Sử kí – Tây Nam Di liệt truyện

Dịch giả: Tích Dã

Hán – Tư Mã Thiên soạn
Lưu Tống – Bùi Nhân tập giải
Đường – Tư Mã Trinh sách ẩn, Trương Thủ Tiết chính nghĩa.

Có hàng chục quân trưởng người Di ở miền tây nam, Chính nghĩa: Ở phía nam của quận Thục. trong đó lớn nhất là quân trưởng nước Dạ Lang. Sách ẩn: Tuân Duyệt nói: “Là nước thuộc quận Kiền Vi.” Vi Chiêu nói: “Nhà Hán đặt thành huyện, thuộc quận Tang Kha.” Xét: Hậu Hán thư chép: “Nước Dạ Lang phía đông liền quận Giao Chỉ, nước này ở phía nam hồ, có quân trưởng vốn sinh ra từ cây tre, nhân đó lấy làm họ Trúc.” Chính nghĩa: Là các châu Khúc-Hiệp ở bờ nam sông lớn của châu Lư, vốn là nước Dạ Lang. Phía tây nước ấy có hàng chục quân trưởng người Mi Mạc, Chính nghĩa: Ở phía nam đất Thục xuống phía dưới về phía tây. Huyện Mi Phi ở phía bắc châu Diêu, cách tây kinh bốn ngàn chín trăm ba mươi lăm dặm về phía nam là chỗ của người rợ Mi Mạc. Sách ẩn: Là tên ấp của người Di, quân trưởng ấp này cùng họ với quân trưởng nước Điền. lớn nhất là quân trưởng nước Điền. Tập giải: Như Thuần nói: Điền, đọc là ‘điên’. Ngựa điên có từ nước này.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Sau đặt thành huyện, là chỗ mà quan Thái thú quận Việt Tủy đóng sở trị.” Chính nghĩa: Các châu Côn-Lang vốn là nước Điền, cách tây kinh năm ngàn ba trăm bảy chục dặm. Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Điền lên phía bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Cung Đô, người ở đây đều búi tóc, cày ruộng, có làng ấp. Ở phía tây ngoài chỗ ấy từ huyện Đồng Sư về phía đông, Sách ẩn: Hán thư chép là huyện Đồng Hương. phía bắc đến huyện Diệp Du Tập giải: Vi Chiêu nói: “Tại quận Ích Châu. Diệp, đọc là ‘diệp’.” Chính nghĩa: Có đầm Diệp ở phía bắc châu Mi hơn một trăm dặm. Huyện Diệp Du thời Hán ở phía tây đầm Trạch. Huyện Mi Phi quận Ích Châu vốn là nước thuộc Diệp Du Vương. là chỗ của người Tủy, người Côn Minh, Tập giải: Từ Quảng nói: “Quận Vĩnh Xương có huyện Tủy Đường.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Là tên hai nước.” Vi Chiêu nói: “Tủy là huyện thuộc quận Ích Châu.” Chính nghĩa: Tủy, đọc là ‘tủy’, là châu Tủy ngày nay. Côn Minh là huyện thuộc châu Tủy, có lẽ phía nam liền huyện Côn Minh, nhân đó đặt tên ấy. người ở đây đều bện tóc, dời theo bầy vật nuôi, không thường ở một chỗ, không có quân trưởng, đất rộng khoảng mấy ngàn dặm. Có hàng chục quân trưởng ở từ chỗ của người Tủy về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Tư-Tạc. Tập giải: Từ Quảng nói: “Huyện Tư tại quận Hán Gia. Tạc, đọc là ‘tạc’, tại quận Việt Tủy.” Sách ẩn: Phục Kiền nói: “Là tên hai nước.” Vi Chiêu nói: ” Huyện Tư thuộc quận Thục, huyện Tạc thuộc quận Việt Tủy.” Chính nghĩa: Tư, đọc là ‘tư’. Quát địa chí chép: “Châu Tạc vốn là chỗ ngoài phía tây quận Thục, là chỗ của người Miêu Khương, người Tủy. Địa lí chí chép: “Có huyện Tư.” Hoa dương quốc chí chí chép: “Núi Cung Hiệp thuộc châu Nhã vốn là núi Cung Tạc, là chỗ của người nước Cung, người nước Tạc.Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Tạc Đô về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Nhiễm Mang, Sách ẩn: Xét: Ứng Thiệu nói: “Quận Vấn Giang vốn là nước Nhiễm Mang. Đọc là ‘vô giang’ phiên.” Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Là chỗ của người Khương ngoài phía tây quận Thục, các châu Mậu-Nhiễm vốn là nước Nhiễm Mang. Hậu Hán thư chép là trong núi nước Nhiễm Mang có sáu nhóm người Di, bảy nhóm người Khương, chín nhóm người Đê, đều có bộ lạc.” người dân ở đây có thói ở một chỗ hoặc di chuyển, chỗ này ở phía tây của quận Thục. Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Nhiễm Mang về phía đông bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Bạch Mã, Sách ẩn: Là tên ấp của người rợ, là người Đê Bạch Mã. Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Các châu Thành-Vũ ở miền Lũng Hữu đều là chỗ của người Đê Bạch Mã, quân trưởng nước ấy là người họ Dương trú ở trên núi Cừu Trì châu Thành.” đều là người Đê. Đấy đêu là người Man-Di ở ngoài phía tây nam quận Ba-Thục.

Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Cược đem quân ngược theo sông Giang đánh lấy các nước từ quận Ba-Thục-Kiềm Trung về phía tây. Chính nghĩa: Đọc là ‘kì lược’ phiên. Các châu Lang-Côn là chỗ mà Trang Cược làm vua. Trang Cược vốn là dòng dõi của Trang Vương nước Sở. Sách ẩn: Cược, đọc là ‘cự chước’ phiên. Là em của Trang Vương nước Sở, từng làm kẻ cướp. Cược đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Quận Ích Châu có huyện Điền Trì, có đầm ở phía tây bắc.” Hậu Hán thư chép: “Nguồn nước đầm này sâu rộng, lại đổi thành nông hẹp như dòng nước chảy ngược, cho nên gọi là đầm Điền.” bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba-Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu. Thời nhà Tần thường mở đường năm thước, Sách ẩn: Là nói đường sàn rộng năm thước. Chính nghĩa: Quát địa chí chép: “Đường năm thước ở châu Lang.” Nhan Sư Cổ nói: “Chỗ ấy chật hẹp, cho nên đường chỉ rộng năm thước.” có đặt quan lại ở một số nước ấy. Được hơn chục năm thì nhà Tần mất. Kịp lúc nhà Hán nổi lên lại đều bỏ các nước ấy mà chỉ mở đường nhỏ ở quận Thục. Có người dân ở quận Ba-Thục lẻn ra buôn bán, thu mua ngựa của người Tạc, nô lệ và bò lông dài của người Bặc, Chính nghĩa: Các châu Ích-Nam Nhung ngày nay phía bắc kề núi lớn là nước Bặc xưa. Sách ẩn: Vi Chiêu nói: “Huyện Bặc thuộc quận Kiền Vi, đọc là ‘bồ bắc’ phiên. Phục Kiền nói: “Lúc trước ở kinh sư có kẻ hầu gái người Bặc.”, do đó người quận Ba-Thục giàu có.

Năm Kiến Nguyên thứ sáu (năm 135 TCN), quan Đại hành là Vương Khôi đánh nước Đông Việt, người nước Đông Việt giết vua của mình tên là Sĩnh để báo tin. Khôi nhân oai quân sai quan Lệnh huyện Bà Dương là Đường Môn đến báo cho vua nước Nam Việt biết. Vua nước Nam Việt mời Mông ăn món tương củ. Tập giải: Từ Quảng nói: Củ, đọc là ‘cũ’. Bùi Nhân xét: Hán thư âm nghĩa chép: “Cây củ giống cây lúa nhưng lá như lá cây dâu, lấy lá của nó để làm giấm tương, ngon, người quận Thục cho là món ăn quý.” Sách ẩn: Xét: Lưu Đức nói: “Cây củ như cây dâu, quả của nó dài hai-ba tấc, vị chua, lấy hạt của nó để làm tương, ngon.” Lại nói: “Cây củ leo cây khác mà lớn lên, không phải là cây gỗ. Người đất Thục ngày nay có trồng cây này, quả như quả dâu nhưng vị cay như gừng, không chua.” Lại chú rằng lá như lá cây dâu là sai. Quảng chí chép: “Quả màu đen, vị cay, trừ hơi tiêu cơm.” Mông hỏi từ đâu, nói: “Theo đường sông Tang Kha ở phía tây bắc, sông Tang Kha rộng mấy dặm, Chính nghĩa: Thôi Hạo nói: “‘Tang kha’ là cọc buộc thuyền.” Hoa dương quốc chí của họ Thường chép: “Vào thời Khoảnh Tương Vương nước Sở sai Trang Cược đánh nước Dạ Lang, đem quân đến nước Thư Lan, buộc thuyền ở bờ rồi lên đánh trên đất. Đã diệt nước Dạ Lang, cho là nước Thư Lan có cọc buộc thuyền, bèn đổi tên nước ấy thành nước Tang Kha. qua dưới thành Phiên Ngu.” Mông về đến thành Tràng An, hỏi nhà buôn đến từ quận Thục, nhà buôn nói: “Riêng quận Thục có món tương củ, lén đem nhiều ra bán ở nước Dạ Lang. Nước Dạ Lang kề sông Tang Kha, sông này rộng hơn một trăm bước, đủ để đi thuyền. Vua nước Nam Việt đem tiền của đến để sai khiến người nước Dạ Lang, phía tây đến ấp Đồng Sư, nhưng cũng không bắt người các nước ấy thần phục được.” Mông bèn dâng thư khuyên nhà vua rằng: “Vua nước Nam Việt ngồi xe lọng vàng cắm cờ tiết bên trái, có đất rộng hơn vạn dặm trải từ đông sang tây, mang tiếng là bầy tôi ở ngoài nhưng thực là chúa của một châu. Nay đem quân từ các quận Trường Sa-Dự Chương đến đánh thì đường sông có nhiều chỗ ngăn cách, khó đi. Thần trộm nghe nước Da Lang có được khoảng chục vạn quân mạnh, nếu chèo thuyền theo sông Tang Kha mà ra chỗ người ta không ngờ đến tới cũng là một cách hay để đánh người Việt vậy.” Nhà vua nghe theo. Bèn bái Mông làm Lang trung tướng đem một ngàn người, hơn một vạn người chở đồ dùng tiền lương theo từ đường cửa Tạc quận Ba-Thục đi vào, rồi gặp vua nước Dạ Lang tên là Đa Đồng. Mông ban cho nhiều đồ dùng, tỏ uy đức để dụ, hẹn đặt ra quan lại, sai con của Đa Đồng làm quan Lệnh. Người các ấp nhỏ kề nước Dạ Lang đều ham tơ lụa của nhà Hán, lại cho là con đường mà quân nhà Hán hiểm trở nên chẳng đánh lấy mình được, nèn nghe theo lời hẹn của Mông. Mông về báo, liền lập nên quận Kiền Vi, phát lính của quận Ba-Thục sửa đường từ nước Bặc thẳng đến sông Tang Kha. Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Nước Dạ Lang lại có sông Đồn, phía đông chảy đến huyện Tứ Hội quận Nam Hải mà vào biển, đấy là sông Tang Kha. Người quận Thục là Tư Mã Tương Như cũng nói nên đặt quận ở các nước Cung-Tạc của người Di miền tây nam. Bèn sai Tương Như làm Lang trung tướng đến dụ, cùng đến chỗ người Di miền tây nam, đặt ra một quan Đô úy, hơn chục huyện, thuộc vào quận Thục.

Vào lúc ấy, người bốn quận Ba-Thục Tập giải: Từ Quảng nói: “Là các quận Hán Trung-Ba-Quảng Hán-Thục.” mở đường đến chỗ người Di miền tây nam, chở lương ăn đến cấp. Được mấy năm mà đường chẳng thông, rất nhiều quân lính đói mệt gặp phải hơi ẩm mà chết; mà người Di miền tây nam lại nhiều lần làm phản, phát binh đến đánh cũng tổn hao không có công gì. Nhà vua lo, sai Công Tôn Hoằng đến hỏi xem việc ấy. Hoằng về báo nói là việc ấy không được lợi. Kịp lúc Hoằng làm Ngự sử đại phu là lúc lúc đang đắp thành Sóc Phương để dựa vào sông Hà đuổi rợ Hồ, Hoằng nhân đó nói người Di miền tây nam gây hại, nên tạm bỏ, dốc sức đánh nước Hung Nô. Nhà vua bèn bỏ việc đến chỗ người Di miền tây nam, chỉ đặt một quan Đô úy của hai huyện thuộc nước Dạ Lang ở miền tây nam, lại sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy. Chính nghĩa: Sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy mà dần dần tu sửa quận huyện của mình.

Kịp đến năm Nguyên Thú thứ nhất (năm 122 TCN), Bác Vọng Hầu là Trương Khiên đi sứ nước Đại Hạ về nói là lúc ở nước Đại Hạ có thấy vải của người quận Thục, gậy tre của của người nước Cung, Tập giải: Vi Chiêu nói: “Là tre của người huyện Cung thuộc quận Thục.” Toản nói: “Cung là tên núi, đốt tre ở đấy cao mà ống đặc, làm gậy được.sai người hỏi đến từ đâu, nói: “Từ nước Thân Độc phía đông nam, Tập giải: Có bản Sử kí chép là nước Can Độc. Bùi Nhân xét: Hán thư âm nghĩa chép: “Còn có tên là nước Thiên Trúc, là nước của rợ Hồ có Phù Đồ.” cách khoảng mấy ngàn dặm, mua được từ nhà buôn quận Thục.” Có người nói là phía tây nước Cung khoảng hai ngàn dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nói to lên là nước Đại Hạ ở phía tây nam của nhà Hán rất thích đến Trung Quốc, nhưng lo người Hung Nô chặn đường đi. Nếu mở đường từ quận Thục đến nước Thân Độc lại gần mà có lợi không có hại. Do đó thiên tử liền sai bọn Vương Nhiên Vu, Bách Thủy Xương, Lữ Việt Nhân đi sứ, ra từ phía tây của chỗ người Di miền tây nam để đến nước Thân Độc. Đến nước Điền, vua nước Điền tên là Thường Khương bèn giữ lại, giúp cho hơn chục nhóm người tìm đường về phía tây. Hơn một năm đều bị người Côn Minh chặn lại, Tập giải: Như Thuần nói: “Bị người Côn Minh chặn đường.” Chính nghĩa: Người Côn Minh ở phía nam châu Tủy, là huyện Côn ngày nay. chẳng ai đến được nước Thân Độc.

Vua nước Điền nói chuyện với sứ giả của nhà Hán rằng: “Nhà Hán so với nước ta thì ai lớn hơn?” Kịp lúc đó vua nước Dạ Lang cũng hỏi như vậy. Là vì đường không thông, đều tự cho là chúa của một châu mà không biết nhà Hán rộng lớn đến nhường nào. Sứ giả về, đều nói to lên rằng nước Điền là nước lớn, đủ để thân thiết. Thiên tử cũng để ý đến nước ấy.

Kịp đến lúc vua nước Nam Việt làm phản, nhà vua sai Trì Nghĩa Hầu đến quận Kiền Vi phát quân người Di miền tây nam đi đánh. Vua nước Thư Lan sợ đi xa Sách ẩn: Thư, đọc là ‘tử dư’ phiên. Là tên nước nhỏ. Sau đặt thành huyện thuộc quận Tang Kha. thì người nước bên bắt lấy kẻ già yếu của mình, bèn dấy binh của nước mình làm phản, giết sứ giả và Thái thú quận Kiền Vi. Nhà Hán bèn sai tám viên Hiệu úy phát người có tội ở quận Ba-Thục từng đánh nước Nam Việt quay về đánh phá nước ấy. Gặp lúc nước Nam Việt đã bị phá, tám viên Hiệu úy của nhà Hán không xuống phía dưới, liền dẫn binh về đi đánh nước Thư Lan, là nước chặn đường đến nước Điền. Đã phá nước Thư Lan, rồi dẹp người Di miền tây nam đặt thành quận Tang Kha. Vua nước Dạ Lang lúc trước cậy thế của nước Nam Việt, kịp lúc quân Hán đã diệt nước Nam Việt mà quay về đánh các nước làm phản, vua nước Dạ Lang bèn vào chầu. Nhà vua cho làm Dạ Lang Vương.

Sau khi nước Nam Việt bị phá, kịp lúc quân Hán đánh diệt các nước Thư Lan-Cung Đô, lại giết vua của nước Tạc Đô, vua các nước Nhiễm Mang đều sợ hãi, xin thần phục đặt quan lại. Nhà Hán bèn lấy nước Cung Đô đặt thành quận Việt Tủy, lấy nước Tạc Đô đặt thành quận Thẩm Lê, lấy nước Nhiễm Mang đặt thành quận Vấn San, Tập giải: Ứng Thiệu nói: “Là huyện Mân Giang quận Thục ngày nay.” lấy đất của người Bạch Mã phía tây quận Quảng Hán lập nên quận Vũ Đô.

Nhà vua sai Vương Nhiên Vu đưa tin oai quân phá nước Nam Việt và người Di miền tây nam đến khuyên dụ vua nước Điền vào chầu. Vua nước Điền còn có mấy vạn quân, phía đông bắc kề mình có người các nước Lao Tẩm-Mi Mạc Sách ẩn: Lao Tẩm, Mi Mạc là hai nước có cùng họ với vua nước Điền. đều là người cùng họ giúp nhau, chưa chịu nghe theo. Người Lao Tẩm-Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả, quan quan. Năm Nguyên Phong thứ hai (năm 109 TCN), thiên tử phát quân của miền Ba-Thục đánh diệt các nước Lao Tẩm-Mi Mạc, đem quân đến nước Điền. Lúc ấy vua nước Điền mới chịu theo hàng, cho nên không giết. Vua nước Điền rời khỏi chỗ người Di miền tây nam, đem người cả nước ra hàng, xin đặt quan lại rồi vào chầu. Do đó lấy nước Điền đặt nên quận Ích Châu, bán ấn vương cho vua nước Điền, sai lại làm vua của dân mình như trước.

Có đến hàng trăm quân trưởng của người Di miền tây nam, nhưng chỉ có vua các nước Dạ Lang-Điền nhận ấn vương. Điền là nước nhỏ mà được sủng ái nhất.

Thái sử công nói: Tổ tiên của vua nước Sở há có lộc trời chăng? Vào thời nhà Chu thì làm thầy của Văn Vương, được phong ở nước Sở. Kịp lúc nhà Chu suy mà vẫn có đất rộng năm ngàn dặm. Nhà Tần diệt chư hầu mà riêng dòng dõi của vua nước Sở còn làm vua nước Điền. Nhà Hán diệt người Di miền tây nam, nhiều nước bị mất nhưng riêng nước Điền được sủng ái. Mầm mối đến chỗ người Di miền tây nam là việc thấy tương củ ở thành Phiên Ngu, gậy tre của nước Cung ở nước Đại Hạ. Sau đó người Di miền tây nam bị chia cắt thành hai miền, Sách ẩn: Ý nói sau này người Di miền tây nam bị xua đuổi đi, rồi chia ở hai miền góc tây nam, đều thuộc quận huyện. cuối cùng đặt thành bảy quận. Tập giải: Từ Quảng nói: “Là các quận Kiền Vi, Tang Kha, Việt Tủy, Ích Châu, Vũ Đô, Thẩm Lê, Vấn Sơn.”

Sách ẩn: Thuật tán rằng:

“Ngoài cõi tây nam,
Trang Cược mở đường,
Biết nước Đại Hạ,
Bèn sai Đường Mông,
Lao Tẩm, Mĩ Mạc,
Lạ tục khác phong,
Dạ Lang lớn nhất,
Cung-Tạc xưng hùng,
Kịp đặt quận huyện,
Muôn đời ghi công.”

VĂN BIA ĐẠI TÙY-THỨ SỬ LÊ HẦU VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ 6-7

Bài viết Trần Trọng Dương. Văn bia Đại Tùy Cửu Chân – Thứ sử Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ VI-VII. Suối nguồn. Nxb Hồng Đức. 2014. tr.13- 72.

Tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn được giáo sư Đào Duy Anh phát hiện năm 1960 và ông đã công bố một bài nghiên cứu vào năm 1963. Tấm bia được tìm thấy tại đền thờ Lê Cốc (hay Lê Ngọc) làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Giáo sư Đào gọi là “bia cổ Trường Xuân”, học giả Trần Văn Giáp gọi là “bia đời Tùy”, nay chúng tôi gọi tắt là “bia Đại Tùy Cửu Chân” để tiện trình bày. Văn bia hiện đang lưu trữ tại khu trưng bày hiện vật giai đoạn Bắc thuộc (tầng 1) trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội. Tác giả bài văn bia này là Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử Xá nhân, Nguyên Nhân Khí người ở Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc (xem chú thích 11 trong phần dịch). Văn bản được khắc vào năm Nhâm Dần, ghi niên hiệu đời nhà Tùy năm Đại Nghiệp thứ 14 (618). Từ năm 1960 đến năm 2012, văn bia này được coi là hiện vật văn hiến có niên đại sớm nhất tại Việt Nam [Đào Duy Anh 1963, Trần Văn Giáp 1969, Trịnh Khắc Mạnh 2008], trong đó có chứa nhiều sử liệu có giá trị không thấy được ghi nhận trong các bộ sử lớn của Trung Quốc và Việt Nam. Bài viết này sẽ tiến hành nghiên cứu về vấn đề văn bản học, sử liệu học của văn bia Đại Tùy để từ đó góp phần soi sáng những góc khuất chưa từng biết đến của lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỷ thứ sáu đến đầu thế kỷ thứ bảy.

1. Một số vấn đề văn bản học của bia Đại Tùy Cửu Chân

Tấm bia Đại Tùy Cửu Chân có chiều cao quãng 152-153cm, rộng quãng 76-78 cm, dày 10,5cm. Tấm bia được làm bằng phiến thạch, nhưng trải qua gần 1.500 năm, đến nay chất đá đã bở thành nhiều lớp. Bố cục bia chia làm 3 phần: trán bia, thân bia và chân bia.
Phần trán bia (bi ngạch) được đẽo thành hình bán nguyệt cao 46 cm, diềm trán bia không đẽo góc vuông như các bia đời sau mà trực tiếp tạc lên đó hình đôi rồng liền thân , hai đầu rồng hướng sang hai bên cạnh bia, hướng miệng cắm vuông góc với mặt đất. Miệng rồng há, để lộ 4 cặp răng hàm bằng đều và hai chiếc răng nanh dài nhọn. Bờm rồng vuốt từ khóe miệng ra phía sau, áp sát theo thân rồng. Phía dưới cằm và trên môi trên chạm các tua râu bó sát đầu rồng. Phía trên đầu là lông mày tạc nổi, che phần hốc mắt phía trong. Ngay sau phần mày rồng, tai rồng và sừng rồng cũng kéo dài về phía sau áp theo khối thân. Riêng cuống tai dài bằng cả phần chính của tai. Giữa thân rồng có ba vạch khắc sâu. Cách tạc này cho thấy, bia được tạc khối chữ nhật trước, sau đó mới chém các cạnh mà chạm sâu vào thớ đá. Cách tạc này khiến cho hình mình rồng chính là phần trên cùng của trán bia (cả ở hai mặt, dù mặt âm không có chữ), bụng rồng ôm lấy phần không gian khắc chữ trên ngạch bia.

Phần chữ trên ngạch bia có thể khảo tả lại như sau. Trong phần bán nguyệt phía trong, còn lại trên trán bia, không gian được đặt ở chính giữa bởi một hình chữ nhật. Hình chữ nhật này được chia đều thành 12 ô vuông, và cách nhau bởi các gờ tự nhiên sau khi đã giật lòng tạo nét trong từng ô đó. Trong mỗi ô là một chữ triện khắc dương bản, là các chữ: 大隋九真 郡寶安道場之碑文. Các chữ này được sắp theo hàng dọc từ phải sang trái, gồm 4 hàng, mỗi hàng 3 chữ. Những phong cách mỹ thuật và thư pháp trên trán bia có thể cho phép đi đến nhận định rằng, tấm bia này giống như các văn bia đời Lục Triều khác hiện còn . Bia còn kỵ húy chữ “tùy”, nhà Tùy cho chữ “隨” có bộ quai xước (辶), trỏ việc chạy đi chạy lại long đong vất vả, nên mới dùng tự dạng “隋” . Từ tiêu chí mỹ thuật và văn tự học, có thể khẳng định, đây là một tấm bia nguyên bản có từ đời Tùy.

Phần thân bia cao 106 cm. Mặt bia nhiều chỗ đã bị bào mòn, nhiều chữ bị mờ không nhìn thấy chữ nữa. Bia không giật lòng, chữ viết được khắc trên mặt phẳng với trán bia. Phần phía dưới cùng bên tay phải của bia bị vỡ mất một miếng lớn, phía sau vỡ rộng hơn và cao hơn mặt trước. Dòng thứ nhất các chữ bị mất là “Nhân Khí soạn”, dòng thứ hai mở đầu bằng chữ “phù” và các chữ bị vỡ mất là “hỏa trạch”, dòng thứ 3 là chữ “dẫn” mở đầu, kết thúc là các chữ “kỳ hồi hướng phúc địa”, trong đó chữ “phúc địa” cũng đã bị vỡ mất. Mặt dương của bia có ba đường kẻ sọc, tạo thành 2 phần diềm bia nhỏ hai bên và ba không gian lòng bia dùng để khắc chữ. Hiện trạng văn bia chỉ còn đọc được khoảng 40-50 chữ. Song có thể đếm được văn bia có 26 dòng, mỗi dòng khoảng 38-40 chữ, viết bằng chữ chân (khải thư) . Dòng đầu tiên ghi lại tên bia, hết tên bia để quãng cách không gian, để phần cuối của dòng đó khắc tên và chức vụ của người soạn văn, dòng cuối cùng là tên người lập bia và niên đại dựng. Phần chân bia không rõ nguyên bản ra sao, còn hay mất. Chỉ thấy hiện vật trưng bày trong bảo tàng ngày nay được gắn liền trên một chân bia bằng bê tông! Trần Văn Giáp đoán có khả năng chân bia hiện vẫn còn ở địa phương [1969: 3]. Nhưng theo thông tin từ một số cán bộ văn hóa ở Thanh Hóa hiện nay, chân bia đã bị đem nung vôi vào quãng cuối những năm 1960. Bản rập của tấm bia mang số ký hiệu 20945 hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tiếc rằng bản rập có niên đại quá muộn nên cũng không có tác dụng nhiều cho việc giải độc tự dạng và khôi phục văn bản.

Văn bản còn lại nhiều chữ nhất đến nay còn giữ được là một bản sao của ông Chu Văn Liên, được thực hiện vào ngày mùng 9 tháng 4 năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhâm Dần (1962) có tên là Tùy thì Đại Nghiệp bi văn, hiện cũng được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số ký hiệu VHv.2369, có ghi nhận ông Nguyễn Tấn Minh là người kiểm duyệt việc sao chép. Văn bản này chép lại một bản sao vào đời Nguyễn, vào ngày 26 tháng 02 niên hiệu Thiệu Trị (1842). Bản này dùng để giao cho xã Đồng Pho để phụng thờ, lưu chiểu .

Bản chép đời Thiệu Trị nguyên chép lại một bản khác cổ hơn do thân hào các xã Phù Liễn, Đồng Pho, Vạn Lộc, Hữu Bộc thuộc tổng Thạch Khê huyện Đông Sơn đã hội họp cùng nhau, rửa bia đọc chữ, rồi sao chép lại vào ngày 28 tháng 4 năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731). Các cụ ở Thạch Khê đời Thiệu Trị đã dựa trên bản này mà chép thành năm bản, một bản lưu lại đền thờ Lê Cốc ở Thạch Khê, bốn bản còn lại giao cho các xã Phù Liễn, Đồng Pho, Vạn Lộc, Hữu Bộc để thờ truyền đời . Cũng theo Đào Duy Anh, ông đã nộp bài văn bia đời Vĩnh Khánh cùng các thần tích về Lê Hầu và vợ con ngài, biếu cho Thư viện Khoa học Trung ương năm 1963. Nhưng đến nay, chúng tôi chưa tìm ra ký hiệu của các sách này .

Dựa trên các văn bản văn bia, bản rập, các bản sao còn lại, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo dị, khôi phục và chú thích bài văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn này. Đầu tiên là bản in trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Tập 1, Từ Bắc thuộc đến thời Lý, Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp và Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, Paris-Hà Nội 1998: 7-9). Năm 2000, phó giáo sư Trần Nghĩa công bố một bản chỉnh lý mới, kèm thêm các phần phiên âm khảo dị trong chuyên luận Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X (tr. 262-271). Đối chiếu tất cả các bản trên, chúng tôi thấy tình trạng văn tự của văn bản này như sau. Bài minh có 30 câu, mỗi câu 4 chữ, độ dài văn bản là 120 chữ, hiện chỉ còn đọc được 102 chữ. Toàn bài văn bia có độ dài 957 chữ, hiện đã mờ mất 246 chữ, chỉ còn đọc được 711 chữ.

Đến đây chúng tôi thấy có thể chia ra làm ba hệ văn bản của bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn như sau.
(1) Hệ 1: [1a] văn bản gốc văn bia tại Bảo tàng (niên đại tuyệt đối 618) > [1b] bản dập thác bản văn bia (niên đại bản dập đầu thế kỷ 20) > [1c] các bản ảnh ấn lại thác bản này trong Tổng tập văn bia Việt Nam (2009), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam (2008), [1d] các bản ảnh điện tử chụp văn bia và thác bản văn bia của chúng tôi (chụp năm 2012) được in lại trong lần xuất bản này, [1e] bản ảnh điện tử chụp lại thác bản văn bia của Viện NC Hán Nôm (niên đại: XX-2000).

(2) Hệ 2: các văn bản ghi chép-giải độc văn tự của đời sau. [2a] Bản chép tay của các cụ lão nhiều địa phương thực hiện vào năm Vĩnh Khánh thứ 3, gọi là bản 1731 (đã mất); [2b] Bản chép tay lại bản này vào đời Thiệu Trị, ta gọi là bản 1842. [2c] Bản chép tay lại bản Thiệu Trị vào năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhâm Dần, ta gọi là bản 1962. Hai bản [2a] và [2b] chúng ta không có trong tay. Bản [2a] khả năng cao là không thể tìm lại được. Bản [2b] có thể sưu tầm lại ở địa phương. Chúng tôi chỉ có bản [2c] để làm căn cứ đối chiếu.

(3) Hệ 3: các văn bản phục dựng của các nhà nghiên cứu. Trước nay chỉ có hai bản làm theo hướng này. Đó là bản của nhóm Phan Văn Các – Claudine Salmon năm 1998 và bản Trần Nghĩa năm 2000. Các tác giả đã tiến hành phục dựng một số vị trí đã mất, và cũng đã có những thảo luận khác nhau ở từng trường hợp cụ thể. Các phương pháp mà các nhà khoa học đưa ra là tiêu chí văn bản học, văn tự học, ngữ nghĩa học. Song, về cơ bản, hai bản này tuy không phải là bản gốc, và nếu tính về thời gian thì đây là hai bản muộn nhất, nhưng với phương pháp làm việc khoa học, đây có thể coi là hai bản tốt nhất đầy đủ nhất hiện còn.

Chúng tôi tạm lấy bản của nhóm Phan Văn Các và Claudine Salmon làm bản nền, bản Trần Nghĩa làm bản đối chiếu. Cách làm như vậy là ngược so với các thao tác văn bản học truyền thống. Sở dĩ như vậy là vì bản văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn còn lại đến nay đã tàn khuyết, hư hại nặng nề. Hiện chỉ còn đọc được vài chục chữ. Tuy nhiên, với vài chục chữ này, chúng tôi vẫn coi đây như là một văn bản gốc đáng tin cậy nhất để đưa ra những nhận định khoa học cuối cùng cho những vị trí ở trong các văn bản thuộc hệ 2 và hệ 3. Ví dụ, các hệ bản số 3 và số 2 không có tên phụ của bia, nay dựa trên bản gốc [1a] chúng tôi bổ sung thêm dòng này ngay đầu văn bản, rồi tiếp đó mới đến tên họ chức danh người soạn bia.

Ví dụ thứ hai, trước đây các nhà nghiên cứu có cân nhắc về tên hiệu con trai trưởng của Lê Hầu. Nhóm Phan Văn Các nhìn trên văn bia thì các nét bút còn lại không cho phép nghĩ rằng đó là chữ “益”, nên tạm để khuyết, và xác định tên của nhân vật này là “[…] Tự”. Nay dựa trên văn bia bản [1a] và bản 1962 [1c] , chúng tôi đưa ra hai kết luận như sau. (I) Tự dạng mà nhóm Phan Văn Các để khuyết là chữ “益”, vì lối viết liên bút trong hành thư khiến cho các nét chấm trong phần trên của chữ “ích” bị liền thành hai nét ngang ( ). (II) Tên hiệu của nhân vật này là “Ích Từ”. Nguyên văn chúng tôi xin đánh máy lại như sau: 長子益慈嗣… Sở dĩ, có thuyết cho đó là Ích Tự (益嗣) vì đọc sót chữ “từ”. Đoạn trên có thể phân tích như sau: “trưởng tử Ích Từ” là chủ ngữ, “tự” là động từ vị ngữ trong câu. Rất tiếc là sau chữ “tự” bị mất mấy chữ, nên không rõ tân ngữ/ hoặc bổ ngữ đầy đủ là gì, nhưng ngay sau đó còn một số chức danh và quan trọng nhất là chức Nhật Nam thứ sử. Chúng tôi tạm dịch cả câu như sau: “con trai trưởng [của Lê Hầu] tên hiệu là Ích Từ, nối [chức cha trước đây…], làm Thái thú quận Nhật Nam, kiêm [Tuyên] uy Tướng quân”. Bản 1962 là bản cũng khá muộn, song được sao chép có chủ đích về khoa học và có người giám sát về văn bản học, nên tạm thời có thể làm một bản tham khảo, đối chiếu. Bản Phan Văn Các có phục dựng được một số chữ và quan trọng nhất là lần đầu tiên có một bản làm đúng theo thao tác văn bản học, và bản này còn có trên 50 chú thích về từ ngữ, khảo dị, biện luận văn tự học. Bản của Trần Nghĩa chỉ có khoảng 20 chú thích. Đây chính là lý do khiến chúng tôi không lấy bản Trần Nghĩa mà chọn bản phục dựng của nhóm Phan Văn Các làm bản nền.

Công việc lần này của chúng tôi gồm:
1. Khảo tả lại tình trạng và mỹ thuật văn bia như đã thực hiện ở đầu bài khảo cứu.
2. Tái lập một số chữ đã bị mất thông qua con đường văn tự học, thi vận học, ngữ nghĩa học.
3. Tiến hành chú thích bổ sung các khái niệm Phật học, Nho học, nhân danh, địa danh, chức quan.
4. Phiên âm, hiệu điểm (chấm câu), ngắt ngữ đoạn.
5. Và quan trọng nhất, lần đầu tiên văn bản văn bia này được dịch sang tiếng Việt. Tuy nhiên, vì số lượng chữ mất quá nhiều, cho nên bản dịch này chỉ mang tính chất phỏng đoán ở nhiều đoạn (được đặt trong ngoặc vuông […] ), riêng đoạn giữa tàn khuyết nặng nhất, nên có khi chỉ dịch đôi ba chữ lẻ, không thể dịch thành một ngữ đoạn, chỉ có phần bài minh còn khá đầy đủ nên chúng tôi dịch đúng văn vận, một số câu, chữ bị mất thì được chúng tôi phỏng dựng bằng phương pháp ngôn ngữ học và từ chương học cổ điển.
Về cách trình bày, mỗi chữ bị mất đều được ký hiệu bằng một ô vuông (cả ở phần chính văn Hán văn và phần phiên âm), các chữ bị mờ trên văn bia hoặc trên các bản sao được đoán đọc thì tự dạng tái lập cùng phiên âm, dịch nghĩa của các vị trí tái lập đó sẽ được đặt trong ngoặc vuông. Các chú thích được đánh số ở cả chính văn, phiên âm và dịch nghĩa.

2. Sự nghiệp Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ 6-7 qua sử liệu bia Đại Tùy Cửu Chân

Về nội dung, tấm bia Đại Tùy Cửu Chân đề cập đến một nhân vật lịch sử họ Lê, giữ chức Thứ sử ở quận Cửu Chân, ông từng trải các chức Ái Châu Thứ sử, Đô đốc Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan chư quân sự vào thời nhà Lương, sau giữ các chức Thường thị Uy vũ Tướng quân, Cửu Chân thứ sử, tước Mục Phong hầu. Cho nên, ông còn được Nguyên Nhân Khí gọi là Lê Hầu, Lê Thứ sử hay Sứ quân Lê.
Bài văn bia ghi lại việc Lê Hầu dựng đạo tràng Bảo An (chùa Bảo An) tại quận Cửu Chân. Như truyền thống dựng chùa tháp và lập bi văn, chúng ta có thể thấy, Lê Hầu chính là hưng công hội chủ để xây dựng chùa này. Sau khi dựng chùa, ông đã mời Nguyên Nhân Khí viết văn bia, khi đó ông này đang giữ các chức Kiểm hiệu Giao Chỉ quận, Nhật Nam quận thừa, kiêm Nội sử xá nhân. Xét về chức quan, thì Lê Hầu giữ chức vụ cao hơn Nguyên Nhân Khí. Nguyên Nhân Khí có lẽ khi đó ít tuổi hơn, nhưng vì là người “thông minh mẫn tiệp”, giỏi văn chương và hiểu sâu về đạo Phật, nên đã được Lê Hầu nhờ soạn minh văn. Nguyên Nhân Khí là người Bắc, đến làm quan tại Nhật Nam, là em trai của Nguyên Huy – một người đang rất được trọng vọng ở triều đình nhà Tùy thời bấy giờ (cụ thể xem chú thích 11 trong phần dịch văn bia ở sau). Việc Lê Hầu nhờ Nhân Khí, hẳn thấy được sự quan hệ ở tầm cấp cao của hệ thống chính quyền thời bấy giờ. Lê Hầu trước đó hẳn đã nghe được văn tài cũng như thưởng đọc các tác phẩm của Nhân Khí, nên mới giao trọng trách này cho ông. Và ta biết, bài văn bia này cũng là tác phẩm văn chương duy nhất còn lại của Nguyên Nhân Khí. Qua lời văn bia, ta có thể thấy phần nào văn tài cũng như học vấn về Phật giáo của nhân vật này:

夫 法理靈符,非世智之可求;
法性幽深,豈石言之所測。
故 梵魔之境,猶為化城;
三界之間,方稱火宅。
Phù,
Pháp lý linh phù, phi thế trí chi khả cầu;
Pháp tính u thâm, khởi thạch ngôn chi sở trắc.
Cố,
Phạm ma chi cảnh, do vi hóa thành;
Tam giới chi gian, phương xưng hỏa trạch.

Tạm dịch sang văn vần:
Ôi,
Pháp Phật thiêng liêng, trí tuệ thế gian há thửa cầu.
Pháp tính thâm sâu, lời nói của trời khôn đoán hết.
Nên,
Cảnh Phạm thiên, còn là hóa thành
Chốn tam giới, cũng là nhà lửa.

Quay trở lại với nội dung tấm bia, chúng ta thấy, văn bia này còn ghi lại nhiều địa danh hành chính cổ vào nửa sau thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7, như quận Giao Chỉ, quận Nhật Nam, châu Đức, châu Ái, châu Lị, châu Minh, châu Hoan, huyện Cửu Chân, quận Cửu Chân, quận Nam, huyện Vệ An, Giao Chỉ và một số khe động ở quận Cửu Chân. Những mảnh chữ rời còn sót lại như vậy ít nhiều cho phép chúng ta mường tượng các cấp hành chính vào thời này. Khe và Động có khả năng là những đơn vị cư dân bản địa, hẳn sẽ có tên nhưng không thấy chép trong văn bia hoặc đã mờ mất, chỉ biết Lê Hầu từng đem ân đức tưới tắm ở các khe động này, khiến nhân dân đều an cư lạc nghiệp ([ân] toại phú dân) mà tôn sùng ông, theo về với ông.

Người đầu tiên nghiên cứu về Lê Ngọc/Lê Hầu là Le Breton, ông cho rằng Lê Ngọc là Đô hộ Giao Châu (sic), là người đã dựng một quốc gia riêng và đóng đô ở Trường Xuân (Cửu Chân), sau đó ông chia các vùng lãnh thổ cho các con. Con cả Ích Trí (sic) được giao trị nhậm ở Cửu Chân, con thứ hai là Trung Quốc được làm Tả Quốc, con gái Tưng Liệt (sic, có lẽ là Trung Liệt – TTD chú) được trấn ở Đông Kinh. Sau đó, gia tộc của Lê Ngọc đã bị nhà Đường đánh lui về Cửu Chân, rồi bị tiêu diệt. Ông cho rằng thời đại của Lê Ngọc tồn tại từ năm 612 đến năm 619 [Le Breton 1924: 29]. Tuy nhiên, học giả người Pháp lại không thấy dẫn sử liệu nào từ văn bia, ông cũng không nhắc đến sự tồn tại của bia này. Theo phán đoán của chúng tôi, ông đã chủ yếu dựa vào thần tích.

Năm 1960, giáo sư Đào Duy Anh đã trở về Thanh Hóa khảo sát thực địa. Trong chuyến điền dã này, ông đã phát hiện ra tấm bia Đại Tùy Cửu Chân tại Trường Xuân. Sau đó, giáo sư Đào Duy Anh đã kết hợp với các tư liệu thần phả sưu tầm được tại địa phương và xác định rằng Thứ sử Lê tên thật là Lê Cốc hay Lê Ngọc, tổ tiên làm quan đời Tấn ở Trung Quốc và được phong hầu, đến đời Lương thì đã trải được ba đời, đều được phong hầu cả. Đến đời Tùy thì Lê Hầu được bổ làm Tuyên Uy Tướng quân, Nhật Nam Thái thú, đến niên hiệu Đại Nghiệp thì đổi làm Cửu Chân Thái thú [Đào Duy Anh 1963: 27]. Những nghiên cứu của Le Breton và Đào Duy Anh sau đó được một số nhà nghiên cứu như Trần Quốc Vượng , Lê Cường [2007: 83] kế thừa. Những nghiên cứu trên tưởng đã khép lại về một nhân vật lịch sử vào cuối thế kỷ 6 – đầu thế kỷ 7. Thế nhưng, điểm đáng ngạc nghiên nhất mà khi chúng tôi thực hiện nghiên cứu này, là sau hơn 50 năm phát hiện, bia Đại Tùy Cửu Chân chưa từng được bất kỳ học giả nào tiến hành dịch chú, và lạ hơn nữa là chỉ có một vài thông tin trong tấm bia này được các nhà nghiên cứu khai thác, còn phần lớn các sử liệu về Lê Ngọc chủ yếu lấy từ… thần tích. Ví dụ: tên chức Đô hộ (có từ đời Đường về sau), tên con trai cả là Ích Trí (chứ không phải Ích Từ như văn bia), rồi Ích Trí được giao trị nhậm ở Cửu Chân (thay vì Thái thú Nhật Nam như văn bia), rồi con gái út là Trung Liệt trấn ở Đông Kinh (một địa danh rất muộn về sau này, thuộc miền Bắc),… Vì thế, những khảo cứu giới thiệu dưới đây, sẽ đưa ra một tình hình khác về Lê Ngọc so với những công trình trước đây.

Theo như văn bia Đại Tùy Cửu Chân, gia tộc họ Lê đến thời Lê Hầu là đã “ba đời tự lập” (tự vị tam đại) . Tổ tiên Lê Hầu vào đời Tấn, nhân loạn Vĩnh Gia (xem giải thích trong phần chú thích văn bia) nên đã chạy về phía Nam lánh nạn. Thân sinh của ông có khả năng đã làm Thứ sử Triều Châu kiêm [Tổng quản] Tướng soái. Sau đó, đến đời nhà Lương, Lê Ngọc mới chuyển về vùng phên dậu biên viễn phía Nam, giữ các chức Thứ sử Ái Châu, rồi Thứ sử quận Cửu Chân đồng thời kiêm luôn các chức Đô đốc Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan ngũ châu chư quân sự, Thường thị Uy vũ Tướng quân. Việc các viên quan đứng đầu các châu quận đồng thời nắm luôn quyền quân sự là điều có thể hiểu được. Những thông tin ở trên cho phép đi đến nhận định rằng Lê Hầu đã chuyển đến làm quan và lưu trú tại Giao Châu cho đến khi ông mất, tức là thời gian lưu trú của ông ở Cửu Chân trên dưới 60 năm (xem giải thích thêm về tuổi tác của Lê Hầu tại chú về “Hữu Lương” trong phần chú thích). Như vậy, ông đã trị nhậm qua bốn triều đại là Lương (502-557), Trần (557-589), Tùy (581-618) và Đường (618-907). Văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn cho biết đời Lương, Lê Hầu giữ chức Ái Châu thứ sử kiêm Đô đốc quân sự năm châu Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan. Cả giai đoạn nhà Trần, không thấy chép ông giữ các chức gì. Chỉ thấy đến đời Tùy ông vẫn giữ chức tướng quân, làm Thứ sử các quận châu, được ban Thường thị Uy vũ tướng quân và vẫn nhậm Ái Châu Thứ sử. Từ đời Lương ông đã được phong tước Mục Phong hầu, đến đời Tùy ông vẫn ở tước đó, không được tấn phong thêm.

Với một bề dày trên chính trường, trải giữ nhiều chức vụ tại Cửu Chân trong quãng 60 năm, Lê Hầu đã có những quan hệ mật thiết với tầng lớp quan lại ở khắp các nơi từ Ái Châu đến Nhật Nam. Chính vì lẽ đó, trong văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận, chúng ta còn thấy một số các chức vụ quan lại ở một số nơi, ví dụ như Bằng Thừa Tự là Huyện lệnh huyện Cửu Chân. Thông tin này cho thấy, Bằng Thừa Tự là một viên quan dưới cấp của ông. Vào thời ông làm Thái thú quận Cửu Chân thì lị sở có khả năng là huyện Cửu Chân. Ngoài ra, còn có Huyện lệnh huyện Vệ An, hiện cũng chưa rõ huyện Vệ An ở đâu, và vị huyện lệnh này tên là gì, song có lẽ địa danh hành chính này cũng nằm đâu đó trong vùng đất Cửu Chân mà thôi.

Theo như nghiên cứu của giáo sư Đào Duy Anh, khi làm Nhật Nam Thứ sử, Lê Hầu đã lấy một người vợ ở đất Nhật Nam (Nghệ An ngày nay), sinh được ba người con trai và một con gái [Đào Duy Anh 1963: 27]. Qua tư liệu văn bia Đại Tùy Cửu Chân, chúng tôi thấy có nhắc đến con trai cả của ông tên là Ích Từ. Theo các tư liệu thần phả và các nghiên cứu của Le Breton và Đào Duy Anh, thì con trai trưởng của Lê Hầu hiệu là Ích Trí, tục gọi là đức Thánh Cả, con trai thứ hai là Trung Quốc, tục gọi là đức Thánh Hai, con thứ ba hiệu là Tham Xung được gọi là đức Thánh Lưỡng, vợ và con gái của ông không rõ tên nhưng thần hiệu là Tam Giang Trinh Liệt Thần Mẫu và Liệt Nữ Công Chúa [Le Breton 1924: 29; Đào Duy Anh 1963: 22]. Trên bia Đại Tùy Cửu Chân, đoạn nhắc đến trưởng nam Ích Từ còn thấy chép một số chức vụ như [Tuyên] uy Tướng quân, Nhật Nam Thái thú. Chưa nhà nghiên cứu nào trước đây nhắc đến chi tiết này. Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết rằng, khi Lê Hầu làm Thái thú quận Cửu Chân thì con trai cả của ông đồng thời giữ chức Thái thú quận Nhật Nam kiêm [Tuyên] uy tướng quân. Điều này lý giải vì sao, Nguyên Nhân Khí – một viên quan dưới quyền của Lê Ích Từ được mời viết minh văn cho bia Trường Xuân.

Đặt trong hệ thống các sử liệu trước nay về giai đoạn này, chúng tôi thấy văn bia Đại Tùy Cửu Chân đã góp thêm một số sử liệu bổ sung cho diện mạo chính trường Giao Châu giai đoạn này như sau. Khi Lê Hầu mới sinh (quãng năm 535-540, có lẽ sinh ở Triều Châu) , Lý Bôn đánh Thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư. Năm 546, Thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu đánh bại Lý Bôn ở thành Giao Ninh, năm sau Lý Bôn bị chém đầu [Lương thư q3, chuyển dẫn Đào Duy Anh 1963: 23]. Quãng những năm 550-557, khi đang ở độ tuổi khoảng từ 20-25 tuổi, Lê Ngọc giữ chức Ái Châu Thứ sử, Đô đốc quân sự năm châu. Đến năm 557, nhà Lương mất, nhà Trần lập quốc. Trong quãng từ năm 557-602, Lê Ngọc có khả năng vẫn trấn giữ đất Ái Châu. Trong khi, chính trường có nhiều biến động. Sách Trần thư chép, năm 558, nhà Trần sai Âu Dương Ngỗi đem con em là Thứ sử Giao Châu Thịnh đi đánh Chu Địch ở phía Bắc Ngũ Lĩnh. Sách Trần thư không hề chép thêm một chi tiết nào về Giao Châu giai đoạn này, mà chỉ chép các thông tin về vùng Quảng. Việt sử lược chỉ ghi chép một số biến động chính trị như sau. Thời Vũ Đế nhà Lương, có Trần Bá Tiên đã dẹp được Lý Bôn nên được giao làm Binh uy Tướng quân, Thứ sử Giao châu, rồi được gọi về Bắc. Đến năm 602, Lưu Phương làm Hành quân Tổng quản đánh Phật Tử ở thành Việt Vương và Đại Quyền ở Long Biên. Trong khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616) đời Tùy Dạng Đế vì Lâm Ấp làm phản nên vua nhà Tùy đổi Nhật Nam làm Hoan Châu, dùng Lưu Phương làm chức Hoan đạo Hành quân Tổng quản để đánh Lâm Ấp. Đánh xong, Lưu Phương khắc đá ghi công rồi trở về. Giữa đường bị bệnh mà chết. Năm 622, vua Cao Tổ nhà Đường trao cho Khâu Hòa (người Lạc Dương) chức Đại tổng Quản, tước Đàm quốc công, Hòa lại tâu xin đặt chức Đô hộ Phủ chúa. Những sử liệu trên cho thấy, những vùng đất có biến loạn, buộc các quan tướng triều Tùy đến đánh dẹp là thuộc phạm vi quận Giao Chỉ (tương ứng Bắc Bộ) và Lâm Ấp, không thấy có đoạn nào ghi chép về việc chinh phạt quận Cửu Chân do Lê Hầu trấn giữ trong quãng 60 năm.

Như vậy, khoảng thời gian từ những năm 557 đến năm 622, cả một vùng rộng lớn của quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều không thấy xuất hiện một dòng nào về việc chiến tranh tranh giành quyền lực với các thế lực phương Bắc. Điều ấy chứng tỏ rằng, Lê Hầu cùng với các con và thuộc tướng của mình đã tiến hành các phương thức chính trị hiệu quả. Một mặt, ông vẫn có những ứng xử mềm dẻo với chính quyền phương Bắc – để không bị nghi ngờ là kẻ có âm mưu làm phản. Mặt khác, đối với các thế lực quân sự tại quận Giao Chỉ, ông dường như “án binh bất động”. Tức là, ông chỉ chăm chú vào việc cai quản địa hạt của mình, và không tham gia vào các hoạt động tranh giành quyền lực của các thế lực địa phương. Về mặt ngoại giao, Lê Hầu trong khoảng 60 năm trải giữ các chức vụ quan trọng nơi vùng biên ải (Nhật Nam Thái thú, và Cửu Chân Thái thú) tiếp giáp và gần kề nhất đối với Lâm Ấp. Nhưng khi Lâm Ấp tỏ ra không thần phục ông cũng không khởi phát một cuộc chiến nào. Những việc chinh phạt ấy, dường như ông đã “đẩy” hết về các lực lượng của phương Bắc. Cuộc chinh phạt Lâm Ấp của Lưu Phương năm 605 hẳn đằng sau phải có bàn tay hậu thuẫn của các Thứ sử địa phương – Lê Hầu và Lê Ích Từ. Nhưng, những sử liệu hiện còn không thấy chép hai cha con ông có trực tiếp tham gia vào bất kỳ một trận tuyến nào. Văn bia chỉ ghi các hoạt động quân sự của Lê Hầu chủ yếu là huy động cơ binh để giữ an ninh trong phạm vi lãnh thổ. Đó là một sự khôn ngoan, sáng suốt đủ để an định cuộc sống của nhân dân và không làm hao tổn binh lực của bản quận, cũng như quyền lợi gia tộc. Có thể nói, Cửu Chân-Nhật Nam dưới thời của cha con Lê Hầu-Lê Ích Từ là một vùng đất thái bình, thịnh trị. Cho nên, Nguyên Nhân Khí trong văn bia Trường Xuân mới ca ngợi ông là “Lê hoàng” (vua Lê) của vùng đất này. Tên tước Mục Phong hầu dành tặng cho ông hẳn cũng vận đúng vào con người của ông.

Văn bia và những sử liệu không cho biết ông mất khi nào. Theo thần phả mà giáo sư Đào Duy Anh khai thác, sau khi nhà Đường diệt Tiêu Tiển thì Lê Hầu lui giữ Cửu Chân mà trấn thủ địa phương. Ông cùng các con đã kháng chiến với quân nhà Đường rồi tử trận [Đào Duy Anh tb2010: 90-92]. Trên đây là giả thuyết của Đào Duy Anh từ một số sử liệu gạn lọc được từ thần phả. Tuy nhiên, một số ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư đã nêu ra bối cảnh lịch sử khiến cho chúng ta nghĩ đến nhiều khả năng khác. Năm 622, Khâu Hòa làm Thái thú Giao Châu, cậy uy thế của nhà Tùy, thường đi tuần các khe động ở biên giới, ở châu hơn 60 năm (sic), sở hữu rất nhiều châu báu, giàu như vương giả [1998: 188-189]. Nhưng thông tin “ở châu 60 năm” hẳn là có vấn đề. Bởi lúc mà Khâu Hòa chuyển về trấn nhậm ở biên viễn phía Nam là lúc ông đã 60 tuổi [Taylor 1982: 166], nhận xét này của Taylor trùng khít với các sử liệu trong Cựu Đường thư. Sách này chép: Cuối đời Đại Nghiệp Hòa lánh mình ở Hải Nam, quan lại ở đấy thường cướp của thuyền chài, bách tính đều hàm oan, nên dấy loạn. Khưu Hòa khi đó đang trị lý hai quận đều thi hành chính sách nhân ái, rất nổi tiếng nên được Tùy Dạng Đế sai làm Giao Chỉ Thái thú, vỗ về hào kiệt, rất được lòng người Man. Đến khi nhà Tùy mất, bọn Tiêu Tiển, Nịnh Trường Chân đem quân đến đánh. Hòa dẫn thủ lĩnh các châu Giao-Ái, đánh lui bọn Trường Chân. Bờ cõi vẹn yên. Sau đấy, Hòa mới biết nhà Tùy đã mất bèn theo Tiêu Tiển. Đến khi Tiển bị dẹp, thì Hòa lại lấy đất Hải Nam dâng về nhà Đường. Vua Đường sai sứ Lý Đạo Dụ đến trao chức Thượng Trụ quốc Đàm Quốc công-Giao Châu Tổng quản. Hòa lại sai Cao Sĩ Liêm dâng biểu xin về triều. Vua thuận cho. Lại thêm, Khưu Hòa mất năm Trinh Quán 11 (636), thọ 86 tuổi. Năm 60 tuổi ông nhậm chức tại Giao Châu, suy ra năm ông nhậm chức tại Giao Châu là năm 816. Những thông tin này cho thấy có khả năng xung đột giữa Khâu Hòa và Lê Hầu. Nếu như khả năng này xảy ra thì đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự tiêu vong của dòng họ nhà Lê trên đất Cửu Chân đúng như giả thuyết của Le Breton và Đào Duy Anh.

Nhưng chúng tôi muốn hướng đến một giả thuyết khác, rằng Lê Hầu vẫn giữ chức Thái thú Cửu Chân cho đến hết đời. Tức là đã không xảy ra một cuộc chiến tranh nào giữa lực lượng của Lê Hầu cũng như của con trai ông – Thái thú Nhật Nam Lê Ích Từ với Thái thú Giao Châu-Khưu Hòa (từ 616 trở về sau). Có hai lý do khiến chúng tôi đưa ra giả thuyết như vậy.

Trước nay, các nhà khoa học cho rằng tấm bia Đại Tùy Cửu Chân do Lê Hầu dựng vào năm 618 tức là vào năm nhà Đường lật đổ nhà Tùy. Thế nhưng, văn bia vẫn cứ ghi “Đại Tùy” mà không ghi niên hiệu nhà Đường. Điều này chứng tỏ, Lê Hầu đã không đầu hàng nhà Đường mà đã đứng lên nổi dậy chống lại thế lực phương Bắc. Nhưng tính chi tiết thì không hẳn như vậy, văn bia Trường Xuân dựng vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Nhâm Dần niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618), trong khi nhà Đường chính thức thay nhà Tùy vào ngày 18 tháng 6 năm này. Nghĩa là, bia dựng trước hai tháng mười ngày.

Thứ nữa, đến sau năm 618, Lê Hầu lúc đó có khả năng đã từ 85-90 tuổi, một độ tuổi đã rất cao để trực tiếp lãnh đạo chiến tranh để đến mức bị giết do thất bại. Cuối cùng, và quan trọng nhất, như chúng tôi đã phân tích ở trên, Lê Hầu luôn là một người có một độ lùi mẫu mực trên con đường chính trị, khiến cho suốt cuộc đời làm quan 60 năm, giữ chức Tướng quân năm quận, Thứ sử các châu quận của ông không hề phải “ra trận” một lần nào với các Thứ sử cùng cấp (như Lý Bôn, Lý Bí, Lý Phật Tử, Tiêu Tiển, Âu Dương Ngỗi, Chu Địch, Trần Bá Tiên…). Bất luận là triều đại nào, Lương, Trần hay Tùy ông đều mềm mỏng lĩnh chức để yên ổn với vùng đất “sinh địa” của mình. Những thay đổi triều đại dường như không có tác động nào đến cuộc đời chính trị của ông. Cho nên, từ sau năm 618, mặc dầu là quan nhà Tùy, nhưng trong bối cảnh toàn bộ lãnh thổ Hoa Hạ đã thuộc về nhà Đường, thì một người lão luyện về chính trị như ông cũng phải biết rằng vận của nhà Tùy đã hết. Khưu Hòa kiêu dũng vậy mà vẫn phải quy thuận huống hồ là một người chủ trương “vô vi nhi trị”, và đằm mình trong Phật pháp như ông.

Qua văn bia, ta vẫn thấy Lê Hầu vẫn là người thung dung trên dặm thanh vân, thảng thích trong nguồn Phật học (tâm tùy vô môn, thị yên du xứ). Ông đã cho xây dựng một số công trình như đạo tràng Bảo An (chùa bảo hộ sự an lành) , đài Sủng Tịnh (đài tôn thờ sự thanh tịnh) , và theo thông tin từ thần tích do giáo sư Đào Duy Anh khai thác, ông còn cho xây dựng thêm cả thọ oanh (sinh phần) . Có thể nói, sự mềm mỏng lão luyện trên chính trường cùng với tinh thần từ bi của nhà Phật đã làm nên công tích bình trị của Lê Hầu tại đất Cửu Chân-Ái châu-Nhật Nam.

Mặt khác, xét về cán cân lực lượng thì gia đình ông lúc đó đã chiếm đến 2/3 lãnh thổ thời và non nửa dân số thời bấy giơ . Ông giữ Cửu Chân, con trai ông giữ Nhật Nam, Khưu Hòa giữ Giao Châu. Cho nên, chiến tranh giữa Lê Hầu với nhà Đường đã là một chuyện khó xảy ra, xung đột giữa gia tộc nhà ông với Khưu Hòa có lẽ cũng khó trở thành hiện thực.

Việc ông cùng vợ con và tướng lĩnh khác được thờ làm phúc thần ở nhiều nơi trong Thanh Hóa ngày nay, theo chúng tôi, có lẽ không chắc là do ông đã hy sinh cho việc “đấu tranh giữ nước” (chúng tôi muốn chua thêm rằng khái niệm “đấu tranh giữ nước” là của đời sau dùng cho thế kỷ thứ 6-7). Người được thờ làm phúc thần còn là người suốt đời làm phúc cho nhân dân, khiến cho cuộc sống của dân được yên ổn hạnh phúc. Lê Hầu cùng gia tộc ông có lẽ thuộc về trường hợp này.

Xét ở khía cạnh nào đó, Lê Hầu có thể coi như là “một vị vua” ở vùng đất Cửu Chân-Nhật Nam vào cuối thế kỷ 6, đầu thế kỷ 7. Sự tự trị mang tính chất “mềm” đối với nhà Lương, nhà Trần, nhà Tùy cũng như nhà Đường đã làm nên tính ổn định cho sự độc lập, cho vương quyền của gia tộc họ Lê trên mảnh đất này. Sự độc lập ấy đã khiến Lê Hầu được nhân dân của Cửu Chân cũng như quan lại địa phương coi ông như là vị “Vương” của họ. Điều ấy được thể hiện qua hàng loạt các từ ngữ của Nguyên Nhân Khí dành cho ông trong văn bia Trường Xuân như Lê hoàng, vương cung, khâm minh (chữ dùng để ca ngợi vua Nghiêu), ngự điện, thiệu long (dùng để trỏ việc nhà vua kế nối sự nghiệp của tiên vương), nhân phong (từ dùng để ca ngợi công nghiệp trị lý của nhà vua)… Nguyên Nhân Khí đã coi ông như là “đấng triết vương ở nước Bội nước Dung làm phên giậu cho nhà Chu đời trước”, đã ca ngợi ông như là một vị Điều ngự “từ bi tính Phật, làu thông đạo học” để dắt đám lê dân còn mê muội đến với cõi Phật an lạc:
Lê hoàng kết thiêng,
Bốn bể hòa đồng.
Kính cẩn trên ngôi,
Chỉnh sửa huân nhung!
“Ơn trạch của ông đã tưới khắp, khiến muôn dân sung túc” giống như “ngọn gió xuân nuôi dưỡng muôn loài” (Mục Phong hầu). Nhân dân đời sau, nhớ đến công đức của Lê Hầu cũng như gia tộc ông nên đã tôn ông lên làm phúc thần ở nhiều nơi. Theo văn bia Tu tập uy linh miếu bi ký do tiến sĩ Nguyễn Thực soạn, đến thế kỷ 17, Lê Hầu đã được nhân dân thờ phụng, và tôn xưng là Cao Tổ Lê Ngọc hoàng đế . Theo khảo sát thực địa của giáo sư Đào Duy Anh, thì Lê Ngọc cùng với vợ và các con được thờ tại hơn trăm đền thờ tại Thanh Hóa ngày nay .

3. Văn bia Đại Tùy Cửu Chân: giá trị văn học và lịch sử Phật giáo

So với văn bia Xá lị tháp minh đời Tùy năm 601, thì văn bia Đại Tùy Cửu Chân có giá trị hơn hẳn về mặt văn học cũng như những thông tin sử học có liên quan đến các nhân vật lịch sử. Độ dài văn bia quãng trên 900 chữ, là một bài văn của đại bút Nguyên Nhân Khí. So với Xá lị tháp minh là một bài văn bia không có chất văn chương, thuần túy là “rập khuôn” theo một mẫu để chôn dưới các tháp xá lị do vua Tùy sai xây dựng. Tức là, bia Xá lị tháp minh chỉ có nêu những nội dung tương tự như vài chục bia xá lị được làm cùng đợt như vậy ở Trung Quốc.

Vì thế, ở phần này, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần phải có đôi dòng khảo luận về thể thức, nội dung và nghệ thuật ngôn từ của văn bia Trường Xuân.
Về mặt nội dung, văn bia Trường Xuân rõ ràng được viết ra là nhằm mục đích ca ngợi Lê Hầu cũng như dòng họ nhà ông trong việc chăn dân. Thế nhưng, như phân tích của chúng tôi về phương thức chính trị của Lê Hầu ở phần trên, Lê Hầu tuy là người đứng ở vị trí “cai trị nhân dân”, nhưng ông luôn là người ứng xử như là một vị Phật sống để dẫn dắt nhân dân khỏi khổ ải lầm than của cõi nhân sinh. Ngay từ thời quãng 17 đến 25 tuổi, nhận thấy xã hội nhà Lương động loạn, ông đã tự đi tìm cho mình một mảnh đất mới xa xôi và an lạc. Cha ông là Thứ sử Triều Châu, còn ông đã chuyển về làm Thứ sử Nhật Nam (theo như thần tích), hay Thứ sử Ái châu. Khi đó, như ta biết, Nhật Nam hay Cửu Chân là mảnh đất biên viễn, là cực Nam của nhà Lương lúc bấy giờ. Phía Tây Bắc là giáp Đại Lý, phía Bắc giáp Giao Chỉ, phía Tây là giáp Bồn Man, phía Nam là giáp Lâm Ấp. Thường thì, trong tâm lý người đời, phải đi làm quan xứ ấy không khác gì phải đi đày, bởi khí hậu khắc nghiệt, nhiều lam chướng. Những câu chuyện chép trong một số bộ sử quan phương có thể cho thấy rõ việc này. Chuyện Lưu Phương, năm 605, dù có chiến thắng Lâm Ấp, nhưng cũng đã chết trên đường trở về. Chuyện tông thất nhà Đường chết nơi đất Giao Chỉ. Chuyện một viên quan nhà Đường sau đó, thà “khi quân” chịu chém đầu còn hơn phải đi nhậm chức ở Giao Châu. Thế nhưng, Lê Hầu đã chọn cái mảnh đất không ai muốn đến ấy, để xây dựng một triều đại 60 năm của mình kéo dài đến ba đời (từ ông, đến con trai ông Lê Ích Từ, và có thể cả cháu chắt ông nữa ). Chọn một nơi xa xôi như thế, Lê Hầu đã gần như cách li hoàn toàn khỏi những động loạn xã hội, những bể dâu thay đổi triều đại từ Lương, Trần, Tùy rồi đến Đường. Sự lựa chọn ấy thể hiện sự tinh tế và tầm viễn kiến của một người vừa lão luyện trên chính trường, vừa minh tuệ về mặt triết học nhân sinh.

Văn bia có ca ngợi ông một đoạn như sau:
“Ôi, Lê Hầu [sứ quân ta], [tính bẩm] thiên tư, đạo học dần đủ, trước xưng Thứ sử, [sau] gọi Lê Hầu. [Người trị lý đất Cửu Chân so với Hoa Hạ rộng lớn] như đấng triết vương ở nước Bội nước Dung [làm phên giậu cho nhà Chu thuở nọ], vì thế mới vâng mệnh [đến đây]. [Trước đây] khi [loạn] đời Vĩnh Gia, [tổ tiên ông lánh nạn đến]囗囗囗囗. [Thân phụ]囗囗囗囗囗囗, tổ cao làm [Tổng quản] tướng soái, Thứ sử quận Triều Châu. Khi nhà Lương còn đang cai trị, [ông] làm Đô đốc quân sự năm châu Ái-Đức-Minh-Lị-Hoan, [nhiếp] chức Thứ sử Ái [châu], 囗囗囗囗囗囗囗囗 tướng quân, [được] phong tước Mục Phong hầu. [Cho nên] mới biết [việc cũ], [nhà ông] tự lập đã ba đời, hưởng năm lâu dài [vậy]. Ông ở nhàn tĩnh nơi vùng đất mới yên ổn [tránh được những động loạn các đời Lương, Trần, Tùy], ơn trạch tưới khắp, khiến muôn dân sung túc. [Ông vốn là người ham chuộng Phật pháp], khi theo học luôn có đức lại giữ pháp môn, [nên] phẩm hạnh được viên mãn. [Ông] thường hay lễ Phật tụng kinh, [thấy] linh tượng tỏa sáng; [lại lấy] Thiền tông làm lòng, thường tự thảng thích trong đó”.

Mặc dầu, câu chữ trên văn bia không còn nguyên vẹn, song những khắc họa về thân thế, gia tộc, công nghiệp và đức hạnh của Lê Hầu dưới ngòi bút của Nguyên Nhân Khí, có thể nói là hiện lên một cách khá sắc nét, rõ ràng. Ông tư chất vốn là một người nhân từ, lại thêm từ nhỏ đã được học hành, cho nên đức tài đều viên mãn (đạo học tiệm cụ). Chính cái sở học, cái thiên tư ấy đã giúp ông có được cái quyết định đúng đắn: coi đất Ái Châu-Nhật Nam là một miền đất hứa, một miền đất để định cư mà an lạc, ông đã coi đó như là “sinh địa” của cuộc đời ông, gia tộc ông.

Trong văn bia, Nguyên Nhân Khí cũng ca ngợi về phép cư xử của Lê Hầu. Dưới nhãn quan của Nho gia, Nguyên Nhân Khí coi hành động “trấn giữ Ái Châu” của Lê Hầu là một hình mẫu ứng xử chính trị tiêu biểu của sự nghiệp “tu tề”. Ông viết: “[Người trị lý đất Cửu Chân so với Hoa Hạ rộng lớn] như đấng triết vương ở nước Bội nước Dung [làm phên giậu cho nhà Chu thuở nọ]”. Có thể nói, đây là một biểu hiện rất sinh động cho thấy Nho giáo đã được thực thi như thế nào ở Việt Nam trong thế kỷ 6 thế kỷ 7. Chính vì thế, Lê Hầu được phong tước là “Mục Phong hầu”. Chữ “mục phong” là một điển ngữ xuất nguồn trong Kinh thi để trỏ ngọn gió mùa xuân mát lành thổi đến khiến cho muôn cây cỏ tốt tươi, sinh sôi nảy nở. “Mục Phong” là cái đức của người quân tử, là cái dụng của bậc vương chủ. Trong văn bia, Nguyên Nhân Khí đã dùng nhiều từ ngữ của Nho gia để ca ngợi Lê Hầu, nhưng quan trọng hơn cả các từ ngữ đó đều mang sắc thái tôn vinh, xưng tụng đối với các vị vua, các vị quân chủ.

Song, điểm nổi trội hơn cả trong văn bia Đại Tùy Cửu Chân chính là nội dung về Phật học. Như trên đã nêu, Lê Hầu là người ham chuộng Phật pháp, thường hay tụng kinh, là người biết giữ pháp môn, phẩm hạnh viên mãn. Ông đã cho xây dựng chùa Bảo An, cho khắc bia Trường Xuân, cho dựng đài Sủng Tịnh,… đây đều là những công trình có liên quan đến việc hoằng dương Phật pháp. Chính vì thế, Nguyên Nhân Khí đã sử dụng sáu bảy chục thuật ngữ Phật giáo trong bài văn bia này để nói về sự nghiệp của “đại hộ pháp” họ Lê trên đất Cửu Chân. Trong vòng 60 năm cai trị ở mảnh đất này, ông đã đem ơn đức, ân trạch, đã đem ánh sáng trí tuệ của Phật pháp chiếu rọi cho lê dân, đã đem đuốc tuệ (trí cự), nước tuệ (tuệ thủy) để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi lầm than khổ ải. Cho nên, nhân dân mới coi ông như là một vị Phật sống, là người nối được chân tông, là đức “điều ngự” để “cứu vớt sinh linh”.

Đặt trong bối cảnh thời đại, thời Lương, Trần, Tùy là thời đại Phật giáo đang hết sức phát triển. Xã hội càng động loạn, con người càng cần đến chốn nương tựa tâm linh. Vào thời Lương, chùa Hồng Lô thuộc về Thiền tông. Cũng trong thời gian này, các thiền sư Thiên Trúc đã rộng truyền thiền pháp vào Trung Quốc. Trong đó nổi tiếng nhất là Bồ Đề Đạt Ma. Lương Vũ Đế nghe danh, mà mời vị sư này đến kinh đô Kiến Khang. Như thế, Phật giáo từ thời Lương đã đi vào chốn cung đình. Trải đến triều nhà Tùy, Phật giáo đã lên đến cực thịnh. Tùy Văn Đế từng tự nhận “công nghiệp của mình là do Phật pháp” (ngã hưng do Phật pháp), thậm chí sau còn chuyển sang bài xích Nho học, coi Phật giáo là quốc giáo. Tùy Văn Đế cũng là người dùng tôn giáo nhằm mục đích chính trị, ông này đã từng hiệu triệu sư tăng xuất sơn để “hành đạo vì quốc gia”. Đến thời Tùy Dạng Đế, thì ông vua bạo ngược này còn đích thân thụ giới của tông Thiên Thai, trở thành đệ tử nhà Phật. Nhà Tùy đã cho xây dựng hơn 5000 chùa tháp, tạo đắp vài vạn tượng Phật, phiên dịch vài vạn cuốn kinh Phật, khiến cho Phật giáo phát triển gấp bội so với các triều đại trước. Tùy Văn Đế còn cho xây dựng 83 tháp xá lị ở khắp nơi, trong đó có một tháp ở Long Biên (Bắc Ninh ngày nay).

Trong bối cảnh như vậy, việc Lê Hầu đi theo Phật pháp cũng là điều có thể hiểu được. Thế nhưng, lối “tu đạo” của Lê Hầu khác hẳn về chất so với các hoàng đế phương Bắc. Các vua Tùy Văn Đế, Tùy Dạng Đế tuy đẩy Phật giáo lên địa vị quốc giáo, khiến Phật giáo có địa vị tối cao, song cũng là những người đã thế tục hóa tôn giáo này. Hẳn không ít nhà sư đã nghe lời kêu gọi của Văn Đế mà lao vào cuộc chiến tranh “hành đạo” của ông vua này. Nhà Tùy, dựa trên chiêu bài Phật giáo để tiến hành thôn tính, chinh phạt hàng loạt các quốc gia láng giềng như Đột Quyết, Lâm Ấp, Khiết Đan, Cao Ly, Lưu Cầu, Y Ngô… Trong khi đó, Lê Hầu trong suốt 60 năm cai trị ở Cửu Chân, Nhật Nam ông không hề tiến hành bất kỳ một cuộc chiến tranh nào với các thế lực đương thời. Ông chuyên chú chăm lo cho dân chúng đi theo Phật pháp. Nhân Nguyên Khí ca ngợi ông là người “nối được chân tông”, hẳn cũng là vì thế.

Về mặt ngôn ngữ, văn bia Trường Xuân, tuy bị khuyết nhiều chữ, không còn đọc được toàn văn. Nhưng chúng ta còn thấy được thể thức, bố cục của văn bia thời này như sau. Ngoài tên bia trên bi ngạch, còn có tên phụ ở lòng bia. Ngay dưới tên phụ là chức tước tên tuổi, quê quán người soạn văn bia. Tên văn bản ghi rõ thể loại là “bi văn” trong đó, phần chính văn gồm đoạn thuyết lý duyên khởi về đạo Phật. Sau đó, là đoạn ký thuật về tông tộc, hành trạng, công nghiệp của Lê Hầu. Đoạn cuối là bài minh độc vận ca ngợi Phật pháp và công cuộc hoằng dương Phật giáo, dẫn dắt chúng sinh của Lê Hầu.

Văn bia Trường Xuân thể hiện rõ lối dùng văn xen kẽ giữa văn xuôi và văn biền ngẫu. Vì thế, có những đoạn lên xuống nhịp nhàng, cân đối mà thanh thoát, có những chỗ lại trần thuật lớp lang, giàu giá trị thông tin. Ví như:
Ôi,
Pháp Phật thiêng liêng, trí tuệ thế gian há thửa cầu;
Pháp tính thâm sâu, lời nói của trời khôn đoán hết.
Nên,
Cảnh Phạm thiên, còn là hóa thành;
Chốn tam giới, cũng là nhà lửa.
[Chúng sinh] khốn khổ, nhạo báng làm trái đạo […], [nên] khiến cho [thân…] phải chịu khổ ải.
Tùy cơ trời mà làm lợi cho muôn vật, [như] vua Dục Vương [dựng] tháp báu, Đế Thích [có] chùa chiền, [thực] đều [là để] chiêm ngưỡng dung nhan tôn quý. [Các đấng ấy] đã bắc cầu bến cứu vớt muôn loài, [khiến chúng sinh] hồi hướng về nơi tịnh độ đất phúc vậy.
Có thể thấy, ngay cả trong những đoạn văn xuôi, tác giả thỉnh thoảng xen cả những tiểu đối, khiến cho câu văn cũng trở nên duyên dáng hơn, mượt mà hơn.
Phần bài minh được tác giả soạn bằng thể 4 chữ thông dụng, với lối gieo vần độc vận. Lối gieo vần này khác so với một số bài minh đời Lí đời Trần. Nhưng nhìn chung, bút khí đi khá đều đặn, ngôn từ trau chuốt, ca ngợi nhưng không sáo mòn:
[Theo nối] chân tông,
Tâm pháp khó cùng.
Đức sinh 囗 ngự,
Xem dấu vương cung.
Từ bi tính Phật,
Học đạo làu thông.
Bừng bừng đuốc tuệ,
Dắt đám mung lung.
Nên xưng Điều ngự,
Làm đức Thế tông.
[Người] phá [đạo] pháp,
Thảy đều về không.
Lê Hoàng kết thiêng,
Bốn bể hòa đồng.
Kính cẩn trên ngôi,
Chỉnh sửa huân nhung.
Đẹp thay [Lê Hầu]!
Truyền nối hết lòng.
Tầng đài cao vút,
Giảng đạo thung dung .
[Lòng] [theo] [cửa] [Phật]
Tính [khua] cầu vồng.
Trong điện chính giác,
Mà tỏ thần công.
Nước tuệ nhuần tưới,
Hoa tiên thắm nồng.
Nên xem bia đá,
Gìn giữ nhân phong.
Hoa ngân [đầy] [đủ]
[Với] [thiên] [địa] [cùng]
Có thể nói, văn bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn tại Trường Xuân là một áng văn chương cổ có giá trị về mặt văn học.
Hình thức, nội dung, thể chức văn bia đã khá ổn định, do một người nổi tiếng tài hoa là Nguyên Nhân Khí soạn. Văn bia này đánh dấu mốc son khởi đầu cho thể loại bi kí cả ở mặt vật chất lẫn phương diện thể loại, để sau đó nó được tiếp tục phát huy trong thời đại Lí Trần. Văn chương Lí Trần trong đó bi kí Lí Trần là một đỉnh cao, đỉnh cao ấy bắt nguồn từ văn hóa đời Tùy-Đường. Hay nói cách khác, Tùy Đường là bệ phóng cho những yếu tố văn hóa, văn chương cho thời đại Lý Trần cũng như nhiều nước khác trong khu vực.

Với bài văn bia cũng như bài minh trong bia Đại Tùy Cửu Chân, Nguyên Nhân Khí là tác gia văn học sớm hàng đầu mà chúng ta hiện biết. Bài văn bia không chỉ có ý nghĩa cho văn học mà còn là hiện vật giá trị để cung cấp thông tin cho các ngành lịch sử, mỹ thuật cổ (điêu khắc, thư pháp),… Có thể nói, những thông tin sử liệu qua bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn tại Trường Xuân đã bổ sung một số cứ liệu quan trọng làm sáng tỏ hơn một giai đoạn lịch sử của mảnh đất Cửu Chân-Ái Châu-Thanh Hóa cũng như Nhật Nam-Hoan Châu-Nghệ An rộng hơn là lịch sử Việt Nam vào giai đoạn từ năm 557 đến 618 mà trước nay các bộ sử quan phương không hề nhắc đến. Những khôn khéo trong việc đối nội, đối ngoại, thù trong giặc ngoài cũng như lối “ứng xử mềm” của Lê Hầu đối với các triều đại phong kiến phương Bắc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự và lịch sử!

Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh, “Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý”, Nghiên Cứu Lịch Sử, 50 (5.1963), tr. 22-28.
2. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tb. 2010.
3. Đặng Xuân Bảng, Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2000.
4. Le Breton, La Province de Thanh-Hoa, Imprimerie Kim Duc Giang, 1924.
5. Le Breton, Monuments et Lieux Historiques du Thanh Hoa (Contribution à l’inventaire des Vestiges), Revue Indochinoise, mars-avril-1921, XXIV, 3-4: 163-191.
6. Phan Văn Các – Claudine Salmon, Épigraphie en Chinois du Viet-Nam (Văn khắc Hán Nôm Việt Nam), Tập 1, École Française d’Extrême-Orient, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Paris-Hà Nội, 1998, tr. 1-12.
7. Nguyễn Du Chi, Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội – Viện Mỹ thuật, Hà Nội, 2003.
8. Lê Cường, “Nghiên cứu Mỹ thuật truyền thống: chặng đường dài”, Nghiên Cứu Mỹ Thuật, Nxb. Mỹ Thuật, H, 2007, tr. 80-89.
9. Trần Trọng Dương, “Đinh Bộ Lĩnh-loạn sứ quân: từ sử liệu đến sử thực”, Tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển, Huế, số 01.2012.
10. Trần Trọng Dương, “Biểu tượng núi vũ trụ Tu Di-Meru trong văn hóa Việt Nam và châu Á”, Tạp chí Nghiên Cứu Mỹ Thuật, 06. 2012, tr. 23-36.
11. Trần Văn Giáp, “Văn bia Việt Nam (công dụng thác bản văn bia Việt Nam đối với Khoa học Xã hội và những thác bản văn bia hiện còn có ở Thư viện Khoa học Xã hội”, Nghiên Cứu Lịch Sử, 118 (1.1969), tr. 3-6.
12. (Khuyết danh), XIII (?), Đại Việt sử lược, Trần Kinh Hòa biên hiệu, Soka daigaku Asia kenkyujo, Tokyo, 1987.
13. Nguyễn Quang Hà, “Về tấm bia đời Tùy (601) mới phát hiện tại chùa Giàn – Huệ Trạch tự (xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)”, Thông Báo Khảo Cổ Học, 2012.
14. Nguyễn Quang Hồng vcs, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H, 1992.
15. Phạm Lê Huy, “Việc xây dựng tháp Xá lợi dưới thời Tùy Văn Đế và minh văn tháp Xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh”, Thông Báo Khảo Cổ Học 2012.
16. Hoàng Lê, “Tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia”, Tạp chí Khảo Cổ Học, số 02.1982.
17. Trịnh Khắc Mạnh, Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2008.
18. Trịnh Khắc Mạnh – Nguyễn Văn Nguyên – Philippe Papin, Corpus des Inscriptions Anciennes du Viet-Nam (Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam), Tập 21, Viện Cao học Thực hành-Viện Nghiên cứu Hán Nôm-Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Hà Nội, 2009.
19. Lê Viết Nga, “Về hai cổ vật niên đại thời Tùy ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh”, Báo Bắc Ninh, 2012.
20. Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính-Hùng Hội Trinh sớ, Đoàn Hy Trọng điểm hiệu, Trần Kiều Địch phúc hiệu, Nguyễn Bá Mão dịch, Nxb. Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005 [dịch từ ấn bản Thủy kinh chú sớ, Cổ Tịch xuất bản xã, Giang Tô, 1999].
21. Ngô Thị Thanh Tâm, “Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa” (Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm), Thư viện khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2008.
22. Đinh Khắc Thuân, Văn bia thời Mạc, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1996.
23. Keith Weller Taylor, The ‘twelve lords’ in tenth-century Vietnam, Journal of Southeast Asian Studies 14, 1 (March 1983), pp. 46-62.
24. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press, Berkeley, 1983.
25. Trần Thái Tông, XIII, Thiền tông khóa hư ngữ lục, Tuệ Tĩnh (tk 14) dịch Nôm, Trần Trọng Dương khảo cứu-phiên chú, Nxb. Văn Học, TP. HCM.
26. Tỉnh ủy-Hội đồng Nhân dân-Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Địa chí Thanh Hóa (Tập 2: Văn hóa xã hội), Nxb. KHXH, Thanh Hóa, 2004.
27. Lê Trắc, (1335) An Nam chí lược, Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa dịch (Nxb. Thuận Hóa-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, tb. 2002.
28. Chu Quang Trứ, “Bia và bia chùa Việt Nam”, Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo, Nxb. Mỹ thuật, H, 2012, tr. 506-557.
29. Trần Quốc Vượng, “Xứ Thanh-vài nét về lịch sử-văn hóa”, Theo dòng lịch sử: những vùng đất, thần và tâm thức người Việt, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1996.
30. Khuyết danh, (đời Trần), (Đại) Việt sử lược, trong Tứ khố toàn thư (đời Càn Long nhà Thanh).
31. Chính Hòa thứ 18 (1697), Đại Việt sử ký toàn thư, Nội các quan bản, Bản khắc in, Bản dịch, 1998, Tập 1, Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
32. 阮實。《修葺昭慶廟碑》。1996。
33. 阮實。《修葺威靈廟碑記》。 1635。
34. 丁福寶。《佛教大辭典》 。文物出本社, 北京, 1984。
35. 葉昌熾 (撰) 。 柯昌泗 (評) 。 《石語異同評》。 中華書局。 北京。 1994。
36. 張正烺 (名譽主編) 。 呂宗力 (主編) 。 《中國歷代官制大辭典》。 北京出版社。 北京。 1994。
37. [唐] 林寶 (撰) 。 《元和姓篡》。四庫全書。(總纂:紀昀,陸錫熊,孫士毅)。
38. [唐] 李吉甫。《元和郡縣圖志》。四庫全書。(總纂:紀昀,陸錫熊,孫士毅)。
39. [唐] 魏徵, 顏師古、孔颖达。《随書》。 中华書局。北京。 2008。
40. 辭源。 商務印書館。
41. 沈起炜。徐光烈。《中国历代職官词典》。 上海辭書出版社。 上海。 1992。
42. 許慎。《說文解字》。 段玉裁注。 清代陳昌治刻本。

Từ thần tích của một ngôi đình ở ngã ba sông Bạch Hạc

Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội) là một ngôi đình cổ nằm trên khu đất ở khu vực hợp lưu của 3 con sông lớn của miền Bắc là sông Đà, sông Thao và sông Lô. Khu vực này được gọi là ngã ba Bạch Hạc (Bạch Hạc Tam Giang).
Theo thần tích thì đình Viên Châu thờ 2 vị thủy thần thời Hùng Vương. Bà mẹ của 2 vị này là một công chúa có tên Thụy Hoa, đi tu ở chùa trên đất làng Viên Châu. Một hôm công chúa ra bãi sông Viên Châu, mơ thấy rắn cuốn, về sinh đôi được 2 người con trai có dị tướng, đặt tên là Lân và Lý… Về sau 2 người con được vua phong làm “quản trưởng đội thuyền rồng, tả hữu thủy quân tuần sông“, có công cầu đảo mưa và hiển ứng báo vua đánh giặc Thục… Hai vị được sắc phong danh hiệu là:
– Thông Hà hiển ứng an dân đại vương
– Thủy Giang linh ứng đương cảnh đại vương.
Bà mẹ cũng được phong là Mục Phật công chúa và thờ ở am bên cạnh đình.

p1270862

Ngã ba Hạc nhìn từ Viên Châu.

Các di vật thờ ở đình Viên Châu đã bị mất mát khá nhiều. Đình còn lưu giữ được một số vế đối thờ như sau:
Vế đối khác:
春臺壽域竝生竝育遂吾胞
Xuân đài thọ vực tịnh sinh tịnh dục toại ngô bào.
Dịch:
Đài xuân cõi thọ, cùng sinh cùng dưỡng thỏa anh em.
Vế đối này nói tới sự việc hai anh em thủy thần cùng sinh đôi và lớn lên, lập công nghiệp tại đất Viên Châu.
青龍包白虎四民同樂奠洪基
Thanh long bao bạch hổ tứ dân đồng lạc điện hồng cơ
Dịch:
Rồng xanh ôm hổ trắng, bốn dân vui thích yên cơ nghiệp.
Khi xét kỹ thì sự tích 2 vị thần ở đình Viên Châu thì thấy đây cũng là chuyện của các vị thần Bạch Hạc Tam Giang. Viên Châu nằm đúng ngã 3 sông Bạch Hạc. Các vị Thần Bạch Hạc Tam Giang trong Lĩnh Nam chích quái là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã hiển linh vào thời Đường khi xây đạo quán ở Bạch Hạc.
Truyện thần sông Bạch Hạc kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh ở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước…
Lý Thường Minh cho đắp tượng thờ thần Thổ Lệnh tại Thông Thánh Quán (nay là đền Tam Giang tại phường Bạch Hạc, Việt Trì) và Thạch Khanh được thờ ở đền Chi Cát (nay thuộc phường Tiên Cát, Việt Trì). Cuộc thi nhảy qua sông của hai vị thần đã để lại dấu ấn đến nay, một vết chân trước đền Tam Giang và một gót chân tại Bến Gót (nay thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì). Nếu từ đền Tam Giang hay Bến Gót mà “nhảy” qua sông thì chính là vùng đất Viên Châu.
Như đã từng nhiều lần khảo cứu, Thổ Lệnh Tam Giang là Trung Thành phổ tế đại vương, được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên (Hà Nội), cũng là vị Quan lớn đệ Tam của tín ngưỡng Tứ phủ, thờ chính tại đền Lảnh (= Lệnh) ở Duy Tiên, Hà Nam. Thần tích ở Viên Châu chép là “quản trưởng đội thuyền rồng” (= Trưởng Lệnh). Còn Thạch Khanh là Quan lớn đệ Ngũ Tuần Tranh của Thoải phủ. Thần tích ở Viên Châu chép là “tả hữu thủy quân tuần sông”.
Thổ Lệnh và Thạch Khanh là 2 anh em, 2 vị tướng đã giúp vua cha Bát Hải Động Đình, hay đức Lạc Long Quân đánh giặc Thục, lập nên vương triều đầu tiên của người Việt. Vì công lao phò vua lập quốc từ thời sơ sử này nên các vị quan lớn (các vị thủy thần Bạch Hạc) mới trở nên cực kỳ linh thiêng, được người dân nhiều nơi tôn thờ như vậy.
Đền Tam Giang ở Việt Trì vẫn trong lễ hội hàng năm vẫn diễn lại tích thần Thổ Lệnh đưa tiễn Tản Viên Sơn Thánh khi ngài đến thăm Bạch Hạc. Tương tự, trong thần tích đình Viên Châu thì Thông Hà và Thủy Giang đại vương đã báo mộng cho vua Hùng, phò tá Tản Viên Sơn Thánh đánh Thục. Thực ra “Tản Viên” ở trong chuyện này là Lạc Long Quân như đã nói ở trên.
Bà mẹ của 2 vị quan lớn của Thoải phủ là Quý Nương, cũng là Mẫu Thoải, là con gái Thần Long Động Đình. Bà là vợ của vua Kinh Dương Vương, người đã sinh ra Lạc Long Quân. Như vậy Thụy Hoa công chúa ở đình Viên Châu cũng là Mẫu Thoải. Đền thờ Xích Lân Long Nữ là đền Tiên Cát nay ở thành phố Việt Trì.

p1270875Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội.

Câu đối khác còn lưu được, nay treo trước cung thờ ở đình Viên Châu là:
神異昭天一之生産瑶琪扵龜峒
英武顯乾三之躍誇屋纛扵龍宫
Thần dị chiêu Thiên nhất chi sinh, sản dao kỳ ư quy động
Anh vũ hiển Càn tam chi dược, khoa ốc đạo ư long cung.
Giải nghĩa câu đối này trong từng vế. Ở vế đối đầu, Thần dị là sự lạ, sự khác thường của thần. Thiên nhất: Thiên là quẻ Càn (Kiền). Thiên nhất là hào sơ cửu của quẻ Càn “Tiềm long vật dụng” (Rồng còn đang ẩn mình, chưa hành động). Ý chỉ lúc bắt đầu. Dao kỳ: là tạo ra 2 loại ngọc quý, ý chỉ 2 vị Thông Hà và Thủy Giang. Quy động: động rùa giải, có thể chỉ vùng đất bãi Viên Châu. Vế đầu nói đến sự ra đời kỳ lạ của 2 vị thánh vương tại đất Viên Châu.
Vế đối sau: Anh vũ: sức mạnh tài năng hơn người. Càn tam: Là hào cửu tam của quẻ Kiền “Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu”. Hào này ý nói là người quân tử làm việc liên tục, cẩn thận, tránh lỗi. Khoa ốc đạo: Khoa trương thanh thế cờ xe. Ví dụ như Hoàng ốc tả đạo là xe mui vàng cắm cờ tiết mao, chỉ bậc quân trưởng. Long cung: cung rồng, chỉ cung vua hoặc thủy cung vì đây là 2 vị thủy thần. Vế sau nói tới công nghiệp của 2 vị thần này.
Dịch câu đối ở cung thờ Viên Châu:
Thần dị chiếu khi xuất thánh vương, đúc ngọc dao kỳ nơi động giải
Tài sức tỏ lúc gây công nghiệp, dương màu xe đạo chốn cung rồng.
Trong tên của 2 vị thủy thần ở đình Viên Châu là Thông Hà và Thủy Giang thì chữ Hà ở đây phải hiểu nghĩa là Trời, không phải nghĩa là sông. Thông Hà tương tự như Thông Thiên.

p1270943

Trang cuối trong thần tích đình Viên Châu.

Phần cuối thần tích đình Viên Châu còn kể một “sự lạ” khác:
…Nói tới Thục Vương (chính là An Dương Vương) ở ngôi được 50 năm thì Triệu Đà mang quân chiếm đất nước, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau tổng cộng là 149 năm. Đến đời Vệ Vương chỉ được 1 năm, Tô Định đem quân tới bờ cõi. Bà Trưng (là con gái của nhà họ Hùng), cất quân khởi nghĩa, tự xưng nữ vương, được 5 năm thì đến thời Đông Hán. Qua các thời Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 340 năm thì tới nước Nam. Các triều đại có Đinh, Lê, Lý, Trần 4 nhà khai sáng hồng đồ…
Phiên âm trích nguyên gốc từ thần tích:
Tức thuyết Thục Vương (tức An Dương Vương thị dã) tại vị phương ngũ thập niên gian, Triệu Đà nãi đề binh thủ quốc, phụ truyền tử kế đắc ngũ đại thánh vương, tiền hậu cộng nhất bách tứ thập cửu niên. Hựu chí Vệ Vương phương đắc nhất niên, Tô Định đề binh chiêm giới. Trưng nữ (tức Hùng gia tính nữ) hưng sư phương đắc ngũ niên tự xưng vương nữ thời chí Đông Hán. Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm tam bách tứ thập niên chí thử Nam Bang. Lịch hữu Đinh, Lê, Lý, Trần tứ tính khai sáng hồng đồ…
Theo bản thần tích này thì vào thời Vệ Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu Nam Việt, tướng Tô Định đã đem quân xâm chiếm bờ cõi. Sau đó Bà Trưng mới khởi nghĩa, xưng vương được 5 năm, rồi mới tới nhà Đông Hán.
Thông tin này hoàn toàn khác so với chính sử. Chính sử hiện nay cho rằng người đánh Triệu Vệ Vương (Thuật Dương Vương) là Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán. Sau đó là thời kỳ cai trị của nhà Tân của Vương Mãng với các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang ở Giao Châu, rồi mới đến Tô Định làm thái thú Đông Hán và nổ ra khởi nghĩa của Trưng nữ vương. Thần tích đình Viên Châu lại cho biết người đánh Vệ Vương là Tô Định và khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra ngay sau đó, trước thời Đông Hán. Như thế khởi nghĩa Trưng Vương là vào thời Tây Hán, ngay sau khi nhà Nam Việt bị diệt. Tướng Tô Định trong thần tích tương đương với tướng Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán.
Liệu có phải người biên lập thần tích ở Viên Châu đã nhầm? Hay chính sử đang bị nhầm?
Không phải chỉ có một mình thần tích đình Viên Châu cho biết một thời điểm khác của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thần tích của xã Phú Lạc (Cẩm Khê, Phú Thọ) theo bản dịch của Nguyễn Duy Hinh trong sách Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (AE a9/6) cũng kể hoàn toàn tương tự:
… Triệu Đà được nước cha truyền con nối 5 đời cộng 149 năm. Đến đời Thuật Dương Vương kế ngôi chính thống vừa được một năm thì có Tô Định mang quân vào đất nước chiếm Trung Hoa, họ Triệu tàn tạ không người cứu nước. Đến đó cháu gái Hùng Vương húy là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt thánh thần trong đời oai hùng cử binh đánh thẳng đến thành Tô, đại phá. Tô Định thuy chạy. Bà Trưng bèn xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ cảnh thổ nước Nam. Bà Trưng tức vị tự lập làm vua.
Hàng loạt những tư liệu dân gian ở nhiều nơi khác nữa cho thấy, có một cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất nước, dưới thời Hiếu Vũ Đế của nhà Tây Hán. Chính sử Việt hiện tại đang có sự nhầm lẫn về thời điểm và bản chất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Miếu Lịch Đợi

Nguồn: Cồ Việt
Giới thiệu
Miếu Lịch Đợi, tên đầy đủ dịch theo Hán tự là miếu Lịch Đại Đế Vương, đây là một công trình kiến trúc quan trọng được xây dựng vào thời nhà Nguyễn. Ngày nay, tên miếu đã trở thành tên con đường Lịch Đợi dài 1280m, chạy từ đường Bảo Quốc (hay còn gọi là đường Báo Quốc) đến đuờng Tôn Thất Tùng, thuộc địa bàn Phường Đúc, thành phố Huế.
Giá trị lịch sử
Miếu Lịch Đợi là ngôi miếu thờ các đời đế vương được dựng đầu tiên và độc nhất ở Việt Nam vào năm Minh Mang thứ tư, tức năm Quý Mùi 1823.
Theo sử sách triều Nguyễn còn ghi lại thì miếu Lịch Đợi là nơi “Thống kỷ các vị đế vương, ngưỡng mộ đức tốt của các đời trước”. Với ý nghĩa quan trọng “uống nước nhớ nguồn”, “chim có tổ, người có tông”, triều Nguyễn đã cho xây dựng công trình kiến trúc này để thờ các vị vua anh hùng từ Hồng Bàng trở về sau. Hằng năm, xuân thu hai kỳ đều tổ chức tế miếu Lịch Đợi vào ngày tân tháng trọng xuân (tháng 2 âm lịch) sau ngày tế đàn Xã Tắc, và ngày tân đầu tháng trọng thu (tháng 8 âm lịch). Năm Bính Tuất 1826, niên hiệu Minh Mạng thứ VII bổ sung quy định: năm có khánh điển (lễ lớn) thì hoàng đế thân chinh tế lễ, những năm khác, các hoàng tử đi khâm mạng (thay mặt vua). Ngoài ra, vào các dịp lễ tết đầu năm, mùng 5 tháng 5 âm lịch, vua phái một quan văn tam phẩm đi tế miếu Lịch Đợi.

lich-doi-1Mặt tiền miếu Lịch Đợi. Tranh bút sắt: Nguyễn Thứ.  Nguồn Phanxiphăng.

Kiến trúc tổng quan
Miếu Lịch Đợi hướng về phía nam, thuộc địa phận xã Phú Xuân. Trước đây, công trình này gồm một chính đường có 5 gian, đông vu và tây vu (hay còn gọi là Tả Vu và Hữu Vu) cũng có 5 gian. Xung quanh miếu xây tường thành bằng gạch, mặt trước vành tường ngoài dựng 4 trụ biểu, tạo thành 3 ngạch cửa. Mặt trước vành tường trong có trổ cửa chính bên trên có lầu, ngoài ra còn có phượng môn. Phía bắc tường miếu làm “tể sinh”, là nơi mổ vật hiến sinh để tế lễ.
Chi tiết kết cấu
5 gian của tòa nhà chính gồm:
1. Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất (vị trí bên trái kề chính trung) thờ Thần Nông. Vị hữu nhất (vị trí bên phải kề chính trung) thờ Hoàng Đế. Vị tả nhị thờ Đường Nghiêu. Vị hữu nhị thờ Ngu Thuấn. Vị tả tam thờ Hạ Võ. Vị hữu tam thờ Thương Thang. Vị tả tứ thờ Chu Văn. Vị hữu tứ thờ Chu Võ.
2. Gian tả nhất (gian bên trái kề chính gian) thờ các vị vua khai sáng nuớc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương, Đinh Tiên Hoàng.
3. Gian hữu nhất (gian bên phải kề chính gian) thờ vua Lê Đại Hành và 3 vị vua triều Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông.
4. Gian tả nhị thờ 3 vị vua triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông.
5. Gian hữu nhị thờ 4 vị vua triều Lê là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông, Lê Anh Tông.
Ngoài ra đôi nhà Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị tướng Trung Hoa lẫn Viện Nam.
Tả Vu thờ 6 danh tướng Trung Hoa là Phong Hậu, Cao Dao, Long Bá Ích, Phó Duyệt, Thái Công Vọng, Thiệu Mục Công Hồ; 8 danh tướng Việt Nam là Nguyễn Bặc, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu, Nguyễn Xí, Lê Niệm, Hoàng Đình Ái.
Hữu Vu thờ 8 danh tướng Trung Hoa là Lực Mục, Hậu Quỳ, Bá Di, Y Doãn, Chu Công Đán, Triệu Công Thích, Phương Thúc, Hồng Hiến; 7 danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đinh Liệt, Lê Khôi, Trịnh Duy Thoan, Phùng Khắc Khoan.
Tất nhiên, hệ thống vua quan được tôn thờ trong miếu Lịch Đợi là do triều đình nhà Nguyễn chọn lựa, sắp xếp.
Hiện trạng ngày nay
Duới triều Nguyễn, miếu Lịch Đợi thường xuyên được quan tâm, tu bổ. Đến năm 1945, triều Nguyễn sụp đổ, từ đó trở đi, miếu Lịch Đợi xuống cấp nhanh chóng. So với các công trình kiến trúc khác thì miếu Lịch Đợi nhỏ nhưng ý nghĩa và giá trị lịch sử thì không thể phủ nhận. Tuy nhiên ngày nay, ngôi miếu danh tiếng này chỉ còn trơ lại 4 bức tường đổ nát. Vùng đất ngày xưa ngôi miếu được dựng lên nay đã bị các hộ cư dân chiếm dụng. Chỉ còn đó một con đường với cái tên Lịch Đợi, để chỉ khu vực phía sau lưng nhà ga Huế.

https://phanxipang.files.wordpress.com/2011/11/lich-doi-2.jpg

Toà nhà chính gồm 5 gian, 2 chái của miếu Lịch Đợi. Tranh bút sắt: Nguyễn Thứ.  Nguồn Phanxiphăng.

Bài Dạ Trạch tiên gia phú ở đình làng Quan Xuyên xã Thành Công huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên

NGUYỄN MINH TƯỜNG, TRƯƠNG ĐỨC QUẢ. TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 6(73) NĂM 2005
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/0506.htm

1. Lời giới thiệu
Vào ngày 16-4-2005, nhận lời mời của các đồng chí phụ trách thôn Quan Xuyên, xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, chúng tôi đã về làm việc tại địa phương trong một ngày. Công việc mà các đồng chí phụ trách thôn Quan Xuyên đề nghị chúng tôi giúp cho là: dịch những hoành phi, câu đối, bia đá… chữ Hán tại các công trình văn hóa – lịch sử trên địa bàn thôn như: đình Quan Xuyên, Nhà Sắc, Miếu Thượng, Miếu Trung, Miếu Hạ và tấm bia đá đặt tại bên tả (nhìn từ ngoài vào) của đình. Trong đó, đặc biệt có một bức hoành phi treo tại gian giữa nhà đại bái của đình Quan Xuyên, khắc toàn bộ bài Dạ Trạch Tiên gia phú khá nổi tiếng (có chừng 550 chữ). Ðây là một di sản vật thể quý báu về nhiều mặt (chạm khắc, thư pháp, nội dung văn học…) mà nhân dân Quan Xuyên còn lưu giữ được.
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú vốn khắc tại đền Đa Hòa, thuộc tổng Mễ Sở, huyện Ðông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Ða Hòa, xã Bình Minh, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên). Ðền Đa Hòa là ngôi đền chính thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa.
Vào nãm Ất Tỵ (1905) đời vua Thành Thái, một đàn cầu tiên được tổ chức tại đền Đa Hòa. Những người hầu dưới đàn là: Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Cảnh, Lê Chuyên… Bài Dạ Trạch Tiên gia phúnày được coi là bài Giáng bút của Chử Đạo tổ (tức Chử Đồng Tử). Chu Mạnh Trinh, người xã Phú Thị, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1892), từng giữ chức Quang lộc Tự khanh, kính chép và khắc bài phú Giáng bút này ở đền Đa Hòa.
Vào nãm Quý Sửu (1913) đời vua Duy Tân, các cụ phụ lão làng Quan Xuyên đã khắc lại bài Dạ Trạch Tiên gia phú này từ đền Đa Hòa đưa về treo tại đình. Nhận thấy đây là một bài phú hay, nội dung liên quan tới Chử Đồng Tử, một nhân vật được Đạo giáo Việt Nam suy tôn vào hàng “Tứ bất tử”, chúng tôi xin phiên dịch toàn bộ bài Dạ Trạch Tiên gia phú và công bố để bạn đọc xa gần cùng tham khảo.

2. Nguyên vãn chữ Hán
成 泰 乙 巳 年
渚 仙 降 筆 自 題
河 山 過 眼 幾 千 年
一 曲 高 歌 散 九 天
江 渚 月 明 雲 影 淡
澤 林 水 漲 隴 沙 圓
漫 傳 筇 笠 仙 家 事
誰 識 樓 臺 帝 子 緣
到 底 一 塵 還 不 染
金 鰲 駕 海 寓 雲 煙
夜 澤 仙 家 賦
玉 闕 天 高 金 臺 地 辟.
雲 萬 丈 以 騰 飛 水 千 重 而 凝 碧.
扁 舟 泛 泛 誰 從 訪 蓬 萊, 仙 境 之 虛 無;
夜 澤 汒 汒 我 獨 創 帝 子, 因 緣 之 屬 籍;
相 傳:
江 上 遇 帝 女 以 成 親;
誰 識:
仙 班 本 珠 宮 之 莫 逆.
雄 王 之 世, 十 九 相 承;
帝 曰 有 邦 彼 姝 者 子.
乃 從 星 而 顯 耀, 還 駕 雨 來,
赤 藤 勝 地 之 間;
因 伐 木 以 裁 樓, 別 向 風 雲,
白 社 圓 基 之 址.
是 處: 仙 家 雞 犬 何 事 飛 昇?
偶 然: 大 澤 龍 蛇 相 爭 議 庇.
杏 栽 千 樹, 藥 餌 遍 于 方 民;
桃 贈 萬 家 吟 詠 傳 於 閭 里.
辰 則:
月 明 夜 靜, 江 闊 天 空, 或 乘 舟 而 垂 釣, 或 倚 杖 以 迎 風;
攜 手 高 臺, 弄 玉 蕭 而 鳳 降, 識 針 還 閣, 聯 金 字 而 鵷 同.
塵 埃 風 景 蒼 汒 難 容, 久 住 日 月 壺 天 隱 約.
每 動 高 蹤; 乃 辭 帝 闕.
上 表 陳 情 旋 向 神 山 訪 予 舊 侶 赤 松 是 兩 師 遊 戲;
神 農 之 世 非 遙, 蒼 頡 生 文 字 契 書, 盤 古 之 風 可 緒.
四 頭 江 渚, 三 十 年 之 托 跡 轉 空;
扣 手 天 門 九 萬 里 之 高 歌 有 自.
樓 臺 亦 幻 瞕 梓 空 留; 江 波 寂 寂 雲 影 悠 悠.
閱 古 今 之 陳 跡; 感 禾 黍 於 郊 邱.
萊 公 之 陳 成 陰 德 能 兆 異; 潘 令 之 桃 結 寔, 我 亦 何 求.
然 而:
召 伯 甘 堂 不 伐; 總 人 心 之 思 慕
所 以:
羊 公 硯 首 興 言 示 來 者 之 綢 繆.
曰 庭 曰 閣; 成 邑 成 都.
仙 蹤 縹 緲; 往 事 荒 蕪.
筇 笠 林 間, 齊 東 野 之 妄 言 可 笑;
幕 帷 江 上, 趙 北 方 之 佳 話 還 無 虛 以 傳 虛 信 難 可 信.
人 思 舊 澤 而 不 忘; 我 獨 飛 靈 而 默 運
石 豈 能 言 之 物, 轉 也 何 曾;
檜 傳 左 紐 之 文, 是 誰 繆 引.
遂 使:
千 秋 韻 事, 遺 跡 難 憑 識;
看 一 片 閒 雲 仙 跡 不 泯.
維 新 癸 丑 春.
恭 錄 多 禾 祠.
乩 文.
奉 鐫 拜 進.

Phiên âm
Thành Thái Ất Tỵ niên
CHỬ TIÊN GIÁNG BÚT TỰ ĐỀ
Hà sơn quá nhãn kỷ thiên niên
Nhất khúc cao ca tán cửu thiên
Giang chử nguyệt minh vân ảnh đạm
Trạch lâm thủy trướng lũng sa viên(1)
Mạn truyền cung lạp tiên gia sự(2)
Thùy thức lâu đài đế tử duyên
Đáo để nhất trần hoàn bất nhiễm
Kim ngao giá hải ngụ vân yên.
DẠ TRẠCH TIÊN GIA PHÚ
Ngọc khuyết thiên cao; kim đài địa tịch
Vân vạn trượng dĩ đằng phi; thủy thiên trùng nhi ngưng bích.
Biển chu phiếm phiếm thùy tòng phỏng Bồng Lai tiên cảnh chi hư vô;
Dạ Trạch mang mang ngã độc sáng đế tử nhân duyên chi thuộc tịch.
Tương truyền Giang thượng ngộ Đế nữ dĩ thành thân;
Thùy thức: Tiên ban bản châu cung chi mạc nghịch.
Hùng Vương chi thế, thập cửu tương thừa.
Đế viết hữu bang, bỉ xu giả tử.
Nãi tòng tinh nhi hiển diệu, hoàn giá vũ lai, Xích Đằng thắng địa chi gian;
Nhân phạt mộc dĩ tài lâu, biệt hướng phong vân, Bạch Xã viên cõ chi chỉ.
Thị xứ: Tiên gia kê khuyển hà sự phi thăng?
Ngẫu nhiên: Ðại trạch long xà tương tranh nghị tý.
Hạnh tài thiên thụ, dược nhị biến vu phương dân;
Ðào tặng vạn gia, ngâm vịnh truyền ý lý lý.
Thời tắc: Nguyệt minh dạ tĩnh, giang khoát thiên không,
Hoặc thừa chu nhi thùy điếu, hoặc ỷ trượng dĩ nghênh phong;
Huề thủ cao đài, lộng ngọc tiêu nhi phượng giáng,
Thức châm hoàn các, liên kim tự nhi uyển đồng.
Trần ai phong cảnh thương mang, nan dung cửu trú;
Nhật nguyệt hồ thiên ẩn ước, mỗi động cao tung;
Nãi từ Đế khuyết, thướng biểu trần tình;
Toàn hướng thần sõn, phỏng dư Cựu lữ;
Xích Tùng, thị lưỡng sư du hý, Thần Nông chi thế phi dao;
Thương Hiệt sinh văn tự khế thư, Bàn Cổ chi phong khả tự.
Tứ đầu giang chử, tam thập niên chi thác tích chuyển không;
Khấu thủ thiên môn, cửu vạn lý chi cao ca hữu tự.
Lâu dài diệc huyễn; hiêu tử không lưu.
Giang ba tịch tịch, vân ảnh du du.
Duyệt cổ kim chi trần tích; Cảm hòa thử ý giao khâu.
Lai Công chi trúc thành âm đức năng triệu dị; Phan Lệnh chi đào kết thực, ngã diệc hà cầu.
Nhiên nhi: Thiệu Bá cam đường bất phạt, tổng nhân tâm chi tý mộ;
Sở dĩ: Dương Công nghiễn thủ hứng ngôn, thị lai giả chi trù mâu.
Viết đình viết các; thành ấp thành đô.
Tiên tung phiêu diểu; vãng sự hoang vu.
Cung lạp lâm gian, Tề đông dã chi võng ngôn khả tiếu;
Mạc duy giang thượng, Triệu bắc phương chi giai thoại hoàn vô.
Hý dĩ truyền hý; tín nan khả tín.
Nhân tý cựu trạch nhi bất vong; ngã độc phi linh nhi mặc vận.
Thạch khởi năng ngôn chi vật, chuyển dã hà tằng;
Cối truyền tả nữu chi văn, thị thùy mậu dẫn.
Toại sử: Thiên thu vận sự, di tích nan bằng;
Thức khán nhất phiến nhàn vân, tiên tung bất dẫn.
Duy Tân, Quý Sửu niên.
Cung lục Đa Hòa từ.
Kê vãn.
Phụng thuyên bái tiến.

3. Dịch nghĩa:
Năm Ất Tỵ (1905) đời vua Thành Thái
ĐỀ TỰ BÀI GIÁNG BÚT CỦA TIÊN ÔNG CHỬ ĐỒNG TỬ
Sông núi này, mắt ta ngắm nhìn đã mấy nghìn năm.
Một khúc ca cao vút, lan rộng tới chín tầng trời.
Trăng sáng chiếu qua mây, bóng nhạt nhòa bên bến sông.
Sóng nước vỗ đập vào bãi cát vùng đất Dạ Trạch.
Câu chuyện thần tiên về chiếc gậy trúc, nón gồi chẳng qua là ngoa truyền.
Ai hay được chuyện tình duyên của con gái vua chốn đền đài?
Dù cho sống nõi trần gian, nhưng cuối cùng chẳng nhiễm bụi trần.
Mọi chuyện rồi cũng theo Rùa vàng ra biển hay gửi trong đám mây trôi.
DẠ TRẠCH TIÊN GIA PHÚ
(PHÚ VỀ GIA ĐÌNH TIÊN ĐẦM DẠ TRẠCH)
Ngọc khuyết thiên cao; Kim đài rộng mở(3).
Mây muôn trượng bay cao, nước ngàn trùng xanh biếc(4).
Thuyền một lá lênh đênh, ai hỏi chốn Bồng Lai cảnh tiên hư ảo?
Dạ Trạch đầm nước mênh mang, ta riêng tạo chốn nhân duyên đế tử(5).
Tương truyền: May gặp Hoàng nữ trên sông, rồi bỗng nên duyên phận;
Biết chăng: Vốn nòi tiên sánh cùng Cung ngọc, chẳng có gì sai(6).
Hùng Vương dựng nghiệp, mười chín đời truyền(7);
Đế thất lưu truyền: Nước có mỹ nữ(8).
Theo sao mờ hiển hiện, chớp nhoáng như xe bay, mây lướt mưa sa ở đất Xích Đằng(9) thắng địa.
Rồi nhân thế phạt mộc dựng lầu cao, gây riêng một chốn, thử hỏi nào đâu Bạch Xã(10) nền xưa.
Đây xứ: Tiên cung chó gà kêu việc xẩy đột nhiên;
Bỗng nhiên: Ðầm lớn rồng rắn quấn quýt sao mà lạ(11).
Trồng hạnh nghìn cây, thuốc hay giúp khắp thôn dân;
Gây đào vạn cửa, lời ca vang cùng làng xóm.
Những khi: Trãng sáng, đêm thanh, trời cao sông rộng.
Lúc cưỡi thuyền buông câu; lúc tựa song đón gió.
Dan tay gác tía, thổi sáo ngọc mà chim phượng đến; cài trâm bên cửa biếc, gắn chữ vàng mà uyên ương theo.
Trần ai phong cảnh mênh mang, ở lâu sao đặng;
Nhật nguyệt giữa trời lấp lánh, thấy động dấu tiên.
Bèn từ cung khuyết. Dâng biểu trần tình;
Lại đến thần sơn, tìm hỏi bạn cũ(12).
Cùng Xích Tùng tiên du hí, đời ThầnNông(13) ngày ấy chẳng xa;
Chữ Thương Hiệt(14) thư khế rành rành, phong tục Bàn Cổ(15) đã có đầu mối.
Bốn mặt nước Chử giang(16), ba mươi năm thác tích, thành không;
Hai tay chắp Cửu trùng, ngàn muôn dặm ngợi ca từ đó(17).
Lâu đài nào thấy; gậy cũ còn đâu!
Sóng nước mịt mờ, mây mù thăm thẳm.
Xem nào cổ kim dấu tích; nhớ tới ngoài nội lúa ngô.
Trúc Lại Công(18) nay đã thành rừng, đức thường gây dựng.
Ðào Phan Lệnh(19) vốn đà kết trái, ta cũng chẳng cầu.
Thế mà: Như Thiệu Bá(20) không phạt Cam đường, cũng là do lòng người tư mộ;
Sở dĩ: Dương Công(21) miệt mài bên nghiên mực, chỉ mong cho hậu thế đẹp tươi.
Nào đền, nào gác, nên xóm nên thành.
Gót tiên lãng đãng; sự cũ hoang vu.
Khá cười chuyện cũ hoang đường, gậy trúc nón gồi, đồn khắp hang cùng ngõ hẻm;
Lại hay giai thoại vu vơ, màn gấm bên sông, lan xa ngoài cõi Bắc phương(22).
Đồn lại thêm đồn; tin không khó biết.
Đầm xưa, người nhớ mãi chẳng quên; Ta vẫn riêng cưỡi mây phù vận(23).
Đá có nói gì đâu mà vật chuyển dời, sao thế?
Sao truyền cội gốc chuyện xa xưa ngoa vậy, vì ai ?(24).
Khiến cho: Nghìn thu chuyện đẹp, tích cũ khó tìm bằng cứ?
Hãy nhìn một áng mây trôi, dấu tiên như còn tỏ.
Năm Quý Sửu (1913) đời vua Duy Tân.
Kính cẩn chép từ đền Đa Hòa – Văn giáng bút.
Kính sao – Bái tiến.

4. Mấy nhận xét
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú, chúng tôi vừa giới thiệu trên đây, như đã nói, được coi là bài phú “giáng bút” của Chử Đạo tổ trong một đàn cầu tiên tổ chức tại đền Đa Hòa vào năm 1905.
Ðàn cầu tiên là một sinh hoạt có tính văn hóa của những người trí thức Nho học Việt Nam tồn tại từ lâu đời. Đến khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đạo cầu hồn vốn xuất hiện ở Âu Mỹ, được gọi là Thần linh học hoặc Linh hồn học (Psychisme) thấm dần vào Việt Nam. Từ đó, đàn cầu tiên có thêm “người bạn đồng hành” là đạo cầu hồn nên đã phát triển hõn trước. Cầu hồn của phương Tây với cầu tiên của nước ta không khác nhau là bao nhiêu. Về nguyên tắc hai bên đều thừa nhận linh hồn bất tử, có thể giao tiếp với người sống, tiên “giáng bút” thì làm thõ, làm phú bằng chữ Hán. Cầu hồn kiểu Tây thì ai chấp bút cũng được, hồn nhập bút viết bằng chữ Pháp hay chữ Quốc ngữ.
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú được ra đời trong hoàn cảnh Cầu tiên do các vị Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Cảnh, Lê Chuyên… tổ chức. Loại trừ việc coi bài phú này của Chử Đồng Tử là điều khó có thể tin được, thì giá trị văn học của Dạ Trạch Tiên gia phú là điều dễ nhận thấy. Về hình thức cũng như nội dung, Dạ Trạch Tiên gia phú có vẻ tài hoa, thanh thoát tương tự như bài Thanh Tâm Tài Nhân phú được sáng tác trong Tao đàn Hưng Yên cũng vào nãm 1905 của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh. Do vậy, chúng tôi cho rằng việc công bố rộng rãi bài Dạ Trạch Tiên gia phú này, để bạn đọc tham khảo và thưởng thức là điều hết sức cần thiết và bổ ích.
N.M.T – T.Đ.Q

CHÚ THÍCH
(1) Nguyên chú: thủy trúng chính long.
(2) Nguyên chú: chữ nguyên chú nhỏ quá lại mờ chưa đọc được.
(3) Nguyên chú: lời này có ý rằng bậc quân chủ yêu quý người hiền tài.
(4) Nguyên chú: ta từ trên trời giáng xuống trần thế.
(5) Nguyên chú: lời này nói về đất nõi ta ẩn cư.
(6) Nguyên chú: ta cùng Chính phi Tiên Dung đều là tiên giáng thế, không cần Hoàng đế cho phép, vẫn kết hôn.
(7) Nguyên chú: Ta giáng sinh vào giờ Sửu (1-3 giờ sáng) năm Bính Ngọ, đời Hùng Vương thứ 19.
(8) Nguyên chú: bỉ xu giả tử: Đẹp sao người con gái kia. Câu này dẫn trong Kinh Thi lấy ý thơ chương Đại Minh.
(9) Xích Đằng: tên xã thuộc tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên), có đền thờ Phạm Bạch Hổ và Ðinh Ðiền.
(10) Bạch Xã: địa danh thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Hà Nam của Trung Quốc. Theo sách Tấn thư – Ðổng Kinh truyện, thì Bạch Xã là nơi mà Ðổng Kinh đã từng trú ngụ. Theo sách Thủy kinh chú thì Bạch Xã là tên làng cũ ở phía Bắc của sông Dương Cừ chảy qua tỉnh Hà Nam. (Từ nguyên-Bộ Ngọ, tr.57).
(11) Nguyên chú: ta có phép thần có thể biến thành rồng rắn giáng thế.
(12) Xích Tùng – Cựu Lã: tức Xích Tùng Tử và Lã Động Tân là hai vị tiên trong số Bát tiên của Đạo giáo thần tiên Trung Quốc.
(13) Thần Nông: một trong Ngũ Đế trong thời Cổ sử Trung Quốc (Phục Hy – Thần Nông – Hoàng đế – Đế Nghiêu – Ðế Thuấn). Tương truyền, Thần Nông đã có công dạy dân biết trồng trọt, phân biệt ngũ cốc và chữa bệnh.
(14) Thương Hiệt: người đời cổ của Trung Quốc, được coi là có công sáng tạo ra chữ Hán.
(15) Bàn Cổ: một nhân vật thần thoại Trung Hoa.
(16) Chử giang: dòng sông Hồng chảy qua bãi Chử Xá, nơi Chử Đồng Tử sinh ra và kiếm sống rồi gặp Tiên Dung công chúa.
(17) Nguyên chú: Ta ngồi hóa giờ Dậu (7-8 giờ tối), ngày 20-9 nãm Giáp Tuất đời Hùng Vương thứ 20. Ta sống tại cõi trần 30 năm, lại trở về cõi tiên, vì thế cổ nhân bảo ta có thuốc trường sinh.
(18) Lại Công Trúc: truyện Khấu Chuẩn trong Tống sử chép: Khấu Chuẩn bị biếm đến Lôi Châu, chết ở đó. Người nhà đem ông về táng ở Tây Kinh. Ðường đi qua huyện Công An, phía Nam Kinh Châu, nhân dân thương ông đều đặt bàn thờ, khóc lóc tế ông bên đường. Họ còn bẻ trúc trồng hai bên đường… Sau này trúc khô đi nhưng sinh ra măng. Do đó ở Kinh Châu có loại trúc Lại Công. (Từ nguyên – bộ Thân, tr.27).
(19) Phan Lệnh đào: chưa rõ ở điển nào.
(20) Thiệu Bá: tên thật là Thiệu Công Thích, con thứ của Chu Vãn Vương. Ông cùng với Chu Công Ðán là hai bề tôi có công lao cai trị đất nước thời Chu Võ Vương và Chu Thành Vương. Thiệu Công Thích vốn họ Cõ, nhưng vì được chia thái ấp ở đất Thiệu, nên xưng là Thiệu Bá. Thiệu Bá xử kiện công minh cho dân, người sau trồng cây cam đường để ghi nhớ! Kinh Thi có câu: Tế phế cam đường (Rườm rà cây cam đường).
(21) Dương Công: chưa rõ tác giả sử dụng điển nào.
(22) Nguyên chú: sử nước ngoài có nói chuyện gậy trúc, nón gồi, có lý nào như vậy! Thế mà con Hoàng đế giáng vân. Đến việc vây màn bên sông, đều do bọn dốt nát bịa ra, không thể tin cậy được! Muốn hiểu thấu phải tự mình lý giải mà thôi!
(23) Nguyên chú: nói là phi linh, tức giáng linh, đây dùng lời của bậc đại nhân.
(24) Nguyên chú: chỗ này cũng nên xem xét cho rõ ràng./.

Tể tướng Lữ Gia

Bài viết của nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên ở Vĩnh Phúc.

Có môt thời kì lịch sử mà giới sử học Việt Nam tranh cãi là có nên chép vào lịch sử nước Việt Nam hay không, đó là kỉ Nhà Triệu của Triệu Đà. Ở thế kỉ XV Nguyễn Trãi viết câu đầu trong bài Bình Ngô đại cáo:
 … Xét như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến
Cõi bờ sông núi đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lí, Trần, Lê nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt không bao giờ thiếu.
Sang thế kỉ XVIII, nhà sử học Ngô Thì Sĩ trong sách “ Việt sử tiêu án” lại chưa tán đồng quan điểm này. Nhưng đó là truyện của lịch sử.

1. Nước Nam Việt của Triệu Đà
Họ Triệu, tên là Đà là viên quan uý, người huyện Chân Định nước Hán,  nhân lúc nhà Tần ở phía bắc suy yếu đã nổi dậy cướp lấy đất Quế Lâm và Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương, xưng đế đóng đô ở Phiên Ngung tức đất Quảng Châu Trung Quốc ngày nay. Đất đai của Đà  chiều ngang có hàng vạn dặm, gồm cả đất đai của nước Âu Lạc thời Thục An Dương vương, đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “ chế”, chẳng kém gì hoàng đế Trung Hoa. Truyền 05 đời làm vua: Trỉệu Vũ vương ( 207-136Tcn), Triệu Văn vương ( 136-124Tcn), Triệu Minh Vương (124-112Tcn), Triệu Ai vương (112Tcn), Triệu Thuật Dương vương ( 111Tcn). Việt sử thông giám tổng luận của Lê Tung in lên đầu sách Toàn thư của họ Ngô có đoạn viết: Triệu Vũ đế nhân loạn nhà Tần, chiếm lấy đất Lĩnh Biểu, đóng đô ở Phiên Ngung, cùng với Hán Cao Tổ, đều làm đế một phương; có lòng nhân thương dân, có mưu trí giữ nước. Vũ công khiến Tàm Tùng phải kính sợ, văn giáo khiến Tượng quận được chấn hưng, lấy thi thư mà biến đổi tục nước, lấy nhân nghĩa mà cố kết lòng người, dạy dân cày trồng, nước giầu binh mạnh, đến như các việc sai sứ (sang nhà Hán) thì lời lẽ khiêm tốn, Nam Bắc chung vui, thiên hạ vô sự, hưởng nước hơn trăm năm, đúng là bậc vua anh hùng tài lược. Còn có một nhân vật lịch sử thời thời nhà Triệu trước công nguyên được nhắc đến nhiều ở huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, đó là ông Lữ Gia, vị tể tướng thuộc kỉ nhà Triệu.
Vậy ông là ai?

2. Ông Lữ Gia là người Việt
Vào thời Triệu Võ đế huý là Đà, ở bộ Cửu Chân, huyện Lôi Dương, phủ Nghệ An có một gia đình ông họ Lữ tên huý là Tạo, có nghề làm thuốc trị bệnh cứu người. Vợ là con gái nhà họ Trương tên là Châu, gọi là Trương Thị Ninh người bộ Vũ Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Hai người sinh được 07 người con nhưng đều đã mất sớm. Đến năm ông ở tuổi 60, mới sinh tiếp một con trai vào ngày 10 tháng 02 năm Tân Hợi (?), đặt tên là Gia. Khi lớn lên lại đặt tên là Lệ. Đến năm 15 tuổi thì cha mẹ đều qua đời, mà nhà thì quá nghèo nàn, chẳng có gì lo việc tang ma. Mới tự than rằng: Cha ta có tài, làm thuốc chữa được hàng nghìn con người, thế mà chẳng thể cứu được bệnh nghèo của con mình. Người xưa có câu rằng “ lương y chi tử, tất tử hồ”, nghĩa là chữ “ tử” là con của lương y cũng đồng nghĩa với chữ “ tử” là chết vậy!
Bởi thế ông mới qua bờ bắc sông Nhĩ Hà đến nhờ người cậu ruột là Trương Viêm. Được tròn 03 năm, ông Viêm bị người bộ trưởng ở Vũ Ninh là Đào Trịnh mưu sát hại, chí muốn báo thù nhưng vì tuổi còn nhỏ, sức mỏng nên chưa thể làm nổi. Bởi vậy mới chuyển đến ở đất Ô – Lí thuộc Lâm Ấp, nương nhờ vào vị Thiền sư chùa Hoàng Long đạo hiệu là Huyền tông.
Ở đất Ô – Lí Gia ngày đêm vẫn mưu tính báo thù cho người cậu. Tự thân ông khổ công không nguôi, mới chiêu nạp được độ vài trăm người nghiã binh, rồi dùng thuyền từ Linh Giang huyện Chí Linh tiến xuống cửa sông Bạch Đằng, bỏ thuyền lên bờ, gặp ngay bọn Đào Trịnh ở khe núi Chung Sơn. Ông hăng hái tiến đánh một trận giết chết bọn chúng. Rồi ông quay trở lại chỗ nhà người cậu, bàn bạc với người nhà làm lễ tế cậu chu tất. Rồi mới trở lại đất Lâm Ấp. Rồi cũng ở Lâm Ấp, ông kết hôn với 02 con gái nhà bộ trưởng đất ấy họ Hùng là Lâu Bảo Hoa và Nhĩ Bảo Hoa, rồi xin trở về quê nhà.
Ở quê được 02 năm thì gặp lúc Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) thăng hà, Triệu Văn vương lên nối nghiệp (136 Tcn), các châu quận cử những người ngay thẳng, có trình độ hiếu liêm (người có học hạnh mà do địa phương tiến cử), văn võ đầy đủ học vấn rộng rãi về bộ Cửu Chân cùng dự thi tuyển ở trường Nghệ An. Đến khi vào gặp nhà vua, ông lại có tài ứng đối nên được phong làm chức “Thị tòng tham quan” dùng để rèn luyện nghi thức chính sự trong triều. Lại kiêm chức “Đốc lĩnh thuỷ đạo Long chu, tả súy đô thống chế đại vương”. Sáu năm sau, lại được bái phong làm tể tướng (Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép, vào năm 124 Tcn Minh vương nhà Triệu lấy Lữ Gia làm chức Thái phó, tức là vào hàng “tam công” của triều đình nhà Triệu). Bia đền Cả xã Liễn Sơn chép: Cùng với Triệu Minh vương, vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình, muôn dân no đủ, bốn biển yên vui phồn thịnh, Triệu Minh vương vì ông có công nên ban cho một chiếc búa “phủ việt”, tỏ ý trường tồn cùng đất nước.

3. Vai trò của Lữ Gia trong triều đình nhà Triệu
Về việc này, Sử kí của Tư Mã Thiên chép khá tường tận: Lữ Gia là thừa tướng 03 đời vua, tuổi cao, chức trọng. Họ hàng làm quan trường lại đến hơn 70 người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở Thương Ngô. Ông ở trong nước rất được tôn trọng. Người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông. Ông được lòng dân hơn vương.

4. Những lục đục trong triều đình
Năm 113 Tcn, Minh vương khi còn làm thế tử, sang làm con tin cho nhà Hán ở Trường An có lấy người con gái họ Cù ở Hàm Đan. Đến khi về nước lên ngôi, giấu ấn của tiên đế là Triệu Đà, dâng thư sang nhà Hán xin lập Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thế tử. Năm ấy Minh ương mất, con thứ là Hưng lên nối ngôi, tức là Ai vương, tôn mẹ làm thái hậu.
Khi trước, ở nước Hán, khi chưa lấy Minh vương, hậu đã từng thông dâm với người ở Bá Lăng họ tên là An Quốc Thiếu Quý. Năm này, nhà Hán sai Thiếu Quý sang dụ nhà vua và thái hậu vào chầu. Khi ấy vua còn ít tuổi, Cù hậu đến là người Hán, Thiếu Quý đến lại tư thông. Người trong nước biết, phần nhiều không theo thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên vua và các quan xin nội phụ nhà Hán. Bèn nhờ sứ giả dâng thư, xin theo như các chư hầu ở trong, cứ 03 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới.
Năm 112 Tcn, thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để vào chầu, Lữ Gia nhiều lần dâng thư can ngăn, vua không nghe, nhân thế có lòng muốn phản lại thái hậu, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Sử Toàn thư chép tiếp: Các sứ giả nhà Hán, đều chú ý đến Gia, nhưng chưa thể giết được. Vua và thái hậu cũng sợ bọn Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết bọn Gia. Thái hậu bày tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo Gia rằng: Nam Việt nội thuộc (Trung Quốc) là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao? Cốt để chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đang hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận muốn lấy giáo đâm Gia, vua ngăn lại. Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả. Ngầm cùng các đại thần mưu làm loạn. Vua vẫn không có ý giết Gia. Gia cũng biết thế, vì vậy đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi.

5. Binh biến trong triều đình
Trước tình trạng đó, thiên tử nhà Hán sai Hàn Thiên Thu và em của Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2000 quân tiến vào đất Việt. Thấy vậy, Lữ Gia  bèn hạ lệnh cho người trong nước biết rằng: “Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của tiên vương (Triệu Đà) dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời”. Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, gọi là Thuật Dương vương vào năm 111 Tcn.

6. Phá Hàn Thiên Thu
Tháng 11 mùa đông, quân của Hàn Thiên Thu đã vào cõi, đánh phá một vài ấp nhỏ. Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cắp lương cho quân. Khi quân của nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 4o dặm (mỗi dặm bằng 444,44m), thì Lữ Gia xuất quân đánh giết được bọn Hàn Thiên Thu. Sai người đem cờ tiết sứ giả của Thiên Thu cho vào hòm để ở trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ), dùng lời khéo để tạ tội vói thiên tử nhà Hán, mặt khác, lại phát binh giữ các chỗ hiểm yếu,  lập trận, chất đá ở giữa sông gọi là Thạch Môn.

7. Thế yếu bại binh
Nghe tin sứ giả Hàn Thiên Thu bị giết, Hán Vũ đế sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xất phát từ Quế Dương; Lâu thuyền tướng quân xuát phát từ Dự Chương; Qua thuyền tướng quân tên là Nghiêm xuất phát từ Linh Lăng; Hạ lại tướng quân tên là Giáp đem quân xuống Thương Ngô; Trì Nghĩa hầu tên là Quý đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội ở cả Phiên Ngung.
Mùa đông năm 111 Tcn, tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 quân tinh nhuệ vay hãm Tam Hiệp, phá tan trận Thạch Môn, lấy được thuyền thóc của Nam Việt, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung. Bấy giờ Bác Đức có hơn 1000 người cùng tiến với số quân đi trước của Dương Bộc, gặp vương và Lữ Gia đang giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện ở mặt đông nam, Bác Đức đóng ở mặt tây bắc. Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít, bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì trong thành đầu hàng. Vua và Lữ Gia cùng vài trăm người đang đêm chạy ra biển. Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia bèn sai người đuổi theo.
Về phần này bản ngọc phả ở đình Nhân Lạc chép: Nước Việt đã mất, ông mưu tính việc khôi phục, mới đem theo số nghĩa binh mới mộ vài nghìn người, giữ vững miền thượng lưu sông Lô, cùng với hai phu nhân đóng doanh riêng cố thủ. Dựa vào thế hiểm của núi Long Động trên núi Thét (núi ở xã Quang Yên huyện Sông Lô) bí mật lẻn ra đánh tập kích quân Hán. Quân Hán mấy lần bị thua, buộc phải trở lại kinh thành, Lộ Bác Đức sai người kết giao với bộ tướng của ông là Chu Năng, bàn với Năng phản lại ông, hứa rằng sau sẽ cho Năng làm Toàn Việt vương. Năng cùng quân Hán đánh lại ông ở bên sông Nhân Mục trên sông Lô, nhưng trận chẳng thành. Chu Năng lại theo đường núi Lãng Sơn (núi Sáng) đánh úp, ông phải rút lui về bến Bạch Hạc (Phong Châu) đóng quân. Ngày hôm sau, Lộ Bác Đức đem quân đến vây, quân giặc cả bốn bề xông lên. Ngựa không còn dùng được quân Việt tán loạn, chỉ còn một mình ông tả xung hữu đột, thế khó đương nổi. Ông mới ngửa mặt lên giời than rằng:
出師為捷申先死
長史英雄淚滿衾
Xuất sư vi tiệp, thân tiên tử
Trường sứ anh hùng lệ mãn khâm.
Nghĩa là:
Ra quân chưa thắng, thân đã chết
Khiến bậc anh hùng lệ chứa chan.
Ông đánh tiếp một hồi, liền sau đó ông bị một viên tướng Hán chém một đao sát thương ngay trong trận. Lữ Gia chết, nước Nam Việt cũng mất.
Bình luận về việc này, trong sách Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận in lên đầu sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của sử thần Ngô Sĩ Liên do Lê Tung biên soạn có đoạn: Minh vương buổi đầu nối nghiệp, yên vui buông thả. Cù Hậu được yêu, vợ Việt bị bỏ, trong nước không hoà, kỉ cương đại loạn. Ai vương tuổi ấu thơ, chưa biết lẽ trị nước, mẫu hậu kiêu dâm, quyền thần chấp chính, mà cơ nghiệp họ Triệu rút cuộc lụn bại. Thuật Dương vương là anh Ai Vương, lập nên bởi tay quyền thần, trí kém sức yếu, giặc mạnh xâm lấn mà cơ đồ nhà Triệu từ đấy xụp đổ. Xét tai hoạ của Ai Vương, tuy ở Lữ Gia, nhưng thực ra là do ở Minh Vương yêu chiều Cù Hậu mà gây ra. Nữ sắc làm nghiêng đổ nước nhà như thế, phải lấy làm răn.
Bình luận như thế là đúng với thời cục lúc đó của triều đinh nhà Triệu, nhưng có phần khe khắt với Lữ Gia vì dù sao ông cũng chỉ là vị tướng già có lòng rất biết tự tôn và xả thân vì nước đến cuối cùng.
Từ đó, nhà Hán lấy nước Nam Việt chia làm 09 quận là: Nam Hải (quận của nhà Tần, sau là đất Quảng Đông của nhà Minh). Thương Ngô (nhà Đường gọi là Ích Châu, xưa là đất Âu Lạc, đất của nước Việt ta). Uất Lâm (nhà Tần là quận Quế Lâm, Hán Vũ đế đổi là tên này). Hợp Phố (nhà Tần là Tượng Quận, đời Minh thuộc Liêm Châu). Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đều là Tượng Quận đời Tần). Châu Nhai, Đạm Nhĩ (nay là vùng đất đảo Hải Nam). Bắt đầu đặt chức Thứ sử cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận. Quận là cấp dưới của châu.

8. Câu truyện hậu Lữ Gia ở Sông Lô
Truyện trong ngọc phả đình làng Nhân Lạc chép lại rằng: Sau khi bị một viên tướng Hán chém một nhát trọng thương, Ông Lữ Gia vẫn cứ tả xung hữu đột phá vòng vây, chạy đến thôn Lữ Chỉ huyện Thiên Bản (nay thuộc tỉnh Nam Định), gặp một bà lão. Ông mới hỏi rằng:
– Từ xưa đến nay, nguời không có đầu sống được chăng?

Bà lão liền trả lời:
– Người ta có sống được là nhờ ở thân thể được toàn vẹn. Chưa từng nghe thấy người không có đầu mà có thể sống được bao giờ!
Bà lão vừa nói dứt lời, ông từ trên mình ngựa thét lên một tiếng, rồi nói:
一言封得英雄骨
萬古遺來恨淚長
Nhất ngôn phong đắc anh hùng cốt
Vạn cổ di lai hận lệ trường.
Nghĩa là:
Một lời nói đổ xương anh kiệt
Muôn năm mắt lệ hận còn dài.
Nói xong đổ gục ngay xuống chỗ đất ấy. Trong chốc lát mối đã đùn lên thành ngôi mộ lớn. Nhân dân thôn Lữ Chỉ dựng ngôi miếu thờ cúng ông. Sau khi Tể tướng đa hi sinh nơi chiến trường, như các tổng, huyện, xã nơi ông từng đi qua từ nơi chiến trận, những địa phương ngựa chạy máu rơi đầm đìa, nhân dân đều lập đền thờ phụng. Người đời sau có thơ vịnh rằng:
生為名將死為忠臣
萬古綱常係一身
江上土堆秋月桉影
往來人說呂公墳
Sinh vi danh tướng, tử vi trung thần
Vạn cổ cương thường hệ nhất thân
Giang thượng thổ đôi thu nguyệt ảnh
Vãng lai nhân thuyết Lã công phần.
Nghĩa là:
Sống là danh tướng, chết làm trung thần
Muôn thủa cương thường một tấm thân
Gò đống trên sông trăng sáng tỏ
Người qua ngắm mãi Lã công phần.
Truyền thuyết ở huyện Sông Lô kể lại rằng: Khi Lữ Gia chết trận, có một con  “chó ngao” ngậm lấy đầu, chạy đến đầu núi trang Yên Thiết (tức núi Thét), liền bị thần núi ấy hiện lên lấy lại, chôn cất ở phía nam núi ấy.
Do là con “ chó ngao” là con vật mà ông rất yêu mến. Phàm mỗi khi hành quân hay dừng lại ở đâu, đều dắt theo “ chó ngao” cùng đến đó. Cho nên khi ông bị chém, con “ chó ngao” cảm nhớ ơn đức ấy, ngậm lấy đầu mà chạy trốn đi, đến khi thần núi lấy lại, chôn cất ở phía Nam núi ấy, con “chó ngao” tự vẫn chết. Ngày hôm ấy xã Yên Thiết lập miếu thờ phụng, gọi là ‘Đền Am”, địa điểm ở xứ “Gò Chùa”, di tích đến nay hãy còn. Năm 2012. UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp băng di tích LS – VH cấp Tỉnh – Thành phố.
Lại nói, hai phu nhân họ Hùng của ông cùng với ba thị nữ đem 300 quân đi trên 05 chiếc thuyền theo sông Lô mà theo sau. Đến làng Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang (nay là Phù Ninh) rồi đỗ lại đấy. Đó là ngày 12 tháng 05. Vừa thiêm thiếp đi, hai bà bỗng thấy một người học trò, mình mặc áo xanh, tay cầm cờ vuông có đề chữ rằng:
天本瀘江已顯神
扶康立石望邊津
Thiên Bản, Lô Giang dĩ hiển thần
Phù Khang, Lập Thạch vọng biên tân.
Nghĩa là:
Thiên Bản, Lô Giang đã hiển thần
Phù Khang, Lập Thạch ngóng bên sông.
Chính phu nhân choàng tỉnh dậy mới biết là vừa nằm mơ. Hai phu nhân phán đoán chưa rõ là điềm gì thì ngay lúc đó dời thuyền lên bờ ở bến Thượng Nha, truyền binh sĩ thiết lập đồn luỹ doanh trại đợi tin tức. Đến ngày 30 tháng 05 bỗng thấy quân Hán kéo đến ngày một mhiều, cờ xí rợp đất, khí giới đầy trời, rồi vây kín hai phu nhân vào giữa. Hai phu nhân không thể giải vây, ứa nước mắt mà than rằng: Tướng công ở nơi nao, nay sự việc xảy ra với thiếp là cùng đường rồi.
Tin tức ngầm cũng không thông do những người qua lại đưa tin đều bị quân Hán giết chết. Đến giữa canh ba đêm đó, bỗng thấy mưa to gió lớn nổi lên kín trời, sấm vang dậy đất, thấy ông từ phương đông bắc lọt vào giữa vòng vây của quân Hán, gặp gỡ hai phu nhân nói cho biết rằng ông đã bị quân Hán giết hại rồi. Nay hai phu nhân lại bị vây khốn ở nơi đây, cho nên hiển linh để cứu giúp.
Giờ dần (03 – 05 h) ngày hôm sau, ông sai một đạo quân thuỷ đến tổng Nhân Mục lấy 10 con trâu đem về doanh trại ở Thượng Nha, mở tiệc khao quân. Lại giết ba con gà trống, lấy máu ăn thề, cùng nhau giết giặc để rửa sạch mối hận anh hùng. Xong tiệc khao quân, ông biến thành đám sương trắng bay ngang qua sông từ bến Nhân Mục đến bến Thượng Nha thẳng lên trời. Rồi lại thấy ông cưỡi ngựa, đội mũ hoa, thân mang giáp, tay cầm thương vàng dài 10 thước từ trên không trung miệng thét lớn xuống dưới quân Hán:

-Ta sinh làm tôi trung, chết làm thần. Ngày nay chúng bay sao phản lại được ta, thát sao khỏi lưới trời!
Nói xong ông cầm đao “ thất hoả” xông vào giữa vòng vây quân Hán, chém tướng Hán là Chu Năng và các quân sĩ tới hơn trăm người. Quân Hán rối loạn ở sông Lô, phải rút lui tan tác. Rồi ông bay lên không mà đi.
Đến vùng trên bến sông Nhân Mục, bỗng thấy có hai chiếc thuyền con, hai phu nhân bước lên thuyền rồi nhìn theo. Bỗng thấy chiếc thuyền bị vỡ ra một mảnh, phu nhân nhặt lấy nhìn xem chỉ thấy 04 chữ “phục ẩn thánh thần” (dấu ở trong có thánh thần), hai phu nhân cảm tưởng như có dẫn đường mới trở lại bến Thượng Nha, đến giữa dòng mới cùng nhau nhảy xuống sông tự vẫn.
Dân hai bên bến sông lập miếu phụng thờ hai bà. Bốn thôn Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang lập đền chính. Đền miếu nơi đây linh ứng rõ ràng. Hàng năm cúng giỗ chính vào ngày 01 tháng 06.

Còn như đầu của ông, từ khi chó ngao ngậm lấy, về sau máu chảy thấm những nơi chạy qua, tất cả đều lập miếu thờ. Còn ở Phong Châu nơi chính sảy ra chiến trận xưa, nhân dân lập đền thờ phụng. Lễ chính vào ngày 20 tháng 05.
Khi trở về trang Nhân Mục huyện Lập Thạch (nay là huyện Sông Lô), sau khi ông mất, dân lập lại đền thờ chính, huý là Nguyễn Triêu Lệ đại vương. Lệ tiệc giỗ chính vào ngày 10 tháng 05.
Xã Yên Thiết tổng Bạch Lưu nơi mộ chính chôn đầu ông, lập miếu thờ phụng. Còn các xã của tổng Đạo Kỉ, tổng Nhân Mục, các xã tổng Bạch Lưu nơi máu chảy đều lập miếu thờ. Các di tích hiện còn.
Đời sau có thơ vịnh rằng:
生為忠將死為神
萬古綱常舊更新
夫婦一心同此節
留傳祠宇兩邊津
Sinh vi trung tướng, tử vi thần
Vạn cổ cương thường cựu canh tân
Phu phụ nhất tâm đồng thử tiết
Lưu truyền từ vũ lưỡng biên tân.
Dịch là:
Sống làm trung tướng, chết làm thần
Muôn thủa cương thường chẳng đổi thay
Chồng vợ một lòng cùng khí tiết
Lưu tuyền đền miếu hai bên sông.
Cũng vì sự tích ông chọn lấy 10 con trâu ở tổng Nhân Mục mở tiệc khao quân, mà ở tổng này có tục giết trâu hiến tế. Sử sách ghi lại rằng: Xã Bạch Lưu Hạ huyện Lập Thạch , hàng năm nuôi 20 con trâu, cứ ngày 18 tháng giêng hoặc ngày 28 tháng 12 đặt đàn tế thần ở ngoài nội, cho trâu uống rượu, rồi lùa vào trong cái chuồng có tường đất xung quanh cho trâu chọi nhau, con nào bị thua thì giết lấy thịt để tế thần.
Còn làng Nhân Mục có tục thi bơi để tưởng lệ hai phu nhân. Có ngôi “đền Bơi” để tổ chức các cuộc thi bơi đó.
Năm 2002, tục hội chọi trâu đẫ được khôi phục lại, gọi là “Hội chọi trâu xã Hải Lựu” để tưởng nhớ Lữ Gia. Tổ chức vào ngày 17 tháng giêng, có bài chúc văn làm theo lối mới tuyên đọc rất nhiều ý nghĩa. Bài văn ấy có đoạn mở đầu như thế này:
Nhớ Đại vương xưa,
Sinh vi tướng, tử vi thần
Đức sánh càn khôn, tài xoay vũ trụ.
Trung dũng vẹn toàn, võ văn gồm đủ.
Lòng trung ái trong triều, ngoài nội, thương xót muôn dân
Chí kinh luân dọc đất, ngang trời, giúp vì nước Tổ.
Bao trận sông Lô sôi nổi, giặc Hán hồn kinh
Mấy năm núi Thét vang lừng, trời Nam mặt tỏ.
Dư uy mặt nước réo ầm ầm
Chính khí đỉnh non soi rực rỡ.
Đầu dẫu mất, thề không thua giặc, một thời lẫm liệt oai động lân bang
Kiếm chưa mòn, sông núi reo thiêng, danh truyền lịch sử…
Sơn Đông. Ngày 30 tháng 08 năm 2011

Tài liệu chính dùng để viết bài:
1. SỬ KÝ. Tư Mã Thiên.  Đời Hán (Trung Hoa).
2. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ. Ngô Sĩ Liên. Thế kỉ 15.
3. Việt sử tiêu án. Ngô Thì Sĩ. Thế kỉ 18.
4. Bia thần tích Đền Cả xã Liễn Sơn Huyện Lập Thạch, Có tên: VIỆT THƯỜNG THỊ ĐẠI LA THÀNH PHÙ KÍ TỨC HÀ THƯỢNG CỔ ĐẠI PHU HỰU PHỤ MINH PHU NHÂN NGỌC PHẢ CỔ LỤC CHÍNH BẢN.
5. Ngọc phả đình Nhân Lạc xã Đôn Nhân huyện Sông Lô: VIỆT THƯỜNG ĐẠI LA THÀNH DŨNG THÁNH ĐẠI VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỀN.

Địa chỉ:  Thôn Quan Tử xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
ĐT;  02113828069. DĐ:  0984550547. Email: thuyenlk@gmail.com

Khoa đẩu thiết Khẩu

Đăng lại bài viết của Văn Nhân và bổ sung hình ảnh các thể chữ cổ trên đồ đồng ở Việt Nam.

Năm Quang Tự thứ 25 (1899) nhà Thanh Giáp cốt văn được phát hiện tại khu vực làng Tiểu Đốn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Giáp cốt văn có nghĩa là chữ viết (văn) được khắc trên mai rùa (giáp) và xương thú (cốt). Giáp cốt văn chỉ hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, được phát triển và sử dụng vào cuối đời Thương (thế kỷ 14-11 TCN).

Giap cotChữ khắc trên yếm rùa.

Chữ Giáp Cốt nhà Thương – Ân (1600-1100 TCN) tiếp tục được phát triển qua các thời:
• Nhà Chu 周 (1021-256 TCN) có chữ Kim (Kim Văn 金文), còn gọi là chung – đỉnh văn là chữ viết trên các chuông và vạc bằng đồng.
• Chiến Quốc 戰國 (403-221 TCN) và thời nhà Tần 秦 (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư 隸書).
• Nhà Hán 漢 (Tiền Hán 206 TCN-8 CN), có chữ Khải (Khải Thư 楷書).
Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ trước đây có thể được minh họa bằng chuỗi sau:
Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải.

Cam Tang

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả.

Khám phá khảo cổ học quan trọng vào bậc nhất về văn hóa Trung hoa là mới đây đã tìm ra loại chữ đặt tên là chữ Lạc Việt ở Cảm Tang, huyện Bình Quả sát biên giới Việt Trung. Chữ Lạc Việt được xác định đã có từ 3-4 ngàn năm TCN, tức vào hàng hàng tổ mẫu của Giáp cốt văn nhà Thương Ân.
Với sự việc này đã có thể bổ sung và trưng ra sự phát triển chữ Nho từ tận ngọn ngành, chỉ ra những văn tự tiền Giáp cốt: Chữ điểu thú → chữ nút vạch → chữ Lạc Việt (thạch văn) → chữ Giáp cốt→ Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải…
Chữ Khải (khải thư hay chính thư 正書): phổ biến vào thế kỷ III TCN. Có thể coi đây là kiểu chữ chính thức của Thiên hạ từ triều đại Lưu Bang. Loại chữ này chuẩn mực, dễ nhận biết, dễ đọc nhất, mỗi chữ mặc nhiên tồn tại trong 1 hình vuông chuẩn nên chữ Khải được coi như chuẩn mực của loại chữ Vuông vẫn là phổ thông nhất trong các kiểu viết chữ Nho hiện nay (chữ Nôm cũng được xếp vào loại hình chữ Vuông).

Chu vuong

Người viết bài này canh cánh bên lòng hơn 40 năm về món nợ văn hóa quan trọng bậc nhất đối với dân tộc kể từ ngày bắt được những dòng tin:
* Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu.
* Sách Thông giám cương mục do Chu Hy đời Tống soạn, chép: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5 (2353 TCN) có Nam di Việt Thường thị đến chầu hiến con rùa lớn”.
Sự việc được nói rõ hơn trong tư liệu khác :
Thông chí” (通志) của Trịnh Tiều (鄭樵) có một đoạn nói về việc nước Việt Thường dâng rùa thần (神龜 thần quy) cho Đế Nghiêu, được “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, Tiền biên, quyển 1 dẫn lại như sau: “Đời Đào Đường (陶唐), phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)”.
* Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư; phần : Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng…
Trong chuỗi xích phát triển Hán văn không có chỗ cho chữ Khoa đẩu, cảm tính tự nhiên nhìn nhận Khoa đẩu là chữ của Việt tộc. Nhiều nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm chữ Khoa đẩu, cho tới nay tựu trung về 3 hướng:Dai Loan

1. Chữ Khoa đẩu là loại chữ dấu chân chim tìm thấy ở Đài Loan.

Xuyen

2. Chữ Khoa đẩu là mẹ đẻ của loại chữ viết của nhiều nước Đông Nam Á.
Nhà ngôn ngữ học Paul Rivert cho rằng nền văn hóa Hòa Bình cùng với lối chữ con nòng nọc này đã được truyền bá khắp nơi góp phần tạo nên các chữ viết của các dân tộc Thái Lan, Lào, Chăm, Cao Miên (Cambodia), Nam Dương (Indonesia), Miến Điện (Myannmar), Tây Tạng, Ấn Độ, Srilanka, Đại Hàn và Nhật Bản.

Xuyen 2

3. Đây là loại chữ nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền cho là chữ Việt cổ tồn tại trong các sắc tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam.

Nay bất ngờ  chợt nhận ra : Việc nghiên cứu về chữ khoa Đẩu đang đi chệch hướng do định kiến đối kháng sẵn có … cho chữ Khoa đẩu là loại chữ của cổ nhân Việt trước khi bị Hán tộc xâm lăng đô hộ nên dĩ nhiên chẳng dính dáng gì với Hán văn…
Tốn mấy chục năm suy nghĩ để ngộ được điều vô cùng đơn giản …
Theo phép phiên thiết Hán văn … khoa đẩu thiết Khẩu.

Chu Khau

Rõ ràng ý chỉ loại chữ vuông, tức chữ Khải thời Lưu Bang Hán Cao tổ 200 năm trước CN đến nay. ‘Khải’ chỉ là tam sao thất bản của ‘Khẩu’. Chữ Khoa đẩu là chữ khẩu 口, tức loại chữ Vuông là một cách gọi chữ Nho, tức loại chữ đang bị người Thiên hạ sai lầm gọi là chữ Hán. Khi Lục Lâm thảo khấu dấy loạn, lập nên Hãn quốc đầu tiên trong lịch sử, thì người Hán mới chỉ biết đến cái lều và con ngựa, du thủ du thực rày đây mai đó kiếm sống thì làm quái gì có thì giờ mà nặn ra được con chữ. Khoa đẩu thiết khẩu, tức Khải chính là loại chữ Vuông của người Việt…
Tư liệu cổ Trung Hoa … Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Sử thuyết Hùng Việt cho khởi thủy Thiên hạ chỉ có đất Đào và đất Đường hay Thường. Đất Đào là miền Thanh Nghệ Tĩnh, đất Đường hay Việt Thường là miền 3 sông nay là Hồng – Đà – Lô. Đoạn tư liệu cổ trên thực sự nói lên chữ Khoa đẩu thiết Khẩu là chữ của cư dân vùng này và được dùng là … “quốc ngữ chữ nước ta vào thời đế Đường Nghiêu”.
Có điều cực kì quan trọng :
… Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)”…
….Một chi tiết lịch sử vô cùng quý giá để từ đó chúng ta có thể lần ra đầu mối. Trong văn hóa dân tộc Mường, người Mường coi “rùa” là tổ tiên của mình trong việc giúp xây nhà, làm lịch và vì vậy họ không bao giờ ăn thịt rùa. Truyền thuyết dân tộc Mường liên quan “con rùa” thì rất hay và độc đáo. Trong đó, đặc biệt và siêu đặc biệt duy nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay: đó là Lịch Rùa hay còn gọi là Lịch Đá Rò. Nó cũng khác hoàn toàn so với Lịch Âm đang sử dụng. Người Mường đã sáng tạo ra bộ lịch trừ đả ro, có nơi gọi là: Trừ tả rò, dịch phiên âm sang tiếng phổ thông là trừ đá rò.
Rò trong tiếng Mường chỉ con con rùa, song còn nghĩa khác đó là sự dò tìm, phán đoán đoán. Đả trong tiếng Mường là đại từ nhân xưng chỉ bậc bề trên như ông nội hay những người có vai vế tương đương trở lên. Trừ trong tiếng Mường có nghĩa đen là kiểu phép tính trừ, bỏ đi, song nó còn có nghĩa khác kiểu như thuật bấm độn, đoán trước. Dịch đúng nghĩa trong tiếng phổ thông đó là thuật bấm độn của ông rùa, nay xin gọi vắn tắt phiên âm sang tiếng phổ thông là trừ đá rò.
(Trích nghiên cứu của nhà nghiên cứu Bùi Huy Vọng (Hương Nhượng, Lạc Sơn) đăng trên internet).
Sự nối kết Quy lịch và ‘trừ đá rò’ hay Lịch Rùa của người Mường là sự kiện chứng vô cùng quý giá cho Sử thuyết Hùng Việt. Sự nối kết này chỉ ra người Mường chính là hậu duệ của dân thời Đường Nghiêu Trung Hoa. Nói thẳng ra: toàn bộ cổ sử Trung hoa là cổ sử của người Việt Nam. Chính tư liệu cổ Trung Hoa viết: Đế Nghiêu tên là ông Giao Thường là Đường vương, trước khi lên ngôi đế (Giao thường nghĩa là Nam phần đất Giao – giữa).
con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau
1 cái mai rùa liệu khắc được mấy chữ mà có thể… ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau…? Thực ra đây là cách nói ám chỉ Dịch học. Dịch là biến dịch, là sinh sinh chi vị Dịch, sinh sôi nảy nở ra mãi gọi là Dịch. Tất cả diễn biến tưởng là vô tận ấy có thể gói gọn vào Bát quái đấy chính là ý câu: việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau… Con rùa thần lưng khắc chữ Khoa đẩu chỉ là cách ám chỉ đồ hình 8 quẻ sắp xếp trong đồ hình bát giác :

Bat quai

Chữ Khoa đẩu dùng chép việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau… thực ra là khắc 8 quẻ Dịch.
Thượng thư thiên Vũ cống nói: … Kinh châu miền Cửu giang … khi có lệnh thì cống rùa lớn.
Cửu giang ý xưa nay vẫn hiểu là 9 con sông … Thực ra ‘Cửu giang’ là cách gọi khác của ‘Trường giang’ mà thôi. Ngày nay, người ta đã tìm được loại rùa mà yếm dùng khắc chữ gọi là Giáp cốt văn thời Thương Ân tìm thấy ở bờ Bắc Hoàng Hà chỉ sống ở miền Trường Giang. Đấy chính là loại rùa mà miền Cửu giang Kinh châu đem cống vua khi có lện. Phải chăng là mai rùa hay yếm rùa cống vua được dùng để khắc chữ? Nếu thế thì Giáp văn có từ thời nhà Hạ 2000 TCN không phải mãi đến nhà Ân mới có.
Với người Việt thì không có Hán tự chỉ có chữ Nho mà thôi. Chữ Nho còn được gọi là chữ thánh hiền vì …  đấy là loại chữ đức Không dùng chép kinh ….
Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu
Khoa đẩu văn là con của chữ Cóc, cóc là góc … chỉ có thể là góc hình vuông trong quan niệm trời tròn đất vuông … Chữ Cóc chính là chữ Vuông vậy.
Người Việt xưa đã tốn hao không biết bao nhiêu công sức trí tuệ để tạo ra bức tranh ‘lão OA giảng độc’ làm di ngôn nhắn cho đời sau biết về chữ cóc – văn Khoa đẩu chính là văn tự do cha ông mình sáng tạo ra chẳng phải mượn, chẳng phải học ai cả …

Lao Oa

Tranh Lão OA giảng độc.

Có việc tưởng như vô cùng đơn giản nhưng mãi nghĩ không ra, tìm không thấy… Đấy là …
Nước Hán chỉ ra đời sau cuộc nổi loạn của bọn Lục Lâm thảo khấu khoảng đầu Công nguyên, trong khi Khoa đẩu văn đã có từ thời Đường Nghiêu đế trước Công nguyên cả 3000 năm thì dính dáng gì đến người Hán mà nhận quàng.
Thực là sự trùng hợp diệu kì… Phải chăng chữ Lạc Việt mới khám phá ở miền biên giới Việt Trung và được coi là cố tổ của chữ Hán ngày nay chính là chữ Khoa đẩu mà Việt Thường thị dâng vua Nghiêu?
Chung quanh chuyện chữ Khoa đẩu ngoài những thông tin trên còn có bức tranh ‘Lão Oa giảng độc’.
Oa là biến âm của ếch tiếng Việt không phải là cóc. Tên gọi bức tranh Đông Hồ này phải đổi lại là thày đồ ếch mới chính xác. Cóc Hán văn là thiềm thừ, ếch và cóc là loài lưỡng cư , sinh ra trứng ở dưới nước, trứng nở ra nòng nọc hay khoa đẩu sống trong nước không khác gì loài cá. Nòng nọc lớn lên rụng đuôi thành cóc – ếch lên bờ biến ra loài sống trên cạn.
… Cóc → góc, góc là giao điểm của Tròn – Vuông, của đất trời và của hữu hình – vô hình. Hữu hình là cái hình tượng con người thấy được và vô hình là ý nghĩa chứa trong hình tượng ấy. Hình tượng mang ý nghĩa ấy gọi là chữ. Chữ cũng là chứa trữ vậy.
Nhưng tại sao hình tượng con cóc lại được dùng làm biểu tượng của chữ viết? Trong điểu thú văn con cóc nghĩa là chữ vì như dân gian Việt giải thích trong bức tranh “Lão Oa giảng độc”. Oa là con cóc nhưng oa cũng là ‘chứa trữ’ tức chữ (viết). Lão Oa chính là thày Chữ, là thày chữ nên mới đọc hiểu và giảng dạy tri thức – đạo nghĩa.
Cóc – ếch đẻ ra nòng nọc tức khoa đẩu.
Chữ (cóc – oa – trữ ) đẻ ra văn.
Cũng có thông tin:
Vào đời Chu Thành Vương, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng…
Giống như oa – trữ – chữ, Trĩ cũng chỉ là biến âm của Trữ – chữ mà thôi. Ý của đoạn tư liệu là …quốc ngữ chữ nước ta thời nhà Châu cũng là loại chữ của tộc Việt Thường (di duệ còn lại là người Mường).
Tại sao 1 bức tranh mà nét vẽ nguệch ngoạc như người mới tập vẽ phải nói thực là chẳng có gì đẹp, chẳng thấy ý nghĩa thâm trầm sâu sắc gì cả mà lại có thể sống dai như thế trong lòng người Việt?
Phải chăng là bức tranh dân gian … ‘Lão Oa giảng độc’ được những cái đầu bác học làm ra vì thông tin về chữ Khoa đẩu trong tư liệu văn minh cổ Trung Hoa…
Lão Oa giảng độc chỉ là để khẳng định: chữ Khoa đẩu là chữ của người Việt. Khoa đẩu – nòng nọc là con của Lão Oa – thày đồ Cóc, mà thầy Cóc – Oa – Chữ là sản phẩm của những cái đầu Việt thì con nó đẻ ra là nòng nọc – khoa đẩu đương nhiên phải là sản phẩm của người Việt… Dù chỉ trở nên thịnh hành được dùng phổ biến từ thời Lí Bôn – Lưu Bang về sau thực ra khởi đầu loại chữ này đã có từ thời Đường Nghiêu 3000 năm TCN (chữ LạcViệt ?).
Khi khẳng định: chữ Khoa đẩu – chữ Khẩu – chữ Vuông chính là chữ Khải mà xưa nay đa số sai lầm gọi là chữ Hán, là loại chữ thịnh từ thời Nam Việt đế Lí Bôn – Lưu Bang đến nay, là chữ viết của người Việt, không có nghĩa nói những hướng nghiên cứu chữ cổ Việt khác là sai lạc vì Khoa đẩu văn có thể không phải là loại chữ cổ Việt duy nhất… Ngay trong bản văn dùng nghiên cứu ở đây cũng có thể đặt câu hỏi: trước khi đế Đường Nghiêu nhận con rùa thần hay vua nhà Châu nhận con chim trĩ trắng do người Việt Thường dâng cho thì triều chính Đường Nghiêu và nhà Châu dùng loại văn tự gì?… Rất có thể Thiên hạ còn nhiều loại văn tự cổ khác nữa.

——–

Bách Việt trùng cửu bổ sung ảnh minh họa.

Kim van
Chữ Kim văn trên đồ đồng thời Ân Thương thấy ở Việt Nam.

Dai trienChữ Đại triện trên một chiếc nắp đồng ở Việt Nam.

P1200150
Chữ Tiểu triện trên nắp một chiếc phương đồng ở Việt Nam.

P1100140Chữ trên chuông đồng Đông Sơn.

Làng So – Xứ Đoài đẹp nhất đình So

Dân gian tứ chiếng có câu: Cầu Nam – chùa Bắc – đình Đoài. Dân gian xứ Đoài lại có câu: Đẹp đình So, to đình Cấn (đẹp đình So, to đình Cấn, bẩn đình Ngọc Than, tan hoang đình Phú Mỹ, cũ kỹ đình Yên Nội). Như vậy là vẻ đẹp của đình So đã được dân gian công nhận. Đình So là ngôi đình đẹp vào hạng nhất trong những đình làng của xứ Đoài.
Đình So là đình của làng So (tên chữ của làng là Sơn Lộ), trước gọi là trang Sơn Lộ, nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai. Làng So là nơi dừng chân của vua chúa khi đi thăm Phủ Quốc năm xưa. Nhà chúa có ngự đề bài thơ Nôm ở chùa Nhạc Lâm (chùa So), nay vẫn còn treo, như sau:
Mảng vui Thiên Phúc cảnh thiên thành 
Ngoạn thưởng âu đây thức tính tình 
Thái thản nhân cơ trông vợi vợi 
Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh 
Trời xuân vặc vặc hoa kê cửa 
Gió thuỵ hiu hiu nguyệt giãi mành 
Trong thuở tỉnh phương buồm thuận tới 
Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình. 
Vào làng So, đến đình So mà ngắm nghía thật lâu mới thấy được rằng đình không chỉ đẹp trong kiến trúc mà đẹp cả trong phong cảnh, phong thuỷ, đáng làm một mẫu hình tiêu biểu cho kiến trúc cổ. Đình nằm gối lên núi rùa, trước mặt là đê sông Đáy đã được nắn lại tạo thành một hồ nước hình bán nguyệt như tấm gương khổng lồ in bóng soi cả ngôi đình đồ sộ. Hai bên đình, phía trái là núi Rồng (còn gọi là núi Cả), phía bên phải là núi Phượng, tạo cho đình nằm gọn giữa một cỗ ngai lớn. Hiện chưa biết đình So được khởi dựng từ bao giờ, nhưng theo văn bia Tu sáng Hoa đình bi ký hiện còn dựng tại đình, được khắc vào năm Dương Đức thứ 3 (1674) thì đình này được tu bổ và tôn tạo vào năm Quý Mão (1663). Văn bia cho biết ngày khởi công tu tạo là ngày 27 tháng 7 năm Quý Mão, hơn hai tháng sau công việc hoàn thành. Ngôi đình đã trải qua 4 lần trùng tu nữa vào các năm 1743, 1924, 1928, 1953. Quy mô hiện nay của đình là kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc trên diện tích 1.100m2. Tổng cộng tất cả toà ngang dãy dọc của đình là 55 gian, với 64 cột lớn nhỏ. Riêng nhà Tả văn chỉ dùng để viết văn tế thần. Hành lang của đình được chia cho 28 giáp trong làng, mỗi giáp một gian để làm chỗ hội họp riêng và sửa soạn lễ lạt của các giáp khi ra việc làng. Đình So có tòa nghi môn đẹp, hoành tráng, uy nghi, và có bậc đá 29 cấp dẫn xuống hồ bán nguyệt. Kiến trúc và điêu khắc của tam quan có thể được xem là một mẫu mực về sự cân đối, vừa vững chãi vừa bay bổng thanh thoát. Đình thờ Tam vị Nguyên soái Đại vương, là những vị tướng của Đinh Tiên Hoàng.
Thần tích chép rằng: Vào mùa xuân năm Canh Thìn (930), có ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc nhà vốn rất nghèo, làm nghề đánh cá trên sông. Hai ông bà rất thích làm việc thiện, một việc thiện dù nhỏ cũng làm. Một hôm hai ông bà chài lưới trên sông Như Nguyệt, kéo được 15 dật vàng. Từ đấy hai ông bà làm ăn cứ khấm khá mãi lên nên cuộc sống rất khá giả. Hiềm nỗi hai ông bà đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Ông vẫn thường nói: Tiền rừng gạo bể mà không có con thì sống không được vui và bàn với bà đi tìm nơi cầu tự. Hai ông bà nghe nói ở đền Hữu Linh, trang Sơn Lộ là nơi linh ứng cầu gì được nấy, bèn cùng nhau sắm sửa lễ vật đến đó cầu tự. Sớm hôm sau ông bà làm lễ tạ rồi xuống thuyền cùng với hai người vạn chài xuôi dòng sông Hát. Thuyền đang đi, trời bỗng nhiên tối sầm lại như đêm và một trận gió lớn ập đến. Lúc này thuyền chở ông bà đến địa phận trang Sơn Lộ, hai người ngẩng đầu nhìn lên trời thấy có đám mây vàng hướng vào bà mà hạ xuống. Lã thị hoảng sợ, nằm miên man. Sau đó bà có mang. Tháng 2 năm Quý Tỵ (933), bà sinh được 3 người con trai. Ba đứa trẻ lớn lên thành những chàng trai khoẻ mạnh rồi theo Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn. Quân sĩ kéo từ Hoa Lư thắng trận về đến trang Sơn Lộ thì nghỉ lại và tập hợp trai tráng trong vùng tiếp tục chiến đấu dẹp loạn 12 sứ quân. Đinh Tiên Hoàng lên ngôi bèn sắc phong 3 ông là Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại Vương. Trải qua các triều đại, Tam Thánh đều được sắc phong mỹ tự và cho trang Sơn Lộ đời đời thờ phụng.
Làng So có lá cờ thần rộng tới 24 mét vuông, cứ mỗi khi cờ bay trên nền trời xanh in bóng mặt hồ nước lung linh cùng với tiếng trống sấm vang lên là làng đang có hội. Lễ hội đình So, làng So được diễn ra vào ngày hai dịp mùa xuân và mùa thu.
Lễ hội mừng ngày Thánh sinh 
Hội mùa xuân, là lễ hội mừng ngày Thánh sinh  nhằm ngày 8 tháng 2. Ngày này dân làng tổ chức rước bài vị từ Miếu Ông và Miếu Bà, là song thân của các Thánh về đình để chung hưởng sự thành kính của dân làng. Theo ghi chép trong sách cổ thì hội diễn ra trong 3 ngày nhưng không khí chuẩn bị cho ngày lễ này thì rộn dịp trước đó khá lâu.
Trong lễ hội mừng ngày Thánh sinh thì vui nhất, và hồi hộp nhất vẫn là cuộc thi lợn anh. Từ trước đó hàng năm mỗi giáp chọn lấy một con lợn đen tuyền, rồi giao cho một nhà trong giáp nuôi. Nhà ấy cha mẹ song toàn, gái trai đầy đủ, hiếu hạnh. Sau khi chọn được lợn mới ra đình xin chân nhang về để làm lễ trình ở nhà. Kể từ đó, con lợn ấy được gọi là lợn anh. Không ai được gọi là con lợn, mà cũng không ai được đánh mắng nữa. Lợn anh được nuôi dưỡng theo một chế độ đặc biệt, chuồng trại phải sạch sẽ, thức ăn phải thanh sạch. Khi lợn anh lớn một chút người ta đem thiến đi.
Vào ngày mồng 7 tháng 2, lợn anh của 28 giáp trong làng đều được tắm rửa sạch sẽ bằng nước thơm, ăn bằng thức ăn tinh khiết và được đưa vào cũi để rước ra đình. 28 giáp là 28 cái cũi, trên mỗi cũi đều được cuốn một tràng hoa  bưởi, đủng đỉnh để tiến ra sân đình. Các cũi lợn được xếp thành hai hàng dọc theo sân đình, trước sự chứng kiến của Thánh và hội đồng lý dịch cùng đông đảo dân làng. Làng chọn ra những lợn anh to nhất để cân xem anh nào to nhất, nặng nhất để trao giải thưởng. Lợn anh của giáp nào được giải thì không chỉ người nuôi được vui mừng và hãnh diện mà cả giáp ấy đều thấy phấn chấn tự hào. Giải thưởng gồm hai bậc: giải dân và giải giáp. Giải dân do làng thưởng, còn gọi là giải đất, vì người nuôi sẽ được cấp 3 sào đất ở cánh bãi để canh tác và lấy hoa lợi mà không phải nộp thuế má gì. Đất ấy người này sẽ được giữ cho đến khi nào có ai đó nuôi được lợn anh có số cân nặng hơn lợn anh được giải, dù chỉ một vài cân. Giải giáp thì do giáp thưởng, và khi giáp mổ con lợn ấy thì nhà chủ nuôi sẽ được biếu một cái tràng hoa (tức là cái khoanh cổ lợn). Các cụ bảo vào một năm, cũng gần đây thôi, giáp nọ có lợn anh nhỏ hơn giáp kia, đáng ra là không được giải, nhưng dùng thế lực áp đảo để lấy giải nhất. Khi khiêng lợn về đến nhà thì lợn xổng ra khỏi cũi rồi lại đi ra đình.
Ngày này, sau bữa trưa tại các giáp, là đến cuộc hát thờ ở đình. Thường làng đón các giáo phường ở Phủ Quốc về hát hầu Thánh. Các ả đào đứng trước điện, tay cầm lá phách hát các bài hát thờ như Thét nhạc, Bắc phản, hát Giai, Độc phú… trong tiếng hoà âm của các nhạc khí. Giáo phường được mời đến hát nhất định sẽ hỏi cho bằng được tên huý của các Thánh thờ trong đình để khi hát đến những chữ ấy thì tránh đi. Hát cửa đình So có các chữ không được nói tới là Hiển, Lã, Hiện, Suý, Lang. Hiển là tên huý của ông cụ thân sinh ra các Thánh; còn Lã là tên họ của cụ bà Lã thị. Hiện là tên huý của ba anh em nhà Thánh; Suý và Lang là tước phong của Thánh. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ, và tránh đi; ví như chữ Hiển thì đọc là Hởn, chữ Lã thì đọc là Lữ. Nếu cô đầu không nhớ ra, cứ thế hát thẳng không kiêng thì người cầm chầu sẽ gõ liên hồi vào tang trống và cho ngừng cuộc hát. Bấy giờ người quản ca của giáo phường phải đến nói khó với các cụ trong làng để xin cho làm lễ tạ với thánh và xin các cụ chiếu cố cho. Khi ấy, người đào nương sẽ biện cơi trầu, đến trước điện làm lễ tạ lỗi với Thánh và các quan viên. Cô đầu sẽ hát từ chiều đến tối, có khi đến tận canh khuya, trước là để hầu thánh, sau là để giúp vui cho quan viên.
Theo nghi thức về việc mở lễ hội được ghi trong bản thần tích do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, thì hội  mở trong 3 ngày mới thôi. Ngoài hát xướng còn có các trò chơi đánh cờ, đấu vật. Ngày lễ mừng thánh sinh, các cô gái làng đi lấy chồng xa về làng rất đông vui và đua nhau làm lễ và cung tiến rất nhiều vào đình.
Lễ mừng thắng trận, khao quân 
Về mùa thu, lễ hội đình So nhằm ngày 10 tháng 7. Đây là lễ hội kỷ niệm Thánh giải vây, thắng trận, tế cáo thiên địa và khao thưởng quân sĩ. Lễ mừng khao quân là một lễ vui vẻ trong dân. Ngày này, sẽ dâng tế vật là một con trâu. Làng có 28 giáp, mỗi năm, có một giáp phải lo việc sắm sửa lễ vật. Như vậy, nếu năm nay giáp này chuẩn bị tế vật thì phải 28 năm sau nữa thì mới lại đến lượt sắm lễ. Con trâu phải được thui khéo, da vàng xộm, quỳ trên cái giá gỗ, mõm hếch lên, còn sừng thì lấy giấy đỏ cuốn vào. Nội tạng của con trâu đã được lấy ra, làm sạch, nên con trâu tế được dân làng gọi là trâu trong. Cảnh tượng hiến tế trâu trong thật long trọng tôn nghiêm. Sau khi tế xong, đồng dân cùng hưởng lộc, rồi chiều và tối thì tập trung nghe hát ở đình hoặc các miếu quán trong làng. Đào kép cũng có khi vừa hát xong ở miếu này lại xách đàn sang miếu khác.
Những người già trong làng vẫn còn nhớ dịp “đóng đám năm Bảo Đại tam niên”. Ấy là năm 1928. Năm ấy vì đình làng sửa đình nên rước bài vị gửi ở nơi khác, khi công việc hoàn thành thì làm lễ hoàn cung. Bấy giờ làng có mua đèn lồng về mắc lên mái đình, đao đình, và trên các con rồng con nghê trên mái đình, để đêm đến sáng lung linh rất đẹp. Hội làng được tổ chức rất to, phần lễ thì trang nghiêm hoành tráng, phần hội thì vui vẻ, linh đình. Về trò chơi có trò bắt chạch trong chum, bắt dê. Làng còn cho mời đội cồng chiêng Mường ở Lương Sơn về để hoà âm trong lễ tế ở đình.Làng đóng đám 7 ngày 7 đêm, mà đêm nào cũng có hát ả đào, mới từ ấp Thái Hà ngoài tỉnh về. Hội kéo dài trong 3 ngày.
Lễ chay kỷ niệm ngày Thánh hoá 
Ngày thánh hoá là ngày 10 tháng Chạp. Ngày nay là lễ cúng chay. Công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được tiến hành từ trước đó cả tháng trời. Những người chuẩn bị cho lễ chay bao giờ cũng là đám con trai khoảng 18, 19 tuổi. Họ phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới đến tập trung ở nhà ai đó để chọn gạo làm bánh. Gạo được chọn thật kỹ càng từng hạt, không có hạt gãy, hạt chẩm. Bấy giờ mới đồi xôi, rồi cho vào cối giã như giã bánh dầy. Nhân của bánh bằng đỗ xanh rang kỹ, nghiền nhỏ, trộn với nước mật. Hương liệu là thảo quả thơm ngát. Nhân này được bao bọc bằng xôi giã. Cuối cùng là lấy lá chuối bọc bên ngoài. Lễ vật dâng trong ngày Thánh hoá bao giờ cũng là lễ chay, được làm từ nguyên liệu thanh khiết và với tấm lòng thành kính nhất. Được biết bánh cuốn dâng Thánh có thể để được trong thời gian rất lâu, và người dân làng cho rằng đó chính là thứ lương thực của quân sĩ của thánh năm xưa.
Vào ngày này, dân không tổ chức hội mà chỉ có lễ chay. Không có tổ chức rước xách và các trò chơi dân gian, cũng không có hát thờ. Tất cả các công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được thực hiện trong niềm thành kính nhất để tưởng niệm đến công lao và ân đức của Thánh.
Lễ hội đình So ngày một đơn giản đi so với trước kia. Vẫn có bánh chay dâng Thánh, nhưng không có trâu trong nữa, và tục nuôi lợn anh thì chỉ còn trong câu chuyện của những người già. Hát thờ ở cửa đình cũng không còn nữa. Người dân vẫn bày tỏ lòng thành kính lên Tam vị Nguyên soái Đại vương bằng các nghi thức tế lễ, nhưng phần vui hội thì gần như vắng bóng.
Và hằng năm, mỗi khi tiếng trống sấm vang dội và lá cờ đại rộng tới 24 mét vuông được kéo lên, bay giữa trời và lồng trong bóng nước hồ bán nguyệt, là khi làng mở hội, thì trong lòng người già làng So, những ký ức xa xăm về  hội xưa lại vọng về, nao nao nhớ đến dịp đóng đám năm 1928, nhớ đến cái ngày làng thi lợn anh và rước trâu trong ra đình, thật oai hùng và trang trọng.

Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh

1. Nhân Thọ xá lợi tháp và việc xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu năm 601
              Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại hơn 100 châu thuộc bản đồ đế quốc. Đây là một phần trong chính sách phục hưng Phật giáo của người sáng lập vương triều nhà Tùy, với ý đồ sử dụng Phật giáo như một công cụ để thu thập nhân tâm, tái ổn định tình hình chính trị, xã hội Trung Quốc sau một thời kỳ biến động kéo dài. Đây cũng là một dịp để nhà Tùy xác lập cương giới, khẳng định lại quyền thống trị đối với những phần lãnh thổ đã chinh phục trực tiếp hoặc kế thừa một cách gián tiếp từ các vương triều đi trước. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt động phân phát xá lợi và hệ thống bảo tháp xá lợi được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ (thường được giới nghiên cứu biết đến dưới thuật ngữ Nhân Thọ xá lợi tháp) đã sớm nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều học giả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
              Hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử chính trị, mỹ thuật và Phật giáo Trung Quốc. Trên thực tế, nó đã có những liên hệ và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình chính trị và Phật giáo Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ VI – đầu thế kỷ VII. Bởi lẽ, trong số hơn 100 châu huyện được nhà Tùy lựa chọn để phân phát xá lợi, có cả các châu Giao, Phong, Trường, Hoan, Ái,… những nơi vốn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền nhà Tiền Lý. Tuy nhiên, tại Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, ngoài một số giới thiệu hết sức ngắn gọn của học giả Lê Mạnh Thát trong phần chú thích bản dịch Thiền uyển tập anh ngữ lục (xuất bản lần đầu tiên năm 1976) (Lê Mạnh Thát, 1999) và của GS. Hà Văn Tấn trong sách Chùa Việt Nam (xuất bản lần đầu tiên năm 1993) (Hà Văn Tấn, 2010), các tư liệu và kết quả nghiên cứu xung quanh vấn đề này vẫn chưa được biết đến một cách rộng rãi.
              Chính vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, trước tiên, chúng tôi muốn hệ thống lại những tư liệu cơ bản cũng như giới thiệu một số thành quả nghiên cứu của giới sử học Trung Quốc và Nhật Bản xung quanh hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp dưới thời Tùy Văn Đế. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận định góp phần nhận diện văn bia tháp xá lợi mới được phát hiện gần đây tại Bắc Ninh. Từ đó, bài viết cũng muốn làm rõ hơn một số vấn đề liên quan đến chính quyền Lý Phật Tử và lịch sử Phật giáo ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ VI – đầu thế kỷ VII.
              Các nghiên cứu từ trước đến nay về Nhân Thọ xá lợi tháp nhìn chung đều được triển khai trên cơ sở các ghi chép trong sách Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục 集神州三宝感通錄 (dưới đây gọi tắt là Cảm thông lục),Quảng hoằng minh tập廣弘明集, Tục cao tăng truyện 續高僧傳 (đều do sư Đạo Tuyên 道宣 biên soạn vào thời Đường, trong đó Quảng hoằng minh tập được hoàn thành năm Lân Đức nguyên niên – 664, Tục Cao tăng truyệnhoàn thành năm Trinh Quán 19 – 645). Theo các nguồn tư liệu đó, Nhân Thọ xá lợi tháp được xây dựng trong ba lần với qui mô và thời điểm như sau:
·         Lần thứ nhất vào năm Nhân Thọ 1 (601), tổ chức trên phạm vi 30 châu. Vua Tùy xuống chiếu vào ngày 13 tháng 6, hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10.
·         Lần thứ hai vào năm Nhân Thọ 2 (602), trên phạm vi 50 (có tài liệu cho là 53) châu. Vua Tùy xuống chiếu vào ngày 23 tháng Giêng, hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4.
·         Lần thứ ba vào năm Nhân Thọ 4 (604), trên phạm vi hơn 30 châu. Vua Tùy xuống chiếu vào tháng Giêng, hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4.
              Về nguồn gốc xá lợi được Tùy Văn Đế phân phát cho các địa phương, theo Cảm thông lục và Quảng hoằng minh tập, khi Tùy Văn Đế còn chưa lên ngôi (tiềm long), có một vị sa môn Bà La Môn đến nhà, đưa ra một bọc xá lợi và nói rằng: “Đàn việt [thí chủ] có lòng tốt, nên lưu lại (bọc xá lợi này) để cúng dường”, sau đó không biết đi đâu mất. Sau Tùy Văn Đế và sư Đàm Thiên lấy chỗ xá lợi đó ra đếm thì thấy lúc nhiều lúc ít. Sư Đàm Thiên giải thích rằng theo lời vị sa môn kia, chỗ xá lợi đó là “pháp thân” của nhà Phật nên không thể đo đếm được theo cách thông thường. Tùy Văn Đế bèn làm một chiếc hòm thất bảo để cất giữ những xá lợi đó[1]. Câu chuyện mang nhiều màu sắc tâm linh nói trên ít nhiều đã được nhào nặn dưới bàn tay của giới tăng lữ Phật giáo, nhưng nếu gạn bỏ đi những phần mang tính nhuận sắc, chúng ta thấy rằng các xá lợi được Tùy Văn Đế đưa về các địa phương dưới danh nghĩa là “pháp thân” – xá lợi của Phật, không phải là xá lợi của một vị danh tăng, danh ni nào đó.
              Trong ba lần xây tháp và phân phát xá lợi, hệ thống tư liệu về hoạt động năm 601 là đầy đủ nhất. Theo Cảm thông lục, Tùy Văn Đế đã xuống chiếu về việc phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp an trí xá lợi vào ngày 13 tháng 6 năm 601. Nội dung bài chiếu cũng như tên các châu được phân phát xá lợi khi đó được ghi chép cụ thể trong sáchQuảng hoằng minh tập.
              Sử liệu 1: Quảng hoằng minh tập, quyển 17, Phật đức thiên đệ tam chi tam
門下仰惟、正覺大慈大悲、救護群生、津梁庶品、朕歸依三寶重興聖教、思與四海之内一切人民俱發菩提共修福業、使當今現在、爰及來世、永作善因、同登妙果、宜請沙門三十人、諳解法相、兼堪宣導者、各將侍者二人、并散官各一人、薰陸香一百二十斤、馬五匹、分道送舍利、往前件諸州起塔、其未注寺者、就有山水寺所、起塔依前山、舊無寺者、於當州內清靜寺處建立其塔、所司造様送往當州、僧多者三百六十人、其次二百四十人、其次一百二十人、若僧少者、盡見僧、為朕、皇后、太子廣、諸王子孫等、及内外官人、一切民庶、幽顯生靈、各七日行道并懺悔、起行道日打剎、莫問同州異州、任人布施、錢限止十文已下、不得過十文、所施之錢以供營塔、若少不充役正丁、及用庫物、率土諸州僧尼、普為舍利設齋、限十月十五日午時、同下入石函、總管刺史已下縣尉已上、息軍機停常務七日、專檢校行道及打剎等事、務盡誠敬、副朕意焉、主者施行、仁壽元年六月十三日,内史令豫章王臣暕宣。
Tạm dịch:
Kẻ môn hạ kính ngưỡng nghĩ rằng: đức đại từ đại bi của bậc Chính Giác cứu giúp cho chúng sinh, là cầu nối cho vạn vật. Trẫm nay qui y tam bảo, trùng hưng thánh giáo, muốn cùng tất thảy nhân dân trong bốn bể, cùng phát nguyện bồ đề, cúng tu phúc nghiệp, để cho đương kim hiện tại, cùng với vị lai, vĩnh tạo thiện nhân, cùng đạt quả phúc. Nên mời 30 vị sa môn thông tuệ Pháp tướng [tức Phật pháp], kiêm kham truyền đạo, mỗi vị dẫn theo tùy tùng 2 người, tản quan 1 người, đem theo huân lục hương 120 cân, ngựa 5 con, chia ra các đạo hộ tống xá lợi đến các châu trên đây dựng tháp. Đối với các nơi không ghi chú tên chùa, chọn nơi chùa có sơn thủy, dựng tháp dựa vào núi phía trước. Những nơi vốn không có núi, dựng tháp tại chùa ở nơi thanh tịnh trong châu. Sở ty tạo “dung” [thiết kế] gửi cho các châu. Nơi có nhiều sư lấy 360 người, mức tiếp theo là 240 người, mức nữa là 120 người. Nếu có ít sư, huy động tất cả các sư hiện có. [Các sư] phải vì Trẫm, Hoàng hậu, Thái tử [Dương] Quảng, các vương tử vương tôn, quan viên nội ngoại, tất thảy dân thường, sinh linh hai cõi u huyền, mỗi nơi hành đạo, sám hối trong vòng 7 ngày. Vào ngày hành đạo tiến hành “đả sát”, không kể người trong châu ngoài châu, đều phải bố thí. Tiền (bố thí) phải dưới 10 văn, không được quá 10 văn. Lấy tiền bố thí cúng cho việc tạo tháp. Nếu thiếu không được sung chính đinh, dùng đồ trong quan khố. Tăng ni các châu đều phải làm trai lễ cho xá lợi. Hạn vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 10, các nơi cùng đưa (xá lợi) vào hòm đá và hạ thổ. Từ chức tổng quản, thứ sử trở xuống đến chức huyện úy trở lên, đều phải nghỉ việc quân cơ, tạm dừng thường vụ trong 7 ngày, chuyên tâm đôn đốc việc hành đạo và “đả sát”, hết sức thành kính, không được phụ ý trẫm. Nhất nhất phải thi hành. Nhân Thọ nguyên niên, tháng 6 ngày 13. Nội sử lệnh Dự Chương vương thần [Dương] Giản tuyên đọc.
              Quảng hoằng minh tập cũng ghi danh sách 30 châu được phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng tháp. Tương ứng với chiếu thư của vua Tùy, có thể thấy danh sách này được chia làm 2 nhóm. Bên cạnh 17 châu có ghi rõ tên chùa, ví dụ Ung châu Tiên Du tự 雍州仙遊寺, có 13 châu chỉ ghi tên châu mà không ghi tên chùa, trong số đó có Giao châu. Như vậy, đối với Giao châu, vua Tùy không chỉ định địa điểm cụ thể, mà để cho Giao châu lựa chọn chùa xây tháp. Tiêu chuẩn lựa chọn là chùa phải ở nơi có danh sơn danh thủy, tháp phải được xây dựa vào núi phía trước, hoặc với những châu không có núi thì phải là chùa ở nơi thanh tịnh. Tiếp theo chiếu thư của Tùy Văn Đế,Quảng hoằng minh tập dẫn sách Xá lợi cảm ứng ký 舍利感應記 của Vương Thiệu 王邵 ghi lại những nơi có tấu báo về việc xuất hiện “cảm ứng” khi xây tháp. “Cảm ứng” ở đây là các hiện tượng kỳ lạ, mang tính siêu nhiên xuất hiện cùng với việc an trí xá lợi. Ví dụ theo Xá lợi cảm ứng ký, tại chùa Tiên Du ở Ung châu, vào ngày xây tháp, trời vốn mây mù có mưa, nhưng đến khi đưa xá lợi xuống thì trời quang mây tạnh, đến khi cho xá lợi vào hòm thì trời lại đổ mưa[2]. Trong danh sách “cảm ứng” đó cũng có tên Giao châu, nhưng không thấy chép hiện tượng “cảm ứng” cụ thể mà chỉ đơn giản ghi việc Giao châu khởi dựng tháp tại chùa Thiền Chúng (交州於禪眾寺起塔). Qua ghi chép này, chúng ta có thể biết được Giao châu đã lựa chọn chùa Thiền Chúng làm nơi xây tháp năm 601 và báo lại sự kiện đó với nhà Tùy.
              Quảng hoằng minh tập cũng ghi chép rất cụ thể về trình tự tiến hành các nghi lễ. Tại kinh đô Đại Hưng (sau này là Trường An), Tùy Văn Đế đích thân mở hòm thất bảo, lấy ra 30 xá lợi đặt lên hương án trên ngôi báu, rồi cùng các sa môn đốt hương lễ bái. Sau đó, xá lợi được đặt vào 30 chiếc bình vàng nạm lưu ly 琉璃盛金瓶, dùng huân lục hương nhào thành “bùn” (nê), bôi lên nắp bình để phong lại, hẹn với ba mươi châu cùng vào giờ chính Ngọ ngày 15 tháng 10 cho vào hòm đồng, hòm đá 銅函石函, nhất loạt khởi dựng bảo tháp. Các sa môn sứ giả khi đến địa giới các châu, trước tiên phải lệnh cho các nhà trong châu dọn dẹp hết những thứ uế tạp để nghênh đón xá lợi. Quan viên từ chức tổng quản, thứ sử trở xuống đều phải đi bộ dẫn đường. Sư sãi[3] tại địa phương đều phải trang phục chỉnh tề, đem cờ quạt hương hoa đến cúng dường, hoặc cầm hương hoa, hoặc đốt hoặc rải, vây quanh tán tụng bằng âm Phạn. Khi đến nơi, vị sa môn sứ giả của nhà Tùy hướng đến các sư sãi hô lên rằng: “Chí tôn lấy đức bồ tát đại từ vô biên vô bờ thương xót chúng sinh dồn vào tinh túy của xương cốt [cốt túy]. Vậy nên phân phát xá lợi cùng thiên hạ tạo lấy thiện căn”, sau đó dẫn giảng các loại kinh văn. Các sư sãi đều phải chắp tay, quì gối phải xuống đất. Sa môn sau đó lại đọc kinh sám hối. Trước khi hạ thổ xá lợi, sa môn giơ cao chiếc bình đựng xá lợi cho các sư sãi tham dự xem một vòng[4].
              Khi chôn xá lợi, người ta thường chôn kèm bia đá có minh văn. Hiện nay, người ta đã tìm thấy 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp tại Trung Quốc, trong đó có 6 minh văn về lần xây dựng năm 601, 3 minh văn về lần xây dựng năm 602, 3 minh văn về lần xây dựng năm 604.
Bảng 1: Các minh văn liên quan đến Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được tại Trung Quốc

(dựa trên thống kê của Hida Romi – Oshima Sachio, 2012, có bổ sung thêm một số thông tin)

STT
Địa điểm
Thông tin
1
Ung châu Tiên Du tự
雍州仙遊寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Tiên Du tự
Ảnh thác bản
Ảnh thác bản chưa công bố. Ảnh văn bia có trên website kênh truyền hình Phượng Hoàng – Trung Quốc
Kích thước
khoảng 50x50cm
2
Kỳ châu Phượng Tuyền tự
岐州鳳泉寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng huyện Phù Phong
Ảnh thác bản
Bắc đồ[5] (t9), tr.143
Kích thước
32x34cm
3
Đồng châu Đại Hưng Quốc tự
同州大興國寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Uỷ ban quản lý văn vật huyện Đại Chi tỉnh Thiểm Tây
Ảnh thác bản
Thiểm Tây bi thạch tinh hoa, tr.30
Kích thước
Chưa có thông tin
4
Thanh châu Thắng Phúc tự
青州勝福寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Thành phố Thanh châu
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t9), tr.144
Kích thước
63x77cm (trán bia: 31x27cm)
5
Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự
京城大興縣龍池寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t9), tr.142
Kích thước
35x30cm
6
Tín châu Kim luân tự
信州金輪寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Bạch Đế thành Tây Bi Lâm
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t.9), tr.153
Kích thước
43x46cm
7
Lộ châu Phạn Cảnh tự
潞州梵境寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Chưa có thông tin
Kích thước
Chưa có thông tin
8
Đặng châu Đại Hưng Quốc tự
鄧州大興国寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Thành phố Khai Phong
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t.9), tr.156
9
Tử châu Hoa Lâm tự
梓州華林寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Sưu tập tư nhân Nhật Bản
Ảnh thác bản
Nakamura Nobuo (2004)
10
Nghi châu Thần Đức tự
宜州神德寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Diệu huyện
Ảnh thác bản
Thiểm Tây bi khắc tinh hoa, tr.32
11
Liêm châu Hoa Thành tự
廉州花成寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Bắc đồ, tr.166
12
Kinh thành Diên Hưng tự
京城延興寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Hàm Dương
Ảnh thác bản
Hàm Dương bi thạch, tr.18
2. Khảo sát về văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh
2.1. Nội dung minh văn
              Ngày 29 tháng 8 năm 2012, sau khi nhận được tin từ Bắc Ninh, chúng tôi đã có dịp cùng GS.Phan Huy Lê, PGS.TS.Tống Trung Tín, TS.Nguyễn Văn Sơn đến Bảo tàng Bắc Ninh và trực tiếp quan sát văn bia dưới sự hướng dẫn của Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh TS. Lê Viết Nga và một số cán bộ của bảo tàng.

Ảnh: Thác bản bia Bắc Ninh (chụp tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học 2012)

              Minh văn tổng cộng có 133 chữ, được chia làm 13 dòng (có thể tạm chia thành 1 dòng tiêu đề, 10 dòng chính văn, 2 dòng chú thích), mỗi dòng về cơ bản có 13 chữ. Nguyên văn như sau:
1      舍利塔銘
2      維大隋仁壽元年歳次辛酉十月
3      辛亥朔十五日乙丑
4      皇帝普為一切法界幽顯生靈謹
5      扵交州龍編縣禅衆寺奉安舍利
6      敬造靈塔願
7      太祖武元皇帝元明皇后皇帝皇
8      后皇太子諸王子孫等並内外羣
9      官爰及民庶六道三塗人非人等
10     生生世世值佛聞法永離苦空同
11     昇妙果
12     敕使大德慧雅法師吏部羽騎尉
13     姜徽送舎利扵此起塔
Phiên âm:
1            Xá lợi tháp minh văn
2            Duy[6] Đại Tuỳ Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân[7] Dậu thập nguyệt
3            Tân Hợi sóc[8] thập ngũ nhật Ất Sửu
4            Hoàng đế[9] phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5            ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6            kính tạo linh tháp nguyện[10]
7            Thái tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu[11], Hoàng đế, Hoàng
8            hậu, Hoàng thái tử[12], chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại quần
9            quan, viên cập[13] dân thứ[14], lục đạo tam đồ[15], nhân, phi nhân đẳng
10          sinh sinh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11          thăng diệu quả
12          Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị uý
13          Khương Huy[16] tống xá lợi ư thử khởi[17] tháp
Tạm dịch:
Bài minh tháp xá lợi
Đại Tùy niên hiệu Nhân Thọ nguyên niên (601) nhằm năm Tân Dậu, tháng 10, ngày sóc Tân Hợi, ngày 15 Ất Sửu,
Vì sinh linh u hiển của tất cả các cõi pháp giới, Hoàng đế [tức Tùy Văn Đế] kính cẩn kiến tạo linh tháp, phụng an xá lợi tại chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao châu, nguyện cho:
Đức Thái tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng thái tử, các vương tử vương tôn, cùng quan viên nội ngoại, đến cả kẻ thứ dân, lục đạo tam đồ, nhân, phi nhân, đời đời kiếp kiếp được gặp Phật nghe pháp, vĩnh viễn thoát ly khổ đau, cùng đạt quả phúc.  
Sắc chỉ sai Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị úy là Khương Huy đưa xá lợi đến đây xây tháp.
2.2. So sánh văn bia tháp xá lợi Bắc Ninh với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện tại Trung Quốc
              Dưới đây, chúng tôi thử tiến hành so sánh về mặt nội dung và hình thức tấm bia mới tìm thấy tại Bắc Ninh (để tiện phân biệt, tạm gọi là bia/minh văn Giao châu) với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp có niên đại năm 601 đã được tìm thấy tại Trung Quốc. Trong 6 tấm bia của Trung Quốc, có 5 bia có liên quan trực tiếp đến sự kiện 601 là bia Ung châu Tiên Du tự, Kỳ châu Phượng Tuyền tự, Đồng châu Đại Hưng Quốc tự, Thanh châu Thắng Phúc tự, Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự, 1 bia có nội dung liên quan gián tiếp là bia Kinh thành Diên Hưng tự.
(1) So sánh về mặt nội dung
              Trước tiên, về mặt nội dung, có thể thấy bia Giao châu có minh văn về cơ bản giống với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp có niên đại 601 đã phát hiện được tại Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy một số khác biệt như sau:
              Thứ nhất, trong minh văn Giao châu, dòng đầu tiên ghi tiêu đề “Xá lợi tháp minh” 舎利塔銘. Trong khi đó, một số minh văn Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” 舎利塔下銘  (Ung châu, Kỳ châu, Thanh châu, Đại Hưng huyện), riêng minh văn Đồng châu không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề này cũng khác nhau tùy theo từng bia, minh văn Ung châu và Thanh châu ghi ở dòng đầu, minh văn Kỳ châu và Đại Hưng huyện ghi ở dòng cuối cùng.

Thứ hai là sự phân bố các chữ trên một dòng. Về cơ bản, minh văn Ung châu, Kỳ châu và Đồng châu có bố cục mỗi dòng 11 chữ, minh văn Thanh châu và Đại Hưng huyện mỗi dòng có 12 chữ. Trong khi đó, minh văn Giao châu có bố cục mỗi dòng 13 chữ.

              Thứ ba là sự khác biệt về địa điểm xây tháp. Theo văn bia Giao châu, địa điểm được chọn để xây tháp xá lợi tại Giao châu là “Thiền Chúng tự”, tức là phù hợp với ghi chép của sách Xá lợi cảm ứng ký của Vương Thiệu dẫn trong Quảng hoằng minh tập. Tuy nhiên, bia Giao châu ghi cụ thể hơn là chùa Thiền Chúng nằm tại “Giao châu Long Biên huyện”. Xung quanh địa danh “Long Biên”, gần đây, một số nhà nghiên cứu dẫn ghi chép của Lê Quí Đôn trong sách Vân đài loại ngữ và phần chú thích của học giả Trần Văn Giáp cho rằng địa danh “Long Biên” vốn bắt nguồn từ chữ “Long Uyên”, mà việc đổi tên này chỉ có từ thời Đường do kị húy tên gọi của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Giả thuyết này phủ định sự tồn tại của địa danh “Long Biên” trước thời Đường và đặt nghi vấn đối với niên đại 601 của tấm bia phát hiện tại Bắc Ninh. Tuy nhiên, đây là một quan điểm không chính xác. Địa danh “Long Biên” trên thực tế đã xuất hiện từ trước thời Đường. Các sách Tống thư do Thẩm Ước (441─513) hay Nam Tề thư do Tiêu Tử Hiển đời Lương (Nam triều) biên soạn vào thế kỷ VI đã nhiều lần nhắc đến địa danh huyện “Long Biên” thuộc quận Giao Chỉ, đặc biệt trong sự kiện cuộc nổi dậy của Lư Tuần. Lư Tuần vốn là thái thú nhau với nhà Tấn thất bại ở Quảng Châu đã chạy xuống “Long Biên” và bị Thứ sử Giao châu là Đỗ Tuệ Độ dùng hỏa công đánh bại phải tự tử. Theo Tống thư, Đỗ Tuệ Độ sau đó được nhà Tấn phong chức “Long Biên huyện hầu” 龍編縣侯[18]. Như vậy, chúng ta thấy rằng tên gọi “Long Biên” đã xuất hiện từ đầu thế kỷ V, do đó, địa danh “Long Biên” không mâu thuẫn gì với niên đại 601 ghi trên tấm bia[19].
              Một đặc trưng nữa của minh văn Giao châu là trong khi các minh văn khác chỉ có dòng tiêu đề và phần chính văn, riêng minh văn Giao châu và Thanh châu có thêm chú thích ở phần cuối. Phần chú thích đó như sau:
Minh văn Giao châu:
Nguyên văn chữ Hán
敕使大德慧雅法師吏部羽騎尉姜徽送舎利扵此起塔
Phiên âm:
Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi tháp
Ảnh: Thác bản minh văn Thanh châu trong sách Bắc đồ

Minh văn Thanh châu
              Nguyên văn chữ Hán
敕使大德僧智能   侍者曇辯
                               侍者善才
敕使羽騎尉李德諶
長使邢祖俊
司馬李信則
錄事參軍丘文安
司功參軍李俈
孟弼書
Phiên âm:
Sắc sứ Đại đức tăng Trí Năng                           Thị giả Đàm Biện
                                                            Thị giả Thiện Tài
Sắc sứ Vũ kị úy Lý Đức Kham
Trưởng sử Hình Tổ Tuấn
Tư mã Lý Tín Tắc
Lục sự Tham quân Khâu Văn An
Tư công Tham quân Lý Cáo
Mạnh Bật thư
              Như vậy, ngoài dòng tiêu đề và phần chính văn, minh văn Giao châu có thêm phần chú thích ghi tên hai sứ giả[20] là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kị uý Khương Huy”. Minh văn Thanh châu cũng ghi tên hai sứ giả (sắc sứ) là “Đại đức Trí Năng” và “Vũ kị uý Lý Đức Kham”. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế (đã dẫn ở phần trên), có thể xác định Tuệ Nhã và Trí Năng là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế giao cho hộ tống bình xá lợi về các địa phương. Về chức Vũ kị úy, cần lưu ý rằng Vũ kị uý là chức “tản quan” chỉ có vào thời Tuỳ, đến niên hiệu Võ Đức thời Đường mới được đổi thành “Tướng sĩ lang”[21]. Như vậy, chức “Vũ kị úy” của Khương Huy trong minh văn Giao châu và “Lý Đức Kham” trong minh văn Thanh châu đều phù hợp với nội dung cử một viên tản quan hộ tống sa môn trong chiếu thư của Tùy Văn Đế.
              Như vậy, riêng với phần chú thích, minh văn Giao châu có một số điểm tương đồng với minh văn Thanh châu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta thấy minh văn Giao châu cũng có những nét đặc trưng riêng. Thứ nhất, trong khi minh văn Thanh châu chỉ ghi chức vụ của Lý Đức Kham đơn giản là “Vũ kị úy”, minh văn Giao châu lại ghi một cách tường tận hơn là “Lại bộ Vũ kị úy”. Thứ hai, minh văn Giao châu không ghi tên hai người thị giả (tùy tùng), cũng không ghi tên các viên chức địa phương tham gia nghi lễ (trưởng sử, lục sự …) như trong minh văn Thanh châu. Thứ tư, trong khi minh văn Thanh châu có ghi tên người viết chữ là “Mạnh Bật”, minh văn Giao châu lại không có phần này. Trong khi đó, minh văn Giao châu lại có thêm dòng chữ “tống xá lợi ư thử khởi tháp” (đưa xá lợi đến đây dựng tháp).
(2) Về tình trạng phát hiện
              Theo bài viết gửi cho Hội nghị Thông báo Khảo cổ học của TS. Lê Viết Nga (Bảo tàng Bắc Ninh), văn bia được ông Nguyễn Văn Đức (thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành) tìm thấy từ năm 2004 trong lúc đào đất làm gạch ở khu vực cách chùa làng Xuân Quan khoảng 20m. Bia bao gồm 2 phần úp khít vào nhau (tạm gọi là nắp và thân bia) được kết dính bằng “một chất gì đó” mà phải cậy bằng mai đào đất mới tách đôi ra được. Phần nắp và phần thân cùng có kích thước 45x46cm, phần nắp đậy dày 4cm. Mặt dưới phần nắp tạo gờ nổi xung quanh (có lẽ để tránh phần nắp tiếp xúc trực tiếp với mặt chữ và để trát hợp chất), mặt trên tạo “góc bạt chéo hình trụ”. Bia được tìm thấy cùng một hòm đá cũng bao gồm phần nắp và phần thân. Hòm có kích thước 45x46cm, phần nắp dày 8 cm, phần thân cao 20cm. Phần phía trên nắp cũng tạo góc bạt chéo hình trụ. Bên trong hòm có “tạp chất màu thâm đen”. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đức, bia đá và hòm đá được đặt trên một phiến đá.

Như đã trình bày ở phần trước, hiện nay tại Trung Quốc đã phát hiện được 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp. Tuy nhiên, theo khảo sát tư liệu của chúng tôi, chỉ có 2 trường hợp được phát hiện thông qua khai quật khảo cổ học.

Trường hợp thứ nhất là khai quật khảo cổ học tại tháp xá lợi chùa Tiên Du thuộc Ung châu (Tây An, Thiểm Tây) năm 1998. Tháp này nhiều khả năng đã được tu sửa dưới thời Đường. Ở địa cung dưới chân tháp đã phát hiện 1 hòm đá vuông mỗi cạnh khoảng 58cm, cao 40cm, bên trái hòm đá đặt một tấm bia làm bằng đá xanh, một mặt khắc minh văn “Xá lợi tháp hạ minh” năm Nhân Thọ 1 (601) thời Tùy, một mặt khắc minh văn “Tiên Du xá lợi tháp minh” năm Khai Nguyên 4 (716) thời Đường. Bốn phía hòm đá khắc hình 10 tiên nữ cầm các loại nhạc cụ. Bên trong hòm đá có một hòm đồng dài 11,7cm, phía trước rộng 5,48cm, cao 8,4cm, phía sau rộng 3,9cm, cao 6,2cm. Bên trong hòm đồng lại có 1 bình lưu ly cao 4,65cm. Bên trong bình có 10 hạt xá lợi (Lưu Á Vận, 1998).
Trường hợp thứ hai là khai quật nền tháp chùa Thần Đức ở Nghi châu (nay nằm trong phần đất của chùa Diệu Huyện, Thiểm Tây) năm 1964. Tháp này được xây dựng năm Nhân Thọ 4 (604). Hòm đá đựng xá lợi được tìm thấy bên dưới nền tháp, xung quanh được quây bằng gạch. Bốn phía và phía trên hòm đá lại được chặn bởi các phiến đá hình chữ nhật. Thành nắp hòm được trang trí hoa lá, thân hòm khắc cảnh A Nan và các đệ tử đau buồn sau khi Phật Thích Ca lên Niết Bàn cũng như hình Tứ Đại Thiên Vương, Kim Cương Lực Sĩ. Hòm đá có hình vuông mỗi cạnh 103cm, cao 119cm. Nắp hòm cao 52cm, phía trên có khắc 9 chữ “Đại Tùy hoàng đế xá lợi bảo tháp minh”. Điều đáng chú ý là bia được đặt bên trong hòm đá. Phần nắp hòm bên trong được cắt gọt giật cấp sâu 10cm, rộng 52,5cm. Bia khắc minh văn được đặt lọt trong phần giật cấp đó. Bên trong hòm đá có các hòm đồng nạm vàng đựng xá lợi và một số bảo vật như vòng vàng, hòm đồng đựng tóc, bình đồng đựng tro cốt (Dương Hoằng, 2006).

Hình: Cấu trúc hòm đá và bia đặt trong hòm đá của chùa Thần Đức (Dương Hoằng, 2006)

Như vậy, có thể thấy về mặt hình dáng, hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh và hòm đá tìm thấy tại chùa Tiên Du và chùa Thần Đức tuy có kích thước khác nhau nhưng hình dáng tương đối giống nhau, đặc biệt là phần nắp có góc bạt chéo. Qua so sánh, có thể suy đoán hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh chính là hòm đá đựng xá lợi.

              Khai quật ở chùa Tiên Du cho thấy cấu trúc 3 lớp hòm đá – hòm đồng – bình lưu ly,  phù hợp với cách thức an trí xá lợi năm 601 chép trong Quảng hoằng minh tập. Trong trường hợp của chùa Thần Đức, chúng ta thấy chỉ có 2 lớp hòm là hòm đá và hòm đồng nạm vàng, không có bình lưu ly. Đây có thể là do cách đặt xá lợi của năm 604 có khác biệt so với năm 601. Qua tài liệu văn bản và kết quả khai quật tại chùa Tiên Du, có thể cho rằng cấu trúc hòm đá – hòm đồng – bình lưu ly – xá lợi là qui chế chung của năm 601. Như vậy, nếu khai báo của ông Nguyễn Văn Đức là chính xác, tức là trong hòm đá tại Bắc Ninh chỉ còn một lớp “tạp chất màu thâm đen” mà không có hòm đồng và bình lưu ly nạm vàng, thì nhiều khả năng hòm đá ở Bắc Ninh đã từng bị khai quật, lấy đi xá lợi và sau đó được chôn lại.
              Về bia đá, trong trường hợp của chùa Thần Đức, chúng ta thấy minh văn 604 được đặt nằm gọn trong hòm đá. Trường hợp của chùa Tiên Du cho thấy bia đá của năm 601 nằm riêng rẽ so với hòm đá (nếu hòm đá được tìm thấy là hòm đá gốc của thời Tùy), tương tự như ở Bắc Ninh. Bia đá Bắc Ninh có phần nắp. Bia đá của chùa Tiên Du do đã được khắc thêm một mặt vào thời Đường, nên chúng ta không rõ tấm bia gốc vào thời Tùy có phần nắp hay không. Tuy nhiên, tại Trung Quốc cũng có một trường hợp bia có nắp tương tự như bia Bắc Ninh. Bia đá của chùa Thắng Phúc (minh văn Thanh châu) hiện nay vẫn còn lưu giữ được phần nắp, có góc bạt chéo hình trụ tương tự như bia Bắc Ninh.
2.3. Vấn đề niên đại của minh văn Giao châu
              Trên cơ sở so sánh về mặt nội dung cũng như các hiện vật liên quan, có thể thấy bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh có nhiều điểm tương đồng với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp năm 601 hiện còn lưu giữ được tại Trung Quốc. Tuy nhiên, xung quanh niên đại 601 được ghi trên bia Bắc Ninh, trong giới học giả Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
              Quan điểm thứ nhất phủ định niên đại 601 cũng như giá trị lịch sử của bia và cho rằng đây là một tấm bia giả cổ, mới được chế tác gần đây.
              Quan điểm thứ hai cho rằng bia được khắc vào thế kỷ VII, tuy nhiên vào thời điểm muộn hơn năm 601, có thể vào năm 604.
              Quan điểm thứ ba cho rằng bia được khắc vào năm 601, cùng thời điểm với niên đại “Nhân Thọ nguyên niên” ghi trên bia.
              Để tìm được câu trả lời cuối cùng, cần có nghiên cứu liên ngành với sự tham gia của nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các ngành khoa học tự nhiên. Dưới đây chúng tôi sẽ thử xem xét các khả năng nêu trên từ góc độ của một người nghiên cứu tư liệu chữ viết.
              Trước tiên, theo chúng tôi, xác suất xảy ra khả năng thứ nhất, tức bia mới được làm giả cổ là rất thấp. Khi so sánh với các văn bia đã được tìm thấy tại Trung Quốc, chúng ta thấy bia Bắc Ninh có nhiều điểm tương đồng về cả nội dung và hình thức. Mặt khác, bia Bắc Ninh cũng mang những nét đặc thù riêng, ngay cả so với bia Thanh Châu là minh văn có nhiều điểm tương đồng nhất. Điều này cho thấy ít nhất bia Bắc Ninh không phải là bản sao rập khuôn của bất kỳ một mẫu văn bia nào đã được biết đến trước đó. Hơn nữa, để làm giả được tấm bia như thế này, người làm giả phải có trình độ hiểu biết rất sâu sắc về Hán văn, lịch sử thời Tùy – Đường cũng như sưu tầm được tư liệu từ nhiều nguồn tản mác khác nhau. Ví dụ như việc sử dụng dị thể rất hiếm gặp của các chữ “tân”, “nguyện”, “thứ” hay “khởi”. Bản thân tên gọi chùa “Thiền Chúng” vốn không được ghi trong sắc chỉ của vua Tùy mà chỉ xuất hiện trong phần tấu báo “cảm ứng” của các địa phương, do đó nếu muốn làm giả, người làm giả cũng phải tra cứu tư liệu rất kỹ. Hơn nữa, người làm giả cũng phải có hiểu biết rất sâu về hệ thống quan chế của nhà Tùy (ví dụ chức Vũ kị úy là hàm tản quan của nhà Tùy), v.v… Bởi những lý lẽ nêu trên, ít nhất từ góc độ nghiên cứu văn bản học, chúng tôi cho rằng khả năng giả cổ của bia Bắc Ninh là rất thấp[22].
              Để trả lời cho quan điểm thứ hai, chúng ta phải xem xét vấn đề trong bối cảnh mối quan hệ giữa nhà Tùy và chính quyền Lý Phật Tử khi đó.
              Có thể nói người đại diện cho quan điểm thứ hai là học giả Lê Mạnh Thát (1976). Lê Mạnh Thát có lẽ là nhà nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam đề cập đến hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp trong phần chú thích bản dịch sách Thiền uyển tập anh ngữ lục (do Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn xuất bản lần đầu tiên năm 1976). Xuất phát từ một sự thực lịch sử là vào năm 601, nước ta vẫn đang là một nước độc lập dưới quyền lãnh đạo của Lý Phật Tử, ông cho rằng Tùy Văn Đế không thể ban xá lợi qua Giao châu vào năm 601. Qua câu chuyện Tùy Văn Đế hỏi sư Đàm Thiên về tình hình phát triển của Phật giáo tại Giao châu được chép trong Thiền uyển tập anh, Lê Mạnh Thát cho rằng ngay cả sau khi Lưu Phương đã tiêu diệt chính quyền của Lý Phật Tử vào năm 602, “Tùy Văn Đế còn đang lo về việc Giao châu đã được giáo hóa theo Phật giáo hay chưa”, và vì vậy, “Giao châu làm gì mà được chọn làm một chỗ thanh tịnh giữa 30 chỗ khác của Trung Quốc” để xây dựng bảo tháp năm 601[23].
              Nói tóm lại, Lê Mạnh Thát phủ định việc nhà Tùy đưa xá lợi và xây dựng bảo tháp tại Giao châu năm 601. Lê Mạnh Thát cho rằng việc đưa xá lợi đến Giao châu chỉ có thể được tiến hành vào năm 604, với việc vua Tùy ban 5 hòm xá lợi cho Pháp Hiền để xây dựng bảo tháp tại chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa khác tại các châu Phong, Hoan, Trường, Ái như ghi chép trong Thiền uyển tập anh. Suy rộng ra, nếu đứng trên quan điểm của Lê Mạnh Thát, tấm bia tìm thấy tại Bắc Ninh, nếu thực sự là bia thời Tùy, chỉ có thể được đưa đến Giao châu vào năm 604, sau cuộc xâm lược của Lưu Phương. Hơn nữa, Lê Mạnh Thát cũng không công nhận địa điểm xây tháp xá lợi tại Giao châu là chùa Thiền Chúng, mà cho rằng địa điểm chính xác phải là chùa Pháp Vân[24].
              Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ phải xem xét thực chất mối quan hệ giữa chính quyền của Lý Phật Tử và nhà Tùy khi đó. Trước tiên, chúng tôi cũng tán thành ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu đi trước cho rằng trước cuộc xâm lược của Lưu Phương, nước ta đã là một nước độc lập[25]. Tuy nhiên, câu chuyện dưới đây về Thứ sử Quảng châu Lệnh Hồ Hy chép trong Tùy thư hé lộ cho chúng ta thấy một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ thực chất giữa nhà Tùy và nhà Tiền Lý.
              Sử liệu: Tùy thư, Q.56, Liệt truyện 21, Truyện Lệnh Hồ Hy
熙奉詔、令交州渠帥李佛子入朝、佛子欲為亂、請至仲冬上道、熙意在羈縻、遂從之、有人詣闕訟熙受佛子賂而捨之、上聞而固疑之、既而佛子反問至、上大怒、以為信然、遣使者鎖熙詣闕(中略)行軍總管劉方擒佛子送於京師、言熙實無贓貨、上乃悟、於是召其四子、聽預仕焉、
              Tạm dịch:
(Lệnh Hồ) Hy phụng chiếu lệnh Giao châu cừ súy là Lý Phật Tử vào triều. Phật Tử muốn làm loạn, xin đến trọng đông mới lên đường. Hy ý muốn ràng buộc theo kiểu kimi nên đồng ý. Có người đến cửa khuyết tố cáo Hy nhận hối lộ của Phật Tử. Hoàng thượng nghe được nên có ý nghi ngờ. Đến khi tin Lý Phật Tử làm phản đến nơi, Hoàng thượng nổi giận, lấy (chuyện tố cáo cũ) là thật, sai sứ giả bắt giam Hy đưa về cửa khuyết. [Lược một đoạn] Đến khi Hành quân Tổng quản Lưu Phương bắt được Lý Phật Tử đưa về kinh sư, nói Hy quả thực không ăn của đút, Hoàng thượng mới ngộ ra, mời bốn người con (của Hy), cho phép được làm quan.
              Câu chuyện của Lệnh Hồ Hy cho thấy mặc dù vào năm 601, chính quyền của Lý Phật Tử đã là một chính quyền độc lập, song nhà Tùy không thừa nhận sự độc lập đó mà vẫn coi Giao châu là đất cũ của Lương – Trần và là một bộ phận trong lãnh thổ của nhà Tùy. Điều này cũng thể hiện qua việc nhà Tùy chuẩn theo lời tấu của Lệnh Hồ Hy tiến hành đổi tên một số đơn vị hành chính đang nằm dưới sự kiểm soát của Lý Phật Tử như Hoàng châu thành Phong châu, Lợi châu thành Trí châu, Đức châu thành Hoan châu[26]. Việc đổi tên này chứng tỏ nhà Tùy nghiễm nhiên coi các châu này nằm dưới quyền quản lý của mình.
              Chính quyền Quảng Châu của Lệnh Hồ Hy vào thời điểm đó đóng vai trò là đầu mối liên lạc giữa chính quyền trung ương của nhà Tùy với Lý Phật Tử, song chỉ muốn “ràng buộc [Giao châu] theo kiểu kimi”. Về phía nhà Tiền Lý, mặc dù thực chất đã là một chính quyền độc lập, song cũng như nhiều vương triều khác trong lịch sử Việt Nam, Lý Phật Tử rõ ràng “đóng vai” một thần tử của chính quyền Trung Hoa, và để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tùy, đã xin hoãn việc lên đường vào chầu vua Tùy đến giữa mùa đông năm 601.
              Mối quan hệ phức tạp khi đó giữa nhà Tùy và chính quyền Lý Phật Tử còn được thể hiện qua một tư liệu khác là mộ chí của Tô Hiếu Từ 蘇孝慈墓誌. Tô Hiếu Từ là người Phù Phong 扶風 (Thiểm Tây), làm quan cho ba triều Tây Ngụy, Bắc Chu và Tùy, chết năm 601 khi đang làm chức Hồng châu Tổng quản洪州總管của nhà Tùy. Mộ chí của Tô Hiếu Từ được khắc năm 603, được phát hiện tại Bồ Thành (Thiểm Tây, Trung Quốc) từ năm 1888 (Thanh Đạo Quang 14), hiện đang được lưu giữ tại Nhà văn hóa Bồ Thành. Điểm đáng chú ý trong nội dung tấm mộ chí này là việc Tô Hiếu Từ trước khi chết đã được vua Tùy phong làm “Giao châu đạo hành quân tổng quản” để chinh phạt Giao châu[27]. Mặt khác, theo Tùy thư, Hồng châu Tổng quản Tô Từ chết vào ngày Quí Sửu (tức ngày 1) tháng 6 năm Nhân Thọ 1 (601)[28]. Như vậy, nhờ mộ chí của Tô Hiếu Từ, chúng ta phát hiện được một sự thật rất quan trọng. Đó là không phải đợi đến năm 602, mà ngay từ thời điểm trước tháng 6 năm 601, nhà Tùy đã chuẩn bị cho việc tấn công Giao châu. Tuy nhiên, cuộc hành quân này trên thực tế đã bị hoãn, có lẽ là do cái chết đột ngột của Tô Hiếu Từ vào đầu tháng 6. Đến ngày 13 tháng 6, Tùy Văn Đế xuống chiếu ra lệnh phân phát xá lợi cho Giao châu. Điều đó có nghĩa là việc phân phát xá lợi của vua Tùy vào tháng 6 năm 601 không chỉ đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, mà còn có âm mưu sâu xa là nhằm kiểm tra lại sự thần phục của Giao châu đối với nhà Tùy.

Ảnh: Thác bản mộ chí Tô Hiếu Từ

              Trong bối cảnh chính trị – ngoại giao như vậy, chúng tôi cho rằng vào giữa tháng 10 năm 601, chính quyền của Lý Phật Tử có thể chấp nhận một đoàn sứ giả gồm 1 sa môn, 2 tùy tùng là tăng lữ, 1 viên võ quan của nhà Tùy đến Giao châu với mục đích tổ chức một nghi lễ Phật giáo. Điều này có lẽ cũng không khó khăn đối với một người đứng đầu chính quyền mà tên gọi đã phản ánh sự sùng bái Phật giáo rất sâu đậm – Lý Phật Tử. Hơn nữa, về mặt chính trị, việc không đón tiếp đoàn hộ tống xá lợi của vua Tùy vào thời điểm tháng 10 có thể dẫn đến nguy cơ phá hỏng kế hoạch kéo dài thời gian để chuẩn bị kháng chiến của nhà Tiền Lý.
              Một lý do nữa khiến chúng tôi nghĩ rằng việc xây tháp tại Giao châu và cho khắc minh văn thực sự được tiến hành vào năm 601, không phải vào năm 604 là vì ngày tháng trên minh văn ghi rõ là năm “Nhân Thọ nguyên niên”. Như chúng ta đã biết, hoạt động phân phát xá lợi không chỉ được tiến hành vào hai năm Nhân Thọ 1 và 2 (601, 602) mà còn được tiến hành cả vào năm Nhân Thọ 4 (604). Như đã trình bày ở phần đầu, năm 604, vua Tùy xuống chiếu phân phát xá lợi vào tháng Giêng, ước hẹn cùng các địa phương hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4 cùng năm. Hiện nay, tại Trung Quốc đã phát hiện được một số minh văn liên quan đến sự kiện năm 604 như các minh văn Tử châu, Nghi châu, Liêm châu (tham khảo Bảng 1). Các minh văn này đều ghi rõ thời điểm “Nhân Thọ tứ niên” (604). Như vậy, nếu giả sử vào năm 601, nhà Tùy không đưa xá lợi đến được Giao châu và chỉ làm được điều này vào năm 604, sau khi Lưu Phương đã kiểm soát được Giao châu, minh văn khắc kèm với hoạt động phân phát xá lợi đó theo lẽ thông thường sẽ phải được khắc niên hiệu “Nhân Thọ tứ niên” giống như các địa phương khác, hoàn toàn không cần thiết phải quay ngược lại thời gian để khắc lại niên hiệu “Nhân Thọ nguyên niên” như trên tấm bia tìm thấy tại Bắc Ninh.
              Hơn hết, về mặt tư liệu, như đã trình bày ở phần trước, Giao châu không chỉ được liệt kê trong danh sách phân phát xá lợi năm 601 mà tên chùa Thiền Chúng của Giao châu còn xuất hiện trong danh sách “cảm ứng” do các địa phương tấu lên với triều đình trung ương của nhà Tùy. Trong khi đó, địa điểm Pháp Hiền cho xây dựng các tháp xá lợi năm 604 theo Thiền uyển tập anh là chùa Pháp Vân và một số chùa khác tại Phong châu, Trường châu, Ái châu, Hoan châu. Điều này cho thấy việc xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng vào năm 601 là có thực và là một sự kiện hoàn toàn khác biệt so với việc Pháp Hiền tổ chức xây dựng tháp xá lợi tại chùa Pháp Vân năm 604.
2.4. Tiểu kết – Đánh giá về bia Bắc Ninh:
              Khi xem xét bối cảnh lịch sử đương thời cũng như nội dung các tư liệu hiện còn lưu giữ được, có thể nói xác suất để xảy ra khả năng thứ nhất và thứ hai là rất thấp, hay nói cách khác, việc coi niên đại khắc trên bia Bắc Ninh chính là niên đại thực của tấm bia vẫn là khả năng có tính hiện thực và thuyết phục cao nhất ở thời điểm hiện tại.
              Với tình hình tư liệu hiện nay, có thể tạm thời xác nhận đây là văn bia hiện còn lưu giữ được có niên đại cổ nhất Việt Nam. Niên đại 601 của văn bia này sớm hơn 17 năm so với tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn có niên đại năm 618 đã được GS.Đào Duy Anh phát hiện tại Thanh Hóa năm 1960. Bia Bắc Ninh thuộc cùng nhóm các văn bia liên quan đến chuỗi sự kiện Tùy Văn Đế cho phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp trong niên hiệu Nhân Thọ đầu thời Tùy. Chính vì vậy, chúng tôi kiến nghị gọi tên tấm bia này là bia/minh văn Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp 交州仁寿舎利塔銘.
              Sự thống nhất về câu chữ trong minh văn cho thấy bên cạnh thiết kế tháp xá lợi, qui cách tổ chức nghi lễ, chính quyền trung ương của nhà Tùy đã biên soạn trước nội dung minh văn để phân phát cho các địa phương. Mặt khác, kích thước bia, kiểu chữ khắc lại có sự khác biệt tùy từng địa phương. Việc tìm thấy minh văn Giao châu giúp tái khẳng định ý kiến của học giả Nhật Bản Kegazawa Yasunori cho rằng nhà Tùy chỉ đóng vai trò biên soạn nội dung minh văn, còn việc khắc bia được giao về các địa phương (Kegasawa Yasunori, 2011). Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp đã được khắc tại Việt Nam.
3. Tháp Nhân Thọ xá lợi ở Giao châu và mối quan hệ với dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
              Như đã trình bày ở trên, với Giao châu, Tùy Văn Đế không chỉ định địa điểm xây tháp mà để cho chính quyền Giao châu tự lựa chọn. Vậy tại sao chùa Thiền Chúng, một ngôi chùa mới xây dựng vào thời điểm đó lại được lựa chọn?
              Điều này trước tiên bắt nguồn từ mối liên hệ trực tiếp giữa Tỳ Ni Đa Lưu Chi – sư phụ của Pháp Hiền với chính sách phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế. Như các học giả Nguyễn Lang (1974) và Lê Mạnh Thát (1976) đã đề cập, theo các sách Lịch đại tam bảo ký[29]Tục Cao tăng truyện, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đến nhà Tùy và được chính vua Tùy mời dịch các kinh Tượng đầu tinh xá và Đại thừa phương quảng tổng trì dưới tên hiệu là Diệt Hỷ. Theo Lịch đại tam bảo ký và Thích thị thông giám, Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch xong kinh Tượng đầu vào tháng 2, và dịch xong kinh Tổng trì vào tháng 7 năm Khai Hoàng 2 (582).
              Sử liệu: Lịch đại tam bảo ký, Q.12
象頭精舍經一卷                 開皇二年二月譯
大乘方廣總持經一卷         開皇二年七月譯
右二部二卷、北天竺烏場國三藏法師毘尼多流支、隋言滅喜。既聞我皇興復三寶。故能不遠五百由延。振錫巡方來觀盛化至止。便召入令翻經。即於大興善寺譯出。給事李道寶般若流支次子曇皮二人傳譯。大興善寺沙門長安釋法纂筆受為隋言。并整比文義。沙門彥琮並皆製序。
              Tạm dịch:
Tượng đầu tịnh xá kinh 1 quyển (dịch tháng 2 năm Khai Hoàng 2 – 582)
Đại thừa phương quảng tổng trì kinh 1 quyển (dịch tháng 7 năm Khai Hoàng 2 – 582)
Hai bộ hai quyển kinh trên do Tam tạng pháp sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tiếng Tùy gọi là Diệt Hỷ, người nước Ô Dương Bắc Thiên Trúc dịch. Sư nghe tin Hoàng thượng ta [tức Tùy Văn Đế] hưng phục Tam bảo… (Tùy Văn Đế) bèn mời vào lệnh cho dịch kinh. Dịch tại chùa Đại Hưng Thiện. Cấp sự Lý Đạo Bảo, con thứ của Ban Nhược Lưu Chi là Đàm Bì hai người truyền dịch. Sa môn chùa Đại Hưng Thiện Trường An Thích Pháp Toản chấp bút thành tiếng Tùy và chỉnh lý văn nghĩa. Sa môn Ngạn Tông viết lời tựa cho cả 2 bộ kinh.
              Ở đây, chúng ta cần lưu ý một điểm rất quan trọng là Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã tham gia vào hoạt động dịch thuật của chính quyền trung ương nhà Tùy sau khi đã có một thời gian hoạt động tại Giao châu.
              Theo những ghi chép của Thiền uyển tập anh, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến kinh đô Trường An của nhà Trần từ năm 574 (Thái Kiến 2). Gặp lúc Chu Võ Đế phá diệt Phật pháp, ông bèn theo lời khuyên của Tăng Xán xuống phía Nam. Ông lưu lại chùa Chế Chỉ ở Quảng Châu trong 6 năm, dịch xong kinh Tượng đầu. Sau đó, ông đến chùa Pháp Vân tại Việt Nam vào tháng 3 năm 580 (Chu Đại Tượng 2, Canh Tí). Tại đây, ông thu nạp đệ tử Pháp Hiền và dịch xong kinh Tổng trì (tức Đại thừa phương quảng tổng trì)[30].
       Trước đây, các tư liệu nêu trên đã được học giả Nguyễn Lang chú ý đến khi ông viết bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, đứng từ quan điểm nghiên cứu Phật giáo, Nguyễn Lang chủ yếu quan tâm đến vấn đề kinh Tổng trì như vậy đã được dịch tại Việt Nam (như sách Thiền uyển tập anh chép) hay Trung Hoa (như các tài liệu Trung Quốc, mà tiêu biểu là Thích thị thông giám chép). Nguyễn Lang cũng đặt nghi vấn không rõ thời điểm Tỳ Ni Đa Lưu Chi lần đầu tiên đến Việt Nam là vào năm 580 (như Thiền uyển tập anh chép) hay sau năm 582, sau khi đã dịch kinh Phật ở kinh đô Đại Hưng của nhà Tùy (theo ghi chép của Thích thị thông giám)[31].
              Các nghi vấn mà Nguyễn Lang đưa ra xuất phát từ vấn đề ông quan niệm rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi chỉ đến Việt Nam sau khi đã tham gia hoạt động dịch thuật kinh Phật ở nhà Tùy. Từ đó dẫn đến việc ông không giải thích được tại sao theo Thiền uyển tập anh, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Việt Nam từ năm 580 mà theo các nguồn tài liệu của Trung Quốc, đến năm 582, Tỳ Ni Đa Lưu Chi lại có thể dịch kinh ở kinh đô Đại Hưng, do đó Nguyễn Lang buộc phải đi đến lựa chọn một trong hai tư liệu, hoặc Thiền uyển tập anh hoặc Thích thị thông giám, và phủ định tư liệu còn lại. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, có thể thấy các ghi chép của Thiền uyển tập anh và Thích thị thông giám hoàn toàn không có điểm gì mâu thuẫn với nhau. Nếu đặt các sự việc theo trục thời gian, cần phải hiểu rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Việt Nam từ năm 580, đúng như ghi chép của Thiền uyển tập anh, ở lại chùa Pháp Vân một thời gian, sau đó khi được tin Tùy Văn Đế tiến hành chính sách phục hưng Phật giáo, ông đã quay trở lại Trung Quốc. Trong thời gian quay lại Trung Quốc đó, ông đã được mời tham gia hoạt động dịch kinh sách tại kinh đô Đại Hưng và hoàn thành công việc dịch 2 bộ kinh Tượng đầu và Tổng trì vào tháng 2 và tháng 7 năm 582. Nếu giải thích theo hướng này, chúng ta cũng giải quyết được vấn đề của kinh Tổng trì mà Nguyễn Lang thắc mắc. Có thể cho rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch kinh Tổng trì ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Ông bắt đầu công việc dịch thuật tại chùa Pháp Vân ở Giao châu theo đúng ghi chép của Thiền uyển tập anh, và sau đó chính thức hoàn thành công trình này khi ông quay trở lại Trung Quốc và được mời tham gia vào công việc dịch thuật tại chùa Đại Hưng Thiện. Sau đó, ông lại quay trở lại chùa Pháp Vân và mất ở đây vào năm 594.
              Như vậy, chúng ta thấy rằng sau một thời gian hoạt động tại chùa Pháp Vân ở Việt Nam, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã quay trở lại Trung Quốc và tham gia trực tiếp vào các hoạt động phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế ngay tại kinh đô Đại Hưng. Chắc chắn là khi quay trở lại Trung Quốc, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã mang theo những tri thức mà ông nắm được về hoạt động Phật giáo tại Giao châu. Danh tiếng của Tỳ Ni Đa Lưu Chi cũng như mối liên hệ của vị danh tăng này với chính quyền nhà Tùy là một trong những lý do dẫn đến việc chính quyền Lý Phật Tử lựa chọn chùa Thiền Chúng để xây dựng tháp xá lợi năm 601.
              Đệ tử của Tỳ Ni Đa Lưu Chi – Pháp Hiền chắc chắn cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động xây dựng tháp xá lợi năm 601. Như đã trình bày ở phần trước, đối với Giao châu, Tùy Văn Đế không chỉ định vị trí xây tháp mà để cho Giao châu lựa chọn, và ngôi chùa được chọn là chùa Thiền Chúng. Tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 2012, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hà khi bàn về bia xá lợi 601 cũng đã nhắc đến Pháp Hiền với tư cách là “trụ trì” của chùa Thiền Chúng (Nguyễn Quang Hà, 2012)[32]. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng không chỉ là “trụ trì”, Pháp Hiền còn chính là người sáng lập chùa Thiền Chúng. Nguyên văn văn bản của Thiền uyển tập anh viết rất rõ: ” Khi (Tỳ Ni Đa Lưu) Chi tịch rồi, sư thẳng vào núi ấy, tu tập thiền định, hình như cây khô, vật, ngã đều quên, chim bay đến chầu, dã thú vây quanh. Người đương thời nghe tiếng đến học, không thể đếm xiết. Nhân đó, sư lập chùa [sáng tự], dạy dỗ học trò. Tăng chúng đến ở thường hơn 300″[33].
              Tóm lại, chúng ta thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà chùa Thiền Chúng lại được lựa chọn để xây dựng tháp xá lợi của nhà Tùy vào năm 601. Chùa Thiền Chúng được lựa chọn vì:
              Thứ nhất, chùa Thiền Chúng nằm trong dòng thiền của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một vị cao tăng đã từng tham gia dịch thuật kinh sách ở kinh đô nhà Tùy và có mối liên hệ mật thiết với chính sách phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế.
              Thứ hai, sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi chết, đệ tử của ông là Pháp Hiền đã hoằng dương pháp môn của dòng thiền này, sáng lập ra chùa Thiền Chúng và biến nó trở thành một trung tâm Phật giáo lớn, mà theo Thiền uyển tập anh, số lượng tăng chúng thường cư trú lên đến hơn 300. Số lượng tăng chúng đông đảo này thỏa mãn điều kiện huy động sư sãi (nhiều nhất là 360 người, các mức tiếp theo là 240 hoặc 120 người) để tham gia nghi lễ xây tháp xá lợi của nhà Tùy.
              Thứ ba, Pháp Hiền không chỉ tinh thông pháp môn của Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà còn là một người đã có kinh nghiệm trong việc xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu. Theo Thiền uyển tập anh, sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch, chính Pháp Hiền đã “làm lễ trà tỳ, thu xá lợi 5 sắc, xây tháp để thờ”. Đó là vào “năm Giáp Dần, đời Tùy Khai Hoàng năm 14 (594)”[34], tức là 7 năm trước khi Tùy Văn Đế xuống chiếu cho xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu.
5. Các tháp xá lợi được xây dựng tại Việt Nam dưới thời Tùy – Đường
              Trên đây, chúng tôi đã so sánh văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp với các minh văn tương tự tìm thấy tại Trung Quốc. Trên cơ sở những nhận thức mới đạt được qua nghiên cứu so sánh, chúng tôi muốn tổng hợp và đánh giá lại một số di tích và hiện vật tháp xá lợi có niên đại từ nửa cuối thế kỷ VI đến hết thế kỷ IX tại Việt Nam (tương đương với thời Tùy – Đường).
5.1. Các tháp xá lợi được xây dựng vào thời Tùy
              Tháp xá lợi đầu tiên được xây dựng trong giai đoạn này có lẽ là tháp an trí xá lợi của thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, do đệ tử của ông là sư Pháp Hiền xây dựng tại chùa Pháp Vân vào năm 594. Đến năm 601, Pháp Hiền tiếp tục tham gia việc xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng, thuộc huyện Long Biên, Giao châu. Theo Thiền uyển tập anh, sau khi Lưu Phương tiêu diệt chính quyền Lý Phật Tử, dưới sự tiến cử của Lưu Phương, vua Tùy đã chuyển đến Giao châu 5 hòm xá lợi. Pháp Hiền đã xây tháp an trí 5 hòm xá lợi này tại chùa Pháp Vân (Giao châu) và các châu Phong, Trường, Ái, Hoan. Như vậy, riêng tại chùa Pháp Vân ở Giao châu đã tồn tại hai tháp xá lợi, một của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một của nhà Tùy.
              Sang đến thời Lý, một trong hai tháp xá lợi này đã được khai quật. Theo Đại Việt sử lược, năm Giáp Tuất (1034), “sư ở chùa Pháp Vân tại Cổ châu tâu lên rằng: trong chùa phát ra mấy đạo tia sáng, theo tia sáng mà đào thì thấy một hòm bằng vàng, một hòm bằng đá, trong hòm đá có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng, trong hòm vàng có bình lưu ly, trong bình có xá lợi”[35]. Ở đây, chúng ta thấy xuất hiện bình lưu ly, tức là có điểm tương đồng với qui chế an trí xá lợi năm 601, nhưng mặt khác, lại có thêm một lớp hộp bạc. Kết hợp với các thông tin về tháp xá lợi của chùa Pháp Vân nêu trên, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng xá lợi được khai quật năm 1034 là xá lợi do Pháp Hiền cho hạ thổ năm 604 dưới thời Tùy.
5.2. Các tháp xá lợi được xây dựng vào thời Đường
              Trong hai năm 1985-1986, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật di chỉ Nhạn tháp (thôn Nhạn Tháp, xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Tại di chỉ này đã phát hiện được hòm vàng có hoa văn đựng xá lợi, dài 12cm, rộng 8cm, cao 8cm. Hòm vàng này lại được đặt trong lòng một hòm đồng trơn, 12cm, rộng 8cm, cao 8cm. Hòm đồng nằm trong một thân cây khoét rỗng cao 1,37m, chôn ở chính tâm lòng tháp[36].
              Qua các ghi chép khảo cổ học, chúng ta thấy cách thức chôn xá lợi tại Nhạn Tháp chỉ có 3 lớp: thân cây, hòm đồng, hòm vàng, khác với qui cách chôn hòm xá lợi của thời Tùy (ít nhất phải có 1 lớp hòm đá). Ngoài ra, tại di tích này cũng tìm được một số viên gạch có chữ, trong đó có minh văn “Trinh Quán lục niên” 貞観六年 (627). Tổng hợp các nguồn thông tin nêu trên, chúng tôi cho rằng đây là một tháp xá lợi thời Đường.
              Liên quan đến lòng thân cây khoét rỗng, trước đây GS. Hà Văn Tấn từng đặt vấn đề: cách thức chôn như vậy “gợi chúng ta nhớ đến tục chôn người chết trong những quan tài khoét bằng thân cây trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Các tháp Xá Lị vẫn được coi là tháp mộ, khác với các tháp kỷ niệm. Phải chăng ở đây, có sự tiếp hợp giữa Phật giáo với những truyền thống bản địa lâu đời ?” (Hà Văn Tấn, 1993). Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kosugi Yasuo (1934), từ thời Lục Triều tại Trung Quốc, khi xây dựng tháp Phật, người ta thường lập một trụ gỗ nhỏ ở trung tâm để đánh dấu vị trí xây tháp, gọi là “đả sát”. Cách xây dựng này kéo dài đến tận thời Tùy – Đường. Hai chữ “đả sát” cũng xuất hiện trong chiếu thư xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp của Tùy Văn Đế mà chúng tôi đã giới thiệu ở phần đầu bài viết. Như vậy, cách thức xây dựng “đả sát” muộn nhất đã được truyền đến Giao châu từ năm 601, thân cây khoét rỗng mà chúng ta tìm được tại di chỉ Nhạn Tháp có lẽ cũng là một dạng “đả sát” của tháp xá lợi và không có nhiều liên hệ đến văn hóa Đông Sơn.
              Ngoài ra, liên quan đến hai hạt xá lợi màu trắng phát hiện trong hòm xá lợi ở Nhạn Tháp, chúng tôi cũng muốn lưu ý đến cách phân biệt xá lợi trong sách Pháp uyển chu lâm do sư Đạo Thế soạn vào năm Tổng Chương 1 (668) thời Đường. Theo đó, xá lợi vốn được chia làm 3 loại, thứ nhất là xá lợi xương, có màu trắng, thứ hai là xá lợi tóc, có màu đen, thứ ba là xá lợi thịt, có màu đỏ[37]. Nếu theo cách phân biệt này, hai viên xá lợi của Nhạn Tháp thuộc loại xá lợi xương.
              Ngoài di chỉ Nhạn Tháp, gần đây, trong quá trình điều tra các viên gạch có chữ Hán tại Hoàng thành Thăng Long, chúng tôi phát hiện được một viên gạch Đại La có minh văn như sau:
1            □和四年十一匚
2      塔元安 佛匚
3      善崇善寺匚
4      □會寺僧匚
5      塔左匚
Phiên âm:
1            […] Hòa tứ niên thập nhất […]
2            tháp nguyên an Phật […]
3            thiện Sùng Thiện tự […]
4            […] hội tự tăng […]
5            tháp tả […]
              Viên gạch nói trên không có ghi số hiệu khai quật, có lẽ đã bị bỏ sót trong quá trình chỉnh lý hiện vật. Dòng đầu tiên ghi niên hiệu “.. Hòa tứ niên”. Chữ đầu tiên bị mất một phần (có lẽ do bị cuốc vào khi khai quật). Tuy nhiên, nếu dựa vào 2 nét bên dưới còn sót lại, kết hợp với niên đại Đại La, chúng tôi cho rằng chữ này chỉ có thể là chữ “Nguyên” 元. Nếu suy đoán của chúng tôi là đúng, dòng niên đại trên viên gạch là tháng 11 năm Nguyên Hòa 4, tức năm 809 thời Đường. Năm 809 là năm dưới thời An Nam Đô hộ Trương Chu[38].
              Dòng thứ hai đáng tiếc cũng bị mất các chữ cuối. Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy có từ “tháp nguyên an Phật …”, tức là “tháp vốn an (trí) Phật …”. Đặc biệt, sau chữ “an” người viết để trống một chữ để thể hiện sự kính trọng rồi viết tiếp chữ “Phật”. Mạch văn, khuyết tự thể hiện ý kính trọng và chữ “an” khiến chúng tôi ngờ rằng chữ tiếp theo là chữ “tượng” hoặc “xá lợi”.
              Việc tìm thấy viên gạch có minh văn nêu trên không chỉ giúp khẳng định giả thuyết trước đây của chúng tôi cho rằng phủ thành An Nam dưới niên hiệu Nguyên Hòa thời Đô hộ Trương Chu đã nằm tại vị trí 18 Hoàng Diệu, mà còn hé lộ cho chúng ta sự tồn tại của một tòa tháp, nhiều khả năng là tháp xá lợi được xây dựng vào đầu thế kỷ IX ở An Nam. Tháp xá lợi này có liên hệ nào đó đến một ngôi chùa cùng thời có tên là chùa Sùng Thiện.
Ảnh: Thác bản viên gạch phát hiện được tại Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long
              Đến nửa cuối thế kỷ IX, theo ghi chép của sách An Nam chí, tương truyền An Nam Đô hộ Cao Biền đã cho xây dựng tháp trên núi Đông Cứu (tức núi Thiên Thai, Gia Lương, Bắc Ninh)[39]. Theo Trần Cương Trung thi tập, khi sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu sang Việt Nam vào năm 1293 vẫn còn thấy tháp đá do Cao Biền xây dựng nằm bên trái “Phú Lương giang Thượng Kiều thị”[40], mà hiện nay chúng ta không rõ ở đâu.
              Kết luận
              Sự kiện phát hiện văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp năm 601 tại Bắc Ninh có ý nghĩa vô cùng quí giá. Qua nghiên cứu so sánh với các văn bia Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được tại Trung Quốc, chúng tôi cho rằng với điều kiện tư liệu hiện tại, có thể cho rằng đây chính là văn bia được chế tác năm 601 cùng với sự kiện Tùy Văn Đế cho xây dựng bảo tháp xá lợi năm Nhân Thọ 1 (601) tại Giao châu.
              Với niên đại 601, văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp tìm thấy tại Bắc Ninh đã thay thế văn bia Đại Tùy Cửu Chân Bảo An đạo tràng chi bi văn (bia Trường Xuân) có niên đại năm 618 ở Thanh Hóa, trở thành văn bia có niên đại cổ nhất Việt Nam.
              Đây là nguồn tư liệu kim thạch văn quí giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia được cho là tìm thấy tại khu vực Vạn Xoan trước đây[41], giúp nghiên cứu về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Trên cơ sở khảo sát minh văn Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp, kết hợp với một nguồn tư liệu từ trước đến nay chưa được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến là mộ chí của Tô Hiếu Từ, chúng tôi đã chi ra được một số vấn đề quan trọng về lịch sử chính trị giai đoạn này. Thứ nhất, không phải đợi đến năm 602 mà ngay từ thời điểm tháng 6 năm 601, nhà Tùy đã ý thức về sự tồn tại của chính quyền độc lập của Lý Phật Tử và có ý đồ xâm lược Giao châu. Trong bối cảnh đó, việc vua Tùy xuống chiếu cử sứ giả hộ tống xá lợi đến Giao châu xây tháp vào ngày 10 tháng 6 năm 601 không đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, mà còn ẩn chứa một ý đồ chính trị sâu xa là nhằm kiểm tra sự thần phục của Lý Phật Tử đối với nhà Tùy. Cũng cần đánh giá việc Lý Phật Tử tổ chức đón tiếp đoàn sứ giả của vua Tùy vào năm 601 như một bước đi về mặt chính trị – ngoại giao nhằm kéo dài thời gian để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tùy diễn ra sau đó.
              Ngoài ra, minh văn cũng giúp chúng ta có được nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng liên quan trong giai đoạn thuộc Tùy – Đường.
              Văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp cũng là một tài liệu quan trọng bổ sung cho nghiên cứu lịch sử giao thông thời Bắc thuộc. Chiếu thư Tùy Văn Đế phát ra vào ngày 13 tháng 6, ước hẹn các địa phương cùng hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10. Như vậy, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ giả hộ tống xá lợi di chuyển từ kinh đô Đại Hưng (Trường An) đến các địa phương, xa nhất là Giao châu. Nói cách khác, quãng thời gian 124 ngày (từ 13 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10) là quãng thời gian tối đa để di chuyển từ Trường An đến Giao châu. Trước đây, qua nghiên cứu về trường hợp của khởi nghĩa Dương Thanh, chúng tôi đã tính toán di chuyển từ Trường An đến An Nam Đô hộ phủ mất khoảng 59-70 ngày nếu di chuyển bằng đường biển và dịch trạm, khoảng 124 ngày nếu di chuyển với tốc độ thông thường (Phạm Lê Huy, 2012).
              Trên phương diện địa lý học lịch sử, văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp là một tư liệu có giá trị tham khảo cao trong việc xác định vị trí chính xác của các tòa thành Luy Lâu và Long Biên thời Bắc thuộc. Văn bia được tìm thấy ở thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, chỉ cách di tích thành cổ Lũng Khê – “Luy Lâu” khoảng 2km về phía Tây. Đây là một cứ liệu quan trọng góp phần nghiên cứu xác định vị trí huyện Long Biên thời Nam triều và Tùy cũng như quan hệ giữa thành Long Biên và thành Luy Lâu mà giới khoa học Việt Nam đã thảo luận lâu nay[42].
              Đây là bia có nắp đầu tiên tìm thấy ở VN, thuộc loại hình bia tháp xá lợi, được chôn dưới chân tháp. Từ trước đến nay, giới khoa học Việt Nam đã tìm thấy nhiều bia có nắp trong các đình, chùa, đền từ thời Lê về sau, thường gắn vào tường. Trong bối cảnh đó, bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp cung cấp thêm tư liệu để nghiên cứu về quá trình ra đời và phát triển của loại hình bia có nắp ở Việt Nam.
              Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia này cũng là nguồn tư liệu quí giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung. Cụ thể, nó giúp xác nhận lại địa điểm xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu (chùa Thiền Chúng), cách thức triển khai (triều đình trung ương gửi mẫu văn bản, chính quyền địa phương tự khắc bia), cũng như cung cấp một số thông tin mới về sứ giả hộ tống (trong trường hợp Giao châu là Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy).
Tài liệu tham khảo
Kosugi Kazuo, Về việc an trí xá lợi Phật tại các tháp Phật thời Lục triều, Hiệp hội Học thuật Đông phương, 1934
Đào Duy Anh, Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý, Tạp chí NCLS, 50(5), 1963
Trần Quốc Vượng – Vũ Tuân Sán, Bàn thêm về thành Thăng Long thời Lý – Trần, Tạp chí NCLS, 4, 1966.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Lá Bối, 1974 (NXB Văn học in lại năm 2000)
Trần Anh Dũng – Nguyễn Mạnh Cường, Tháp Nhạn ở Nghệ Tĩnh qua hai lần khai quật, Tạp chí Khảo cổ học, 3, 1987
Hà Văn Tấn, Chùa Việt Nam, NXB KHXH, 1993 (NXB Thế giới in lại năm 2010)
Lưu Á Vận, Phát hiện khảo cổ tháp xá lợi chùa Tiên Du, Trung Quốc văn vật báo, số ngày 22 tháng 11 năm 1998.
劉呆運「仙游寺舍利塔的考古発見」(『中国文物報』1998年11月22日)
Lý Á Tân, Bí ẩn tháp Pháp Vương, Tạp chí Kiều, 1, 1999
李亜新「法王塔之謎(下)」(『橋』1999年第一期)
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh (in lại bản của Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn 1976), 19999
Kegasawa Yasunori, Việc cắt giảm học hiệu và Cúng dường xá lợi năm Nhân Thọ nguyên niên (601) thời Tùy, Tạp chí Sử họcTra Surudai, 111 (2), 2001
氣賀澤保規「隋仁寿元年(601)の学校削減と舎利供養」(『駿台史学 』111(2)、2001年
Lê Thị Liên, Buddhism in Vietnam during the 1st millennium A.D. from archaeological evidence,  Transactions of the International Conference of Eastern Studies, No.48 (2003)
Nakamura Nobuo, Khảo sát về minh văn Nhân Thọ xá lợi tháp – Xung quanh minh văn Đại Tùy hoàng đế Tử châu xá lợi tháp, Tập san Nghiên cứu Mỹ thuật, 25, 2004
中村伸夫「仁寿舎利塔銘に関する一考察–羅振玉旧蔵<大随皇帝梓州舎利塔銘>をめぐって」(『芸術研究報』37、2004年
Dương Hoằng, Địa cung tháp xá lợi và đồ đựng xá lợi Trung Quốc thời Bắc Triều – Tùy – Đường, Tạp chí Lịch sử và Văn hóa (Đại học Tohoku Gakuin), 40, 2006
楊泓「中国北朝・隋・唐時代の舎利塔地宮と舎利容器」『(東北学院大学論集)歴史と文化』第40号、2006年
Phạm Lê Huy, Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, 401(9)-402(10), 2009
Nishimura Masanari, Khảo cổ – Cổ đại học Việt Nam, NXB Doseisha, 2011
西村昌也『ベトナムの考古・古代学』(同成社、2011年)
Phạm Lê Huy, Diện mạo và vị trí địa lý An Nam Đô hộ phủ thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, 429(1) – 430(2), 2012
Phạm Lê Huy, Nghiên cứu giao thông thời Đường qua trường hợp An Nam Đô hòmhủ, Kỷ yếu Hội thảo Giao hưởng Cổ đại II, Đại học Meiji, 2012
Hida Romi, Oshima Sachio, Ono Eiji, Tùy Nhân Thọ xá lợi tháp nghiên cứu dự thuyết (Chú thích và nghiên cứu tác phẩm Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục với tư cách là một nguồn sử liệu mỹ thuật – 5): Xá lợi Cảm ứng lục, Nhân Thọ xá lợi tháp thiên (phần đầu)), Nghiên cứu Mỹ thuật Nara, 12, 2012
肥田路美、大島幸代、小野英二「美術史料として読む『集神州三宝感通録』 : 釈読と研究(5)舎利感通篇、仁寿舎利塔篇(前半)(美術史料として読む『集神州三宝感通録』 : 釈読と研究(5)舎利感通篇、仁寿舎利塔篇(前半))(『奈良美術研究』12、2012年
Nguyễn Quang Hà, Về tấm bia thời Tùy (601) mới phát hiện, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Lê Viết Nga, Về hai cổ vật niên đại thời Tùy tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Nguyễn Đạt Thức, Về niên đại của Bia tháp Xá Lị, chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao Châu, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Phạm Lê Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí NCLS (sắp đăng)
Phụ chú: Xung quanh việc tìm kiếm các tư liệu về Nhân Thọ xá lợi tháp và các kết quả điều tra khảo cổ học tại Trung Quốc, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn của TS. Kawakami Mayuko (cán bộ nghiên cứu Đại học Kyoto), ThS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện Hán Nôm). Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được sự hỗ trợ rất lớn của các cán bộ Viện Khảo cổ học, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Bảo tàng Nghệ An trong quá trình điều tra các hiện vật liên quan. Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp nêu trên.

 


[1] 「皇帝昔在潛龍、有婆羅門沙門來詣宅、出舍利一裏曰、檀越好心、故留與供養、沙門既去、求之不知所在、其後皇帝與沙門曇遷、各置舍利於掌而數之、或少或多、並不能定、曇遷曰、曾聞婆羅門說法身過於數量非世間所測、於是始作七寶箱、以置之」(『廣弘明集』卷第十七)。
[2]「雍州於仙遊寺起塔、天時陰雪、舍利將下日便朗照、始入函、雲復合」(『集神州三寶感通錄』卷上)。
[3] Nguyên văn: “tứ bộ chúng” 四部衆, chỉ các đệ tử của nhà Phật là tỳ khâu, tỳ khâu ni, cư sĩ nam (ưu bà tắc), cư sĩ nữ (ưu bà di).
[4]「皇帝於是親以七寶箱、奉三十舍利、自内而出置於御座之案、與諸沙門燒香禮拜、願弟子常以正法護持三寶、救度一切眾生、乃取金瓶琉璃各三十、以琉璃盛金瓶、置舍利於其内、薰陸香為泥、塗其蓋而印之、三十州同刻十月十五日正午入於銅函石函、一時起塔、諸沙門各以精勤、奉舍利而行、初入州境先令家家灑掃覆諸穢惡。道俗士女傾城遠迎、總管刺史諸官人、夾路步引、四部大眾容儀齊肅、共以寶蓋旛幢華臺像輦佛帳佛輿香山香缽種種音樂、盡來供養、各執香華或燒或散。圍繞讚唄梵音和雅、(中略)沙門對四部大眾作是唱言、至尊以菩薩大慈無邊無際哀愍眾生切於骨髓、是故分布舍利共天下同作善因、又引經文種種方便。訶責之教導之、(中略)大眾一心合掌右膝著地、沙門乃宣讀懺悔文曰、(中略)舍利將入函、大眾圍遶填噎、沙門高奉寶瓶巡示四部」(『廣弘明集』卷第十七)。
[5] Bắc đồ: Bắc Kinh đồ thư quán lịch đại thạch khắc thác bản vựng biên 北京図書館歴代石刻拓本彙编。
[6] Chữ “Duy” được sử dụng khá phổ biến như lời mở đầu trong Hán văn. Cách viết “duy” + niên hiệu có thể thấy trên rất nhiều minh văn thời Tùy – Đường, ở Việt Nam tiêu biểu là chuông Thanh Mai đúc năm 798. Một số bài viết dịch chữ “duy” là “trước (năm Nhân Thọ nguyên niên…)” là không chính xác.
[7] Chữ Tân được viết dưới dạng dị thể .
[8] Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu: một số bài viết nhầm Tân Hợi là can chi của tháng 10. Thật ra đây là một cách viết rất phổ biến vào thời Tùy Đường, trước khi nêu can chi của một ngày cụ thể, viết can chi của ngày sóc (tức ngày mùng 1). Trong trường hợp này, ngày sóc (ngày mùng 1) của tháng 10 năm Nhân Thọ nguyên niên có can chi là ngày Tân Hợi, ngày 15 (thập ngũ nhật) là ngày Ất Sửu. Điều này có thể kiểm chứng dễ dàng qua bảng tính can chi.
[9] Hoàng đế tức Dương Kiên, Hoàng hậu tức Độc cô thị.
[10] Chữ “nguyện” được viết dưới dạng dị thể hoặc .
[11] Thái Tổ Võ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu chỉ bố mẹ của Tùy Văn Đế là Dương Trung và Lữ thị. Theo Tùy thư (Q.1, Cao Tổ kỷ thượng), tháng 2 năm 581 (Khai Hoàng 1), Tùy Văn Đế truy tôn cha (hoàng khảo) là Võ Nguyên Hoàng đế, đặt miếu hiệu là Thái Tổ, mẹ là Nguyên Minh Hoàng hậu. 「(開皇元年二月)乙丑、追尊皇考為武元皇帝、廟號太祖、皇妣為元明皇后」(『隋書』卷一、高祖上、開皇元年二月乙丑条)。
[12] Hoàng thái tử vào thời điểm này là Dương Quảng (sau là Tùy Dạng Đế). Trước đó, vào tháng 10 năm 600 (Khai Hoàng 20), Tùy Văn Đế phế Hoàng thái tử Dương Dũng và các con làm thứ dân, sang tháng 11 lấy Tấn vương Dương Quảng làm Hoàng Thái tử. 「乙丑,皇太子勇及諸子並廢為庶人」、「晉王廣為皇太子」(『隋書』 卷二、 高祖下、 開皇二十年十月乙丑条、十一月戊子)。
[13] Viên cập (爰及): chữ này cũng xuất hiện trong sắc chỉ của Tùy Văn Đế.
[14] Chữ “thứ” được viết dưới dạng dị thể .
[15] Lục đạo là “Thiên đạo”, “Nhân đạo”, “A tu la đạo”, “Súc sinh đạo”, “Ngạ quỉ (quỉ đói) đạo”, “Địa ngục đạo”. Ba đạo đầu là “tam thiện đạo”, ba đạo sau là “tam ác đạo”, cũng gọi là “tam đồ” (súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục).
[16] Một số báo cáo trình bày trong Hội nghị Thông báo Khảo cổ học đọc nhầm là “Vi” 微. Tuy nhiên, qua quan sát trên văn bia và thác bản, có thể nhận thấy đây là chữ Huy 徽.
[17] Chữ “khởi” được viết dưới dạng dị thể .
[18]「交阯郡 龍編 武寧 望海 句漏(後略)」(『南齊書』卷十四、志六、州郡上、交州)。「封慧度龍編縣侯食邑千户」(『宋書』卷九十二、列傳五十二、杜慧度)。Ngoài ra, địa danh Long Biên cũng xuất hiện nhiều lần trong sách Tấn thư và Tùy thư (đặc biệt là sự kiện Lý Phật Tử sai Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên để chống quân Tùy). Tuy nhiên, do cả hai bộ chính sử này đều được tổ chức biên soạn dưới thời Đường nên ở đây chúng tôi không sử dụng chúng làm căn cứ để chứng minh cho sự tồn tại của địa danh “Long Biên” trước thời Đường.
[19] Tại Quảng Tây (Trung Quốc) trước đây đã phát hiện được một viên gạch có chữ “Vĩnh Hòa lục niên thái tuế Canh Tuất Mạc Long Biên hầu chi mộ” 永和六年太歲庚戌莫龍编侯之墓. Quan điểm phố biến hiện nay coi chức “Long Biên hầu” này chỉ địa danh “Long Biên” của Giao Chỉ thời Đông Tấn. Xin tham khảo thêm Hán Ngụy Nam Bắc triều mộ chí vựng biên, NXB Thiên Tân, 1993, tr.19.
[20] Với hai chữ “sắc sứ” 敕使 trong minh văn Giao châu, có thể có hai cách đọc. Thứ nhất là đọc “sắc sứ” như một danh từ (chỉ sứ giả cầm theo sắc chỉ của nhà vua, giống minh văn Thanh châu) hoặc đọc tách “sắc, sử”, chữ “sứ/sử” ở đây đóng vai trò như một động từ nghĩa là “sai”, ghép với đoạn phía sau “tống xá lợi ư thử khởi tháp”, nghĩa là “sắc sai Tuệ Nhã, Khương Huy đưa xá lợi đến đây dựng tháp”. Chúng tôi nghiêng về cách đọc thứ hai.
[21] 「其散官文騎尉為承議郎、屯騎尉為通直郎、雲騎尉為登仕郎、羽騎尉為將仕郎」(『舊唐書』卷四十二、職官一)。
[22] Xung quanh vấn đề này, một số nhà nghiên cứu cũng đặt vấn đề nghiên cứu từ góc độ chữ húy. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, trên văn bia không tồn tại chữ húy. Hơn nữa, nếu văn bia được chế tác theo các mẫu văn bia trước đó thì việc rập khuôn chữ húy có thể xảy ra, do đó chữ húy không phải là yếu tố quyết định để khẳng định niên đại của văn bia.
[23] Lê Mạnh Thát (1999), chú thích 4 truyện Thiền sư Pháp Hiền, tr.502.
[24] Theo Tùy thư, cuộc khởi nghĩa của Lý Phật Tử nổ ra vào tháng 12 năm 602 (Nhân Thọ 2). 「交州人李佛子舉兵反,遣行軍總管劉方討平之」(『隋書』卷二、高祖下、仁壽二年十二月癸巳条)。
[25] Về vấn đề này, xin tham khảo thêm Đào Duy Anh (1963).
[26] 「熙以州縣多有同名者、於是奏改安州為欽州、黃州為峯州、利州為智州、德州為驩州、東寧為融州、上皆從之」(『隋書』卷五十六、令狐熙傳)。
[27] 「仁壽元年遷授使持節總管吉江虔饒袁撫七州諸軍事洪州刺史(中略)時桂部侵擾[交]川擁據、詔授公交州道行軍總管、方弘九伐、遽縶千里、遘疾薨于州治」(蘇孝慈墓誌)。Thác bản có thể tham khảo trong sách Bắc đồ (q.9. tr.159).
[28] 「六月癸丑、洪州總管蘇孝慈卒」(『隋書』卷二、高祖下、仁壽元年六月癸丑条)。
[29] Lịch đại tam bảo ký 歷代三寶紀: sách do Phiên kinh học sĩ thời Tùy là Phí Trường Phòng 費長房 dâng lên năm Khai Hoàng 17 đời Tùy.
[30]「龍編古州郷法雲寺比尼多流支(中略)陳朝大建六年壬午初至長安會周武帝破滅佛法、欲往于鄴、(中略)師辭去卓錫廣州制止寺、大抵六年、譯得象頭報業差別等経、迨周大祥象二年庚子三月、來于我土此寺居焉復譯出摠持経一卷」(『禅苑集英』比尼多流支)。
[31] Nguyễn Lang (2000), Chương V: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tr. 112.
[32] Thiền uyển tập anh bản 1715 chép ngôi chùa của Pháp Hiền là chùa “Chúng Thiền”, nhưng chúng tôi cũng tán thành quan điểm của Nguyễn Quang Hà (2012) cho rằng đây chỉ là chép nhầm từ chùa “Thiền Chúng”.
[33]「時人嚮風來、學者不可勝數、剏寺授徒居僧常三百餘人、南方禅宗於此為盛」(『禅苑集英』法賢)。
[34] 「法賢闍維収五色舎利起塔時開皇十四年甲寅也」(『『禅苑集英』比尼多流支)。
[35] 「古州法雲寺僧上言寺中放光數道隨光掘之得石函一函内有銀函銀函内有金函金函内有瑠璃瓶瓶中有舍利」(『越史略』卷中、天成七年四月甲戌条)。
[36] Các thông tin liên quan đến Nhạn Tháp được chúng tôi khai thác từ tư liệu khảo cổ lưu trữ tại Thư viện Viện Khảo cổ. Xung quanh các hiện vật khai quật được tại Nhạn Tháp, xin tham khảo thêm Trần Anh Dũng (1987), Lê Thị Liên (2003). Hòm xá lợi của Nhạn Tháp hiện nay đang được lưu giữ trong kho của Bảo tàng Nghệ An với số liệu BTNA 2734/KL785. Chúng tôi đã khảo sát và chụp ảnh hòm xá lợi và các hiện vật của Nhạn Tháp trong chuyến điều tra ngày 4 tháng 9 năm 2012. Do bản quyền tư liệu thuộc về Bảo tàng Nghệ An, chúng tôi không đăng hình ảnh trong bài viết này.
[37]「舎利有其三種、一是骨舎利、其色白也、二是髪舎利、其色黒也、三是肉舎利、其色赤也」(『法苑珠林』卷四十)。
[38] Về An Nam dưới thời Trương Chu, xin tham khảo Phạm Lê Huy (2009, 2012).
[39] 「東究山、一名東皐山、在嘉定縣、唐刺史高聯建塔于其上」(『安南志』卷一、山川)。
[40] 「髙駢既定交州、遂於富良江上橋市之左、立石塔巋然猶存」(『陳剛中詩集』卷二)。
[41] Tấm bia có niên đại thời Lương này đã được học giả Vũ Tuân Sán (1966) đề cập trong bài viết nghiên cứu về hoàng thành Thăng Long, nhưng do bia đã thất lạc nên thông tin chưa được kiểm chứng.

[42] Về cuộc thảo luận xung quanh di chỉ Lũng Khê và các thành cổ Luy Lâu – Long Biên, xin tham khảo Nishimura (2011).

Ghi chú: Bài viết được đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 2013 (『考古学』雑誌〈越南〉、第1号、2013年). Do một số vấn đề về kỹ thuật, bài viết đăng trên Tạp chí là phiên bản cũ của bài viết, có chứa một số lỗi nhập liệu và thiếu phần mộ chí của Tô Hiếu Từ. Vì vậy, tác giả đăng tải bài viết chính xác ở đây để đính chính và bổ sung những phần còn thiếu sót.

Góp phần nhận thức minh văn thời Lưu Tống phát hiện tại nghè thôn Thanh Hoài (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Tư liệu từ nguồn của Pham Lê Huy:
Tham luận Hội nghị Thông báo Hán Nôm 2014
 
Phạm Lê Huy
Khoa Đông phương học, Trường ĐHKHXH&NV
Mở đầu
          Tháng 10 năm 2013, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các cán bộ của Bảo tàng Bắc Ninh đã phát hiện một tấm bia cổ tại Nghè thôn Thanh Hoài (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tấm bia bao gồm 2 bài minh khác nhau. Bài minh ở mặt trước, theo khảo sát của ThS. Bằng có niên đại năm Kiến Hưng thứ 2, nhiều khả năng là năm 314. Tuy nhiên, nhiều chữ trong bài minh mặt trước này đã bị mờ nên không có nhiều thông tin. Bài minh ở mặt sau có ghi niên đại năm Nguyên Gia thứ 27 (450) thời Lưu Tống (Tống Nam Triều).
          Liên quan đến tấm bia này, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và một số học giả khác đã có những khảo cứu hết sức quan trọng về niên đại và nội dung[1]. Trong bài viết này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đó, chúng tôi xin được bổ sung một số ý kiến góp phần nhận thức sâu hơn về minh văn ở mặt sau tấm bia.
1. Nhận thức về cách ghi niên đại trong minh văn
          Trong phần minh văn ở mặt sau bia, chúng ta có thể đọc được hai niên đại. Niên đại thứ nhất là “Nguyên Gia chấp thất niên thập nguyệt thập nhất nhật” 元嘉廿七年十月十一日. Niên đại thứ hai là “Tống Nguyên Gia chấp thất niên, thái tuế Canh Dần thập nhị nguyệt Bính Thìn sóc chấp ngũ nhật Canh Thìn” 宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰.
a. Về niên đại ngày 25 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27
          Xung quanh niên đại thứ hai, một số học giả đề xuất cách dịch như sau:
Nguyên Gia năm thứ 27, sao Thái Tuế đóng tại Canh Dần, trước ngày 25 (ngày Canh Thìn) tháng 12 (tháng Bính Thìn)
          Trong cách dịch này, chữ “sóc” được dịch là “trước”, can chi “Bính Thìn” được ghép với tháng 12.
          Tuy nhiên, chữ “sóc” trong trường hợp này phải hiểu là ngày mùng một. Can chi “Bính Thìn” cần được ghép với chữ “sóc”. “Bính Thìn sóc” tức là “ngày mùng một của tháng 12 là ngày Bính Thìn”.
          Đây là cách ghi ngày tháng khá phổ biến trong các tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là tư liệu chính sử. Cách ghi này thường có cấu trúc “X niên, Y nguyệt, [Can chi A] sóc, [Can chi B] nhật”. Việc ghi thêm can chi của ngày sóc (Can chi A) nhằm giúp người đọc có thể tính toán ngày Can chi B là ngày thứ bao nhiêu trong tháng.
          Có thể kiểm chứng cách đọc trên qua Bảng tính can chi (Bảng 1) và lịch thời bấy giờ. Theo Bảng 1, chúng ta thấy ngày Bính Thìn ở ô số 53. Nếu lấy đó là ngày mùng 1 thì 24 ngày sau, tức ngày 25 đúng là ngày Canh Thìn (ô số 17) – hoàn toàn trùng hợp với ghi chép trong văn bia. Ngoài ra, theo cơ sở dữ liệu lịch của Học viện Phật giáo Pháp Cổ (Đài Loan)[2], trong lịch Nguyên Gia thời Lưu Tống, ngày mùng 1 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27 đúng là ngày Bính Thìn.
          Như vậy, đoạn ghi chép ngày tháng này cần được dịch chính xác thành:
Năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, …
Bảng 1: Bảng tính Can Chi
1 (Giáp Tý)
甲子
2 (Ất Sửu)
乙丑
3 (Bính Dần)
丙寅
4 (Đinh Mão)
丁卯
5 (Mậu Thìn)
戊辰
6 (Kỷ Tị)
己巳
7 (Canh Ngọ)
庚午
8 (Tân Mùi)
辛未
9 (Nhâm Thân)
壬申
10 (Quí Dậu)
癸酉
11 (Giáp Tuất)
甲戌
12 (Ất Hợi)
乙亥
13 (Bính Tý)
丙子
14 (Đinh Sửu)
丁丑
15 (Mậu Dần)
戊寅
16 (Kỷ Mão)
己卯
17 (Canh Thìn)
庚辰
18 (Tân Tị)
辛巳
19 (Nhâm Ngọ)
壬午
20 (Quí Mùi)
癸未
21 (Giáp Thân)
甲申
22 (Ất Dậu)
乙酉
23 (Bính Tuất)
丙戌
24 (Đinh Hợi)
丁亥
25 (Mậu Tý)
戊子
26 (Kỷ Sửu)
己丑
27 (Canh Dần)
庚寅
28 (Tân Mão)
辛卯
29 (Nhâm Thìn)
壬辰
30 (Quí Tị)
癸巳
31 (Giáp Ngọ)
甲午
32 (Ất Mùi)
乙未
33 (Bính Thân)
丙申
34 (Đinh Dậu)
丁酉
35 (Mậu Tuất)
戊戌
36 (Kỷ Hợi)
己亥
37 (Canh Tý)
庚子
38 (Tân Sửu)
辛丑
39 (Nhâm Dần)
壬寅
40 (Quí Mão)
癸卯
41 (Giáp Thìn)
甲辰
42 (Ất Tị)
乙巳
43 (Bính Ngọ)
丙午
44 (Đinh Mùi)
丁未
45 (Mậu Thân)
戊申
46 (Kỷ Dậu)
己酉
47 (Canh Tuất)
庚戌
48 (Tân Hợi)
辛亥
49 (Nhâm Tý)
壬子
50 (Quí Sửu)
癸丑
51 (Giáp Dần)
甲寅
52 (Ất Mão)
乙卯
53 (Bính Thìn)
丙辰
54 (Đinh Tị)
丁巳
55 (Mậu Ngọ)
戊午
56 (Kỷ Mùi)
己未
57 (Canh Thân)
庚申
58 (Tân Dậu)
辛酉
59 (Nhâm Tuất)
壬戌
60 (Kỷ Hợi)
癸亥
 b. Về niên đại ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia 27
          Liên quan đến dòng niên đại thứ nhất, một số học giả đưa ra cách dịch như sau:
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
Vào ngày 11 tháng 10 niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 27), sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia (?)
          Tuy nhiên, đoạn “tỉnh sự vương pháp linh tuyên” dịch là “sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia” dường như có phần hơi khiên cưỡng. Bản thân các tác giả cũng đặt dấu chấm hỏi cho đoạn này.
          Quan sát văn bia, chúng ta thấy rằng: đoạn văn trên không được viết nối với dòng trước mà được viết thành một dòng riêng, căn vào lề dưới của bia. Điều này đặt ra nghi vấn, phải chăng đây là một dòng niên đại chú thích cho đoạn văn phía trước?
          Đoạn văn phía trước là phần đầu của minh văn, mở đầu bằng chữ “giáo”. Chữ “giáo” này chắc chắn là chữ mở đầu của bài minh, phân lập với nội dung “cố Tướng quân Giao Châu mục liệt hầu Đào Hoàng” sau đó.
          Chúng tôi muốn lưu ý rằng từ thời Hán đến thời Tấn, “giáo” là một hình thức mệnh lệnh, tương tự như “sắc” 敕 hay “phù” 符, của tầng lớp vương hầu. Sách Văn tâm điêu long được biên soạn vào cuối thế kỷ V cho biết “giáo tức là hiệu. Nói ra mà dân theo. Ban bố ngũ giáo. Vì vậy, vương hầu xưng giáo”[3]. Sách Tư trị thông giám (Q.53) phần Hán kỷ cũng chú thích “mệnh lệnh của quận thú đưa ra gọi là giáo”[4]. Trong các sách Tấn thư hay Bắc sử cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Thứ sử các châu ban bố mệnh lệnh, gọi là “hạ giáo (viết)” 下教曰.
          Như vậy, có thể suy đoán phần đầu bài minh có kết cấu như bên dưới, trong đó chữ “giáo” mở đầu cho mệnh lệnh, chữ “tuyên” là tuyên đọc văn bản mệnh lệnh đó:
教 ………………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
                                                                     元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
            “Tỉnh sự” (trong trường hợp này cần đọc là “Sảnh sự”) vốn là tên một chức quan thuộc cấp của Thứ sử. Tấn thư cho biết vào thời Tấn, dưới Thứ sử có đặt các chức “Công tào”, Sảnh sự”[5]. Nếu hiểu “Sảnh sự” là một chức quan, cần xem “Vương Pháp Linh” là một tên riêng.
          Trên cơ sở những suy luận nói trên, chúng tôi đề xuất cách dịch đoạn văn bản này như sau:
Lệnh (giáo) rằng ….
(trích dẫn nội dung mệnh lệnh – giáo)
Ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 27, Sảnh sự là Vương Pháp Linh tuyên đọc.
          Vấn đề tiếp theo là Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh của ai? Nói cách khác, ai là người ban “giáo” (mệnh lệnh)? Điều này sẽ được giải đáp khi chúng ta tìm hiểu nửa sau của bài minh.
2. Lan Lăng Tiêu sứ quân – Tiêu Cảnh Hiến và Tây tào thư tá Đào Chân Chi
a. Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân là ai?
          Các nghiên cứu trước đây chưa chú thích “Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân” là ai. Chúng tôi cho rằng nhân vật này chính là Tiêu Cảnh Hiến 蕭景憲 – người giữ chức Thứ sử Giao Châu vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27.
          Trong các sách Đại Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư hay An Nam chí lược không thấy nhắc đến Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Tuy nhiên, Tống thư (truyện Lâm Ấp quốc, truyện Tông Xác) cho biết năm Nguyên Gia thứ 22 (443), khi Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Tiêu Cảnh Hiến khi đó là “Phủ Tư mã” được Đàn Hòa Chi phong làm phó tướng của Tông Xác. Tiêu Cảnh Hiến lãnh ấn tiên phong, tiến đánh thành Khu Túc. Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại 范陽邁 sai đại soái Phạm Phù Long 范扶龍 giữ thành Khu Túc, ngoài ra còn cử quân tiếp viện theo hai đường thủy bộ đến tiếp ứng. Tiêu Cảnh Hiến đã phá “ngoại cứu” – tức quân cứu viện, tập trung quân tinh nhuệ đánh thành. Đến tháng 5, Tiêu Cảnh Hiến phá được thành, chém được Phạm Phù Long. Nhờ đó, quân Tống phá được Lâm Ấp, khiến vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại phải bỏ trốn, cướp được rất nhiều vàng bạc, châu báu[6].
          Nhờ chiến công này, Tiêu Cảnh Hiến đã được vua Tống ban chiếu phong làm “Trí tiết, đốc Giao Châu, Quảng Châu chi Uất Lâm – Ninh Phố nhị quận chư quân sự, Kiến Uy Tướng quân, Giao Châu Thứ sử”[7]. Theo Tống thư phần Bản kỷ, Tiêu Cảnh Hiến được phong làm Giao Châu Thứ sử vào tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 23 (434)[8]. Việc phong chức này cũng nhằm rút Đàn Hòa Chi về nước để dẹp loạn ở Dự Chương. Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử đến tháng 5 năm Hiếu Kiến 2 (455) thì được thay bằng Hoàn Hành[9]. Tuy nhiên, đến tháng 12 cùng năm, Tiêu Cảnh Hiến được phong lại làm Giao Châu Thứ sử và tiếp tục giữ chức này đến tháng 8 năm Hiếu Kiến 3 (456)[10].
          Như vậy, thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27 nằm trong khoảng thời gian Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử lần thứ nhất (434-455). Tước “Kiến Uy Tướng quân” trên văn bia cũng trùng khớp với tước “Kiến Uy Tướng quân” của Tiêu Cảnh Hiến chép trong Tống thư.
          Chữ “Lan Lăng Tiêu” trong văn bia cũng phù hợp với Tiêu Cảnh Hiến. Lan Lăng Tiêu là tên gọi dòng họ Tiêu ở Lan Lăng (Giang Tô). Dòng họ Tiêu di cư đến đất Lan Lăng vào loạn Vĩnh Gia (đầu thế kỷ IV), sau đó phát triển thành một sĩ tộc có thế lực suốt từ thời Nam Bắc triều đến thời Đường. Vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 22, Tiêu Tư Thoại 蕭思話 – một danh tướng thuộc dòng họ Lan Lăng Tiêu đang rất được trọng dụng trong triều. Năm Nguyên Gia 30, Tiêu Tư Thoại thậm chí đã leo lên chức Thượng thư Tả bộ xạ trong triều. Do đó, việc Tiêu Cảnh Hiến được cất nhắc làm Giao Châu Thứ sử, ngoài chiến công ở Lâm Ấp, có thể một phần cũng nhờ sự nâng đỡ của Tiêu Tư Thoại. Thời điểm Tiêu Tư Thoại chết – năm Hiếu Kiến thứ 2[11], cũng chính là thời điểm Tiêu Cảnh Hiến bị rút chức Giao Châu Thứ sử để thay bằng Hoàn Hoành.
          Trên cơ sở xác định được nhân vật “Lan Lăng Tiêu sứ quân” là Tiêu Cảnh Hiến, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về bài minh. Đoạn này có cấu trúc như sau:
惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
教如上
          Về mạch văn, mặc dù “minh giáo như thượng” là một câu, nhưng đến chữ “minh” lại được ngắt dòng, chữ “giáo” được chuyển sang đầu dòng sau. Tiêu Cảnh Hiến vào thời điểm này là Giao Châu Thứ sử, có đủ tư cách để đưa ra mệnh lệnh – “giáo”. Việc ngắt dòng trước chữ “giáo” là để thể hiện ý kính trọng đối với Tiêu Cảnh Hiến. “Minh giáo như thượng” do đó phải dịch là “mệnh lệnh như trên”, “như trên” ở đây chính là chỉ mệnh lệnh – giáo mà Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc ở phần đầu của minh văn.
b. Về nhân vật Đào Chân Chi:
          Trong các khảo sát trước đây, một số học giả đọc tên Tây tào thư tá là “Đào Chân”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nhiều khả năng tên của viên quan này là “Đào Chân Chi”.
          Hiện nay, chưa xác định được một tư liệu nào khác liên quan đến nhân vật “Đào Chân” hay “Đào Chân Chi”. Tuy nhiên, nội dung minh văn cũng cung cấp cho chúng ta một số thông tin hữu ích.
          Thứ nhất, chức vụ của Đào Chân Chi là “Tây tào thư tá”. Vào thời Lưu Tống, “Tây tào thư tá” là một chức quan cấp dưới của Thứ sử, vốn bắt nguồn từ chức quan “Công tào thư tá” vốn có từ thời Hán. Như vậy, có thể suy đoán Đào Chân Chi là Tây tào thư tá – thuộc cấp của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến.
          Một điểm cần đáng lưu ý nữa là Đào Chân Chi cũng có họ Đào như Đào Hoàng. Mối liên hệ giữa Đào Chân Chi và Đào Hoàng cũng được đề cập trong minh văn. Trong bài minh có câu “Chân Chi bản chi mạt diệp”. Trong Thi thư (Đại nhã, Văn Vương) hay Tả thị (Trang) có cụm từ “bản chi bách thế”, trong đó “bản chi” (本枝 hoặc 本支) chỉ một dòng họ (bao gồm cả chi chính và chi phụ)[12]. Như vậy, câu “Chân Chi bản chi mạt diệp” có thể hiểu là “(Đào) Chân Chi là con cháu đời cuối (mạt diệp) của dòng họ (Đào)”. Đây là lý do Đào Chân Chi tham gia vào việc tu sửa miếu Đào Hoàng.
3. Minh văn và Ý nghĩa:
          Dựa trên kết quả nghiên cứu của ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các học giả đi trước, kết hợp với việc quan sát văn bia và thác bản, chúng tôi xin được bổ sung, đính chính một số chữ (in đậm) và tái lập nội dung minh văn như sau:
Nguyên văn chữ Hán
1        教故将軍交州牧烈侯陶璜□□□粹稟德淵□□□□□□
2        愛在民每覽其銘記意實嘉焉□□廟堂彫毀示有基陛既□
3        祀所建寧可頓□宜加修繕務存褒□使准先舊式時就營緝
4                        元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
5        惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
6        將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
7        教如上西曹書佐陶珎之監履修復庶神□有憑珎之本枝末
8     葉□戶□搆誠感聿修斯記垂遠矣
          Trên cơ sở kết quả khảo sát ở phần trên, chúng tôi xin được đưa ra bản dịch như sau:
(Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến) dạy (giáo) rằng: Cố Tướng quân Giao Châu mục, liệt hầu Đào Hoàng… thuần nhất, nguồn đức… , (để) ơn trong dân. Mỗi lần xem bia, ý thực tốt đẹp… Miếu đường hủy hoại, chỉ thấy nền bậc. Đã dựng cúng tế, thà rằng… Phải cho tu sửa, việc để… Lệnh theo phép cũ, thời nên dựng lại.
            Năm Nguyên Gia thứ 27, tháng 10, ngày 11. Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc.
Ấy là năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế ở Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân (Tiêu Cảnh Hiến) biết đức đã lâu, muốn khuyên mầm đức, dạy rõ như trên. Tây tào thư tá Đào Chân Chi giám sát tu sửa. Các thần chứng giám. Chân Chi là đời cuối trong họ,…, lòng thành tu sửa, bài ký để lại.
          Có thể tóm lược ý nghĩa của văn bia như sau:
          Ngày 10 tháng 11 năm Nguyên Gia thứ 27 (450), quan Sảnh sự của Giao Châu là Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh (giáo) của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Theo đó, Tiêu Cảnh Hiến ca ngợi công lao của cố Tướng quân Giao Châu Thứ sử Đào Hoàng. Mỗi lần đọc bài minh ký (ở mặt trước bia), Tiêu Cảnh Hiến đều lấy làm cảm kích. Tuy nhiên, miếu đường của Đào Hoàng đã bị hư hại, chỉ còn nền bậc. Tiêu Cảnh Hiến lệnh cho dựng lại theo phép cũ, để tuyên dương công trạng của Đào Hoàng.
          Đến ngày 25 (Canh Thìn) tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27, Tây tào thư tá Đào Chân Chi – thuộc cấp của Tiêu Cảnh Hiến trên cơ sở mệnh lệnh của họ Tiêu giám sát việc tu sửa. Trước sự chứng giám của các thần, Tào Chân Chi vốn là người trong họ Đào Hoàng, cho làm bài ký để lưu lại cho đời sau.

[1] Nguyễn Phạm Bằng, Văn bia cổ nhất Việt Nam mới phát hiện và vấn đề niên đại của nó, Thông báo Hán Nôm học 2013. Đồng tác giả,Phát hiện văn bia cổ nhất Việt Nam, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, số 7/2014.
[2] http://authority.ddbc.edu.tw/
[3] 「教者效也、言出而民效也、契敷五教、故王侯稱教」(『文心雕龍』卷四)。
[4] 「郡守所出命曰教」(『資治通鑑』卷五十三、漢紀).
[5]「案漢武初置十三州、刺史各一人(中略)歷漢東京及魏晉、其官不替、屬官有功曹、都官從事、諸曹從事、部郡從事、主簿、錄事、門下書佐、省事 、記室書佐、諸曹書佐守從事、武猛從事等員」(『晉書』卷二十四、職官志)。
[6]「景憲等乃進軍向 區粟城、陽邁遣大帥范扶龍大戍區粟、又遣水步軍徑至、景憲破其外救、盡銳攻城,五月、剋之、斬扶龍大首、獲金銀雜物不可勝計」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[7]「上嘉將帥之功、詔曰、「(前略)龍驤司馬蕭景憲協贊軍首、勤捷顯著、總勒前驅、剋殄巢穴、必能威服荒夷、撫懷民庶、可持節、督交州廣州之鬱林寧浦二郡諸軍事、建威將軍、交州刺史」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[8] 「十二月丁酉、以龍驤司馬蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷五、元嘉二十三年十二月丁酉条)。
[9]「五月戊戌、以湘州刺史劉遵考為尚書右僕射、前軍司馬垣閎為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年五月戊戌条)。
[10]「十二月癸亥、以前交州刺史蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年十二月癸亥)。「八月戊戌、以北中郎諮議參軍費淹為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建三年、八月戊戌条)。
[11] 「戊戌,鎮西將軍蕭思話卒」(『宋書』卷六、孝建二年七月条).
[12] Tham khảo Đại Hán Hòa từ điển, Q.6, tr.29.