Có một nền văn hóa Việt Nam (I)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

20190420_143906

I

Một số học giả người Pháp vẫn thường bảo Việt Nam không có một tí vốn liếng gì về văn hóa. Theo họ, suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc này chỉ biết có vay mượn mà thôi. Dân tộc này không hề có chút cống hiến vào kho tàng văn hóa của nhân loại và giá thử, một ngày kia, dân tộc này có diệt vong, điều ấy tuyệt nhiên không có quan hệ gì đối với đời sống tinh thần chung.
Kể học giả người Pháp mà nói liều lĩnh như thế cũng là lẽ đương nhiên. Họ đã đến xứ ta hay khảo sát xứ ta với tâm lý người chiến thắng. Với họ trước kia chúng ta đã là những người chiến bại, những người tôi tớ. Còn họ đã là chủ nhà. Mà xưa nay, mấy khi chủ nhà không khinh thị tôi tớ, mặc dầu cứ bình tĩnh mà xét, đã chắc gì ai kém ai hơn.
Đó là một lẽ. Song lẽ ấy không đủ để giải thích câu nói liều lĩnh trên kia. Bởi vì dân tộc Chiêm Thành, dân tộc Cờ Me (Khmer) cũng đứng vào địa vị chiến bại mà văn hóa của họ vẫn được học giả người Pháp chú ý và trân trọng hơn. Sở dĩ một số học giả người Pháp khinh thị văn hóa Việt Nam đến nỗi dám quả quyết rằng văn hóa Việt Nam không có, ấy cũng vì nền văn hóa Việt Nam khác hẳn các nền văn hóa phương Tây, khó mà nhận ra được. Nhất là họ lại đang quen nhận xét một cách rất nông nổi và thiển cận.
Tuy vậy, như trên đã nói, người Pháp mà khinh thị văn hóa Việt Nam thì không có gì đáng lấy làm lạ. Điều đáng lấy làm lạ là chính người mình cũng tự khinh thị mình. Óc nô lệ đến thế thật là cùng cực. Sự nhồi sọ của người Pháp đã khiến một số đồng bào ta tin rằng chẳng những ta hoàn toàn bất lực về kinh tế, về chính trị mà cũng hoàn toàn bất lực về văn hóa.
Ai là người quan tâm đến vận mệnh nước nhà, của nòi giống, thấy thế mà có thể dửng dưng? Nếu quả người Việt Nam tuyệt nhiên không có khả năng gì về văn hóa, nếu quả lịch sử tinh thần của dân tộc Việt Nam chỉ là một con số không đồ sộ, thì ta còn hy vọng gì ở tương lai? Nếu quả bọn chúng ta vốn bất tài, trong mấy ngàn năm, chúng ta khó có thể nhất đán trở nên những bậc đại tài đủ sức xây đắp một nền văn hóa tương lai tráng lệ. Trong lịch sử mấy khi có những chuyện lạ lùng như thế. Cho nên không gì buồn bằng cảm thấy cái bất lực của giống nòi về văn hóa. Hay giả thử một điều khó có thể có được, là dân tộc ta trở nên hùng cường vào bậc nhất trên thế giới nhưng vì văn hóa chúng ta cũng chỉ biết có vay mượn mà thôi, thì tương lai ấy thực không đủ cho ta hởi lòng, hởi dạ. Ta vẫn muốn giàu, muốn mạnh, nhưng chúng ta không hể chỉ mộng làm một người trọc phú. Tất cả những người Việt nam thành thực đều băn khoăn đi tìm một niềm tin ở nòi giống, vì có tin ở nòi giống mới có thể tin ở mình, một người Việt Nam, lại có thể không hèn kém hay sao? Mà một khi đã cho mình hèn kém, hơn nữa, đã tin rằng cha ông mình mấy ngàn năm nay vẫn hèn kém, tì cuộc sống không còn có nghĩa lý gì nữa!

***

Nhưng sự thực có đến nỗi buồn thảm như thế không? Dân tộc Việt Nam có quả hoàn toàn bất lực về văn hóa không? Ta quyết rằng không. Và ta nói thế không phải vì lòng ta muốn thế. Ta sẽ hết sức vô tư và khách quan. Ta sẽ can đảm nhìn thẳng vào sự thực, vô luận sự thực ấy như thế nào.
Sự thực thì ta vốn có một nền văn hóa. Nền văn hóa ấy cố nhiên không thể tìm thấy trong những bài kinh nghĩa, những bài văn sách, những bài thơ, bài phú chữ Hán, nói rộngj ra, trong những tác phẩm Hán Việt, nghĩa là trong những tác phẩm bằng chữ Hán của người Việt. Đời này sang đời khác, các nhà nho xứ ta mỗi khi cầm bút viết văn tàu chỉ lặp đi lặp lại những ý, những lời của thánh hiền Trung Quốc. Nhưng dân tộc Việt Nam đâu phải chỉ có những nhà nho. Ta hãy đi về nơi thôn quê và lắng tai nghe câu hát đậm đà của người thôn nữ. Đó không phải là văn hóa hay sao? Ta hãy ghé vào những ngôi chùa cổ và để ý nhìn những bức chạm của người xưa. Đề tài có thể vay mượn của người, song những đường nét kia vẫn nặng mang tâm tình Việt Nam, vẫn ghi rõ nhịp sống Việt Nam chứ sao? Ta hãy ngẫm nghĩ về những lời ta đương nói. Chữ dùng có lẽ đến ba phần tư là chữ Hán. Song ta mượn chữ Hán mà ta đọc theo lối ta, ta xếp đặt theo cú pháp tiếng ta, ai dám bảo tiếng ta không phải một công trình văn hóa của người Việt? Ngay các nhà nho chỉ biết nô lệ theo người những khi cầm bút viết văn Tàu, thế mà đến khi nhận trách nhiệm đặt pháp luật để thi hành trong nước thì lại tỏ ra là những người có óc sáng tạo. Pháp luật xứ ta, nhất là pháp luật đời Hồng Đức, vẫn có nhiều tính chất riêng của dân tộc ta.
Nhưng ta cần gì phải đến pháp luật, đến ngôn ngữ, đến nghệ thuật văn chương hay đến tôn giáo, phong tục v.v… để chứng rằng ta vốn có một nền văn hóa. Nội một điều nhận xét đơn sơ này cũng đủ cho ta tin như thế. Văn hóa đâu có phải là một vật lạ lùng từ trên trời rơi xuống. Văn hóa chỉ là một phương diện – phương diện tinh thần – trong đời sống của một dân tộc. Phương diện ấy, chúng ta tách riêng ra cho tiện bề nghiên cứu, nhưng nó vốn có quan hệ mật thiết với các phương diện khác trong đời sống chung, như kinh tế, chính trị v.v…hơn nữa nó vốn cùng các phương diện khác là một, trong cái toàn thể là đời sống chung. Nói một cách nôm na, văn hóa cũng như kinh tế, như chính trị, chỉ là một mặt của sự thực, của đời sống chung. Đã thế, nói rằng dân tộc Việt Nam không có một nền văn hóa riêng là một câu nói vô lý, vì dân tộc Việt nam vẫn là một dân tộc riêng, vẫn có một cuộc sống riêng, điều ấy không ai chối cãi.

***

Vậy ta có thể nói quyết rằng: dân tộc Việt nam vốn có một nền văn hóa. Cái điều có kẻ không tin là giá trị của nền văn hóa ấy. Nhưng ta tự hỏi: căn cứ vào đâu mà đánh giá một nền văn hóa? Tất phải căn cứ vào thực tiễn. Vì, xét cho cùng, văn hóa chỉ là sự cố gắng của loài người để giành quyền sống. Vậy mà đứng về quan điểm ấy, không thể không nhìn nhận giá trị của văn hóa Việt Nam. Chứng cớ hiển nhiên là nó đã giúp chúng ta tồn tại.
Nếu ta không có những khả năng dị thường về văn hóa, dám chắc rằng nòi giống ta đã tiêu diệt tự bao giờ. Giải đất chúng ta ở đây, đâu phải là chốn thiên đường. Chúng ta đâu phải là những đứa con cưng của tạo hóa. Kể từ hồi tiền sử, nước non này đã chứng kiến biết bao nhiêu nhân họa, thiên tai kế tiếp nhau không ngớt. Biết bao nhiêu giống người đã lần lượt đến chiếm xứ này, nhưng chung quy ở không được nên đã lần lượt tiêu vong. Trong tất cả các giống người đã bước chân tới đây, hình như chúng ta là những kẻ ở đây được lâu hơn cả. Được thế cũng bởi chúng ta biết mình là con nhà cực và hết sức phấn đấu với cuộc đời cơ cực. Sống trong một hoàn cảnh ác liệt, chúng ta đã biết luyện mình cho thích nghi cùng hoàn cảnh. Văn hóa Việt Nam đã được hun đúc trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử gay go ấy nên rất có giá trị.
Chính nền văn hóa rất có giá trị ấy đã cứu chúng ta. Bởi vì văn hóa tức là đời sống tinh thần của dân tộc, tuy vốn do những điều kiện vật chất chi phối nhưng trở lại nó lại ảnh hưởng đến đời sống vật chất. Nói một cách khác, mọi hành vi của cá nhân cũng như của đoàn thể đều do tinh thần đưa đường chỉ lối. Vậy không có sự hướng dẫn của văn hóa, làm sao cha ông ta từng bao lần đánh bại xâm lăng? Không có sự hướng dẫn của văn hóa, làm sao cha ông ta có thể lần theo bờ biển mà khai thác một giải đất hàng mấy ngàn cây số, từ Hoành Sơn đến mũi Cà Mau? Không có sự hướng dẫn, không có sức bảo tồn của văn hóa, làm sao cha ông ta tiếp xúc với người Hán có đến hai ngàn năm mà vẫn thoát được cái nguy đồng hóa?
Giống Hán, chúng ta đều biết, là một giống người có sức đồng hóa mãnh liệt vô cùng. Nó đã đồng hóa không biết bao nhiêu giống người ngày xưa, nó vẫn gọi chung là Tây Nhung, Bắc Địch, Nam Man, Đông Di. Tất cả những giống người Việt từ bờ sông Dương Tử đến biên giới Việt Nam đều bị nó đồng hóa, trừ một giống là giống Lạc Việt chúng ta. Lúc chúng ta bắt đầu gặp người Hán thì chúng ta chỉ là một nhóm người con con dễ thường không đầy một triệu và may lắm cũng chỉ mới tiến đến giai đoạn đồ đồng. Chúng ta đã gặp một khối người mạnh hơn, đông hơn không biết bao nhiêu lần, và nhất là đi trước chúng ta hàng maays trăm năm nay trên con đường văn hóa, Thế mà sau một ngàn năm Bắc thuộc về chính trị và ngót một ngàn năm nữa Bắc thuộc về tinh thần, ta vẫn không tiêu tan trong khối Hán, ta vẫn giữ được bản lãnh của ta, Càng nghĩ đến điều đó bao nhiêu, ta càng ngạc nhiên bấy nhiêu và càng thêm lòng tin vào nòi giống. Hãy thử tìm trong lịch sử thế giới được bao nhiêu dân tộc cùng lâm vào một tình cảnh nguy nan như thế mà vẫn đủ sức giải nguy?
Nền văn hóa Việt nam không có giá trị phi thường thì nòi giống Việt Nam làm gì được thế. Nhưng văn hóa Việt Nam như thế nào? Những gì là đặc tính văn hóa Việt Nam? Hiện giờ không ai có thể chiều lòng ta mà trả lời câu hỏi ấy một cách đầy đủ và có trả lời cũng chỉ là liều lĩnh mà thôi. Bởi vì muốn nhận thức một cách đầy đủ và chắc chắn bản sắc cố hữu của văn hóa Việt Nam, lẽ tất nhiên phải nghiên cứu tất cả mọi trạng thái văn hóa trong xã hội Việt Nam thời trước, như học thuật, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật, luân lý, tôn giáo, pháp luật, phong tục vân vân…

Phường Trường Súng

Trích bài viết của L. Cadière đăng trong Những người bạn của cố đô Huế, BAVH năm 1925.
Bản dịch của Hà Xuân Liêm, NXB Thuận Hóa, 2002.

II. NHỮNG HỒI KÝ VỀ CHÚA NGUYỄN
Chúng tôi sẽ không cho bắt đầu phường Trường Súng từ hướng cực Đông của con đường mang cùng tên với phường này. Như vậy chúng tôi sẽ phải nói đến toàn bộ vùng Phủ Cam. Người ta đã cho con đường Trường Súng một chiều dài quá mức. Con đường này đã được phân ra, và phần bên dưới từ cầu chợ Phủ Cam xuống đã được đặt là đường kè bờ sông mang tên là Forçant. Con đường này sẽ còn rút ngắn lại nữa, và điều này hợp lý. Vậy chúng ta sẽ khởi hành từ nhà ga, vì từ đó đến nơi ra khỏi thành phố, con đường dẫn tới Trường Súng, rất đáng được mang cái tên của di tích lịch sử này.
Con đường Trường Súng này như đã được định ranh giới cho đến xưởng máy vôi Long Thọ, hai bên đường được bao viền bởi nhiều dấu vết kỷ niệm mà các chúa Nguyễn của Huế, qua tiến trình nhiều thế kỷ, đã để lại nơi đây.

*
**

Tôi không hiểu có còn một bản đồ về phường Nhà Ga không, vì trước khi xây dựng con đường sắt làm sao khỏi dẫn đến sự đảo lộn hoàn toàn vùng đất này, có một số di tích lịch sử rất lý thú có thể đã bị phá hủy mà kỷ niệm về chúng đã bị quên lãng hẳn, hoặc chỉ được lưu giữ bởi những người mà người ta không dễ gì đến hỏi han tham cứu. Trong vùng đất mà ngày nay người ta dựng lên xưởng làm nước đá của ông Bogaert, ngày xưa đã có những chuồng nuôi voi của nhà chúa. Chúng ta cũng sẽ thấy những chuồng khác nuôi voi ở thượng lưu, gần Trường Súng. Xưa kia, nhiều đội tượng binh được lập rải rác ở nhiều nơi. Chính trong Hoàng cung cũng có một đội tượng binh, và những đội khác thì có chuồng nhốt ở trung tâm làng Kim Long. Tôi đã nói ở một bài khác, tất cả những điều có liên quan đến các con vật đi diễu hành và đi đánh trận này (BAVH, 1922). Hôm nay tôi không nói lại ở đây nữa.
Những chuồng voi này được thiết lập trên con đường phục vụ giao thông cho chuyến đò ngang gọi là đò Trường Súng. Con đò này tạo sự thông thương giữa bờ phải với bờ bên trái con sông. Nếu người ta tiếp tục đi theo con đường này về hướng Nam, thì có một đoạn giốc đứng dẫn lên đỉnh một vách đứng thống ngự gần nhà Ga, và con đường đã kéo dài ra bởi đoạn mà các bản đồ của Sở Công chánh gọi là đường “song song phía Tây”, ngày xưa đường này thường được dùng trước khi người ta cho mở đại lộ Nam Giao.
Về phía trái, người ta thấy có ngôi chùa Phật giáo là chùa Báo Quốc, mà ông Labonde đã kể cho chúng ta biết về lịch sử của nó (BAVH, 1917), và về phía phải có hai ngôi miếu quan trọng: miếu Lịch Đại, và miếu thờ vua Lê Thánh Tôn. Miếu Lịch Đại, được xây dựng trên đất Dương Xuân, và được dành để thờ “các triều vua chúa” ngày xưa (*). Miếu này được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ tư, như bức hoành ở gian giữa miếu đã chỉ rõ điều này: “Minh Mạng năm thứ tư, tháng năm, ngày tốt tạo lập (9 Jiun – 8 Juill. 1823). Toàn bộ được trở mặt về hướng Nam và gồm có ngôi miếu chính năm gian, hai nhà tả hữu vu, ngôi tả vụ bên trái ở hướng Đông, ngôi hữu vu bên phải ở hướng Tây. Ở gian chính giữa của ngôi miếu chính người ta thờ các vị hoàng đế huyền thoại hoặc thuộc lịch sử vào thời đầu của đế quốc Trung Hoa. Gian thứ nhất bên trái, nghĩa là gian về hướng Đông tôn trí những bài vị của các vị vua thuộc cổ tích, hoặc có tính cách bán lịch sử của nước Nam, người ta đã phối thờ vào gian này vị vua lập nên triều đại quốc gia đầu tiên là Đinh Tiên Hoàng. Gian thứ nhất bên phải, hướng Tây, được dành để thờ các vị vua sáng lập ra triều đại nhà Tiền Lê, các vị Hoàng đế chính của triều đại nhà Lý. Gian thứ hai bên trái và bên phảo được kính cẩn dành để thờ một số vị vua đời nhà Trần và nhà Hậu Lê. Cuối cùng, hay dãy tả vu hữu vu tôn trí những bài vị các vị công thần của các vua nói trên, mười lăm vị thờ ở tả vu và mười lăm vị thờ ở hữu vu. Vua Minh Mạng thích định quy tắc thờ tự một cách tỉ mỉ cũng như mọi điều khác, nên vào năm 1830, ngài cho chạm bài vị Sãi Vương, để đưa vào thờ ở Văn Miếu, một cách thuần túy và đơn giản, ngài đã bỏ những tôn thờ vinh dự dành cho vua Lê Anh Tôn. Vào năm 1835, ngài cho thỉnh bài vị Thái Công Vọng vào thờ ở Võ Miếu.
Với toàn thể các ngôi nhà ấy, ở đàng sau còn có một ngôi nhà để sửa soạn đồ lễ cúng hiến, tất cả được một bức tường không cao lắm bao quanh. Trước mặt tiền chính,  người ta cho xây lên một cổng tam quan có 3 cửa vào miếu mà ngày xưa có trình bày nhiều câu văn khắc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Trên của chính giữa, ở bên trong người ta đọc được câu văn khắc: “Khi nhìn ở phía trước thì quang cảnh này rất tuyệt diệu” và câu văn khắc ở bên ngoài là: “Các vị hoàng đế và các vị quốc chúa kế vị nhau“. Trên hai cửa ở bên trái, hướng Đông, ở bên phải, hướng Tây thì bên phía trong khắc: “Nguyên tắc về lễ mà các đấng tiên vương đã vạch ra, chói lọi trong sử sách thời quá khứ“, và “Ảnh hưởng đáng trọng của chư vị tiên vương đem lại thái bình an lạc cho Nam quốc“; và ở phía ngoài khắc: “Danh thơm về đạo đức của các tiên vương hiện nay vẫn còn phảng phất nơi đây cũng như trong các thế kỷ quá khứ” và “Quy tắc trị nước cũng lan truyền khắp phương Bắc phương Nam“. Những câu chữ khắc này nay không còn nữa.
Năm Thành Thái thứ 14 (1902), đều được trùng tu toàn bộ. Điều này không muốn nói rằng miếu đang ở tình trạng tốt (ĐNNTC, q.1 tờ 16).

*
**

Miếu thờ Lê Thánh Tôn cũng không còn. Miếu đã bị triệt hạ và người ta chuyển hết vật liệu đi nơi khác, để dùng vào các công việc khác. Người ta không còn thấy gì hơn là cái nền miếu, những mảnh vụn của tường thành và phần bên dưới cổng vào mà phần trên của nó đã được xây theo một kiểu thức đặc biệt. Miếu này không quan trọng bằng miếu Lịch Đại, mà chỉ có một mái nhà ở giữa với phần máu nhô ra trước mặt. Miếu này xây về mặt hướng Đông. Vị hoàng đế mà người ta thờ trong đó thì ngày xưa, tại Huế, cũng đã có một miếu thờ riêng, nhưng miếu này đã bị hư hoại từ lâu, khi vua Gia Long cho xây lại miếu này, vào năm 1809, ở phía Đông và có hơi xích xuống phía miếu Lịch Đại…. (Lược đoạn nói về vua Lê Thánh Tôn).

*
**

Nếu từ miếu Lịch Đại, người ta đi theo con đường “song song hướng Tây”, leo qua nhiều ụ đất nhỏ màu hơi đỏ, thì khi đi hết hai hoặc ba trăm mét người ta đến một ngôi miếu được dành để thờ Hỏa Thần, miếu dựng trên địa vực làng Phú Xuân.
Ngôi miếu này vừa được cải dụng; chính quyền đã nhượng lại cho Đệ Cửu, thuộc thành phố Huế (phường Nhà Ga) là đình phường tại đây và thờ các vị thổ thần vùng ngoại ô.
Chính vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), nhà vua đã xuống dụ xây dựng miếu Hỏa Thần, ngài đã phong cho vị Hỏa Thần một đạo sắc phong. Hằng năm, ngày 23 tháng 6 âm lịch, người ta phải dân tế thần một lễ tam sinh: trâu, heo, dê và xôi. Các quan tỉnh Thừa Thiên được ủy nhiệm cúng tế, và 9 người dân làng Phú Xuân được giao cho việc canh gác, giữ gìn ngôi miếu. Vào năm 1825, việc xây miếu hoàn thành, vua Minh Mạng đã ban hành một chỉ dụ cho tổ chức lễ khánh thành vào ngày 15 tháng 6 âm lịch (30 Juillet) để làm lễ “an vị thần vị” của thần. Một đại biểu của Lục bộ đứng làm chánh tế biểu lễ.
Ngày xưa, miếu Hỏa Thần được xây dựng trong kinh thành, ở phía Bắc kinh Ngự Hà, trên địa vực làng Phú Xuân. Tôi không tìm được tư liệu chỉ rõ năm nào thì đền được chuyển về vị trí mà chúng tôi đang nghiên cứu hiện nay.
Vào năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), người ta thiết thêm ở miếu này nhiều thần vị của các Hỏa Bác Thần mà ngôi miếu của Hỏa Bác Thần vừa bị triệt hạ.
Ngôi cổ miếu thờ Hỏa Bác Thần cũng có lịch sử của nó. Chính vào năm 1826, vua Minh Mạng đã cho xây dựng miếu này. Vua đã ban hành một sắc chỉ về vấn đề không kém thú vị để nghiên cứu tín ngưỡng của người nước Nam.
Súng đại bác có một tầm quan trọng cực kỳ trong nghệ thuật chiến tranh; sức mạnh phá địch của súng do một oai linh đáng sợ mà có. Tuy nhiên cho đến bây giờ, người ta chưa hề có một sự thờ cúng thần đại bác. Vậy, Trẫm xuống dụ cho các quan có thẩm quyền chọn một nơi thích đáng và xây lên một ngôi miếu tại đó, và người ta sẽ tôn thờ vị đại bác thần tại miếu này, vài những lúc phải có, thì lễ cúng bái thần được cử hành tại miếu. Ngoài ra, Trẫm sẽ phong cho vị thần này tước hiệu: “Linh Uy viễn Chấn hỏa Bác chi Thần”. Các quan phải tuân theo lời dụ này. Miếu sẽ được xây trên địa vực làng Phú Xuân, hàng năm, vào ngày mùng một tháng 9 âm lịch, các quan phải dâng một lễ tế ở miếu này cũng như ở miếu Hỏa Thần, một quan Quản vệ của súng Đại bác và Hỏa thần sẽ đứng ra chủ tế trong lễ này; 9 người dân làng Phú Xuân được giao nhiệm vụ giữ miếu“.
Vào năm 1836, vua Minh Mạng đã quy định việc thờ cúng tám khẩu đại bác đã được chở vào Sài Gòn vào những năm trước, trong dịp nổi loạn của Lê Văn Khôi, sau đó súng lại được đưa về Huế sau khi khôi phục được thành Gia Định (Sài Gòn) và quân nahf vua chiến thắng. Tám khẩu thần công này đã nhận được sắc phong tước để thờ cúng. Đó là “Thần Vũ Phá địch Thượng tướng quân Bác vị Oai linh chi Thần”. Tước này được khắc trên biển đồng của một khẩu súng, Một ngôi đền được dựng lên để thờ tám khẩu đại bác thần công này; mỗi năm trong đền đó, vị quản vệ Thần công và Đại bác sẽ lo liệu sửa lễ dâng cúng tám vị thần công này. Một chỉ dụ khác đã quy định chỉ rõ việc thờ cúng các khẩu thần công này, trước khi xây dựng ngôi đền, trong chính xưởng để súng; tại đây một ông Quản vệ của Thần công và Đại bác cũng đã phải dâng biện một lễ cúng vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch mỗi năm. Người ta thấy rằng vua Minh Mạng đã nôn nóng để tỏ sự biết ơn của ngài đối với những khẩu đại thần công đã đem lại chiến thắng cho ngài đối với cuộc nổi loạn đáng sợ đã đe dọa ngôi báu của ngài.
Vào năm 1844, vua Thiệu Trị cho đặt vào miếu Hỏa Bác Thần, một số thần vị của vài ba khẩu súng cũng được nâng cao giá trị thiêng liêng của chúng lên. Một chỉ dụ lạ lùng đã dành để nói về việc này: chỉ dụ ấy đã cho chúng ta biết lịch sử của các khẩu súng đó và đồng thời, nó cũng cho chúng ta biết về những tình cảm của nhà vua.
Ngày xưa, người ta rất thánh phục cây cung và những mũi tên. Ngày nay người ta đã sáng chế ra súng thần công, chúng đã bỏ xa sau lưng chúng tất cả những vũ khí về quân sự và chúng nắm hết mọi giá trị về chiến tranh.
Đấng cao hoàng Gia Long của Trẫm, được trời phú cho tất cả mọi phẩm chất, về quân sự cũng như về nhân sự, đã chỉ hay những đạo quân của ngài với sự thành công trọn vẹn và đã bình định được toàn quốc gia. Trong những trận đánh của ngài, ngài đã sử dụng một khẩu súng có giá rất đắt, khẩu súng có tiếng nổ uy nghiêm của sấm sét, và nó làm cho khắp nơi đều run sợ. Nhờ vào thứ vũ khí đó, ngài đã phục hưng được triều Nguyễn và nhất thống toàn quốc dưới vương quyền của ngàu, và nhờ nỗ lực của ngài, ngài đã mở rộng biên cương của quốc gia. Thứ vũ khí này, mạnh hơn tất cả các thứ vũ khí mà người ta đã từng thấy, nó đã vượt qua cả Kiếm Hán và Cung Đường.
Dưới triều Minh Mạng, phụng du nhà vua, khẩu súng này đã nhận tước phong là “Võ Công Lương khí Bửu thương”.
Hoàng đế Minh Mạng, phụ hoàng của Trẫm, mà đức độ của ngài đã thấm nhuần toàn vương quốc và võ công của ngài đã vang dội vượt qua cả biên giới, vào mùa xuân, ngài đã đi săn để giải lao. Vào ngày hôm đó, trong vùng mà người ta đã bao vây, có một con cọp rất lớn, nhảy từ núi ra, bắt người để ăn thịt, mà không có ai dám đuổi nó. Phụ hoàng của Trẫm, đầy dũng khí uy nghi đáng sợ, đã chụp ngay khẩu súng quý mà ngàu thường dùng, kê súng lên vai và bắn chết ngay con cọp hung dữ, và như vậy, ngài đã giải thoát cho những người dân luôn luôn lo sợ quanh vùng. Khẩu súng ấy được phụ hoàng Trẫm ban cho tên là “Sát Hổ thương” (Về khẩu súng này, xin xem bài: Lăng Gia Long (L. Cadière) trong BAVH, 1923). Sau đó, ngài luôn luôn dùng khẩu súng này trong những cuộc săn bắn mà ngài tổ chức để săn các động vật phá hoại mùa màng.
Khi Trẫm còn nhỏ, Trẫm thường theo hầu phụ hoàng; ngài đã dạy cho Trẫm những quy tắc lễ giáo, Trẫm đã luyện tập võ nghệ. Phụ hoàng Trẫm đã ban cho Trẫm khẩu súng quý mà ngài thường sử dụng nó, ngài dạy Trẫm tập bắn cho trúng đích; nhờ hồng ân đấng cao xanh, Trẫm đã ngắm bắn trúng đích, và khẩu súng được phong tên là “Toản Võ thương”.
“Ngày xưa, vào thời nhà Hán, người ta đã xây dựng một ngôi miếu, trong đó thiết lập sự thờ tự cây kiếm; vào thời đại nhà Đường, người ta đặt vào xưởng quân giới một cây cung lớn và một cây tên dài, mà người ta thường tôn thờ cung tên ấy khi có lễ tế Trời, tế Đất; người ta đặt lễ vật trước những vũ khí ấy, để tỏ lòng cầu nguyện mà người ta muốn cầu cho sức mạnh chiến trận của chúng. Hiện nay, người ta dùng súng đại vác và súng thường để đánh quân địch với sức mạnh hơn nhiều, những thứ vũ khí ấy bẩm sinh một sức mạnh siêu nhiên, vậy nên Trẫm hạ chỉ dụ rằng khẩu “Võ Công Lương Khí Bửu Thương”, sẽ được gọi “Thần Võ Phá Địch Đại Tướng Quân Oai Linh chi Thần”. Khẩu súng tay “Sát Hổ thương”, bên cạnh tên gọi cũ, được phong tước “Thần Võ Oai Linh Đại Tướng quân…” Khẩu súng “Toản Võ Thương”, ngoài tên thường gọi, cũng sẽ được gọi “Thần Võ Hộ Quốc Oai Linh, Đại Tướng quân…“.
Các đạo sắc phong được giao cho súng, các bài vị để dành cho súng để thờ trong miếu “Hỏa Bác Thần”, có mục đích nhắc người ta nhớ lại giá trị của các vũ khí bằng cách thờ tự chúng liên tục, và trong các lễ cúng hiến thường kỳ, nhắc người ta nhớ lại các vũ khí đó mà quân nổi loạn bị dẹp tắt và dân được hưởng hòa bình.
Trong các gian ở hai bên miếu thờ, người ta sẽ đặt hai ban thờ thứ cấp, trên bàn thờ bên trái, sẽ thờ vị thần “Võ Công…” và thần súng “Sát Hổ…”; trên bàn thờ bên phải người ta dành để thờ thần súng “Toản Võ Thương”. Ở mỗi bàn thờ, cũng như ở mỗi bàn thờ tại Hỏa Bác thần miếu, mỗi năm, người ta dâng cúng một con heo luộc, một mâm xôi, và ba mâm quả. Vị Quản Vệ Thần Công và Đại Bác sẽ đứng chủ lễ lễ tế này”.
Ngày nay, sau việc cải dụng miếu Hỏa Bác Thần, việc thờ tụng tất cả các vị thần có tiếng nổ như sấm vang và có sức phá hoại, nhưng lại là những vị thần bảo hộ sức mạnh của quốc gia ấy, được đem thờ, theo như người ta nói với tôi, trong miếu Hội Đồng, xây trên địa vực làng Triều Sơn.
Theo tín ngưỡng dân gian An-nam, tất cả mọi vật đem lại sự phụng sự con người đều được xem là có bẩm sinh đức hạnh đặc thù cần phải bồi đắp, bởi vì đức hạnh này có thể hiển lộ ra, khi con người có vận may hạnh phúc; hoặc nó có thể tạo nên sai lầm, và lúc đó chính là sự thiệt hại cho con người. Hơn nữa, những vật này đều được xem như nằm dưới sự che chở của một vị thần, vị thần này sẽ sử dụng chúng theo ý muốn để đem lại phúc hoặc họa cho con người. Cũng chính một số trong các vật này, khi chúng mang tính cách dị thường, hoặc bởi những công việc lặp đi lặp lại mà chúng đã đem đến cho con người, hoặc bởi những tai họa mà chúng gây ra cho con người, thì đều được xem đó là chính những vị thần và phải tôn thờ như vậy. Ở đây không phải là nơi để nói rộng về các lý thuyết này, cũng không phải là nơi để dẫn ra những ví dụ, vì chúng nhiều vô số. Mặt khác dân gian còn tôn thờ nhiều yếu tố, trong số đó thì “Bà Hỏa” giữ một vai trò quan trọng nhất.
Chúng ta thấy rằng sự thờ cúng chính thức của nhà nước thuận theo những tín ngưỡng thờ cúng của dân gian. Thần Súng, mà vua Minh Mạng đã cho dựng miếu thờ, và theo những quy định đã ghi thành văn bản, chính quyền địa phương phải dâng vật cúng nhiều lần trong năm cho thần súng thờ trong miếu đó, đều phù hợp tương ứng với “Bà Hỏa” mà dân gian tôn thờ. Mặt khác, các khẩu đại bác vốn có một hỏa lực mạnh, và chúng đã đảm trách những công việc không gì sánh nổi cho vương quốc: bởi vậy , chúng được đặt dưới sự bảo hộ của một vị thần, vị thần này đã ban cho chúng sức mạnh mà chúng hiện có, và vị thần này đã đặt sức mạnh này vào việc phụng sự Quốc GIa. Vậy phải đền đáp những ân huệ của vị thần này bằng sự thờ phụng chính thức. Cũng vì vậy mà một vị quan có phẩm trật cao coi về Thần Công và Đại Bác tức là quan Quản Vệ, được giao trách nhiệm lo biện lễ thờ cúng vị thần ấy.
Ngoài những khẩu đại bác và những súng cầm tay được thần hóa mà chúng ta vừa nói đến, thì một số khác cũng đã nhận được những vinh dự như vậy. Mọi người đều biết những khẩu Đại Thần Công, có 9 khẩu tất cả, được đặt trước cửa Ngọ Môn. Đó là những “Vị chỉ huy tối cao của quân đội hay là những vị Đại Tướng Quân, mà tính cách Uy Nghi của các vị Đại Tướng Quân ấy cũng ngang với với vẻ Uy Nghi của các vị Thần, không có gì sánh nổi” (BAVH 1914). Linh mục Kofffler vào năm 1750, cũng đã thấy được những khẩu thần công tương tự đặt ở cổng vào chính dinh của Võ Vương, một vị chúa Nguyễn ở Huế; và ông Dampier, một khách du lịch người Anh đã sống ở Thăng Long (Hà Nội) vào cuối thế kỷ thứ XVII, cũng đã thấy được một khẩu đại thần công như thế và cũng giữ nhiệm vụ của vị thần siêu phàm bảo hộ cho vương quốc, đặt trước cung ohur Trịnh Căn (BAVH, 1915). Những khẩu đại thần công hiện nay ở Hoàng Cung, cũng như những khẩu đại thần công ngày xưa, hẳn đã mang tính cách tôn giáo. Chúng đã mang tính chất này ở nơi chiều kích của chúng, tính chất này tưởng chừng là có một sức mạnh rất lớn. Nhưng, những súng cầm tay đơn giản cũng đã có sức mạnh của một vật siêu phàm, như vua Thiệu Trị đã nói về điều này trong chỉ dụ của ngài. Bởi vậy, người ta phải thờ tự tôn sùng các vị thần công ấy, hay đúng hơn là vị thần đã trao cho chúng sức mạnh của chúng. Tôi nói cái gì nhỉ? Những ống đồng tầm thường mà buổi chiều, khi đêm xuống, buổi sáng, vào lúc bình minh, người ta cho nổ lệnh đóng mở các cửa Kinh Thành; và, vào buổi trưa, cho nổ để chỉ nửa ngày thì đều được những người lính có phận sự giữ để cho nổ lệnh ấy gọi là “Ông Linh”, và họ cũng tổ chức việc cúng bái thờ phụng chúng, thật là thô lỗ và ấu trĩ, hay là cúng bái ông thần đã cho chúng tính năng hiệu lực đó (**).

*
**

Không phải là không có ý định mà người ta đã đặt ở vùng này những ngôi miếu thờ Hỏa Thần và thờ Hỏa Bác thần. Cẩ hai ngôi miếu ấy có quan hệ chặt chẽ với nhau với một toàn bộ những kỷ niệm có liên quan đến pháo binh.
Chúng ta thấy ngay rằng, những xưởng đúc súng đại bác đều đặt ở một hoặc hai cây số trên đỉnh đồi vùng chúng ta đang đứng; và, không xa các xưởng đúc đại bác là các kho thuốc súng. Chúng taooi đã nói đến chuyến đò ngang, gần nhà Ga, làm phương tiện nối vờ phải của con sông với bờ bên trái, có tên là đò Trường Súng, có nghĩa là “trường bắn súng đại bác”. Chính là chuyến đò ngang này đã đưa những toán lính ở Vệ Hỏa Pháo sang sông để đi lên trường bắn. Chính Trường Súng lại nằm cạnh miều Hỏa Bác Thần, ngày nay trở thành đình chung của phường Đệ Cửu. Thực vậy, trước đền này, trên bờ những đám ruộng như tấm thảm xanh của vùng thung lũng nhỏ, có một cái giếng cổ, tất cả dân làng lân cận đều ăn uống nhờ nước giếng này; bởi vậy, giếng phải có từ thời rất xa xưa. Giếng có cái tên gọi là giếng Trường Bia. Giếng này nằm ở cực hạ của miitj miều trũng nhỏ, vùng trũng này dài khoảng một trăm mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét, trũng này tách ngọn đồi nhỏ trên đó người ta xây miếu Hỏa Bác Thần với một mô đất khác trên đó, chính giữa các vườn tộng, người ta xây lên ngôi chùa Huệ Lâm thuộc Phật giáo theo lời những người dân ở vùng đó thì chính trong vùng trũng này người ta đã thực hiện những lần tập bắn. Hẳn đây là sân tập bắn súng cầm tay, vì, đối với việc tập bắn đại bác, thì phải tập ở một nơi khác như chúng ta sẽ đến xem sân bắn đó, ở phía Tây miếu thờ Đại Bác thần. Thật là thú vị khi đến viếng chùa Huệ Lâm. Sát bên chùa , có một cái giếng cổ, hiện nay đã cạn, với hang cột bằng nề đỡ cái tời (treuil) gang ngang, ngày xưa dùng kéo gàu múc nước. Hơi xa một ít, người ta cũng thấy một cái mộ nhỉ, được trang trí một mô típ mỹ miều của ngành điêu khắc, tháp mộ nhỏ này trà táng xương cốt của nhà sư gọi là “Thiền sư, Hòa thượng Tịnh Công, được vua ân ban thụy hiệu này“.

*
**

Về phía Tây của ngôi miếu Bác Hỏa Thần, những ngọn đồi nhỏ tiếp nhau hạ thấp dần sườn đồi xuống một cách nhẹ nhàng và chìm sơn mạch xuống cánh đồng bằng toàn ruộng. Tại cánh đồng đó có hai mô đất lớn, gọi theo tiếng nước Nam là “Hòn Mô” tức là “những mô đất để làm bia bắn”, nhắc lại dấu tích trường tập bắn súng của Pháo binh. Cả hai mô đất trường bắn đều nằm trên địa vực làng DươnG Xuân Hạ. Mô thứ nhất nằm gần thôn Xuân Giang, mà chúng ta sẽ đến xem tức khắc, vì vấn đề là cung vui chơi của Võ Vương gần đấy; mô này đo được 32 bộ chiều dài, 20 bộ chiều rộng và gần 2m chiều cao. Mô thứ hai, không xa miếu Thành Hoàng, có chiều kích gần bằng mô trên, nhưng nó lại cao hơn nhiều: dài 35 nộ, rộng 15 bộ và cao gần đến 5. Cả hai gò đất ấy, ngày nay đều giảm thấp xuống và đã bị cây cỏ hoang dại xâ, chiếm; nhưng những chiều kích của chúng còn lưu dấu có thể cho ta đoán được tầm quan trọng ngày xưa và công dụng của chúng vậy.
Người ta nói đến việc xây dựng “Một sân bắn cho súng đại bác” vào năm 1747, trong tháng 9 âm lịch, kéo dài từ mồng 4 tháng October đến mồng 3 Nomvembre. Chính dưới triều Võ Vương, vị chúa đã tổ điểm nhiều cho Huế, và chúng ta sẽ gặp tức khắc một kỷ niệm mới. Người ta không nói rõ nơi mà trường bắn này đã được lập, nhưng một cách chắc chắn là nơi mà chúng tôi hiện đứng đây.
Thực vậy, tôi không biết chỗ nào khác, trong các vùng quanh Huế, có mang cái tên Trường Súng này. Người ta đã tập bắn súng đại bác ở Thanh Phước, những bục bắn ở đây được dành cho các khẩu súng của Thủy quân; bục bắn này được sử dụng vào đầu thế kỷ thứ XIX, nhưng Biên niên triều Nguyễn lại nói rõ là việc xây dựng từ 1642. Cũng vậy, bục bắn mà Dutreuil de Rhins đã thấy ở Thuận An, vào năm 1876, dùng để tập bắn súng tay. Hơn nữa, thật là bình thường khi cho rằng Trường Súng nằm cạnh vùng mà tại đó người ta đúc hỏa pháo; thế mà, người ta đã biết điều này, từ hơn một thế kỷ, xưởng đúc đại bác lại nằm khoảng chưa đầy một cây số phía bên trên vùng mà chúng tôi đang đứng. Một lý luận mới lại xuất hiện từ sự hiện hữu cung điện mùa hạ của Vĩ Vương, ở cách trường bắn vài trăm mét về bên trên. Chúng ta đang ở vào năm 1747. Thế mà, từ khi lên ngôi chúa từ năm 1738, Võ Vương đã không ngừng xây dựng cung điện; vào năm 1744, tất cả đều hoàn thành; nói một cách đúng đắn, thì cách một khoảng ngắn nằm phía trên sân bắn, đã có cung Trường Lạc dùng làm nơi nghỉ mát cho Võ Vương. Vị chúa này đã thường tổ chức những cuộc nghỉ ngơi tại đây. Hiển nhiên là Võ Vương đã xây dựng trường bắn đại bác không xa cung điện của ngài, để kiểm soát những bài tập luyện đội quân hỏa pháo của ngài. Vậy, một cách chắc chắn là trường bắn mà chúng tôi đang nói đây thì sự thiết lập nên nó đã được nói đến trong các tập Biên Niên Sử năm 1747.
Trường bắn này không phải là vô dụng. Pierre Poive, thương gia người Pháp đã đến Huế vào thời này, đã cung cấp cho chúng ta chứng cứ. “Ngày 10 [Novembre 1749]. Tôi đã đến viếng một ông quan lớn hay còn gọi là quan Hieou tlaon(***). Ông quan này có nhiệm vụ tập luyện bắn súng đại bác, ông đã gởi cho tôi biết những lời biện giải của ông mà ông không có khả năng nhận cho tôi, và ông đã cầu xin tôi hãy lui tới nhà ông ba hoặc bốn lần trong tháng này [12 hoặc 13 Nomvembre]”.
Tôi tin rằng những bục bắn này cũng đã được dùng để làm bãi tập cho những Vệ Hỏa Pháp và vệ lính bộ, trong tiến trình của thế kỷ thứ XX. Nhưng tôi không thể dựa ý trên một tư liệu nào cả….
(Lược bỏ đoạn cuối).

* Lịch Đại Đế Vương Miếu – Con đường đi đến miếu này khá khó tìm. Người ta đi theo con đường lớn Nam Giao, và ngay sau khi đi ngang qua đường sắt ngã vào Đà Nẵng, thì quay về phía phải, đi dọc theo cổng chắn của nhà ga, và leo lên cái dốc dẫn đến cách núi đá thẳng đứng thống ngự cả vùng nhà ga; một con đường đất nhỉ, đi khá khó khăn, dẫn đến miếu Lê Thánh Tôn và đến miếu Lịch Đại Đế Vương – hoặc là, sau khi đi qua kênh Phủ Cam ở cầu Ga, đi theo đường Trường Súng, vượt qua con đường ga ngập nước, và sau độ một trăm mét đi theo con đường chạy về phía trái, xuyên qua đường đi Quảng Trị, và các lối của xưởng sửa chữa, leo lên cái dốc dần đến đỉnh vách núi đá thẳng đứng thống ngự vùng nhà Ga, và tiếp tục đi đến miếu Lịch Đại. – Người nước Nam thường đọc thành Lịch Đợi hay Lịch Đại.
** Cũng là một điều thú vị để nói rằng, hoặc theo quan điểm lịch sử, hoặc theo quan điểm niềm tin của An-nam, về miếu thờ thần Mưa được xây dựng gần đền thờ Thần Súng. Hai miếu thờ này đã dự phần vào cùng một vòng thờ phụng, cũng như sự thờ phụng các vị Thần khác nhau: thần nước, thần bốn mùa, thần gió; các miếu thờ các vị thần này đều được xây dựng trong vùng Thuận An, ở cửa con sông Hương, và sự thờ phụng các vị thần núi.
*** Ông Hữu Trọng, danh hiệu thường để gọi một trong bốn vị quan lớn của vương quốc, mà danh hiệu hành chánh của ông là “Nội Hữu”.

Đất Thái Bình đã có lịch sử 3000 – 2000 năm

Bài viết trích trong sách Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân của hai tác giả Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan (2008).
Năm 1990 – 1991 trong lúc một số tác giả viết bài cho rằng thế kỷ thứ VI chưa có Thái Bình vì vậy Thái Bình không thể là quê hương, là đất dấy nghĩa của Lý Bí… thì giáo sư Vũ Tự Lập và những cộng sự của ông đã đi điền dã khắp vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt là Thái Bình. Sau những chuyến đi thực tế một hội thảo khoa học đã được tổ chức và cuối cùng Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ra mắt bạn đọc sách “Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Hồng“. Sách đưa ra bản đồ lịch sử phát triển châu thổ sông Hồng, theo đó thì “Đất đai thuộc huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ và phầ lớn đất đai thộc huyện Tiên Hưng, Thư Trì, Thụy Anh có lịch sử từ 3000 – 2000 năm. Hầu hết phần đất các huyện Vũ Tiên, Đông Quan, Thụy Anh có lịch sử 2000 -1000 năm. Vùng Nam Kiến Xương, Tiền hải và một phần Thái Ninh cũ có lịch sử từ 1000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần.
Không chỉ ngày nay các nhà nghiên cứu mới đưa ra tuổi của đất Thái Bình – Long Hưng mà từ xa xưa một số sách của người Hán cũng đã viết về vùng đất này…
(Lược bỏ một đoạn dẫn các thư tịch về đất Thái Bình từ xưa)
Ngoài nguồn tư liệu thư tịch đã nêu Thái Bình còn lưu nhiều truyền thuyết về thời Hùng Vương, thời An Dương Vương. Đặc biệt có truyền thuyết về Triệu Đà, về Đường Thâm (nay là Đồng Sâm) lấy vợ, đền Đồng Sâm và nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ Triệu Đà và Trình Hoàng hậu.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chương (Cục Bảo tồn bảo tàng, nay là Cục Di sản văn hóa) trong bài “Về tình hình phân bổ các di tích lịch sử thời các vua Hùng” Thái Bình có 244 di tích thờ các vị thần thời Hùng Vương đến thời Triệu Đà. Trong khi đó ở hai tỉnh Vĩnh Phúc , Phú Thọ (nội Văn Lang) chỉ còn được 432 di tích. Cả tỉnh Hà Tây chỉ có 164 di tích. Thái Bình là tỉnh có mật độ thờ các công thần thời Hùng Vương cao nhất cả nước”.
Việc thờ các thần thời Hùng Vương, có người cho rằng dân từ các miền đất nước đến Thái Bình hội cư đã đem theo cả các vị thần từ quê gốc về Thái Bình? Qua dẫn chứng đã nêu và qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy những nơi thờ các công thần thời Hùng đều là những miền đất cổ của Thái Bình, những làng có tên Nôm và hầu hết ở các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương. Một phần đất Kiến Xương cắt về Tiền Hải, một phần đất của Đông Quan xưa cắt về Thái Thụy. Ở những vùng dân cư khai phá thời Trần, Lê không có các công thần thời Hùng vương. Thời Hùng Vương nước ta có 15 bộ, đất Thái Bình thời ấy thuộc bộ Lục Hải.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào các năm 40-43 diễn ra ở Thái Bình rất sôi động. Nhân dân Thái Bình đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
Câu nói bất tử của nữ tướng Cẩm Hoa ở làng Lộ Xá (nay là thôn An Liêm xã Thăng Long huyện Đông Hưng) còn vang vọng đến ngày nay: “Ta sinh ra vì việc nước, chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy” với ý chí ấy nhân dân vùng Hương Đường – Vũ Thư đã “đốt tre tươi mài thành mũi giáo, đập mảnh vại làm gươm” để giết giặc. Cả nhà họ Triệu đã hy sinh vì nước. Tấm gương trung liệt ấy đến kẻ thù phải thán phục. Hơn một trăm năm sau Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu đến thăm đền phải ghi tặng “Nhất gia trung liệt hiển Giao Châu” (Một nhà hy sinh oanh liệt nổi tiếng ở Giao Châu). Nhân dân vùng sông nước ven sông cũng vót cọc làm giáo, vác bê chèo làm gươm để đánh giặc. Các tướng súy đã đánh giặc là phải thắng, không thắng giặc thì cùng chết với giặc. Bà Lê Thị Cố ở làng Hoàng Quan, Rồi Công (xã Đông Phương, An Tràng) nói: “Bất Cam sinh mệnh tướng quần đầu” và đánh giặc đến lúc trên người không còn mảnh vải che thân (vì vậy tục lệ của làng là không rước thánh ra khỏi đền thờ trong ngày hội).
Tổng kết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Thái Bình ngày nay có gần 30 tướng súy tham gia. Trong đó nhiều người đã đưa nghĩa sĩ về Phong Châu cùng Bà Trưng tiến về giải phóng Luy Lâu. Mã Viện trở lại xâm lược, họ lại sát cánh cùng Bà Trưng chống giặc. Bà Trưng hy sinh, nhiều người trở lại quê hương, lấy sông nước để thủ hiểm, tiếp tục chống giặc. Những nơi thờ tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày nay phần lớn ở bên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, ven các sông nội đồng. Không có dân cư từ thời Hùng Vương, không được sống trên mảnh đất đầy sóng gió này làm sao tôi luyện được ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm như vậy? Đất đai Thái Bình và truyền thống của người Thái Bình được tôi luyện trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm từ thời Hùng Vương là những yếu tố thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa của Lý Bí trên đất Thái Bình ở thế kỷ thứ VI. IMG_6632 (2)

Nếu còn hồ nghi, trăn trở với sử liệu thần phả, ta có thể theo dấu vết di tích khảo cổ để giám định niên đại tuổi của đất. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở thôn Ô Cách, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ đã sưu tầm được gần 100 mũi tên đồng, lục lạc, giáo đồng. Tháng 5 năm 2000 tại làng Công xã Minh Tân nhân dân đã tìm thấy 2 trống đồng đều có cùng niên đại với trống đồng Đông Sơn, cách ngày nay 2500 năm. Hiện vật đồng Đông Sơn còn tìm thấy ở làng Mẽ, làng Buộm thị trấn Hưng Nhân (Hưng Hà), cửa sông Diêm Hộ (Thái Thụy).
Ngoài các hiện vật đồng, những ngôi mộ cổ đầu Công nguyên cũng là chứng tích lịch sử. Ngay tại làng lưu Đồn xã Thụy Hồng huyện Thái Thụy, một xã vùng ven biển, năm 1974 trong khi đào mưng máng nhân dân đã tình cờ đào được một số ngôi mộ cổ hình thuyền độc mộc có kích thước 2,2×1,4×0,4m. Những ngôi mộ cổ này có cùng niên đại với mộ cổ Thủy Nguyên cách ngày nay ngót 2000 năm.
Ngoài các ngôi mộ cổ của người Việt, dấu vết quý tộc Hán từ trước thềm Công nguyên còn thấy ở vùng Hưng Hà, Quỳnh Phụ, bắc Vũ Thư… Tại các vùng đất trên đã phát hiện gần 100 khu địa táng, xây cuốn vòm, mộ cao tới 3-4 mét. Vùng hạ lưu, ít nhất đã tìm thấy được khu mộ Hán trước thế kỷ III tại Phú Xuân (thành phố Thái Bình), Vân Động (xã Vũ Lạc huyện Kiến Xương). Lui xuống là Động Trung, trong khi làm đất ngoài đồng, nhân dân đã đào được tiểu đồng có đề chữ “Mã Viện chi thiếp” (vợ bé của Mã Viện). Con cháu họ Mã (gia đình Mã Soang) nhận là họ nhà mình xin được trông nom. Ngôi mộ ấy còn mãi đến năm hợp tác xã san ghềnh lấp trũng mới bị mất (1960).
– Mộ cổ ở làng Mẽ (Mỹ Xá) thị trấn Hưng Nhân huyện Hưng Hà: cửa mộ dày 40cm rộng 3m, cao 1,65m. Phần chính của mộ dài 4m, rộng 3m, cao 1m65m kích thước (40x20x5cm) (theo cụ Nguyễn Văn bàn năm nay đã 90 tuổi (2007) thì sau ngày Cách mạng tháng 8-1945 khi ấy cụ làm cán bộ thông tin ở xã đã từng đi xuống hầm mộ), tại đây người ta đã tìm thấy môt con rồng bằng đất nung, được chắp nối từng khúc dài 1,2m, có hai con thú bằng kim loại, có cán gươm tượng người bằng đồng.
– Mộ cổ ở làng Phú Lạc xã Phú Xuân (cách thành phố Thái Bình 2km) dân gian thường gọi là mả Ngô. Mộ đã bị đào bới từ lâu, hiện vật còn thu được 5 bình gốm các loại, 1 bát gốm, 1 dao găm đồng… Những hiện vật cổ ở đây cho phép các nhà khảo cổ kết luận: mộ cổ Phú Xuân có niên đại vào thế kỷ III sau Công nguyên.
Từ những phát hiện trên, năm 1999 Bảo tàng Thái Bình đã xuất bản sách “Di tích khảo cổ học ở Thái Bình“. Tác giả Nguyễn Ngọc Phát và Vũ Đức Thơm viết: “Loại mộ này thường là các gò đống lớn, khối lượng ấp trúc lên tới hàng ngàn m3. Hầu hết các mộ này có kết cấu song táng hoặc đơn táng. Huyệt mộ dài 5-6m, rộng từ 1,5-3m. Móng thân vòm mộ được sử dụng loại gạch lưỡi búa, còn gọi là gạch múi bưởi, dài 40cm, rộng 20-25cm… Gạch lát mộ có loại nặng 70kg, có kích thước 53x53x10cm. Toàn bộ gạch được ấp trúc bằng đất sét hoặc đất thịt pha sét. Trên mộ người sau thường dựng miếu, trồng cây đa, cây si… Những ngôi miếu, những cây đa, cây si này có vài trăm năm tuổi”…

Mối quan hệ giữa văn hóa xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc với văn hóa tiền sử Bắc Việt Nam

Bài của PGS. TS. Trình Năng Chung, Viện Khảo cổ học. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 2 (81) -2008

Đã từ lâu, dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các nhà khoa học nhân văn coi khu vực Nam Trung Quốc (Hoa Nam) là một bộ phận khăng khít của Đông Nam Á thời tiền sử. Dưới góc độ cảnh quan tự nhiên, vùng Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc cùng chung một hệ thống sinh thái. Đặc điểm này góp phần không nhỏ tạo nên những đặc trưng văn hoá gần gũi giữa hai vùng trong suốt thời tiền sử và sơ sử.
Bài viết này đề cập đến những chiếc xẻng đá lớn – một loại hình di vật văn hoá khảo cổ mà sự hiện diện của chúng là nguồn tư liệu quý giúp ta hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa chủ nhân văn hoá xẻng đá lớn Quảng Tây, Trung Quốc và cư dân văn hoá tiền sử Bắc Việt Nam.

1. Vào giai đoạn hậu kỳ đá mới, ở vùng phía nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hình thành một khu vực phân bố hàng loạt di tích khảo cổ mà đặc trưng văn hoá nổi bật là những chiếc xẻng đá lớn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc định danh cho chúng là những di chỉ xẻng đá lớn hoặc “văn hoá xẻng đá lớn”(1).
Đến nay, đã có hơn một trăm di tích tìm thấy xẻng đá lớn ở Quảng Tây. Ngoài Quảng Tây, giới khảo cổ học Trung Quốc mới chỉ tìm thấy loại di vật ở một số địa điểm thuộc tỉnh Quảng Đông và tỉnh đảo Hải Nam(2). Căn cứ vào mật độ phân bố của di tích cũng như di vật, người ta coi vùng Quế Nam (gần biên giới Việt –Trung) là nơi phát sinh, là địa bàn gốc của nền văn hoá xẻng đá này. Từ đây loại công cụ đặc trưng này được phát tán đi các nơi. Càng xa trung tâm, số lượng xẻng đá phát hiện càng ít.
Hầu hết các di chỉ xẻng đá lớn có đặc điểm phân bố trên sườn đồi gò thấp gần sông, ao hồ. Tầng văn hoá của các di chỉ này khá thuần nhất, dày từ 30cm – 60 cm. Di vật hầu hết là đồ đá. Ngoài loại xẻng đá chiếm tỷ lệ lớn, người ta còn phát hiện một ít công cụ như: rìu, bôn, cuốc, đá xuyên lỗ, bàn mài, v.v… Đồ gốm rất hiếm. Loại xẻng đá chủ yếu được chế tác từ loại đá có kết cấu hạt mịn, độ cứng thấp. Di vật thường có kích thước lớn với chiều dài trung bình từ 20cm – 30 cm, rộng từ 10cm – 20 cm, thân mỏng từ 1 cm – 3cm. Đây là những chế phẩm của cư dân có trình độ gia công chế tác đá cao.
Hiện nay, giữa các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những ý kiến khác nhau trong việc phân chia loại hình công cụ xẻng. Có người chia làm 2 loại lớn, có người chia làm 3 loại lớn, có người chia làm 4 loại với nhiều tiểu loại hình khác nhau. Trong bài nghiên cứu về văn hoá xẻng đá lớn ở Quảng Tây trước đây, chúng tôi nhận thấy xu hướng hiện nay phần lớn các học giả tán đồng với ý kiến chia làm 3 loại lớn như sau(3):
– Loại I: Hai vai vuông góc hoặc hơi cong xuôi so với chuôi công cụ. Ở 2 cạnh bên là đường thẳng song song hoặc không song song thu nhỏ dần đến đầu lưỡi, lưỡi cong nhẹ, cân xứng (hình vẽ 1).
– Loại II: Hai vai vuông góc hoặc hơi cong xuôi so với chuôi công cụ. Phần vai chưa có mấu và khấc. Phần dưới vai dần dần cong lõm vào khiến cho góc vai thành một góc nhọn, đến giữa thì dần dần mở rộng ra, rồi thu vào thành rìa lưỡi cong (hình vẽ 2).
– Loại III: Hai vai cong xuôi, hoặc cong lõm. Phần đầu vai có mấu và khấc. Thân thắt eo và nở ra ở phần lưỡi giống như loại II (hình vẽ 3).
Đối với công dụng của loại di vật này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có tác giả cho rằng hầu hết xẻng đá là công cụ đích thực dùng để canh tác nông nghiệp. Có ý kiến cho rằng đại đa số xẻng đá không phải là công cụ thực dụng mà chỉ là khí vật liên quan đến lễ nghi nông nghiệp. Xẻng đá có kích thước càng lớn là tượng trưng cho vụ mùa bội thu(4). Có tác giả căn cứ vào hiện trạng các di vật xẻng được chôn dưới đất theo hình gần tròn để cho rằng xẻng đá là khí vật dùng trong nghi lễ tế Thần Trời và Thần Đất(5). Gần đây có tác giả cho rằng xẻng đá là vật tổ – biểu tượng sinh thực khí của đàn ông(6).
Ở địa điểm Đại Long Đàm huyện Long An, hoặc Trung Đông huyện Phù Tuy, các nhà khảo cổ Quảng Tây thu được những bằng chứng chắc chắn là những công xưởng chế tác xẻng đá. Điều này chứng tỏ đương thời đã có sự phân công lao động xã hội và những chiếc xẻng đá được dùng làm hàng hoá để trao đổi. Khi bàn về vấn đề tộc thuộc của chủ nhân văn hoá xẻng đá lớn, có tác giả cho rằng người Lạc Việt, mà hậu duệ trực tiếp là người Choang cổ Quảng Tây là chủ nhân sáng tạo ra nền văn hoá này(7).
Về niên đại, căn cứ vào một số niên đại C14 và các tài liệu liên quan, các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng những di chỉ xẻng đá khu vực nam Trung Quốc chủ yếu thuộc di tồn văn hoá hậu kỳ đá mới có niên đại khoảng 5.000 năm cách nay và tồn tại dai dẳng đến giai đoạn Tây Hán (thế kỷ II sau CN ).

2. Cho đến nay, tài liệu khảo cổ học Việt Nam đã ghi nhận được 37 trường hợp tìm thấy loại di vật xẻng đá tìm thấy ở 7 tỉnh vùng núi phía Bắc và khu vực duyên hải đông bắc Việt Nam:
– Quảng Ninh (huyện Cẩm Phả, huyện Vân Đồn, huyện Đông Triều, thị xã Hòn Gai): 11 chiếc (ảnh 1, 4)
– Lạng Sơn (huyện Lộc Bình): 5 chiếc
– Tuyên Quang (huyện Nà Hang): 5 chiếc (ảnh 5)
– Cao Bằng (huyện Trà Lình, huyện Hoà An) : 6 chiếc (ảnh 6)
– Bắc Kạn (thị xã Bắc Kạn): 2 chiếc
– Bắc Giang (huyện Yên Thế, huyện Lạng Giang): 7 chiếc (ảnh 7, 8)
– Hải Phòng (đảo Cát Bà): 1 chiếc.
Điều đáng chú ý là địa bàn phát hiện những chiếc xẻng đá này nằm trong khu vực phân bố của văn hoá Hạ Long, văn hoá Mai Pha, văn hoá Hà Giang và cũng là địa bàn sinh tồn chủ yếu của các nhóm cư dân Tày – Nùng cổ. Tại khu vực duyên hải đông bắc hầu hết các địa điểm phát hiện xẻng đá đều gần đường bờ biển. Đây là một đặc điểm phân bố cần ghi nhận.
Không có xẻng đá nào được tìm thấy trong quá trình khảo sát hay khai quật khảo cổ học do các nhà chuyên môn tiến hành. Thường thì chúng được phát hiện ở độ sâu trên dưới 1m và không có các di vật khác kèm theo. Trường hợp chiếc xẻng đá ở hang Eo Bùa do những công nhân phát hiện được khi đào phân dơi trong hang cùng với những công cụ ghè đẽo, mài lưỡi kiểu Bắc Sơn muộn. Hầu hết các xẻng đá được tìm thấy trong tình trạng tầng vị không rõ ràng. Đáng chú ý là những chiếc xẻng ở Lộc Bình, Lạng Sơn được phát hiện cùng với một số tiền đồng (chưa rõ niên đại), 5 chiếc xẻng đá ở Nà Hang, Tuyên Quang tìm được trong tình trạng xếp cụm lại dưới độ sâu 60 cm, không có di vật khác kèm theo. Hiện tượng này cũng giống ở địa điểm Đại Long Đàm, Quảng Tây.
Những chiếc xẻng đá lớn ở Việt Nam về kiểu dáng, chất liệu đá, kích thước và kỹ thuật chế tác hoàn toàn giống với những xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc.
Đối chiếu 37 chiếc xẻng tìm thấy ở các địa phương nói trên với bảng phân loại xẻng đá vùng Quế Nam cho thấy chúng tương ứng với loại hình II và loại III. Có một số chiếc do gãy ở phần thân cho nên có thể xếp vào loại II hay III. Hiện chưa tìm thấy xẻng loại I.
Một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu là nguồn gốc, xuất xứ của những chiếc xẻng đá này.
Cho đến nay, tại vùng ven biển Đông Bắc đã có gần 20 di tích tiền sử thuộc văn hoá Hạ Long và hoặc tiền Đông Sơn đã được khai quật hoặc đào thám sát, nhưng cũng không tìm thấy di vật xẻng đá nào, dù chỉ là mảnh vỡ. Trong thời gian gần đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật 2 di chỉ xưởng thuộc văn hoá Hạ Long tại vùng này. Đó là di tích Bãi Bến ở đảo Cát Bà và di tích Ba Vũng ở đảo Cái Bàu. Ngoài số lượng vô cùng phong phú những mũi khoan và mũi nhọn có kích cỡ nhỏ ra, chúng ta cũng chưa được rõ sản phẩm chủ yếu của những di chỉ xưởng này là gì. Nhưng có một điều chắc chắn là chúng không liên quan gì đến những chiếc xẻng đá mà ta đang đề cập đến.
Tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tình hình cũng tương tự như vùng ven biển Đông Bắc.
Theo các công trình nghiên cứu cho biết đến nay, trong các công xưởng chế tác đá hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí ở Việt Nam chưa tìm thấy những phác vật hoặc chế phẩm có kiểu dáng như vậy. Do vậy các nhà khảo cổ học Việt Nam đều thống nhất ý kiến khi cho rằng, những chiếc xẻng đá tìm thấy ở vùng núi và ven biển phía Bắc Việt Nam là sản phẩm của sự giao lưu trao đổi giữa các nhóm cư dân hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí Bắc Việt Nam với cư dân đương thời ở Quảng Tây. Văn hoá xẻng đá lớn Quảng Tây có ảnh hưởng nhất định đến các cư dân cổ vùng lân cận, trong đó có Bắc Việt Nam.
Do vị trí địa lý tự nhiên, có thể có nhiều đợt tiếp xúc nhiều chiều giữa chủ nhân văn hoá xẻng đá Quế Nam với cư dân văn hoá Hạ Long chủ yếu thông qua đường biển, với cư dân văn hoá Mai Pha (Lạng Sơn) qua đường sông Kỳ Cùng, với cư dân văn hoá Hà Giang qua đường sông Bằng, sông Gâm.
Xuất phát từ cách nhìn nhận khu vực Nam Trung Quốc và vùng phía Bắc Việt Nam là một khu vực lịch sử văn hoá có nhiều quan hệ tương đồng, rõ ràng mối quan hệ văn hoá giữa cư dân tiền sử Bắc Việt Nam và các cư dân khác ở vùng Nam Trung Quốc là không thể phủ nhận được. Bên cạnh những yếu tố văn hoá như các loại rìu bôn có vai có nấc, rìu một vai, thì với sự hiện diện của những chiếc xẻng đá ở đây càng khẳng định trong thời tiền sử, có sự giao lưu trao đổi trong nội bộ giữa các nhóm cư dân Lạc Việt Bắc Việt Nam với cư dân Lạc Việt cổ vùng Nam Quảng Tây.

Chú thích

  1. Ban huấn luyện văn vật tỉnh Quảng Tây (1978), Những di tồn văn hoá hậu kỳ đá mới ở vùng phía nam Quảng Tây, Văn vật số 9 (Tiếng Trung).
    Đồng Trụ Thần (1989), Khảo sát xẻng đá lớn Quảng Tây, Tạp san Bảo tàng lịch sử Trung Quốc, số 13-14 (Tiếng Trung).
  1. Khâu Lập Thành, Trịnh Tăng Khôi (1983), Những xẻng đá lớn phát hiện ở Áo Tây, Khảo cổ, số 9.
    Dương Thức Đĩnh (1986), Sơ bộ bàn về văn hoá thời đại đá mới Quảng Đông và những vấn đề liên quan, Nghiên cứu tiền sử, số 1-2, tr. 63-82 (Tiếng Trung).
    Tưởng Đình Du, Bành Thư Lâm (1992), Nghiên cứu xẻng đá lớn Quế Nam, Văn vật Phương Nam, số 1, tr.19-24 (Tiếng Trung).
  1. Trình Năng Chung (1997), Văn hoá xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc và mối quan hệ với Bắc Việt Nam, Khảo cổ học, số 2, tr. 85-92.
    Trình Năng Chung (2005), Những xẻng đá lớn miền ven biển Đông Bắc Việt Nam: Tư liệu và nhận thức. Khảo cổ học, số 3 (2005), tr. 66-73.
  1. Triệu Thiện Đức (1991), Phân tích di tồn văn hoá đá mới lưu vực sông Tây Giang, Tập luận văn kỷ niệm 30 năm phát hiện di chỉ Hoàng Nham Động, tr. 160-171 (Tiếng Trung).
    Tưởng Đình Du, Bành Thư Lâm (1992), Nghiên cứu xẻng đá lớn Quế Nam, Văn vật Phương Nam, số 1, tr. 19-24 (Tiếng Trung).
  1. Trịnh Triệu Hùng, Lý Quang Quân 1991, Thử bàn về di chỉ xẻng đá ở Quế Nam, Quảng Tây, Khảo cổ và văn vật, số 3 (Tiếng Trung).
  2. Dung Đạt Hiền (2003), Tìm tòi mới về xẻng đá lớn khu vực Quế Nam, Văn Vật, số 2 (2003), tr. 66-68 (Tiếng Trung).
  3. Trịnh Triệu Hùng, Lý Quang Quân 1991, Thử bàn về di chỉ xẻng đá ở Quế Nam, Quảng Tây, Khảo cổ và văn vật, số 3 (Tiếng Trung).

Xeng da lon

 

Tư liệu khảo cổ Nam Việt

Tư liệu trích từ bài báo Quá trình hình thành và sụp đổ của nước Nam Việt trước sự thôn tính của nhà Hán qua tư liệu khảo cổ và lịch sử của PGS. TS. Hoàng Xuân Chinh trong Tạp chí Khảo cổ học số 6-2017.
… (lược bỏ phần mở đầu)
Tộc Nam Việt, nhà nước sơ khai Nam Việt
Nam Việt vừa là tộc danh tộc Nam Việt vừa là tên nước – nước Nam Việt. Nước Nam Việt do Triệu Đà lập nên vào thời Hán, còn tộc Nam Việt xuất hiện sớm hơn nhiều. Qua tư liệu khảo cổ phát hiện trong những năm gần đây trên đất Quảng Đông thì có thể nhà nước sơ khai Nam Việt đã ra đời trong thời đại đồng thau thời Xuân Thu – Chiến Quốc.
Địa bàn cư trú của tộc Nam Việt, theo “Hán thư Lưỡng Việt truyện” thì Nam Việt “phía Tây có Tây Âu, phía Đông có Mân Việt”. Qua đó, giới hạn cụ thể khu vực cư trú của người Nam Việt chưa thể định luận. Nhưng dựa vào cương vực Tây Âu là ở vào khoảng Bắc – Tây Bắc Quảng Tây và Mân Việt là vào khoảng Phúc KIến và Nam Triết Giang cùng Đài Loan ngày nay. Có thể ước chừng Nam Việt ở vào khoảng Quảng Đông và Đông Bắc Quảng Tây ngày nay, mà trung tâm là tam giác châu Châu Giang, sau này trở thành kinh đô Phiên Ngung của nước Nam Việt.
Tộc Nam Việt trong quá trình hình thành và phát triển thành nhà nước sơ khai không những có mối quan hệ với các tộc, các nhà nước lân cận, mà còn có quan hệ với người Hoa Hạ trong nội địa Trung nguyên. Tình hình này được phản ánh khá rõ trên tư liệu khảo cổ.
Các di tích thời đại Đá mới từ sơ kỳ đến hậu kỳ trên đất Quảng Đông phân bố rộng khắp và liên tục, không bị biến dị và cắt đoạn với đặc trưng nổi bật là đồ gốm văn in kỷ hà hệ Lĩnh Nam theo phân loại của Lý Bá Khiêm trong hội thảo về gốm văn in kỷ hà tổ chức ở Lư Sơn năm 1978 (Lý Gia Khiêm 1979). Chính trên cơ sở văn hóa Đá mới với đặc trưng gốm văn in kỷ hà hệ Lĩnh Nam, tộc Nam Việt đã phát triển văn hóa thời đại Đồng thau rộng khắp từ lưu vực Bắc Giang, Tây Giang, Đông Giang đến Châu Giang, Trạm Gianng. Theo thống kê chưa thật đầy đủ, cho đến năm 1995, trên đất Quảng Đông đã phát hiện được khoảng 500-600 địa điểm có tầng văn hóa thời đại Đồng thau, trên 10 di tích có dấu tích lò đúc đồng, khoảng 300 ngôi mộ thời Xuân Thu – Chiến Quốc, thu được khoảng trên 1.200 hiện vật đồng thau, khoảng trên 20 khuôn đúc đồng bằng đá (Dương Thức Đỉnh 1998).
Chẳng hạn như năm 1962 – 1963. tại Mã Đầu Cương thuộc huyện Thanh Viễn phát hiện 2 ngôi mộ thời Đông Chu, đồ tùy táng chủ yếu là đồ đồng thau và gốm cứng văn in kỷ hà. Đồ đồng thu tổng cộng có 64 hiện vật như lôi, đỉnh, phẫu, chuông dẹt, vật hình trụ có tượng đầu người cùng công cụ và binh khí.
Năm 1986 trở đi, tại vùng Long Tử Sơn huyện Hòa Bình phát hiện trên 10 mộ thời Đông Chu, trong đó mộ số 1 thu được 5 hiện vật đồng thau như đỉnh kiểu Việt, việt, dao nạo, qua cùng vò gốm cứng văn chiếu, cốc gốm tráng men, ấm có vòi rót tay cầm và một dãy 11 viên đá ngọc trang sức to nhỏ khác nhau.
Năm 1987 – 1988, tại núi đối diện với Đại Cũng Bình huyện Lạc Xương phát hiện hơn 20 ngôi mộ thời Đông Chu có đỉnh đồng kiểu chân đế hình thú và chân đế dẹt, kiếm dài, kiếm ngắn, giáo, qua, việt, móc đai, trong đó có một lưỡi qua trang trí văn quỳ phượng, văn mây móc liền nhau là loại rất hiếm thấy. Đồ gốm có phễu, vò trang trí quỳ văn, vân lôi văn và văn chữ mễ.
Năm 1983 tại Bối Phu Sơn khu La Bình huyện La Định phát hiện mộ Chiến Quốc sớm, đáy mộ có hố lưng hình tròn. Đồ tùy táng có 98 hiện vật đồng thau như đỉnh, gương, thích, vật hình trụ trên có tượng đầu người, kiếm, qua, giáo, việt, rìu cùng cốc gốm mịn màu đen tay cầm cao nông lòng, chén sứ nguyên thủy và 18 viên đá ngọc trang sức. Đáng chú ý 4 vật trụ trên có tượng đầu người được cắm ở đáy quan tài gỗ 2 trước 2 sau.
Năm 1989 tại khu mộ Lại Dương Đôn thuộc Khai Phong Nam khai quật 30 mộ huyệt đất thuộc các giai đoạn sớm, giữa và muộn thời Chiến Quốc. Đa số đáy mộ có hố lưng hình tròn hoặc vuông, phát hiện được một sưu tập đồ đồng thau cùng gốm cứng văn in kỷ hà và sứ nguyên thủy (Dương Thức Đỉnh 1995).
Năm 1971 trở đi, tại Yết Dương Trung Hạ Diện Đầu Lĩnh khai quật 15 ngôi mộ thời Chiến Quốc, trong đó mộ phong phú đồ tùy táng nhất có 29 hiện vật, gồm 19 đồ đồng thai, 10 đồ gốm và sứ nguyên thủy. Trong đó có 1 qua đồng viện bằng hồ hẹp và 1 lưỡi giáo khắc chữ “vương”. Ngoài ra, còn có kiếm dài và di bằng sứ nguyên thủy tương tự đồng loại phát hiện ở Thượng Hải, Kim Sơn Thích Gia Đôn, Hoài Dương Cao Trang (Khâu Lập Thành 1920).
Phong phú hơn cả là phát hiện ở huyện Quảng Ninh. Năm 1977, tại Đồng Cổ Cương phát hiện 22 ngôi mộ thời Chiến Quốc, thu được 295 đồ đồng thau trong tổng số 357 hiện vật tùy tàng. Năm 1995, tại Long Trở Cương khai quật 15 ngôi mộ thời Chiến Quốc. Mộ phong phú đồ thùy táng nhất có trên 30 hiện vật, trong đó đồ đồng thau có trên 20 hiện vật. Tổng cộng có 15 mộ, thu được trên 100 hiện vật đồng thau.
Ngoài ra, lẻ tẻ cũng thu được một số sưu tầm đồ gốm, đồ đồng khá đẹp. Chẳng hạn như tại Xiêm Cương ngoại ô thành phố Quảng Châu thu được một sưu tập đồ đồng thau gồm qua, kiếm ngắn trang trí văn hình mặt người, dao trang trí văn lôi văn thời Xuân Thu và đồ gốm quỳ văn (Mạnh Anh Hòa 1997).
Phần lớn các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng tới giữa thời Xuân Thu đến giữa thời Chiến Quốc văn hóa thời đại Đồng thau trên đất Quảng Đông cực kỳ phát triển – tuy không bằng văn hóa Điền và văn hóa Lạc Việt. Cho đến lúc này, công cụ bằng đá hầu như không còn. Đồ gốm tiêu biểu cho thời kỳ này là gốm cứng văn in quỳ văn cùng gốm men và sứ nguyên thủy. Đồ đồng thời kỳ này rất đặc biệt, bên cạnh số lượng khá lớn đồ đồng mang phong cách đồ đồng thời Xuân Thu – Chiến Quốc của khu vực Trung nguyên như lôi, đỉnh, phẫu, dao nạo, kiếm dài, qua, giáo, móc đai, v.v… đã xuất hiện khá nhiều đồ đồng thau mang sắc thái địa phương như đỉnh nông lòng kiểu Việt, việt, vật hình trụ trên có tượng đầu người. Về đồ đồng mang phong cách Trung nguyên, một số là được truyền trực tiếp từ Trung nguyên xuống, một số đúc chế tại địa phương theo phong cách đồ đồng Trung nguyên. Nam Việt tuy xa Trung nguyên, nhưng có bờ biển dài cùng nhiều sông lớn, và Nam Việt có mối quan hệ khá sớm với Câu Ngô và Vu Việt là hai nước có trình độ phát triển cao hơn Nam Việt lại gần Trung nguyên hơn nên rất có thể đồ đồng Trung nguyên đã qua Câu Ngô và Vu Việt mà truyền vào Nam Việt trước khi Nam Việt thuộc Hán. Thời kỳ này trên đất Quảng Đông chưa xuất hiện đồ sắt.
Một số học giả Trung Quốc cho rằng đây là thời kỳ hình thành nhà nước sơ khai của tộc Nam Việt, và văn hóa Hán cũng đã góp phần vào quá trình hình thành nhà nước sơ khai này. Về tính chất của nhà nước sơ khai này phải chăng đồng nghĩa với khái niệm phương quốc, giai đoạn giữa trong mô thức 3 giai đoạn của giáo sư Tô Bình Kỳ.
Quận Nam Hải của nhà Tần và nước Nam Việt của nhà Triệu
… (lược bỏ đoạn bàn luận thư tịch, không liên quan đến khảo cổ)
Thời kỳ nước Nam Việt mở rộng bao gồm cả nước Âu Lạc là thời kỳ hùng mạnh nhất của nước này. Bộ mặt văn hóa lúc bấy giờ có những đổi mới khác hẳn về chất so với thời nhà nước sơ khai Nam Việt.
Thể hiện rõ nhất là đã phát hiện được những ngôi mộ to lớn có cấu trúc độc đáo, đồ tùy táng cực kỳ phong phú. Đó là mộ Nam Việt Vương ở Quảng Châu, khu mộ La Bạc Loan ở huyện Quý và khu mộ Ngân Sơn Lĩnh là 2 vùng thuộc đất Tây Âu xưa được xem là thuộc đất nước Nam Việt thời nhà Triệu.
Như mộ Nam Việt Vương có trên 500 hiện vật đồng thau và nhiều đồ sơn, đồ vàng bạc chạm khắc tinh mỹ, đồ ngà voi, đồ pha lê. Đồ tùy táng không những nhiều mà còn mang phong cách khác nhau. Chẳng hạn đỉnh đồng có tới 37 chiếc thuộc 3 phong cách khác nhau là đỉnh phong cách Hán Trung nguyên, đỉnh phong cách Sở và đỉnh phong cách bản địa Nam Việt. Hay chuông, vừa có chuông nữu vừa có chuông dũng và chuông câu. Đáng chú ý là có tới 9 thạp đồng và 2 thạp gốm về kiểu dáng và hoa văn trang trí rất giống với thạp đồng văn hóa Đông Sơn. Sự có mặt của hiện vật văn hóa Đông Sơn trong mộ Nam Việt Vương là phản ánh đúng tình hình chính trị lúc bấy giờ, vì lúc này Âu Lạc là một thành viên của nước Nam Việt.
Mộ La Bạc Loan số 1 có trên 200 hiện vật đồng thau với nhiều phong cách khác nhau. Trong đó đáng chú ý là 2 chiếc trống đồng mà các học giả Trung Quốc cho là thuộc loại hình Thạch Trại Sơn và 4 thạp đồng mà kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí hoàn toàn giống với thạp đồng văn hóa Đông Sơn.
Khu mộ Ngân Sơn Lĩnh có một số công cụ và vũ khí kiểu Việt như rìu đồng xòe rộng hai đầu vểnh lên mà học giả Trung Quốc gọi là việt hình chữ phượng, hay loại kiếm ngắn không có chắn tay, cán dẹt ngắn, lưỡi rộng dẹt, giữa có sống dọc nổi rõ, v.v…
Qua đó có thể nói nước Nam Việt của Triệu Đà lúc phát triển nhất, bên cạnh đồ đồng kiểu Việt ngày một nhiều, còn có đồ đồng kiểu Tây Âu, Lạc Việt và đồ đồng phong cách Hán Trung nguyên và bộ mặt văn hóa Nam Việt lúc này cũng đã hình thành nên những khu vực có tính chất địa phương như khu vực kinh đô Phiên Ngung, khu vực Bình Lạc Quế Lâm, khu vực Quý huyện, khu vực Lạc Việt Âu Lạc.
Nhà Hán thôn tính Nam Việt
… (lược bỏ đoạn bàn luận thư tịch, không liên quan đến khảo cổ)
Tình hình này được phản ánh khá rõ trên tư liệu khảo cổ. Trong khu vực rộng lớn này bên cạnh đồ gốm đồ đồng bản địa, xuất hiện ngày càng nhiều đồ gốm, đồ đồng phong cách Hán. Đồ sắt trước đây đã có nhưng đến lúc này đồ sắt Trung nguyên truyền xuống ngày càng nhiều.
Tại kinh đô Phiên Ngung cũng như xung quanh các thành phố đô thị lớn nhỏ trong khu vực đều phát hiện được nhiều mộ đất và nhất là mộ gạch vòm cuốn rất đặc trưng cho mộ Hán thời Hán. Đồ tùy táng, bên cạnh một số ít đồ gốm và đồ đồng bản địa là số lượng lớn đồ gốm và đồ đồng phong cách Hán. Đồ gốm thường có các loại vò in ô vuông, văn ô vuông có thêm dấu triện tròn hoặc vuông, vò ấm 3 chân có vòi rót có tay cầm, nhĩ bôi, hồ, đỉnh và đặc biệt là mô hình nhà, bếp lò, giếng, nhà kho, chuồng lợn, v.v… Đồ đồng có hồ, liễm, hộp, gương đồng, tiền bán lạng, tiền ngũ thù, v.v… Đồ sắt thường có nồi, kiếm sắt.
… (lược bỏ phần kết)

Văn Vương hữu thanh

Văn Vương hữu thanh, Đại Nhã, Kinh Thi.

Văn vương hữu thanh                    文王有聲

CHƯƠNG I
Văn vương hữu thanh. Duật tuấn hữu thanh. Duật cầu quyết ninh. Văn vương chưng tai!
文王有聲. 遹駿有聲. 遹求厥寧. 文王烝哉.

CHƯƠNG II
Văn vương thụ mệnh. Hữu thử vũ công. Ký phạt vu Sùng. Tác ấp vu Phong. Văn vương chưng tai!
文王受命. 有此武功. 既伐于崇. 文王有聲. 文王烝哉.

CHƯƠNG III
Trúc thành y hức. Tác Phong y thất. Phỉ cức kỳ dục. Duật truy lai hiếu. Vương  hậu chưng tai!
築城伊淢. 作豐伊匹. 匪棘其欲. 遹追来孝王. 后烝哉.

CHƯƠNG IV
Vương công y trạc. Duy Phong chi viên. Tứ phương du đồng. Vương hậu duy hàn. Vương hậu chưng tai!
王公伊濯.維丰之垣.四方攸同.王后維翰.王后烝哉.

CHƯƠNG V
Phong thủy Đông chú. Duy Vũ chi tích. Tứ phương du đồng. Hoàng vương duy tích. Hoàng vương chưng tai!
豐水東注.維禹之績.四方攸同.皇王維辟皇王烝哉.

CHƯƠNG VI
Hạo kinh tích ung. Tự Tây tự Đông. Tự Nam tự Bắc. Vô tư bất phục. Hoàng vương chưng tai!
鎬京辟廱.自西自東.自南自北.無思不服.皇王烝哉.

CHƯƠNG VII
Khảo bốc duy vương. Trạch thị Hạo kinh. Duy quy chinh chi. Vũ vương thành chi. Vũ vương chưng tai!
考卜維王.宅是鎬京.維龜正之.武王成之.武王烝哉.

CHƯƠNG VIII
Phong thủy hữu khỉ. Vũ vương khởi bất sĩ. Di quyết tôn mưu. Dĩ yến dực tử. Vũ vương chưng tai!
豐水有芑.武王豈不仕.詒厥孫謀.以燕翼子.武王烝哉.

 

 

 

 

 

 

Ngôn ngữ Trung Quốc

Dưới đây chúng tôi chuyển ngữ những phần chủ yếu một bài thuyết giảng phổ thông về vấn đề này của học giả Viên Đằng Phi 袁腾飞, Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Thủ đô Bắc Kinh đăng trên Nam phương bộ thị báo南方都市报 (www.nddaily.com 南都网). Trong bài viết này, ông cũng lý giải về nguồn gốc lịch sử dẫn tới nhược điểm “nhất tự đa nghĩa” (cùng một từ có nhiều nghĩa dẫn tới mơ hồ và khó khăn trong diễn đạt, một biểu hiện của sự lạc hậu, thiếu thốn từ vựng trong ngôn ngữ) của tiếng Trung Quốc hiện đại:

(…)
Ngôn ngữ quan phương hiện tại (Quan thoại), được gọi là phương ngữ miền Bắc, là một ngôn ngữ đã bị Hồ hóa trong quá trình lịch sử, tính ưu mỹ của Hán ngữ đã hỗn giao với sự thô sơ của ngôn ngữ các rợ Hồ làm cho Hán ngữ trở nên thô thiển, đơn sơ, ngoại trừ việc còn giữ được cơ sở kết cấu ngữ pháp (chủ vị tân) của ngữ hệ Hán-Tạng ra, thì Hán ngữ về cơ bản đã bị đánh gục tơi tả, cuối cùng bị Hồ hóa theo ngữ hệ Altai, là loại ngôn ngữ địa phương mà về tính chuẩn xác, tính thực dụng thì lạc hậu hơn nhiều so với các phương ngữ miền Nam (…) mà đại diện là Cantonese (tiếng Quảng Đông).
Từ cuối nhà Đường trở đi, phía Bắc bị cai trị lâu dài bởi Khiết Đan, Nữ Chân (Mãn), Mông Cổ v.v. (thuộc ngữ hệ Altai là chủ yếu) do đó chắc chắn là phương ngữ phía Bắc khó mà tránh khỏi bị Altai hóa, nên mất đi hầu hết những đặc điểm vốn có trong Hán ngữ, đồng thời bị pha tạp một số khẩu âm (giọng) ngoại tộc. Tỷ như, đại bộ phận các giọng địa phương của Hán ngữ đều có thể phân biệt hầu hết các âm gió-nổ (尖团音 Tip group tone) trong khi các ngữ thanh phương Bắc không thể phân biệt được.
Đa số Hán ngữ địa phương đều phân biệt nhập thanh (入声) với phi nhập thanh (非入声). Tiếng phương Bắc không phân biệt được. Tiếng phương Bắc chỉ có bốn âm giai điệu (Tone): Âm bình 阴平, Dương bình 阳平, Âm thượng 阴上, Âm khứ阴去。
Còn Hán ngữ lại phân thành tám âm giai điệu: Âm bình 阴平, Dương bình 阳平, Âm thượng 阴上, Dương thượng 阳上, Âm khứ 阴去, Dương khứ 阳去, Âm nhập 阴入, Dương nhập 阳入.
Các phương ngữ miền Nam, trừ tiếng Việt Quảng Đông粤语 ra, đều ít nhiều có hiện tượng mất bớt âm giai điệu, nhưng số âm giai điệu còn lại đều nhiều hơn phương Bắc, ít nhất là còn từ sáu âm giai điệu trở lên. Và tiếng Việt Quảng Đông không chỉ bảo tồn tám âm giai điệu, mà còn thêm vào giữa Dương nhập và Âm nhập một âm giai điệu nữa là Trung nhập, thành ra tiếng Việt Quảng có đến chín âm giai điệu.
(…)
Ngữ hệ Altai được đặc trưng bởi ít ngữ tố, đa âm tiết, ví dụ đặc biệt là Nhật Bản ngữ. Phương Bắc, so với phương Nam, cũng hiện rõ đặc điểm này, do đó mà có khó khăn lớn khi biểu đat. Tỷ như dùng tiếng phổ thông khi giảng giải có dính dáng chút ít học thuật, chỉ dùng lời nói (khẩu ngữ) không thôi là không đủ, bắt buộc phải viết ra chữ (văn tự) thì mới hiểu được.
Bởi vì có quá ít âm tố 音素, dẫn đến hiện tượng đồng âm quá nhiều. Vì vậy, để làm giảm đồng âm, miền Bắc sẽ phải tăng số lượng các âm tiết của từ vựng. Ở phía Bắc, các từ vựng đơn âm tiết là cực kỳ ít, còn số từ vựng đa âm tiết thì cực lớn.
Các phương ngữ miền Nam thì ngược lại, vì có nhiều âm tố nên hiện tượng đồng âm ít hơn, số lượng từ vựng đơn âm rất phong phú, số từ vựng có hơn ba âm tiết rất ít, và chủ yếu là đến từ tiếng miền Bắc.
Vậy cho nên để thể hiện cùng một ý tứ trong một đoạn thoại, người miền Nam dùng ít từ hơn người Bắc, đương nhiên là hiệu suất ngôn ngữ cao hơn nhiều.
Ngôn ngữ Bắc chẳng hiểu sao lại bắt người ta đệm thanh âm “ěr -儿” vào, chẳng có lý do mà phải tăng thêm âm tiết “ěr”, khiến ngôn ngữ diễn đạt đã có hiệu suất không cao, nay lại càng bị kéo thấp xuống nữa.
Nếu bạn so sánh phim Hồng Kông bản tiếng Quảng Đông với bản tiếng Quan thoại, bạn sẽ phát hiện ra hiện tượng trong bản tiếng Quan thoại nhiều nội dung ngôn từ bị cắt gọt bớt. Lý do là tiếng Quảng Đông chỉ với mười từ âm tiết là đủ ý cho một đoạn thoại, còn tiếng Quan thoại phải sử dụng đến 15, 16 âm tiết mới đủ, cho nên để khớp lời với miệng, chỉ có cách cắt bớt nội dung.
Từng có người luận bàn rằng Hán ngữ là một loại ngôn ngữ lạc hậu, luận điểm có nhiều chỗ sai, nhưng cũng có rất nhiều điểm là hoàn toàn chính xác, tìm hiểu đến nơi đến chốn thì ra người đánh giá này chỉ dựa trên cơ sở của Hán ngữ hiện tại, lý luận sặc mùi sùng ngoại, thật đáng thương hại, anh ta dường như quên mất Hán ngữ cổ rồi!
Trong thực tế, chúng ta phải dám thừa nhận, ngôn ngữ đơn âm, nếu chỉ có bốn âm giai điệu mà lại bắt nó phải rạch ròi chuẩn xác thì thật nực cười. Hãy thử lấy phương ngữ Hakka là đại diện của miền Nam, nhờ số cách phát âm nhiều, rất dễ giải quyết hiện tượng câu đa nghĩa quá nhiều trong Hán ngữ hiện đại.
(…) Ngôn ngữ quyết định trình độ của nền văn minh của một dân tộc. Trung Quốc, là một trong bốn nền văn minh cổ đại, trên thực tế, kể từ khi khởi đầu thời đồ đá, nền văn minh Trung Hoa biến đổi theo thời gian ngày càng lạc hậu so với văn minh Tây phương. Khi ở Trung Quốc vào thời nhà Hạ nhà Thương, thì văn minh La Mã, Ai Cập, Lưỡng Hà đã đi trước Trung Quốc 2.000-3.000 năm, và Trung Quốc, trong hoàn cảnh kín cổng cao tường, đã phải mất gần hai ngàn năm, cuối cùng đã bắt kịp, và sau đó vượt xa lên phía trước. Nhưng kể từ sau đời Tống thì lại nhanh chóng suy nhược, ở đây liên quan đến một hiện tượng rất quan trọng, đó là trước Tống thì chính quyền quốc gia dựa trên ngôn ngữ chính thức (quan phương ngữ ngôn) là Hán ngữ, ưu mỹ, chuẩn xác, còn sau thời Tống thì ngôn ngữ chính thức của quyền lực nhà nước lại là ngữ ngôn phương Bắc (…) Các Trạng nguyên thời Đường, Tống, Nam Bắc triều về cơ bản là tương đồng, từ Tống về sau thì bị phương Nam lũng đoạn, thời cận đại, phương Nam phát triển cao hơn Bắc, Bắc phát triển cao hơn Tây Bắc, còn Đông Bắc trở thành một đỉnh cao vì thời kỳ đầu công nghiệp nặng tập trung ở mảnh đất này, được sự trợ giúp của nhà nước, thế mà cũng vẫn không thể sánh nổi với phương Nam.
(…) Âm phương Bắc có rất nhiều các loại âm mà phương Nam không có như âm ěr (“ㄦˇ,hậu tị âm (âm sau mũi 后鼻音),hậu thiệt âm (âm sau lưỡi 后舌), là những âm khi nói cần phải vận động đầu lưỡi rất nhiều, phương Nam ít loại âm này nên nói được rất nhanh. Mọi người hãy thử nói câu “骑车上公园儿” theo ngữ ngôn Bắc (Qí chē shàng gōngyuán er = Đi xe ra công viên) rồi so với cách nói miền Nam “骑 sang公园” xem nó chậm hơn bao nhiêu. Tốc độ của tư duy tỷ lệ thuận với tốc độ lời nói, nói nghĩ kiểu ậm à ậm ừ lai rai của người phương Bắc làm sao có thể cạnh tranh được với hiệu suất cao của người phương Nam?

(…)
Tại sao một số học giả tin rằng tiếng Quảng Đông gần Hán ngữ cổ hơn cả? Thật ra đây không phải là nói chơi, bởi vì tiếng Quảng Đông đã bao hàm tất cả bốn thanh tám vần của Hán ngữ, một phần nhỏ chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ các dân tộc Lĩnh Nam[ý nói các dân tộc ở cực Nam Trung Hoa như xưa như, Âu Lạc, Nam Việt …](…) trong tiếng Quảng Đông có một số lượng lớn các từ bế âm tiết, âm đọc phụ âm nguyên âm tương đương nhau, có hoặc không có bế âm tiết tạo ra khác biệt rất lớn. Tỷ dụ hai chữ Đại 大 và Đạt 达 trong tiếng Quan thoại chỉ đọc khác nhau ở âm vận (dấu thanh điệu) “dà và dá” nhưng trong cách phát âm tiếng Quảng Đông chữ đầu là âm tiết mở (khai âm), chữ sau là âm tiết đóng (bế âm). Chữ đầu đọc là “dai”, chữ sau đọc là “dat” (chữ t là ký hiệu biểu thị tác dụng đóng của âm tiết thứ hai, không phát thành âm). Tiếng Quảng Đông không có âm uốn lưỡi, cũng giống như Hán ngữ cổ vậy. Nhìn ra ngoài Trung Quốc xem hai nước Việt Nam và Hàn Quốc là những nước chịu ảnh hưởng của Hán ngữ cổ, tuy rằng họ có bản ngữ dân tộc riêng, nhưng khi họ đọc chữ Hán (Hán tự thỉnh thoảng dùng để biểu ý khi ghi chép sang bản ngữ dân tộc của họ), thì thực là rất giống tiếng Quảng Đông.
Ví dụ, tất cả chúng ta đều biết rằng thương hiệu Hàn Quốc “三星 Tam Tinh-Ba sao) thì hai chữ Hán đó Hàn Quốc đọc là “Samsung”, còn tiếng Việt (tam tinh) và tiếng Quảng Đông (saam sing) đọc hai chữ này gần giống nhau (…)
Sự phân hóa của Hán ngữ bắt đầu lúc nào?
Thời Mạt Đường Ngũ Đại, dân thiểu số lại gây vó ngựa sa trường, Bắc Tống chỉ lo giữ cho được đất gốc của Trung Quốc, còn Yên Vân thập lục châu (16 vùng thuộc Bắc Kinh Thiên Tân và bắc phần Sơn Tây Hà Bắc ngày nay) rơi vào tay Khiết Đan, cũng là lúc bắt đầu thời Hán Hóa Khiết Đan. Khiết Đan thuộc chi ngôn ngữ Altai-Mông Cổ (một phiên bản cổ của chi ngôn ngữ Altai -Tungus), khác với mười sáu nhóm nhỏ ngôn ngữ của rợ Hồ. Vùng đất Hán cũ trước khi bị người Khiết Đan chiếm vốn đã có một lịch sử văn minh, cho nên để gìn giữ chế độ Khiết Đan cũ, họ đã cố phân chia ra hai vùng Khiết Đan và Hán riêng biệt để cai trị. Họ lấy ngôn ngữ dân tộc làm ngôn ngữ chính thức của đế quốc, có văn tự riêng, tuy vậy thì văn hóa dần dần cũng bị Hán đồng hóa, dù dưới sự cai trị lưỡng chế, nhưng ngôn ngữ không phải là chuyện của riêng ai, theo chính trị thâm nhập mạnh mẽ vào Bắc Hán ngữ, bắt đầu làm cho cách phát âm của Hán ngữ pha giọng Altai từ đấy.
Vả lại văn tự Hán ngữ thì tốt cho việc biểu đạt mà không đòi hỏi cùng một khẩu ngữ, nên chi Hán ngữ có sức mạnh lớn đồng hóa các tộc khác, không cần tác động lên văn tự của ngôn ngữ Khiết Đan có vị thế chính trị cao hơn. Mặc dù người Khiết Đan đọc chữ Hán với âm khác với người Hán, nhưng về văn tự thì đều hiểu như nhau, nên sự phát âm như nhau là không bắt buộc.
Tôi đoán từ thời gian này trở đi, khi Bắc Kinh đã trở thành lãnh thổ phía Nam của nhà Liêu, ngôn ngữ nói của Trung Quốc vì phục tùng tầng lớp cai trị của đế chế Đại Liêu nên bắt đầu quá trình Hán ngữ phía Bắc biến hóa theo phát âm của kiểu Altai. Âm uốn lưỡi (卷舌音-quyển thiệt âm retroflex) (bao gồm cả âm bật lưỡi 弹舌音-Đạn thiệt âm- Tongue sound) cực nhiều trong ngữ hệ Altai, ở đây, từ phía Bắc của Bắc Trung Quốc, ngữ âm Altai bắt đầu thâm nhập vào Hán ngữ. Kim diệt Liêu, chia đôi thiên hạ, nửa theo chế độ của nhà Kim, người Hán thiên di về Nam, Hán ngữ Hoa Bắc nhận thêm kẻ xâm lược mới: ngữ hệ Altai-Tongus, bắt đầu thời kỳ âm cuốn lưỡi gia tăng mạnh, lượng bế âm mất dần.
(…) Nhà Tống nam di, sau khi định đô ở Lâm An, ngôn ngữ của tầng lớp quan liêu quý tộc bị ảnh hưởng bởi phương ngữ Hán Ngô Việt vốn có nguồn gốc Hán Tạng đã tồn tại trước thời Xuân Thu, so với Hán ngữ thời Nam Bắc triều thì đã phân hóa rõ rệt. Hán ngữ Hoa Bắc đã bị Tongus hóa, nhưng vùng miền núi có thể là biệt lệ (bằng chứng cho thấy rằng nay vẫn còn có những ngôi làng ở khu vực miền núi ở Sơn Tây còn giữ được thanh nhập của Hán ngữ), còn khẩu ngữ của hoàng thân quốc thích và quan lại triều Nam Tống thì đã chuyển đổi dần theo giọng nói của Ngô Việt. (Sau 1.500 năm lịch sử, vốn dĩ đã thông dụng Hán ngữ, muốn đồng hóa họ e cũng khó khăn), và phía Nam của dãy Nam Lĩnh, vì núi non cản trở, nên ở đây Hán ngữ gốc có từ thời Tần Thủy Hoàng ít bị thay đổi. Loại Hán ngữ phá cách từ phương bắc theo vó ngựa xâm lược của dân du mục, khi đến được Giang Nam, Hoa Nam vượt qua bao nhiêu núi đồi cách trở nên ảnh hưởng đã yếu đi nhiều, chưa kể đến hàng rào cản là dãy Lĩnh Nam.
Đế quốc Mông Cổ chiếm nước Kim, một lần nữa Hán ngữ Hoa Bắc lại nhận thêm kẻ xâm nhập với khẩu ngữ mới (người Mông Cổ giết hại 90% dân số sống ở Bắc Trung Quốc, và phần còn lại phải chịu tuân phục). Lần này kẻ thống trị Hoa Bắc lại nói tiếng thuộc chi ngữ hệ Altai-Mông Cổ. Ai có hứng thú xem lại lịch sử nhà Nguyên nên biết rằng sự cưỡng bức chính trị thời này là đặc biệt kinh khủng. Các quan chức người Hán ai mà không tập theo tiếng Mông Cổ thì không thể yên ổn được (…)
Lúc này, trải qua sự xâm nhập và ảnh hưởng của chi ngữ ngôn Altai-Mông Cổ lẫn chi Altai-Tongus vào Hoa Bắc, đầu tiên tại kinh đô Đại Đô (tức Bắc Kinh) của nhà Nguyên đã hình thành nên tiếng Nguyên Đại Đô (tiếng Bắc Kinh), đó chính là thủy tổ của tiếng Phổ thông ngày nay.
Nhà Minh lật đổ sự thống trị thực dân Mông Cổ, lập Kinh Đô ở Nam Kinh, nhưng rồi thân vương mạnh nhất là Yên Vương Chu Lệ ở Bắc Kinh thoán đoạt ngôi vua, lại quay về Bắc Kinh đóng kinh đô, giữ Nam Kinh làm kinh đô phụ (Bồi Đô-陪都), dẫn tới số phận Hán ngữ Hoa Bắc bị Hồ hóa là điều không thể thay đổi. Cuối cùng thì nhà Minh cũng xác định tiếng nói của Đại Đô là tiếng nói chính thức của nhà nước. Sau đó, các vùng phụ thuộc Minh, các sắc dân Mãn Châu thuộc chi Tongus, nơi đã từng khởi binh chinh phục Trung Hoa, đều bị Hán hóa hoàn toàn, về văn hóa thì bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa, nhưng tiếng nói của vùng Hoa bắc cũng bị pha tạp, cuối cùng hình thành nên cơ sở cho ngôn ngữ hiện tại là tiếng phổ thông Quan thoại (mandarin) – kỳ thực thì tên gọi này đối với người Hán là một đại sỉ nhục, vì Mandarin chính là phiên âm của”满大人- Mãn đại nhân” tức là “tiếng nói của các quan Mãn Châu” (chữ Quan thoại cũng từ đó mà ra).

Bài viết về Hán ngữ trích từ bài báo: Lạm bàn về dạy và học tiếng Trung Quốc ở Việt Nam.

Đọc dịch một số câu đối ở đền Hát Môn

Dan the Hat Mon

Đàn thề Hát Môn.

Đền Hát Môn, nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, là một di tích có nhiều minh văn lưu lại trong các bức hoành phi, câu đối. Những câu đối ở ngôi đền này đều do các bậc đức cao vọng trọng, học nhiều hiểu rộng soạn viết và cung tiến từ thời Nguyễn. Do đó đây là những câu đối có văn phong, thi pháp hay, ca ngợi tinh thần và sự nghiệp của Hai Bà Trưng.
Thời gian trước tác giả Phạm Hy Sơn đã từng đọc và dịch một số câu đối ở đền Hát Môn. Gần đây, trong cuốn sách mới xuất bản Đền Hát Môn di tích lich sử quốc gia đặc biệt, nhóm chuyên gia của Viện nghiên cứu Hán Nôm cũng đã có phần đọc và dịch rất chi tiết các hoành phi câu đối ở đền này. Tuy nhiên, do tính chất của cổ văn dùng trong câu đối rất súc tích, sử dụng nhiều điển cổ và thông tin của cổ sử nên để hiểu thêm về những câu đối ở đền Hát Môn, bài viết dưới đây xin đưa ra một cách giải nghĩa cho một số câu đối khó dịch của di tích lịch sử này.

Câu 1

大義復夫讎猶令東漢當辰嶺南六十五城勞逺略
鴻圖肇國統從此皇丁而後越甸數千餘載定天書
Đại nghĩa phục phu thù, do lệnh Đông Hán đương thời, Lĩnh Nam lục thập ngũ thành lao viễn lược
Hồng đồ triệu quốc thống, tòng thử Hoàng Đinh nhi hậu, Việt Điện sổ thiên dư tải định thiên thư.

21558761_1473665936057985_2705221036556420372_nSách Đền Hát Môn chép chữ “lệnh” 令 thành chữ “kim” 今.
Ở câu đối này triều “Hoàng Đinh” đối lại với nhà “Đông Hán”, rõ ràng là chỉ triều đại do vua Trưng lập nên. Trong câu đối nói triều Hoàng Đinh này cách thời điểm viết câu đối (thời Nguyễn – thế kỷ 19) “trên mấy nghìn năm”. Vì thế đây không thể là triều Đinh của Đinh Tiên Hoàng vào thế kỷ 10 được. Triều Đinh của Đinh Bộ Lĩnh cũng không có liên quan gì tới Hai Bà Trưng cả, nên đưa vào câu đối này không hợp lý.
Đinh là một dịch tượng chỉ phương hướng. Đinh, hay Tĩnh là tính chất của phương Tây. Vì Hai Bà Trưng khởi nghĩa từ “Châu Phong”, là vùng đất Tây Thổ, nên triều đại của Trưng Vương có tên là Đinh. Đinh là quốc danh của triều đại Trưng Vương còn lưu truyền mãi tới thời nhà Nguyễn như trong câu đối trên.
Dịch:
Nghĩa lớn báo thù chồng, sánh ngang Đông Hán cùng thời, sáu mươi lăm thành Lĩnh Nam lập kế lớn
Cơ đồ dựng quốc thống, từ đó Hoàng Đinh về sau, trên mấy nghìn năm Việt Điện định sách trời.

Câu 2

越祖百男閒出英雌能復國
唐初雙女未聞閨綉自興王
Việt tổ bách nam, gián xuất anh thư năng phục quốc
Đường sơ song nữ, vị văn khuê tú tự hưng vương.

Duong so

Câu đối này trong sách Đền Hát Môn lẫn lộn vị trí 2 từ “gián” (nhàn) 閒 và văn 聞. Chính xác như trong ảnh thì ở vế đối đầu là chữ 閒, đọc là “gián” với nghĩa là xen lẫn. Vế sau phải là “văn” 聞 với nghĩa là nghe thấy.
Thời sơ Đường ở đây không phải thời đầu nhà Lý Đường (thế kỷ 7), mà là nói tới thời Đường Nghiêu Ngu Thuấn. Đó là lấy tích hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh mà so sánh với Hai Bà Trưng. Nga Hoàng và Nữ Anh là hai con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn mất hai vị vương phi này đã tự vẫn theo chồng ở sông Tương. Còn hai bà Trưng khi chồng là Thi Sách bị giặc giết thì lại tự mình phất cờ khởi nghĩa, giành thắng lợi, xưng vua. Hai Bà sau đó cũng tử tiết trên sông, do đó được so với 2 vị nữ thần sông Tương thời Đường Ngu.
Dịch:
Tổ Việt trăm trai, xen có anh thư hay phục quốc
Sơ Đường đôi gái, chưa nghe khuê tú tự xưng vua.

Câu 3

西江姊妹神湘女
東漢縱横霸粵王
Tây Giang tỷ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Tây Giang ở đây không phải nghĩa là sông Tây, mà là chỉ Hai Bà khởi nghĩa ở miền đất phía Tây (của biển Đông). Giang = Dương, chỉ biển. Tây Giang hay Giang Tây là tên khác của vùng đất Tĩnh Hải dưới thời nhà Đường. Cái tên này còn gặp trên các viên gạch “Giang Tây quân” trong các di tích thời Đường ở nước ta.
Dịch:
Tây Giang em chị thần Tương nữ
Đông Hán dọc ngang xứng Việt vương.

Câu 4

馬鐙一戎征死了貪残猶(裭?)魄
象棚三(據?)戰生還矍鑠尙驚魂
Mã đặng nhất nhung chinh tử liễu tham tàn do sỉ? phách
Tượng bằng tam cứ? chiến sinh hoàn quắc thước thượng kinh hồn.

 

Câu đối này dùng một số chữ dị thể nên việc đọc ở các tác giả không thống nhất. Như chữ ở vế đối đầu Phạm Hy Sơn đọc thành hổ (虎?), dịch thành “con cọp”, còn sách Đền Hát Môn đọc là “quý” 愧 nghĩa là thẹn, xấu hổ. Bài này đề xuất đọc là “sỉ” 裭. “Sỉ phách” là mất vía.
Vế đối sau cũng có chữ dị thể khó đọc. Sách Đền Hát Môn đọc thành “cứ” (據?) nhưng lại ghi chữ là 捷 (tiệp). Câu đối này do vậy rất khó hiểu chính xác nên dịch thường không thoát ý.
Dịch:
Bước ngựa một xa chinh, dù mất tham tàn còn khiếp vía
Lầu voi ba trận chiến, sống về quắc thước thật kinh hồn.

Câu 5

旰宵東雒中興主
鞅掌西湖矍鑠翁
Cán tiêu Đông Lạc trung hưng chúa
Ương chưởng Tây Hồ quắc thước ông.

“Cán tiêu” 旰宵 nghĩa đen là chiều tối, chỉ sự tối tăm, suy vi. Sách Đền Hát Môn chép thành “can tiêu” 干標, không có nghĩa.
Đông Lạc chỉ nhà Đông Hán, đóng đô ở Lạc Dương. “Trung hưng chúa” chỉ Hán Quang Vũ, người được coi là phục hưng nhà Hán. “Quắc thước ông” là người khỏe mạnh, chỉ Mã Viện.
Câu đối dùng những hình ảnh đối lập “cán tiêu” – “trung hưng”, “ương chưởng” – “quắc thước”, để nhấn mạnh, ca ngợi tầm vóc của cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương.
Dịch:
Đông Hán tối tăm này chúa hưng 
Tây Hồ nhọc nhằn kia ông khỏe.

Câu 6

順徔古有虞嬪南面奚裨天下治
剛猛史称孫妹東行莫雪使君仇
Thuận tòng cổ hữu Ngu tần, Nam diện hề tì thiên hạ trị
Cương mãnh sử xưng Tôn muội, Đông hành mạc tuyết sứ quân cừu.
“Ngu tần” ở đây nói tới các vị phu nhân của Đế Thuấn (Ngu Thuấn) là Nga Hoàng và Nữ Anh. “Nam diện” là trong tích “quay mặt phương Nam mà xưng vương”, chỉ việc làm vua. Vế này so sánh Hai Bà Trưng với 2 phi tần đã giúp Đế Thuấn.
“Tôn muội” có thể nói tới em gái Tôn Quyền của Đông Ngô, quyết đi theo chồng là Lưu sứ quân (Lưu Bị). Vế này so sánh Trưng Vương khởi nghĩa báo thù chồng, cương quyết như em gái Tôn Quyền.
Dịch:
Tòng thuận xưa có phi tần vua Ngu, quay mặt phương Nam giúp trị thiên hạ
Dũng mãnh sử nêu em gái họ Tôn, đi về phía Đông rửa thù sứ quân.

Câu 7

縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Câu đối này tương truyền do Cao Bá Quát đề ở cột trụ nghi môn đền Hát Môn. Các tài liệu thường dịch câu đối này không chính xác do Cao Bá Quát sử dụng cụm từ chiết tự trong vế đối này. Trong vế đối thứ nhất có cụm từ “kim đao” 金刀 là chiết tự của chữ Lưu 劉, họ của các vua nhà Hán.
Vế đối thứ nhất nói tới chí khí của Trưng Vương đã khởi nghĩa chống quân Hán, lập nên một “thiên hạ”, một mảnh trời riêng của mình. Vế đối thứ hai nói tới cột đồng do Mã Viện nhà Đông Hán dựng nên, nhưng ở đây lại là để đánh dấu phân giới đất đai với Trưng Vương. Trưng Vương thậm chí còn không bằng lòng với vị trí cột đồng phân giới này.
Dịch:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.

Câu 8

爾城以北分中国
銅柱而南入帝圖
Nhĩ thành dĩ Bắc phân Trung Quốc
Đồng trụ nhi Nam nhập đế đồ.
Câu đối này nêu 2 sự vật. Một là tòa thành làm địa giới giữa nhà Hán và nước của Trưng Vương (sử chép là Man thành ở Quảng Tây). Hai là cột đồng, cũng dùng để xác lập địa đồ đế vương. Khí phách của câu đối ở chỗ “phân Trung Quốc” và “nhập đế đồ”, khẳng định triều đại của Trưng Vương ngang hàng với nhà Hán, cùng phân chia thiên hạ Trung Hoa và cùng xưng đế.
Dịch:
Thành kia làm Bắc chia Trung Quốc
Đồng trụ về Nam nhập đế đồ.

Câu 9

始終臣節坤貞吉
咫尺神祠萃引孚
Thủy chung thần tiết Khôn trinh cát
Chỉ xích thần từ Tụy dẫn phu.
Câu đối này dùng 2 quẻ của Chu Dịch. Quẻ Khôn mang tính chất bền vững, tốt đẹp nên gọi là “trinh cát”. Quẻ Tụy nghĩa là tụ tập, có lời hào nhị: Dẫn cát, vô cữu, phu nãi lợi dụng thược (dẫn dắt, lôi kéo nhau theo đường công chính, không lỗi, tâm thành lễ mọn vẫn được tốt lành). “Tụy dẫn phu” là việc tập hợp mọi người dẫn tới niềm tin thành kính.
Dịch:
Trước sau giữ lễ, sự bền đẹp của quẻ Khôn
Gang tấc đền thần, dẫn tín tâm của quẻ Tụy.

Câu 10

湯武鉞旄三戰後
雄庞城郭百年前
Thang Vũ việt mao tam chiến hậu
Hùng Bàng thành quách bách niên tiền.
Thang chỉ vua Thành Thanh, người sáng lập nhà Thương của Trung Hoa. Vũ chỉ Vũ Vương, người đánh Trụ diêt Ân, lập nên nhà Chu. “Thang Vũ việt mao” chỉ khí thế khởi nghĩa mạnh mẽ của những vị khai mở triều đại.
Dịch:
Thang Vũ phất cờ ba cuộc sau.
Hùng Bàng thành dựng trăm năm trước.

Sự tích Man Nương

Thần tích xã Đặng Xá, huyện Ân Thi, Hưng Yên, chép theo sách Truyền thuyết dân gian người Việt (quyển 2), Kiều Thu Hoạch chủ biên, NXB KHXH, 2014.

Tương truyền vào cuối đời Hán Minh Đế có một nhà sư tên là Khâu Đà La vốn dòng đạo Bà La Môn ở nước Thiên Trúc, tay cầm gậy thần xích chu du bốn bể mười phương. Sư đến thành Luy Lâu, hồi đó là trị sở của Sĩ Vương. Trong thành có một viên quan tên là Tu Định, là người Siêu Loại. Tu Định thấy Đà La có khí độ thần tiên phơi phới, bèn mời về nhà riêng. Đà La về nhà Tu Định ở. Nhà sư thanh tịnh nhiều ngày không ăn uống. Tu Định thấy vậy lấy làm lạ, nảy sinh lòng kính ngưỡng. Nhà Tu Định có cô con gái tuổi mới mười hai, đêm đến khêu đèn thắp nhang rất là kính cẩn. Nhà sư thấy cô bé nhỏ tuổi mà có lòng thành như vậy cũng lấy làm lạ bèn đặt cho cái tên là Man Nương. Hơn một tháng thì sư xin về. Tu Định muốn giữ lại, liền cúi đầu xin được độ làm đệ tử. Vì thế sư lưu lại bảy hôm nữa, vời Man Nương đến trước mặt, sư xoa đầu cô mà phán rằng: “Mi đã thành pháp bảo của ta. Ta rất yêu mi!”. Nhân đó lại bảo Tu Định rằng: “Sau ba năm trời đại hạn, chẳng những lúa má cháy khô mà cả người và gia súc cũng không có chỗ nào mà uống. Nay ta giúp cho gia đình nhà ngươi sống qua lúc đó”. Nhà sư lấy gậy thần xích cắm xuống vườn nước bèn vọt lên. Tu Định theo đúng chỗ đó đào một cái giếng để phòng ngừa hạn hán. Nhà sư bèn từ giã vào núi.
Hồi ấy Man Nương đến tuần cập kê, chưa lấy chồng mà đã có chửa. Tu Định xấu hổi hỏi vặn con: “Mày không chồng mà có chửa là lỗi tại ai?”. Nhà sư chưa kịp vân du mà đã nghe được lời căn vặn con của Tu Định, bèn mỉm cười phán rằng: “Hãy nhịn, nhịn, nhịn… mọi điều oan gia từ đây sẽ hết”. Tu Định lĩnh hội được ý của sư, ông nuôi dưỡng Man Nương chu đáo. Nàng có mang đẫy mười bốn tháng, đến giờ Ngọ ngày mồng Tám tháng Tư năm Giáp Ngọ, sinh được đứa con gái. Nàng ẵm con vào rừng tìm sư, lúc đến nơi nhà sư cất tiếng gọi con: “Hỡi đứa con của Đà La”, bèn ẵm đứa bé vào trong rừng sâu hô to lên rằng: “Hỡi các cây gỗ to! Cây nào ẵm đứa con này cho ta thì mở lòng ra mà nhận. Sau này sẽ làm thiên thần, hưởng sự thờ cúng của thế gian, lưu truyền vĩnh viễn muôn đời”.
Có một cây to vui vẻ trả lời: “Tôi xin giữ đứa trẻ này”. Cái cây ấy nứt ra, nhà sư liền đưa đứa bé ấy vào trong lòng cây gỗ. Cây gỗ từ từ khéo lại. Nhà sư đọc câu kệ rằng:
“Hình hài như nghịch lữ,
Tâm không cảnh diệc không
Ngưng nhiên nhất vị ngộ
Ứng vạn vật duyên đồng”.
Nghĩa là: Hình thể con người ở đời như cái quán trọ, trong lòng hư không tất cả đều hư không. Lặng thinh một mùi vị ngộ đạo, ứng tiếp vạn vật chung một nhân duyên.
Đọc xong cây kệ thì đi đâu mất không thấy xuất hiện. Man Nương cúi đầu lạy tạ rồi trở về nhà.
Hồi đó trời nắng hạn ba năm không có một giọt nước mưa. Các giếng khô kiệt, riêng có giếng nhà Tu Định nước lúc nào cũng đầy ăm ắp. Nhân dân trong thành nhiều người được uống nhờ ơn đức. Sĩ Vương nghe tin, liền hỏi nguyên nhân thế nào. Man Nương cho người đem đầu đuôi câu chuyện báo cáo cho Vương hay. Vương cho người vào núi tìm sư, ba lần đi ba lần về không, chẳng biết sư trụ trì ở đâu. Vương lại vời Man Nương đến truyền lệnh cho nàng vào rừng tìm sư về thành làm phù phép khu trừ hạn hán giúp nước cứu dân. Nàng vâng lệnh vào rừng, gặp sư ngồi nhập định dưới bóng cây to. Nàng bạch sư về sắc lệnh của Vương mời làm phép hộ quốc cứu dân qua cơn tai nạn. Sư nghe lời trở về, liền hô gió gọi mưa, biến hóa, bay nhảy trên không, hóa phép thư phù, chẳng đầy chớp mắt thì mưa đổ như trút. Khi ấy trong nước từ trên xuống dưới, không ai là không tỏ ra sung sướng, không một vật nào không tỏ vẻ sinh dưỡng trưởng thành.
Sau này gió bão nổi lên bật hẳn cây gỗ lớn theo lũ cuốn trôi xuống sông Long Biên, từ từ trôi đến bến thành Luy Lâu thì dừng lại. Mọi người đều nghe thấy trong thân cây văng vẳng có tiếng âm nhạc. Chẳng những thế mà cái cây cây gỗ lớn ấy còn tỏa ra mùi thơm ngào ngạt và dọi ánh hào quang rực rỡ. Dân đem việc lạ ấy tâu lên Sĩ Vương. Vương ngầm ra coi thấy quả nhiên như vậy. Ngày hôm sau Vương sai lực sĩ kéo cây gỗ lên bờ sông. Vương thấy cây gỗ rất chắc, có ý muốn xẻ ra để xây dựng điện Kính Thiên nhưng chưa quyết định. Đêm hôm ấy Sĩ Vương chiêm bao thấy một vị quan trưởng đầu đội mũ hoa đến trước mặt Vương nói: “Nay ta cùng ngài nên mở mắt mà coi: tám nghìn năm trở về trước, ta với ngài vốn là người quen thuộc”. Vương tỉnh dậy bèn đem việc chiêm bao ấy nói cho quân thần nghe. Trong số này có người nói: “Cây gỗ để ở bên thành rất thiêng sao không lấý nó để tạc thần tượng”. Ngay hôm ấy Vương cho mời người thợ mộc là Đào Độ cắt cây gỗ ra làm bốn đoạn để tạc bốn pho tượng. Ở giữa đoạn gỗ thứ nhất trong lòng có một hòn đá, người thợ mộc đem hòn đá ấy ra sông rửa, chẳng ngờ sểnh tay rơi xuống sông mất.
Sau khi tạc xong bốn pho tượng, Vương mở hội khánh thành, bỗng nhiên mây kéo đen nghịt, mưa đổ xuống, sấm nổi lên, chớp sáng lòe, nhân đó Vương đặt tên cho bốn pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và viết bài thơ rằng:
Nam bang sơn nhạc giáng thần linh
Văn hiến khai đoan hiển Phật kinh
Thánh mẫu quả nhiên sinh thánh tử
Cam lâm nhuận trạch hậu dân sinh.
Nghĩa là: Núi non nước Nam có thần linh giáng thế, mở nguồn văn hiên cho nên kinh Phật được sáng rõ, mẹ thánh quả nhiên sinh ra con thánh, mưa ngọt nhuần thấm bồi đắp cuộc sống cho dân.
Vương bảo quần thần: “Sông núi giáng linh cho nên được bốn pho thần tượng này, thật là một sự kiện kỳ diệu của nghìn muôn năm. Hơn nữa thần còn hiển linh cứu hạn hán cho dân thật là tuyệt vời. Các người nên tìm nơi đất danh thắng, lập đền thờ phụng các ngài.”
Khi ấy có thầy địa lý chính tông tên là Quách Thông tâu rằng: “Bốn pho tượng thánh nên chia ra các đền để thờ phụng khiến cho ơn đức của thánh thấm đến muôn dân. Phương Nam của ta thuộc “bính đinh”, nếu được vị thần anh linh để trấn thủ thì thật là ngôi phúc tinh của một xứ sở vậy. Thần trước đây có đi qua Sơn Nam thấy ở địa phận xã Gia Phúc, tổng La Phù, huyện Thượng Phúc có một kiểu đất sơn thủy triều phục, ở giữa có một cái gò nổi lên hình như bông sen ở trong tấm gương sáng. Bên cạnh có chuông trống, đằng trước có hình nhà sư bái lễ. Đất này thật là đất danh lam thắng cảnh”.
Vương bèn thân hành đến thăm, nhìn khắp trước sau quả nhiên đúng như lời của Quách Thông. Vương bèn sai xây dựng lâu đài đồ sộ như điện Kính Thiên, cho rước tượng thánh Pháp Vũ về thờ và đặt tên là chùa Thành Đạo. Vua bèn đề thơ ở chùa, thơ rằng:
Trùng trùng dũng địa xuất hồng liên
Chính khí chung lại bảo điện tiền
Lệ nhuận tây thiên tân đông vũ
Hùng khoa nam hải cựu sơn xuyên
Ngọc khê nguyệt đạm khai từ kính
Hương các phong lại tấu tuệ huyền
Tối thượng cập nhập đa phúc trạch
Huyền công vô lượng cánh vô lương.
Dịch nghĩa: Hoa sen hồng điệp trùng nổi lên mặt đất. Chính khí hun đúc trước điện báu. Vẻ tươi đẹp nổi bật nếp lâu đài của trời Tây, thế hùng mạnh ca ngợi non sông cũ của biển Nam. Ánh trăng nhạt soi suối ngọc như mờ tấm gương từ bi. Gió thổi vào gác thơm như dạo khúc đàn trí tuệ. Nhiều phúc trạch thấm nhuần đến con người là điều hơn hết, công huyền diệu đã là vô lượng càng là vô biên.
Còn ba pho thần tượng mỗi pho thờ tại một nơi. Tượng thánh Pháp Vân đặt tại chùa Thiền Định; tương thánh Pháp Lôi đặt tại chùa Phi Tướng; tượng thánh Pháp Điện đặt tại chùa Trí Quả, gần với chỗ ở của thánh mẫu (tức thân mẫu của bốn vị thánh).
Tương truyền khi mới rước vào chùa, ba pho tượng đều nhẹ, riêng có pho tượng Pháp Vân rất nặng nhấc lên không được. Sĩ Vương vời người thợ đến hỏi, người thợ mộc đem cái vết hòn đá trong gỗ trình bày cho Vương biết. Vương liền cho người thuyền chài xuống sông mò hòn đá ấy. Họ thấy ánh hào quang rực rỡ ở dưới sông soi thấu vào người nên không dám đến gần. Thuyền chài lên tâu Vương. Vương liền sai Man Nương xuống sông tìm hòn đá ấy. Man Nương vâng lệnh đến bến sông. Khi đó, hòn đá bỗng nhảy lên bờ. Man Nương ôm hòn đá ấy về trình lên Vương. Vương cho thợ đặt nó vào pho tượng Pháp Vân, pho tượng bỗng nhẹ hẳn lên. Vương lấy làm lạ, bèn đặt tên cho pho tượng Pháp Vân là “Thạch Quang Vương Phật”. Qua đó mới hay đoạn gỗ tạc tượng Pháp Vân đúng là cái đoạn gỗ đã ôm “đứa bé của Đà La” do Man Nương sinh hạ. Nhân đó, Vường tưởng nhớ ơn đức của nhà sư Khâu Đà La, liên sai sứ giả mang hương hoa lễ vật vào rừng xanh lạy tạ. Song sứ giả không tìm thấy tung tích của sư đâu cả, mà chỉ thấy bài kệ vạch ở da cây:
Kham than tuế mạo lão dư linh
Thả hỉ bang gia tứ hải thanh
Yếu sử cơ niên quy khứ sở
Bạch vân thâm xứ tủng đình đình.
Dịch nghĩa: Đáng tiếc tuổi tác đã già. Song mừng thấy nước nhà thanh bình bốn bể. Qua một năm thấy chốn đi về. Đó là nơi mây trắng xa xăm, cao vời vợi.
Sư Đà La hóa đi hay là đi truyền giáo ở nước khác cũng không rõ dấu vết thế nào. Hiện tại trước cửa chùa Thiên Định có một cái mả, người đời đều kêu là mả Man Nương, còn gọi là mả thánh mẫu. Hiện còn di tích ghi lại để nhớ.
Sau này bốn vị thánh “Tứ Pháp” (Pháp Vũ, Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Điện) rất anh linh, các nơi đều có lập đền thờ phụng sự. Ngoài thân cây gỗ đã tạc tượng ra còn các cành cội của nó đều được nhân dân đến lấy về tạc tượng hoặc đem yểm tâm cho pho tượng sẵn có. Thánh Tứ Pháp rất anh linh, năm nào đại hạn, cầu đảo đều mưa, nhân dân cầu phúc, cầu tự, cầu tài đều linh ứng rất nhanh. Đức thánh Pháp Vân, trong nước những nơi danh lam thắng cảnh đều có thờ phụng, kể không sao xiết. Chẳng hạn chỉ kể một vài nơi ở Hưng Yên như xã Dị Sử ở Đương Hào, xã Cầu Tu và Đặng Xá ở Ân Thi, xã Bình Kiều ở Đông Yên đều có lập đền thờ. Từ Đông Hán đến Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm ba trăm bốn mươi chính năm, tựu trung có chùa Pháp Vân ở Đặng Xá đã được nước đảo dân cầu, đèn hương bất diệt, hiển ứng vô cùng. Trải các triều Đinh, Lê, Lý… khai sáng nghiệp lớn, các ngài đều hiển linh giúp nước giúp dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, cho nên lịch đại đế vương đều có gia phong duệ hiệu.

Quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa

Trích sách SA HUỲNH – LÂM ẤP CHĂMPA của Lâm Thị Mỹ Dung (2017).
LTMD1.2. Quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa: Kết quả nghiên cứu và vấn đề.
… Bàn về những mối quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa sớm đã có trên mười ý kiến và cũng khoảng chừng nấy đánh giá về chuỗi văn hóa – lịch sử Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa, tựu trung lại chúng có thể được nhóm vào hai dạng nhận định chính, dạng thứ nhất cho rằng Lâm Ấp – Chămpa có nguồn gốc từ Sa Huỳnh và dạng thứ hai thì ngược lại.
Dạng thứ nhất: Đây là những ý kiến thiên về sự chuyển tiếp rõ ràng từ thời Sa Huỳnh sang thời Lâm Ấp – Chămpa. Đại bộ phận các nhà khoa học đại diện cho ý kiến này chủ yếu dựa vào quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, lôgic sử học… nhưng chưa đưa ra được nhiều những tài liệu khảo cổ học cụ thể do tình trạng thiếu vắng nghiên cứu khảo cổ học cư trú Chămpa những năm trước đây.

Hà Văn Tấn là người đại diện tiêu biểu cho ý kiến về dòng chảy văn hóa nối tiếp và liên tục giữa Sa Huỳnh và Chămpa khi ông cho rằng chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh nói tiếng Nam Đảo hay Mayo-Polynesien và văn hóa Sa Huỳnh kéo dài đến giáp Công nguyên. Nước Lâm Ấp của Khu Liên thành lập vào cuối thế kỷ 2 theo thư tịch cổ Trung Hoa theo ông chắc chắn là Chămpa, quốc gia của người Chăm, những chứng cứ khác là tấm bia Võ Cạnh đề cập đến quốc gia với người sáng lập là Sri Mara. Hà Văn Tấn cho rằng không thể đồng ý với quan điểm cho rằng người Chăm đã đuổi cư dân Sa Huỳnh đi để lập ngay các quốc gia của mình, theo ông, cách giải thích hợp lý nhất là cho rằng chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ tiên trực tiếp của những cư dân đã xây dựng các quốc gia Chămpa. Vào khoảng gần Công nguyên, cư dân Sa Huỳnh nói một thứ ngôn ngữ Nam Đảo không khác nhiều lắm thứ tiếng Chăm trên bia Đông Yên Châu thế kỷ thứ 4, nhưng trong khu vực văn hóa Sa Huỳnh, còn có những nhóm Nam Á cổ mà sự tiếp xúc lâu dài với các ngôn ngữ này đã làm cho tiếng Chàm có nhiều yếu tố Nam Á.
Đáng lưu ý là ý kiến sau đây của ông…: “Sức sản xuất của cư dân Sa Huỳnh không kém gì Đông Sơn. Phải chăng từ trong lòng văn hóa Sa Huỳnh, Nhà nước đã xuất hiện? Và quốc gia Chăm mà Khu Liên đã lập nên, phải chăng chỉ là sự tái sinh, sau một thời kỳ bị người Hán xâm chiếm? và phải chăng quốc goa Chàm ở phía Nam đèo Cù Mông, nơi quá xa sự khống chế của người Hán, là bộ phận vẫn tiếp nối nhà nước thời Sa Huỳnh?”…

Những ý kiến nhận định dạng thứ hai:
Diệp Đình Hoa trong nhiều bài nghiên cứu của mình luôn kiên trì quan điểm Trung và Nam Trung bộ thời sơ sử thuộc không gian văn hóa Việt cổ và chủ nhân của Lâm Ấp là một bộ phận người Âu Lạc, Chămpa sau đó thay thế Lâm Ấp. Theo ông:
i. Đất Việt Thường thị thời Hùng Vương là vùng Nghĩa Bình – Phú Khánh (…).
ii. Gốc nguồn của cư dân Lâm Ấp – Hoàn Vương liên quan đến những người Lạc Việt. Sau khi Âu Lạc bị diệt thì chỉ còn một bộ phận nhỏ của cư dân quận Nhật Nam giữ được vị trí độc lập của mình qua sự thành lập nước Lâm Ấp. Trước sự bành trướng xâm lược của phong kiến phương Bắc, chỉ có cư dân Văn Lang ở huyện cuối cùng của quận Nhật Nam là giữ được độc lập của mình qua sự thành lập nước Lâm Ấp;
iii. Nhà nước Chămpa thay thế nhà nước Lâm Ấp và sự phát sinh, hưng thịnh của vương quốc Chămpa đã làm cho lớp cư dân này (tức cư dân Lạc Việt, chủ nhân của Lâm Ấp) lên vùng Tây nguyên hoặc đi ra vùng biển cả mênh mông. Tuy vậy, theo ông vẫn có mối liên hệ giữa Lâm Ấp với Chămpa vì những thành tựu mà người Lâm Ấp, cư dân cũ của quận Nhật Nam thời Hùng Vương, tiếp thu từ Ấn Độ, sau này đã được vương quốc cổ Chiêm Thành phát huy một cách sáng tạo…
Không ít người thường có nhận định văn hóa Sa Huỳnh là nguồn gốc trực tiếp của văn hóa Chămpa, nhưng thực tế khảo cổ học với sự kết thúc của văn hóa Sa Huỳnh còn có một khoảng cách vài thế kỷ mới đến sự hình thành vương quốc Chămpa. Đây chỉ là thời kỳ liên minh, liên hợp của nhiều tiểu quốc có nhiều nét tương đồng về văn hóa. Những cư dân của các tiểu quốc này có thể là người tiền Chămpa, hoặc những người thuộc ngữ hệ Nam Á, có những nhóm chịu tác động của Trung Quốc, có những nhóm chịu ảnh hưởng của Ấn Độ” (Diệp Đình Hoa)…

Ý kiến của Nguyễn Duy Hình:… địa bàn của Lâm Ấp chủ yếu phân bố từ Hoành Sơn đến đèo Cả. Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận không thuộc nước Lâm Ấp mà chỉ là bộ phận của nước Chiêm Thành tức Chămpa, cộng đồng Bắc – Lâm Ấp chịu ảnh hưởng của văn hóa Lạc Việt, văn hóa Trung Hoa sâu đậm, cộng đồng này cũng đã chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ sâu đậm hơn các quận Cửu Chân, Giao Chỉ phương Bắc.
… người Sa Huỳnh không phải là người Tiền Chămpa mà thị tộc Dừa và thị tộc Cau mới là người Tiền Chămpa…

Ý kiến của M. Vickery: trong công trình… Champa Revised…:
i. Lâm Ấp về mặt ngôn ngữ là Mon-Khmer do nhóm tộc người chính của Lâm Ấp là Mon-Khmer, có thể là nhánh Katuic, hay thậm chí nhánh của Vietic hay Việt – Mường.
ii. Lịch sử Lâm Ấp cần được tách ra khỏi Chămpa sớm.
iii. Chămpa chưa bao giờ thống nhất và những ghi chép chỉ đề cập tới một phần của Chămpa và không thể dùng tài liệu của từng phần ngoại suy cho phần còn lại.
iv. Từ ý trước, Chămpa cần được xem xét như thực thể tồn tại trong thời gian của ít nhất là ba vùng quan trọng ngang nhau. Đó là: 1. Bắc – gồm thung lũng sông Thu Bồn (Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương / Indrapura và mở rộng ở một khoảng thời gian nào đó đến Quảng Trị và Quảng Bình; 2. Nha Trang và 3. Phan Rang / Panduranga…