hai người diện mạo phong nhã, nói năng trước sau hợp lễ thức, trong lòng rất kính trọng. Tuy nhiên, ngầm nghĩ đây là ai khó có thể luận được, bèn nói:
Bản chức vâng sắc Thượng hoàng đến nhận chức phương Nam đến nay đã chưa được một năm, lại gặp được hai tôn tướng đến tiếp, may mắn được cùng nói chuyện, thật là có duyên. Thiết tưởng không phụ chí chiêu mộ tìm hiền hàng ngày. Song ngày tháng đã qua, có điều còn chưa tỏ tường. Xin thỉnh lời giáo huấn cho rõ để có thể biết được quang cảnh vậy.
Hai người cười nói:
Chúng tôi đều ở nơi đây, không phải xa xưa gì. Sứ quân đã có lòng mong muốn gặp gỡ, cho nên chúng tôi đặc biệt đến để tạ, sau là đền đáp lại vạn phần ý tốt đó.
Tiên Minh ngạc nhiên nói:
Tôi tuy đã đến nhận nơi quan đường, nhưng được một lần gặp mặt, sao lại có mong muốn gặp gỡ. Xin được biết cho tỏ.
Hai nhân nói:
Ngày sau sẽ tự biết, không cần phải giải thích.
Tiên Minh nói:
Đã được ơn huệ này thì liệu có thể được một lời về nhân tình không?
Hai người nói:
Chúng tôi một tên là Thổ Lệnh, một tên là Thạch Khanh, đều là dân bản xứ. Lúc nhỏ thường tập võ nghệ, ít khi thi đấu trực diện. Nay lại được cùng sứ quân dự tiếp, xin được ra trước sân để so xem ai hơn ai kém. Ai hơn thì ở trước, ai kém ở sau. Để xem hơn thua như thế nào, sau là khỏi phụ công bình sinh học tập.
Tiên Minh vui mừng, liên tục đồng ý. Thế là hai người đến ở trước sân, cầm khiên đối mặt mà đấu nghệ, như hoa lê bái tuyết, như hổ tranh oai, tiến lui như rồng rắn quẫy động. Thạch Khanh thừa dũng dùng một bước nhảy, lại bước thêm một bước đến giữ nơi cửa giới. Không ngờ Thổ Lệnh đã sớm hơn giữ lấy cửa giới, lại còn đã bước thêm hơn một bước.
Tiên Minh hô “ôi” một tiếng lớn, rồi lại kinh sợ mà tỉnh lại, mới biết là một giấc mộng nơi chốn thiêng. Nhớ lại ký ức mờ mờ mà như trong mộng trông thấy vẽ lại anh em như Lý Lã nhân mà thành gió. Phàm có điều lo nghĩ giàu nghèo thiếu thốn thì đến ở đền cầu khẩn, họa phúc thấy đúng như âm báo.
Các triều đại dẫn quân đi qua địa phương này đều mổ súc vật làm lễ yết tế, tất được kỳ công. Lý Thái Tông dẫn quân đi qua phạt Chiêm Thành, thuyền qua nơi đây cầu đảo, tặng phong là Trung Thành Đại vương. Đến này còn sự tặng phong của các triều đại. Thời Trần Nhân Tông năm đầu Trùng Hưng sắc phong là Trung dực Đại vương, hai năm sau tăng thêm hai chữ Võ phụ. Thời Trần Anh Tông năm Hưng Long thứ 21 lại phong thêm hai chữ Uy hiển.
Về sau triều Trần Hàn lâm viện Thị độc Vương Uy theo giá đi Tây chinh nước Chiêm Thành, đi qua dưới đền, có thơ rằng:
Tỳ hưu thập vạn triển uy linh Thế lực vân trung tuyết ngoại thành Giang hữu khu khu hà xứ thị Phong thanh hạc lệ tẩu Tần binh.
Nghĩa là:
Mười vạn tỳ hưu tỏ oai linh Thế lực trong mây, tuyết ngoài thành Bên sông nơi nơi đâu là chốn Tiếng gió lệ hạc đuổi Tần binh.
Lại có Hàn lâm thị độc Nguyễn Sĩ Cố theo giá đi Tây chinh Ai Lao, trở về có thơ rằng:
Quy ngư phù ấn quải yêu gian Tiền sự hy cầu phó tướng quan Bạc đao thư sinh vô vọng xứ Chỉ lai từ hạ khất bình an.
Nghĩa là:
Ấn phù rùa cá đeo bên hông Sự cũ theo quan tướng cầu mong Thư sinh bỏ đao về vô vọng Dưới đền tìm đến, an lành trông.
Các kỳ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ, và chữ húy, sắc phục làm lễ phải cấm vâng khai như sau:
Ngày sinh thần 12 tháng Hai. Làm lễ đón thần từ đền ở cung ngoài ba sông về nơi tế hội đồng, trên bộ đón giá, đường thủy ba chiếc thuyền rồng, trở về đến trước cửa nơi tế. Làm lễ cỗ chay oản quả, dưới dùng lợn đen tuyền, xôi, rượu, ca hát, đánh cờ, đấu vật trong 10 ngày, làm lễ rồi dừng.
Ngày hóa thần mùng 10 tháng Sáu. Làm lễ cỗ chay, trà, oản quả, bánh trôi, xôi rượu, cơm thịt lợn, các đồ vàng mã.
Ngày khánh hạ mùng 10 tháng Tám. Làm lễ cỗ chay, xôi rượu, ca hát ba ngày thì ngừng. Thịt trâu hay thịt lợn đều được.
Ngày khánh hạ 15 tháng Tám. Làm lễ cỗ chay, xôi, rượu, ca hát ba ngày thì ngừng.
Ngày khánh hạ 15 tháng Ba. Làm lễ đón thần bằng hai thuyền rồng, tiền về theo đường thủy tới nơi tế hội đồng, ca hát, đấu vật, cỗ chay, gà, xôi, rượu, ca hát ba ngày thì ngừng.
Ngày khánh hạ mùng 10 tháng Giêng. Làm lễ cỗ chay, lợn, xôi, rượu, ca hát ba ngày thì ngừng.
Ngày khánh hạ 12 tháng Năm. Làm lễ ở cung miếu, chèo thuyền rồng đón giá, cỗ chay, dưới móng lợn, xôi, rượu, bánh trôi, ca hát mười ngày, làm lễ tạ rồi ngừng.
Ngày khánh hạ mùng 10 tháng Mười một. Làm lễ xôi rượu, thịt lợn, ca hát một ngày thì ngừng.
Ngày khánh hạ 25 tháng Mười. Làm lễ thịt lợn, xôi, rượu, ca ba ngày thì ngừng.
Chữ húy Trưởng, Lệnh, Thổ, Trung, Thành đề cấm tránh cùng âm. Cùng với tên cha mẹ hai chữ Bột, Hương, cùng với các áo màu vàng, tím đều cấm.
Hai kỳ xuân thu ở nơi miếu hóa. Các ngày 15 tháng Ba, 15 tháng Tám làm lễ tam sinh. Các nơi phụ tế đều làm lễ. Ca hát ba ngày thì ngừng.
Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc, ngày tốt tháng Giêng, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, bề tôi là Nguyễn Bính vâng soạn.
Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ ba, ngày mùng 1 tháng Năm, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, bề tôi là Nguyễn Hiền tuân theo y như bản trước đây vâng sao.
Ghi chép của trưởng tộc họ Nguyễn tại Thượng từ đường ở Cổ Lôi
Quyển tập thứ hai
Năm Tân Mùi Thái Bình Thiên Quốc, vào ngày lành tháng giữa mùa xuân Đinh Tiên Hoàng nhờ ta triệu tập 12 sứ quân hợp nhất, cùng tôn Đinh Bộ Lĩnh làm Thiên tử. Đến ngày 12 tháng 2 Đinh Tiên Hoàng cùng các tướng đến nhà thờ làm lễ báo ơn công đức các vị tiên tổ Bách Việt, sơn thủy bách thần triều Hùng Vương. Lại phong cho ta cùng người em Nguyễn Bặc làm Quốc công, lập ban thờ, trùng tu miếu điện, cấp chia ruộng để muôn năm hương khói phụng thờ.
Thiết nghĩ, thân cây lớn vạn lá vốn là nhờ có gốc. Nước có ngàn dòng, vạn dòng vốn là nhờ nguồn. Vật còn như thế huống chi con người sinh ra kế thừa sự tốt lành từ tiền nhân mới thịnh vượng mà tỏa đi được xa vậy. Ngưỡng trông tổ tiên ta lấy cần cù mà vun gốc, lấy chắt chiu làm nguồn cho phong tục, tích đức, tích nhân. Không có điều đó thì con cháu làm sao có mà kế thừa. Là con cháu há chẳng nhớ về ngọn nguồn, tìm đạo xa xưa? Vì vậy phải viết lại thành gia phả. Phàm là mộ tổ tiên tại nơi nào, ngày giỗ kỵ là khi nào cùng với các chi nhánh, thế thứ đều có thể ghi lại trong đó, để người kế tự về sau nắm được. Nắm được để mãi mãi noi theo.
Các đời tổ sư xứ Cửu Liên Hoa
Tổ ta từ chân núi Tản Viên dựng nghiệp các nghề thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gốm, đúc kim khí ở tại Tây Vực, giáo hóa chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công dựng nước, có đức giữ dân, nên người đời sau tôn xưng các tên gọi Tiên Phật để phụng thờ. Toàn thế giới đều chịu ơn lớn, cùng sự tôn sư trọng đạo mà xin làm đệ tử, cùng nhau truy niệm tổ ta ở trong các ghi chép của đền Thần, chùa Phật.
Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngõa, Phụng Châu, Tiên Lữ, đến Phong Châu đất chủ tạo thành thế đất tứ linh Long, Phụng, Ly, Quy. Ba đầu (ba tán) chín lớn (chín miếu tại Phong Châu chính là chín con rồng) đời đời mãi soi. Tứ linh cùng với hình Cửu long là tượng trưng cho địa thế. Tổ ta đóng đô tại Lôi Bằng, rồi đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh (Lôi Bằng là nơi định đô thời sơ khai. Lôi Phong là thời Kinh Dương Vương. Lôi Đỉnh là thời Triệu Vũ Đế).
Buổi sơ khai tên nước là Cực Lạc, phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hòa Bình, ở tại núi Tản Viên, hóa ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở mặt trước núi. Giỗ ngày mùng 1 tháng Tư.
Đế Thiên (Phục Hy), mộ tại Thiên Thị núi Sài, Quốc Oai, Sơn Tây. Ngày giỗ mùng 4 tháng Tư.
Địa Mẫu mộ tại Cực Lạc, bên trái chân núi. Ngày giỗ mùng 1 tháng Tư.
Đế Viêm dùng lửa luyện kim loại cùng với làm gốm, dùng kết thừng làm văn tự, khởi đầu vạch ra Bát quái, phân định Âm Dương, Ngũ hành, thực là người đã khai mở vận hội văn minh vậy.
Địa Mẫu dạy dân cầy cấy, chuyện nghề nông tang, cứu khổ chúng sinh nên đời sau truy tôn là Địa Mẫu Chân Tiên.
Đế Viêm bị một học trò tên là Hiên Viên làm phản, đuổi Đế Viêm ra ngoài nước. Do tuổi cao sức yếu, ngày mất trên đường đi về nước Bắc, hóa ở núi Thổ Ngõa.
Đế Khôi hiệu là Thần Nông, hóa tại Phụng Châu, sau cải táng đưa về chôn trong giếng huyện Đình Sở, Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Các cụ ông cụ bà đều được chôn ở đất ấy. Ngày giỗ mùng 6 tháng Sáu tại các đền thần, gọi là lễ Hạ điền. Các tiết trong năm như Thượng điền, Hạ điền, cơm mới đều làm lễ báo ơn đức trên toàn cõi Đông Á.
Hữu Sào, Toại Nhân vốn là bạn của Đế Viêm. Khi Hiên Viên làm phản gây loạn, hai vị dùng quân đánh thắng, đuổi Hiên Viên ra ngoài biên cương. Từ đó ông ta tự lập nước ở phương Bắc, tự xưng là Hoàng Đế, đóng đô tại Trường An. Từ đó Hiên Viên dựng nghiệp, giáo hóa chúng sinh, học điều hay làm nông tang, văn tự, luyện kim, nung gốm như nước Nam.
Hữu Sào, Toại Nhân nhiếp chính, trợ giúp Thần Nông giữ nước, giữ dân. Đến khi Thần Nông trưởng thành, lên ngôi là Thiên tử, đóng đô tại Phụng Châu, Long Môn, núi Trầm. Hai vị cáo lão về quê ở tại Sào Vực, chợ Thổ Long, huyện Chương Mỹ, hóa tại đất đó.
Bà mẹ nuôi là nàng Diệu Trinh cùng với ba vị vương tử, văn võ kiêm toàn, giúp Thần Nông bảo vệ vạn dân.
Đế Tiết sinh ở Phụng Châu, hóa ở Thanh Lãm, mộ tại Hoàng Anh Mộc, lễ chính ngày mùng 9 tháng Giêng. Các hoàng hậu, vương phi đều chôn cất tại đó.
Đế Thừa Sở Minh Công sinh tại núi Sở, nên có tên là Sở Minh Công, lên kế ngôi, đế hiệu là Đế Thừa, hóa tại núi Sở, Tiên La, bãi Thuần Lãm. Các hoàng hậu, hoàng phi đều an táng ở khu đó. Giỗ ngày mùng 1 tháng Sáu.
Đế Minh (con trưởng của Đế Thừa), húy là Nguyễn Minh Khiết (sinh tại đất chủ Tiên La tại Định Công, Hà Nội). Ngày giỗ là 12 tháng 2. Mộ chôn tại chân núi Định Công. Hoàng phi, mĩ nhân đều chôn ở khu đó.
Đế Minh lấy nàng Vụ Tiên. Bà sinh tại hồ Tây, hóa tại Phong Châu, chôn tại trong chùa Đại Bi, làng Ỷ La.
Đế Minh lấy thứ phi mà quên tình nàng Vụ Tiên. Bà cùng với 8 người anh em đến động Tiên Phi ở tỉnh Hòa Bình tu hành, giáo hóa chúng sinh. Đến khi Kinh Dương Vương trưởng thành kế ngôi, Vương đón Thánh mẫu trở về Phong Châu tu hành ở chùa Đại Lôi Âm. Bà sinh ngày mùng 8 tháng Tư, hóa ngày 15 tháng Bảy. Đời sau tôn húy là Hương Vân Cái Bồ tát, Sa Bà Giáo chủ, có công sáng lập đạo tên là Bà La Môn. Mộ tại Ỷ La, thành Đại La. Trong đạo Tiên tôn gọi là Thánh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên, một bầu sinh ba thánh.
Đế Thừa Sở Minh Công sinh ba con trai:
Thứ nhất là Nguyễn Minh Khiết, húy là Đế Minh, làm Hoàng đế phương Nam.
Thứ hai là Nguyễn Nghi Nhân, làm Đế Nghi ở Trung quốc.
Thứ ba là Nguyễn Long Cảnh, hiệu Lý Lang Công Ba Long Đại vương, hóa tại thôn Nguyệt Ánh.
Từ cổ đến đó chỉ có 1 nước, nay phân làm 3 nước, tất có 3 vị vua, cho nên Kinh Dương Vương dùng ba chữ Vương hợp thành một chữ, tức là nước Xích Quảng. Đời sau gọi ba vị là Tam tòa Đức chúa ông. Đạo Tiên gọi là phủ – Tam phủ Công đồng.
(Dịch thep bản chụp chữ Nho từ ngọc phả họ Nguyễn ở tống Xốm Bình Đà)
Thần tích dịch theo bản khai làng Đào Xá, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, ký hiệu TTTS 14824
Ghi chép cổ về vị Hải Vân Long Vương, là bộ thứ 19 trong 50 vị thủy thần từ một bầu trăm trứng do Lạc Long Quân họ Việt Thường sinh ra
Chi Cấn, quản các sông Thao, sông Bạn, sông Đà
Xưa Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng Đế gây dựng cơ đồ, là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng cổ Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, mở nước Việt cơ đồ họ Hùng. Nước biếc một dòng khởi vận thánh đế, minh vương. Núi xanh vạn dặm dựng nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống trị 15 bộ, thế lớn mạnh phục các phiên bang. Nối tiếp ngôi báu Viêm Hồng mà làm vua trị nước hơn 3 ngàn năm, mãi giữ cho dòng dõi vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương nước Nam. Thánh địa núi Hùng muôn năm còn ngự. Đất tổ trời Nam là gốc nước mãi bền muôn năm, vạn đời mãi mãi. Lập nên các lăng, điện, miếu, cung. Con cháu dòng dõi hoàng gia phân chia ở các đầu non, góc biển, tại quận Giao Chỉ các xứ phủ, huyện, xã dân, châu, trang, động, sách, đầm, hồ, sông, suối, vực, khe, núi sông các nơi cùng hương lửa phụng thờ. Vạn thế tích cũ lưu truyền. Người đời sau có thơ khen rằng:
Nam thiên triệu khởi tự Hùng đồ Thánh tử thần tôn mãn quốc đô Bách tử thiên tôn thiên hạ hữu Nhất bào bách noãn thế gian vô Nhị thiên dư tải sơn hà tại Thập bát tương truyền nhật nguyệt phô Kim cổ danh truyền Nam Bắc cộng Nam thiên đế tổ thử Hùng đồ.
Dịch là:
Họ Hùng cơ nghiệp dựng trời Nam Khắp chốn là dòng dõi thánh thần Trăm trai ngàn cháu trong thiên hạ Trăm trứng một bầu hiếm thế gian Hai ngàn năm lẻ núi sông đó Mười tám đời truyền với tháng năm Xưa nay danh vọng Nam cùng Bắc Họ Hùng chính đế tổ trời Nam.
Chi Cấn, bộ thủy thần
Lại nói, triều Kinh đời thứ hai là thời vua Lạc Long Quân ngự trị (Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm. Mẹ là con gái của vua Thủy đình tên là Thần Long. Ngài là con trai trưởng của Kinh Dương Vương, ở ngôi 269 năm, sống lâu 506 tuổi). Vua ra ngự núi Nghĩa Lĩnh, ở tại thành Phong Châu (thành Phong Châu tức là đất Việt Trì, sông Bạch Hạc vậy). Có người con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, về ở quê mẹ tại động Lăng Sương, thường ra chơi bãi Trường Sa. Long Quân đi ngự chơi, trông thấy hình dung đẹp đẽ, yêu lắm, lấy làm Hoàng phi.
Vua có tư chất phi thường, khí tượng ung dung, đức nhân quảng đại. Thiên hạ đều khen là vua hiền, nên đổi hiệu là Hùng Hiền Vương.
Bà Âu Cơ có mang 3 năm 30 ngày. Khi sắp sinh ở trên núi Nghĩa Lĩnh có mây lành năm sắc rực rỡ. Đến khi sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm người con trai, đều là tư chất khác thường, anh hùng vượt đời. Đến khi lớn lên vua bèn lập hầu phong đất, chia nước thành 15 bộ (1. Sơn Tây; 2. Sơn Nam; 3. Hải Dương; 4. Kinh Bắc; 5. Ái Châu; 6. Hoan Châu; 7. Bố Chính; 8. Ô Châu; 9. Ai Lao; 10. Hưng Hóa; 11. Tuyên Quang; 12. Cao Bằng; 13. Lạng Sơn; 14. Quảng Tây; 15. Quảng Đông).
Khi đó Long Quân bảo bà Âu Cơ rằng:
– Ta là rồng, mà phu nhân là tiên, loài giống khác nhau nên phải chia biệt.
50 người theo cha về biển làm Thủy tinh. 50 con theo mẹ lên núi làm Sơn tinh. Các vương trấn giữ rõ ràng ở các sông núi, đều là thần thuộc.
Vua bèn đặt tướng là “lạc tướng”, con trai vua là “quan lang”, con gái vua là “mị nương”, quan phụ trách là “bồ chính”. Đang khi đó trên nhân luân chính trực, dưới giáo hóa sâu dày, bắt đầu thực hiện những điều tuyên bố này. Vua được rủ áo chắp tay, rờ rỡ chín tầng. Dân được đào giếng cày ruộng, vui vẻ bốn phương. Không có ai sống mà không yên lòng. Không có vật nào yếu mà không được nuôi dưỡng. Việc trị định thành công, vượt hơn đời vua trước. Phong tục thời thái cổ cũng không sánh bằng. Trị nước lâu dài, đời đời cha truyền con nối, đều xưng hiệu là Hùng Vương. Ngọc lụa, xe sách, núi sông một dải, là thủy tổ của Bách Việt vậy.
Vua Hiền Vương ở ngôi 400 năm, rồi theo cha về biển, hóa sinh bất diệt làm Động Đình Thủy Tiên Long Quân Đế chủ. Con là Hùng Quốc Vương (Quốc Vương húy Lân ở ngôi 221 năm, sống 767 tuổi, sinh năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5 giờ Ngọ. Trăm vương cũng cùng sinh năm Canh Ngọ do sinh một bầu trăm trứng. Trăm con trai phân thành trăm vương. Quốc Vương là đầu trăm vương. Hiền Vương lập làm Hoàng thái tử để nối ngôi vị. Sau phân thành hai bộ. 50 người theo mẹ làm Sơn thần. 50 người theo cha làm Thủy quân. Quốc Vương ở ngôi cũng theo bộ bên cha, sau cũng về biển với cha làm Thủy Long Động Đình Quân. Vương hóa ngày 12 tháng 3), tuân nối cơ nghiệp. Quốc Vương bèn thực thi hóa đức, miễn giảm nông tang, quản dân không có lo lắng ưu tư, nước có của dự trữ dư giả, đất biển yên bình, người không dối trá, phong tục thuần phác đương khi được thấy. Hưng công nghiệp cai trị đời sau mà làm rạng rỡ nghiệp đời trước. Người đời đều khen là vua hiền.
Vua nghĩ tới việc các vị thánh trước đây cắt đất chia phong, bèn lập các hoàng đệ là Sơn tinh, Thủy tinh, cùng chia làm trăm nhánh, làm chủ cai trị các nơi để hưởng lộc, rồi lại đổi làm trăm họ, chia ra ở đầu non, góc biển, trấn giữ từng phương. Năm mươi vị trấn giữ các đầu núi đều gọi là Phiên thần Phụ đạo. Năm mươi vị trấn giữ các góc biển đều gọi là Thủy thượng Linh thần. Để tiện cho bảo hộ nhân dân, giữ gìn tông xã.
Thời khi Quốc Vương ngự trị, thiên hạ nhiều khi nước to ngập lụt. Nhân dân thường bị giặc nước xâm hại. Bởi vì Quốc Vương vốn là mệnh Thủy thần còn đang ngự trên trần thế nên nhiều khi nước lụt tiến đến Dương gian. Nhân dân rất khổ sở. Quốc Vương sai chia 50 vị hoàng đệ của Thủy bộ cho trị giữ các bờ sông, góc bể, quản lý các vùng đất đai, để chống đường nước xuyên vào các nơi có dân mà phá hại.
Lại nói, đạo Hưng Hóa, phủ Gia Hưng, phủ Yên Tây, cùng phủ Đà Giang, Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập, Văn Bàn, Thủy Vĩ, Thanh Hậu, Thuận Châu, Bản Châu, Phù Việt Châu, Mai Châu, Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Sùng Lăng, Khiêm Châu cùng huyện Bất Bạt, Phúc Lộc và các hướng chân núi trên đất liền là những nơi bị thủy quan xuyên phá làm khổ sở. Hoặc phá thông đường nước chảy vào nơi dân cư, dâng thẳng lên chân núi để lấy gỗ lạt. Hoặc xuyên đục các đầm khe vực sâu. Hoặc theo bắt nhân dân, phụ nữ. Khi đó ở các phủ, huyện, châu, trang, động, sách của xứ Hưng Hóa bị nước hại nặng nề. Vương bèn khiến hoàng đệ là quan Hải Công ngự trên các xứ miền Hưng Hóa, chủ giữ các đường nước đầu sông mặt đất.
Đức Hùng Hải Công (tức sau gọi là Hải Vân Long Vương Động Đình Thủy Đế) vâng mệnh Quốc Vương đến nhậm xứ Hưng Hóa. Khi Hải Công đến nơi, ngay hôm đó nhân dân các phủ, huyện, châu, trang, động, sách tề tựu tại đó làm lễ mừng. Đức Hải Công sai các gia thần đưa hịch cho các đầu sông cửa nguồn, những nơi nước xoáy vào nơi dân ở, mỗi nơi một tờ hịch buông xuống dòng nước. Ông truyền hịch xuống các dòng nước xong hết thì đến ba ngày sau các nơi nước lớn ngập trời đều vỡ thành khe ngòi, ra khỏi các vùng đất có dân cư mà chảy xuống các lòng khe. Từ ấy nước lụt được yên. Nhân dân không phải lo lắng hoạn nạn, mùa màng được bội thu, đều thực là do nhờ vào đức lớn của Hải Công vậy.
Đến mùa xuân tháng Giêng, hoa cỏ rợp đất, cảnh sắc núi sông đâu đâu cũng thấm gió xuân. Đức Hải Công cùng bà Trang Hoa Phu nhân (Trang Hoa Công chúa là người quê ở Mai Châu, là con gái quan Lạc hầu, nhan sắc đẹp đẽ, tính nết trong sạch, rất có hiếu đễ, thái độ hiền hòa. Ngài lấy về rất sủng ái, lập làm Đệ nhị phu nhân) xuống thuyền rồng theo dòng nước cùng mấy trăm gia thần chơi xem phong cảnh sông núi, thăm thú nhân dân và hình thế thủy văn. Nếu chỗ nào mà bị giặc nước băng phá, mạch đất khuyết lở, thì quan Hải Công lại sức nhân dân địa phương bồi đắp đê để trả lại mạch đất. Ngài đi từ sông Hán, sông Nhị, sông Lô, sông Thao đến Tuyên Quang, lại quay thuyền về Hưng Hóa, Thập Châu, Thanh Nguyên, Bạn Hà. Hễ đi đến nơi đâu có dân địa phương, thấy phong cảnh hữu tình, dân tục thuần hậu thì bèn lập hành cung ở đấy. Ngài lại cho dừng thuyền, đóng quân du chơi tại đó.
Khi ấy thuyền của Ngài đia ra khỏi sông Bạn, về đến đất trang Thọ Xuyên. Hôm đó (ngày 10 tháng Giêng) nhân dân địa phương lập hành cung bái mừng. Ngài thấy nơi ấy non xanh nước biếc, nước sông Bạn thâm sâu chảy bao bọc bốn bề, nơi trong dân ở rất đẹp. Quan Hải Công cùng bà phu nhân đỗ thuyền ở bãi Thọ Xuyên, lên ở hành cung dạo chơi quãng hơn 10 ngày. Một dải sông sâu ở đất đó giao long, cá, giải, rắn hoa hơn trăm bầy đều đến hội chầu ở nơi vực sông đó (tức là vực sông Thọ Xuyên), hướng theo nơi Ngài ở, khắp bốn bề dân cư. Khi đó nhân dân đều sợ hãi không dám ra đường. Nhân dân đều làm lễ kêu với Ngài. Ngài bảo dân rằng:
– Ta là chức Thủy quan, quyền giữ Động Đình. Do vậy thủy binh đến hội chầu theo mệnh của ta. Dân các ngươi đừng sợ hãi. Đã có chủ giữ, các thủy binh không dám phạm đến dân các ngươi đâu.
Ngài nói với dân xong lại mắng thủy binh rằng:
– Thủy quốc, nhân gian khác nhau. Các loài thủy tộc không được lộ hình cho nhân gian thấy, đó là trọng trách vậy.
Ngài mắng xong, bỗng nhiên thủy binh chìm cả xuống đáy nước tự yên. Nhân dân cả mừng, làm lễ xin được làm hộ nhi hương. Ngài bèn đồng ý. Sau dân dựng đền thờ (các triều đình sau phong làm Hiển ứng Hộ quốc Tế thế Đại vương. Trang Thọ Xuyên phụng thờ).
Một hôm thuyền của Ngài lại đến động Dị Nậu (Động Dị Nậu đó có một vị quan lang ở ấy, vốn là con Lạc Long Quân trong trăm trứng, thuộc về bộ Sơn thần, là ông Hùng Huệ Vương. Sau triều đình phong làm Cao Sơn Hiển ứng Tế thế Đại Vương, Dị Nậu phụng thờ). Hùng Huệ Vương ở đất đó (cũng là em ruột của Hải quan Long Vương, theo Sơn bộ). Ngài Hải Công đến chơi với ông Huệ Công, dừng thuyền ở bến đó (tức bãi Dị Nậu, cũng là trên dòng Bạn Hà xưa).
Đến nửa đêm hôm ấy Ngài cùng ông Huệ Công ngồi trong thuyền uống rượu nói chuyện. Bà Trang Hoa phu nhân nằm ở trong màn ở bên trái thuyền, mơ màng ngủ đi, mộng thấy lại đi lên đến cung Thọ Xuyên. Phu nhân lội qua giữa dòng nước, chợt thấy có con rồng vàng nổi trên mặt nước mà đi qua trước mặt. Lại thấy 3 con rồng nổi lên mặt nước mà đi nối theo sau. Bà phu nhân cũng nổi lên rẽ nước mà đi, thẳng đến nguồn xã Đào Xá. Phu nhân bỗng thấy có một phiến đá lớn ở giữa dòng nước. Phu nhân bèn lên ngồi trên phiến đá đó. Con rồng đi trước phu nhân cũng lên trên hòn đá, biến ra quan Hải Công, cùng ngồi với phu nhân.
Ba rồng con theo sau thẳng đến trước mặt mà chầu. Sau là giao long, rắn giải ngoài ngàn con đều chầu quanh nơi phiến đá. Phu nhân trông thấy sợ, hét lên một tiếng rất to rồi tỉnh dậy.
Quan Hải Công nghe thấy tiếng kêu đó, hỏi rằng:
– Cái gì mà hét to thế?
Bà Trang Hoa phu nhân nói rằng thấy giấc mộng như thế. Ông Huệ Công theo đó đoán rằng:
– Mộng của phu nhân và của Hải Công là điềm sinh quý tử. Vả lại anh trai quyền quản thủy bộ, chức chưởng Thủy đình, ấy là dòng Long Quân vậy. Nên mộng điềm rồng ấy quả là không sai. Xin chớ nghi hoặc.
Quan Hải Công nói rằng:
– Đệ công nói phải vậy.
Hôm đó (tức là ngày 26 tháng Giêng) thuyền rồng của quan Hải Công đi đến xã Đào Xá. Ngài thấy địa thế hương dân có kiểu đất hay, long đình đới ấn, đáy nước chứa châu, bên tả có chim phượng lại chầu, bên hữu có voi rùa. Đằng sau có tinh phong dẫn mạch, đằng trước có đầm sâu nước lớn. Ngài truyền dựng hành cung ngự ở đầu rồng.
Ngay hôm đó (ngày 27 tháng Giêng) nhân dân làm lễ bái mừng. Đến nửa đêm hôm ấy Ngài nằm ở chính sở chợt ngủ, thấy trên trời có năm sắc mây, dưới vực nước cồn sóng rợn. Lại có ba con rồng theo mây thẳng xuống giữa vực, mờ ảo biến thành ba người, mũ rồng rực rỡ, áo gấm huy hoàng. Quân ngựa thầy tớ hàng trăm, ầm ầm rẽ nước từ đầm vực mà lên trước sân chỗ Ngài ngồi. Đầu tiên, một người hai tay bưng cái mâm ngọc. Trên mâm có ba con cá chép, đặt trước mặt đức Hải Công. Ngài hỏi rằng:
– Các quan ở đâu lại và có lễ gì vậy?
Ba người thưa rằng:
– Chúng tôi vâng lệnh Thiên Đế, là ba quan Thủy phủ, chức quản quyền Thủy phủ. Nay vâng mệnh Động Đình Long Quân Thủy Đế phân thuộc theo ngài để định nơi bổ nhậm. Xin vào đầu thai làm con ngài. Động Đình Thủy Đế lại còn giao cho một bài thơ, xin dâng để Ngài xem.
Đức Hải Công đón lấy bài thơ, mở ra xem, có tám câu thơ rằng:
Tam vị Long quan phó hứa quân Trang Hoa kim nhật định nhâm thần Thọ Xuyên, Đào Xá giai đồng mạch Bạn thủy, Thao hà nhậm lưỡng tân. Tri thủy thanh sơn cung Thủy phủ Thâm uyên bác trạch bạn giang thần Linh long đĩnh xuất phù ư thế Nhất phó Tam Long nhậm Hải Vân.
Diễn âm:
Long quan ba vị phó cho ngài Bà vợ ngày nay hẳn có thai Trang Thọ, sách Đào cùng một mạch Nguồn Thao, sông Bạn quản hai nơi Rừng xanh nước biếc làm lầu điện Vực cả đầm sâu ấy Thủy đài Nảy giống rồng thiêng ra giúp nước Ba rồng đưa lại mặc quan ngài.
Ngài đọc xong rồi tỉnh dậy, biết là mộng. Ngài nghĩ thầm, nhớ tới lời dạy của đức Lạc Long Quân đã báo thư, giao cho ba Long quan thuộc về ta, đầu thai vào làm con, ra trị đời giúp vận nước hưng thịnh, để phù giúp tông xã được lâu dài. Hôm đó (ngày 28 tháng Giêng) quan Hải Công truyền cho nhân dân mổ trâu bò mà lễ tế đức Tiên Hoàng (tức là Lạc Long Quân). Đang khi làm lễ bỗng thấy trên trời có đám mây mờ mịt, dưới sông cồn dồn, bốn hướng gió lớn nổi lên, một vùng mưa lớn ì ầm. Ngài đang lúc làm lễ thì bỗng thấy ba con cá chép nhảy vào thuyền rồng. Ngài bèn nói rằng:
– Con ta cho ta thấy đúng như lễ trong mộng vậy.
Lễ xong rồi thì gió mây tan hết, trời yên đất lặng. Lại thấy giữa dòng nước trước hành cung có năm sắc mây nổi trước mặt nước. Ngài bèn chèo thuyền rồng ra đến nơi đó xem, thấy một phiến đá trắng lớn ở giữa dòng nước. Trên mặt đá có ba quả trứng để đấy. Nơi đó bốn phía của phiến đá giao long, rắn hoa đều chầu hội. Ngài cầm ba quả trứng đem đặt vào trong thuyền, mang về hành cung đưa cho bà Trang Hoa phu nhân. Ngài bảo bà Trang Hoa rằng:
– Ấy là con ta đó.
Bà Trang Hoa giơ tay cầm lấy. Ba quả trứng tự nhiên lay động, quay múa trước thềm. Được một lúc ba quả trứng vỡ ra thành nước dãi thấm khắp vào mình bà Trang phu nhân, đều là mùi thơm sực nức. Bà phu nhân từ ấy có thai, trong lòng buồn bực, tinh thần chuyển động, nói năng thất thường, lại muốn có bà đồng múa hát, tính muốn hương hoa ăn chay. Bấy giờ thuyền rồng của quan Hải Công trở về trị sở ở Hưng Hóa. Đức Hải Công thấy bà phu nhân ngày càng thêm sợ hãi, ăn nói thất thường, lại thích bà đồng, hoa nương.
Thời bấy giờ thuộc phủ Gia Hưng đất Việt Trì có bà Quế Hoa, họ Trần, tên là Văn. Mẹ là Đinh Thị Viện. Bà Quế Hoa vốn là dòng bà đồng có phép diệu thông huyền, có tài hay thuật lạ. Khi đó quan Hải Công nghe tiếng, sai sứ thần mời bà đồng Quế Hoa lại chầu, ngày đêm múa hát. Bà phu nhân từ khi có bà Quế thì tinh thần mới được yên lặng, tính khí yên vui. Bà phu nhân cùng bà Quế rất là yêu mến, ngày thường ca múa, mỗi bữa đều không thiếu, tình tuy là thầy trò, mà xem bằng tình sâu như chị em.
Đến năm Đinh Sửu ngày mùng 1 tháng Giêng, Quốc Vương ngự tại điện Hương Lâu, mơ màng như mộng. Bỗng thấy một sứ nhân, mình mặc áo đen, tâu rằng:
– Tôi vâng mệnh đức Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế, xin mời Quốc Vương lại hỏi chuyện.
Vương bèn theo quan sứ vào đế đài, thấy Long Quân ngự ở chính tòa cung Thủy tinh. Hai bên tả hữu trăm quan ngồi hầu. Tướng lân, Long hầu hàng ngàn. Kình binh, ngư giáp hàng trăm đội. Quốc Vương vào chầu trên điện ở bên đầu hàng tả hữu. Đức Lạc Long Quân phán rằng:
– Nhà ta là một trăm con trai, Quốc Vương là đầu. Lại chia làm hai bộ. 50 về núi, chia trị các nơi. 50 là xuống nước chia trị các nguồn sông bể. Nhà ngươi tóm trị cả. Nay Dương đình riêng phó cho nhà ngươi trị vị. Nay hoàng đệ Hải Công là vị thứ 19, nhậm trị Thao, Đà hai sông ở Hưng Hóa. Nay ở Thủy đình ta lại khiến ba vị Long hầu đến để thay trị hai dải Thao, Đà, phân ở các vực cửa nguồn đầu sông cửa khe, để trấn giặc nước. Một là Đạt Linh Long, hai là Mãn Linh Long, ba là Uyên Linh Long. Nay Thủy đình đã định ngày mùng 3 tháng Giêng lên quản nhậm ở hai sông. Còn Hải Công cho rời đổi về nhậm cửa sông Nhị hà, xứ Hải Dương. Còn ba vị Long hầu thì sông Thao, sông Đà khe nguồn hai phái hợp nhau, đầm vực cùng thông. Một ở Thọ Xuyên, địa hình rồng bay phượng múa, thủy thế vực nguồn chín khúc, cho ba Long hầu cùng đóng làm nơi chính. Còn ven sông Ngọc Tháp cho Đệ Tam Uyên Linh một mình trị nhậm. Đào Xá có kiểu đất rồng thiêng dâng nước, chim phượng ngậm châu, vực lớn đầm sâu, chiêng trống cờ hình, Đà Thao hợp phái, nghịch thuận cùng giao, cho Đạt, Mãn Long quan cùng phó nhậm để trấn giặc nước xâm nhập, ngự làm chính sở.
Vua phán xong rồi ba quan bái tạ Long đình. Long Quân lại giao phó cho Quốc Vương. Lại cho thủy quân hơn một nghìn viên theo ba Long quan cùng Quốc Vương mà đi. Quốc Vương nhận mệnh giao phó của Tiên Hoàng (tức là Lạc Long Quân), khấu tạ trở về. Bỗng tỉnh dậy, biết đó là mộng. Quốc Vương mời hoàng đệ Hải Công lại phán rằng:
– Ta có mộng lạ.
Vương kể lại đầy đủ sự mộng cho Hải Công biết. Hải Công tâu rằng:
– Trước đây đã có điềm trứng, từ đó bà Trang Hoa có thai. Nay nhà vua lại cũng có mộng như thế. Việc đã rõ vậy.
Hải Công từ tạ nhà vua, trở xe về nơi trị sở Hưng Hóa. Đến ngày mồng ba thì thấy mây mưa tối tăm, sấm sét ì ầm. Thấy có một đám mây tản che trên nóc nhà chính. Bà phu nhân bỗng thấy trong lòng chuyển động, réo như tiếng sấm. Phu nhân tinh thần hoảng hốt, hồn phách mê man, mơ màng như mộng. Quan Hải Công mời bà đồng Quế Hoa lại bảo rằng:
– Nay phu nhân đến cữ đầy tháng mà chưa thấy bà Quế Hoa đến. Vì vậy mời lại để hầu múa.
Bà Quế Hoa vào hầu múa được một lúc, chợt thấy hơn trăm con rắn từ ngoài sông Thao đi thẳng vào chỗ cung, nằm chầu hai bên trái phải của phu nhân. Quan Hải Công biết là thủy binh đã đến, bèn lập đàn cầu đảo trời đất, làm lễ đức Lạc Long Quân Thủy Đế. Xong rồi đến đêm hôm ấy bỗng thấy hai người tướng mạo đường đường, đi thẳng vào sân đình bảo Ngài rằng:
– Vâng lệnh Thủy quốc báo trước cho Ngài biết, ngày mai là lúc sinh ba vị Long quan, nên kíp sắm ba chiếc thuyền rồng, thả xuống ở sông Thao, để ở giữa sông, dừng thuyền ở trên mặt nước mà đợi long quan sinh ra.
Nói xong ra cửa mà biến đi. Đến ngày hôm sau Ngài cứ theo lời giang sứ bảo, dong xe đưa bà phu nhân. Khi đó phu nhân nằm mê man, đặt phu nhân xuống thuyền. Bà đồng Quế Hoa cùng hoa nương chầu theo múa hát vài trăm người, bơi ra đến giữa sông Thao thì neo nối ba thuyền ở đấy. Giữa trời mây mưa tối tăm, mặt nước sóng rờn vạn nhận. Giao long, rắn giải, cá lại chầu bốn mặt hàng trăm vạn. Trong thuyền thấy réo o o như tiếng sấm lớn.
Bấy giờ Quốc Vương cùng Hải Công và các quần thần đều ngự thuyền rồng ở tại Tam Tản (tức Vĩnh Lại, xứ Tam Giang) mà xem. Đương lúc ấy chợt thấy dưới đáy sông có ba tiếng sét lớn chuyển động trời đất. Bà phu nhân sinh ra một bọc có ba trứng, nở ra ba con rắn. Đột nhiên biến nên to lớn, dài hơn mười lăm trượng. Mặt rồng mình rắn, vây vảy năm vẻ, mũ hoa sặc sỡ. Rồi xuống sông rẽ nước mà đi. Mây theo mưa ruỗi, gió thổi sấm vang. Đi theo hai bên có giao long, rắn giải, cá lớn ngoài trăm ngàn dặm, nổi đầy mặt nước, đi theo hai bên bờ sông.
Bà đồng Quế Hoa cùng các hoa nương hầu hạ hai bên múa hát. Thuyền rồng theo sau. Ba ông Thủy quan thẳng đến ngự Quốc Vương, cúi đầu làm lễ. Quốc Vương lấy trong mộng mà đặt tên ba ông:
1. Đạt Công Long Vương. 2. Mãn Công Long Vương. 3. Uyên Công Long Vương.
Quốc Vương đặt tên xong rồi khiến đình thần sắm mười chiếc thuyền rồng đưa theo sau. Ba ông chia đường cứ giữa dòng sông mà lên. Một ông Quý Công, tức Uyên Công Long Vương, thẳng đến bờ sông Ngọc Tháp. Khoảnh ấy nhân dân địa phương cửa nhà tối tăm, mây mưa mờ mịt. Người đều sợ hãi náu núp. Đình thần bèn lên bờ sông dựng cờ giương lọng, truyền cho nhân dân làm lễ mừng. Thủy quan nằm trên án. Rắn hoa chầu hai bên. Nhân dân khiếp sợ không dám ngửa trông. Được một lúc lại xuống vo vo mà đi, trở về Đào Xá hội với hai ông. Đình thần bèn khiến dân Ngọc Tháp lập chính cung thờ phụng ông Quý Công.
Lại nói, còn hai ông thẳng đến Thượng Nông. Các quân binh rồng, rắn, cá, giải xuyên mở một đường nước thẳng vào đầm Đào Xá. Ông Quý Công tiếp theo đến hội đầm Đào Xá chỗ bàn đá. Rắn hoa, cá, giải, giao long nổi lên mặt nước chầu xung quanh (tức đá thần trước đền Đào Xá). Bấy giờ trời đất tối tăm, mưa gió ì ầm. Đình thần truyền làm lễ bái tạ (tức ngày mùng 3 tháng Giêng), thiết lập cung ở đấy.
Lại nói, đến trang Thọ Xuyên, Quốc Vương khiến đình thần cùng quan Hải Công đến đất ấy, lập cung đền phụng thờ. Đương lúc dân lập cung đền, ông Hải Công ngồi trước xem đấy. Bấy giờ mặt trời đã xế núi. Chợt thấy hai thuyền rồng đi từ đầm lớn thẳng đến bến Thọ Xuyên. Ba quan ở dưới thuyền đi lên, tướng mạo uy nghi, tinh thần lẫm liệt. Xe loan, kiệu phượng, binh sĩ hai hàng thẳng vào trước cung khấu đầu làm lễ. Đức Hải Công hỏi rằng:
– Quý quan ở phương nào lại mà nhún mình quá lễ như vậy?
Ba quan tâu rằng:
– Chúng tôi là con đức Hải quan vâng mệnh Thủy Đế Động Đình cho lên cai trị các xứ miền Dương đài để chống giặc nước xâm phá vào nơi để dân ở được yên, quốc mạch lâu dài. Nay chúng tôi phó nhậm đã yên các chốn, thân về lễ tạ ơn cha mẹ khó nhọc.
Đức Hải Công biết ba con mình là Long quan. Vậy báo ba quan rằng:
– Dương đài, Thủy quốc đều một là mạch gốc từ nhà Hùng, dần chia ở các xứ, nhưng núi sông cũng là một con nhà cả. Nay trời đã cho xuống ở đời giúp dân, giúp nước, lại nhập đầu vào làm con ta. Thật là mừng lắm. Vả lại đức Tiên Hoàng (tức Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế) đã báo cho vua Quốc Vương giao cho ba quan lên Dương đình trị nhậm các xứ. Trước đây đã định, vậy nên truyền cho nhân dân (tức ở đất trang Thọ Xuyên) thiết lập cung đền để ba quan đến nhậm vị. Nay ba quan đã đến, cá nước một nhà gặp gỡ, cha con cùng hội họp tại đây. May lắm, may lắm. Mừng lắm, mừng lắm.
Ngay hôm đó (mồng mười tháng Giêng) truyềnnhân dân làm lễ bái tạ. Việc xong ba quan từ tạ quan Hải Công, xuống thuyền tự nhiên chìm biến.
Lại nói, khi ấy quan Hải Công cùng các đình thần truyền cho nhân dân lập cung đền các chốn đã xong (tức là ba nơi chính Thọ Xuyên, Ngọc Tháp, Đào Xá), chia các quan (tức là ba Long quan) đến nhậm. Các dân đều phụng thờ đấy. Việc xong lại khiến quan Hải Công (tức chính là Hải Vân Long Vương, con của Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế. Trong số 50 người của thủy bộ, Hải Công là ở thứ 19, sinh được các vị Long Đạt, Long Mãn, Long Uyên. Ba vị đều cũng là các long vương vậy. Còn Hải Công là thánh phụ, cũng đều là một dòng phái nhà họ Hùng) rời về xứ Hải Dương nhậm lỵ nguồn vực sông Nhị. Đức Hải Công vâng mệnh về phó nhậm sông Nhị.
Một hôm (ngày 10 tháng 2) bà Trang Hoa phu nhân dong thuyền dạo chơi ở đầu sông (tức là chỗ sông Nhị và sông Thao giáp nhau). Ngài ra tắm rửa ở đấy, thấy thuyền rồng nổi mặt nước. Lại nghe trong thuyền có tiếng người gọi rằng:
– Ba con lên đón mẹ hôm nay về Thủy quốc.
Tự nhiên thấy bà phu nhân vội vã xuống thuyền, tự chìm hóa đi. Sau ở đất ấy dựng đền thờ (về sau đức Hải Công cùng bách thần hóa ở điện Nghĩa Lĩnh. Trăm vương đều cùng hóa ngày ấy).
Lại nói đến lúc bà đồng Quế Hoa vào chầu múa hát. Một hôm bà Quế Hoa đang ở trong đền múa chầu. Khi đó bà Quế Hoa cùng các trinh đồng năm sáu người theo hầu, ra chơi bến nước trước đền rửa mặt. Bỗng gieo xuống nước chìm đi. Hôm đó (tức ngày mùng 3 tháng Giêng, cùng ngày sinh nhật ba quan). Nhân dân hô hoán, lại khiến người lội xuống nước đều không thấy hình tích gì.
Được trăm ngày sau nhân dân đều sinh tật bệnh không yên. Khi ấy rắn đến có hàng trăm, nằm đầy trong đền, thường gặp người dân thì xua đuổi. Hôm đó (ngày mồng mười tháng hai) nhân dân địa phương lập đàn cầu đảo. Vào buổi chiều tà, bỗng thấy ở đầm lớn trước đền nước dồn sóng rợn, bão lớn tứ tung. Giao long, rắn, cá, giải nổi đầy mặt nước, tất cả đều quay chầu vào nơi tiền tế của đền. Chợt thấy nước rẽ nổi lên hai chiếc thuyền rồng, thẳng đến cung đền. Lại thấy ba quan lên đi trước, đi sau là kiệu phượng của bà Quế Hoa. Nam binh, nữ tốt ngoài nghìn người đường đường vào ngồi trong cung đền. Nhân dân được gọi đến. Ba vị quan cùng nói rằng:
– Chúng ta cùng vâng mệnh Thủy đế, quyền cai Dương đình. Hoàng thiên đã định nhậm ở hình đất tứ linh Thọ Xuyên, ở phiến đá hình rùa lập làm chính cung. Còn địa hình Đào Xá có hai rồng quấn thủy, lập làm chính sở. Cảnh thiêng địa tạo mà thành tứ linh Long Ly Quy Phượng. Các Thủy quan đến nhậm để quản các linh vật, để bảo hộ phong tục nhân dân được thịnh vượng. Nay có bà Quế Hoa, có công với phu nhân trước, cũng có công lao với Thủy đình, được vào trong đền nhậm sở truy phối thờ cùng với chúng ta, nhưng lại chưa có nơi ở riêng. Bởi thế nên trách đến dân các người vậy.
Nói xong xuống thuyền tự chìm biến đi. Dân cả sợ. Ngày đó (ngày 15 tháng 2) lập nơi thờ bà Quế Hoa ở bên phải đền, rồi làm lễ tạ. Từ ấy dân làng được yên, nhân vật thịnh vượng. Thời thường khi nước cầu, dân cầu có nhiều khi linh ứng, biến hiện ra vào khôn lường. Cung thờ hương đèn không ngớt. Giữ nước giúp dân có nhiều ơn vậy.
Lại nói, triều Kinh 18 nhánh truyền đến vua Duệ Vương ở ngôi. Than ôi, vận nước đến lúc cáo chung, cơ đồ họ Hùng vào cuối. Duệ Vương tuy sinh nhiều hoàng tửu (20 hoàng tử), nhưng đều theo nhau về chốn tiên hương, không có người kế vị. Sau lại sinh hai con gái, một là Tiên Dung, hai là Ngọc Nương. Một gả cho Chử Đồng Tử, một gả cho Tản Viên Sơn Tinh.
Khi ấy Thục Vương nghe tin Duệ Vương không có người kế vị, muốn truyền ngôi cho con rể là đức Tản Viên, bèn đem quân sang nước Nam đánh Duệ Vương để lấy nước. Vua Duệ Vương khiến các quan đến các nơi thờ bách thần (bách thần là từ trăm trứng Hùng Vương vậy) cầu đảo âm giúp quân sĩ theo đức Tản Viên đánh giặc cho được thành công. Nếu ngày sau được thanh bình thì sẽ bao phong mỹ tự.
Một hôm quan sứ đến tế lễ ở đền Tam Công tại Đào Xá. Đương khi làm lễ chợt thấy có ba con rắn lớn dài hơn mười trượng, mũ hoa rực rỡ, theo cùng hàng ngàn rắn nhỏ, vảy giáp năm sắc, từ dưới nước lên đi thẳng vào đền. Sứ quan cùng dân đều khiếp sợ. Tự nhiên trời đất mù mịt, mưa gió nổi lên. Tế lễ xong tự nhiên mây tan gió tạnh, trời đất quang đãng. Các vật tự biến đi.
Sứ quan trở về tâu vua. Vua phán rằng:
– Dẫu sơn thủy bách thần đều là dòng phái nhà Hùng từ Tiên Hoàng, nay nước có biến, không lẽ điềm nhiên mà không phù giúp. Tất phải có hiển ứng linh thiêng. Việc ấy quả nhiên là ta thắng vậy.
Lập tức hôm đó vua khiến Tản Viên Sơn Thánh đem mười vạn quân mạnh chia đường thủy bộ cùng tiến đến thẳng chỗ quân Thục, đánh lớn một trận. Mây gió hợp sức, trời đất tối tăm, ầm ầm bốn hướng. Quân Thục (tức là Ai Lao vậy) bị phá tan, bắt sống tướng Thục cùng hàng trăm quân, còn lại đuổi hết về nước. Giặc được dẹp yên, vua mở hội yến lớn, rồi bao phong mĩ tự cho bách thần, hưởng hương lửa không ngừng. Phong:
– Đệ Nhất Long Vương Uyên tĩnh Quảng thánh Đại vương.
– Đệ Nhị Long Vương Dực vận Đại vương.
– Đệ Tam Long Vương Hải lâm sơn Đại vương.
Xã Đào Xá phụng thờ đấy.
Lại nói, cơ đồ họ Hùng đã hết, còn truyền lại các hậu duệ đời sau. Đến đời vua Nhân Tông nhà Lý có quan Chiêu thảo sứ nhà Tống là Quách Quỳ và Triệu Qua hợp cùng với nước Chiêm Thành và Chân Lạp đem quân mạnh sang lấn nước ta. Vua nhà Lý sai ông Lý Thường Kiệt đem quân đến chống giặc Tống.
Một hôm ông Lý Thường Kiệt tiến quân đi đến xã Đào Xá, định vào đóng quân ở đền Tam Công. Một đêm, khi đi tới cửa đền, chợt thấy hai ông Rắn nằm giữa cửa đền. Quân lính đi trước đến nơi thấy các ông rắn thì không dám vào. Trung quân của Lý Thường Kiệt tiến đến thấy vậy bèn bảo ông rắn rằng:
– Nay ta vâng mệnh vua đem quân đi dẹp trừ giặc Tống. Bây giờ (tức ngày mùng 10 tháng 7) tiến quân đến đền. Nếu trời đất cho ta mệnh dẹp yên được giặc ấy, quan Xà tướng giữ cửa nên tránh đi cho quân ta vào đến trú ngụ.
Nói xong thì quan Xà lui vào trong đền biến mất. Ông Lý Kiệt đem quân vào đóng trong đền. Hôm đó (ngày 10 tháng 7) nhân dân làm lễ bái mừng. Ông Thường Kiệt hỏi nhân dân rằng:
– Ở đây dân các người thờ vị thần nào?
Dân thưa rằng:
– Thờ ba vị Thủy thần, vốn dòng dõi vua Hùng Lạc Quân, từ xưa đến nay dân đều phụng thờ nơi đây là đền chính.
Ông bèn làm lễ khấn:
– Xin âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Đến ngày sau thanh bình xin tâu vua gia phong mỹ tự Thượng đẳng Phúc thần, hưởng cúng tế vạn đời.
Khấn xong đến khoảng nửa đêm ông Thường Kiệt nằm ở ngoài cung đền, chợt thấy một trận mưa gió từ Tây Bắc thẳng đến trước nơi cửa đền. Ông trông ra ngoài đầm thấy hai chiếc thuyền rồng và hơn trăm người hò reo bơi thuyền thẳng đến trước đền. Ông tưởng rằng quân nhà Tống lại đánh mình. Ông bèn sai đánh chiêng trống dàn quân ra chống cự. Hỏi là thuyền nào, thì nghe trong thuyền có tiếng người nói rằng:
– Thủy quan đến nơi đền để cùng ông dẫn quân đánh dẹp giặc Tống. Xin đừng ngại.
Nói xong thấy ba tướng đường đường lên bờ đi thẳng vào đền. Quân sĩ đứng chầu hai bên thành hai hàng. Nhân dân đều trông thấy cả. Ông Thường bèn truyền lệnh quân sĩ cùng nhân dân mổ trâu bò, làm rượu ngon, cỗ sòng để dâng lễ mừng Thủy quan.
Lúc ấy ông Lý Thường Kiệt thưa rằng:
– Nay nhà nước có giặc Tống sang lấn, gây sự binh đao. Tôi vâng mệnh nước nhà đem quân đi dẹp Tống. Hôm nay may gặp thấy được dung nhan ba vị Thủy quan. Xin thần ra sức giúp cho vận nước nhà, âm phù tôi cất quân đánh giặc được thành công, là trông ơn đức ba vị đó.
Ông Lý Kiệt nói xong, vị chính quan không nói gì. Vị hữu quan không nói gì. Chỉ có vị tả quan đọc bài thơ rằng:
Nam thiên dĩ định đế Nam quân Đại đức giai do đức nhật tân Thất quận sơn hà đô nhất thống Tống binh bất miễn tán như vân.
Dịch là:
Trời Nam đã định vua nước Nam Đức lớn đều do đức mới thêm Non sông bảy quận cùng thống nhất Tan sạch như mây ắt Tống quân.
Đọc xong hò reo ba tiếng, xuống thuyền theo dòng nước biến đi. Đến sáng ngày làm lễ tạ. Đến ngày 13 ông Lý Thường Kiệt lại làm lễ mật đảo, tiến quân thẳng về đến sông Như Nguyệt, đón đánh quân Tống. Ngày hôm đó lại gặp đại binh của quân nhà Tống đang theo dòng sông Nguyệt thủy bộ cùng tiến. Ông Lý Thường Kiệt đánh lớn cùng tướng Tống là Quách Quỳ tại cửa sông Như Nguyệt. Bỗng thấy một trận gió cuốn, trời đất tối tăm, dưới sông sóng rợn muôn trùng. Hơn nghìn con rắn nổi chật sông. Thuyền chiến của thủy đạo quân Tống lật đắm hết cả. Quân Tống khiếp sợ, chạy tan tác, chém hơn ngàn người. Quân nhà Tống đều nhảy xuống đầy sông, nước không chảy được.
Ông Thường Kiệt dẹp yên giặc rồi, ngày khải hoàn trở về làm biểu tâu vua. Vua thấy có nhiều linh ứng bèn phong thêm là Thượng đẳng Phúc thần. Xuân thu hai kỳ sai quan đến tế, cho dân làm nơi phụng thờ. Vua Lý Nhân Tôn phong thêm mỹ tự là:
– Phong Đệ Nhất Long Vương Uyên tĩnh Quảng thánh Bác trạch Đại vương.
– Phong Đệ Nhị Long Vương Dực vận Linh ứng Phổ đức Đại vương.
– Phong Đệ Tam Long vương Hải lâm sơn Tế thế Đại vương.
Lại nói, đến thời nhà Trần vua Nghệ Tông ở ngôi, có kẻ gian thần là người Dương Nhật Lễ làm loạn cướp ngôi vua. Ông Cung Định Vương (húy là Ngung) tránh nạn chạy lên phủ Đà Giang. Tháng Chạp mùa đông vua cùng bà hoàng hậu và bà công chúa thứ hai là Phương Dung, mới mười 18 tuổi, nhan sắc dịu dàng tựa người khách cung trăng, hình dung nghiêm cẩn giống người vườn Lãng Uyển, không phải người thường chốn trần gian. Khoảng ấy vua cùng hoàng hậu và công chúa ngự xe dạo xem phong cảnh, nhân dân, ngắm địa thế non sông. Một hôm vua đi đến xã Đào Xá, nhân dân lập hành cung ở đó. Vua dừng xe ngự chơi ở đất đấy (hành cung chính ở đất phía Nam của trang). Ngày ấy (ngày 15 tháng Chạp) nhân dân làm lễ bái mừng. Vua thấy nhân dân thuần hậu, non nước phong cảnh hữu tình, ngày ngày nhà chơi nơi đồng ruộng, vui với phong cảnh. Vua ngự chơi ở đất đấy (tức trang phía Nam của xã Đào Xá) năm, sáu tháng. Đến mùa xuân ngày mồng ba tháng Giêng, dân địa phương có lệ làm lễ sinh thời Tam Công, mở hội làm vui, đánh cờ múa hát. Nhân dân đón vua Nghệ Tôn (tức là Cung Định Vương) cùng hoàng hậu và công chúa ngự xe vào đền xem ca hát.
Lúc ấy khi vua đang ngồi xem. Trời sắp tối, chợt thấy gió mưa kéo đến, trên mặt nước trước đền mây nổi năm sắc. Trong đầm sóng vỗ, giao long, cá giải, rắn hoa đến chầu cả trước nơi đền. Đương lúc vua xem hội, công chúa chầu bên cạnh. Bỗng thấy một gói khăn hồng tự trên không rơi vào trong lòng công chúa. Công chúa hoảng sợ, cầm khăn mở xem, thấy trong khăn có trăm miếng trầu cau vàng và một bức thư. Công chúa sợ hãi, tâu với vua. Vua sai thị thần mở thư ra xem. Trong thư rằng:
Long hầu Thuỷ quốc ký nhất thư vân. Thục nữ tuy Dương đình vương nữ, Quân tử giai Thuỷ quốc nam quân, Nhất tâm thúc ước. Lưỡng quốc tương thân, Hảo thuật dĩ xứng. Nguyện kết hôn nhân.
Dịch là:
Long hầu Thủy quốc gửi bức thư đây Thục nữ tuy con gái vua Dương đình, Quân tử cũng là con trai vua Thủy quốc. Một lòng kết ước, hai nước cùng thân. Tốt đôi đã xứng, xin kết hôn nhân.
Vua thấy thị thần đọc xong, cười mà bảo rằng:
– Ta có ngọc Lam Điền, kén rể tài lương. Nay Thủy đế yêu thương, ta bằng lòng gả. Nhưng tuy Dương đình, Thủy quốc phong thủy không cùng, song lễ nghi cùng giống. Nay chỉ thấy trầu cau, thư đến, lại chưa biết mặt rể hiền. Ta mong được một lần gặp mặt.
Vua nói xong, chợt thấy đám mây trắng ở giữa đầm sâu nổi lên mặt nước, thẳng đến trước mặt vua. Âm u mù mịt một phút rồi tan. Bèn thấy một người con gái tuổi ngoài hai mươi, áo vóc khăn hồng rất là đẹp đẽ, đứng trước sân bên phải. Gái trinh trẻ tuổi hơn mười người, bưng một con trâu bạc ở trước. Bên trái có một tướng con trai, mũ rồng áo giáp rực rỡ, đứng sau hơn mười người trai gái, bưng một trâu vàng đến đặt đôi bên trước sân. Hai người tâu rằng:
– Một gọi là là Sùng Chu tì tướng. Một gọi là Quế Hoa vu nữ. Nay vâng mệnh Tả Long quan Thủy quốc khiến chúng tôi hiến lễ hai con trâu để cầu hôn con gái vua.
Hai người dập đầu làm lễ trước vua, rồi biến đi. Vua thấy hai con trâu vàng, bạc để trước nơi vua ngự. Lòng vua nghĩ thầm rằng:
– Duyên trời đã thế. Dương gian Thủy quốc khác gì. Cháu chúa con vua cũng xứng đáng. Là thiên tử không lẽ nói đùa mà không nhận sính lễ. Vua sai các đình thần làm lễ cầu đảo, ngầm chúc rằng:
– Xin âm phù cho vận nước lại được thanh bình. Gian thần Nhật Lễ cướp ngôi. Vua phải lánh nạn. Nay muốn đem quân về phục quốc, đón vua về kinh đô, dẹp gian thần Nhật Lễ. Xin âm phù cho ngôi vua được vạn toàn. Đến khi giành lại ngôi vua ắt có gia phong, thưởng hậu và gả con gái cho.
Khấn xong vua bèn trở xe về cung (tức Đáo Xá Nam cung). Chợt thấy có sứ của ông Cung Tuyên Vương (tức em vua Nghệ Tông) cùng công chúa Thiên Ninh lại báo tin, xin rước vua về kinh để trừ Nhật Lễ, không nên bỏ nước cho người. Vua bèn xuống thuyền rồng cùng quân sĩ trở về. Vua đến bến sông, chợt thấy dưới nước có tiếng đọc trong trẻo rằng:
Người sang Dương đình Người xuống dưới nước. Đấy sang đây quý Ta rước nhau đi. Thiên binh Thủy quốc Nghênh đế hồi quy. Nhật Lễ tự tán Đế vị thùy y.
Đọc xong thấy công chúa Phương Dung tự nhiên ngả mình xuống nước mà chìm đi. Bỗng nhiên mưa gió như bay. Thuyền đi vùn vụt. Lòng vua nghĩ thầm, việc đã định trước, không thay đổi được, đành yên lòng vậy.
Vua còn về Ái Châu (tức Thanh Hóa). Công chúa độ bảy tám tháng mà chưa trở về thành. Một hôm vua nằm ngủ bỗng thấy một người tướng mạo đường đường, cưỡi con ngựa trắng, đằng sau là công chúa Phương Dung đi kiệu phượng. Hai bên hầu hạ khoảng hơn nghìn quan lân, cá binh, thẳng đến trước vua, xuống ngựa khấu đầu làm lễ. Vua thấy Công chúa, hỏi rằng:
– Người ấy là rể hiền ta chăng?
Bà thưa:
– Vốn là Tả quan Thủy quốc, kết với con gái làm con rể vua. Nay xin vua quay về với việc nước, để chúng con âm phù giúp nước. Xin vua chớ vì lo lắng trong lòng mà bỏ cơ nghiệp to lớn của nước nhà.
Nói chưa xong, vua bèn tỉnh dậy mới biết là mộng, nghĩ thầm rằng là Thủy quan báo đến lúc trở về nước để âm phù giúp, không gặp hoạn nạn gì. Lúc ấy (tức ngày 12 tháng 11) vua bèn đem quân sĩ trở về kinh thành. Quần thần phù giá đón vua. Nhật Lễ nghe tin vua về, tự nhiên lòng hoảng sợ, rời bỏ ngai vị ra hàng chịu tội. Vua bèn phế giết Nhật Lễ, rồi lên ngôi Hoàng đế, cải hiệu đại xá, xưng làm Nghĩa Hoàng Thuần Hiếu Hoàng đế. Quần thần mở tiệc yến lớn. Từ ấy, vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình. Phong thêm mĩ tự cho bách thần.
Khi ấy (ngày 10 tháng 12) vua khiến sứ thần ban sắc chỉ về đền xã Đào Xá, lại truyền Nam trang là nơi vua từng ngự lập đền thờ bà vương nữ. Bèn gia phong là Phương Dung Vương nữ Công chúa. Đào Xá phụng thờ (tức là đền ngoại thôn bây giờ). Phong:
– Đệ Nhị Long Vương Phụ mã Dực vận Phu quốc Hiển linh Đô thống Phổ đức Hoành vĩ Đại vương.
– Đệ Nhất Long Vương Uyên tĩnh Quảng thánh Vệ hiển Uy linh Bác trạch Uyên trừng Bác đạt Đại vương.
– Đệ Tam Long Vương Hải lâm sơn Tế thế Dụ trạch Đàm ân Đôn mẫn Linh uyên Đại vương.
Chính đền ở Đào Xá phụng thờ. Xã Đào Xá là nơi sở tại, xuân thu nhị kỳ ban thêm việc quốc tế. Còn như Thọ Xuyên, Ngọc Tháp đều có đền chính sở tại, còn di tích để bộ sau, cùng với hành cung hai bờ sông phụng thờ. Còn có sự tích riêng. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý nhiều khi linh ứng, hộ quốc cứu dân cho nên các đời đế vương truy phong Thượng đẳng Phúc thần, nghìn năm hương hỏa, hưởng phúc lâu dài, mãi cùng đất nước. Tốt thay, thịnh thay.
Còn như sinh hóa, hiển ứng cùng các ngày lệ, chữ húy, sắc mặc, vâng kê ở sau:
– Ngày sinh thần ngày mồng 3 tháng Giêng. Lễ chính 5 mâm cỗ chay, bánh lênh lang, bỏng, chín cây hoa bông, một đôi trâu vàng, bạc làm bằng xôi, ngoài bọc giấy vàng, giấy bạc. Từ mồng 1 đến mùng 3 tuyển bà đồng, xin âm dương bên chỗ bà Quế Hoa ứng nhập, được thì dân cử người đến mời vào đền chầu múa bông, cùng hiến lễ xuân ngưu. Trứng 3 quả dùng sống đựng trong mâm rồng. Có nước 3 cỗ sòng. 2 bình rượu ngọt, 2 cần sậy. Mổ trâu, ca hát, đánh cờ các thứ.
– Ngày 27, 28, 29 tháng Giêng là ngày khánh hạ đức Thánh phụ, Thánh mẫu và Tam vị Đại vương. Chính lệ lễ nghi cá chép con kho chín bày toàn thân, bày làm 3 cỗ, tiến thượng ban, trâu bàn 3 cỗ, bánh lênh lang 3 mâm. Cỗ sòng rượu ngọt, cần trúc. Trứng 3 quả dùng sống để trong mâm rồng tích thủy. Ca múa các thứ.
– Tháng Bảy từ ngày mùng 10 đến ngày 15 là lệ hiển thần phù giúp vua nhà Lý đánh giặc Tống. Lễ vật như 28 tháng Giêng, duy không có cá chép, lại có bơi chải mở hội trong ba ngày. Xin âm dương được mới thôi.
– Ngày 10 tháng 2 là chính lệ lập đền thờ thần hiệu bà Quế Hoa. Ba mâm cỗ chay, xôi rượu thịtlợn. Ca hát một đêm.
– Ngày trùng ngũ mùng 5 tháng 5 là lệ Khánh hạ. Năm mâm cỗ chay. Thịt lợn, rượu, ca hát một đêm.
– Ngày trùng cửu mùng 9 tháng 9 là ngày lệ Khánh hạ. Ba mâm cỗ chay, thịt trâu, thịt lợn, rượu, trứng gà. Ca hát một đêm.
– Ngày 10 tháng 12 là lệ mừng vua nhà Trần phong sắc. Năm mâm cỗ chay, thịt gà, thịt lợn, xôi, rượu. Ca hát một đêm.
– Ngày 15 tháng 12 là lệ đức Thánh mẫu hóa. Năm mâm cỗ chay, thịt lợn, rượu các thứ.
– Ngày 12 tháng 3 là lệ mừng vua nhà Lý phong sắc và ngày đức Thánh phụ hóa. Cỗ chay, thịt lợn, rượu các thứ.
Chữ húy nhất thiết cấm là 10 chữ Hải, Vân, Hoa, Phương, Dung, Đạt, Mãn, Linh, Uyên, Quế. Sắc phục màu đen và tím nhất định cấm.
Vào tháng Giêng từ ngày mùng 1 đến mùng 3 chọn bà đồng đến chầu múa, hoa bông, lại chọn những người con trai trong làng mà có còn đầy đủ cha mẹ cùng với bà đồng dâng hiến cỗ trâu vàng, trâu bạc cùng thịt lợn và mâm trứng. Các bánh mâm chay cùng với bánh lênh lang trong các tiết đều đặt ở trên ban trên của nơi chính sở, cùng với hai bên là ba mâm cỗ sòng. Cỗ trâu, thịt lợn, rượu ngọt, rượu cần đặt ở ban dưới hai bên khi làm lễ.
Ngày lệ mùng 10 tháng Bảy bơi thuyền đến ngày 15 thì dừng. Trong lễ tế này không có trâu vàng, trâu bạc cùng hoa bông. Chỉ có cỗ sòng, rượu ngọt, rượu cần, trứng gà như lễ vật trước. Lại có một lễ cơm gà đặt ở ngoài nơi thuyền rồng, cầu đảo Tam vị Đại vương cùng với ông Sùng Thống quản Thủy quân Thị vệ Đốc trấn Long quan Đại tướng quân. Trong lễ này dùng xôi gà cùng với ba đấu gạo sống đặt trên ban bảo hộ, khấn được âm dương thì hạ thuyền xuống để bơi.
Vào ngày lệ mùng 1 tháng Giêng cùng với lệ tháng Bảy trước đó phải dọn dẹp đường thủy từ Thượng Hạ Nông về cho đến đền làm lễ đón thánh vị tắm rửa ở gò đất giữa đầm lớn.
Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 2 (1573) ngày 17 tháng 6, thần, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng chép.
Thần tích làng Đông Tảo Đông, tổng Yên Vĩnh, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên theo bản khai 1938 số TTTS 12104
Chữ húy nhất thiết cấm là bảy chữ: Toại, Vân, Đồng, Tử, Tiên, Dung, Tây.
Ngọc phả ba vị triều Hùng Duệ Vương là Chử Công Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa và Tây Cung Tiên nữ.
Chi Khảm, bộ thứ hai Thượng đẳng
Xưa đất Việt ta dựng cơ đồ phương Nam phân chia theo sao Ngưu, sao Đẩu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong là tông phái đế vương đất Việt ta. Đất tốt châu Hoan kiến lập kinh đô. Hình mạnh Nghĩa Lĩnh xây sửa miếu đền. Cha truyền con nối hơn hai ngàn năm, đều xưng tôn hiệu là Hùng Vương.
Lại nói, thời họ Hùng truyền 18 đời đến khi Duệ Vương ở ngôi, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong Châu. Vương là người có tài cao chí lớn, tư chất thánh triết, kế thừa cơ đồ thịnh vượng của tổ tông 17 đời gây dựng, trong sửa văn đức, ngoài giữ biên phương, cố sức để hưng bình mà yên Trung Quốc. Khi ấy Vương có một Hoàng hậu. Hoàng hậu Dương Thị Diễm người Đức Quang ở châu Hoan. Có 6 quý phi, một trăm cung tần. Sinh hạ được 20 nam hoàng tử, 4 nữ công chúa. Nhưng mệnh trời thương thay, đều đem thân chốn Bồng Lãng, một ngày mà thành người thiên cổ. Hoàng hậu buồn rầu không thôi, ngày ngày rơi nước mắt lẫn máu. Nên khi ấy bèn cùng vài chục người thị nữ loan giá đi chu du giải buồn. Một hôm nghe nói ở huyện Tam Dương phủ Tam Đới có núi Tam Đảo thờ phụng đền Trụ Quốc Mẫu, rất là linh ứng, cầu gì tất được như ý nguyện mong muốn. Hoàng hậu bèn thân cùng các thị nữ đến hành hương cầu đảo. Tối đó Hoàng hậu nằm mơ thấy có một bà lão ôm một đứa trẻ tiên đem cho. Hoàng hậu trong mộng giơ tay nhận lấy, bỗng nhiên tỉnh lại. Sáng ngày ra làm lễ bái tạ rồi trở về. Từ đó cảm động mà có mang thai, đến kỳ sinh được một người con gái (ngày mùng 4 tháng giêng), mặt phấn má đào, sắc rạng mặt hồ, nhan sắc đầy đặn, hình dáng yểu điệu. Vương mở tiệc mừng lớn, nhân đó đặt tên là Tiên Dung, phong hiệu là Công chúa. Đến khi được 18 tuổi Công chúa không muốn lấy chồng, chỉ thích đi du chơi. Vương yêu mến nên không cấm. Cứ mỗi năm vào quãng tháng ba, tháng tư lại trang trí một chiếc thuyền mà đi chơi chốn sông biển. Một hôm thuyền đi đến bến Chử gia ở địa phận xã Đa Hòa.
Trước đó ở xã Đa Hòa có một gia đình họ Chử, tên là Toại Vân. Vợ chồng tích đức làm việc nhân, ba sinh hương lửa, một gối thật là phong lưu, đầy đủ sao. Một hôm bà mẹ nằm mơ thấy có một ông lão đầu bạc ban cho một đứa trẻ. Từ đó mà cảm động có mang. Mùa thu ngày 20 tháng 8 sinh hạ một người con trai, nhân đó đặt tên là Đồng Tử. Đồng Tử vốn tư chất thông minh, bản tính hiếu thành. Năm 13 tuổi bà mẹ bất hạnh mà bị bệnh qua đời. Nhà cửa lại gặp lửa cháy, tài vật đều mất hết, chỉ còn mỗi một chiếc khố vải. Cha con ra vào cùng mặc chiếc khố đó. Đến khi người cha lâm bệnh sắp mất, mới dặn lại Đồng Tử rằng:
Con người ta ở đời bần cùng hay phú quý đều không ngoài ý trời. Nhà ta trước giàu sau nghèo đều do trời vậy, không thể nài kéo. Cha nay bị bệnh, số khó tránh khỏi. Nếu vạn nhất như thế nào, hình hài của cha đã có nắm đất che không lộ ra, nên hãy để thân trần mà chôn, giữ lại mảnh khố cho con làm cách che thân.
Dặn xong thờ dải một tiếng rồi mất. Đồng Tử khóc lóc động trời, nhưng tình thế không thay đổi được, đành ôm thi hài mà khóc rằng:
Cha ơi! Cha ơi! Sinh con khó nhọc. Nay nhà nghèo thân hèn, không có gì để báo đáp. Con nay còn ở trên đời nếu lòng trời không phụ, tất sau sẽ có nhiều quần áo. Cha lúc sống đã là người không có tấm áo quần, nay mất đi há lại thành quỷ lõa thể hay sao?
Bèn đem chiếc khố liệm cho cha mà đem chôn ở bãi đất nhạn bay phía Bắc. Từ đó không có quần áo che thân, thật là rất đói rét, bèn ngâm mình trong nước sông, thấy thuyền buôn đi qua thì đứng lên xin ăn. Lại thả cần câu để làm kế sinh nhai.
Hôm đó thuyền của Tiên Dung đi tới. Đồng Tử nghe tiếng chiêng chống, lại thấy giáo mác cờ xí rợp trời. Đồng Tử sợ hãi chạy lên trên bãi, tìm nơi ẩn náu. Ở tại xã Mạn Trù có một chỗ cao có 5-7 khóm lau sậy, bèn nấp vào trong đám lau sậy, lấy tay đào cát thành hố, nằm nấp vào đó, lấy cát phủ lên trên để che thân đi.
Phút chốc thuyền của Tiên Dung tiến đến bãi cát đầu thôn của xã Mạn Trù. Tháng tư trời nắng nóng. Tiên Dung cùng vài người thị nữ đi lên bãi Màn Trù, thấy có một nơi cao ráo, bèn lệnh cho thị nữ quây màn lại để tắm rửa. Nước tắm chảy xuống làm trôi cát. Đồng Tử hiện ra. Tiên Dung kinh hãi, lặng im hồi lâu. Đồng Tử cũng rất sợ, ý muốn tìm cách chạy thoát. Tiên Dung thấy Đồng Tử muốn chạy thoát bèn nắm lấy tay mà nói rằng:
Ta vốn không muốn lấy chồng. Nay lại gặp gỡ ở đây, cả hai đều ở trần, tất là trời đã sai khiến vậy. Khanh hãy mau cùng tắm rửa với ta.
Tiên Dung sai ban cho quần áo, dắt tay xuống thuyền, mở tiệc mừng lớn. Đồng Tử kể lại rõ sự việc chôn mình trên bãi cát. Tiên Dung than thở rồi kết làm vợ chồng.
Vua cha Duệ Vương nghe tin, than rằng:
Con gái Tiên Dung của ta mà muốn lấy rể Đông sàng thì trong ngoài triều trăm quan đông đúc, sao không kết làm rể Đông sàng, mà lại nửa đường tự theo kẻ bần cùng ăn xin, sao như chuyện nghe tiếng đức mà thăng cho Thuấn được? Lòng ta thật hổ thẹn.
Bèn không cho phép về cung. Tiên Dung cũng sợ không dám trở về, mới cùng với Đồng Tử quây màn mà ở bãi Mạn Trù. Từ đó mà có tên gọi là Màn Chầu. Được vài tháng lại dựng nhà ở xứ Quỳnh Viên, châu Hoan. Sau đó Đồng Từ từ biệt Tiên Dung đi chu du bốn biển. Trên đường gặp một ông lão tóc trắng, tuổi khoảng 8-9 mươi, đầu đội nón tròn, tay cầm gậy trúc, vừa đi vừa hát rằng:
Sơn chi cao hề! Thuỷ chi thâm
Trần trung thiển hữu thức kỳ âm
Thức kỳ âm hề, kết giai âm
Ký kết âm hề, tuy vạn lý diệc tầm.
Ký kết đắc nhi dữ chi du hề
Nguyện đối dữ sơn cao, thuỷ chi thâm.
Dịch là:
Núi cao chừ, nước sâu thăm thẳm
Cõi trần mấy ai hiểu âm này
Hiểu âm này chừ kết giai âm
Đã kết âm chừ dẫu vạn dặm cũng tìm
Đã kết được rồi thì cùng du chơi
Xin sánh cùng với núi cao nước sâu.
Đồng Tử nghe hát biết là tiên nhân đắc đạo, bèn đến chắp tay nói:
Vẻ tiên thân tục, may mắn được thấy. Nghìn năm hiếm có sự gặp gỡ này. Xin chớ cho là đường đột.
Ông lão đầu bạc cười mà nói rằng:
Ta vốn là tiên nhân trên trời. Nhà ngươi cũng không phải khách trần tục. Nay đã gặp gỡ là thầy trò có duyên. Hơn nữa người tục mà thành tiên đã là điều lạ. Huống chi không phải người tục mà thành tiên thì có khó gì. Nhà người có muốn theo học ta chăng?
Đồng Tử cảm tạ nói:
Tiên ông đã mở lòng như vậy, đệ tử rất vui mừng, sai lại không theo.
Tiên ông bèn dẫn Đồng Tử ra ngoài hải đảo, đem hết phép thuật thần tiên, phi thăng, biến hóa truyền thụ cho Đồng Tử. Đồng Tử nhất nhất đều hiểu thấu. Đến lúc giã từ trở về Tiên ông lại trao cho nón vẽ và gậy trúc cùng với một đạo thần chú, dặn rằng:
Một đầu gậy có thể cứu người, đầu dưới gậy có thể trừ kẻ ác. Sau này khi về dựng gậy trên mặt đất, lấy nón phủ lên trên, tự nhiên sẽ thành lâu đài, trăm thứ. Người chết có thể sống lại, người bệnh có thể khỏi, đều ở tại trong thần chú của cây gậy trúc này. Chớ có xem thường.
Đồng Tử lại bái tạ mà nhận lấy, chia tay quay về với Tiên Dung. Thế là đã được 3 năm. Đồng Tử mới đem phép thuật thần tiên truyền thụ lại cho Tiên Dung. Từ đó vợ chồng cùng thành tiên. Một hôm vợ chồng lại trở về huyện Đông An, đi chơi ở đất hai xã Đa Hòa, Mạn Trù.
Lại nói, trong trang xã Đông Miên, huyện Đông An có một người con gái gia đình nông dân. Bà mẹ từng nằm mơ thấy có một con chim xanh từ phương Tây bay đến, bay vào trong trướng, biến hóa thành một người con gái. Kế đó lại thấy một vị nữ nhân nói rằng:
Ta vốn là Tây Cung Vương Mẫu ở trên trời. Người con gái này là con gái của ta, nay đem đến gửi cho nhà ngươi ở tại trần gian trong 3 kỷ.
Thế là bà mang thai mà sinh là nương (ngày mùng 10 tháng 2). Nương tính thích thanh tịnh, ăn chay và các đồ hương hoa. Năm 36 tuổi không có bệnh gì mà mất. Thế nhưng có lúc lại hiện về thăm nhà cửa ruộng vườn, có lúc du chơi trên cầu, đường cái. Có người gặp muốn hỏi thì bỗng nhiên biến mất. Mọi người đều lấy làm kinh lạ, cho rằng nương đã đắc đạo thành tiên.
Khi ấy Đồng Tử và Tiên Dung đi đến địa giới hai xã Ông Đình và Yên Vĩ, thấy nương đang du chơi nơi kính cổ. Tiên Dung thấy nương có dung nhan chim sa cá lặn, có tướng mạo hoa nhường nguyệt thẹn, bèn chỉ cho Đồng Tử nói:
Lang quân có muốn lấy cô nương này làm thứ thất không?
Đồng Tử mỉm cười. Tiên Dung biết được ý đó bèn tiến đến Tây Nương cười mà nói rằng:
Nàng là Tiên hay là người trần? Là phong nữ hay hoa kiều? Lang quân của ta thiên tư cao xa, tài mức thông minh. Nàng làm thiếp cho người đó chẳng phải tốt sao? Ta tuy là con gái vua nhưng không có lòng đố kỵ và kiêu căng. Nàng và ta làm chị em chẳng phải vui sao?
Tiên Dung dứt lời, Tây Nương đáp rằng:
Ta chẳng qua nương ẩn trong hình hài này mà thôi. Ta là tiên nữ Tây Cung, còn vợ chồng nàng cũng đã học thành tiên thuật vậy. Nay không hẹn mà gặp, là do trời hay do người đây?
Tiên Dung nói:
Mưu sự bởi người, thành sự do trời. Nay trong việc này là do người vậy.
Thế rồi cả hai cùng cười lớn, dắt tay nhau đi đến chỗ Chử Công ngồi, làm lễ kết thành vợ chồng. Đương lúc đó thấy trong ấp Ông Đình đem ra 6 thi thể người chết mang đi chôn. Chử Công bèn nói với Tiên Dung và Tây Nương rằng:
Ta có phép tiên có thể cải tử hoàn sinh. Nay thấy có người chết, ta muốn cứu. Các nàng có thuận theo không?
Tiên Dung cùng Tây Nương nói:
Cứu người là việc phúc lớn, sao lại không theo.
Dứt lời ba người cùng đến vào Ông Đình, quả nhiên cứu được 5-6 tử thi. Từ đó tiếng tăm khắp xa gần trong huyện Đông An đều truyền tới. Khi ấy xã Mạn Trù gặp bất hạnh, thiên tai hoành hành, bệnh dịch phát tác. Người bệnh trong làng bị 20-30 người. Người chết 5-6 người. Người chết không có người chôn. Người bệnh không có người nuôi. Bèn tìm Chử Đồng Tử cùng với Tiên Dung và Tây Nương ba người mời về trong làng. Đồng Tử nói một cách nặng nhọc rằng:
Xã Mạn Trù là nơi ta và Tiên Dung gặp nhau. Ta mải đi chơi thăm thú mà không để ý, khiến cho người dân mắc bệnh và mất như vậy thật là lỗi của ta vậy.
Bèn cùng với Tiên Dùng và Tây Nương đến xã Mạn Trù, theo phép mà tiên ông đã truyền thụ để cứu xã Mạn Trù, người chết được sống lại, người bệnh khỏi bệnh. Thế là nhân dân, nam nữ, già trẻ xã Mạn Trù ai nấy đều vui mừng, nhảy nhót, làm lễ xin được làm thần tử, xin được lập sinh từ để ngày sau lo hương khói. Đồng Tử bèn dựng gậy ở đất Mạn Trù, lấy nón đội lên trên, miệng ngâm thần chú. Tự nhiên biến thành một tòa nhà to lớn, lưu ở xã Mạn Trù để làm nơi ngày sau hưởng thần.
Việc xong, ba người lại đi. Phàm là trong huyện Đông An nơi nào ba người đến đều dựng gậy ở đất đó, lấy nón đội lên trên, tự nhiên trở thành lâu đài, thành thị, tài vật, hàng hóa. Từ đó gọi tên là bãi Tự Nhiên. Trong triều quan quân vui mừng mà đi đến tụ họp quá nửa.
Vua cha Duệ Vương nghi ngờ là làm phản, bèn lệnh dẫn quân đến đánh. Khi đó trời đã tối, quan quân do đó đóng ở bên bờ trái. Đồng Tử cùng với Tiên Dung than rằng:
Đạo làm con sao dám chống lại mệnh của cha.
Đến nửa đêm bỗng mưa to gió lớn đập lên nơi đất ở đó. Lâu đài, của cải cùng với Đồng Tử, Tiên Dung, Tây Nương đều cùng một lúc bay lên trời (ngày 11 tháng 11). Trời sáng, quan quân trở về thuật lại sự việc, tâu lên Duệ Vương. Vương mới biết họ đã đắc đạo thành tiên, bèn xa giá đến xem nơi đất đó, thấy bùn đất ngàn dặm, nhân đó gọi là đầm Nhất Dạ.
Đương khi đó thấy một người con gái cưỡi hạc trắng từ phương Tây đến, đứng ở trong đầm, tự xưng là Tây Cung Tiên nữ, vâng mệnh của Đồng Tử, Tiên Dung đến tạ quân vương. “Chúng thần xin nhận tội không trọn đạo làm con, xin vua cha thứ tội.” Tạ xong lại theo trong đầm mà bay lên không mà đi.
Vương cảm việc đó, bèn sắc phong là Nội Trạch Tiên Cung Tiên nữ, cho được cùng thờ hưởng với Đồng Tử, Tiên Dung Công chúa. Lập đền thờ chính ở xã Đa Hòa. Ban chiếu truyền trong huyện Đông An, nơi nào ngày trước ba vị có lập cung đền và có đi qua trú ngụ, thì đến đền chính Đa Hòa nghênh đón thần hiệu về phụng thờ.
Khi ấy nhân dân xã Mạn Trù cũng đến Đa Hòa làm lễ nghênh thần hiệu của ba vị về miếu trước đây Chử Công đã dựng để phụng thờ. Từ đó hễ trong dân có việc cầu xin đều linh ứng. Nên nhân dân đều nghiêm túc phụng thờ thêm, bốn mùa tám tiết hương hoa đúng như nghi thức.
Phong Chử công Đồng Tử Chí thánh Linh thông Thượng đẳng thần.
Phong Tiên Dung Công chủ Thiên tiên Uyển diễm Thượng đẳng thần.
Phong Nội Trạch Tây Cung Tiên nữ Huyền diệu Thượng đẳng thần.
Lại nói, trải đến thời Tiền Lý Nam Đế cùng chống cự với các tướng Lương là Bá Tiên, Dương Sàn. Nam Đế không may nửa đường mà mất, trao lại quyền cho đại tướng Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục bèn dẫn quân trở về đầm Nhất Dạ cố thủ. Một hôm trai giới lập đàn cầu đảo trời đất bách thần. Trong một lúc thấy có một người nam cưỡi rồng
từ trên trời hạ xuống, tháo móng rồng trao cho, để chế ra đâu mâu, đặt trên nỏ, hướng vào đâu nơi đó khắc yên. Quang Phục bái nhận, lại hỏi tính danh. Người nam đó cười rằng:
Chử Đồng Tử chính thị là ta.
Rồi lại cưỡi rồng bay lên không mà đi. Quang Phục bèn sai chế tạo nỏ thần móng rồng, một trận đánh mà bại được giặc. Bèn lên ngôi tự lập làm Triệu Việt Vương. Mới truy tôn Chử Công là Hoàng đế. Tiên Dung Tây Nương là Tả Hữu Hoàng hậu. Lại cho phép dân các xã thờ ba vị đều tu sửa miếu điện mà phụng thờ. Xuân thu sai quan đến tế lễ. Từ đó trải Đinh, Lê, Trần, Lý cùng với hoàng gia ta khai sáng cơ đồ, thường có giúp nước cứu dân, cầu mưa tránh lũ đều có nhiều linh ứng, nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự, để bốn mùa hương lửa, vạn đời là lệ thường. Tốt đẹp thay!
Vâng khai sinh hóa các lễ cùng với các chữ nhất thiết cấm là năm chữ Đồng, Tử, Tiên, Dung, Tây. Y phục hai màu vàng, tím cấm dùng khi làm lễ.
Ngày sinh thần của Chử Công là ngày 12 tháng 8, làm lễ trên hoa quả, dưới lễ tam sinh, ca hát 10 ngày.
Ngày sinh thần của Tiên Dung là mùng 4 tháng Giêng, lễ như tháng 8, ca hát 1 ngày.
Ngày sinh thần Tây Nương là mùng 10 tháng 2, lễ hát y như tháng Giêng.
Ngày hóa thần ba vị cùng ngày là 11 tháng 11, lễ dùng cỗ chay.
Năm Hồng Phúc thứ nhất, giữa xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các điện Đại học sĩ, thần Nguyễn Bính vâng soạn.
Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Nhuế Đông, xã Lang Tài, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Phả chép về một vị phu nhân âm phù triều Trưng nữ vương Chi Khảm, bộ Thượng đẳng Chính bản bộ Lễ quốc triều Xưa Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ mở vận ứng đồ hơn hai ngàn năm Hùng Vương dựng nước núi xanh vạn dặm lập nền đô thành cung điện, nước biếc một dòng mở đạo đế thánh vua sáng, mà cứu vật giúp người, cai quản 15 bộ, gọi là tổ ban đầu của Bách Việt vậy. Về sau họ Hùng có trăm thần sông núi thường hay xuất hiện, biến hóa thần kỳ, âm phù giúp nước giúp dân. Có thơ rằng: Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương Nhất thống sơn hà thập bát vương Thập bát thế truyền thiên cổ tại Ức niên hương hoả ức niên phương. Dịch nghĩa: Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương Thống nhất núi sông mười tám vương Mười tám đời truyền ngàn năm đó Vạn năm hương lửa vạn năm hương. Lại nói, cơ đồ họ Hùng tương truyền được 18 đời đến khi mạt tạo, ý trời muốn dứt, trải qua các triều đại Tây Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Đường, Tùy, tới khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần mở mang cơ đồ, giữ quốc thống bền lâu vậy. Xưa ở đất Việt có Trưng nữ vương. Vương họ Trưng tên Trắc, người huyện Mê Linh, Phong Châu, là con gái của Lạc tướng, lấy chồng là Thi Sách. Khi ấy có giặc Hán Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu tang thương, không người cứu giúp. Khi đó người cháu gái Hùng Vương tên là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, là thánh thần trên đời, nổi oai hùng cất quân đến đánh. Đang khi ấy không có bậc nam nhi nào có đủ tài thao lược. Vương vì trả thù cho chồng mà cùng với em gái khởi binh. Nữ tướng dẫn quân, thần linh phát động. Thế rồi Trưng nữ bèn cầu đảo Tản Viên Sơn Thánh, lại lập đàn cầu đảo bách thần ở cửa sông Hát Môn (nay thuộc xứ Sơn Tây). Bèn chúc rằng:
Trời sinh con người là tông chủ của vạn vật trong đất trời, sinh linh có dòng dõi, cỏ cây có tương quan. Trải các đời đế vương trước đây là những bậc thiên tử thánh minh, triều đình có đạo yêu dân vì nước. Đức hóa chuyên năng. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có kẻ tộc ngoài là tên Tô Định, như loài dê chó quấy phá, lộng hành điên cuồng, bạo ngược nhân dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Thiếp hiềm chỉ là cháu của Hùng Vương trước đây, là một nữ nhân, nghĩ đến sinh linh, hoàng thiên rơi lệ. Ngày hôm nay đau lòng thương cảm mà trượng nghĩa trừ tàn bạo. Xin trăm vị chư tôn hội đàn chứng giám, giúp thêm sức cho Trưng nữ thiếp dẫn quân dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Để thiếp khôi phục được cơ nghiệp trước đây của tổ tông, để các sinh linh được hưởng miếng cơm manh áo, đưa sinh linh khỏi chốn nước lửa, mà không phụ lòng của tiền nhân, thỏa sự linh thiêng đền miếu tiên hoàng, an ủi tổ phụ dưới nơi chín suối.
Chúc xong thấy xuất hiện ngàn hàng vạn đội âm binh. Ngay hôm đó Trưng nữ bèn truyền hịch đến các đạo, châu, huyện nước Nam, ai người có tài văn võ, anh hùng, có thể chống giặc thì ngay lập tức chiêu mộ tráng binh dẫn đến để chọn lựa người có kỳ tài mà phong chức vụ. Hôm đó các đạo nghe thấy chiếu của Trưng nữ bèn đem các quân trong làng xóm dẫn đến ứng tuyển. Trưng nữ bèn phong những người có tài làm đại tướng. Còn binh sĩ xếp thành các đội. Ngày hôm đó Trưng nữ giao cho tướng lãnh quân đi trước dẹp đường. Còn mình thì dẫn quân đi sau ứng trợ. Ngày hôm đó Trưng nữ sai các tướng đem quân tuần phòng các đường, dẫn quân xuất binh đường đường mà đi. Ngay hôm ấy Trưng nữ dẫn hai ngàn quân đi đánh với giặc Hán. Một buổi tiến đến đạo Kinh Bắc (xưa gọi là Vũ Ninh), phủ Thuận An (sau đổi là Thuận Thành), huyện Lương Tài (xưa là Thiện Tài). Trời đã về chiều, gặp quân Hán nên đóng quân thủy ở gần sông Thiên Đức. Trưng nữ bèn trú quân ở khu đất đầu trang Nhuế Đông, nơi có miếu thờ. Đến tối Trưng nữ bèn vào cầu đảo trong đền thần mong được âm phù dẹp giặc. Tối hôm đó tới giữa canh ba Trưng nữ bỗng nhiên nằm mộng thấy một bà lão tuổi khoảng 40, có phong tư yểu điệu, nhan sắc phi thường, mặt phượng mày ngài, má hồng môi phấn, vạn điểm như sóng thu, mười phần là sắc xuân, theo con đường trước miếu mà đến, tự xưng rằng:
Ta vốn là Hoàng Thái hậu triều Tống, tên là Càn Hải phu nhân. Do khi nhà Tống suy vong, giặc Nguyên xâm chiếm nên mẹ con ta ba vị hồng nương cùng xuống thuyền rồng lánh nạn ở ngoài hải đảo, vượt qua sông núi đên nơi cửa biển Am thì gặp sóng gió mà cùng hóa vậy (ngày hóa là 15 tháng 5). Thiên đình cảm động ban chiếu cho các trang khu, phường trại ở cạnh sông góc biển lập miếu mà thờ cúng để đề cao tích thiêng của phu nhân. Nay thấy nữ tướng dẫn quân dẹp giặc Hán đến trú quân và cầu đảo được âm phù nên ta xuất hiện, xin được theo quân đội dẹp giặc lập công.
Bà lão dứt lời thì biến mất (ngày thần hiện là mùng 9 tháng 2). Trong phút chốc Trưng nữ tỉnh lại, biết là linh thần xuất hiện giúp nước giúp dân. Rạng ngày Trưng nữ gọi nhân dân và phụ lão ở trang khu Nhuế Đông đến hỏi rõ việc này:
Ta muốn hỏi có phải hai khu trang ấp các người phụng thờ một vị Tống Hoàng Thái hậu, rất là linh hiển phải không?
Khi ấy nhân dân phụ lão trang khu Nhuế Đông đều sợ hãi mà làm lễ mừng, tâu rằng:
Đúng là trang khu chúng thần theo như trước đây khi mới lập trang khu có xin lĩnh lô hương ở cửa biển Am mang về dân lập miếu mà thờ cúng, thật sự rất linh nghiệm.
Trưng nữ nghe vậy bèn ban cho nhân dân phụ lão một nén vàng tím để tu sửa miếu điện, đợi khi yên bình sẽ gia phong Thượng đẳng thần. Hôm ấy Trưng nữ vương bèn dẫn quân về phía Tây, hội quân cùng các tướng. Tướng nam dẫn quân nam. Tướng nữ dẫn quân nữ, cùng với em là Nhị cùng các tướng chia thành các đạo tiến thẳng đến đồn Tô Định đánh một trận đại phá, bắt được Tô Định ở xứ Lãng Bạc mà chém đi. Quân Hán thua to, chém được chính tướng và tì tướng cùng binh sĩ vài ngàn đầu, thu được khí giới. Xây dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ đất đai nước Nam. Hôm ấy các tướng đón Trưng nữ khải hoàn, lên ngôi xưng là Trưng nữ vương. Bèn mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ cấp bậc tương ứng. Vương bèn nói với quần thần các tướng rằng:
Giặc Hán dẹp yên được cũng là do có thần âm phù trợ giúp.
Bèn sai sứ sắc phong cho bách thần các mỹ tự. Sắc phong thần hiệu nguyên tên phong là Đại Càn Nam Hải linh ứng tôn thần. Tặng phong là Nga hằng Uyển mị Chí đức Đoan trang Hoàng Thái hậu Thượng đẳng thần. Từ đó về sau có nhiều sự linh ứng nên có nhiều các đời đế vương thường đều có phong thêm mỹ tự, cho phép cửa biển Am là nơi hộ nhi. Thường nước cầu dân khấn, anh linh không phai. Sắc vâng ban cho trang khu Nhuế Đông phụng thờ. Vâng thay! Đến thời Trần Anh Tông đi chơi ở núi Yên Tử, đến cửa biển thì gặp nạn sóng gió, mà được một vị tôn thần cứu thoát. Đến ngày về Đế bèn phong thêm mỹ tự là Huệ hoà Gia hành Đoan trang Thục diệu Phu nhân Thượng đẳng thần. Lại ngâm một câu thơ: Hương hoả thiên thu âm tục Tống Phong ba nhất trận mặc phù trần. Nghĩa là: Hương lửa ngàn thu âm nối Tống Sóng gió một trận thầm giúp Trần. Lại nói, sắc chỉ ban cho trang khu Nhuế Đông phụng thờ. Vâng thay! Thời sau khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa Lam Sơn dẹp trừ giặc Minh, cùng bè đảng Mộc Thạnh, Liễu Thăng, đến khi có được thiên hạ thì vua Thái Tổ bèn phong thêm mỹ tự là Ý đức Thuần hoà Anh linh Phù tộ Phu nhân Thượng đẳng thần. Sắc chỉ ban cho trang Nhuế Đông khu Đặng Thượng và khu Thiên Lộc cùng tu sửa miếu điện để phụng thờ, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ. Vâng thay! Ngày tiệc thần hiện vào ngày mồng 9 tháng 2. Lễ chính lệ dùng trên có mâm chay và phẩm quả, dưới tùy xếp cỗ, ca hát ba ngày. Niên hiệu Hồng Đức năm thứ 5 giữa xuân ngày tốt Đệ tam giáp Tiến sĩ trí sĩ Thượng thư bộ Lễ Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn [Bính] vâng soạn bản chính. Nội các bộ Lại tuân theo bản chính cũ vâng sao. Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 13 ngày mồng 1 tháng 3 lý trưởng xã Nhuế Đông vâng sao nguyên như bản chính.