Từ thần tích của một ngôi đình ở ngã ba sông Bạch Hạc

Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội) là một ngôi đình cổ nằm trên khu đất ở khu vực hợp lưu của 3 con sông lớn của miền Bắc là sông Đà, sông Thao và sông Lô. Khu vực này được gọi là ngã ba Bạch Hạc (Bạch Hạc Tam Giang).
Theo thần tích thì đình Viên Châu thờ 2 vị thủy thần thời Hùng Vương. Bà mẹ của 2 vị này là một công chúa có tên Thụy Hoa, đi tu ở chùa trên đất làng Viên Châu. Một hôm công chúa ra bãi sông Viên Châu, mơ thấy rắn cuốn, về sinh đôi được 2 người con trai có dị tướng, đặt tên là Lân và Lý… Về sau 2 người con được vua phong làm “quản trưởng đội thuyền rồng, tả hữu thủy quân tuần sông“, có công cầu đảo mưa và hiển ứng báo vua đánh giặc Thục… Hai vị được sắc phong danh hiệu là:
– Thông Hà hiển ứng an dân đại vương
– Thủy Giang linh ứng đương cảnh đại vương.
Bà mẹ cũng được phong là Mục Phật công chúa và thờ ở am bên cạnh đình.

p1270862

Ngã ba Hạc nhìn từ Viên Châu.

Các di vật thờ ở đình Viên Châu đã bị mất mát khá nhiều. Đình còn lưu giữ được một số vế đối thờ như sau:
Vế đối khác:
春臺壽域竝生竝育遂吾胞
Xuân đài thọ vực tịnh sinh tịnh dục toại ngô bào.
Dịch:
Đài xuân cõi thọ, cùng sinh cùng dưỡng thỏa anh em.
Vế đối này nói tới sự việc hai anh em thủy thần cùng sinh đôi và lớn lên, lập công nghiệp tại đất Viên Châu.
青龍包白虎四民同樂奠洪基
Thanh long bao bạch hổ tứ dân đồng lạc điện hồng cơ
Dịch:
Rồng xanh ôm hổ trắng, bốn dân vui thích yên cơ nghiệp.
Khi xét kỹ thì sự tích 2 vị thần ở đình Viên Châu thì thấy đây cũng là chuyện của các vị thần Bạch Hạc Tam Giang. Viên Châu nằm đúng ngã 3 sông Bạch Hạc. Các vị Thần Bạch Hạc Tam Giang trong Lĩnh Nam chích quái là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã hiển linh vào thời Đường khi xây đạo quán ở Bạch Hạc.
Truyện thần sông Bạch Hạc kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh ở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước…
Lý Thường Minh cho đắp tượng thờ thần Thổ Lệnh tại Thông Thánh Quán (nay là đền Tam Giang tại phường Bạch Hạc, Việt Trì) và Thạch Khanh được thờ ở đền Chi Cát (nay thuộc phường Tiên Cát, Việt Trì). Cuộc thi nhảy qua sông của hai vị thần đã để lại dấu ấn đến nay, một vết chân trước đền Tam Giang và một gót chân tại Bến Gót (nay thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì). Nếu từ đền Tam Giang hay Bến Gót mà “nhảy” qua sông thì chính là vùng đất Viên Châu.
Như đã từng nhiều lần khảo cứu, Thổ Lệnh Tam Giang là Trung Thành phổ tế đại vương, được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên (Hà Nội), cũng là vị Quan lớn đệ Tam của tín ngưỡng Tứ phủ, thờ chính tại đền Lảnh (= Lệnh) ở Duy Tiên, Hà Nam. Thần tích ở Viên Châu chép là “quản trưởng đội thuyền rồng” (= Trưởng Lệnh). Còn Thạch Khanh là Quan lớn đệ Ngũ Tuần Tranh của Thoải phủ. Thần tích ở Viên Châu chép là “tả hữu thủy quân tuần sông”.
Thổ Lệnh và Thạch Khanh là 2 anh em, 2 vị tướng đã giúp vua cha Bát Hải Động Đình, hay đức Lạc Long Quân đánh giặc Thục, lập nên vương triều đầu tiên của người Việt. Vì công lao phò vua lập quốc từ thời sơ sử này nên các vị quan lớn (các vị thủy thần Bạch Hạc) mới trở nên cực kỳ linh thiêng, được người dân nhiều nơi tôn thờ như vậy.
Đền Tam Giang ở Việt Trì vẫn trong lễ hội hàng năm vẫn diễn lại tích thần Thổ Lệnh đưa tiễn Tản Viên Sơn Thánh khi ngài đến thăm Bạch Hạc. Tương tự, trong thần tích đình Viên Châu thì Thông Hà và Thủy Giang đại vương đã báo mộng cho vua Hùng, phò tá Tản Viên Sơn Thánh đánh Thục. Thực ra “Tản Viên” ở trong chuyện này là Lạc Long Quân như đã nói ở trên.
Bà mẹ của 2 vị quan lớn của Thoải phủ là Quý Nương, cũng là Mẫu Thoải, là con gái Thần Long Động Đình. Bà là vợ của vua Kinh Dương Vương, người đã sinh ra Lạc Long Quân. Như vậy Thụy Hoa công chúa ở đình Viên Châu cũng là Mẫu Thoải. Đền thờ Xích Lân Long Nữ là đền Tiên Cát nay ở thành phố Việt Trì.

p1270875Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội.

Câu đối khác còn lưu được, nay treo trước cung thờ ở đình Viên Châu là:
神異昭天一之生産瑶琪扵龜峒
英武顯乾三之躍誇屋纛扵龍宫
Thần dị chiêu Thiên nhất chi sinh, sản dao kỳ ư quy động
Anh vũ hiển Càn tam chi dược, khoa ốc đạo ư long cung.
Giải nghĩa câu đối này trong từng vế. Ở vế đối đầu, Thần dị là sự lạ, sự khác thường của thần. Thiên nhất: Thiên là quẻ Càn (Kiền). Thiên nhất là hào sơ cửu của quẻ Càn “Tiềm long vật dụng” (Rồng còn đang ẩn mình, chưa hành động). Ý chỉ lúc bắt đầu. Dao kỳ: là tạo ra 2 loại ngọc quý, ý chỉ 2 vị Thông Hà và Thủy Giang. Quy động: động rùa giải, có thể chỉ vùng đất bãi Viên Châu. Vế đầu nói đến sự ra đời kỳ lạ của 2 vị thánh vương tại đất Viên Châu.
Vế đối sau: Anh vũ: sức mạnh tài năng hơn người. Càn tam: Là hào cửu tam của quẻ Kiền “Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu”. Hào này ý nói là người quân tử làm việc liên tục, cẩn thận, tránh lỗi. Khoa ốc đạo: Khoa trương thanh thế cờ xe. Ví dụ như Hoàng ốc tả đạo là xe mui vàng cắm cờ tiết mao, chỉ bậc quân trưởng. Long cung: cung rồng, chỉ cung vua hoặc thủy cung vì đây là 2 vị thủy thần. Vế sau nói tới công nghiệp của 2 vị thần này.
Dịch câu đối ở cung thờ Viên Châu:
Thần dị chiếu khi xuất thánh vương, đúc ngọc dao kỳ nơi động giải
Tài sức tỏ lúc gây công nghiệp, dương màu xe đạo chốn cung rồng.
Trong tên của 2 vị thủy thần ở đình Viên Châu là Thông Hà và Thủy Giang thì chữ Hà ở đây phải hiểu nghĩa là Trời, không phải nghĩa là sông. Thông Hà tương tự như Thông Thiên.

p1270943

Trang cuối trong thần tích đình Viên Châu.

Phần cuối thần tích đình Viên Châu còn kể một “sự lạ” khác:
…Nói tới Thục Vương (chính là An Dương Vương) ở ngôi được 50 năm thì Triệu Đà mang quân chiếm đất nước, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau tổng cộng là 149 năm. Đến đời Vệ Vương chỉ được 1 năm, Tô Định đem quân tới bờ cõi. Bà Trưng (là con gái của nhà họ Hùng), cất quân khởi nghĩa, tự xưng nữ vương, được 5 năm thì đến thời Đông Hán. Qua các thời Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 340 năm thì tới nước Nam. Các triều đại có Đinh, Lê, Lý, Trần 4 nhà khai sáng hồng đồ…
Phiên âm trích nguyên gốc từ thần tích:
Tức thuyết Thục Vương (tức An Dương Vương thị dã) tại vị phương ngũ thập niên gian, Triệu Đà nãi đề binh thủ quốc, phụ truyền tử kế đắc ngũ đại thánh vương, tiền hậu cộng nhất bách tứ thập cửu niên. Hựu chí Vệ Vương phương đắc nhất niên, Tô Định đề binh chiêm giới. Trưng nữ (tức Hùng gia tính nữ) hưng sư phương đắc ngũ niên tự xưng vương nữ thời chí Đông Hán. Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm tam bách tứ thập niên chí thử Nam Bang. Lịch hữu Đinh, Lê, Lý, Trần tứ tính khai sáng hồng đồ…
Theo bản thần tích này thì vào thời Vệ Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu Nam Việt, tướng Tô Định đã đem quân xâm chiếm bờ cõi. Sau đó Bà Trưng mới khởi nghĩa, xưng vương được 5 năm, rồi mới tới nhà Đông Hán.
Thông tin này hoàn toàn khác so với chính sử. Chính sử hiện nay cho rằng người đánh Triệu Vệ Vương (Thuật Dương Vương) là Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán. Sau đó là thời kỳ cai trị của nhà Tân của Vương Mãng với các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang ở Giao Châu, rồi mới đến Tô Định làm thái thú Đông Hán và nổ ra khởi nghĩa của Trưng nữ vương. Thần tích đình Viên Châu lại cho biết người đánh Vệ Vương là Tô Định và khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra ngay sau đó, trước thời Đông Hán. Như thế khởi nghĩa Trưng Vương là vào thời Tây Hán, ngay sau khi nhà Nam Việt bị diệt. Tướng Tô Định trong thần tích tương đương với tướng Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán.
Liệu có phải người biên lập thần tích ở Viên Châu đã nhầm? Hay chính sử đang bị nhầm?
Không phải chỉ có một mình thần tích đình Viên Châu cho biết một thời điểm khác của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thần tích của xã Phú Lạc (Cẩm Khê, Phú Thọ) theo bản dịch của Nguyễn Duy Hinh trong sách Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (AE a9/6) cũng kể hoàn toàn tương tự:
… Triệu Đà được nước cha truyền con nối 5 đời cộng 149 năm. Đến đời Thuật Dương Vương kế ngôi chính thống vừa được một năm thì có Tô Định mang quân vào đất nước chiếm Trung Hoa, họ Triệu tàn tạ không người cứu nước. Đến đó cháu gái Hùng Vương húy là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt thánh thần trong đời oai hùng cử binh đánh thẳng đến thành Tô, đại phá. Tô Định thuy chạy. Bà Trưng bèn xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ cảnh thổ nước Nam. Bà Trưng tức vị tự lập làm vua.
Hàng loạt những tư liệu dân gian ở nhiều nơi khác nữa cho thấy, có một cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất nước, dưới thời Hiếu Vũ Đế của nhà Tây Hán. Chính sử Việt hiện tại đang có sự nhầm lẫn về thời điểm và bản chất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Miếu Lịch Đợi

Nguồn: Cồ Việt
Giới thiệu
Miếu Lịch Đợi, tên đầy đủ dịch theo Hán tự là miếu Lịch Đại Đế Vương, đây là một công trình kiến trúc quan trọng được xây dựng vào thời nhà Nguyễn. Ngày nay, tên miếu đã trở thành tên con đường Lịch Đợi dài 1280m, chạy từ đường Bảo Quốc (hay còn gọi là đường Báo Quốc) đến đuờng Tôn Thất Tùng, thuộc địa bàn Phường Đúc, thành phố Huế.
Giá trị lịch sử
Miếu Lịch Đợi là ngôi miếu thờ các đời đế vương được dựng đầu tiên và độc nhất ở Việt Nam vào năm Minh Mang thứ tư, tức năm Quý Mùi 1823.
Theo sử sách triều Nguyễn còn ghi lại thì miếu Lịch Đợi là nơi “Thống kỷ các vị đế vương, ngưỡng mộ đức tốt của các đời trước”. Với ý nghĩa quan trọng “uống nước nhớ nguồn”, “chim có tổ, người có tông”, triều Nguyễn đã cho xây dựng công trình kiến trúc này để thờ các vị vua anh hùng từ Hồng Bàng trở về sau. Hằng năm, xuân thu hai kỳ đều tổ chức tế miếu Lịch Đợi vào ngày tân tháng trọng xuân (tháng 2 âm lịch) sau ngày tế đàn Xã Tắc, và ngày tân đầu tháng trọng thu (tháng 8 âm lịch). Năm Bính Tuất 1826, niên hiệu Minh Mạng thứ VII bổ sung quy định: năm có khánh điển (lễ lớn) thì hoàng đế thân chinh tế lễ, những năm khác, các hoàng tử đi khâm mạng (thay mặt vua). Ngoài ra, vào các dịp lễ tết đầu năm, mùng 5 tháng 5 âm lịch, vua phái một quan văn tam phẩm đi tế miếu Lịch Đợi.

lich-doi-1Mặt tiền miếu Lịch Đợi. Tranh bút sắt: Nguyễn Thứ.  Nguồn Phanxiphăng.

Kiến trúc tổng quan
Miếu Lịch Đợi hướng về phía nam, thuộc địa phận xã Phú Xuân. Trước đây, công trình này gồm một chính đường có 5 gian, đông vu và tây vu (hay còn gọi là Tả Vu và Hữu Vu) cũng có 5 gian. Xung quanh miếu xây tường thành bằng gạch, mặt trước vành tường ngoài dựng 4 trụ biểu, tạo thành 3 ngạch cửa. Mặt trước vành tường trong có trổ cửa chính bên trên có lầu, ngoài ra còn có phượng môn. Phía bắc tường miếu làm “tể sinh”, là nơi mổ vật hiến sinh để tế lễ.
Chi tiết kết cấu
5 gian của tòa nhà chính gồm:
1. Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất (vị trí bên trái kề chính trung) thờ Thần Nông. Vị hữu nhất (vị trí bên phải kề chính trung) thờ Hoàng Đế. Vị tả nhị thờ Đường Nghiêu. Vị hữu nhị thờ Ngu Thuấn. Vị tả tam thờ Hạ Võ. Vị hữu tam thờ Thương Thang. Vị tả tứ thờ Chu Văn. Vị hữu tứ thờ Chu Võ.
2. Gian tả nhất (gian bên trái kề chính gian) thờ các vị vua khai sáng nuớc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương, Đinh Tiên Hoàng.
3. Gian hữu nhất (gian bên phải kề chính gian) thờ vua Lê Đại Hành và 3 vị vua triều Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông.
4. Gian tả nhị thờ 3 vị vua triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông.
5. Gian hữu nhị thờ 4 vị vua triều Lê là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông, Lê Anh Tông.
Ngoài ra đôi nhà Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị tướng Trung Hoa lẫn Viện Nam.
Tả Vu thờ 6 danh tướng Trung Hoa là Phong Hậu, Cao Dao, Long Bá Ích, Phó Duyệt, Thái Công Vọng, Thiệu Mục Công Hồ; 8 danh tướng Việt Nam là Nguyễn Bặc, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu, Nguyễn Xí, Lê Niệm, Hoàng Đình Ái.
Hữu Vu thờ 8 danh tướng Trung Hoa là Lực Mục, Hậu Quỳ, Bá Di, Y Doãn, Chu Công Đán, Triệu Công Thích, Phương Thúc, Hồng Hiến; 7 danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đinh Liệt, Lê Khôi, Trịnh Duy Thoan, Phùng Khắc Khoan.
Tất nhiên, hệ thống vua quan được tôn thờ trong miếu Lịch Đợi là do triều đình nhà Nguyễn chọn lựa, sắp xếp.
Hiện trạng ngày nay
Duới triều Nguyễn, miếu Lịch Đợi thường xuyên được quan tâm, tu bổ. Đến năm 1945, triều Nguyễn sụp đổ, từ đó trở đi, miếu Lịch Đợi xuống cấp nhanh chóng. So với các công trình kiến trúc khác thì miếu Lịch Đợi nhỏ nhưng ý nghĩa và giá trị lịch sử thì không thể phủ nhận. Tuy nhiên ngày nay, ngôi miếu danh tiếng này chỉ còn trơ lại 4 bức tường đổ nát. Vùng đất ngày xưa ngôi miếu được dựng lên nay đã bị các hộ cư dân chiếm dụng. Chỉ còn đó một con đường với cái tên Lịch Đợi, để chỉ khu vực phía sau lưng nhà ga Huế.

https://phanxipang.files.wordpress.com/2011/11/lich-doi-2.jpg

Toà nhà chính gồm 5 gian, 2 chái của miếu Lịch Đợi. Tranh bút sắt: Nguyễn Thứ.  Nguồn Phanxiphăng.

Bài Dạ Trạch tiên gia phú ở đình làng Quan Xuyên xã Thành Công huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên

NGUYỄN MINH TƯỜNG, TRƯƠNG ĐỨC QUẢ. TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 6(73) NĂM 2005
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/0506.htm

1. Lời giới thiệu
Vào ngày 16-4-2005, nhận lời mời của các đồng chí phụ trách thôn Quan Xuyên, xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, chúng tôi đã về làm việc tại địa phương trong một ngày. Công việc mà các đồng chí phụ trách thôn Quan Xuyên đề nghị chúng tôi giúp cho là: dịch những hoành phi, câu đối, bia đá… chữ Hán tại các công trình văn hóa – lịch sử trên địa bàn thôn như: đình Quan Xuyên, Nhà Sắc, Miếu Thượng, Miếu Trung, Miếu Hạ và tấm bia đá đặt tại bên tả (nhìn từ ngoài vào) của đình. Trong đó, đặc biệt có một bức hoành phi treo tại gian giữa nhà đại bái của đình Quan Xuyên, khắc toàn bộ bài Dạ Trạch Tiên gia phú khá nổi tiếng (có chừng 550 chữ). Ðây là một di sản vật thể quý báu về nhiều mặt (chạm khắc, thư pháp, nội dung văn học…) mà nhân dân Quan Xuyên còn lưu giữ được.
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú vốn khắc tại đền Đa Hòa, thuộc tổng Mễ Sở, huyện Ðông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Ða Hòa, xã Bình Minh, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên). Ðền Đa Hòa là ngôi đền chính thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa.
Vào nãm Ất Tỵ (1905) đời vua Thành Thái, một đàn cầu tiên được tổ chức tại đền Đa Hòa. Những người hầu dưới đàn là: Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Cảnh, Lê Chuyên… Bài Dạ Trạch Tiên gia phúnày được coi là bài Giáng bút của Chử Đạo tổ (tức Chử Đồng Tử). Chu Mạnh Trinh, người xã Phú Thị, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1892), từng giữ chức Quang lộc Tự khanh, kính chép và khắc bài phú Giáng bút này ở đền Đa Hòa.
Vào nãm Quý Sửu (1913) đời vua Duy Tân, các cụ phụ lão làng Quan Xuyên đã khắc lại bài Dạ Trạch Tiên gia phú này từ đền Đa Hòa đưa về treo tại đình. Nhận thấy đây là một bài phú hay, nội dung liên quan tới Chử Đồng Tử, một nhân vật được Đạo giáo Việt Nam suy tôn vào hàng “Tứ bất tử”, chúng tôi xin phiên dịch toàn bộ bài Dạ Trạch Tiên gia phú và công bố để bạn đọc xa gần cùng tham khảo.

2. Nguyên vãn chữ Hán
成 泰 乙 巳 年
渚 仙 降 筆 自 題
河 山 過 眼 幾 千 年
一 曲 高 歌 散 九 天
江 渚 月 明 雲 影 淡
澤 林 水 漲 隴 沙 圓
漫 傳 筇 笠 仙 家 事
誰 識 樓 臺 帝 子 緣
到 底 一 塵 還 不 染
金 鰲 駕 海 寓 雲 煙
夜 澤 仙 家 賦
玉 闕 天 高 金 臺 地 辟.
雲 萬 丈 以 騰 飛 水 千 重 而 凝 碧.
扁 舟 泛 泛 誰 從 訪 蓬 萊, 仙 境 之 虛 無;
夜 澤 汒 汒 我 獨 創 帝 子, 因 緣 之 屬 籍;
相 傳:
江 上 遇 帝 女 以 成 親;
誰 識:
仙 班 本 珠 宮 之 莫 逆.
雄 王 之 世, 十 九 相 承;
帝 曰 有 邦 彼 姝 者 子.
乃 從 星 而 顯 耀, 還 駕 雨 來,
赤 藤 勝 地 之 間;
因 伐 木 以 裁 樓, 別 向 風 雲,
白 社 圓 基 之 址.
是 處: 仙 家 雞 犬 何 事 飛 昇?
偶 然: 大 澤 龍 蛇 相 爭 議 庇.
杏 栽 千 樹, 藥 餌 遍 于 方 民;
桃 贈 萬 家 吟 詠 傳 於 閭 里.
辰 則:
月 明 夜 靜, 江 闊 天 空, 或 乘 舟 而 垂 釣, 或 倚 杖 以 迎 風;
攜 手 高 臺, 弄 玉 蕭 而 鳳 降, 識 針 還 閣, 聯 金 字 而 鵷 同.
塵 埃 風 景 蒼 汒 難 容, 久 住 日 月 壺 天 隱 約.
每 動 高 蹤; 乃 辭 帝 闕.
上 表 陳 情 旋 向 神 山 訪 予 舊 侶 赤 松 是 兩 師 遊 戲;
神 農 之 世 非 遙, 蒼 頡 生 文 字 契 書, 盤 古 之 風 可 緒.
四 頭 江 渚, 三 十 年 之 托 跡 轉 空;
扣 手 天 門 九 萬 里 之 高 歌 有 自.
樓 臺 亦 幻 瞕 梓 空 留; 江 波 寂 寂 雲 影 悠 悠.
閱 古 今 之 陳 跡; 感 禾 黍 於 郊 邱.
萊 公 之 陳 成 陰 德 能 兆 異; 潘 令 之 桃 結 寔, 我 亦 何 求.
然 而:
召 伯 甘 堂 不 伐; 總 人 心 之 思 慕
所 以:
羊 公 硯 首 興 言 示 來 者 之 綢 繆.
曰 庭 曰 閣; 成 邑 成 都.
仙 蹤 縹 緲; 往 事 荒 蕪.
筇 笠 林 間, 齊 東 野 之 妄 言 可 笑;
幕 帷 江 上, 趙 北 方 之 佳 話 還 無 虛 以 傳 虛 信 難 可 信.
人 思 舊 澤 而 不 忘; 我 獨 飛 靈 而 默 運
石 豈 能 言 之 物, 轉 也 何 曾;
檜 傳 左 紐 之 文, 是 誰 繆 引.
遂 使:
千 秋 韻 事, 遺 跡 難 憑 識;
看 一 片 閒 雲 仙 跡 不 泯.
維 新 癸 丑 春.
恭 錄 多 禾 祠.
乩 文.
奉 鐫 拜 進.

Phiên âm
Thành Thái Ất Tỵ niên
CHỬ TIÊN GIÁNG BÚT TỰ ĐỀ
Hà sơn quá nhãn kỷ thiên niên
Nhất khúc cao ca tán cửu thiên
Giang chử nguyệt minh vân ảnh đạm
Trạch lâm thủy trướng lũng sa viên(1)
Mạn truyền cung lạp tiên gia sự(2)
Thùy thức lâu đài đế tử duyên
Đáo để nhất trần hoàn bất nhiễm
Kim ngao giá hải ngụ vân yên.
DẠ TRẠCH TIÊN GIA PHÚ
Ngọc khuyết thiên cao; kim đài địa tịch
Vân vạn trượng dĩ đằng phi; thủy thiên trùng nhi ngưng bích.
Biển chu phiếm phiếm thùy tòng phỏng Bồng Lai tiên cảnh chi hư vô;
Dạ Trạch mang mang ngã độc sáng đế tử nhân duyên chi thuộc tịch.
Tương truyền Giang thượng ngộ Đế nữ dĩ thành thân;
Thùy thức: Tiên ban bản châu cung chi mạc nghịch.
Hùng Vương chi thế, thập cửu tương thừa.
Đế viết hữu bang, bỉ xu giả tử.
Nãi tòng tinh nhi hiển diệu, hoàn giá vũ lai, Xích Đằng thắng địa chi gian;
Nhân phạt mộc dĩ tài lâu, biệt hướng phong vân, Bạch Xã viên cõ chi chỉ.
Thị xứ: Tiên gia kê khuyển hà sự phi thăng?
Ngẫu nhiên: Ðại trạch long xà tương tranh nghị tý.
Hạnh tài thiên thụ, dược nhị biến vu phương dân;
Ðào tặng vạn gia, ngâm vịnh truyền ý lý lý.
Thời tắc: Nguyệt minh dạ tĩnh, giang khoát thiên không,
Hoặc thừa chu nhi thùy điếu, hoặc ỷ trượng dĩ nghênh phong;
Huề thủ cao đài, lộng ngọc tiêu nhi phượng giáng,
Thức châm hoàn các, liên kim tự nhi uyển đồng.
Trần ai phong cảnh thương mang, nan dung cửu trú;
Nhật nguyệt hồ thiên ẩn ước, mỗi động cao tung;
Nãi từ Đế khuyết, thướng biểu trần tình;
Toàn hướng thần sõn, phỏng dư Cựu lữ;
Xích Tùng, thị lưỡng sư du hý, Thần Nông chi thế phi dao;
Thương Hiệt sinh văn tự khế thư, Bàn Cổ chi phong khả tự.
Tứ đầu giang chử, tam thập niên chi thác tích chuyển không;
Khấu thủ thiên môn, cửu vạn lý chi cao ca hữu tự.
Lâu dài diệc huyễn; hiêu tử không lưu.
Giang ba tịch tịch, vân ảnh du du.
Duyệt cổ kim chi trần tích; Cảm hòa thử ý giao khâu.
Lai Công chi trúc thành âm đức năng triệu dị; Phan Lệnh chi đào kết thực, ngã diệc hà cầu.
Nhiên nhi: Thiệu Bá cam đường bất phạt, tổng nhân tâm chi tý mộ;
Sở dĩ: Dương Công nghiễn thủ hứng ngôn, thị lai giả chi trù mâu.
Viết đình viết các; thành ấp thành đô.
Tiên tung phiêu diểu; vãng sự hoang vu.
Cung lạp lâm gian, Tề đông dã chi võng ngôn khả tiếu;
Mạc duy giang thượng, Triệu bắc phương chi giai thoại hoàn vô.
Hý dĩ truyền hý; tín nan khả tín.
Nhân tý cựu trạch nhi bất vong; ngã độc phi linh nhi mặc vận.
Thạch khởi năng ngôn chi vật, chuyển dã hà tằng;
Cối truyền tả nữu chi văn, thị thùy mậu dẫn.
Toại sử: Thiên thu vận sự, di tích nan bằng;
Thức khán nhất phiến nhàn vân, tiên tung bất dẫn.
Duy Tân, Quý Sửu niên.
Cung lục Đa Hòa từ.
Kê vãn.
Phụng thuyên bái tiến.

3. Dịch nghĩa:
Năm Ất Tỵ (1905) đời vua Thành Thái
ĐỀ TỰ BÀI GIÁNG BÚT CỦA TIÊN ÔNG CHỬ ĐỒNG TỬ
Sông núi này, mắt ta ngắm nhìn đã mấy nghìn năm.
Một khúc ca cao vút, lan rộng tới chín tầng trời.
Trăng sáng chiếu qua mây, bóng nhạt nhòa bên bến sông.
Sóng nước vỗ đập vào bãi cát vùng đất Dạ Trạch.
Câu chuyện thần tiên về chiếc gậy trúc, nón gồi chẳng qua là ngoa truyền.
Ai hay được chuyện tình duyên của con gái vua chốn đền đài?
Dù cho sống nõi trần gian, nhưng cuối cùng chẳng nhiễm bụi trần.
Mọi chuyện rồi cũng theo Rùa vàng ra biển hay gửi trong đám mây trôi.
DẠ TRẠCH TIÊN GIA PHÚ
(PHÚ VỀ GIA ĐÌNH TIÊN ĐẦM DẠ TRẠCH)
Ngọc khuyết thiên cao; Kim đài rộng mở(3).
Mây muôn trượng bay cao, nước ngàn trùng xanh biếc(4).
Thuyền một lá lênh đênh, ai hỏi chốn Bồng Lai cảnh tiên hư ảo?
Dạ Trạch đầm nước mênh mang, ta riêng tạo chốn nhân duyên đế tử(5).
Tương truyền: May gặp Hoàng nữ trên sông, rồi bỗng nên duyên phận;
Biết chăng: Vốn nòi tiên sánh cùng Cung ngọc, chẳng có gì sai(6).
Hùng Vương dựng nghiệp, mười chín đời truyền(7);
Đế thất lưu truyền: Nước có mỹ nữ(8).
Theo sao mờ hiển hiện, chớp nhoáng như xe bay, mây lướt mưa sa ở đất Xích Đằng(9) thắng địa.
Rồi nhân thế phạt mộc dựng lầu cao, gây riêng một chốn, thử hỏi nào đâu Bạch Xã(10) nền xưa.
Đây xứ: Tiên cung chó gà kêu việc xẩy đột nhiên;
Bỗng nhiên: Ðầm lớn rồng rắn quấn quýt sao mà lạ(11).
Trồng hạnh nghìn cây, thuốc hay giúp khắp thôn dân;
Gây đào vạn cửa, lời ca vang cùng làng xóm.
Những khi: Trãng sáng, đêm thanh, trời cao sông rộng.
Lúc cưỡi thuyền buông câu; lúc tựa song đón gió.
Dan tay gác tía, thổi sáo ngọc mà chim phượng đến; cài trâm bên cửa biếc, gắn chữ vàng mà uyên ương theo.
Trần ai phong cảnh mênh mang, ở lâu sao đặng;
Nhật nguyệt giữa trời lấp lánh, thấy động dấu tiên.
Bèn từ cung khuyết. Dâng biểu trần tình;
Lại đến thần sơn, tìm hỏi bạn cũ(12).
Cùng Xích Tùng tiên du hí, đời ThầnNông(13) ngày ấy chẳng xa;
Chữ Thương Hiệt(14) thư khế rành rành, phong tục Bàn Cổ(15) đã có đầu mối.
Bốn mặt nước Chử giang(16), ba mươi năm thác tích, thành không;
Hai tay chắp Cửu trùng, ngàn muôn dặm ngợi ca từ đó(17).
Lâu đài nào thấy; gậy cũ còn đâu!
Sóng nước mịt mờ, mây mù thăm thẳm.
Xem nào cổ kim dấu tích; nhớ tới ngoài nội lúa ngô.
Trúc Lại Công(18) nay đã thành rừng, đức thường gây dựng.
Ðào Phan Lệnh(19) vốn đà kết trái, ta cũng chẳng cầu.
Thế mà: Như Thiệu Bá(20) không phạt Cam đường, cũng là do lòng người tư mộ;
Sở dĩ: Dương Công(21) miệt mài bên nghiên mực, chỉ mong cho hậu thế đẹp tươi.
Nào đền, nào gác, nên xóm nên thành.
Gót tiên lãng đãng; sự cũ hoang vu.
Khá cười chuyện cũ hoang đường, gậy trúc nón gồi, đồn khắp hang cùng ngõ hẻm;
Lại hay giai thoại vu vơ, màn gấm bên sông, lan xa ngoài cõi Bắc phương(22).
Đồn lại thêm đồn; tin không khó biết.
Đầm xưa, người nhớ mãi chẳng quên; Ta vẫn riêng cưỡi mây phù vận(23).
Đá có nói gì đâu mà vật chuyển dời, sao thế?
Sao truyền cội gốc chuyện xa xưa ngoa vậy, vì ai ?(24).
Khiến cho: Nghìn thu chuyện đẹp, tích cũ khó tìm bằng cứ?
Hãy nhìn một áng mây trôi, dấu tiên như còn tỏ.
Năm Quý Sửu (1913) đời vua Duy Tân.
Kính cẩn chép từ đền Đa Hòa – Văn giáng bút.
Kính sao – Bái tiến.

4. Mấy nhận xét
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú, chúng tôi vừa giới thiệu trên đây, như đã nói, được coi là bài phú “giáng bút” của Chử Đạo tổ trong một đàn cầu tiên tổ chức tại đền Đa Hòa vào năm 1905.
Ðàn cầu tiên là một sinh hoạt có tính văn hóa của những người trí thức Nho học Việt Nam tồn tại từ lâu đời. Đến khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đạo cầu hồn vốn xuất hiện ở Âu Mỹ, được gọi là Thần linh học hoặc Linh hồn học (Psychisme) thấm dần vào Việt Nam. Từ đó, đàn cầu tiên có thêm “người bạn đồng hành” là đạo cầu hồn nên đã phát triển hõn trước. Cầu hồn của phương Tây với cầu tiên của nước ta không khác nhau là bao nhiêu. Về nguyên tắc hai bên đều thừa nhận linh hồn bất tử, có thể giao tiếp với người sống, tiên “giáng bút” thì làm thõ, làm phú bằng chữ Hán. Cầu hồn kiểu Tây thì ai chấp bút cũng được, hồn nhập bút viết bằng chữ Pháp hay chữ Quốc ngữ.
Bài Dạ Trạch Tiên gia phú được ra đời trong hoàn cảnh Cầu tiên do các vị Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Cảnh, Lê Chuyên… tổ chức. Loại trừ việc coi bài phú này của Chử Đồng Tử là điều khó có thể tin được, thì giá trị văn học của Dạ Trạch Tiên gia phú là điều dễ nhận thấy. Về hình thức cũng như nội dung, Dạ Trạch Tiên gia phú có vẻ tài hoa, thanh thoát tương tự như bài Thanh Tâm Tài Nhân phú được sáng tác trong Tao đàn Hưng Yên cũng vào nãm 1905 của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh. Do vậy, chúng tôi cho rằng việc công bố rộng rãi bài Dạ Trạch Tiên gia phú này, để bạn đọc tham khảo và thưởng thức là điều hết sức cần thiết và bổ ích.
N.M.T – T.Đ.Q

CHÚ THÍCH
(1) Nguyên chú: thủy trúng chính long.
(2) Nguyên chú: chữ nguyên chú nhỏ quá lại mờ chưa đọc được.
(3) Nguyên chú: lời này có ý rằng bậc quân chủ yêu quý người hiền tài.
(4) Nguyên chú: ta từ trên trời giáng xuống trần thế.
(5) Nguyên chú: lời này nói về đất nõi ta ẩn cư.
(6) Nguyên chú: ta cùng Chính phi Tiên Dung đều là tiên giáng thế, không cần Hoàng đế cho phép, vẫn kết hôn.
(7) Nguyên chú: Ta giáng sinh vào giờ Sửu (1-3 giờ sáng) năm Bính Ngọ, đời Hùng Vương thứ 19.
(8) Nguyên chú: bỉ xu giả tử: Đẹp sao người con gái kia. Câu này dẫn trong Kinh Thi lấy ý thơ chương Đại Minh.
(9) Xích Đằng: tên xã thuộc tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên), có đền thờ Phạm Bạch Hổ và Ðinh Ðiền.
(10) Bạch Xã: địa danh thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Hà Nam của Trung Quốc. Theo sách Tấn thư – Ðổng Kinh truyện, thì Bạch Xã là nơi mà Ðổng Kinh đã từng trú ngụ. Theo sách Thủy kinh chú thì Bạch Xã là tên làng cũ ở phía Bắc của sông Dương Cừ chảy qua tỉnh Hà Nam. (Từ nguyên-Bộ Ngọ, tr.57).
(11) Nguyên chú: ta có phép thần có thể biến thành rồng rắn giáng thế.
(12) Xích Tùng – Cựu Lã: tức Xích Tùng Tử và Lã Động Tân là hai vị tiên trong số Bát tiên của Đạo giáo thần tiên Trung Quốc.
(13) Thần Nông: một trong Ngũ Đế trong thời Cổ sử Trung Quốc (Phục Hy – Thần Nông – Hoàng đế – Đế Nghiêu – Ðế Thuấn). Tương truyền, Thần Nông đã có công dạy dân biết trồng trọt, phân biệt ngũ cốc và chữa bệnh.
(14) Thương Hiệt: người đời cổ của Trung Quốc, được coi là có công sáng tạo ra chữ Hán.
(15) Bàn Cổ: một nhân vật thần thoại Trung Hoa.
(16) Chử giang: dòng sông Hồng chảy qua bãi Chử Xá, nơi Chử Đồng Tử sinh ra và kiếm sống rồi gặp Tiên Dung công chúa.
(17) Nguyên chú: Ta ngồi hóa giờ Dậu (7-8 giờ tối), ngày 20-9 nãm Giáp Tuất đời Hùng Vương thứ 20. Ta sống tại cõi trần 30 năm, lại trở về cõi tiên, vì thế cổ nhân bảo ta có thuốc trường sinh.
(18) Lại Công Trúc: truyện Khấu Chuẩn trong Tống sử chép: Khấu Chuẩn bị biếm đến Lôi Châu, chết ở đó. Người nhà đem ông về táng ở Tây Kinh. Ðường đi qua huyện Công An, phía Nam Kinh Châu, nhân dân thương ông đều đặt bàn thờ, khóc lóc tế ông bên đường. Họ còn bẻ trúc trồng hai bên đường… Sau này trúc khô đi nhưng sinh ra măng. Do đó ở Kinh Châu có loại trúc Lại Công. (Từ nguyên – bộ Thân, tr.27).
(19) Phan Lệnh đào: chưa rõ ở điển nào.
(20) Thiệu Bá: tên thật là Thiệu Công Thích, con thứ của Chu Vãn Vương. Ông cùng với Chu Công Ðán là hai bề tôi có công lao cai trị đất nước thời Chu Võ Vương và Chu Thành Vương. Thiệu Công Thích vốn họ Cõ, nhưng vì được chia thái ấp ở đất Thiệu, nên xưng là Thiệu Bá. Thiệu Bá xử kiện công minh cho dân, người sau trồng cây cam đường để ghi nhớ! Kinh Thi có câu: Tế phế cam đường (Rườm rà cây cam đường).
(21) Dương Công: chưa rõ tác giả sử dụng điển nào.
(22) Nguyên chú: sử nước ngoài có nói chuyện gậy trúc, nón gồi, có lý nào như vậy! Thế mà con Hoàng đế giáng vân. Đến việc vây màn bên sông, đều do bọn dốt nát bịa ra, không thể tin cậy được! Muốn hiểu thấu phải tự mình lý giải mà thôi!
(23) Nguyên chú: nói là phi linh, tức giáng linh, đây dùng lời của bậc đại nhân.
(24) Nguyên chú: chỗ này cũng nên xem xét cho rõ ràng./.

Tể tướng Lữ Gia

Bài viết của nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên ở Vĩnh Phúc.

Có môt thời kì lịch sử mà giới sử học Việt Nam tranh cãi là có nên chép vào lịch sử nước Việt Nam hay không, đó là kỉ Nhà Triệu của Triệu Đà. Ở thế kỉ XV Nguyễn Trãi viết câu đầu trong bài Bình Ngô đại cáo:
 … Xét như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến
Cõi bờ sông núi đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lí, Trần, Lê nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt không bao giờ thiếu.
Sang thế kỉ XVIII, nhà sử học Ngô Thì Sĩ trong sách “ Việt sử tiêu án” lại chưa tán đồng quan điểm này. Nhưng đó là truyện của lịch sử.

1. Nước Nam Việt của Triệu Đà
Họ Triệu, tên là Đà là viên quan uý, người huyện Chân Định nước Hán,  nhân lúc nhà Tần ở phía bắc suy yếu đã nổi dậy cướp lấy đất Quế Lâm và Tượng quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương, xưng đế đóng đô ở Phiên Ngung tức đất Quảng Châu Trung Quốc ngày nay. Đất đai của Đà  chiều ngang có hàng vạn dặm, gồm cả đất đai của nước Âu Lạc thời Thục An Dương vương, đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “ chế”, chẳng kém gì hoàng đế Trung Hoa. Truyền 05 đời làm vua: Trỉệu Vũ vương ( 207-136Tcn), Triệu Văn vương ( 136-124Tcn), Triệu Minh Vương (124-112Tcn), Triệu Ai vương (112Tcn), Triệu Thuật Dương vương ( 111Tcn). Việt sử thông giám tổng luận của Lê Tung in lên đầu sách Toàn thư của họ Ngô có đoạn viết: Triệu Vũ đế nhân loạn nhà Tần, chiếm lấy đất Lĩnh Biểu, đóng đô ở Phiên Ngung, cùng với Hán Cao Tổ, đều làm đế một phương; có lòng nhân thương dân, có mưu trí giữ nước. Vũ công khiến Tàm Tùng phải kính sợ, văn giáo khiến Tượng quận được chấn hưng, lấy thi thư mà biến đổi tục nước, lấy nhân nghĩa mà cố kết lòng người, dạy dân cày trồng, nước giầu binh mạnh, đến như các việc sai sứ (sang nhà Hán) thì lời lẽ khiêm tốn, Nam Bắc chung vui, thiên hạ vô sự, hưởng nước hơn trăm năm, đúng là bậc vua anh hùng tài lược. Còn có một nhân vật lịch sử thời thời nhà Triệu trước công nguyên được nhắc đến nhiều ở huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, đó là ông Lữ Gia, vị tể tướng thuộc kỉ nhà Triệu.
Vậy ông là ai?

2. Ông Lữ Gia là người Việt
Vào thời Triệu Võ đế huý là Đà, ở bộ Cửu Chân, huyện Lôi Dương, phủ Nghệ An có một gia đình ông họ Lữ tên huý là Tạo, có nghề làm thuốc trị bệnh cứu người. Vợ là con gái nhà họ Trương tên là Châu, gọi là Trương Thị Ninh người bộ Vũ Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Hai người sinh được 07 người con nhưng đều đã mất sớm. Đến năm ông ở tuổi 60, mới sinh tiếp một con trai vào ngày 10 tháng 02 năm Tân Hợi (?), đặt tên là Gia. Khi lớn lên lại đặt tên là Lệ. Đến năm 15 tuổi thì cha mẹ đều qua đời, mà nhà thì quá nghèo nàn, chẳng có gì lo việc tang ma. Mới tự than rằng: Cha ta có tài, làm thuốc chữa được hàng nghìn con người, thế mà chẳng thể cứu được bệnh nghèo của con mình. Người xưa có câu rằng “ lương y chi tử, tất tử hồ”, nghĩa là chữ “ tử” là con của lương y cũng đồng nghĩa với chữ “ tử” là chết vậy!
Bởi thế ông mới qua bờ bắc sông Nhĩ Hà đến nhờ người cậu ruột là Trương Viêm. Được tròn 03 năm, ông Viêm bị người bộ trưởng ở Vũ Ninh là Đào Trịnh mưu sát hại, chí muốn báo thù nhưng vì tuổi còn nhỏ, sức mỏng nên chưa thể làm nổi. Bởi vậy mới chuyển đến ở đất Ô – Lí thuộc Lâm Ấp, nương nhờ vào vị Thiền sư chùa Hoàng Long đạo hiệu là Huyền tông.
Ở đất Ô – Lí Gia ngày đêm vẫn mưu tính báo thù cho người cậu. Tự thân ông khổ công không nguôi, mới chiêu nạp được độ vài trăm người nghiã binh, rồi dùng thuyền từ Linh Giang huyện Chí Linh tiến xuống cửa sông Bạch Đằng, bỏ thuyền lên bờ, gặp ngay bọn Đào Trịnh ở khe núi Chung Sơn. Ông hăng hái tiến đánh một trận giết chết bọn chúng. Rồi ông quay trở lại chỗ nhà người cậu, bàn bạc với người nhà làm lễ tế cậu chu tất. Rồi mới trở lại đất Lâm Ấp. Rồi cũng ở Lâm Ấp, ông kết hôn với 02 con gái nhà bộ trưởng đất ấy họ Hùng là Lâu Bảo Hoa và Nhĩ Bảo Hoa, rồi xin trở về quê nhà.
Ở quê được 02 năm thì gặp lúc Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) thăng hà, Triệu Văn vương lên nối nghiệp (136 Tcn), các châu quận cử những người ngay thẳng, có trình độ hiếu liêm (người có học hạnh mà do địa phương tiến cử), văn võ đầy đủ học vấn rộng rãi về bộ Cửu Chân cùng dự thi tuyển ở trường Nghệ An. Đến khi vào gặp nhà vua, ông lại có tài ứng đối nên được phong làm chức “Thị tòng tham quan” dùng để rèn luyện nghi thức chính sự trong triều. Lại kiêm chức “Đốc lĩnh thuỷ đạo Long chu, tả súy đô thống chế đại vương”. Sáu năm sau, lại được bái phong làm tể tướng (Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép, vào năm 124 Tcn Minh vương nhà Triệu lấy Lữ Gia làm chức Thái phó, tức là vào hàng “tam công” của triều đình nhà Triệu). Bia đền Cả xã Liễn Sơn chép: Cùng với Triệu Minh vương, vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình, muôn dân no đủ, bốn biển yên vui phồn thịnh, Triệu Minh vương vì ông có công nên ban cho một chiếc búa “phủ việt”, tỏ ý trường tồn cùng đất nước.

3. Vai trò của Lữ Gia trong triều đình nhà Triệu
Về việc này, Sử kí của Tư Mã Thiên chép khá tường tận: Lữ Gia là thừa tướng 03 đời vua, tuổi cao, chức trọng. Họ hàng làm quan trường lại đến hơn 70 người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua, lại thông gia với Tần vương ở Thương Ngô. Ông ở trong nước rất được tôn trọng. Người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông. Ông được lòng dân hơn vương.

4. Những lục đục trong triều đình
Năm 113 Tcn, Minh vương khi còn làm thế tử, sang làm con tin cho nhà Hán ở Trường An có lấy người con gái họ Cù ở Hàm Đan. Đến khi về nước lên ngôi, giấu ấn của tiên đế là Triệu Đà, dâng thư sang nhà Hán xin lập Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thế tử. Năm ấy Minh ương mất, con thứ là Hưng lên nối ngôi, tức là Ai vương, tôn mẹ làm thái hậu.
Khi trước, ở nước Hán, khi chưa lấy Minh vương, hậu đã từng thông dâm với người ở Bá Lăng họ tên là An Quốc Thiếu Quý. Năm này, nhà Hán sai Thiếu Quý sang dụ nhà vua và thái hậu vào chầu. Khi ấy vua còn ít tuổi, Cù hậu đến là người Hán, Thiếu Quý đến lại tư thông. Người trong nước biết, phần nhiều không theo thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên vua và các quan xin nội phụ nhà Hán. Bèn nhờ sứ giả dâng thư, xin theo như các chư hầu ở trong, cứ 03 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới.
Năm 112 Tcn, thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để vào chầu, Lữ Gia nhiều lần dâng thư can ngăn, vua không nghe, nhân thế có lòng muốn phản lại thái hậu, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Sử Toàn thư chép tiếp: Các sứ giả nhà Hán, đều chú ý đến Gia, nhưng chưa thể giết được. Vua và thái hậu cũng sợ bọn Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết bọn Gia. Thái hậu bày tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo Gia rằng: Nam Việt nội thuộc (Trung Quốc) là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao? Cốt để chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đang hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận muốn lấy giáo đâm Gia, vua ngăn lại. Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả. Ngầm cùng các đại thần mưu làm loạn. Vua vẫn không có ý giết Gia. Gia cũng biết thế, vì vậy đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi.

5. Binh biến trong triều đình
Trước tình trạng đó, thiên tử nhà Hán sai Hàn Thiên Thu và em của Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2000 quân tiến vào đất Việt. Thấy vậy, Lữ Gia  bèn hạ lệnh cho người trong nước biết rằng: “Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của tiên vương (Triệu Đà) dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời”. Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, gọi là Thuật Dương vương vào năm 111 Tcn.

6. Phá Hàn Thiên Thu
Tháng 11 mùa đông, quân của Hàn Thiên Thu đã vào cõi, đánh phá một vài ấp nhỏ. Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cắp lương cho quân. Khi quân của nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 4o dặm (mỗi dặm bằng 444,44m), thì Lữ Gia xuất quân đánh giết được bọn Hàn Thiên Thu. Sai người đem cờ tiết sứ giả của Thiên Thu cho vào hòm để ở trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ), dùng lời khéo để tạ tội vói thiên tử nhà Hán, mặt khác, lại phát binh giữ các chỗ hiểm yếu,  lập trận, chất đá ở giữa sông gọi là Thạch Môn.

7. Thế yếu bại binh
Nghe tin sứ giả Hàn Thiên Thu bị giết, Hán Vũ đế sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xất phát từ Quế Dương; Lâu thuyền tướng quân xuát phát từ Dự Chương; Qua thuyền tướng quân tên là Nghiêm xuất phát từ Linh Lăng; Hạ lại tướng quân tên là Giáp đem quân xuống Thương Ngô; Trì Nghĩa hầu tên là Quý đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội ở cả Phiên Ngung.
Mùa đông năm 111 Tcn, tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 quân tinh nhuệ vay hãm Tam Hiệp, phá tan trận Thạch Môn, lấy được thuyền thóc của Nam Việt, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung. Bấy giờ Bác Đức có hơn 1000 người cùng tiến với số quân đi trước của Dương Bộc, gặp vương và Lữ Gia đang giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện ở mặt đông nam, Bác Đức đóng ở mặt tây bắc. Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít, bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì trong thành đầu hàng. Vua và Lữ Gia cùng vài trăm người đang đêm chạy ra biển. Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia bèn sai người đuổi theo.
Về phần này bản ngọc phả ở đình Nhân Lạc chép: Nước Việt đã mất, ông mưu tính việc khôi phục, mới đem theo số nghĩa binh mới mộ vài nghìn người, giữ vững miền thượng lưu sông Lô, cùng với hai phu nhân đóng doanh riêng cố thủ. Dựa vào thế hiểm của núi Long Động trên núi Thét (núi ở xã Quang Yên huyện Sông Lô) bí mật lẻn ra đánh tập kích quân Hán. Quân Hán mấy lần bị thua, buộc phải trở lại kinh thành, Lộ Bác Đức sai người kết giao với bộ tướng của ông là Chu Năng, bàn với Năng phản lại ông, hứa rằng sau sẽ cho Năng làm Toàn Việt vương. Năng cùng quân Hán đánh lại ông ở bên sông Nhân Mục trên sông Lô, nhưng trận chẳng thành. Chu Năng lại theo đường núi Lãng Sơn (núi Sáng) đánh úp, ông phải rút lui về bến Bạch Hạc (Phong Châu) đóng quân. Ngày hôm sau, Lộ Bác Đức đem quân đến vây, quân giặc cả bốn bề xông lên. Ngựa không còn dùng được quân Việt tán loạn, chỉ còn một mình ông tả xung hữu đột, thế khó đương nổi. Ông mới ngửa mặt lên giời than rằng:
出師為捷申先死
長史英雄淚滿衾
Xuất sư vi tiệp, thân tiên tử
Trường sứ anh hùng lệ mãn khâm.
Nghĩa là:
Ra quân chưa thắng, thân đã chết
Khiến bậc anh hùng lệ chứa chan.
Ông đánh tiếp một hồi, liền sau đó ông bị một viên tướng Hán chém một đao sát thương ngay trong trận. Lữ Gia chết, nước Nam Việt cũng mất.
Bình luận về việc này, trong sách Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận in lên đầu sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của sử thần Ngô Sĩ Liên do Lê Tung biên soạn có đoạn: Minh vương buổi đầu nối nghiệp, yên vui buông thả. Cù Hậu được yêu, vợ Việt bị bỏ, trong nước không hoà, kỉ cương đại loạn. Ai vương tuổi ấu thơ, chưa biết lẽ trị nước, mẫu hậu kiêu dâm, quyền thần chấp chính, mà cơ nghiệp họ Triệu rút cuộc lụn bại. Thuật Dương vương là anh Ai Vương, lập nên bởi tay quyền thần, trí kém sức yếu, giặc mạnh xâm lấn mà cơ đồ nhà Triệu từ đấy xụp đổ. Xét tai hoạ của Ai Vương, tuy ở Lữ Gia, nhưng thực ra là do ở Minh Vương yêu chiều Cù Hậu mà gây ra. Nữ sắc làm nghiêng đổ nước nhà như thế, phải lấy làm răn.
Bình luận như thế là đúng với thời cục lúc đó của triều đinh nhà Triệu, nhưng có phần khe khắt với Lữ Gia vì dù sao ông cũng chỉ là vị tướng già có lòng rất biết tự tôn và xả thân vì nước đến cuối cùng.
Từ đó, nhà Hán lấy nước Nam Việt chia làm 09 quận là: Nam Hải (quận của nhà Tần, sau là đất Quảng Đông của nhà Minh). Thương Ngô (nhà Đường gọi là Ích Châu, xưa là đất Âu Lạc, đất của nước Việt ta). Uất Lâm (nhà Tần là quận Quế Lâm, Hán Vũ đế đổi là tên này). Hợp Phố (nhà Tần là Tượng Quận, đời Minh thuộc Liêm Châu). Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đều là Tượng Quận đời Tần). Châu Nhai, Đạm Nhĩ (nay là vùng đất đảo Hải Nam). Bắt đầu đặt chức Thứ sử cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận. Quận là cấp dưới của châu.

8. Câu truyện hậu Lữ Gia ở Sông Lô
Truyện trong ngọc phả đình làng Nhân Lạc chép lại rằng: Sau khi bị một viên tướng Hán chém một nhát trọng thương, Ông Lữ Gia vẫn cứ tả xung hữu đột phá vòng vây, chạy đến thôn Lữ Chỉ huyện Thiên Bản (nay thuộc tỉnh Nam Định), gặp một bà lão. Ông mới hỏi rằng:
– Từ xưa đến nay, nguời không có đầu sống được chăng?

Bà lão liền trả lời:
– Người ta có sống được là nhờ ở thân thể được toàn vẹn. Chưa từng nghe thấy người không có đầu mà có thể sống được bao giờ!
Bà lão vừa nói dứt lời, ông từ trên mình ngựa thét lên một tiếng, rồi nói:
一言封得英雄骨
萬古遺來恨淚長
Nhất ngôn phong đắc anh hùng cốt
Vạn cổ di lai hận lệ trường.
Nghĩa là:
Một lời nói đổ xương anh kiệt
Muôn năm mắt lệ hận còn dài.
Nói xong đổ gục ngay xuống chỗ đất ấy. Trong chốc lát mối đã đùn lên thành ngôi mộ lớn. Nhân dân thôn Lữ Chỉ dựng ngôi miếu thờ cúng ông. Sau khi Tể tướng đa hi sinh nơi chiến trường, như các tổng, huyện, xã nơi ông từng đi qua từ nơi chiến trận, những địa phương ngựa chạy máu rơi đầm đìa, nhân dân đều lập đền thờ phụng. Người đời sau có thơ vịnh rằng:
生為名將死為忠臣
萬古綱常係一身
江上土堆秋月桉影
往來人說呂公墳
Sinh vi danh tướng, tử vi trung thần
Vạn cổ cương thường hệ nhất thân
Giang thượng thổ đôi thu nguyệt ảnh
Vãng lai nhân thuyết Lã công phần.
Nghĩa là:
Sống là danh tướng, chết làm trung thần
Muôn thủa cương thường một tấm thân
Gò đống trên sông trăng sáng tỏ
Người qua ngắm mãi Lã công phần.
Truyền thuyết ở huyện Sông Lô kể lại rằng: Khi Lữ Gia chết trận, có một con  “chó ngao” ngậm lấy đầu, chạy đến đầu núi trang Yên Thiết (tức núi Thét), liền bị thần núi ấy hiện lên lấy lại, chôn cất ở phía nam núi ấy.
Do là con “ chó ngao” là con vật mà ông rất yêu mến. Phàm mỗi khi hành quân hay dừng lại ở đâu, đều dắt theo “ chó ngao” cùng đến đó. Cho nên khi ông bị chém, con “ chó ngao” cảm nhớ ơn đức ấy, ngậm lấy đầu mà chạy trốn đi, đến khi thần núi lấy lại, chôn cất ở phía Nam núi ấy, con “chó ngao” tự vẫn chết. Ngày hôm ấy xã Yên Thiết lập miếu thờ phụng, gọi là ‘Đền Am”, địa điểm ở xứ “Gò Chùa”, di tích đến nay hãy còn. Năm 2012. UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp băng di tích LS – VH cấp Tỉnh – Thành phố.
Lại nói, hai phu nhân họ Hùng của ông cùng với ba thị nữ đem 300 quân đi trên 05 chiếc thuyền theo sông Lô mà theo sau. Đến làng Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang (nay là Phù Ninh) rồi đỗ lại đấy. Đó là ngày 12 tháng 05. Vừa thiêm thiếp đi, hai bà bỗng thấy một người học trò, mình mặc áo xanh, tay cầm cờ vuông có đề chữ rằng:
天本瀘江已顯神
扶康立石望邊津
Thiên Bản, Lô Giang dĩ hiển thần
Phù Khang, Lập Thạch vọng biên tân.
Nghĩa là:
Thiên Bản, Lô Giang đã hiển thần
Phù Khang, Lập Thạch ngóng bên sông.
Chính phu nhân choàng tỉnh dậy mới biết là vừa nằm mơ. Hai phu nhân phán đoán chưa rõ là điềm gì thì ngay lúc đó dời thuyền lên bờ ở bến Thượng Nha, truyền binh sĩ thiết lập đồn luỹ doanh trại đợi tin tức. Đến ngày 30 tháng 05 bỗng thấy quân Hán kéo đến ngày một mhiều, cờ xí rợp đất, khí giới đầy trời, rồi vây kín hai phu nhân vào giữa. Hai phu nhân không thể giải vây, ứa nước mắt mà than rằng: Tướng công ở nơi nao, nay sự việc xảy ra với thiếp là cùng đường rồi.
Tin tức ngầm cũng không thông do những người qua lại đưa tin đều bị quân Hán giết chết. Đến giữa canh ba đêm đó, bỗng thấy mưa to gió lớn nổi lên kín trời, sấm vang dậy đất, thấy ông từ phương đông bắc lọt vào giữa vòng vây của quân Hán, gặp gỡ hai phu nhân nói cho biết rằng ông đã bị quân Hán giết hại rồi. Nay hai phu nhân lại bị vây khốn ở nơi đây, cho nên hiển linh để cứu giúp.
Giờ dần (03 – 05 h) ngày hôm sau, ông sai một đạo quân thuỷ đến tổng Nhân Mục lấy 10 con trâu đem về doanh trại ở Thượng Nha, mở tiệc khao quân. Lại giết ba con gà trống, lấy máu ăn thề, cùng nhau giết giặc để rửa sạch mối hận anh hùng. Xong tiệc khao quân, ông biến thành đám sương trắng bay ngang qua sông từ bến Nhân Mục đến bến Thượng Nha thẳng lên trời. Rồi lại thấy ông cưỡi ngựa, đội mũ hoa, thân mang giáp, tay cầm thương vàng dài 10 thước từ trên không trung miệng thét lớn xuống dưới quân Hán:

-Ta sinh làm tôi trung, chết làm thần. Ngày nay chúng bay sao phản lại được ta, thát sao khỏi lưới trời!
Nói xong ông cầm đao “ thất hoả” xông vào giữa vòng vây quân Hán, chém tướng Hán là Chu Năng và các quân sĩ tới hơn trăm người. Quân Hán rối loạn ở sông Lô, phải rút lui tan tác. Rồi ông bay lên không mà đi.
Đến vùng trên bến sông Nhân Mục, bỗng thấy có hai chiếc thuyền con, hai phu nhân bước lên thuyền rồi nhìn theo. Bỗng thấy chiếc thuyền bị vỡ ra một mảnh, phu nhân nhặt lấy nhìn xem chỉ thấy 04 chữ “phục ẩn thánh thần” (dấu ở trong có thánh thần), hai phu nhân cảm tưởng như có dẫn đường mới trở lại bến Thượng Nha, đến giữa dòng mới cùng nhau nhảy xuống sông tự vẫn.
Dân hai bên bến sông lập miếu phụng thờ hai bà. Bốn thôn Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang lập đền chính. Đền miếu nơi đây linh ứng rõ ràng. Hàng năm cúng giỗ chính vào ngày 01 tháng 06.

Còn như đầu của ông, từ khi chó ngao ngậm lấy, về sau máu chảy thấm những nơi chạy qua, tất cả đều lập miếu thờ. Còn ở Phong Châu nơi chính sảy ra chiến trận xưa, nhân dân lập đền thờ phụng. Lễ chính vào ngày 20 tháng 05.
Khi trở về trang Nhân Mục huyện Lập Thạch (nay là huyện Sông Lô), sau khi ông mất, dân lập lại đền thờ chính, huý là Nguyễn Triêu Lệ đại vương. Lệ tiệc giỗ chính vào ngày 10 tháng 05.
Xã Yên Thiết tổng Bạch Lưu nơi mộ chính chôn đầu ông, lập miếu thờ phụng. Còn các xã của tổng Đạo Kỉ, tổng Nhân Mục, các xã tổng Bạch Lưu nơi máu chảy đều lập miếu thờ. Các di tích hiện còn.
Đời sau có thơ vịnh rằng:
生為忠將死為神
萬古綱常舊更新
夫婦一心同此節
留傳祠宇兩邊津
Sinh vi trung tướng, tử vi thần
Vạn cổ cương thường cựu canh tân
Phu phụ nhất tâm đồng thử tiết
Lưu truyền từ vũ lưỡng biên tân.
Dịch là:
Sống làm trung tướng, chết làm thần
Muôn thủa cương thường chẳng đổi thay
Chồng vợ một lòng cùng khí tiết
Lưu tuyền đền miếu hai bên sông.
Cũng vì sự tích ông chọn lấy 10 con trâu ở tổng Nhân Mục mở tiệc khao quân, mà ở tổng này có tục giết trâu hiến tế. Sử sách ghi lại rằng: Xã Bạch Lưu Hạ huyện Lập Thạch , hàng năm nuôi 20 con trâu, cứ ngày 18 tháng giêng hoặc ngày 28 tháng 12 đặt đàn tế thần ở ngoài nội, cho trâu uống rượu, rồi lùa vào trong cái chuồng có tường đất xung quanh cho trâu chọi nhau, con nào bị thua thì giết lấy thịt để tế thần.
Còn làng Nhân Mục có tục thi bơi để tưởng lệ hai phu nhân. Có ngôi “đền Bơi” để tổ chức các cuộc thi bơi đó.
Năm 2002, tục hội chọi trâu đẫ được khôi phục lại, gọi là “Hội chọi trâu xã Hải Lựu” để tưởng nhớ Lữ Gia. Tổ chức vào ngày 17 tháng giêng, có bài chúc văn làm theo lối mới tuyên đọc rất nhiều ý nghĩa. Bài văn ấy có đoạn mở đầu như thế này:
Nhớ Đại vương xưa,
Sinh vi tướng, tử vi thần
Đức sánh càn khôn, tài xoay vũ trụ.
Trung dũng vẹn toàn, võ văn gồm đủ.
Lòng trung ái trong triều, ngoài nội, thương xót muôn dân
Chí kinh luân dọc đất, ngang trời, giúp vì nước Tổ.
Bao trận sông Lô sôi nổi, giặc Hán hồn kinh
Mấy năm núi Thét vang lừng, trời Nam mặt tỏ.
Dư uy mặt nước réo ầm ầm
Chính khí đỉnh non soi rực rỡ.
Đầu dẫu mất, thề không thua giặc, một thời lẫm liệt oai động lân bang
Kiếm chưa mòn, sông núi reo thiêng, danh truyền lịch sử…
Sơn Đông. Ngày 30 tháng 08 năm 2011

Tài liệu chính dùng để viết bài:
1. SỬ KÝ. Tư Mã Thiên.  Đời Hán (Trung Hoa).
2. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ. Ngô Sĩ Liên. Thế kỉ 15.
3. Việt sử tiêu án. Ngô Thì Sĩ. Thế kỉ 18.
4. Bia thần tích Đền Cả xã Liễn Sơn Huyện Lập Thạch, Có tên: VIỆT THƯỜNG THỊ ĐẠI LA THÀNH PHÙ KÍ TỨC HÀ THƯỢNG CỔ ĐẠI PHU HỰU PHỤ MINH PHU NHÂN NGỌC PHẢ CỔ LỤC CHÍNH BẢN.
5. Ngọc phả đình Nhân Lạc xã Đôn Nhân huyện Sông Lô: VIỆT THƯỜNG ĐẠI LA THÀNH DŨNG THÁNH ĐẠI VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỀN.

Địa chỉ:  Thôn Quan Tử xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
ĐT;  02113828069. DĐ:  0984550547. Email: thuyenlk@gmail.com

Khoa đẩu thiết Khẩu

Đăng lại bài viết của Văn Nhân và bổ sung hình ảnh các thể chữ cổ trên đồ đồng ở Việt Nam.

Năm Quang Tự thứ 25 (1899) nhà Thanh Giáp cốt văn được phát hiện tại khu vực làng Tiểu Đốn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Giáp cốt văn có nghĩa là chữ viết (văn) được khắc trên mai rùa (giáp) và xương thú (cốt). Giáp cốt văn chỉ hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, được phát triển và sử dụng vào cuối đời Thương (thế kỷ 14-11 TCN).

Giap cotChữ khắc trên yếm rùa.

Chữ Giáp Cốt nhà Thương – Ân (1600-1100 TCN) tiếp tục được phát triển qua các thời:
• Nhà Chu 周 (1021-256 TCN) có chữ Kim (Kim Văn 金文), còn gọi là chung – đỉnh văn là chữ viết trên các chuông và vạc bằng đồng.
• Chiến Quốc 戰國 (403-221 TCN) và thời nhà Tần 秦 (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư 隸書).
• Nhà Hán 漢 (Tiền Hán 206 TCN-8 CN), có chữ Khải (Khải Thư 楷書).
Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ trước đây có thể được minh họa bằng chuỗi sau:
Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải.

Cam Tang

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả.

Khám phá khảo cổ học quan trọng vào bậc nhất về văn hóa Trung hoa là mới đây đã tìm ra loại chữ đặt tên là chữ Lạc Việt ở Cảm Tang, huyện Bình Quả sát biên giới Việt Trung. Chữ Lạc Việt được xác định đã có từ 3-4 ngàn năm TCN, tức vào hàng hàng tổ mẫu của Giáp cốt văn nhà Thương Ân.
Với sự việc này đã có thể bổ sung và trưng ra sự phát triển chữ Nho từ tận ngọn ngành, chỉ ra những văn tự tiền Giáp cốt: Chữ điểu thú → chữ nút vạch → chữ Lạc Việt (thạch văn) → chữ Giáp cốt→ Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải…
Chữ Khải (khải thư hay chính thư 正書): phổ biến vào thế kỷ III TCN. Có thể coi đây là kiểu chữ chính thức của Thiên hạ từ triều đại Lưu Bang. Loại chữ này chuẩn mực, dễ nhận biết, dễ đọc nhất, mỗi chữ mặc nhiên tồn tại trong 1 hình vuông chuẩn nên chữ Khải được coi như chuẩn mực của loại chữ Vuông vẫn là phổ thông nhất trong các kiểu viết chữ Nho hiện nay (chữ Nôm cũng được xếp vào loại hình chữ Vuông).

Chu vuong

Người viết bài này canh cánh bên lòng hơn 40 năm về món nợ văn hóa quan trọng bậc nhất đối với dân tộc kể từ ngày bắt được những dòng tin:
* Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu.
* Sách Thông giám cương mục do Chu Hy đời Tống soạn, chép: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5 (2353 TCN) có Nam di Việt Thường thị đến chầu hiến con rùa lớn”.
Sự việc được nói rõ hơn trong tư liệu khác :
Thông chí” (通志) của Trịnh Tiều (鄭樵) có một đoạn nói về việc nước Việt Thường dâng rùa thần (神龜 thần quy) cho Đế Nghiêu, được “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, Tiền biên, quyển 1 dẫn lại như sau: “Đời Đào Đường (陶唐), phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)”.
* Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư; phần : Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng…
Trong chuỗi xích phát triển Hán văn không có chỗ cho chữ Khoa đẩu, cảm tính tự nhiên nhìn nhận Khoa đẩu là chữ của Việt tộc. Nhiều nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm chữ Khoa đẩu, cho tới nay tựu trung về 3 hướng:Dai Loan

1. Chữ Khoa đẩu là loại chữ dấu chân chim tìm thấy ở Đài Loan.

Xuyen

2. Chữ Khoa đẩu là mẹ đẻ của loại chữ viết của nhiều nước Đông Nam Á.
Nhà ngôn ngữ học Paul Rivert cho rằng nền văn hóa Hòa Bình cùng với lối chữ con nòng nọc này đã được truyền bá khắp nơi góp phần tạo nên các chữ viết của các dân tộc Thái Lan, Lào, Chăm, Cao Miên (Cambodia), Nam Dương (Indonesia), Miến Điện (Myannmar), Tây Tạng, Ấn Độ, Srilanka, Đại Hàn và Nhật Bản.

Xuyen 2

3. Đây là loại chữ nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền cho là chữ Việt cổ tồn tại trong các sắc tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam.

Nay bất ngờ  chợt nhận ra : Việc nghiên cứu về chữ khoa Đẩu đang đi chệch hướng do định kiến đối kháng sẵn có … cho chữ Khoa đẩu là loại chữ của cổ nhân Việt trước khi bị Hán tộc xâm lăng đô hộ nên dĩ nhiên chẳng dính dáng gì với Hán văn…
Tốn mấy chục năm suy nghĩ để ngộ được điều vô cùng đơn giản …
Theo phép phiên thiết Hán văn … khoa đẩu thiết Khẩu.

Chu Khau

Rõ ràng ý chỉ loại chữ vuông, tức chữ Khải thời Lưu Bang Hán Cao tổ 200 năm trước CN đến nay. ‘Khải’ chỉ là tam sao thất bản của ‘Khẩu’. Chữ Khoa đẩu là chữ khẩu 口, tức loại chữ Vuông là một cách gọi chữ Nho, tức loại chữ đang bị người Thiên hạ sai lầm gọi là chữ Hán. Khi Lục Lâm thảo khấu dấy loạn, lập nên Hãn quốc đầu tiên trong lịch sử, thì người Hán mới chỉ biết đến cái lều và con ngựa, du thủ du thực rày đây mai đó kiếm sống thì làm quái gì có thì giờ mà nặn ra được con chữ. Khoa đẩu thiết khẩu, tức Khải chính là loại chữ Vuông của người Việt…
Tư liệu cổ Trung Hoa … Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Sử thuyết Hùng Việt cho khởi thủy Thiên hạ chỉ có đất Đào và đất Đường hay Thường. Đất Đào là miền Thanh Nghệ Tĩnh, đất Đường hay Việt Thường là miền 3 sông nay là Hồng – Đà – Lô. Đoạn tư liệu cổ trên thực sự nói lên chữ Khoa đẩu thiết Khẩu là chữ của cư dân vùng này và được dùng là … “quốc ngữ chữ nước ta vào thời đế Đường Nghiêu”.
Có điều cực kì quan trọng :
… Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)”…
….Một chi tiết lịch sử vô cùng quý giá để từ đó chúng ta có thể lần ra đầu mối. Trong văn hóa dân tộc Mường, người Mường coi “rùa” là tổ tiên của mình trong việc giúp xây nhà, làm lịch và vì vậy họ không bao giờ ăn thịt rùa. Truyền thuyết dân tộc Mường liên quan “con rùa” thì rất hay và độc đáo. Trong đó, đặc biệt và siêu đặc biệt duy nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay: đó là Lịch Rùa hay còn gọi là Lịch Đá Rò. Nó cũng khác hoàn toàn so với Lịch Âm đang sử dụng. Người Mường đã sáng tạo ra bộ lịch trừ đả ro, có nơi gọi là: Trừ tả rò, dịch phiên âm sang tiếng phổ thông là trừ đá rò.
Rò trong tiếng Mường chỉ con con rùa, song còn nghĩa khác đó là sự dò tìm, phán đoán đoán. Đả trong tiếng Mường là đại từ nhân xưng chỉ bậc bề trên như ông nội hay những người có vai vế tương đương trở lên. Trừ trong tiếng Mường có nghĩa đen là kiểu phép tính trừ, bỏ đi, song nó còn có nghĩa khác kiểu như thuật bấm độn, đoán trước. Dịch đúng nghĩa trong tiếng phổ thông đó là thuật bấm độn của ông rùa, nay xin gọi vắn tắt phiên âm sang tiếng phổ thông là trừ đá rò.
(Trích nghiên cứu của nhà nghiên cứu Bùi Huy Vọng (Hương Nhượng, Lạc Sơn) đăng trên internet).
Sự nối kết Quy lịch và ‘trừ đá rò’ hay Lịch Rùa của người Mường là sự kiện chứng vô cùng quý giá cho Sử thuyết Hùng Việt. Sự nối kết này chỉ ra người Mường chính là hậu duệ của dân thời Đường Nghiêu Trung Hoa. Nói thẳng ra: toàn bộ cổ sử Trung hoa là cổ sử của người Việt Nam. Chính tư liệu cổ Trung Hoa viết: Đế Nghiêu tên là ông Giao Thường là Đường vương, trước khi lên ngôi đế (Giao thường nghĩa là Nam phần đất Giao – giữa).
con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau
1 cái mai rùa liệu khắc được mấy chữ mà có thể… ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau…? Thực ra đây là cách nói ám chỉ Dịch học. Dịch là biến dịch, là sinh sinh chi vị Dịch, sinh sôi nảy nở ra mãi gọi là Dịch. Tất cả diễn biến tưởng là vô tận ấy có thể gói gọn vào Bát quái đấy chính là ý câu: việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau… Con rùa thần lưng khắc chữ Khoa đẩu chỉ là cách ám chỉ đồ hình 8 quẻ sắp xếp trong đồ hình bát giác :

Bat quai

Chữ Khoa đẩu dùng chép việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau… thực ra là khắc 8 quẻ Dịch.
Thượng thư thiên Vũ cống nói: … Kinh châu miền Cửu giang … khi có lệnh thì cống rùa lớn.
Cửu giang ý xưa nay vẫn hiểu là 9 con sông … Thực ra ‘Cửu giang’ là cách gọi khác của ‘Trường giang’ mà thôi. Ngày nay, người ta đã tìm được loại rùa mà yếm dùng khắc chữ gọi là Giáp cốt văn thời Thương Ân tìm thấy ở bờ Bắc Hoàng Hà chỉ sống ở miền Trường Giang. Đấy chính là loại rùa mà miền Cửu giang Kinh châu đem cống vua khi có lện. Phải chăng là mai rùa hay yếm rùa cống vua được dùng để khắc chữ? Nếu thế thì Giáp văn có từ thời nhà Hạ 2000 TCN không phải mãi đến nhà Ân mới có.
Với người Việt thì không có Hán tự chỉ có chữ Nho mà thôi. Chữ Nho còn được gọi là chữ thánh hiền vì …  đấy là loại chữ đức Không dùng chép kinh ….
Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu
Khoa đẩu văn là con của chữ Cóc, cóc là góc … chỉ có thể là góc hình vuông trong quan niệm trời tròn đất vuông … Chữ Cóc chính là chữ Vuông vậy.
Người Việt xưa đã tốn hao không biết bao nhiêu công sức trí tuệ để tạo ra bức tranh ‘lão OA giảng độc’ làm di ngôn nhắn cho đời sau biết về chữ cóc – văn Khoa đẩu chính là văn tự do cha ông mình sáng tạo ra chẳng phải mượn, chẳng phải học ai cả …

Lao Oa

Tranh Lão OA giảng độc.

Có việc tưởng như vô cùng đơn giản nhưng mãi nghĩ không ra, tìm không thấy… Đấy là …
Nước Hán chỉ ra đời sau cuộc nổi loạn của bọn Lục Lâm thảo khấu khoảng đầu Công nguyên, trong khi Khoa đẩu văn đã có từ thời Đường Nghiêu đế trước Công nguyên cả 3000 năm thì dính dáng gì đến người Hán mà nhận quàng.
Thực là sự trùng hợp diệu kì… Phải chăng chữ Lạc Việt mới khám phá ở miền biên giới Việt Trung và được coi là cố tổ của chữ Hán ngày nay chính là chữ Khoa đẩu mà Việt Thường thị dâng vua Nghiêu?
Chung quanh chuyện chữ Khoa đẩu ngoài những thông tin trên còn có bức tranh ‘Lão Oa giảng độc’.
Oa là biến âm của ếch tiếng Việt không phải là cóc. Tên gọi bức tranh Đông Hồ này phải đổi lại là thày đồ ếch mới chính xác. Cóc Hán văn là thiềm thừ, ếch và cóc là loài lưỡng cư , sinh ra trứng ở dưới nước, trứng nở ra nòng nọc hay khoa đẩu sống trong nước không khác gì loài cá. Nòng nọc lớn lên rụng đuôi thành cóc – ếch lên bờ biến ra loài sống trên cạn.
… Cóc → góc, góc là giao điểm của Tròn – Vuông, của đất trời và của hữu hình – vô hình. Hữu hình là cái hình tượng con người thấy được và vô hình là ý nghĩa chứa trong hình tượng ấy. Hình tượng mang ý nghĩa ấy gọi là chữ. Chữ cũng là chứa trữ vậy.
Nhưng tại sao hình tượng con cóc lại được dùng làm biểu tượng của chữ viết? Trong điểu thú văn con cóc nghĩa là chữ vì như dân gian Việt giải thích trong bức tranh “Lão Oa giảng độc”. Oa là con cóc nhưng oa cũng là ‘chứa trữ’ tức chữ (viết). Lão Oa chính là thày Chữ, là thày chữ nên mới đọc hiểu và giảng dạy tri thức – đạo nghĩa.
Cóc – ếch đẻ ra nòng nọc tức khoa đẩu.
Chữ (cóc – oa – trữ ) đẻ ra văn.
Cũng có thông tin:
Vào đời Chu Thành Vương, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng…
Giống như oa – trữ – chữ, Trĩ cũng chỉ là biến âm của Trữ – chữ mà thôi. Ý của đoạn tư liệu là …quốc ngữ chữ nước ta thời nhà Châu cũng là loại chữ của tộc Việt Thường (di duệ còn lại là người Mường).
Tại sao 1 bức tranh mà nét vẽ nguệch ngoạc như người mới tập vẽ phải nói thực là chẳng có gì đẹp, chẳng thấy ý nghĩa thâm trầm sâu sắc gì cả mà lại có thể sống dai như thế trong lòng người Việt?
Phải chăng là bức tranh dân gian … ‘Lão Oa giảng độc’ được những cái đầu bác học làm ra vì thông tin về chữ Khoa đẩu trong tư liệu văn minh cổ Trung Hoa…
Lão Oa giảng độc chỉ là để khẳng định: chữ Khoa đẩu là chữ của người Việt. Khoa đẩu – nòng nọc là con của Lão Oa – thày đồ Cóc, mà thầy Cóc – Oa – Chữ là sản phẩm của những cái đầu Việt thì con nó đẻ ra là nòng nọc – khoa đẩu đương nhiên phải là sản phẩm của người Việt… Dù chỉ trở nên thịnh hành được dùng phổ biến từ thời Lí Bôn – Lưu Bang về sau thực ra khởi đầu loại chữ này đã có từ thời Đường Nghiêu 3000 năm TCN (chữ LạcViệt ?).
Khi khẳng định: chữ Khoa đẩu – chữ Khẩu – chữ Vuông chính là chữ Khải mà xưa nay đa số sai lầm gọi là chữ Hán, là loại chữ thịnh từ thời Nam Việt đế Lí Bôn – Lưu Bang đến nay, là chữ viết của người Việt, không có nghĩa nói những hướng nghiên cứu chữ cổ Việt khác là sai lạc vì Khoa đẩu văn có thể không phải là loại chữ cổ Việt duy nhất… Ngay trong bản văn dùng nghiên cứu ở đây cũng có thể đặt câu hỏi: trước khi đế Đường Nghiêu nhận con rùa thần hay vua nhà Châu nhận con chim trĩ trắng do người Việt Thường dâng cho thì triều chính Đường Nghiêu và nhà Châu dùng loại văn tự gì?… Rất có thể Thiên hạ còn nhiều loại văn tự cổ khác nữa.

——–

Bách Việt trùng cửu bổ sung ảnh minh họa.

Kim van
Chữ Kim văn trên đồ đồng thời Ân Thương thấy ở Việt Nam.

Dai trienChữ Đại triện trên một chiếc nắp đồng ở Việt Nam.

P1200150
Chữ Tiểu triện trên nắp một chiếc phương đồng ở Việt Nam.

P1100140Chữ trên chuông đồng Đông Sơn.

Làng So – Xứ Đoài đẹp nhất đình So

Dân gian tứ chiếng có câu: Cầu Nam – chùa Bắc – đình Đoài. Dân gian xứ Đoài lại có câu: Đẹp đình So, to đình Cấn (đẹp đình So, to đình Cấn, bẩn đình Ngọc Than, tan hoang đình Phú Mỹ, cũ kỹ đình Yên Nội). Như vậy là vẻ đẹp của đình So đã được dân gian công nhận. Đình So là ngôi đình đẹp vào hạng nhất trong những đình làng của xứ Đoài.
Đình So là đình của làng So (tên chữ của làng là Sơn Lộ), trước gọi là trang Sơn Lộ, nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai. Làng So là nơi dừng chân của vua chúa khi đi thăm Phủ Quốc năm xưa. Nhà chúa có ngự đề bài thơ Nôm ở chùa Nhạc Lâm (chùa So), nay vẫn còn treo, như sau:
Mảng vui Thiên Phúc cảnh thiên thành 
Ngoạn thưởng âu đây thức tính tình 
Thái thản nhân cơ trông vợi vợi 
Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh 
Trời xuân vặc vặc hoa kê cửa 
Gió thuỵ hiu hiu nguyệt giãi mành 
Trong thuở tỉnh phương buồm thuận tới 
Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình. 
Vào làng So, đến đình So mà ngắm nghía thật lâu mới thấy được rằng đình không chỉ đẹp trong kiến trúc mà đẹp cả trong phong cảnh, phong thuỷ, đáng làm một mẫu hình tiêu biểu cho kiến trúc cổ. Đình nằm gối lên núi rùa, trước mặt là đê sông Đáy đã được nắn lại tạo thành một hồ nước hình bán nguyệt như tấm gương khổng lồ in bóng soi cả ngôi đình đồ sộ. Hai bên đình, phía trái là núi Rồng (còn gọi là núi Cả), phía bên phải là núi Phượng, tạo cho đình nằm gọn giữa một cỗ ngai lớn. Hiện chưa biết đình So được khởi dựng từ bao giờ, nhưng theo văn bia Tu sáng Hoa đình bi ký hiện còn dựng tại đình, được khắc vào năm Dương Đức thứ 3 (1674) thì đình này được tu bổ và tôn tạo vào năm Quý Mão (1663). Văn bia cho biết ngày khởi công tu tạo là ngày 27 tháng 7 năm Quý Mão, hơn hai tháng sau công việc hoàn thành. Ngôi đình đã trải qua 4 lần trùng tu nữa vào các năm 1743, 1924, 1928, 1953. Quy mô hiện nay của đình là kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc trên diện tích 1.100m2. Tổng cộng tất cả toà ngang dãy dọc của đình là 55 gian, với 64 cột lớn nhỏ. Riêng nhà Tả văn chỉ dùng để viết văn tế thần. Hành lang của đình được chia cho 28 giáp trong làng, mỗi giáp một gian để làm chỗ hội họp riêng và sửa soạn lễ lạt của các giáp khi ra việc làng. Đình So có tòa nghi môn đẹp, hoành tráng, uy nghi, và có bậc đá 29 cấp dẫn xuống hồ bán nguyệt. Kiến trúc và điêu khắc của tam quan có thể được xem là một mẫu mực về sự cân đối, vừa vững chãi vừa bay bổng thanh thoát. Đình thờ Tam vị Nguyên soái Đại vương, là những vị tướng của Đinh Tiên Hoàng.
Thần tích chép rằng: Vào mùa xuân năm Canh Thìn (930), có ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc nhà vốn rất nghèo, làm nghề đánh cá trên sông. Hai ông bà rất thích làm việc thiện, một việc thiện dù nhỏ cũng làm. Một hôm hai ông bà chài lưới trên sông Như Nguyệt, kéo được 15 dật vàng. Từ đấy hai ông bà làm ăn cứ khấm khá mãi lên nên cuộc sống rất khá giả. Hiềm nỗi hai ông bà đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Ông vẫn thường nói: Tiền rừng gạo bể mà không có con thì sống không được vui và bàn với bà đi tìm nơi cầu tự. Hai ông bà nghe nói ở đền Hữu Linh, trang Sơn Lộ là nơi linh ứng cầu gì được nấy, bèn cùng nhau sắm sửa lễ vật đến đó cầu tự. Sớm hôm sau ông bà làm lễ tạ rồi xuống thuyền cùng với hai người vạn chài xuôi dòng sông Hát. Thuyền đang đi, trời bỗng nhiên tối sầm lại như đêm và một trận gió lớn ập đến. Lúc này thuyền chở ông bà đến địa phận trang Sơn Lộ, hai người ngẩng đầu nhìn lên trời thấy có đám mây vàng hướng vào bà mà hạ xuống. Lã thị hoảng sợ, nằm miên man. Sau đó bà có mang. Tháng 2 năm Quý Tỵ (933), bà sinh được 3 người con trai. Ba đứa trẻ lớn lên thành những chàng trai khoẻ mạnh rồi theo Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn. Quân sĩ kéo từ Hoa Lư thắng trận về đến trang Sơn Lộ thì nghỉ lại và tập hợp trai tráng trong vùng tiếp tục chiến đấu dẹp loạn 12 sứ quân. Đinh Tiên Hoàng lên ngôi bèn sắc phong 3 ông là Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại Vương. Trải qua các triều đại, Tam Thánh đều được sắc phong mỹ tự và cho trang Sơn Lộ đời đời thờ phụng.
Làng So có lá cờ thần rộng tới 24 mét vuông, cứ mỗi khi cờ bay trên nền trời xanh in bóng mặt hồ nước lung linh cùng với tiếng trống sấm vang lên là làng đang có hội. Lễ hội đình So, làng So được diễn ra vào ngày hai dịp mùa xuân và mùa thu.
Lễ hội mừng ngày Thánh sinh 
Hội mùa xuân, là lễ hội mừng ngày Thánh sinh  nhằm ngày 8 tháng 2. Ngày này dân làng tổ chức rước bài vị từ Miếu Ông và Miếu Bà, là song thân của các Thánh về đình để chung hưởng sự thành kính của dân làng. Theo ghi chép trong sách cổ thì hội diễn ra trong 3 ngày nhưng không khí chuẩn bị cho ngày lễ này thì rộn dịp trước đó khá lâu.
Trong lễ hội mừng ngày Thánh sinh thì vui nhất, và hồi hộp nhất vẫn là cuộc thi lợn anh. Từ trước đó hàng năm mỗi giáp chọn lấy một con lợn đen tuyền, rồi giao cho một nhà trong giáp nuôi. Nhà ấy cha mẹ song toàn, gái trai đầy đủ, hiếu hạnh. Sau khi chọn được lợn mới ra đình xin chân nhang về để làm lễ trình ở nhà. Kể từ đó, con lợn ấy được gọi là lợn anh. Không ai được gọi là con lợn, mà cũng không ai được đánh mắng nữa. Lợn anh được nuôi dưỡng theo một chế độ đặc biệt, chuồng trại phải sạch sẽ, thức ăn phải thanh sạch. Khi lợn anh lớn một chút người ta đem thiến đi.
Vào ngày mồng 7 tháng 2, lợn anh của 28 giáp trong làng đều được tắm rửa sạch sẽ bằng nước thơm, ăn bằng thức ăn tinh khiết và được đưa vào cũi để rước ra đình. 28 giáp là 28 cái cũi, trên mỗi cũi đều được cuốn một tràng hoa  bưởi, đủng đỉnh để tiến ra sân đình. Các cũi lợn được xếp thành hai hàng dọc theo sân đình, trước sự chứng kiến của Thánh và hội đồng lý dịch cùng đông đảo dân làng. Làng chọn ra những lợn anh to nhất để cân xem anh nào to nhất, nặng nhất để trao giải thưởng. Lợn anh của giáp nào được giải thì không chỉ người nuôi được vui mừng và hãnh diện mà cả giáp ấy đều thấy phấn chấn tự hào. Giải thưởng gồm hai bậc: giải dân và giải giáp. Giải dân do làng thưởng, còn gọi là giải đất, vì người nuôi sẽ được cấp 3 sào đất ở cánh bãi để canh tác và lấy hoa lợi mà không phải nộp thuế má gì. Đất ấy người này sẽ được giữ cho đến khi nào có ai đó nuôi được lợn anh có số cân nặng hơn lợn anh được giải, dù chỉ một vài cân. Giải giáp thì do giáp thưởng, và khi giáp mổ con lợn ấy thì nhà chủ nuôi sẽ được biếu một cái tràng hoa (tức là cái khoanh cổ lợn). Các cụ bảo vào một năm, cũng gần đây thôi, giáp nọ có lợn anh nhỏ hơn giáp kia, đáng ra là không được giải, nhưng dùng thế lực áp đảo để lấy giải nhất. Khi khiêng lợn về đến nhà thì lợn xổng ra khỏi cũi rồi lại đi ra đình.
Ngày này, sau bữa trưa tại các giáp, là đến cuộc hát thờ ở đình. Thường làng đón các giáo phường ở Phủ Quốc về hát hầu Thánh. Các ả đào đứng trước điện, tay cầm lá phách hát các bài hát thờ như Thét nhạc, Bắc phản, hát Giai, Độc phú… trong tiếng hoà âm của các nhạc khí. Giáo phường được mời đến hát nhất định sẽ hỏi cho bằng được tên huý của các Thánh thờ trong đình để khi hát đến những chữ ấy thì tránh đi. Hát cửa đình So có các chữ không được nói tới là Hiển, Lã, Hiện, Suý, Lang. Hiển là tên huý của ông cụ thân sinh ra các Thánh; còn Lã là tên họ của cụ bà Lã thị. Hiện là tên huý của ba anh em nhà Thánh; Suý và Lang là tước phong của Thánh. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ, và tránh đi; ví như chữ Hiển thì đọc là Hởn, chữ Lã thì đọc là Lữ. Nếu cô đầu không nhớ ra, cứ thế hát thẳng không kiêng thì người cầm chầu sẽ gõ liên hồi vào tang trống và cho ngừng cuộc hát. Bấy giờ người quản ca của giáo phường phải đến nói khó với các cụ trong làng để xin cho làm lễ tạ với thánh và xin các cụ chiếu cố cho. Khi ấy, người đào nương sẽ biện cơi trầu, đến trước điện làm lễ tạ lỗi với Thánh và các quan viên. Cô đầu sẽ hát từ chiều đến tối, có khi đến tận canh khuya, trước là để hầu thánh, sau là để giúp vui cho quan viên.
Theo nghi thức về việc mở lễ hội được ghi trong bản thần tích do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, thì hội  mở trong 3 ngày mới thôi. Ngoài hát xướng còn có các trò chơi đánh cờ, đấu vật. Ngày lễ mừng thánh sinh, các cô gái làng đi lấy chồng xa về làng rất đông vui và đua nhau làm lễ và cung tiến rất nhiều vào đình.
Lễ mừng thắng trận, khao quân 
Về mùa thu, lễ hội đình So nhằm ngày 10 tháng 7. Đây là lễ hội kỷ niệm Thánh giải vây, thắng trận, tế cáo thiên địa và khao thưởng quân sĩ. Lễ mừng khao quân là một lễ vui vẻ trong dân. Ngày này, sẽ dâng tế vật là một con trâu. Làng có 28 giáp, mỗi năm, có một giáp phải lo việc sắm sửa lễ vật. Như vậy, nếu năm nay giáp này chuẩn bị tế vật thì phải 28 năm sau nữa thì mới lại đến lượt sắm lễ. Con trâu phải được thui khéo, da vàng xộm, quỳ trên cái giá gỗ, mõm hếch lên, còn sừng thì lấy giấy đỏ cuốn vào. Nội tạng của con trâu đã được lấy ra, làm sạch, nên con trâu tế được dân làng gọi là trâu trong. Cảnh tượng hiến tế trâu trong thật long trọng tôn nghiêm. Sau khi tế xong, đồng dân cùng hưởng lộc, rồi chiều và tối thì tập trung nghe hát ở đình hoặc các miếu quán trong làng. Đào kép cũng có khi vừa hát xong ở miếu này lại xách đàn sang miếu khác.
Những người già trong làng vẫn còn nhớ dịp “đóng đám năm Bảo Đại tam niên”. Ấy là năm 1928. Năm ấy vì đình làng sửa đình nên rước bài vị gửi ở nơi khác, khi công việc hoàn thành thì làm lễ hoàn cung. Bấy giờ làng có mua đèn lồng về mắc lên mái đình, đao đình, và trên các con rồng con nghê trên mái đình, để đêm đến sáng lung linh rất đẹp. Hội làng được tổ chức rất to, phần lễ thì trang nghiêm hoành tráng, phần hội thì vui vẻ, linh đình. Về trò chơi có trò bắt chạch trong chum, bắt dê. Làng còn cho mời đội cồng chiêng Mường ở Lương Sơn về để hoà âm trong lễ tế ở đình.Làng đóng đám 7 ngày 7 đêm, mà đêm nào cũng có hát ả đào, mới từ ấp Thái Hà ngoài tỉnh về. Hội kéo dài trong 3 ngày.
Lễ chay kỷ niệm ngày Thánh hoá 
Ngày thánh hoá là ngày 10 tháng Chạp. Ngày nay là lễ cúng chay. Công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được tiến hành từ trước đó cả tháng trời. Những người chuẩn bị cho lễ chay bao giờ cũng là đám con trai khoảng 18, 19 tuổi. Họ phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới đến tập trung ở nhà ai đó để chọn gạo làm bánh. Gạo được chọn thật kỹ càng từng hạt, không có hạt gãy, hạt chẩm. Bấy giờ mới đồi xôi, rồi cho vào cối giã như giã bánh dầy. Nhân của bánh bằng đỗ xanh rang kỹ, nghiền nhỏ, trộn với nước mật. Hương liệu là thảo quả thơm ngát. Nhân này được bao bọc bằng xôi giã. Cuối cùng là lấy lá chuối bọc bên ngoài. Lễ vật dâng trong ngày Thánh hoá bao giờ cũng là lễ chay, được làm từ nguyên liệu thanh khiết và với tấm lòng thành kính nhất. Được biết bánh cuốn dâng Thánh có thể để được trong thời gian rất lâu, và người dân làng cho rằng đó chính là thứ lương thực của quân sĩ của thánh năm xưa.
Vào ngày này, dân không tổ chức hội mà chỉ có lễ chay. Không có tổ chức rước xách và các trò chơi dân gian, cũng không có hát thờ. Tất cả các công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được thực hiện trong niềm thành kính nhất để tưởng niệm đến công lao và ân đức của Thánh.
Lễ hội đình So ngày một đơn giản đi so với trước kia. Vẫn có bánh chay dâng Thánh, nhưng không có trâu trong nữa, và tục nuôi lợn anh thì chỉ còn trong câu chuyện của những người già. Hát thờ ở cửa đình cũng không còn nữa. Người dân vẫn bày tỏ lòng thành kính lên Tam vị Nguyên soái Đại vương bằng các nghi thức tế lễ, nhưng phần vui hội thì gần như vắng bóng.
Và hằng năm, mỗi khi tiếng trống sấm vang dội và lá cờ đại rộng tới 24 mét vuông được kéo lên, bay giữa trời và lồng trong bóng nước hồ bán nguyệt, là khi làng mở hội, thì trong lòng người già làng So, những ký ức xa xăm về  hội xưa lại vọng về, nao nao nhớ đến dịp đóng đám năm 1928, nhớ đến cái ngày làng thi lợn anh và rước trâu trong ra đình, thật oai hùng và trang trọng.

Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh

1. Nhân Thọ xá lợi tháp và việc xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu năm 601
              Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại hơn 100 châu thuộc bản đồ đế quốc. Đây là một phần trong chính sách phục hưng Phật giáo của người sáng lập vương triều nhà Tùy, với ý đồ sử dụng Phật giáo như một công cụ để thu thập nhân tâm, tái ổn định tình hình chính trị, xã hội Trung Quốc sau một thời kỳ biến động kéo dài. Đây cũng là một dịp để nhà Tùy xác lập cương giới, khẳng định lại quyền thống trị đối với những phần lãnh thổ đã chinh phục trực tiếp hoặc kế thừa một cách gián tiếp từ các vương triều đi trước. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt động phân phát xá lợi và hệ thống bảo tháp xá lợi được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ (thường được giới nghiên cứu biết đến dưới thuật ngữ Nhân Thọ xá lợi tháp) đã sớm nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều học giả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
              Hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử chính trị, mỹ thuật và Phật giáo Trung Quốc. Trên thực tế, nó đã có những liên hệ và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình chính trị và Phật giáo Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ VI – đầu thế kỷ VII. Bởi lẽ, trong số hơn 100 châu huyện được nhà Tùy lựa chọn để phân phát xá lợi, có cả các châu Giao, Phong, Trường, Hoan, Ái,… những nơi vốn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền nhà Tiền Lý. Tuy nhiên, tại Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, ngoài một số giới thiệu hết sức ngắn gọn của học giả Lê Mạnh Thát trong phần chú thích bản dịch Thiền uyển tập anh ngữ lục (xuất bản lần đầu tiên năm 1976) (Lê Mạnh Thát, 1999) và của GS. Hà Văn Tấn trong sách Chùa Việt Nam (xuất bản lần đầu tiên năm 1993) (Hà Văn Tấn, 2010), các tư liệu và kết quả nghiên cứu xung quanh vấn đề này vẫn chưa được biết đến một cách rộng rãi.
              Chính vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, trước tiên, chúng tôi muốn hệ thống lại những tư liệu cơ bản cũng như giới thiệu một số thành quả nghiên cứu của giới sử học Trung Quốc và Nhật Bản xung quanh hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp dưới thời Tùy Văn Đế. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận định góp phần nhận diện văn bia tháp xá lợi mới được phát hiện gần đây tại Bắc Ninh. Từ đó, bài viết cũng muốn làm rõ hơn một số vấn đề liên quan đến chính quyền Lý Phật Tử và lịch sử Phật giáo ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ VI – đầu thế kỷ VII.
              Các nghiên cứu từ trước đến nay về Nhân Thọ xá lợi tháp nhìn chung đều được triển khai trên cơ sở các ghi chép trong sách Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục 集神州三宝感通錄 (dưới đây gọi tắt là Cảm thông lục),Quảng hoằng minh tập廣弘明集, Tục cao tăng truyện 續高僧傳 (đều do sư Đạo Tuyên 道宣 biên soạn vào thời Đường, trong đó Quảng hoằng minh tập được hoàn thành năm Lân Đức nguyên niên – 664, Tục Cao tăng truyệnhoàn thành năm Trinh Quán 19 – 645). Theo các nguồn tư liệu đó, Nhân Thọ xá lợi tháp được xây dựng trong ba lần với qui mô và thời điểm như sau:
·         Lần thứ nhất vào năm Nhân Thọ 1 (601), tổ chức trên phạm vi 30 châu. Vua Tùy xuống chiếu vào ngày 13 tháng 6, hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10.
·         Lần thứ hai vào năm Nhân Thọ 2 (602), trên phạm vi 50 (có tài liệu cho là 53) châu. Vua Tùy xuống chiếu vào ngày 23 tháng Giêng, hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4.
·         Lần thứ ba vào năm Nhân Thọ 4 (604), trên phạm vi hơn 30 châu. Vua Tùy xuống chiếu vào tháng Giêng, hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4.
              Về nguồn gốc xá lợi được Tùy Văn Đế phân phát cho các địa phương, theo Cảm thông lục và Quảng hoằng minh tập, khi Tùy Văn Đế còn chưa lên ngôi (tiềm long), có một vị sa môn Bà La Môn đến nhà, đưa ra một bọc xá lợi và nói rằng: “Đàn việt [thí chủ] có lòng tốt, nên lưu lại (bọc xá lợi này) để cúng dường”, sau đó không biết đi đâu mất. Sau Tùy Văn Đế và sư Đàm Thiên lấy chỗ xá lợi đó ra đếm thì thấy lúc nhiều lúc ít. Sư Đàm Thiên giải thích rằng theo lời vị sa môn kia, chỗ xá lợi đó là “pháp thân” của nhà Phật nên không thể đo đếm được theo cách thông thường. Tùy Văn Đế bèn làm một chiếc hòm thất bảo để cất giữ những xá lợi đó[1]. Câu chuyện mang nhiều màu sắc tâm linh nói trên ít nhiều đã được nhào nặn dưới bàn tay của giới tăng lữ Phật giáo, nhưng nếu gạn bỏ đi những phần mang tính nhuận sắc, chúng ta thấy rằng các xá lợi được Tùy Văn Đế đưa về các địa phương dưới danh nghĩa là “pháp thân” – xá lợi của Phật, không phải là xá lợi của một vị danh tăng, danh ni nào đó.
              Trong ba lần xây tháp và phân phát xá lợi, hệ thống tư liệu về hoạt động năm 601 là đầy đủ nhất. Theo Cảm thông lục, Tùy Văn Đế đã xuống chiếu về việc phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp an trí xá lợi vào ngày 13 tháng 6 năm 601. Nội dung bài chiếu cũng như tên các châu được phân phát xá lợi khi đó được ghi chép cụ thể trong sáchQuảng hoằng minh tập.
              Sử liệu 1: Quảng hoằng minh tập, quyển 17, Phật đức thiên đệ tam chi tam
門下仰惟、正覺大慈大悲、救護群生、津梁庶品、朕歸依三寶重興聖教、思與四海之内一切人民俱發菩提共修福業、使當今現在、爰及來世、永作善因、同登妙果、宜請沙門三十人、諳解法相、兼堪宣導者、各將侍者二人、并散官各一人、薰陸香一百二十斤、馬五匹、分道送舍利、往前件諸州起塔、其未注寺者、就有山水寺所、起塔依前山、舊無寺者、於當州內清靜寺處建立其塔、所司造様送往當州、僧多者三百六十人、其次二百四十人、其次一百二十人、若僧少者、盡見僧、為朕、皇后、太子廣、諸王子孫等、及内外官人、一切民庶、幽顯生靈、各七日行道并懺悔、起行道日打剎、莫問同州異州、任人布施、錢限止十文已下、不得過十文、所施之錢以供營塔、若少不充役正丁、及用庫物、率土諸州僧尼、普為舍利設齋、限十月十五日午時、同下入石函、總管刺史已下縣尉已上、息軍機停常務七日、專檢校行道及打剎等事、務盡誠敬、副朕意焉、主者施行、仁壽元年六月十三日,内史令豫章王臣暕宣。
Tạm dịch:
Kẻ môn hạ kính ngưỡng nghĩ rằng: đức đại từ đại bi của bậc Chính Giác cứu giúp cho chúng sinh, là cầu nối cho vạn vật. Trẫm nay qui y tam bảo, trùng hưng thánh giáo, muốn cùng tất thảy nhân dân trong bốn bể, cùng phát nguyện bồ đề, cúng tu phúc nghiệp, để cho đương kim hiện tại, cùng với vị lai, vĩnh tạo thiện nhân, cùng đạt quả phúc. Nên mời 30 vị sa môn thông tuệ Pháp tướng [tức Phật pháp], kiêm kham truyền đạo, mỗi vị dẫn theo tùy tùng 2 người, tản quan 1 người, đem theo huân lục hương 120 cân, ngựa 5 con, chia ra các đạo hộ tống xá lợi đến các châu trên đây dựng tháp. Đối với các nơi không ghi chú tên chùa, chọn nơi chùa có sơn thủy, dựng tháp dựa vào núi phía trước. Những nơi vốn không có núi, dựng tháp tại chùa ở nơi thanh tịnh trong châu. Sở ty tạo “dung” [thiết kế] gửi cho các châu. Nơi có nhiều sư lấy 360 người, mức tiếp theo là 240 người, mức nữa là 120 người. Nếu có ít sư, huy động tất cả các sư hiện có. [Các sư] phải vì Trẫm, Hoàng hậu, Thái tử [Dương] Quảng, các vương tử vương tôn, quan viên nội ngoại, tất thảy dân thường, sinh linh hai cõi u huyền, mỗi nơi hành đạo, sám hối trong vòng 7 ngày. Vào ngày hành đạo tiến hành “đả sát”, không kể người trong châu ngoài châu, đều phải bố thí. Tiền (bố thí) phải dưới 10 văn, không được quá 10 văn. Lấy tiền bố thí cúng cho việc tạo tháp. Nếu thiếu không được sung chính đinh, dùng đồ trong quan khố. Tăng ni các châu đều phải làm trai lễ cho xá lợi. Hạn vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 10, các nơi cùng đưa (xá lợi) vào hòm đá và hạ thổ. Từ chức tổng quản, thứ sử trở xuống đến chức huyện úy trở lên, đều phải nghỉ việc quân cơ, tạm dừng thường vụ trong 7 ngày, chuyên tâm đôn đốc việc hành đạo và “đả sát”, hết sức thành kính, không được phụ ý trẫm. Nhất nhất phải thi hành. Nhân Thọ nguyên niên, tháng 6 ngày 13. Nội sử lệnh Dự Chương vương thần [Dương] Giản tuyên đọc.
              Quảng hoằng minh tập cũng ghi danh sách 30 châu được phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng tháp. Tương ứng với chiếu thư của vua Tùy, có thể thấy danh sách này được chia làm 2 nhóm. Bên cạnh 17 châu có ghi rõ tên chùa, ví dụ Ung châu Tiên Du tự 雍州仙遊寺, có 13 châu chỉ ghi tên châu mà không ghi tên chùa, trong số đó có Giao châu. Như vậy, đối với Giao châu, vua Tùy không chỉ định địa điểm cụ thể, mà để cho Giao châu lựa chọn chùa xây tháp. Tiêu chuẩn lựa chọn là chùa phải ở nơi có danh sơn danh thủy, tháp phải được xây dựa vào núi phía trước, hoặc với những châu không có núi thì phải là chùa ở nơi thanh tịnh. Tiếp theo chiếu thư của Tùy Văn Đế,Quảng hoằng minh tập dẫn sách Xá lợi cảm ứng ký 舍利感應記 của Vương Thiệu 王邵 ghi lại những nơi có tấu báo về việc xuất hiện “cảm ứng” khi xây tháp. “Cảm ứng” ở đây là các hiện tượng kỳ lạ, mang tính siêu nhiên xuất hiện cùng với việc an trí xá lợi. Ví dụ theo Xá lợi cảm ứng ký, tại chùa Tiên Du ở Ung châu, vào ngày xây tháp, trời vốn mây mù có mưa, nhưng đến khi đưa xá lợi xuống thì trời quang mây tạnh, đến khi cho xá lợi vào hòm thì trời lại đổ mưa[2]. Trong danh sách “cảm ứng” đó cũng có tên Giao châu, nhưng không thấy chép hiện tượng “cảm ứng” cụ thể mà chỉ đơn giản ghi việc Giao châu khởi dựng tháp tại chùa Thiền Chúng (交州於禪眾寺起塔). Qua ghi chép này, chúng ta có thể biết được Giao châu đã lựa chọn chùa Thiền Chúng làm nơi xây tháp năm 601 và báo lại sự kiện đó với nhà Tùy.
              Quảng hoằng minh tập cũng ghi chép rất cụ thể về trình tự tiến hành các nghi lễ. Tại kinh đô Đại Hưng (sau này là Trường An), Tùy Văn Đế đích thân mở hòm thất bảo, lấy ra 30 xá lợi đặt lên hương án trên ngôi báu, rồi cùng các sa môn đốt hương lễ bái. Sau đó, xá lợi được đặt vào 30 chiếc bình vàng nạm lưu ly 琉璃盛金瓶, dùng huân lục hương nhào thành “bùn” (nê), bôi lên nắp bình để phong lại, hẹn với ba mươi châu cùng vào giờ chính Ngọ ngày 15 tháng 10 cho vào hòm đồng, hòm đá 銅函石函, nhất loạt khởi dựng bảo tháp. Các sa môn sứ giả khi đến địa giới các châu, trước tiên phải lệnh cho các nhà trong châu dọn dẹp hết những thứ uế tạp để nghênh đón xá lợi. Quan viên từ chức tổng quản, thứ sử trở xuống đều phải đi bộ dẫn đường. Sư sãi[3] tại địa phương đều phải trang phục chỉnh tề, đem cờ quạt hương hoa đến cúng dường, hoặc cầm hương hoa, hoặc đốt hoặc rải, vây quanh tán tụng bằng âm Phạn. Khi đến nơi, vị sa môn sứ giả của nhà Tùy hướng đến các sư sãi hô lên rằng: “Chí tôn lấy đức bồ tát đại từ vô biên vô bờ thương xót chúng sinh dồn vào tinh túy của xương cốt [cốt túy]. Vậy nên phân phát xá lợi cùng thiên hạ tạo lấy thiện căn”, sau đó dẫn giảng các loại kinh văn. Các sư sãi đều phải chắp tay, quì gối phải xuống đất. Sa môn sau đó lại đọc kinh sám hối. Trước khi hạ thổ xá lợi, sa môn giơ cao chiếc bình đựng xá lợi cho các sư sãi tham dự xem một vòng[4].
              Khi chôn xá lợi, người ta thường chôn kèm bia đá có minh văn. Hiện nay, người ta đã tìm thấy 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp tại Trung Quốc, trong đó có 6 minh văn về lần xây dựng năm 601, 3 minh văn về lần xây dựng năm 602, 3 minh văn về lần xây dựng năm 604.
Bảng 1: Các minh văn liên quan đến Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được tại Trung Quốc

(dựa trên thống kê của Hida Romi – Oshima Sachio, 2012, có bổ sung thêm một số thông tin)

STT
Địa điểm
Thông tin
1
Ung châu Tiên Du tự
雍州仙遊寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Tiên Du tự
Ảnh thác bản
Ảnh thác bản chưa công bố. Ảnh văn bia có trên website kênh truyền hình Phượng Hoàng – Trung Quốc
Kích thước
khoảng 50x50cm
2
Kỳ châu Phượng Tuyền tự
岐州鳳泉寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng huyện Phù Phong
Ảnh thác bản
Bắc đồ[5] (t9), tr.143
Kích thước
32x34cm
3
Đồng châu Đại Hưng Quốc tự
同州大興國寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Uỷ ban quản lý văn vật huyện Đại Chi tỉnh Thiểm Tây
Ảnh thác bản
Thiểm Tây bi thạch tinh hoa, tr.30
Kích thước
Chưa có thông tin
4
Thanh châu Thắng Phúc tự
青州勝福寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Thành phố Thanh châu
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t9), tr.144
Kích thước
63x77cm (trán bia: 31x27cm)
5
Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự
京城大興縣龍池寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t9), tr.142
Kích thước
35x30cm
6
Tín châu Kim luân tự
信州金輪寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Bạch Đế thành Tây Bi Lâm
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t.9), tr.153
Kích thước
43x46cm
7
Lộ châu Phạn Cảnh tự
潞州梵境寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Chưa có thông tin
Kích thước
Chưa có thông tin
8
Đặng châu Đại Hưng Quốc tự
鄧州大興国寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Thành phố Khai Phong
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t.9), tr.156
9
Tử châu Hoa Lâm tự
梓州華林寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Sưu tập tư nhân Nhật Bản
Ảnh thác bản
Nakamura Nobuo (2004)
10
Nghi châu Thần Đức tự
宜州神德寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Diệu huyện
Ảnh thác bản
Thiểm Tây bi khắc tinh hoa, tr.32
11
Liêm châu Hoa Thành tự
廉州花成寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Bắc đồ, tr.166
12
Kinh thành Diên Hưng tự
京城延興寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Hàm Dương
Ảnh thác bản
Hàm Dương bi thạch, tr.18
2. Khảo sát về văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh
2.1. Nội dung minh văn
              Ngày 29 tháng 8 năm 2012, sau khi nhận được tin từ Bắc Ninh, chúng tôi đã có dịp cùng GS.Phan Huy Lê, PGS.TS.Tống Trung Tín, TS.Nguyễn Văn Sơn đến Bảo tàng Bắc Ninh và trực tiếp quan sát văn bia dưới sự hướng dẫn của Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh TS. Lê Viết Nga và một số cán bộ của bảo tàng.

Ảnh: Thác bản bia Bắc Ninh (chụp tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học 2012)

              Minh văn tổng cộng có 133 chữ, được chia làm 13 dòng (có thể tạm chia thành 1 dòng tiêu đề, 10 dòng chính văn, 2 dòng chú thích), mỗi dòng về cơ bản có 13 chữ. Nguyên văn như sau:
1      舍利塔銘
2      維大隋仁壽元年歳次辛酉十月
3      辛亥朔十五日乙丑
4      皇帝普為一切法界幽顯生靈謹
5      扵交州龍編縣禅衆寺奉安舍利
6      敬造靈塔願
7      太祖武元皇帝元明皇后皇帝皇
8      后皇太子諸王子孫等並内外羣
9      官爰及民庶六道三塗人非人等
10     生生世世值佛聞法永離苦空同
11     昇妙果
12     敕使大德慧雅法師吏部羽騎尉
13     姜徽送舎利扵此起塔
Phiên âm:
1            Xá lợi tháp minh văn
2            Duy[6] Đại Tuỳ Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân[7] Dậu thập nguyệt
3            Tân Hợi sóc[8] thập ngũ nhật Ất Sửu
4            Hoàng đế[9] phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5            ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6            kính tạo linh tháp nguyện[10]
7            Thái tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu[11], Hoàng đế, Hoàng
8            hậu, Hoàng thái tử[12], chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại quần
9            quan, viên cập[13] dân thứ[14], lục đạo tam đồ[15], nhân, phi nhân đẳng
10          sinh sinh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11          thăng diệu quả
12          Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị uý
13          Khương Huy[16] tống xá lợi ư thử khởi[17] tháp
Tạm dịch:
Bài minh tháp xá lợi
Đại Tùy niên hiệu Nhân Thọ nguyên niên (601) nhằm năm Tân Dậu, tháng 10, ngày sóc Tân Hợi, ngày 15 Ất Sửu,
Vì sinh linh u hiển của tất cả các cõi pháp giới, Hoàng đế [tức Tùy Văn Đế] kính cẩn kiến tạo linh tháp, phụng an xá lợi tại chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao châu, nguyện cho:
Đức Thái tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng thái tử, các vương tử vương tôn, cùng quan viên nội ngoại, đến cả kẻ thứ dân, lục đạo tam đồ, nhân, phi nhân, đời đời kiếp kiếp được gặp Phật nghe pháp, vĩnh viễn thoát ly khổ đau, cùng đạt quả phúc.  
Sắc chỉ sai Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị úy là Khương Huy đưa xá lợi đến đây xây tháp.
2.2. So sánh văn bia tháp xá lợi Bắc Ninh với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện tại Trung Quốc
              Dưới đây, chúng tôi thử tiến hành so sánh về mặt nội dung và hình thức tấm bia mới tìm thấy tại Bắc Ninh (để tiện phân biệt, tạm gọi là bia/minh văn Giao châu) với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp có niên đại năm 601 đã được tìm thấy tại Trung Quốc. Trong 6 tấm bia của Trung Quốc, có 5 bia có liên quan trực tiếp đến sự kiện 601 là bia Ung châu Tiên Du tự, Kỳ châu Phượng Tuyền tự, Đồng châu Đại Hưng Quốc tự, Thanh châu Thắng Phúc tự, Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự, 1 bia có nội dung liên quan gián tiếp là bia Kinh thành Diên Hưng tự.
(1) So sánh về mặt nội dung
              Trước tiên, về mặt nội dung, có thể thấy bia Giao châu có minh văn về cơ bản giống với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp có niên đại 601 đã phát hiện được tại Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy một số khác biệt như sau:
              Thứ nhất, trong minh văn Giao châu, dòng đầu tiên ghi tiêu đề “Xá lợi tháp minh” 舎利塔銘. Trong khi đó, một số minh văn Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” 舎利塔下銘  (Ung châu, Kỳ châu, Thanh châu, Đại Hưng huyện), riêng minh văn Đồng châu không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề này cũng khác nhau tùy theo từng bia, minh văn Ung châu và Thanh châu ghi ở dòng đầu, minh văn Kỳ châu và Đại Hưng huyện ghi ở dòng cuối cùng.

Thứ hai là sự phân bố các chữ trên một dòng. Về cơ bản, minh văn Ung châu, Kỳ châu và Đồng châu có bố cục mỗi dòng 11 chữ, minh văn Thanh châu và Đại Hưng huyện mỗi dòng có 12 chữ. Trong khi đó, minh văn Giao châu có bố cục mỗi dòng 13 chữ.

              Thứ ba là sự khác biệt về địa điểm xây tháp. Theo văn bia Giao châu, địa điểm được chọn để xây tháp xá lợi tại Giao châu là “Thiền Chúng tự”, tức là phù hợp với ghi chép của sách Xá lợi cảm ứng ký của Vương Thiệu dẫn trong Quảng hoằng minh tập. Tuy nhiên, bia Giao châu ghi cụ thể hơn là chùa Thiền Chúng nằm tại “Giao châu Long Biên huyện”. Xung quanh địa danh “Long Biên”, gần đây, một số nhà nghiên cứu dẫn ghi chép của Lê Quí Đôn trong sách Vân đài loại ngữ và phần chú thích của học giả Trần Văn Giáp cho rằng địa danh “Long Biên” vốn bắt nguồn từ chữ “Long Uyên”, mà việc đổi tên này chỉ có từ thời Đường do kị húy tên gọi của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Giả thuyết này phủ định sự tồn tại của địa danh “Long Biên” trước thời Đường và đặt nghi vấn đối với niên đại 601 của tấm bia phát hiện tại Bắc Ninh. Tuy nhiên, đây là một quan điểm không chính xác. Địa danh “Long Biên” trên thực tế đã xuất hiện từ trước thời Đường. Các sách Tống thư do Thẩm Ước (441─513) hay Nam Tề thư do Tiêu Tử Hiển đời Lương (Nam triều) biên soạn vào thế kỷ VI đã nhiều lần nhắc đến địa danh huyện “Long Biên” thuộc quận Giao Chỉ, đặc biệt trong sự kiện cuộc nổi dậy của Lư Tuần. Lư Tuần vốn là thái thú nhau với nhà Tấn thất bại ở Quảng Châu đã chạy xuống “Long Biên” và bị Thứ sử Giao châu là Đỗ Tuệ Độ dùng hỏa công đánh bại phải tự tử. Theo Tống thư, Đỗ Tuệ Độ sau đó được nhà Tấn phong chức “Long Biên huyện hầu” 龍編縣侯[18]. Như vậy, chúng ta thấy rằng tên gọi “Long Biên” đã xuất hiện từ đầu thế kỷ V, do đó, địa danh “Long Biên” không mâu thuẫn gì với niên đại 601 ghi trên tấm bia[19].
              Một đặc trưng nữa của minh văn Giao châu là trong khi các minh văn khác chỉ có dòng tiêu đề và phần chính văn, riêng minh văn Giao châu và Thanh châu có thêm chú thích ở phần cuối. Phần chú thích đó như sau:
Minh văn Giao châu:
Nguyên văn chữ Hán
敕使大德慧雅法師吏部羽騎尉姜徽送舎利扵此起塔
Phiên âm:
Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi tháp
Ảnh: Thác bản minh văn Thanh châu trong sách Bắc đồ

Minh văn Thanh châu
              Nguyên văn chữ Hán
敕使大德僧智能   侍者曇辯
                               侍者善才
敕使羽騎尉李德諶
長使邢祖俊
司馬李信則
錄事參軍丘文安
司功參軍李俈
孟弼書
Phiên âm:
Sắc sứ Đại đức tăng Trí Năng                           Thị giả Đàm Biện
                                                            Thị giả Thiện Tài
Sắc sứ Vũ kị úy Lý Đức Kham
Trưởng sử Hình Tổ Tuấn
Tư mã Lý Tín Tắc
Lục sự Tham quân Khâu Văn An
Tư công Tham quân Lý Cáo
Mạnh Bật thư
              Như vậy, ngoài dòng tiêu đề và phần chính văn, minh văn Giao châu có thêm phần chú thích ghi tên hai sứ giả[20] là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kị uý Khương Huy”. Minh văn Thanh châu cũng ghi tên hai sứ giả (sắc sứ) là “Đại đức Trí Năng” và “Vũ kị uý Lý Đức Kham”. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế (đã dẫn ở phần trên), có thể xác định Tuệ Nhã và Trí Năng là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế giao cho hộ tống bình xá lợi về các địa phương. Về chức Vũ kị úy, cần lưu ý rằng Vũ kị uý là chức “tản quan” chỉ có vào thời Tuỳ, đến niên hiệu Võ Đức thời Đường mới được đổi thành “Tướng sĩ lang”[21]. Như vậy, chức “Vũ kị úy” của Khương Huy trong minh văn Giao châu và “Lý Đức Kham” trong minh văn Thanh châu đều phù hợp với nội dung cử một viên tản quan hộ tống sa môn trong chiếu thư của Tùy Văn Đế.
              Như vậy, riêng với phần chú thích, minh văn Giao châu có một số điểm tương đồng với minh văn Thanh châu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta thấy minh văn Giao châu cũng có những nét đặc trưng riêng. Thứ nhất, trong khi minh văn Thanh châu chỉ ghi chức vụ của Lý Đức Kham đơn giản là “Vũ kị úy”, minh văn Giao châu lại ghi một cách tường tận hơn là “Lại bộ Vũ kị úy”. Thứ hai, minh văn Giao châu không ghi tên hai người thị giả (tùy tùng), cũng không ghi tên các viên chức địa phương tham gia nghi lễ (trưởng sử, lục sự …) như trong minh văn Thanh châu. Thứ tư, trong khi minh văn Thanh châu có ghi tên người viết chữ là “Mạnh Bật”, minh văn Giao châu lại không có phần này. Trong khi đó, minh văn Giao châu lại có thêm dòng chữ “tống xá lợi ư thử khởi tháp” (đưa xá lợi đến đây dựng tháp).
(2) Về tình trạng phát hiện
              Theo bài viết gửi cho Hội nghị Thông báo Khảo cổ học của TS. Lê Viết Nga (Bảo tàng Bắc Ninh), văn bia được ông Nguyễn Văn Đức (thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành) tìm thấy từ năm 2004 trong lúc đào đất làm gạch ở khu vực cách chùa làng Xuân Quan khoảng 20m. Bia bao gồm 2 phần úp khít vào nhau (tạm gọi là nắp và thân bia) được kết dính bằng “một chất gì đó” mà phải cậy bằng mai đào đất mới tách đôi ra được. Phần nắp và phần thân cùng có kích thước 45x46cm, phần nắp đậy dày 4cm. Mặt dưới phần nắp tạo gờ nổi xung quanh (có lẽ để tránh phần nắp tiếp xúc trực tiếp với mặt chữ và để trát hợp chất), mặt trên tạo “góc bạt chéo hình trụ”. Bia được tìm thấy cùng một hòm đá cũng bao gồm phần nắp và phần thân. Hòm có kích thước 45x46cm, phần nắp dày 8 cm, phần thân cao 20cm. Phần phía trên nắp cũng tạo góc bạt chéo hình trụ. Bên trong hòm có “tạp chất màu thâm đen”. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đức, bia đá và hòm đá được đặt trên một phiến đá.

Như đã trình bày ở phần trước, hiện nay tại Trung Quốc đã phát hiện được 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp. Tuy nhiên, theo khảo sát tư liệu của chúng tôi, chỉ có 2 trường hợp được phát hiện thông qua khai quật khảo cổ học.

Trường hợp thứ nhất là khai quật khảo cổ học tại tháp xá lợi chùa Tiên Du thuộc Ung châu (Tây An, Thiểm Tây) năm 1998. Tháp này nhiều khả năng đã được tu sửa dưới thời Đường. Ở địa cung dưới chân tháp đã phát hiện 1 hòm đá vuông mỗi cạnh khoảng 58cm, cao 40cm, bên trái hòm đá đặt một tấm bia làm bằng đá xanh, một mặt khắc minh văn “Xá lợi tháp hạ minh” năm Nhân Thọ 1 (601) thời Tùy, một mặt khắc minh văn “Tiên Du xá lợi tháp minh” năm Khai Nguyên 4 (716) thời Đường. Bốn phía hòm đá khắc hình 10 tiên nữ cầm các loại nhạc cụ. Bên trong hòm đá có một hòm đồng dài 11,7cm, phía trước rộng 5,48cm, cao 8,4cm, phía sau rộng 3,9cm, cao 6,2cm. Bên trong hòm đồng lại có 1 bình lưu ly cao 4,65cm. Bên trong bình có 10 hạt xá lợi (Lưu Á Vận, 1998).
Trường hợp thứ hai là khai quật nền tháp chùa Thần Đức ở Nghi châu (nay nằm trong phần đất của chùa Diệu Huyện, Thiểm Tây) năm 1964. Tháp này được xây dựng năm Nhân Thọ 4 (604). Hòm đá đựng xá lợi được tìm thấy bên dưới nền tháp, xung quanh được quây bằng gạch. Bốn phía và phía trên hòm đá lại được chặn bởi các phiến đá hình chữ nhật. Thành nắp hòm được trang trí hoa lá, thân hòm khắc cảnh A Nan và các đệ tử đau buồn sau khi Phật Thích Ca lên Niết Bàn cũng như hình Tứ Đại Thiên Vương, Kim Cương Lực Sĩ. Hòm đá có hình vuông mỗi cạnh 103cm, cao 119cm. Nắp hòm cao 52cm, phía trên có khắc 9 chữ “Đại Tùy hoàng đế xá lợi bảo tháp minh”. Điều đáng chú ý là bia được đặt bên trong hòm đá. Phần nắp hòm bên trong được cắt gọt giật cấp sâu 10cm, rộng 52,5cm. Bia khắc minh văn được đặt lọt trong phần giật cấp đó. Bên trong hòm đá có các hòm đồng nạm vàng đựng xá lợi và một số bảo vật như vòng vàng, hòm đồng đựng tóc, bình đồng đựng tro cốt (Dương Hoằng, 2006).

Hình: Cấu trúc hòm đá và bia đặt trong hòm đá của chùa Thần Đức (Dương Hoằng, 2006)

Như vậy, có thể thấy về mặt hình dáng, hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh và hòm đá tìm thấy tại chùa Tiên Du và chùa Thần Đức tuy có kích thước khác nhau nhưng hình dáng tương đối giống nhau, đặc biệt là phần nắp có góc bạt chéo. Qua so sánh, có thể suy đoán hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh chính là hòm đá đựng xá lợi.

              Khai quật ở chùa Tiên Du cho thấy cấu trúc 3 lớp hòm đá – hòm đồng – bình lưu ly,  phù hợp với cách thức an trí xá lợi năm 601 chép trong Quảng hoằng minh tập. Trong trường hợp của chùa Thần Đức, chúng ta thấy chỉ có 2 lớp hòm là hòm đá và hòm đồng nạm vàng, không có bình lưu ly. Đây có thể là do cách đặt xá lợi của năm 604 có khác biệt so với năm 601. Qua tài liệu văn bản và kết quả khai quật tại chùa Tiên Du, có thể cho rằng cấu trúc hòm đá – hòm đồng – bình lưu ly – xá lợi là qui chế chung của năm 601. Như vậy, nếu khai báo của ông Nguyễn Văn Đức là chính xác, tức là trong hòm đá tại Bắc Ninh chỉ còn một lớp “tạp chất màu thâm đen” mà không có hòm đồng và bình lưu ly nạm vàng, thì nhiều khả năng hòm đá ở Bắc Ninh đã từng bị khai quật, lấy đi xá lợi và sau đó được chôn lại.
              Về bia đá, trong trường hợp của chùa Thần Đức, chúng ta thấy minh văn 604 được đặt nằm gọn trong hòm đá. Trường hợp của chùa Tiên Du cho thấy bia đá của năm 601 nằm riêng rẽ so với hòm đá (nếu hòm đá được tìm thấy là hòm đá gốc của thời Tùy), tương tự như ở Bắc Ninh. Bia đá Bắc Ninh có phần nắp. Bia đá của chùa Tiên Du do đã được khắc thêm một mặt vào thời Đường, nên chúng ta không rõ tấm bia gốc vào thời Tùy có phần nắp hay không. Tuy nhiên, tại Trung Quốc cũng có một trường hợp bia có nắp tương tự như bia Bắc Ninh. Bia đá của chùa Thắng Phúc (minh văn Thanh châu) hiện nay vẫn còn lưu giữ được phần nắp, có góc bạt chéo hình trụ tương tự như bia Bắc Ninh.
2.3. Vấn đề niên đại của minh văn Giao châu
              Trên cơ sở so sánh về mặt nội dung cũng như các hiện vật liên quan, có thể thấy bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh có nhiều điểm tương đồng với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp năm 601 hiện còn lưu giữ được tại Trung Quốc. Tuy nhiên, xung quanh niên đại 601 được ghi trên bia Bắc Ninh, trong giới học giả Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
              Quan điểm thứ nhất phủ định niên đại 601 cũng như giá trị lịch sử của bia và cho rằng đây là một tấm bia giả cổ, mới được chế tác gần đây.
              Quan điểm thứ hai cho rằng bia được khắc vào thế kỷ VII, tuy nhiên vào thời điểm muộn hơn năm 601, có thể vào năm 604.
              Quan điểm thứ ba cho rằng bia được khắc vào năm 601, cùng thời điểm với niên đại “Nhân Thọ nguyên niên” ghi trên bia.
              Để tìm được câu trả lời cuối cùng, cần có nghiên cứu liên ngành với sự tham gia của nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các ngành khoa học tự nhiên. Dưới đây chúng tôi sẽ thử xem xét các khả năng nêu trên từ góc độ của một người nghiên cứu tư liệu chữ viết.
              Trước tiên, theo chúng tôi, xác suất xảy ra khả năng thứ nhất, tức bia mới được làm giả cổ là rất thấp. Khi so sánh với các văn bia đã được tìm thấy tại Trung Quốc, chúng ta thấy bia Bắc Ninh có nhiều điểm tương đồng về cả nội dung và hình thức. Mặt khác, bia Bắc Ninh cũng mang những nét đặc thù riêng, ngay cả so với bia Thanh Châu là minh văn có nhiều điểm tương đồng nhất. Điều này cho thấy ít nhất bia Bắc Ninh không phải là bản sao rập khuôn của bất kỳ một mẫu văn bia nào đã được biết đến trước đó. Hơn nữa, để làm giả được tấm bia như thế này, người làm giả phải có trình độ hiểu biết rất sâu sắc về Hán văn, lịch sử thời Tùy – Đường cũng như sưu tầm được tư liệu từ nhiều nguồn tản mác khác nhau. Ví dụ như việc sử dụng dị thể rất hiếm gặp của các chữ “tân”, “nguyện”, “thứ” hay “khởi”. Bản thân tên gọi chùa “Thiền Chúng” vốn không được ghi trong sắc chỉ của vua Tùy mà chỉ xuất hiện trong phần tấu báo “cảm ứng” của các địa phương, do đó nếu muốn làm giả, người làm giả cũng phải tra cứu tư liệu rất kỹ. Hơn nữa, người làm giả cũng phải có hiểu biết rất sâu về hệ thống quan chế của nhà Tùy (ví dụ chức Vũ kị úy là hàm tản quan của nhà Tùy), v.v… Bởi những lý lẽ nêu trên, ít nhất từ góc độ nghiên cứu văn bản học, chúng tôi cho rằng khả năng giả cổ của bia Bắc Ninh là rất thấp[22].
              Để trả lời cho quan điểm thứ hai, chúng ta phải xem xét vấn đề trong bối cảnh mối quan hệ giữa nhà Tùy và chính quyền Lý Phật Tử khi đó.
              Có thể nói người đại diện cho quan điểm thứ hai là học giả Lê Mạnh Thát (1976). Lê Mạnh Thát có lẽ là nhà nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam đề cập đến hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp trong phần chú thích bản dịch sách Thiền uyển tập anh ngữ lục (do Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn xuất bản lần đầu tiên năm 1976). Xuất phát từ một sự thực lịch sử là vào năm 601, nước ta vẫn đang là một nước độc lập dưới quyền lãnh đạo của Lý Phật Tử, ông cho rằng Tùy Văn Đế không thể ban xá lợi qua Giao châu vào năm 601. Qua câu chuyện Tùy Văn Đế hỏi sư Đàm Thiên về tình hình phát triển của Phật giáo tại Giao châu được chép trong Thiền uyển tập anh, Lê Mạnh Thát cho rằng ngay cả sau khi Lưu Phương đã tiêu diệt chính quyền của Lý Phật Tử vào năm 602, “Tùy Văn Đế còn đang lo về việc Giao châu đã được giáo hóa theo Phật giáo hay chưa”, và vì vậy, “Giao châu làm gì mà được chọn làm một chỗ thanh tịnh giữa 30 chỗ khác của Trung Quốc” để xây dựng bảo tháp năm 601[23].
              Nói tóm lại, Lê Mạnh Thát phủ định việc nhà Tùy đưa xá lợi và xây dựng bảo tháp tại Giao châu năm 601. Lê Mạnh Thát cho rằng việc đưa xá lợi đến Giao châu chỉ có thể được tiến hành vào năm 604, với việc vua Tùy ban 5 hòm xá lợi cho Pháp Hiền để xây dựng bảo tháp tại chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa khác tại các châu Phong, Hoan, Trường, Ái như ghi chép trong Thiền uyển tập anh. Suy rộng ra, nếu đứng trên quan điểm của Lê Mạnh Thát, tấm bia tìm thấy tại Bắc Ninh, nếu thực sự là bia thời Tùy, chỉ có thể được đưa đến Giao châu vào năm 604, sau cuộc xâm lược của Lưu Phương. Hơn nữa, Lê Mạnh Thát cũng không công nhận địa điểm xây tháp xá lợi tại Giao châu là chùa Thiền Chúng, mà cho rằng địa điểm chính xác phải là chùa Pháp Vân[24].
              Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ phải xem xét thực chất mối quan hệ giữa chính quyền của Lý Phật Tử và nhà Tùy khi đó. Trước tiên, chúng tôi cũng tán thành ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu đi trước cho rằng trước cuộc xâm lược của Lưu Phương, nước ta đã là một nước độc lập[25]. Tuy nhiên, câu chuyện dưới đây về Thứ sử Quảng châu Lệnh Hồ Hy chép trong Tùy thư hé lộ cho chúng ta thấy một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ thực chất giữa nhà Tùy và nhà Tiền Lý.
              Sử liệu: Tùy thư, Q.56, Liệt truyện 21, Truyện Lệnh Hồ Hy
熙奉詔、令交州渠帥李佛子入朝、佛子欲為亂、請至仲冬上道、熙意在羈縻、遂從之、有人詣闕訟熙受佛子賂而捨之、上聞而固疑之、既而佛子反問至、上大怒、以為信然、遣使者鎖熙詣闕(中略)行軍總管劉方擒佛子送於京師、言熙實無贓貨、上乃悟、於是召其四子、聽預仕焉、
              Tạm dịch:
(Lệnh Hồ) Hy phụng chiếu lệnh Giao châu cừ súy là Lý Phật Tử vào triều. Phật Tử muốn làm loạn, xin đến trọng đông mới lên đường. Hy ý muốn ràng buộc theo kiểu kimi nên đồng ý. Có người đến cửa khuyết tố cáo Hy nhận hối lộ của Phật Tử. Hoàng thượng nghe được nên có ý nghi ngờ. Đến khi tin Lý Phật Tử làm phản đến nơi, Hoàng thượng nổi giận, lấy (chuyện tố cáo cũ) là thật, sai sứ giả bắt giam Hy đưa về cửa khuyết. [Lược một đoạn] Đến khi Hành quân Tổng quản Lưu Phương bắt được Lý Phật Tử đưa về kinh sư, nói Hy quả thực không ăn của đút, Hoàng thượng mới ngộ ra, mời bốn người con (của Hy), cho phép được làm quan.
              Câu chuyện của Lệnh Hồ Hy cho thấy mặc dù vào năm 601, chính quyền của Lý Phật Tử đã là một chính quyền độc lập, song nhà Tùy không thừa nhận sự độc lập đó mà vẫn coi Giao châu là đất cũ của Lương – Trần và là một bộ phận trong lãnh thổ của nhà Tùy. Điều này cũng thể hiện qua việc nhà Tùy chuẩn theo lời tấu của Lệnh Hồ Hy tiến hành đổi tên một số đơn vị hành chính đang nằm dưới sự kiểm soát của Lý Phật Tử như Hoàng châu thành Phong châu, Lợi châu thành Trí châu, Đức châu thành Hoan châu[26]. Việc đổi tên này chứng tỏ nhà Tùy nghiễm nhiên coi các châu này nằm dưới quyền quản lý của mình.
              Chính quyền Quảng Châu của Lệnh Hồ Hy vào thời điểm đó đóng vai trò là đầu mối liên lạc giữa chính quyền trung ương của nhà Tùy với Lý Phật Tử, song chỉ muốn “ràng buộc [Giao châu] theo kiểu kimi”. Về phía nhà Tiền Lý, mặc dù thực chất đã là một chính quyền độc lập, song cũng như nhiều vương triều khác trong lịch sử Việt Nam, Lý Phật Tử rõ ràng “đóng vai” một thần tử của chính quyền Trung Hoa, và để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tùy, đã xin hoãn việc lên đường vào chầu vua Tùy đến giữa mùa đông năm 601.
              Mối quan hệ phức tạp khi đó giữa nhà Tùy và chính quyền Lý Phật Tử còn được thể hiện qua một tư liệu khác là mộ chí của Tô Hiếu Từ 蘇孝慈墓誌. Tô Hiếu Từ là người Phù Phong 扶風 (Thiểm Tây), làm quan cho ba triều Tây Ngụy, Bắc Chu và Tùy, chết năm 601 khi đang làm chức Hồng châu Tổng quản洪州總管của nhà Tùy. Mộ chí của Tô Hiếu Từ được khắc năm 603, được phát hiện tại Bồ Thành (Thiểm Tây, Trung Quốc) từ năm 1888 (Thanh Đạo Quang 14), hiện đang được lưu giữ tại Nhà văn hóa Bồ Thành. Điểm đáng chú ý trong nội dung tấm mộ chí này là việc Tô Hiếu Từ trước khi chết đã được vua Tùy phong làm “Giao châu đạo hành quân tổng quản” để chinh phạt Giao châu[27]. Mặt khác, theo Tùy thư, Hồng châu Tổng quản Tô Từ chết vào ngày Quí Sửu (tức ngày 1) tháng 6 năm Nhân Thọ 1 (601)[28]. Như vậy, nhờ mộ chí của Tô Hiếu Từ, chúng ta phát hiện được một sự thật rất quan trọng. Đó là không phải đợi đến năm 602, mà ngay từ thời điểm trước tháng 6 năm 601, nhà Tùy đã chuẩn bị cho việc tấn công Giao châu. Tuy nhiên, cuộc hành quân này trên thực tế đã bị hoãn, có lẽ là do cái chết đột ngột của Tô Hiếu Từ vào đầu tháng 6. Đến ngày 13 tháng 6, Tùy Văn Đế xuống chiếu ra lệnh phân phát xá lợi cho Giao châu. Điều đó có nghĩa là việc phân phát xá lợi của vua Tùy vào tháng 6 năm 601 không chỉ đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, mà còn có âm mưu sâu xa là nhằm kiểm tra lại sự thần phục của Giao châu đối với nhà Tùy.

Ảnh: Thác bản mộ chí Tô Hiếu Từ

              Trong bối cảnh chính trị – ngoại giao như vậy, chúng tôi cho rằng vào giữa tháng 10 năm 601, chính quyền của Lý Phật Tử có thể chấp nhận một đoàn sứ giả gồm 1 sa môn, 2 tùy tùng là tăng lữ, 1 viên võ quan của nhà Tùy đến Giao châu với mục đích tổ chức một nghi lễ Phật giáo. Điều này có lẽ cũng không khó khăn đối với một người đứng đầu chính quyền mà tên gọi đã phản ánh sự sùng bái Phật giáo rất sâu đậm – Lý Phật Tử. Hơn nữa, về mặt chính trị, việc không đón tiếp đoàn hộ tống xá lợi của vua Tùy vào thời điểm tháng 10 có thể dẫn đến nguy cơ phá hỏng kế hoạch kéo dài thời gian để chuẩn bị kháng chiến của nhà Tiền Lý.
              Một lý do nữa khiến chúng tôi nghĩ rằng việc xây tháp tại Giao châu và cho khắc minh văn thực sự được tiến hành vào năm 601, không phải vào năm 604 là vì ngày tháng trên minh văn ghi rõ là năm “Nhân Thọ nguyên niên”. Như chúng ta đã biết, hoạt động phân phát xá lợi không chỉ được tiến hành vào hai năm Nhân Thọ 1 và 2 (601, 602) mà còn được tiến hành cả vào năm Nhân Thọ 4 (604). Như đã trình bày ở phần đầu, năm 604, vua Tùy xuống chiếu phân phát xá lợi vào tháng Giêng, ước hẹn cùng các địa phương hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4 cùng năm. Hiện nay, tại Trung Quốc đã phát hiện được một số minh văn liên quan đến sự kiện năm 604 như các minh văn Tử châu, Nghi châu, Liêm châu (tham khảo Bảng 1). Các minh văn này đều ghi rõ thời điểm “Nhân Thọ tứ niên” (604). Như vậy, nếu giả sử vào năm 601, nhà Tùy không đưa xá lợi đến được Giao châu và chỉ làm được điều này vào năm 604, sau khi Lưu Phương đã kiểm soát được Giao châu, minh văn khắc kèm với hoạt động phân phát xá lợi đó theo lẽ thông thường sẽ phải được khắc niên hiệu “Nhân Thọ tứ niên” giống như các địa phương khác, hoàn toàn không cần thiết phải quay ngược lại thời gian để khắc lại niên hiệu “Nhân Thọ nguyên niên” như trên tấm bia tìm thấy tại Bắc Ninh.
              Hơn hết, về mặt tư liệu, như đã trình bày ở phần trước, Giao châu không chỉ được liệt kê trong danh sách phân phát xá lợi năm 601 mà tên chùa Thiền Chúng của Giao châu còn xuất hiện trong danh sách “cảm ứng” do các địa phương tấu lên với triều đình trung ương của nhà Tùy. Trong khi đó, địa điểm Pháp Hiền cho xây dựng các tháp xá lợi năm 604 theo Thiền uyển tập anh là chùa Pháp Vân và một số chùa khác tại Phong châu, Trường châu, Ái châu, Hoan châu. Điều này cho thấy việc xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng vào năm 601 là có thực và là một sự kiện hoàn toàn khác biệt so với việc Pháp Hiền tổ chức xây dựng tháp xá lợi tại chùa Pháp Vân năm 604.
2.4. Tiểu kết – Đánh giá về bia Bắc Ninh:
              Khi xem xét bối cảnh lịch sử đương thời cũng như nội dung các tư liệu hiện còn lưu giữ được, có thể nói xác suất để xảy ra khả năng thứ nhất và thứ hai là rất thấp, hay nói cách khác, việc coi niên đại khắc trên bia Bắc Ninh chính là niên đại thực của tấm bia vẫn là khả năng có tính hiện thực và thuyết phục cao nhất ở thời điểm hiện tại.
              Với tình hình tư liệu hiện nay, có thể tạm thời xác nhận đây là văn bia hiện còn lưu giữ được có niên đại cổ nhất Việt Nam. Niên đại 601 của văn bia này sớm hơn 17 năm so với tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn có niên đại năm 618 đã được GS.Đào Duy Anh phát hiện tại Thanh Hóa năm 1960. Bia Bắc Ninh thuộc cùng nhóm các văn bia liên quan đến chuỗi sự kiện Tùy Văn Đế cho phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp trong niên hiệu Nhân Thọ đầu thời Tùy. Chính vì vậy, chúng tôi kiến nghị gọi tên tấm bia này là bia/minh văn Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp 交州仁寿舎利塔銘.
              Sự thống nhất về câu chữ trong minh văn cho thấy bên cạnh thiết kế tháp xá lợi, qui cách tổ chức nghi lễ, chính quyền trung ương của nhà Tùy đã biên soạn trước nội dung minh văn để phân phát cho các địa phương. Mặt khác, kích thước bia, kiểu chữ khắc lại có sự khác biệt tùy từng địa phương. Việc tìm thấy minh văn Giao châu giúp tái khẳng định ý kiến của học giả Nhật Bản Kegazawa Yasunori cho rằng nhà Tùy chỉ đóng vai trò biên soạn nội dung minh văn, còn việc khắc bia được giao về các địa phương (Kegasawa Yasunori, 2011). Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp đã được khắc tại Việt Nam.
3. Tháp Nhân Thọ xá lợi ở Giao châu và mối quan hệ với dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
              Như đã trình bày ở trên, với Giao châu, Tùy Văn Đế không chỉ định địa điểm xây tháp mà để cho chính quyền Giao châu tự lựa chọn. Vậy tại sao chùa Thiền Chúng, một ngôi chùa mới xây dựng vào thời điểm đó lại được lựa chọn?
              Điều này trước tiên bắt nguồn từ mối liên hệ trực tiếp giữa Tỳ Ni Đa Lưu Chi – sư phụ của Pháp Hiền với chính sách phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế. Như các học giả Nguyễn Lang (1974) và Lê Mạnh Thát (1976) đã đề cập, theo các sách Lịch đại tam bảo ký[29]Tục Cao tăng truyện, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đến nhà Tùy và được chính vua Tùy mời dịch các kinh Tượng đầu tinh xá và Đại thừa phương quảng tổng trì dưới tên hiệu là Diệt Hỷ. Theo Lịch đại tam bảo ký và Thích thị thông giám, Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch xong kinh Tượng đầu vào tháng 2, và dịch xong kinh Tổng trì vào tháng 7 năm Khai Hoàng 2 (582).
              Sử liệu: Lịch đại tam bảo ký, Q.12
象頭精舍經一卷                 開皇二年二月譯
大乘方廣總持經一卷         開皇二年七月譯
右二部二卷、北天竺烏場國三藏法師毘尼多流支、隋言滅喜。既聞我皇興復三寶。故能不遠五百由延。振錫巡方來觀盛化至止。便召入令翻經。即於大興善寺譯出。給事李道寶般若流支次子曇皮二人傳譯。大興善寺沙門長安釋法纂筆受為隋言。并整比文義。沙門彥琮並皆製序。
              Tạm dịch:
Tượng đầu tịnh xá kinh 1 quyển (dịch tháng 2 năm Khai Hoàng 2 – 582)
Đại thừa phương quảng tổng trì kinh 1 quyển (dịch tháng 7 năm Khai Hoàng 2 – 582)
Hai bộ hai quyển kinh trên do Tam tạng pháp sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tiếng Tùy gọi là Diệt Hỷ, người nước Ô Dương Bắc Thiên Trúc dịch. Sư nghe tin Hoàng thượng ta [tức Tùy Văn Đế] hưng phục Tam bảo… (Tùy Văn Đế) bèn mời vào lệnh cho dịch kinh. Dịch tại chùa Đại Hưng Thiện. Cấp sự Lý Đạo Bảo, con thứ của Ban Nhược Lưu Chi là Đàm Bì hai người truyền dịch. Sa môn chùa Đại Hưng Thiện Trường An Thích Pháp Toản chấp bút thành tiếng Tùy và chỉnh lý văn nghĩa. Sa môn Ngạn Tông viết lời tựa cho cả 2 bộ kinh.
              Ở đây, chúng ta cần lưu ý một điểm rất quan trọng là Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã tham gia vào hoạt động dịch thuật của chính quyền trung ương nhà Tùy sau khi đã có một thời gian hoạt động tại Giao châu.
              Theo những ghi chép của Thiền uyển tập anh, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến kinh đô Trường An của nhà Trần từ năm 574 (Thái Kiến 2). Gặp lúc Chu Võ Đế phá diệt Phật pháp, ông bèn theo lời khuyên của Tăng Xán xuống phía Nam. Ông lưu lại chùa Chế Chỉ ở Quảng Châu trong 6 năm, dịch xong kinh Tượng đầu. Sau đó, ông đến chùa Pháp Vân tại Việt Nam vào tháng 3 năm 580 (Chu Đại Tượng 2, Canh Tí). Tại đây, ông thu nạp đệ tử Pháp Hiền và dịch xong kinh Tổng trì (tức Đại thừa phương quảng tổng trì)[30].
       Trước đây, các tư liệu nêu trên đã được học giả Nguyễn Lang chú ý đến khi ông viết bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, đứng từ quan điểm nghiên cứu Phật giáo, Nguyễn Lang chủ yếu quan tâm đến vấn đề kinh Tổng trì như vậy đã được dịch tại Việt Nam (như sách Thiền uyển tập anh chép) hay Trung Hoa (như các tài liệu Trung Quốc, mà tiêu biểu là Thích thị thông giám chép). Nguyễn Lang cũng đặt nghi vấn không rõ thời điểm Tỳ Ni Đa Lưu Chi lần đầu tiên đến Việt Nam là vào năm 580 (như Thiền uyển tập anh chép) hay sau năm 582, sau khi đã dịch kinh Phật ở kinh đô Đại Hưng của nhà Tùy (theo ghi chép của Thích thị thông giám)[31].
              Các nghi vấn mà Nguyễn Lang đưa ra xuất phát từ vấn đề ông quan niệm rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi chỉ đến Việt Nam sau khi đã tham gia hoạt động dịch thuật kinh Phật ở nhà Tùy. Từ đó dẫn đến việc ông không giải thích được tại sao theo Thiền uyển tập anh, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Việt Nam từ năm 580 mà theo các nguồn tài liệu của Trung Quốc, đến năm 582, Tỳ Ni Đa Lưu Chi lại có thể dịch kinh ở kinh đô Đại Hưng, do đó Nguyễn Lang buộc phải đi đến lựa chọn một trong hai tư liệu, hoặc Thiền uyển tập anh hoặc Thích thị thông giám, và phủ định tư liệu còn lại. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, có thể thấy các ghi chép của Thiền uyển tập anh và Thích thị thông giám hoàn toàn không có điểm gì mâu thuẫn với nhau. Nếu đặt các sự việc theo trục thời gian, cần phải hiểu rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Việt Nam từ năm 580, đúng như ghi chép của Thiền uyển tập anh, ở lại chùa Pháp Vân một thời gian, sau đó khi được tin Tùy Văn Đế tiến hành chính sách phục hưng Phật giáo, ông đã quay trở lại Trung Quốc. Trong thời gian quay lại Trung Quốc đó, ông đã được mời tham gia hoạt động dịch kinh sách tại kinh đô Đại Hưng và hoàn thành công việc dịch 2 bộ kinh Tượng đầu và Tổng trì vào tháng 2 và tháng 7 năm 582. Nếu giải thích theo hướng này, chúng ta cũng giải quyết được vấn đề của kinh Tổng trì mà Nguyễn Lang thắc mắc. Có thể cho rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch kinh Tổng trì ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Ông bắt đầu công việc dịch thuật tại chùa Pháp Vân ở Giao châu theo đúng ghi chép của Thiền uyển tập anh, và sau đó chính thức hoàn thành công trình này khi ông quay trở lại Trung Quốc và được mời tham gia vào công việc dịch thuật tại chùa Đại Hưng Thiện. Sau đó, ông lại quay trở lại chùa Pháp Vân và mất ở đây vào năm 594.
              Như vậy, chúng ta thấy rằng sau một thời gian hoạt động tại chùa Pháp Vân ở Việt Nam, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã quay trở lại Trung Quốc và tham gia trực tiếp vào các hoạt động phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế ngay tại kinh đô Đại Hưng. Chắc chắn là khi quay trở lại Trung Quốc, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã mang theo những tri thức mà ông nắm được về hoạt động Phật giáo tại Giao châu. Danh tiếng của Tỳ Ni Đa Lưu Chi cũng như mối liên hệ của vị danh tăng này với chính quyền nhà Tùy là một trong những lý do dẫn đến việc chính quyền Lý Phật Tử lựa chọn chùa Thiền Chúng để xây dựng tháp xá lợi năm 601.
              Đệ tử của Tỳ Ni Đa Lưu Chi – Pháp Hiền chắc chắn cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động xây dựng tháp xá lợi năm 601. Như đã trình bày ở phần trước, đối với Giao châu, Tùy Văn Đế không chỉ định vị trí xây tháp mà để cho Giao châu lựa chọn, và ngôi chùa được chọn là chùa Thiền Chúng. Tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 2012, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hà khi bàn về bia xá lợi 601 cũng đã nhắc đến Pháp Hiền với tư cách là “trụ trì” của chùa Thiền Chúng (Nguyễn Quang Hà, 2012)[32]. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng không chỉ là “trụ trì”, Pháp Hiền còn chính là người sáng lập chùa Thiền Chúng. Nguyên văn văn bản của Thiền uyển tập anh viết rất rõ: ” Khi (Tỳ Ni Đa Lưu) Chi tịch rồi, sư thẳng vào núi ấy, tu tập thiền định, hình như cây khô, vật, ngã đều quên, chim bay đến chầu, dã thú vây quanh. Người đương thời nghe tiếng đến học, không thể đếm xiết. Nhân đó, sư lập chùa [sáng tự], dạy dỗ học trò. Tăng chúng đến ở thường hơn 300″[33].
              Tóm lại, chúng ta thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà chùa Thiền Chúng lại được lựa chọn để xây dựng tháp xá lợi của nhà Tùy vào năm 601. Chùa Thiền Chúng được lựa chọn vì:
              Thứ nhất, chùa Thiền Chúng nằm trong dòng thiền của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một vị cao tăng đã từng tham gia dịch thuật kinh sách ở kinh đô nhà Tùy và có mối liên hệ mật thiết với chính sách phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế.
              Thứ hai, sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi chết, đệ tử của ông là Pháp Hiền đã hoằng dương pháp môn của dòng thiền này, sáng lập ra chùa Thiền Chúng và biến nó trở thành một trung tâm Phật giáo lớn, mà theo Thiền uyển tập anh, số lượng tăng chúng thường cư trú lên đến hơn 300. Số lượng tăng chúng đông đảo này thỏa mãn điều kiện huy động sư sãi (nhiều nhất là 360 người, các mức tiếp theo là 240 hoặc 120 người) để tham gia nghi lễ xây tháp xá lợi của nhà Tùy.
              Thứ ba, Pháp Hiền không chỉ tinh thông pháp môn của Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà còn là một người đã có kinh nghiệm trong việc xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu. Theo Thiền uyển tập anh, sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch, chính Pháp Hiền đã “làm lễ trà tỳ, thu xá lợi 5 sắc, xây tháp để thờ”. Đó là vào “năm Giáp Dần, đời Tùy Khai Hoàng năm 14 (594)”[34], tức là 7 năm trước khi Tùy Văn Đế xuống chiếu cho xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu.
5. Các tháp xá lợi được xây dựng tại Việt Nam dưới thời Tùy – Đường
              Trên đây, chúng tôi đã so sánh văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp với các minh văn tương tự tìm thấy tại Trung Quốc. Trên cơ sở những nhận thức mới đạt được qua nghiên cứu so sánh, chúng tôi muốn tổng hợp và đánh giá lại một số di tích và hiện vật tháp xá lợi có niên đại từ nửa cuối thế kỷ VI đến hết thế kỷ IX tại Việt Nam (tương đương với thời Tùy – Đường).
5.1. Các tháp xá lợi được xây dựng vào thời Tùy
              Tháp xá lợi đầu tiên được xây dựng trong giai đoạn này có lẽ là tháp an trí xá lợi của thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, do đệ tử của ông là sư Pháp Hiền xây dựng tại chùa Pháp Vân vào năm 594. Đến năm 601, Pháp Hiền tiếp tục tham gia việc xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng, thuộc huyện Long Biên, Giao châu. Theo Thiền uyển tập anh, sau khi Lưu Phương tiêu diệt chính quyền Lý Phật Tử, dưới sự tiến cử của Lưu Phương, vua Tùy đã chuyển đến Giao châu 5 hòm xá lợi. Pháp Hiền đã xây tháp an trí 5 hòm xá lợi này tại chùa Pháp Vân (Giao châu) và các châu Phong, Trường, Ái, Hoan. Như vậy, riêng tại chùa Pháp Vân ở Giao châu đã tồn tại hai tháp xá lợi, một của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một của nhà Tùy.
              Sang đến thời Lý, một trong hai tháp xá lợi này đã được khai quật. Theo Đại Việt sử lược, năm Giáp Tuất (1034), “sư ở chùa Pháp Vân tại Cổ châu tâu lên rằng: trong chùa phát ra mấy đạo tia sáng, theo tia sáng mà đào thì thấy một hòm bằng vàng, một hòm bằng đá, trong hòm đá có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng, trong hòm vàng có bình lưu ly, trong bình có xá lợi”[35]. Ở đây, chúng ta thấy xuất hiện bình lưu ly, tức là có điểm tương đồng với qui chế an trí xá lợi năm 601, nhưng mặt khác, lại có thêm một lớp hộp bạc. Kết hợp với các thông tin về tháp xá lợi của chùa Pháp Vân nêu trên, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng xá lợi được khai quật năm 1034 là xá lợi do Pháp Hiền cho hạ thổ năm 604 dưới thời Tùy.
5.2. Các tháp xá lợi được xây dựng vào thời Đường
              Trong hai năm 1985-1986, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật di chỉ Nhạn tháp (thôn Nhạn Tháp, xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Tại di chỉ này đã phát hiện được hòm vàng có hoa văn đựng xá lợi, dài 12cm, rộng 8cm, cao 8cm. Hòm vàng này lại được đặt trong lòng một hòm đồng trơn, 12cm, rộng 8cm, cao 8cm. Hòm đồng nằm trong một thân cây khoét rỗng cao 1,37m, chôn ở chính tâm lòng tháp[36].
              Qua các ghi chép khảo cổ học, chúng ta thấy cách thức chôn xá lợi tại Nhạn Tháp chỉ có 3 lớp: thân cây, hòm đồng, hòm vàng, khác với qui cách chôn hòm xá lợi của thời Tùy (ít nhất phải có 1 lớp hòm đá). Ngoài ra, tại di tích này cũng tìm được một số viên gạch có chữ, trong đó có minh văn “Trinh Quán lục niên” 貞観六年 (627). Tổng hợp các nguồn thông tin nêu trên, chúng tôi cho rằng đây là một tháp xá lợi thời Đường.
              Liên quan đến lòng thân cây khoét rỗng, trước đây GS. Hà Văn Tấn từng đặt vấn đề: cách thức chôn như vậy “gợi chúng ta nhớ đến tục chôn người chết trong những quan tài khoét bằng thân cây trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Các tháp Xá Lị vẫn được coi là tháp mộ, khác với các tháp kỷ niệm. Phải chăng ở đây, có sự tiếp hợp giữa Phật giáo với những truyền thống bản địa lâu đời ?” (Hà Văn Tấn, 1993). Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kosugi Yasuo (1934), từ thời Lục Triều tại Trung Quốc, khi xây dựng tháp Phật, người ta thường lập một trụ gỗ nhỏ ở trung tâm để đánh dấu vị trí xây tháp, gọi là “đả sát”. Cách xây dựng này kéo dài đến tận thời Tùy – Đường. Hai chữ “đả sát” cũng xuất hiện trong chiếu thư xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp của Tùy Văn Đế mà chúng tôi đã giới thiệu ở phần đầu bài viết. Như vậy, cách thức xây dựng “đả sát” muộn nhất đã được truyền đến Giao châu từ năm 601, thân cây khoét rỗng mà chúng ta tìm được tại di chỉ Nhạn Tháp có lẽ cũng là một dạng “đả sát” của tháp xá lợi và không có nhiều liên hệ đến văn hóa Đông Sơn.
              Ngoài ra, liên quan đến hai hạt xá lợi màu trắng phát hiện trong hòm xá lợi ở Nhạn Tháp, chúng tôi cũng muốn lưu ý đến cách phân biệt xá lợi trong sách Pháp uyển chu lâm do sư Đạo Thế soạn vào năm Tổng Chương 1 (668) thời Đường. Theo đó, xá lợi vốn được chia làm 3 loại, thứ nhất là xá lợi xương, có màu trắng, thứ hai là xá lợi tóc, có màu đen, thứ ba là xá lợi thịt, có màu đỏ[37]. Nếu theo cách phân biệt này, hai viên xá lợi của Nhạn Tháp thuộc loại xá lợi xương.
              Ngoài di chỉ Nhạn Tháp, gần đây, trong quá trình điều tra các viên gạch có chữ Hán tại Hoàng thành Thăng Long, chúng tôi phát hiện được một viên gạch Đại La có minh văn như sau:
1            □和四年十一匚
2      塔元安 佛匚
3      善崇善寺匚
4      □會寺僧匚
5      塔左匚
Phiên âm:
1            […] Hòa tứ niên thập nhất […]
2            tháp nguyên an Phật […]
3            thiện Sùng Thiện tự […]
4            […] hội tự tăng […]
5            tháp tả […]
              Viên gạch nói trên không có ghi số hiệu khai quật, có lẽ đã bị bỏ sót trong quá trình chỉnh lý hiện vật. Dòng đầu tiên ghi niên hiệu “.. Hòa tứ niên”. Chữ đầu tiên bị mất một phần (có lẽ do bị cuốc vào khi khai quật). Tuy nhiên, nếu dựa vào 2 nét bên dưới còn sót lại, kết hợp với niên đại Đại La, chúng tôi cho rằng chữ này chỉ có thể là chữ “Nguyên” 元. Nếu suy đoán của chúng tôi là đúng, dòng niên đại trên viên gạch là tháng 11 năm Nguyên Hòa 4, tức năm 809 thời Đường. Năm 809 là năm dưới thời An Nam Đô hộ Trương Chu[38].
              Dòng thứ hai đáng tiếc cũng bị mất các chữ cuối. Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy có từ “tháp nguyên an Phật …”, tức là “tháp vốn an (trí) Phật …”. Đặc biệt, sau chữ “an” người viết để trống một chữ để thể hiện sự kính trọng rồi viết tiếp chữ “Phật”. Mạch văn, khuyết tự thể hiện ý kính trọng và chữ “an” khiến chúng tôi ngờ rằng chữ tiếp theo là chữ “tượng” hoặc “xá lợi”.
              Việc tìm thấy viên gạch có minh văn nêu trên không chỉ giúp khẳng định giả thuyết trước đây của chúng tôi cho rằng phủ thành An Nam dưới niên hiệu Nguyên Hòa thời Đô hộ Trương Chu đã nằm tại vị trí 18 Hoàng Diệu, mà còn hé lộ cho chúng ta sự tồn tại của một tòa tháp, nhiều khả năng là tháp xá lợi được xây dựng vào đầu thế kỷ IX ở An Nam. Tháp xá lợi này có liên hệ nào đó đến một ngôi chùa cùng thời có tên là chùa Sùng Thiện.
Ảnh: Thác bản viên gạch phát hiện được tại Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long
              Đến nửa cuối thế kỷ IX, theo ghi chép của sách An Nam chí, tương truyền An Nam Đô hộ Cao Biền đã cho xây dựng tháp trên núi Đông Cứu (tức núi Thiên Thai, Gia Lương, Bắc Ninh)[39]. Theo Trần Cương Trung thi tập, khi sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu sang Việt Nam vào năm 1293 vẫn còn thấy tháp đá do Cao Biền xây dựng nằm bên trái “Phú Lương giang Thượng Kiều thị”[40], mà hiện nay chúng ta không rõ ở đâu.
              Kết luận
              Sự kiện phát hiện văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp năm 601 tại Bắc Ninh có ý nghĩa vô cùng quí giá. Qua nghiên cứu so sánh với các văn bia Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được tại Trung Quốc, chúng tôi cho rằng với điều kiện tư liệu hiện tại, có thể cho rằng đây chính là văn bia được chế tác năm 601 cùng với sự kiện Tùy Văn Đế cho xây dựng bảo tháp xá lợi năm Nhân Thọ 1 (601) tại Giao châu.
              Với niên đại 601, văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp tìm thấy tại Bắc Ninh đã thay thế văn bia Đại Tùy Cửu Chân Bảo An đạo tràng chi bi văn (bia Trường Xuân) có niên đại năm 618 ở Thanh Hóa, trở thành văn bia có niên đại cổ nhất Việt Nam.
              Đây là nguồn tư liệu kim thạch văn quí giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia được cho là tìm thấy tại khu vực Vạn Xoan trước đây[41], giúp nghiên cứu về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Trên cơ sở khảo sát minh văn Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp, kết hợp với một nguồn tư liệu từ trước đến nay chưa được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến là mộ chí của Tô Hiếu Từ, chúng tôi đã chi ra được một số vấn đề quan trọng về lịch sử chính trị giai đoạn này. Thứ nhất, không phải đợi đến năm 602 mà ngay từ thời điểm tháng 6 năm 601, nhà Tùy đã ý thức về sự tồn tại của chính quyền độc lập của Lý Phật Tử và có ý đồ xâm lược Giao châu. Trong bối cảnh đó, việc vua Tùy xuống chiếu cử sứ giả hộ tống xá lợi đến Giao châu xây tháp vào ngày 10 tháng 6 năm 601 không đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, mà còn ẩn chứa một ý đồ chính trị sâu xa là nhằm kiểm tra sự thần phục của Lý Phật Tử đối với nhà Tùy. Cũng cần đánh giá việc Lý Phật Tử tổ chức đón tiếp đoàn sứ giả của vua Tùy vào năm 601 như một bước đi về mặt chính trị – ngoại giao nhằm kéo dài thời gian để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tùy diễn ra sau đó.
              Ngoài ra, minh văn cũng giúp chúng ta có được nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng liên quan trong giai đoạn thuộc Tùy – Đường.
              Văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp cũng là một tài liệu quan trọng bổ sung cho nghiên cứu lịch sử giao thông thời Bắc thuộc. Chiếu thư Tùy Văn Đế phát ra vào ngày 13 tháng 6, ước hẹn các địa phương cùng hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10. Như vậy, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ giả hộ tống xá lợi di chuyển từ kinh đô Đại Hưng (Trường An) đến các địa phương, xa nhất là Giao châu. Nói cách khác, quãng thời gian 124 ngày (từ 13 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10) là quãng thời gian tối đa để di chuyển từ Trường An đến Giao châu. Trước đây, qua nghiên cứu về trường hợp của khởi nghĩa Dương Thanh, chúng tôi đã tính toán di chuyển từ Trường An đến An Nam Đô hộ phủ mất khoảng 59-70 ngày nếu di chuyển bằng đường biển và dịch trạm, khoảng 124 ngày nếu di chuyển với tốc độ thông thường (Phạm Lê Huy, 2012).
              Trên phương diện địa lý học lịch sử, văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp là một tư liệu có giá trị tham khảo cao trong việc xác định vị trí chính xác của các tòa thành Luy Lâu và Long Biên thời Bắc thuộc. Văn bia được tìm thấy ở thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, chỉ cách di tích thành cổ Lũng Khê – “Luy Lâu” khoảng 2km về phía Tây. Đây là một cứ liệu quan trọng góp phần nghiên cứu xác định vị trí huyện Long Biên thời Nam triều và Tùy cũng như quan hệ giữa thành Long Biên và thành Luy Lâu mà giới khoa học Việt Nam đã thảo luận lâu nay[42].
              Đây là bia có nắp đầu tiên tìm thấy ở VN, thuộc loại hình bia tháp xá lợi, được chôn dưới chân tháp. Từ trước đến nay, giới khoa học Việt Nam đã tìm thấy nhiều bia có nắp trong các đình, chùa, đền từ thời Lê về sau, thường gắn vào tường. Trong bối cảnh đó, bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp cung cấp thêm tư liệu để nghiên cứu về quá trình ra đời và phát triển của loại hình bia có nắp ở Việt Nam.
              Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia này cũng là nguồn tư liệu quí giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung. Cụ thể, nó giúp xác nhận lại địa điểm xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu (chùa Thiền Chúng), cách thức triển khai (triều đình trung ương gửi mẫu văn bản, chính quyền địa phương tự khắc bia), cũng như cung cấp một số thông tin mới về sứ giả hộ tống (trong trường hợp Giao châu là Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy).
Tài liệu tham khảo
Kosugi Kazuo, Về việc an trí xá lợi Phật tại các tháp Phật thời Lục triều, Hiệp hội Học thuật Đông phương, 1934
Đào Duy Anh, Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý, Tạp chí NCLS, 50(5), 1963
Trần Quốc Vượng – Vũ Tuân Sán, Bàn thêm về thành Thăng Long thời Lý – Trần, Tạp chí NCLS, 4, 1966.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Lá Bối, 1974 (NXB Văn học in lại năm 2000)
Trần Anh Dũng – Nguyễn Mạnh Cường, Tháp Nhạn ở Nghệ Tĩnh qua hai lần khai quật, Tạp chí Khảo cổ học, 3, 1987
Hà Văn Tấn, Chùa Việt Nam, NXB KHXH, 1993 (NXB Thế giới in lại năm 2010)
Lưu Á Vận, Phát hiện khảo cổ tháp xá lợi chùa Tiên Du, Trung Quốc văn vật báo, số ngày 22 tháng 11 năm 1998.
劉呆運「仙游寺舍利塔的考古発見」(『中国文物報』1998年11月22日)
Lý Á Tân, Bí ẩn tháp Pháp Vương, Tạp chí Kiều, 1, 1999
李亜新「法王塔之謎(下)」(『橋』1999年第一期)
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh (in lại bản của Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn 1976), 19999
Kegasawa Yasunori, Việc cắt giảm học hiệu và Cúng dường xá lợi năm Nhân Thọ nguyên niên (601) thời Tùy, Tạp chí Sử họcTra Surudai, 111 (2), 2001
氣賀澤保規「隋仁寿元年(601)の学校削減と舎利供養」(『駿台史学 』111(2)、2001年
Lê Thị Liên, Buddhism in Vietnam during the 1st millennium A.D. from archaeological evidence,  Transactions of the International Conference of Eastern Studies, No.48 (2003)
Nakamura Nobuo, Khảo sát về minh văn Nhân Thọ xá lợi tháp – Xung quanh minh văn Đại Tùy hoàng đế Tử châu xá lợi tháp, Tập san Nghiên cứu Mỹ thuật, 25, 2004
中村伸夫「仁寿舎利塔銘に関する一考察–羅振玉旧蔵<大随皇帝梓州舎利塔銘>をめぐって」(『芸術研究報』37、2004年
Dương Hoằng, Địa cung tháp xá lợi và đồ đựng xá lợi Trung Quốc thời Bắc Triều – Tùy – Đường, Tạp chí Lịch sử và Văn hóa (Đại học Tohoku Gakuin), 40, 2006
楊泓「中国北朝・隋・唐時代の舎利塔地宮と舎利容器」『(東北学院大学論集)歴史と文化』第40号、2006年
Phạm Lê Huy, Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, 401(9)-402(10), 2009
Nishimura Masanari, Khảo cổ – Cổ đại học Việt Nam, NXB Doseisha, 2011
西村昌也『ベトナムの考古・古代学』(同成社、2011年)
Phạm Lê Huy, Diện mạo và vị trí địa lý An Nam Đô hộ phủ thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, 429(1) – 430(2), 2012
Phạm Lê Huy, Nghiên cứu giao thông thời Đường qua trường hợp An Nam Đô hòmhủ, Kỷ yếu Hội thảo Giao hưởng Cổ đại II, Đại học Meiji, 2012
Hida Romi, Oshima Sachio, Ono Eiji, Tùy Nhân Thọ xá lợi tháp nghiên cứu dự thuyết (Chú thích và nghiên cứu tác phẩm Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục với tư cách là một nguồn sử liệu mỹ thuật – 5): Xá lợi Cảm ứng lục, Nhân Thọ xá lợi tháp thiên (phần đầu)), Nghiên cứu Mỹ thuật Nara, 12, 2012
肥田路美、大島幸代、小野英二「美術史料として読む『集神州三宝感通録』 : 釈読と研究(5)舎利感通篇、仁寿舎利塔篇(前半)(美術史料として読む『集神州三宝感通録』 : 釈読と研究(5)舎利感通篇、仁寿舎利塔篇(前半))(『奈良美術研究』12、2012年
Nguyễn Quang Hà, Về tấm bia thời Tùy (601) mới phát hiện, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Lê Viết Nga, Về hai cổ vật niên đại thời Tùy tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Nguyễn Đạt Thức, Về niên đại của Bia tháp Xá Lị, chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao Châu, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Phạm Lê Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí NCLS (sắp đăng)
Phụ chú: Xung quanh việc tìm kiếm các tư liệu về Nhân Thọ xá lợi tháp và các kết quả điều tra khảo cổ học tại Trung Quốc, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn của TS. Kawakami Mayuko (cán bộ nghiên cứu Đại học Kyoto), ThS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện Hán Nôm). Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được sự hỗ trợ rất lớn của các cán bộ Viện Khảo cổ học, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Bảo tàng Nghệ An trong quá trình điều tra các hiện vật liên quan. Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp nêu trên.

 


[1] 「皇帝昔在潛龍、有婆羅門沙門來詣宅、出舍利一裏曰、檀越好心、故留與供養、沙門既去、求之不知所在、其後皇帝與沙門曇遷、各置舍利於掌而數之、或少或多、並不能定、曇遷曰、曾聞婆羅門說法身過於數量非世間所測、於是始作七寶箱、以置之」(『廣弘明集』卷第十七)。
[2]「雍州於仙遊寺起塔、天時陰雪、舍利將下日便朗照、始入函、雲復合」(『集神州三寶感通錄』卷上)。
[3] Nguyên văn: “tứ bộ chúng” 四部衆, chỉ các đệ tử của nhà Phật là tỳ khâu, tỳ khâu ni, cư sĩ nam (ưu bà tắc), cư sĩ nữ (ưu bà di).
[4]「皇帝於是親以七寶箱、奉三十舍利、自内而出置於御座之案、與諸沙門燒香禮拜、願弟子常以正法護持三寶、救度一切眾生、乃取金瓶琉璃各三十、以琉璃盛金瓶、置舍利於其内、薰陸香為泥、塗其蓋而印之、三十州同刻十月十五日正午入於銅函石函、一時起塔、諸沙門各以精勤、奉舍利而行、初入州境先令家家灑掃覆諸穢惡。道俗士女傾城遠迎、總管刺史諸官人、夾路步引、四部大眾容儀齊肅、共以寶蓋旛幢華臺像輦佛帳佛輿香山香缽種種音樂、盡來供養、各執香華或燒或散。圍繞讚唄梵音和雅、(中略)沙門對四部大眾作是唱言、至尊以菩薩大慈無邊無際哀愍眾生切於骨髓、是故分布舍利共天下同作善因、又引經文種種方便。訶責之教導之、(中略)大眾一心合掌右膝著地、沙門乃宣讀懺悔文曰、(中略)舍利將入函、大眾圍遶填噎、沙門高奉寶瓶巡示四部」(『廣弘明集』卷第十七)。
[5] Bắc đồ: Bắc Kinh đồ thư quán lịch đại thạch khắc thác bản vựng biên 北京図書館歴代石刻拓本彙编。
[6] Chữ “Duy” được sử dụng khá phổ biến như lời mở đầu trong Hán văn. Cách viết “duy” + niên hiệu có thể thấy trên rất nhiều minh văn thời Tùy – Đường, ở Việt Nam tiêu biểu là chuông Thanh Mai đúc năm 798. Một số bài viết dịch chữ “duy” là “trước (năm Nhân Thọ nguyên niên…)” là không chính xác.
[7] Chữ Tân được viết dưới dạng dị thể .
[8] Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu: một số bài viết nhầm Tân Hợi là can chi của tháng 10. Thật ra đây là một cách viết rất phổ biến vào thời Tùy Đường, trước khi nêu can chi của một ngày cụ thể, viết can chi của ngày sóc (tức ngày mùng 1). Trong trường hợp này, ngày sóc (ngày mùng 1) của tháng 10 năm Nhân Thọ nguyên niên có can chi là ngày Tân Hợi, ngày 15 (thập ngũ nhật) là ngày Ất Sửu. Điều này có thể kiểm chứng dễ dàng qua bảng tính can chi.
[9] Hoàng đế tức Dương Kiên, Hoàng hậu tức Độc cô thị.
[10] Chữ “nguyện” được viết dưới dạng dị thể hoặc .
[11] Thái Tổ Võ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu chỉ bố mẹ của Tùy Văn Đế là Dương Trung và Lữ thị. Theo Tùy thư (Q.1, Cao Tổ kỷ thượng), tháng 2 năm 581 (Khai Hoàng 1), Tùy Văn Đế truy tôn cha (hoàng khảo) là Võ Nguyên Hoàng đế, đặt miếu hiệu là Thái Tổ, mẹ là Nguyên Minh Hoàng hậu. 「(開皇元年二月)乙丑、追尊皇考為武元皇帝、廟號太祖、皇妣為元明皇后」(『隋書』卷一、高祖上、開皇元年二月乙丑条)。
[12] Hoàng thái tử vào thời điểm này là Dương Quảng (sau là Tùy Dạng Đế). Trước đó, vào tháng 10 năm 600 (Khai Hoàng 20), Tùy Văn Đế phế Hoàng thái tử Dương Dũng và các con làm thứ dân, sang tháng 11 lấy Tấn vương Dương Quảng làm Hoàng Thái tử. 「乙丑,皇太子勇及諸子並廢為庶人」、「晉王廣為皇太子」(『隋書』 卷二、 高祖下、 開皇二十年十月乙丑条、十一月戊子)。
[13] Viên cập (爰及): chữ này cũng xuất hiện trong sắc chỉ của Tùy Văn Đế.
[14] Chữ “thứ” được viết dưới dạng dị thể .
[15] Lục đạo là “Thiên đạo”, “Nhân đạo”, “A tu la đạo”, “Súc sinh đạo”, “Ngạ quỉ (quỉ đói) đạo”, “Địa ngục đạo”. Ba đạo đầu là “tam thiện đạo”, ba đạo sau là “tam ác đạo”, cũng gọi là “tam đồ” (súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục).
[16] Một số báo cáo trình bày trong Hội nghị Thông báo Khảo cổ học đọc nhầm là “Vi” 微. Tuy nhiên, qua quan sát trên văn bia và thác bản, có thể nhận thấy đây là chữ Huy 徽.
[17] Chữ “khởi” được viết dưới dạng dị thể .
[18]「交阯郡 龍編 武寧 望海 句漏(後略)」(『南齊書』卷十四、志六、州郡上、交州)。「封慧度龍編縣侯食邑千户」(『宋書』卷九十二、列傳五十二、杜慧度)。Ngoài ra, địa danh Long Biên cũng xuất hiện nhiều lần trong sách Tấn thư và Tùy thư (đặc biệt là sự kiện Lý Phật Tử sai Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên để chống quân Tùy). Tuy nhiên, do cả hai bộ chính sử này đều được tổ chức biên soạn dưới thời Đường nên ở đây chúng tôi không sử dụng chúng làm căn cứ để chứng minh cho sự tồn tại của địa danh “Long Biên” trước thời Đường.
[19] Tại Quảng Tây (Trung Quốc) trước đây đã phát hiện được một viên gạch có chữ “Vĩnh Hòa lục niên thái tuế Canh Tuất Mạc Long Biên hầu chi mộ” 永和六年太歲庚戌莫龍编侯之墓. Quan điểm phố biến hiện nay coi chức “Long Biên hầu” này chỉ địa danh “Long Biên” của Giao Chỉ thời Đông Tấn. Xin tham khảo thêm Hán Ngụy Nam Bắc triều mộ chí vựng biên, NXB Thiên Tân, 1993, tr.19.
[20] Với hai chữ “sắc sứ” 敕使 trong minh văn Giao châu, có thể có hai cách đọc. Thứ nhất là đọc “sắc sứ” như một danh từ (chỉ sứ giả cầm theo sắc chỉ của nhà vua, giống minh văn Thanh châu) hoặc đọc tách “sắc, sử”, chữ “sứ/sử” ở đây đóng vai trò như một động từ nghĩa là “sai”, ghép với đoạn phía sau “tống xá lợi ư thử khởi tháp”, nghĩa là “sắc sai Tuệ Nhã, Khương Huy đưa xá lợi đến đây dựng tháp”. Chúng tôi nghiêng về cách đọc thứ hai.
[21] 「其散官文騎尉為承議郎、屯騎尉為通直郎、雲騎尉為登仕郎、羽騎尉為將仕郎」(『舊唐書』卷四十二、職官一)。
[22] Xung quanh vấn đề này, một số nhà nghiên cứu cũng đặt vấn đề nghiên cứu từ góc độ chữ húy. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, trên văn bia không tồn tại chữ húy. Hơn nữa, nếu văn bia được chế tác theo các mẫu văn bia trước đó thì việc rập khuôn chữ húy có thể xảy ra, do đó chữ húy không phải là yếu tố quyết định để khẳng định niên đại của văn bia.
[23] Lê Mạnh Thát (1999), chú thích 4 truyện Thiền sư Pháp Hiền, tr.502.
[24] Theo Tùy thư, cuộc khởi nghĩa của Lý Phật Tử nổ ra vào tháng 12 năm 602 (Nhân Thọ 2). 「交州人李佛子舉兵反,遣行軍總管劉方討平之」(『隋書』卷二、高祖下、仁壽二年十二月癸巳条)。
[25] Về vấn đề này, xin tham khảo thêm Đào Duy Anh (1963).
[26] 「熙以州縣多有同名者、於是奏改安州為欽州、黃州為峯州、利州為智州、德州為驩州、東寧為融州、上皆從之」(『隋書』卷五十六、令狐熙傳)。
[27] 「仁壽元年遷授使持節總管吉江虔饒袁撫七州諸軍事洪州刺史(中略)時桂部侵擾[交]川擁據、詔授公交州道行軍總管、方弘九伐、遽縶千里、遘疾薨于州治」(蘇孝慈墓誌)。Thác bản có thể tham khảo trong sách Bắc đồ (q.9. tr.159).
[28] 「六月癸丑、洪州總管蘇孝慈卒」(『隋書』卷二、高祖下、仁壽元年六月癸丑条)。
[29] Lịch đại tam bảo ký 歷代三寶紀: sách do Phiên kinh học sĩ thời Tùy là Phí Trường Phòng 費長房 dâng lên năm Khai Hoàng 17 đời Tùy.
[30]「龍編古州郷法雲寺比尼多流支(中略)陳朝大建六年壬午初至長安會周武帝破滅佛法、欲往于鄴、(中略)師辭去卓錫廣州制止寺、大抵六年、譯得象頭報業差別等経、迨周大祥象二年庚子三月、來于我土此寺居焉復譯出摠持経一卷」(『禅苑集英』比尼多流支)。
[31] Nguyễn Lang (2000), Chương V: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tr. 112.
[32] Thiền uyển tập anh bản 1715 chép ngôi chùa của Pháp Hiền là chùa “Chúng Thiền”, nhưng chúng tôi cũng tán thành quan điểm của Nguyễn Quang Hà (2012) cho rằng đây chỉ là chép nhầm từ chùa “Thiền Chúng”.
[33]「時人嚮風來、學者不可勝數、剏寺授徒居僧常三百餘人、南方禅宗於此為盛」(『禅苑集英』法賢)。
[34] 「法賢闍維収五色舎利起塔時開皇十四年甲寅也」(『『禅苑集英』比尼多流支)。
[35] 「古州法雲寺僧上言寺中放光數道隨光掘之得石函一函内有銀函銀函内有金函金函内有瑠璃瓶瓶中有舍利」(『越史略』卷中、天成七年四月甲戌条)。
[36] Các thông tin liên quan đến Nhạn Tháp được chúng tôi khai thác từ tư liệu khảo cổ lưu trữ tại Thư viện Viện Khảo cổ. Xung quanh các hiện vật khai quật được tại Nhạn Tháp, xin tham khảo thêm Trần Anh Dũng (1987), Lê Thị Liên (2003). Hòm xá lợi của Nhạn Tháp hiện nay đang được lưu giữ trong kho của Bảo tàng Nghệ An với số liệu BTNA 2734/KL785. Chúng tôi đã khảo sát và chụp ảnh hòm xá lợi và các hiện vật của Nhạn Tháp trong chuyến điều tra ngày 4 tháng 9 năm 2012. Do bản quyền tư liệu thuộc về Bảo tàng Nghệ An, chúng tôi không đăng hình ảnh trong bài viết này.
[37]「舎利有其三種、一是骨舎利、其色白也、二是髪舎利、其色黒也、三是肉舎利、其色赤也」(『法苑珠林』卷四十)。
[38] Về An Nam dưới thời Trương Chu, xin tham khảo Phạm Lê Huy (2009, 2012).
[39] 「東究山、一名東皐山、在嘉定縣、唐刺史高聯建塔于其上」(『安南志』卷一、山川)。
[40] 「髙駢既定交州、遂於富良江上橋市之左、立石塔巋然猶存」(『陳剛中詩集』卷二)。
[41] Tấm bia có niên đại thời Lương này đã được học giả Vũ Tuân Sán (1966) đề cập trong bài viết nghiên cứu về hoàng thành Thăng Long, nhưng do bia đã thất lạc nên thông tin chưa được kiểm chứng.

[42] Về cuộc thảo luận xung quanh di chỉ Lũng Khê và các thành cổ Luy Lâu – Long Biên, xin tham khảo Nishimura (2011).

Ghi chú: Bài viết được đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 2013 (『考古学』雑誌〈越南〉、第1号、2013年). Do một số vấn đề về kỹ thuật, bài viết đăng trên Tạp chí là phiên bản cũ của bài viết, có chứa một số lỗi nhập liệu và thiếu phần mộ chí của Tô Hiếu Từ. Vì vậy, tác giả đăng tải bài viết chính xác ở đây để đính chính và bổ sung những phần còn thiếu sót.

Góp phần nhận thức minh văn thời Lưu Tống phát hiện tại nghè thôn Thanh Hoài (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Tư liệu từ nguồn của Pham Lê Huy:
Tham luận Hội nghị Thông báo Hán Nôm 2014
 
Phạm Lê Huy
Khoa Đông phương học, Trường ĐHKHXH&NV
Mở đầu
          Tháng 10 năm 2013, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các cán bộ của Bảo tàng Bắc Ninh đã phát hiện một tấm bia cổ tại Nghè thôn Thanh Hoài (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tấm bia bao gồm 2 bài minh khác nhau. Bài minh ở mặt trước, theo khảo sát của ThS. Bằng có niên đại năm Kiến Hưng thứ 2, nhiều khả năng là năm 314. Tuy nhiên, nhiều chữ trong bài minh mặt trước này đã bị mờ nên không có nhiều thông tin. Bài minh ở mặt sau có ghi niên đại năm Nguyên Gia thứ 27 (450) thời Lưu Tống (Tống Nam Triều).
          Liên quan đến tấm bia này, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và một số học giả khác đã có những khảo cứu hết sức quan trọng về niên đại và nội dung[1]. Trong bài viết này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đó, chúng tôi xin được bổ sung một số ý kiến góp phần nhận thức sâu hơn về minh văn ở mặt sau tấm bia.
1. Nhận thức về cách ghi niên đại trong minh văn
          Trong phần minh văn ở mặt sau bia, chúng ta có thể đọc được hai niên đại. Niên đại thứ nhất là “Nguyên Gia chấp thất niên thập nguyệt thập nhất nhật” 元嘉廿七年十月十一日. Niên đại thứ hai là “Tống Nguyên Gia chấp thất niên, thái tuế Canh Dần thập nhị nguyệt Bính Thìn sóc chấp ngũ nhật Canh Thìn” 宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰.
a. Về niên đại ngày 25 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27
          Xung quanh niên đại thứ hai, một số học giả đề xuất cách dịch như sau:
Nguyên Gia năm thứ 27, sao Thái Tuế đóng tại Canh Dần, trước ngày 25 (ngày Canh Thìn) tháng 12 (tháng Bính Thìn)
          Trong cách dịch này, chữ “sóc” được dịch là “trước”, can chi “Bính Thìn” được ghép với tháng 12.
          Tuy nhiên, chữ “sóc” trong trường hợp này phải hiểu là ngày mùng một. Can chi “Bính Thìn” cần được ghép với chữ “sóc”. “Bính Thìn sóc” tức là “ngày mùng một của tháng 12 là ngày Bính Thìn”.
          Đây là cách ghi ngày tháng khá phổ biến trong các tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là tư liệu chính sử. Cách ghi này thường có cấu trúc “X niên, Y nguyệt, [Can chi A] sóc, [Can chi B] nhật”. Việc ghi thêm can chi của ngày sóc (Can chi A) nhằm giúp người đọc có thể tính toán ngày Can chi B là ngày thứ bao nhiêu trong tháng.
          Có thể kiểm chứng cách đọc trên qua Bảng tính can chi (Bảng 1) và lịch thời bấy giờ. Theo Bảng 1, chúng ta thấy ngày Bính Thìn ở ô số 53. Nếu lấy đó là ngày mùng 1 thì 24 ngày sau, tức ngày 25 đúng là ngày Canh Thìn (ô số 17) – hoàn toàn trùng hợp với ghi chép trong văn bia. Ngoài ra, theo cơ sở dữ liệu lịch của Học viện Phật giáo Pháp Cổ (Đài Loan)[2], trong lịch Nguyên Gia thời Lưu Tống, ngày mùng 1 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27 đúng là ngày Bính Thìn.
          Như vậy, đoạn ghi chép ngày tháng này cần được dịch chính xác thành:
Năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, …
Bảng 1: Bảng tính Can Chi
1 (Giáp Tý)
甲子
2 (Ất Sửu)
乙丑
3 (Bính Dần)
丙寅
4 (Đinh Mão)
丁卯
5 (Mậu Thìn)
戊辰
6 (Kỷ Tị)
己巳
7 (Canh Ngọ)
庚午
8 (Tân Mùi)
辛未
9 (Nhâm Thân)
壬申
10 (Quí Dậu)
癸酉
11 (Giáp Tuất)
甲戌
12 (Ất Hợi)
乙亥
13 (Bính Tý)
丙子
14 (Đinh Sửu)
丁丑
15 (Mậu Dần)
戊寅
16 (Kỷ Mão)
己卯
17 (Canh Thìn)
庚辰
18 (Tân Tị)
辛巳
19 (Nhâm Ngọ)
壬午
20 (Quí Mùi)
癸未
21 (Giáp Thân)
甲申
22 (Ất Dậu)
乙酉
23 (Bính Tuất)
丙戌
24 (Đinh Hợi)
丁亥
25 (Mậu Tý)
戊子
26 (Kỷ Sửu)
己丑
27 (Canh Dần)
庚寅
28 (Tân Mão)
辛卯
29 (Nhâm Thìn)
壬辰
30 (Quí Tị)
癸巳
31 (Giáp Ngọ)
甲午
32 (Ất Mùi)
乙未
33 (Bính Thân)
丙申
34 (Đinh Dậu)
丁酉
35 (Mậu Tuất)
戊戌
36 (Kỷ Hợi)
己亥
37 (Canh Tý)
庚子
38 (Tân Sửu)
辛丑
39 (Nhâm Dần)
壬寅
40 (Quí Mão)
癸卯
41 (Giáp Thìn)
甲辰
42 (Ất Tị)
乙巳
43 (Bính Ngọ)
丙午
44 (Đinh Mùi)
丁未
45 (Mậu Thân)
戊申
46 (Kỷ Dậu)
己酉
47 (Canh Tuất)
庚戌
48 (Tân Hợi)
辛亥
49 (Nhâm Tý)
壬子
50 (Quí Sửu)
癸丑
51 (Giáp Dần)
甲寅
52 (Ất Mão)
乙卯
53 (Bính Thìn)
丙辰
54 (Đinh Tị)
丁巳
55 (Mậu Ngọ)
戊午
56 (Kỷ Mùi)
己未
57 (Canh Thân)
庚申
58 (Tân Dậu)
辛酉
59 (Nhâm Tuất)
壬戌
60 (Kỷ Hợi)
癸亥
 b. Về niên đại ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia 27
          Liên quan đến dòng niên đại thứ nhất, một số học giả đưa ra cách dịch như sau:
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
Vào ngày 11 tháng 10 niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 27), sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia (?)
          Tuy nhiên, đoạn “tỉnh sự vương pháp linh tuyên” dịch là “sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia” dường như có phần hơi khiên cưỡng. Bản thân các tác giả cũng đặt dấu chấm hỏi cho đoạn này.
          Quan sát văn bia, chúng ta thấy rằng: đoạn văn trên không được viết nối với dòng trước mà được viết thành một dòng riêng, căn vào lề dưới của bia. Điều này đặt ra nghi vấn, phải chăng đây là một dòng niên đại chú thích cho đoạn văn phía trước?
          Đoạn văn phía trước là phần đầu của minh văn, mở đầu bằng chữ “giáo”. Chữ “giáo” này chắc chắn là chữ mở đầu của bài minh, phân lập với nội dung “cố Tướng quân Giao Châu mục liệt hầu Đào Hoàng” sau đó.
          Chúng tôi muốn lưu ý rằng từ thời Hán đến thời Tấn, “giáo” là một hình thức mệnh lệnh, tương tự như “sắc” 敕 hay “phù” 符, của tầng lớp vương hầu. Sách Văn tâm điêu long được biên soạn vào cuối thế kỷ V cho biết “giáo tức là hiệu. Nói ra mà dân theo. Ban bố ngũ giáo. Vì vậy, vương hầu xưng giáo”[3]. Sách Tư trị thông giám (Q.53) phần Hán kỷ cũng chú thích “mệnh lệnh của quận thú đưa ra gọi là giáo”[4]. Trong các sách Tấn thư hay Bắc sử cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Thứ sử các châu ban bố mệnh lệnh, gọi là “hạ giáo (viết)” 下教曰.
          Như vậy, có thể suy đoán phần đầu bài minh có kết cấu như bên dưới, trong đó chữ “giáo” mở đầu cho mệnh lệnh, chữ “tuyên” là tuyên đọc văn bản mệnh lệnh đó:
教 ………………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
                                                                     元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
            “Tỉnh sự” (trong trường hợp này cần đọc là “Sảnh sự”) vốn là tên một chức quan thuộc cấp của Thứ sử. Tấn thư cho biết vào thời Tấn, dưới Thứ sử có đặt các chức “Công tào”, Sảnh sự”[5]. Nếu hiểu “Sảnh sự” là một chức quan, cần xem “Vương Pháp Linh” là một tên riêng.
          Trên cơ sở những suy luận nói trên, chúng tôi đề xuất cách dịch đoạn văn bản này như sau:
Lệnh (giáo) rằng ….
(trích dẫn nội dung mệnh lệnh – giáo)
Ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 27, Sảnh sự là Vương Pháp Linh tuyên đọc.
          Vấn đề tiếp theo là Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh của ai? Nói cách khác, ai là người ban “giáo” (mệnh lệnh)? Điều này sẽ được giải đáp khi chúng ta tìm hiểu nửa sau của bài minh.
2. Lan Lăng Tiêu sứ quân – Tiêu Cảnh Hiến và Tây tào thư tá Đào Chân Chi
a. Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân là ai?
          Các nghiên cứu trước đây chưa chú thích “Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân” là ai. Chúng tôi cho rằng nhân vật này chính là Tiêu Cảnh Hiến 蕭景憲 – người giữ chức Thứ sử Giao Châu vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27.
          Trong các sách Đại Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư hay An Nam chí lược không thấy nhắc đến Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Tuy nhiên, Tống thư (truyện Lâm Ấp quốc, truyện Tông Xác) cho biết năm Nguyên Gia thứ 22 (443), khi Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Tiêu Cảnh Hiến khi đó là “Phủ Tư mã” được Đàn Hòa Chi phong làm phó tướng của Tông Xác. Tiêu Cảnh Hiến lãnh ấn tiên phong, tiến đánh thành Khu Túc. Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại 范陽邁 sai đại soái Phạm Phù Long 范扶龍 giữ thành Khu Túc, ngoài ra còn cử quân tiếp viện theo hai đường thủy bộ đến tiếp ứng. Tiêu Cảnh Hiến đã phá “ngoại cứu” – tức quân cứu viện, tập trung quân tinh nhuệ đánh thành. Đến tháng 5, Tiêu Cảnh Hiến phá được thành, chém được Phạm Phù Long. Nhờ đó, quân Tống phá được Lâm Ấp, khiến vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại phải bỏ trốn, cướp được rất nhiều vàng bạc, châu báu[6].
          Nhờ chiến công này, Tiêu Cảnh Hiến đã được vua Tống ban chiếu phong làm “Trí tiết, đốc Giao Châu, Quảng Châu chi Uất Lâm – Ninh Phố nhị quận chư quân sự, Kiến Uy Tướng quân, Giao Châu Thứ sử”[7]. Theo Tống thư phần Bản kỷ, Tiêu Cảnh Hiến được phong làm Giao Châu Thứ sử vào tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 23 (434)[8]. Việc phong chức này cũng nhằm rút Đàn Hòa Chi về nước để dẹp loạn ở Dự Chương. Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử đến tháng 5 năm Hiếu Kiến 2 (455) thì được thay bằng Hoàn Hành[9]. Tuy nhiên, đến tháng 12 cùng năm, Tiêu Cảnh Hiến được phong lại làm Giao Châu Thứ sử và tiếp tục giữ chức này đến tháng 8 năm Hiếu Kiến 3 (456)[10].
          Như vậy, thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27 nằm trong khoảng thời gian Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử lần thứ nhất (434-455). Tước “Kiến Uy Tướng quân” trên văn bia cũng trùng khớp với tước “Kiến Uy Tướng quân” của Tiêu Cảnh Hiến chép trong Tống thư.
          Chữ “Lan Lăng Tiêu” trong văn bia cũng phù hợp với Tiêu Cảnh Hiến. Lan Lăng Tiêu là tên gọi dòng họ Tiêu ở Lan Lăng (Giang Tô). Dòng họ Tiêu di cư đến đất Lan Lăng vào loạn Vĩnh Gia (đầu thế kỷ IV), sau đó phát triển thành một sĩ tộc có thế lực suốt từ thời Nam Bắc triều đến thời Đường. Vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 22, Tiêu Tư Thoại 蕭思話 – một danh tướng thuộc dòng họ Lan Lăng Tiêu đang rất được trọng dụng trong triều. Năm Nguyên Gia 30, Tiêu Tư Thoại thậm chí đã leo lên chức Thượng thư Tả bộ xạ trong triều. Do đó, việc Tiêu Cảnh Hiến được cất nhắc làm Giao Châu Thứ sử, ngoài chiến công ở Lâm Ấp, có thể một phần cũng nhờ sự nâng đỡ của Tiêu Tư Thoại. Thời điểm Tiêu Tư Thoại chết – năm Hiếu Kiến thứ 2[11], cũng chính là thời điểm Tiêu Cảnh Hiến bị rút chức Giao Châu Thứ sử để thay bằng Hoàn Hoành.
          Trên cơ sở xác định được nhân vật “Lan Lăng Tiêu sứ quân” là Tiêu Cảnh Hiến, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về bài minh. Đoạn này có cấu trúc như sau:
惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
教如上
          Về mạch văn, mặc dù “minh giáo như thượng” là một câu, nhưng đến chữ “minh” lại được ngắt dòng, chữ “giáo” được chuyển sang đầu dòng sau. Tiêu Cảnh Hiến vào thời điểm này là Giao Châu Thứ sử, có đủ tư cách để đưa ra mệnh lệnh – “giáo”. Việc ngắt dòng trước chữ “giáo” là để thể hiện ý kính trọng đối với Tiêu Cảnh Hiến. “Minh giáo như thượng” do đó phải dịch là “mệnh lệnh như trên”, “như trên” ở đây chính là chỉ mệnh lệnh – giáo mà Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc ở phần đầu của minh văn.
b. Về nhân vật Đào Chân Chi:
          Trong các khảo sát trước đây, một số học giả đọc tên Tây tào thư tá là “Đào Chân”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nhiều khả năng tên của viên quan này là “Đào Chân Chi”.
          Hiện nay, chưa xác định được một tư liệu nào khác liên quan đến nhân vật “Đào Chân” hay “Đào Chân Chi”. Tuy nhiên, nội dung minh văn cũng cung cấp cho chúng ta một số thông tin hữu ích.
          Thứ nhất, chức vụ của Đào Chân Chi là “Tây tào thư tá”. Vào thời Lưu Tống, “Tây tào thư tá” là một chức quan cấp dưới của Thứ sử, vốn bắt nguồn từ chức quan “Công tào thư tá” vốn có từ thời Hán. Như vậy, có thể suy đoán Đào Chân Chi là Tây tào thư tá – thuộc cấp của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến.
          Một điểm cần đáng lưu ý nữa là Đào Chân Chi cũng có họ Đào như Đào Hoàng. Mối liên hệ giữa Đào Chân Chi và Đào Hoàng cũng được đề cập trong minh văn. Trong bài minh có câu “Chân Chi bản chi mạt diệp”. Trong Thi thư (Đại nhã, Văn Vương) hay Tả thị (Trang) có cụm từ “bản chi bách thế”, trong đó “bản chi” (本枝 hoặc 本支) chỉ một dòng họ (bao gồm cả chi chính và chi phụ)[12]. Như vậy, câu “Chân Chi bản chi mạt diệp” có thể hiểu là “(Đào) Chân Chi là con cháu đời cuối (mạt diệp) của dòng họ (Đào)”. Đây là lý do Đào Chân Chi tham gia vào việc tu sửa miếu Đào Hoàng.
3. Minh văn và Ý nghĩa:
          Dựa trên kết quả nghiên cứu của ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các học giả đi trước, kết hợp với việc quan sát văn bia và thác bản, chúng tôi xin được bổ sung, đính chính một số chữ (in đậm) và tái lập nội dung minh văn như sau:
Nguyên văn chữ Hán
1        教故将軍交州牧烈侯陶璜□□□粹稟德淵□□□□□□
2        愛在民每覽其銘記意實嘉焉□□廟堂彫毀示有基陛既□
3        祀所建寧可頓□宜加修繕務存褒□使准先舊式時就營緝
4                        元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
5        惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
6        將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
7        教如上西曹書佐陶珎之監履修復庶神□有憑珎之本枝末
8     葉□戶□搆誠感聿修斯記垂遠矣
          Trên cơ sở kết quả khảo sát ở phần trên, chúng tôi xin được đưa ra bản dịch như sau:
(Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến) dạy (giáo) rằng: Cố Tướng quân Giao Châu mục, liệt hầu Đào Hoàng… thuần nhất, nguồn đức… , (để) ơn trong dân. Mỗi lần xem bia, ý thực tốt đẹp… Miếu đường hủy hoại, chỉ thấy nền bậc. Đã dựng cúng tế, thà rằng… Phải cho tu sửa, việc để… Lệnh theo phép cũ, thời nên dựng lại.
            Năm Nguyên Gia thứ 27, tháng 10, ngày 11. Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc.
Ấy là năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế ở Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân (Tiêu Cảnh Hiến) biết đức đã lâu, muốn khuyên mầm đức, dạy rõ như trên. Tây tào thư tá Đào Chân Chi giám sát tu sửa. Các thần chứng giám. Chân Chi là đời cuối trong họ,…, lòng thành tu sửa, bài ký để lại.
          Có thể tóm lược ý nghĩa của văn bia như sau:
          Ngày 10 tháng 11 năm Nguyên Gia thứ 27 (450), quan Sảnh sự của Giao Châu là Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh (giáo) của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Theo đó, Tiêu Cảnh Hiến ca ngợi công lao của cố Tướng quân Giao Châu Thứ sử Đào Hoàng. Mỗi lần đọc bài minh ký (ở mặt trước bia), Tiêu Cảnh Hiến đều lấy làm cảm kích. Tuy nhiên, miếu đường của Đào Hoàng đã bị hư hại, chỉ còn nền bậc. Tiêu Cảnh Hiến lệnh cho dựng lại theo phép cũ, để tuyên dương công trạng của Đào Hoàng.
          Đến ngày 25 (Canh Thìn) tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27, Tây tào thư tá Đào Chân Chi – thuộc cấp của Tiêu Cảnh Hiến trên cơ sở mệnh lệnh của họ Tiêu giám sát việc tu sửa. Trước sự chứng giám của các thần, Tào Chân Chi vốn là người trong họ Đào Hoàng, cho làm bài ký để lưu lại cho đời sau.

[1] Nguyễn Phạm Bằng, Văn bia cổ nhất Việt Nam mới phát hiện và vấn đề niên đại của nó, Thông báo Hán Nôm học 2013. Đồng tác giả,Phát hiện văn bia cổ nhất Việt Nam, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, số 7/2014.
[2] http://authority.ddbc.edu.tw/
[3] 「教者效也、言出而民效也、契敷五教、故王侯稱教」(『文心雕龍』卷四)。
[4] 「郡守所出命曰教」(『資治通鑑』卷五十三、漢紀).
[5]「案漢武初置十三州、刺史各一人(中略)歷漢東京及魏晉、其官不替、屬官有功曹、都官從事、諸曹從事、部郡從事、主簿、錄事、門下書佐、省事 、記室書佐、諸曹書佐守從事、武猛從事等員」(『晉書』卷二十四、職官志)。
[6]「景憲等乃進軍向 區粟城、陽邁遣大帥范扶龍大戍區粟、又遣水步軍徑至、景憲破其外救、盡銳攻城,五月、剋之、斬扶龍大首、獲金銀雜物不可勝計」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[7]「上嘉將帥之功、詔曰、「(前略)龍驤司馬蕭景憲協贊軍首、勤捷顯著、總勒前驅、剋殄巢穴、必能威服荒夷、撫懷民庶、可持節、督交州廣州之鬱林寧浦二郡諸軍事、建威將軍、交州刺史」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[8] 「十二月丁酉、以龍驤司馬蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷五、元嘉二十三年十二月丁酉条)。
[9]「五月戊戌、以湘州刺史劉遵考為尚書右僕射、前軍司馬垣閎為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年五月戊戌条)。
[10]「十二月癸亥、以前交州刺史蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年十二月癸亥)。「八月戊戌、以北中郎諮議參軍費淹為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建三年、八月戊戌条)。
[11] 「戊戌,鎮西將軍蕭思話卒」(『宋書』卷六、孝建二年七月条).
[12] Tham khảo Đại Hán Hòa từ điển, Q.6, tr.29.

Cổ Luỹ – Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên

Tư liệu từ nguồn: http://dzunglam.blogspot.com/2013/07/co-luy-phu-tho-trong-boi-canh-khao-co_18.html

Lâm Thị Mỹ Dung
(ĐH KHXH&NV- Hà Nội)
Nguyễn Anh Thư
(Viện Khảo cổ học)
(Bài đã in ở Tạp chí Khảo cổ học, 2009, số 1 (157), tr.45-62, Nxb KHXH, Hà Nội)
 
Giới thiệu
 
Di tích Cổ Luỹ (tức Cổ Luỹ-Phú Thọ) nằm ở bờ phải sông Trà Khúc gần ngay cửa đổ ra biển, đối diện với thành Châu Sa. Di tích đã được khảo sát vào đầu thế kỷ 20 (H. Parmentier), thám sát năm 1998 (Đoàn Ngọc Khôi, Bảo tàng Quảng Ngãi) và khai quật năm 2004 (Lâm Mỹ Dung).
Kết quả cho thấy đây là một di tích thành luỹ Champa sớm được xây dựng trên nền tảng của một khu cư trú Champa sớm. Tầng văn hoá sớm có niên đại từ cuối TK 1 CN, tính chất văn hoá giống với lớp văn hoá sớm của tầng văn hoá dưới) ở thành Trà Kiệu (Quảng Nam) và lớp văn hoá sớm nhất ở Thành Hồ (Phú Yên). Dấu tích kiến trúc gạch, ngói và đầu ngói ống được tìm thấy ở tầng văn hoá muộn có niên đại từ thế kỷ 3 CN.
Như vậy thành Cổ Luỹ (Sông Trà Khúc, Quảng Ngãi) cùng với Thành Lồi (Sông Hương- Huế); Thành Trà Kiệu (Sông Thu Bồn, Quảng Nam), Thành Hồ (Sông Đà Rằng, Phú Yên),  và có thể còn một số địa điểm nữa ở miền Trung chưa được phát hiện hay được nghiên cứu kỹ, tạo thành một chuỗi thành cổ Champa sớm – trung tâm của những dạng nhà nước hay tiểu quốc Champa thiên niên kỷ I CN.     
 
1. Diện mạo và tính chất của Cổ Luỹ – Phú Thọ từ kết quả nghiên cứu thực địa
1.1. Di tích
Địa điểm Cổ Lũy – Phú Thọ thuộc địa bàn xã Nghĩa Phú, huyện Tư  Nghĩa, Quảng Ngãi có tọa độ 15o07’840′‘  vĩ độ bắc và 108o53’116′‘ kinh độ đông. Những dấu tích của phức họp di tích phân bố trên những núi đất cao nằm ở ngã ba sông Trà Khúc và sông Phú Thọ phần đổ ra biển (Cửa Đại). Parmentier đã có một thông báo ngắn về địa điểm này từ những năm đầu của thế kỷ XX. Theo đó phía trước núi Bàn Cờ đã phát hiện 01 lanh tô  trên có hình tượng Visnu (tương tự như lanh tô ở Mỹ Sơn E1); 01 tượng bò Nandin. Parmentier cũng đã khảo sát phế tích thành Cổ Luỹ và theo ông đây là tiền đồn của thành Châu Sa (Parmentier 1909: 234 – 235). Di tích được bảo tàng Quảng Ngãi đào thám sát năm 1998. Theo người phụ trách di tích có hai tầng văn hoá. Tầng trên chứa kiến trúc Champa niên đại từ thế kỷ III đến thế kỷ VII Công nguyên. Tầng dưới chứa vết tích cư trú của cư dân văn hoá Sa Huỳnh Sơ kỳ Sắt (Đoàn Ngọc Khôi 1998).
Di tích được chúng tôi khai quật năm 2004 với tổng diện tích 50m2. Phần đất phía trên ở nhiều chỗ của di tích đã bị xúc ủi năm 1998. Do vậy, nhiều vết tích kiến trúc cổ đã bị phá huỷ và chỉ còn lại dấu vết móng, tường gạch. Nhìn chung tầng văn hoá dày trung bình từ 1.40-1.50m và thuộc hai giai đoạn văn hoá sớm muộn phát triển liên tục (Lâm Mỹ Dung và Đặng Hồng Sơn 2005).
1.2. Cấu tạo địa tầng.
Lớp đất mặt dày trung bình từ 5-7cm
Tầng văn hoá I (trên): Gồm các lớp đào từ 1-8, đất laterite lẫn đá felspad phong hoá thành một loại bột màu trắng. Tầng này chứa vết tích của hai thời kỳ kiến trúc sớm và muộn. Thời kỳ muộn gồm các di tích ký hiệu F (Feature) từ 1 đến  5 và nằm trong các lớp đào từ 2 đến 5. Thời kỳ sớm gồm các di tích từ  9 đến 11. Những F có số từ  6- 8 không phải là vết tích kiến trúc mà chỉ là những đám đất sẫm màu hơn so với xung quanh. Niên đại của tầng này là từ thế kỷ III đến thế kỷ VII Công nguyên. Hiện vật có những nét tương đồng với hiện vật của một phần lớp văn hoá dưới và đầu đến giữa lớp văn hoá trên của Trà Kiệu (Quảng Nam)[1].
Tầng văn hoá II (dưới): Gồm các lớp đào từ 9 đến 14.
Giữa hai tầng này có 01 lớp đất bị cháy, nhiều than tro, dưới là một lớp cát mỏng, lớp này dày không đều và bắt đầu xuất lộ từ đáy lớp 7, mặt lớp 8 và nằm trọn trong lớp 9. Tầng văn hoá II KHÔNG có vết tích kiến trúc và bị những kiến trúc của tầng văn hóa I ăn xuống và cắt phá.
Tất cả những di tích thuộc thời kỳ kiến trúc sớm F 9 đến F 11 đều xuất lộ bên trên lớp đất cháy ngăn cách tầng văn hoá trên và dưới. Những di tích này đã cắt phá lớp đất cháy ở một số chỗ.
Niên đại của tầng văn hoá II có thể xác định từ cuối thế kỷ I, đầu thế kỷ II đến thế kỷ III Công nguyên, tương đương với nửa sau của lớp văn hoá dưới Trà Kiệu (Quảng Nam). Ở đây chưa thấy vết tích của giai đoạn văn hoá tương đương với lớp văn hoá sớm nhất của Trà Kiệu (lớp có ngói in dấu vải và bình hình trứng).
Do những hoạt động sống của cư dân, trong mỗi tầng đều có những vết tích cắt phá và xáo trộn cục bộ.
Sinh thổ: Đất laterit do đá granit phong hoá lẫn bột trắng do felspat phong hoá.
1.3. Cấu trúc của một số di tích xuất lộ trong hố 1
Tầng văn hoá trên CHỨA dấu tich kiến trúc gạch, ngói
Vết tích kiến trúc giai đoạn muộn: Bao gồm các dấu tích có ký hiệu từ F1 đến F5 xuất lộ sớm nhất từ lớp 5 và kéo dài đến lớp 2. Đây là những vết tích đống gạch, ngói chưa xác định được công năng chính xác, trong đó có 01 nền gạch nhỏ (F2) còn lại ba hàng gạch xếp dài hơn 1m theo hướng đông-tây, gạch không còn viên nào nguyên, F2 còn một phần trong vách AD. F 5 ở góc D hố cho thấy dấu vết của một dạng trụ cột được xử lý khá kỹ càng. Đầu ngói ống (đa phần là mặt hề) CHỈ XUẤT LỘ trong những lớp muộn này và chủ yếu tập trung ở lớp 2. Dựa vào vị trí (độ sâu) phân bố của các di tích và hiện vật trong các di tích, đặc biệt là đầu ngói mặt hề, chúng tôi cho rằng giai đoạn kiến trúc muộn này có niên đại từ sau thế kỷ V.
Vết tích kiến trúc giai đoạn sớm: Bao gồm các dấu tích có ký hiệu từ F 9 đến F11, bắt đầu xuất lộ từ lớp 6 và ăn xuống tầng dưới, thậm chí có di tích như F 9 đào sâu vào sinh thổ từ 30 đến 40cm. Tất cả những di tích này đều cắt phá lớp đất cháy giữa tầng văn hoá trên và dưới, tức là chúng xuất lộ sau thời gian hình thành lớp đất cháy ngăn giữa hai tầng. Đây là vết tích của những kiến trúc thuộc thời kỳ sớm của tầng trên, có niên đại từ thế kỷ IV trở đi. Trong giai đoạn sớm này KHÔNG thấy có đầu ngói ống.
Dựa trên quan sát và nhận diện các dấu vết kiến trúc phát hiện được trong hố khai quật cũng như những dấu vết gạch, cuội còn lại trên những khu đất cao của di tích hay ở những vách hố xúc ủi đất năm 1998, chúng tôi cho rằng những kiến trúc ở đây đều được xây bằng gạch theo kiểu chập khối đặc trưng của xây gạch Champa. Gạch, ngói và những vật liệu xây dựng, chi tiết trang trí bằng đất nung khá đa dạng và được sản xuất hàng loạt, một số được sản xuất với kỹ thuật cao, có hình dạng và trang trí đã được chuẩn hoá. Việc xử lý móng của một số công trình rất công phu chứng tỏ chúng thuộc dạng có kích thước khá lớn. Rất tiếc, một phần khá lớn của di tích đã bị xe ủi xúc đi và diện tích đã khai quật quá nhỏ do vậy không xác định được chức năng, tính chất và mối quan hệ của các dấu tích kiến trúc này.
Tầng văn hoá dưới KHÔNG chứa các vết tích kiến trúc
Trong tầng này có các di tích như cụm gốm, đám đất bị nung cháy hay bếp đào vào lòng đất. Đây là những vết tích cư trú sớm giai đoạn từ cuối thế kỷ I Công nguyên. Như vậy những kiến trúc muộn hơn và có thể cả thành lũy đã được xây dựng bên trên tầng cư trú sớm này.
1.4. Đặc điểm di vật
Đất nung
Nhóm vật liệu xây dựng và chi tiết trang trí kến trúc: Gạch, ngói, đầu ngói ống, chốt gốm, trang trí hình con tiện gốm… (của tầng văn hoá trên)
Gạch khá đa dạng về màu sắc, chất liệu, độ nung. Đa phần gạch có kích thước lớn (44x18x13) cm, dày trung bình của gạch từ 8cm – 13cm. Gạch thường có lõi màu xám, chi có một số ít gạch có màu sắc đồng nhất từ ngoài vào trong.
Ngói tìm thấy ở đây đều làm bằng khuôn nhưng khá khác nhau về chất liệu, màu sắc, trang trí và độ nung. Ngói có chất lượng từ xấu đến tốt, trên lưng ngói có những kiểu trang trí văn in ô vuông chuẩn, song cũng có kiểu trang trí khắc vạch tạo ô vuông (kiểu bắt chước in ô vuông), phổ biến là văn chải từ mịn đến thô. Một số ít ngói có màu xám và độ nung cao cứng gần như sành, trên lưng có in dấu ô vuông hay văn chải sâu, sắc cạnh.
Những đầu ngói ống còn nguyên cũng như mảnh vỡ thu được từ đào thám sát năm 1998, khai quật năm 2004 và khảo sát 2004 chỉ thuộc loại mặt người (mặt hề). Loại này đã tìm thấy ở những hố khai quật Trà Kiệu, Thành Hồ (Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004)và rất giống những đầu ngói mặt người ở Nanjing (Trung Hoa) (He Yunao 2003:37-39) có niên đại Lục Triều sớm (tức  khoảng từ đầu thế kỷ IV trở về sau).
 Hiện vật thuộc dòng gốm tinh mịn: Loại hình thuộc dòng gốm này có nhiều nét chung với gốm tinh mịn ở các địa điểm Champa cùng thời như Thành Hồ (Phú Yên), Trà Kiệu, Đồng Nà (Hội An, Quảng Nam) và chủ yếu là những đồ liên quan đến nghi lê, sinh hoạt văn hoá cộng đồng như kendi, bình, vò, cốc chân cao, đĩa, mảnh nắp có núm cầm… Đây là loại chất liệu sét lọc kỹ hơn, xương hầu như không thấy tạp chất và với các màu chủ đạo như trắng xám, vàng, đỏ gạch. Một số gốm xương có lõi xám. Gốm tinh mịn chủ yếu thuộc tầng văn hoá trên, ở tầng dưới đã thấy sự có mặt của loại gốm này nhưng rất ít và chủ yếu là mảnh vụn.
Đáng lưu ý là những nét tương đồng về màu sắc, chất liệu, kỹ thuật, độ nung giữa dòng gốm này với các loại vật liệu xây dựng, trang trí kiến trúc. Điều đó đưa tới giả thiết rằng chúng cùng đồng thời xuất hiện và được sản xuất để cùng đáp ứng những nhu cầu tinh thần, tâm linh và xã hội của cư dân từ khoảng thế kỷ II, III Công nguyên. Có lẽ kỹ thuật sản xuất gốm tinh mịn với các loại hình gốm kiến trúc, xây dựng và nghi lễ đã được cư dân Champa thu nhận và học tập từ bên ngoài (Trung Hoa Hán, miền Bắc Việt Nam và Ấn Độ). Cũng cần lưu ý rằng loại gốm này có nhiều nét tương đồng với gốm tìm thấy ở Luy Lâu và những địa điểm khác ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên. Gốm tinh mịn thường với màu đỏ nhạt hay xám trắng, một số có lõi xám giữa xương xuất hiện ở Đông Nam Á từ khoảng đầu Công nguyên. Nghiên cứu đồ gốm tìm thấy ở Angkor Borei M. Stark cũng nhận thấy quá trình diễn biến tương tự trong đồ gốm trước và từ Công nguyên ở di tích này nói riêng và những di tích cùng giai đoạn ở Căm-pu-chia nói chung (M.Stark 2000).
Hiện vật thuộc dòng gốm thô đa phần là đồ đun nấu, đồ đựng, mảnh bếp lò. Gốm thô được tìm thấy ở tất cả các lớp đào của hai tầng văn hoá nhưng tập trung chủ yếu trong các lớp đào từ 14 đến 9, số lượng mảnh giảm dần từ dưới lên trên. Tuy có những thay đổi nhất định trong loại hình nhưng gốm thô cho thấy diễn biến liên tục và nối tiếp về văn hoá giữa các giai đoạn. Gốm thô rất đa dạng về màu sắc và khá giống chất liệu gốm Sa Huỳnh và nếu chỉ nhìn một vài mảnh thì rất khó phân biệt. Tuy vậy, gốm thô ở đây có độ nung tốt hơn và pha ít cát hơn so với gốm mộ chum và cũng không hề thấy loại gốm “lòng rỗng” Sa Huỳnh điển hình.Một số kiểu dáng và cách trang trí cho thấy có những nét tương đồng với gốm lớp trên của địa điểm Suối Chình (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi). Những loại hình như bát hay đĩa bằng gốm thô tìm thấy trong tầng văn hoá dưới rất giống với gốm tầng văn hoá dưới Trà Kiệu (xem Yamagata M., 1998. Hình 6, 17, 22) hay trong hố khai quật Thành Hồ (xem Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004, ảnh trang 27. Phụ lục ảnh) Trong dòng gốm này, đáng chú ý là loại gốm xương đen, áo nâu đỏ mỏng dễ bong, dày nhưng nhẹ phân bố ở cả hai tầng văn hoá. Loại gốm như thế này cũng đã được phát hiện trong hố khai quật thành Trà Kiệu năm 2003.
Ngoài gốm thô và gốm tinh mịn bản địa hay bản địa sản xuất theo kỹ thuật từ bên ngoài, trong hố đào còn tìm thấy một số mảnh gốm sành Hán văn in.
Chất liệu khác
Trong tầng văn hoá dưới còn có hạt chuỗi thuỷ tinh loại Indo Pacific, hạt chuỗi bằng kim loại màu vàng, dọi se chỉ đất nung hình nón cụt, bàn mài…
1.5. Diễn biến văn hoá ở Cổ Luỹ – Phú Thọ
Trên nền sinh thổ loại đất lẫn đá Granit phong hóa (mặt bằng cách bề mặt giông đất hiện tại gần 2 m), có lẽ là thềm bậc cao của sông Trà Khúc, lớp cư dân của tầng văn hóa I – sớm đã tụ cư sinh sống ở đây từ khoảng đầu thế kỷ II  đến thế kỷ III Công nguyên. Trong đồ gốm mà họ sử dụng hàng ngaỳ có lưu giữ một số truyền thống của dòng gốm văn hóa Sa Huỳnh trước đó, một số đồ trang sức-tức các hạt chuỗi bằng vàng, thủy tinh, và bằng chất liệu chưa xác định được cũng vẫn thấy tiếp tục được sản xuất và sử dụng. Như vậy, cùng với ý tưởng và học thuyết, những kỹ thuật mới trong chế tác đồ gốm, gạch và ngói cũng được đưa vào và đã được cư dân tiếp thu rồi phát triển.
Cư dân sinh sống liên tục ở đây, vào khoảng thế kỷ IV, khi ảnh hưởng từ bên ngoài gia tăng, đặc biệt là ảnh hưởng của các tôn giáo từ Ấn Độ, họ đã xây dựng những công trình kiến trúc tâm linh đầu tiên, những công trình thời kỳ sớm có qui mô lớn, qui chỉnh, có những gia hạ của móng côt? dày gần một mét được xử lý kỹ càng ăn xuống sinh thổ (điển hình là F 9). Lớp kiến trúc này cũng ăn vào tầng văn hóa sớm và đều có niên đại muộn hơn so với lớp cháy ngăn cách giữa hai tầng. Lớp kiến trúc này bị phá hủy và sau đó một thời gian, xuất hiện những kiến trúc của thời kỳ muộn hơn mà vết tích chỉ cách bề mặt hiện nay từ 15cm-20cm. Lớp này bị phá hủy nghiêm trọng và hầu như tại khu vực của nơi khai quật không thấy những hiện vật có niên đại muộn hơn thế kỷ thứ VII. Lớp kiến trúc sớm xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV, lớp kiến trúc muộn được xây dựng sau đó chút ít, khoảng thế kỷ V. Đầu ngói ống trang trí mặt người gắn với kiến trúc giai đoạn muộn cho thấy những tương đồng với những hiện vật tương tự ở Trà Kiệu, Thành Hồ và ở Nam Kinh (Trung Quốc) có niên đại Lục Triều sớm giúp chúng ta định niên đại những vết tích kiến trúc thời kỳ muộn hơn này.
Kết quả khai quật Cổ Lũy lần này cho thấy không có đủ tài liệu để khẳng định sự tồn tại của hai lớp văn hoá Sa Huỳnh – Champa ở Cổ Lũy- Phú Thọ. Đây là di tích có niên đại từ sau Công nguyên và thuộc vào giai đoạn Chăm sớm, Champa[2].
Cổ Lũy là phức hợp di tích cư trú thành lũy đa chức năng thuộc giai đoạn sớm của văn minh Champa (hay giai đoạn hình thành những tiểu quốc sớm kiểu Lâm Ấp) và giai đoạn muộn hơn (giai đoạn Champa). Trong đó, thuộc giai đoạn sớm (tầng văn hoá dưới) là khu vực cư trú. Những kiến trúc xây gạch và lợp ngói (loại ngói muộn) và tưòng thành bắt đầu từ tầng văn hoá hai (từ sau thế kỷ IV).
Kết quả khai quật Cổ Luỹ cho thấy những công trình kiến trúc tâm linh, công cộng và thành của cư dân Champa thường được xây dựng trên cơ tầng cư trú sớm hơn. Hiện tượng này cũng không phải hiếm gặp ở Đông Nam Á, ví dụ như cuộc khai quật ở Angkor Borei cho thấy kiến trúc xây bằng gạch được xây dựng trên nền cư trú sớm (Stark Miriam 1998: 189-195).
2. Cổ Luỹ – Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên.
2.1. Bối cảnh Đông Nam Á và miền Trung Việt Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ V Công nguyên.
Giai đoạn này ở Đông Nam Á chứng kiến những tiếp xúc văn hoá nhiều chiều dẫn đến những thay đổi mang tính chất bước ngoặt trong cơ cấu và quan hệ xã hội. Thời kỳ hình thành những cấu trúc xã hội có tính phức hợp cao, thời kỳ của sự mở rộng quan hệ buôn bán nội và liên vùng dẫn đến những biến chuyển văn hoá sâu sắc ở nhiều vùng của Đông Nam Á. Đặc biệt sự biến chuyển từ các dạng xã hội kiểu “lãnh địa” hay những dạng xã hội với mức độ phức hợp thấp tương đương “lãnh địa” sang những hình thức chính thể dạng nhà nước với mức độ phức hợp cao hơn.
Nhân tố tác động tới chọn lựa mô hình nhà nước sớm và nhà nước phát triển ở Đông Nam Á được xem xét từ nhiều góc độ. Từ biến đổi bối cảnh (Stark M) đến tác động bên ngoài (Coedes); Từ phát triển đô thị hoá và gia tăng hoạt động thương mại (Hall K) tác động đến sự phát triển của hình thức tổ chức chính trị mandala (Wolters) đến tìm hiểu vai trò của thương mại quốc tế với mô hình tương tác giữa các chính thể đồng dạng (Glover)  hay nhấn mạnh tác động của xu thế xa hoa, cầu kỳ gia tăng trong tầng lớp trên của xã hội phân tầng đối với quản lý và kiểm soát sản xuất nông nghiệp (Higham).
Nhìn chung, trong những nghiên cứu về nguyên nhân, động lực hình thành và biến đổi cơ cấu xã hội dẫn đến sự hình thành và phát triển của các loại hình nhà nước ở khu vực nổi lên hai nhóm ý kiến chính.
i. Nhóm ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến những yếu tố bên ngoài như thương mại trao đổi khoảng cách xa, tiếp xúc với Trung Hoa, Ấn Độ, truyền bá tư tưởng, tôn giáo …
ii. Nhóm ý kiến thứ hai tập trung vào những động lực bên trong như phát triển hay mức giới hạn của dân số, nhu cầu kiểm soát và điều tiết công việc trị thuỷ…
Vận dụng những quan điểm này trong nghiên cứu lịch sử cổ trung đại miền Trung Việt Nam chúng tôi nhận thấy rằng điểm căn bản trong những quan điểm “ngoại sinh hoá” là nhấn mạnh vai trò của tầng lớp tinh hoa của các xã hội bản địa và chính họ đã dung hoá những yếu tố (thuộc thượng tầng kiến trúc) của những nền văn minh Trung Hoa hay Ấn Độ. Khoảng đầu Công nguyên, một số vùng ở Đông Nam Á đã đạt tới trình độ phát triển cao cho phép những  thủ lĩnh địa phương có thể chọn lựa, cho dù phần nhiều không ý thức những hình thức của tôn giáo Ấn Độ, những loại thích hợp hay phù hợp với những tín ngưỡng và thực tiễn địa phương (Casparis và Mabbett 1992: 282).
Có thể thấy quá trình “ngoại sinh hoá” văn hoá Đông Nam Á từ đầu Công nguyên là quá trình tích hợp có chọn lọc (chỉ của) những yếu tố ngoại sinh phù hợp và đáp ứng nhu cầu tiến hoá của những xã hội bản địa. Quá trình này diễn ra không đồng đều và mỗi vùng đã có sự chọn lựa riêng dẫn đến những tác động văn hoá đa dạng. Từ diễn giải các nguồn tư liệu đã có, chúng tôi nhận ra rằng quá trình này (tiếp nhận những tư tưởng vũ trụ luận Ấn Độ) ở miền Trung Việt Nam khởi đầu không sớm lắm và với tốc độ vừa phải. Ở giai đoạn đầu quá trình này đã vấp phải những rào cản đáng kể từ những lực lượng ngoại sinh khác, đó là những yếu tố văn hoá Hán Trung Hoa.
Một vấn đề cần lưu ý là quá trình này phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố nội sinh tức sự phát triển bên trong của Đông Nam Á, tức tính chủ động và tích cực trong việc tiếp thu và dung hoá các yếu tố ngoại sinh của các cộng đồng cư dân bản địa. Vai trò của quá trình được gọi là “Đông Nam Á hoá và Bản địa hoá” này dần được đánh giá đúng mức hơn. Trong khi những nghiên cứu trước đây thường tập trung đề cao các động lực ngoại sinh bất kể là kinh tế, chính trị hay tôn giáo… thì những nghiên cứu gần đây nhấn mạnh tầm quan trọng của nền tảng bản địa trong quá trình hình thành nhà nước ở các mức độ khác nhau. Chính nhu cầu phát triển nội tại “tới ngưỡng” là nguyên nhân chính để các xã hội Đông Nam Á lựa chọn những mô hình chính trị tương thích với điều kiện tự nhiên và xã hội của mình.
Đối với miền Trung Việt Nam, bên cạnh những điều kiện và yếu tố giống với khu vực còn có những đặc điểm riêng, đó là vai trò đáng kể của:
i.  Điều kiện tự nhiên và sinh thái (yếu tố biển, vị thế trung điểm của miền Trung Việt Nam trên tuyến hải thương quốc tế thời cổ trung đại…);
ii. Điều kiện xã hội (bờ biển thuận lợi đưa đón những luồng di chuyển dân cư, đặc biệt là của cư dân ngữ hệ Nam Đảo);
iii. Điều kiện chính trị – văn hoá (tiếp xúc giao lưu với Bắc ViệtNam, Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á…), trong đó nổi bật là sự kiện thuộc Hán và chống Hán của các nhóm cư dân vùng đất phía nam của quận Nhật Nam mà kết quả cuối cùng là cuộc khởi nghĩa của Khu Liên với sự thành lập của nhà nước Lâm Ấp.
 Những điều kiện chung và riêng kể trên đã có tác động ở các mức độ khác nhau vào việc chọn lựa mô hình chính trị phù hợp và hình thành nhà nước ở miền Trung Việt Nam.
2.2. Cổ Luỹ-Phú Thọ, Trà Kiệu, Thành Hồ[3]: Những trung tâm chính trị – kinh tế giai đoạn Champa sớm, Champa .
2.2.1. Những phát hiện khảo cổ giai đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên ở lưu vực sông Thu Bồn.
Lưu vực sông Thu Bồn và đặc biệt là vùng hạ lưu là nơi tập trung với mật độ cao nhất những di tích có niên đại từ thế kỷ 5 TCN đến cuối thiên niên kỷ 1 CN.
Những địa điểm thuộc khung thời gian của bài nghiên cứu phân bố ở hai khu vực chính, đó là khu vực Hội An và khu vực Trà Kiệu. Trong bảng 2 dưới đây, chúng tôi khái lược những điạ điểm quan trọng nhất ở khu vực Trà Kiệu. Dựa vào nhiều nguồn tư liệu thành văn, vật chất và tham khảo những nghiên cứu khác, chúng tôi đồng thuận với ý kiến cho rằng địa bàn của Lâm Ấp chính là khu vực Trà Kiệu và vùng xung quanh Trà Kiệu.
Tại Trà Kiệu nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành khá liên tục trong khoảng 10 năm. Đã có nhiều bài công bố kết quả nghiên cứu Trà Kiệu cả ở lĩnh vực thực địa lẫn lý thuyết. Tuy còn có một số tranh luận về niên đại, đặc biệt là niên đại khởi đầu, song nhìn chung tất cả các nhà nghiên cứu đều đồng thuận phân lập hai hay ba giai đoạn văn hoá chính diễn biến liên tục ở Trà Kiệu (xem những nghiên cứu của Nguyễn Kim Dung; I. Glover, M.Yamagata, Nguyễn Chiều, Lâm Thị Mỹ Dung…).
Theo giới hạn thời gian chủ đề nghiên cứu, trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới giai đoạn văn hoá văn hoá sớm ở Trà Kiệu (một phần trùng với giai đoạn nhà nước Lâm Ấp, thế kỷ II-IV). Giai đoạn này được nhận biết ở những ở những lớp văn hoá chuyển từ tầng I lên tầng II, chuyển từ ngói làm bằng khuôn lót vải sang ngói làm theo lối dải cuộn, chuyển từ gốm thô kiểu sơ sử sang nhiều loại hình và kỹ thuật trang trí kiểu gốm Hán, gạch xuất hiện, xuất hiện nhiều loại hình gốm mới (bình vò trang trí văn in ô vuông, kendi…), một số loại gốm sớm không thấy nữa như bình hình trứng, song một số loại gốm sinh hoạt dòng gốm thô vẫn được sản xuất và tiếp tục sử dụng. Chưa có những kiến trúc theo kiểu xây gạch hay đền tháp ở giai đoạn này. Giai đoạn Lâm Ấp này có liên hệ nguồn gốc với nền tảng sớm hơn. Nền tảng này được phản ánh qua lớp văn hoá Gò Cấm (địa điểm sát ngay Trà Kiệu), những lớp văn hoá sớm nhất của Trà Kiệu. Lâm Ấp chịu ảnh  hưởng bên ngoài mà đặc biệt là những ảnh hưởng từ phía Bắc. Những ảnh hưởng này tiếp tục từ giai đoạn trước, song đến thế kỷ III đã có những thay đổi căn bản về cả cường độ lẫn tính chất và quy mô.
 Những kết quả khai quật Trà Kiệu và những địa điểm khác ở Hội An chứng tỏ dòng chảy văn hoá khá liên tục từ thế kỷ V trước Công nguyên đến cuối thiên niên kỷ I Công nguyên và muộn hơn. Trong đó có những điểm mốc thời gian chuyển biến văn hoá nhanh mạnh. Đó là chuyển biến từ Sa Huỳnh sang Champa sớm ở mốc từ cuối thế kỷ I trước Công nguyên đến giữa thế kỷ I Công nguyên và thời điểm từ thế kỷ III đến thế kỷ IV. Sự thay đổi về chất từ thế kỷ III trở đi tương ứng với sự hình thành cơ cấu nhà nước và từ cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV bắt đầu xuất hiện những kiến trúc bằng gạch và sử dụng ngói loại dải cuộn (ngói in dấu vải chỉ thấy ở giai đoạn sớm thế kỷ I-II sau Công nguyên và liên quan đến kiến trúc gỗ). Mốc tiếp theo đó là thế kỷ V-VI khi những tiểu vương quốc Champa sớm tích hợp vào vương quốc Champa (cũng vẫn theo mô hình liên minh) và hướng mạnh mẽ theo quỹ đạo văn minh Ấn Độ.
2.2.2. Thành Hồ
Di tích toà thành Chăm, nay thuộc địa phận thôn Định Thọ, xã Hoà Định Đông, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên. Địa điểm cách thị xã Tuy Hoà 12km, nằm bên bờ Bắc (tả ngạn) của sông Ba (Đà Rằng) và cách cửa sông Đà Rằng 15km về hướng Đông[4].
Vết tích cư trú sớm ở Thành Hồ
Tháng 7/2001, Bộ môn Khảo cổ học, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Phú Yên đã khảo sát tổng thể khu vực thành Hồ. Phía dưới Cột Cờ, trong khu vực nhà ông Nguyễn Sáu (ông Sáu Ất), thôn Định Thọ, phía bờ thành Tây, trên một khoảng đất rộng tương đối bằng phẳng, đoàn đã phát hiện một số mảnh gốm Chăm cổ, gốm thô, mềm và bở trong tầng đất sẫm màu. Qua quan sát diện phân bố của hiện vât, chất liệu và loại hình gốm  chúng tôi cho rằng đây là vết tích cư trú sớm của Thành Hồ, có thể tương đương với lớp dưới Trà Kiệu và lớp dưới Cổ Luỹ – Phú Thọ. Trên toàn bộ những di tích còn sót lại của luỹ thành còn tìm thấy nhiều gạch nguyên và vỡ, ngói, đầu ngói ống hình mặt hề, loại đầu ngói đã  được phát hiện nhiều ở lớp trên Trà Kiệu và lớp trên Cổ Luỹ-Phú Thọ.Tại địa điểm có tên gọi Thổ Đạo hay Hưng Đạo, bờ thành Đông, đoàn đã tìm thấy nhiều hiện vật gốm, song chưa phát hiện thấy tầng văn hoá. Nhóm gốm có nhiều loại hình như bình, vòi Kendi, cà ràng… một số bình vò có thân trang trí văn in ô vuông, sóng nước, hồi văn, xương cá… những hiện vật gốm này khá giống các loại hình gốm Chămpa ở tầng văn hoá trên của di chỉ Trà Kiệu, Cẩm Phô (Hộ An, Quảng Nam) và một số di tích Chămpa khác ở Quảng Nam, Quảng Ngãi… Trong sưu tập này còn có mảnh Kendi bán sứ, mảnh vò bán sứ Lục Triều… Nhìn chung bộ sưu tập này nằm trong khoảng thời gian từ thế kỷ III đến thế kỷ V CN.
Kết quả khai quật năm 2003 của Viện khảo cổ học
Hai hố khai quật đã được mở ra. Hố H1 nằm về phía Tây, khu đất cao của thành; hố H2 nằm gần về phía Đông, cả hai hố đều nằm trong khu vực dân cư và thuộc vùng đất được coi là thành Nội (Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004).
Các vết tích kiến trúc phát hiện được đều được xây bằng gạch theo kiểu xếp chập khối, không có chất kết dính. Vật liệu xây dựng là gạch, thường có màu đỏ, không trang trí hoa văn, đáng chú ý là sự tận dụng và tái sử dụng gạch để xây dựng. Bình đồ của các công trình này đều có hình tứ giác. Theo những người khai quật niên đại của những công trình này thuộc thế kỷ V đến VII SCN.
Di vật: Nhóm di vật liên quan đến kiến trúc như gạch, ngói âm dương, đầu ngói ống mặt hề, sư tử, kala, hoa sen, chi tiết trang trí kiến trúc con tiện gốm, đinh/chốt gốm… có nhiều nét tương đồng với hiện vật tìm thấy ở Trà Kiệu, Đồng Dương (Quảng Nam), Cổ Luỹ – Phú Thọ… và niên đại của nhóm hiện vật này thuộc thế kỷ V đến thế kỷ VII.
Đáng chú ý là nhóm đồ gốm, gốm tìm thấy tại đây theo báo cáo khai quật cũng thuộc về hai loại chất liệu. Loại thô, pha cát, nung không cao và hình dáng kế thừa từ đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh và loại gốm có xương mỏng mịn, độ nung cao, hoa văn trang trí (in ô vuông) được xem là ảnh hưởng từ trang trí đồ gốm Hán. Trong hố khai quật cũng tìm thấy một số mảnh gốm Hán in ô vuông xương gốm mỏng mịn, độ nung cao, hoa văn in ô vuông sắc sảo, giống với gốm văn in Đông Hán ở Gò Cấm, Trà Kiệu, Suối Chình và Cổ Luỹ-Phú Thọ.
Loại hình gốm trong các lớp đào ở cả hai hố khai quật gồm bát, đĩa đáy bằng, cốc chân cao đặc, nắp vung, cà ràng, kendi… là những loại hình gốm phổ biến từ giai đoạn sau Công nguyên. Cà ràng giống như loại đã tìm được ở Trà Kiệu, Cổ Luỹ-Phú Thọ. Trên mép chân kiềng của cà ràng Thành Hồ được trang trí văn in ô vuông.
Những mô tả đồ gốm và bản vẽ hiện vật gốm trong báo cáo khai quật rất tiếc không ghi lớp và chỉ có một số có ghi hố khai quật (Nguyễn Đính và Phạm Văn Triệu 2004), do vậy rất khó để theo dõi diến biến sớm muộn của đồ gốm từ lớp 1 đến lớp 4 trong cả hai hố. Đồ gốm tập trung trong hai lớp 2 và 3 và có lẽ những công trình kiến trúc đã làm xáo trộn các lớp văn hoá ở đây. Loại hình, chất liệu gốm và hiện vật đất nung khác ở đây cho thấy nhóm hiện vật gốm nằm trong khung niên đại từ thế kỷ II đến VII Công nguyên.
 Như vậy, diễn biến gốm ở Thành Hồ cho thấy gốm ở đây nằm trong dòng chảy chung của diễn biến đồ gốm ở miền Trung Việt Nam từ đầu thiên niên kỷ I Công nguyên.
Kết quả của những nghiên cứu và khai quật cho thấy, thành Hồ được xây dựng sớm trong lịch sử Chămpa, có quy mô xây dựng lớn, thành là một công trình kiến trúc hoàn thiện, một trung tâm lớn của cư dõn Champa  trong thời kỳ đầu lịch sử và có thể là trung tâm chính trị, kinh tế của một vùng-tiểu quốc. Trung tâm này được xây dựng và phát triển rực rỡ không thua kém bất cứ một trung tâm nào của người Chăm, tương đương với kinh đô Trà Kiệu (Quảng Nam) (Lê Đình Phụng, Phạm Văn Triệu 2004).
Kết quả khảo sát thực địa và nghiên cứu so sánh loại hình di vật của thành Hồ với Trà Kiệu, Gò Cấm, Cổ Luỹ-Phú Thọ… cho thấy niên đại thế kỷ V-VII Công nguyên mà các nhà nghiên cứu đưa ra là niên đại của bản thân  toà thành và những công trình kiến trúc của thành. Thành Hồ được xây dựng trên khu vực cư trú sớm hơn, có thể khu cư trú này tương đương với lớp dưới của Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ, có niên đại từ khoảng thế kỷ II CN. Sự có mặt của đầu ngói ống hình mặt hề có niên đại Lục Triều sớm (thế kỷ IV) tại Thành Hồ giống như những đầu ngói ống tương tự ở Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ giúp chúng tôi đưa ra nhận định chung về niên đại xuất hiện của những di tích kiến trúc sử dụng đầu ngói ống loại này trong văn hoá Champa là từ thế kỷ thứ IV.
Sự đồng nhất trong tiêu chuẩn loại hình và kỹ thuật chế tác của những vật liệu xây dựng, kiến trúc như đầu ngói ống, gạch, ngói giai đoạn muộn (loại làm bằng khuôn, mặt bụng không có dấu vải, lưng có dấu văn chải, văn thừng, in ô vuông), gốm hình con tiện, chốt/đinh gốm của thời kỳ này (từ sau thế kỷ IV) cho thấy có sự thống nhất tương đối và mức độ đòng đều trong phát triển giữa các trung tâm kinh tế – chính trị của của các chính thể nhà nước sớm và nhà nước phát triển hình thành và lớn mạnh từ sau thế kỷ I, II CN.
2.3. Chuyển biến cơ cấu xã hội Champa sớm – Champa từ dữ liệu khảo cổ
Quá trình chuyển biến Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Champa có liên quan mật thiết với những chuyển động và biến động chính trị- kinh tế của khu vực. Áp dụng những lý thuyết – mô hình dạng tiền nhà nước – nhà nước sớm khác nhau trên thế giới, các học giả nghiên cứu về Đông Nam Á đã thử đưa ra nhiều mô hình cho khu vực này từ cấu trúc lãnh địa đến sự hình thành các mandala và liên minh của các mandala. Tuy còn khá nhiều ý kiến tranh luận về nội hàm của các khái niệm và sử dụng khái niệm phổ quát chung cho toàn thế giới về tiến hoá xã hội ở Đông Nam Á, song đa số các nghiên cứu về sự hình thành các chính thể Đông Nam Á ít nhiều đều áp dụng những thuật ngữ như lãnh địa, nhà nước sớm, nhà nước khi đề cập tới các tầng bậc thấp cao của tính phức hợp xã hội. Những đặc thù riêng của Đông Nam Á như tính không đồng nhất trong phát triển, mật độ dân số không đồng đều, số dân ít, sự cắt rời lãnh thổ và đa tộc người đã được nhiều học giả quan tâm đúng mức khi nghiên cứu quá trình chuyển biến xã hội dẫn tới sự hình thành của nhà nước.
Quá trình chuyển biến từ những lãnh địa sang nhà nước sớm dạng mandalasang vương quốc Champa diễn ra trong vài thế kỷ từ thế kỷ II đến thế kỷ VI Công nguyên. Mặc dù bản chất của giai đoạn quá độ này chưa thể nhận biết một cách rõ ràng nhưng thư tịch và tài liệu khảo cổ mà chúng ta có cho đến hiện nay đều chứng tỏ đây là quá trình phát triển xã hội nội tại trong bối cảnh chung của khu vực và chịu tác động của một số yếu tố từ bên ngoài. Đây cũng là quá trình của những mối quan hệ liên minh, thu phục và chiếm lấn lẫn nhau giữa các lực lượng nội tại nhằm mục đích một mặt đối trọng với những thế lực bên ngoài và mặt khác thu nhận (bằng những cách thức cưỡng bức và tự nguyện) những mô hình tổ chức chính trị từ nơi khác (ban đầu là của Trung Hoa và muộn hơn là của Ấn Độ). Mút cuối của quá trình này là sự nổi lên của vương quốc Champa trên chính trường Đông Nam Á .
Đây là thời kỳ có rất nhiều những thay đổi trong cả hai lĩnh vực, hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Đây cũng là thời kỳ mà các cộng đồng cư dân ở Đông Nam Á tăng cường các mối tiếp xúc, quan hệ với nhau và với thế giới bên ngoài. Cả Đông Nam Á bằng nhiều cách khác nhau dần tiếp hợp với mạng lưới hải thương quốc tế, chịu tác động của chính sách bành trướng của nhà Hán (Trung Hoa) và chiến lược ngoại giao qua buôn bán và truyền bá tôn giáo của các quốc gia cổ đại Ấn Độ. Miền Trung Việt Nam với vị thế trung lộ và đường bờ biển dài không thể nằm ngoài vùng tác động của những yếu tố này. Vị thế cầu nối bắc nam và cả đông tây ở bán đảo Đông Dương đã làm cho vùng đất này chịu tác động của những luồng văn hoá, sóng dịch chuyển dân cư không chỉ một lần và không chỉ của một văn hoá đơn lẻ.
Nếu xét từ phương diện lịch sử, có vẻ như có một sự thay đổi  khá đột ngột trong cấu trúc chính trị của những xã hội giữa thời tiền, sơ sử và lịch sử, với sự hình thành của những chính thể dạng nhà nước. Tuy vậy, từ góc độ khảo cổ, chúng ta có thể thấy có một sự tiếp nối đáng kể giữa hai thời kỳ này. Nói một cách khác sự phát triển kinh tế – xã hội thời sơ sử là cơ sở nền tảng cho sự hình thành nhà nước ở giai đoạn muộn hơn. Sự phát triển của những thiết chế chính trị phân tầng, sự chuyên hoá về sản xuất kinh tế và sự tiến hoá của xã hội dựa trên cơ sở giai cấp trong khoảng một thiên niên kỷ đã góp phần đáng kể vào việc nảy sinh những nhà nước sớm ở nhiều vùng của Đông Nam Á (Lâm Thị Mỹ Dung 2008). Mặc dù bản chất và thời gian của những thay đổi này ở Đông Nam Á không đồng nhất, nhưng nhìn chung cho đến giữa thiên niên kỷ I Công nguyên ở Đông Nam Á lục địa nhiều chính thể phức hợp đã được hình thành.
Dựa trên sự phân bố của các địa điểm khảo cổ học, đặc biệt là dọc theo bờ biển và theo lưu vực các sông lớn, vào khoảng thế kỷ V trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên, có thể thấy rằng duyên hải và các lưu vực sông và cả sâu ở trong nội địa ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam đã hình thành và phát triển một số khu vực cư trú-mộ táng lớn như những  phức hợp chính trị được tổ chức tập trung theo vùng với hệ thống phân tầng khá phát triển, những phức hợp này có thể được gọi bằng khái niệm lãnh địa
Từ thế kỷ I đến thế kỷ II  Công nguyên – thời kỳ mà Bắc và một phần Nam Trung bộ thuộc quận Nhật Nam. Đây là thời gian chứng kiến những chuyển biến từ lãnh địa sang cơ cấu xã hội dạng nhà nước sớm. Chuyển tiếp từ lãnh địa sang mandala hay negara theo cách dùng khái niệm mang tính đặc thù khu vực của một số nhà nghiên cứu. Bên cạnh những điều kiện nội sinh như nền tảng kinh tế phát triển kéo theo những chuyển biến về chất trong lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất dẫn đến chuyển biến trong cơ cấu xã hội thì chúng ta cũng không thể không lưu ý tới bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Đó là sự suy yếu của nhà Đông Hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho một số cộng đồng cư dân nổi dậy khởi nghĩa lập ra chính quyền của mình.
Giai đoạn tương đương Lâm Ấp cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ V là thời kỳ của mandala sớm. Sự kiện quan trọng được sử chép đó là Phạm Văn cố vấn cho Phạm Dật có nhiều yếu tố liên quan đến văn hoá Hán (người Hán từ Giang Châu hay người Lâm Ấp nhưng sống ở Trung Quốc và hấp thu văn hoá Hán theo như Coedes). Sử cũ còn ghi “Đời Thái Khang (280-290), vua Lâm Ấp là Phạm Dật sang Trung Quốc tiến cống, Dật có người nô lệ là Văn đi theo, rồi sau đó thường qua lại buôn bán, thấy được chế độ văn minh của thượng quốc, khi trở về Lâm Ấp bèn dạy cho Dật xây cung thất, thành quách và chế khí giới” (Dẫn theo Đào Duy Anh 1994: 69). Tư liệu khảo cổ học từ những địa điểm Champa sớm có niên đại từ thế kỷ I-III Công nguyên như Trà Kiệu, Cổ Luỹ-Phú Thọ… cho thấy sự tham góp của những yếu tố văn hoá Hán trong làm gốm, sản xuất vật liệu xây dựng và xây đắp thành…
Từ khoảng cuối thế kỷ IV, những xã hội này dần tiếp thu mạnh mẽ hơn những yếu tố văn hoá Ấn Độ và về phương diện chính trị đây cũng là thời gian chuyển biến sang mô hình Nam (Ấn Độ) mandala thực sự, quá trình chuyển hướng chính trị và tôn giáo này đã dẫn đến sự nổi lên của Champa trên chính trường Đông Nam Á vào thế kỷ VI. Tiếp xúc và trao đổi với văn hoá Ấn Độ tăng mạnh được ảnh xạ qua sự có mặt của hàng loạt những bi ký chữ Phạn, những điêu khắc đồng đá Phật giáo, Blamon giáo ở Trung và Nam Trung bộ. Ngoài tư liệu khảo cổ, sử liệu cổ cũng ghi nhận từ sau  Khu Liên (tức thế kỷ III trở đi) sứ Lâm Ấp đã dùng “ chữ viết Hồ- Ấn Độ” trong văn thư. Đây là quá trình chuyển biến tạo nên những thay đổi lớn tuy không có những xung đột mạnh mẽ hay thay đổi đột ngột và cũng không hẳn là sự thay thế hoàn toàn mô hình cũ bằng mô hình mới. Đây cũng là hiện tượng chung cho Đông Nam Á và thế kỷ V chứng kiến những thay đổi về thể chế có tính chất mạnh mẽ ở Đông Nam Á (Stark  M 1998: 86).
Do sự phát triển không đồng đều và cũng do sự khác biệt trong đầu mối và cường độ tiếp xúc với thế giới bên ngoài nên sự hình thành nhà nước sớm đã diễn ra không đồng thời. Ở những vùng châu thổ sông lớn và duyên hải của Đông Nam Á lục địa những nhà nước được hình thành sớm hơn và phát triển mạnh hơn so với những vùng khác của khu vực.
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có thể xác định ba trung tâm hành chính – chính trị – kinh tế  phân bố ở các lưu vực sông lớn ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam. Đó là Trà Kiệu, Cổ Luỹ – Phú Thọ và Thành Hồ. Trong đó Trà Kiệu được xây dựng trên một cơ tầng văn hoá sớm có niên đại cận kề với niên đại kết thúc của văn hoá Sa Huỳnh. Tầng văn hoá sớm nhất ở Cổ Luỹ – Phú Thọ và Thành Hồ tuy có niên đại muộn hơn chút ít so với Trà Kiệu nhưng cũng cho thấy tất cả những trung tâm này đều được phát triển và mở rộng từ cơ tầng văn hoá bản địa có niên đại khởi đầu muộn nhất là từ nửa sau thế kỷ I Công nguyên. Những tương đồng trong diễn biến liên tục từ tầng văn hoá sớm đến tầng văn hoá muộn (cả di vật và di tích) ở ba trung tâm này (và ở nhiều địa điểm Champa sớm khác) minh chứng cho nguồn gốc bản địa và mức độ phát triển tương đương trong các lĩnh vực kinh tế-chính trị-văn hoá của các cộng đồng dân cư ở những vùng lưu vực sông lớn ở Trung và Nam Trung Bộ Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ đầu Công nguyên và muộn hơn.
     Những di tích và di vật khảo cổ cùng những ghi chép trong thư tịch cổ cũng cho thấy vai trò quan trọng của tiếp xúc, trao đổi và tiếp biến văn hoá giữa các trung tâm này và giữa chúng với khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Đông Á tạo nên những chuyển biến kinh tế – chính trị – xã hội của vương quốc Champa ở một số mốc thời gian quan trọng.
Chú thích
Những minh hoạ không ghi nguồn trong bài do Đặng Hồng Sơn, Nguyễn Hồng Kiên và các tác giả bài viết thực hiện.
Tài liệu dẫn
Đào Duy Anh 1994. Đất nước Việt Nam qua các đời. Nxb. Thuận Hoá.
Đoàn khảo sát Phú Yên, 2002, Kết quả khảo sát khảo cổ học tỉnh Phú Yên, tháng 7 năm 2001, NPHMVKCH năm 2002, 792-797.
Đoàn khảo sát Phú Yên, 2002, Kết quả khảo sát thành Hồ tháng 7 năm 2001, NPHMVKCH năm 2002, 798-800
Parmentier H., 1909. Inventaire Describtif des Monuments Cams de l’ Annam. Volume I. Paris.
Đoàn Ngọc Khôi 1998. Báo cáo đào thám sát khảo cổ học địa điểm núi Phú Thọ – Cổ Luỹ. Tư liệu khai quật của  Bảo tàng Quảng Ngãi. Quảng Ngãi.
Lâm Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn 2005. Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Cổ Luỹ – Phú Thọ (Quảng Ngãi). Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội.
Yamagata Mariko 1998. Formation of Linyi. Journal of Southeast Asian Archaeology. N0.18: 51-89.
Lâm Thị Mỹ Dung 2008. Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang lịch sử sớm ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam. Báo cáo Đề tài khoa học trọng điểm QGTĐ.06.07. Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội.
Stark Miriam 1998. The Transition to History in the Mekong Delta : A View fromCambodia. International Journal of Historical Archaeology, Vol.2, No. 3.
Stark  Miriam 2000. Pre – Angkor Earthenware Ceramics from Cambodia’s Mekong Delta. Udaya. Journal of  Khmer Studies 1: 69-90.
He Yunao 2003 Tile Ends with Human and Animal Faces of the Six Dynasties Unearthed in Nanjing. Cultural Relics No.7. (tiếng Trung).
Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004. Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Thành Hồ (Phú Hoà, Phú Yên). Tư liệu Viện Khảo cổ học. Hà Nội.
Nguyễn Đính và Phạm Văn Triệu 2004. Phụ lục báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Thành Hồ (Phú Hoà, Phú Yên). Tư liệu Viện Khảo cổ học. Hà Nội.
————————————————————
Cổ Luỹ–Phú Thọ (Quảng Ngãi) in the context of Champa archaeology in the early half of the first Christian millennium
                  Lâm Thi Mỹ Dung, Nguyễn Anh Thư
The paper consists of two parts. One introduces the excavated results of Cổ Luỹ – Phú Thọ site and the other highlights some practical and theoretical issues of early state emergence and transition to history in Central Vietnam. These issues have been resolved by using the comparative studies of three archaeological complexes of Trà Kiệu, Cổ Luỹ – Phú Thọ và Thành Hồ.
Cổ Luỹ – Phú Thọ site is located at Nghĩa Phú village, Tư Nghĩa district and Quảng Ngãi province. This site was first reported by H. Parmentier. Then, the site was test-excavated in 1998 and officially excavated in 2004. The archaeological vestiges are distributed on the high areas in the T – junction of Trà Khúc and Phú Thọ rivers. This is multifunctional archaeological site dated from the end of AD 1. The early habitation layer was from the end of AD 1 to the end of AD 3. The brick and tile architectural features appeared in the upper cultural layer and belonged to two phases. The early architectural phase dated to the AD 4 and the late one dated to the AD 5. The tile – ends decorated with the human face found in the late architectural phase were similar to those found in Nanjing (China), Tam Thọ kiln and Luy Lâu citadel (Northern Vietnam), Trà Kiệu (Quảng Nam province) and Thành Hồ (Phú Yên province).
The results obtained from Cổ Luỹ – Phú Thọ site have been interpreted by using cross-cultultural research methods, which led us to the recognition of three early Cham centers located on three main river deltas: Trà Kiệu was in Thu Bồn river delta, Cổ Luỹ – Phú Thọ was in Trà Khúc river delta and Thành Hồ – Đà Rằng was in Đà Rằng river delta. Of these, Trà Kiệu was the earliest, established on the habitation layer from the beginning of AD 1. The earliest habitation layers of Cổ Luỹ- Phú Thọ and Thành Hồ were slightly later than Trà Kiệu. However, both Cổ Luỹ- Phú Thọ and Thành Hồ sites came into existence and developed in the local cultural base.
            The similarities in the continuous process from the early to the late cultural layers in these three centres (and other Cham sites) demonstrate the indigenous origin and the equivalent development in the economic, political and cultural aspects of the people communities settled in the main river deltas in Central Vietnam during the 10 centuries AD.

[1] Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đây là phức hợp di tích cư trú, đền tháp, thành luỹ của giai đoạn từ TK 1 đến thế kỷ 9,10. Lớp văn hoá sớm nhất ở đây có niên đại khoảng nửa đầu TK 1 CN.
[2] Bên cạnh địa điểm này ở Quảng Ngãi còn có những địa điểm Champa từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn, có thể xem những báo cáo khảo sát và khai quật về đảo Lý Sơn, các huyện Bình Sơn, Đức Phổ… của Viện Khảo cổ học.
[3] Theo chúng tôi, miền Trung giai đoạn này không phải chỉ có ba trung tâm như đề cập ở đây. Như ở bắc Đèo Hải Vân, TP. Huế có nhiều khả năng có một trung tâm nữa với đại diện Thành Lồi, ở Bình Định với những thành như  thành Tra, cảng Thi Nại… tuy nhiên do chưa có những khảo sát khảo cổ học chi tiết, chúng tôi tạm chỉ báo cáo về những địa bàn đã được khảo sát khảo cổ học những năm gần đây, mặc dù mức độ khảo sát ở từng trung tâm là khác nhau.
[4] Bên cạnh toà thành này, ở Phú Yên có khá nhiều di tích Champa sớm và Champa phát triển khác (Đoàn khảo sát Phú Yên, 2002, 792-797)
MINH HỌA (trích)

Tổ tiên Hoa Hạ không hề là người vượn Bắc Kinh

Bài đăng ngày 27-10-2011 theo bản dịch của Lãn Miên tại Diễn đàn Lý học phương đông.

Các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới đang cùng góp sức hoàn thành kế hoạch lớn lao tìm nguồn gốc của nhân loại, hy vọng thông qua nghiên cứu biến dị gen của con người mà vẽ ra được bản đồ thiên di của nhân loại.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc chứng tỏ tổ tiên của người Trung Quốc nguyên là từ Đông Phi, đi qua Nam Á tiến vào Trung Quốc. Chi tiên dân Nam Á này kinh qua nhiều đợt thiên di và biến hóa gen trong cơ thể, dần dần phân hóa thành các dân tộc.
Theo quan điểm của các nhà khoa học, thông qua phân tích mẫu DNA của con người, mỗi một người Trung Quốc đều có thể lý giải được câu chuyện của chính mình, tìm về mạch nguồn sâu xa của chính mình.

Chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu đến?
Những thông tin lịch sử này ẩn dấu trong kết cấu phân tử DNA trong cơ thể mỗi chúng ta”, Lý Huy nói. Vị nghiên cứu sinh tiến sĩ này của Viện khoa học sinh mệnh trường đại học Phúc Đán đang say mê thu tập các mẫu DNA của các phân chi dân tộc, đồng thời chú trọng nghiên cứu quan hệ giữa các quần thể dân tộc ở miền nam Trung Quốc.
Lý Huy sinh ra và lớn lên ở Phụng Hiền ngoại ô Thượng Hải, thông qua đo nhiễm sắc thể Y và tuyến lập thể, phát hiện ra rằng họ là dân đến từ Quảng Đông Phúc Kiến. Mà hai vạn năm trước thì loại hình DNA này hoạt động tại vùng vịnh Bắc Bộ thuộc Đông Nam Á. Lý Huy từ nhỏ vẫn gọi chữ Phi (bay) là “bóng” giống như dân tộc Đồng gọi là “ben”. Từ rất lâu, anh ta vẫn cho rằng đó là tiếng Phụng Hiền, qua đo DNA Lý Huy mới biết những từ mà anh nói là đến từ ngôn ngữ Úc-Thái cổ xưa. Sự hình thành tổ tiên của ngữ hệ này có từ hai vạn năm trước ở vịnh Bắc Bộ phương nam.
Các nhà khoa học một mạch phân tích DNA và dùng máy tính nghiên cứu lịch sử nhân loại để xác định quá trình hình thành các chủng tộc và xã hội loài người. Quá trình này xưa nay chưa hề gián đoạn. Trước mắt đang triển khai kế hoạch lớn qui mô toàn cầu tìm nguồn gốc nhân loại. Một bài của Tân Hoa xã ngày 18 tháng 4 cho biết, để hiểu toàn diện nguồn gốc và quá trình thiên di của nhân loại, cũng như sự hình thành hàng nghìn ngôn ngữ của loài người, trong vài năm tới, các nhà khoa học TQ sẽ cùng các nhà khoa học Mỹ và các nước khác thông qua nghiên cứu gen và biến dị mà vẽ ra được bản đồ thiên di của loài người, từ đó mà bổ sung được những khoảng trống trong lịch sử nhân loại.
Kế hoạch 5 năm này gọi là “phổ đồ địa lý di truyền thiên di của nhân loại”. Kế hoạch này sẽ do các chuyên gia của 10 phòng thí nghiệm và đại học của Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Trung Đông hoàn thành. Các nhà khoa học sẽ thu tập 10 vạn mẫu DNA thuộc các nhân chủng khác nhau ở nhiều vùng trên thế giới để tiến hành phân tích.
Giáo sư Kim Lực chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu sinh vật học nhân loại hiện đại của đại học Phúc Đán cùng đồng đội của mình phụ trách nghiên cứu nhân quần vùng Đông Á và Đông Nam Á, nội dung bao gồm sự thiên di nhân quần, sự hình thành và phân hóa dân tộc và ngôn ngữ, sự giao lưu gen giữa các nhân quần v.v. Giáo sư Kim Lực nói: “Lần này trọng điểm điều tra nghiên cứu của chúng tôi nhằm vẽ ra được sơ đồ thiên di của tổ tiên người Trung Quốc, dùng để nghiên cứu những vấn đề chưa biết về dân tộc, ngôn ngữ và hoàn cảnh tiến hóa của dân tộc chúng ta, Chúng tôi sẽ phải thu tập khoảng 2 vạn mẫu DNA. Mỗi một người Trung Quốc sẽ có thể lý giải được câu chuyện của mình.”

Người vượn Bắc Kinh không phải là tổ tiên của chúng ta
Tổ tiên của chúng ta thực sự là ai?”. Theo sách giáo khoa của giáo dục phổ thông quyền uy thì người hiện đại phân bố ở Trung Quốc là do người vượn Bắc Kinh sống cách nay 40 vạn năm tiến hóa mà thành. Lý luận của thuyết này là dựa vào thuyết nhân loại xuất hiện ở nhiều nơi, tại Âu, Á, Phi đều có người vượn tiến hóa thành người hiện đại.
Tiền Cát, trợ lý phòng thí nghiệm của giáo sư Kim Lực nói, người hiện đại là vật chủng đơn nhất, còn người vượn ở các nơi thì khác biệt rất lớn, thuộc vật chủng bất đồng, không thể là đều tiến hóa thành người hiện đại. Chỉ có người vượn Đông Phi là bước lên được con đường tiến hóa thành người hiện đại. Bởi vậy người vượn Bắc Kinh không có thể thành tổ tiên của chúng ta.
Túc Binh, nghiên cứu viên Sở nghiên cứu động vật Côn Minh, sau khi nghiên cứu niên đại của các hóa thạch hiện có của Trung Quốc đã phát hiện ra một giai tầng không dễ bỏ qua, đó là giai tầng từ 10 vạn năm trước đến 4 vạn năm trước, giai tầng này không hề có một hóa thạch nhân loại nào được tìm thấy, suy ra, người đứng thẳng và trí nhân sơ kỳ (Homo sapiens) sống ở Đông Á, trong thời kỳ băng hà gần nhất đã bị tuyệt diệt vì khí hậu ác liệt. Thay vào đó là nhân chủng hiện đại đã từ châu Phi thiên di đến.
Nhưng vẫn có những nhà khoa học ủng hô thuyết “đa khởi nguồn”. Viện sĩ Ngô Tân Trí thuộc Viện nghiên cứu cổ nhân loại học đã tỉ mỉ nghiên cứu so sánh đặc trưng xương cốt người vượn Bắc Kinh, người hang động với người hiện đại, phát hiện ra rằng 70% người Trung Quốc trên xương đầu có ba đặc trưng giống hệt người vượn Bắc Kinh, do vậy ông vẫn theo quan điểm cho rằng người vượn Bắc Kinh có thể là tổ tiên của người Trung Quốc. Nhưng học sinh của ông là Lưu Vũ khi đi khảo sát ở châu Phi lại phát hiện có tới 30% người châu Phi có ba đặc trưng trên ở xương đầu cũng giống hệt người vượn Bắc Kinh.
Năm 1998 các nhà khoa học Trung Quốc nắm vững được tính trọng yếu trong mật mã di truyền DNA. Trên dây chuyền DNA song xoáy có bốn loại tiểu cầu màu đỏ, vàng , lam, lục giao kết với nhau, A, T, C, G. Chúng nắm toàn bộ lịch sử thiên di và phát triển của nhân loại..
Theo giải thích của khoa học, mỗi tiểu cầu giống như là một đơn vị hột. Những tiểu cầu này liền với nhau theo một trật tự nhất định làm thành gen, và có thông tin di truyền tương ứng. Nó có tính công năng rất mạnh, khống chế màu da, hình dáng và sức khỏe nhân loại. Ví dụ cao huyết áp của người là do vài trăm gen khống chế. Trật tự sắp đặt của chúng không thể tùy tiện biến đổi, hễ biến đổi là ảnh hưởng tới tình trạng của cơ thể.
Còn có một số tiểu cầu thì trật tự sắp đặt lại không có tính công năng, tính chất chúng giống như vật bổ sung thêm vào trong phân tử DNA. Chúng sắp đặt tự do, sau vài nghìn, vài trăm năm lại phát sinh một lần biến hóa, ví dụ chỗ vốn là A lại xuất hiện C, sự biến hóa này không chịu bất cứ ảnh hưởng bên ngoài nào, không chịu áp lực chọn lựa của tự nhiên. Những biến đổi của chúng không ảnh hưởng đến sức khỏe của thân thể. Chính đột biến di truyền này ghi lại thông tin lịch sử thiên di của nhân loại.
Nghiên cứu viên Chữ Gia Hựu của Sở nghiên cứu động vật Côn Minh đã nghiên cứu về trật tự sắp đặt đặc biệt vi vệ tinh trong sắp xếp DNA, đây là một tiêu chí di truyền được công nhận. Trong sắp xếp DNA có một kiểu trùng lặp ngắn gọn, ví dụ TGTGT qua GTG , sự trùng lặp nó về tự mẫu hay về số lần đều có thể di truyền, khi thừa kế trên cơ thể đời sau, vị trí của một G nguyên tiên có thể biến thành A, hoặc giả nguyên tiên trùng lặp 9 lần mà đến đời sau bỗng biến thành trùng lặp 10 lần. Căn cứ nguyên lý này, Chử Gia Hựu đã phân tích 28 nhân quần Đông Á suy ra ở Trung Quốc thời gian khởi nguồn người hiện đại không sớm hơn 5 vạn năm.
Có người cho rằng Chử Gia Hựu lấy mẫu quá ít, không có sức thuyết phục. Năm 2001, học sinh của Kim Lực là Kha Việt Hải cùng với tổ nghiên cứu của anh ta tiến hành phân tích di truyền qui mô lớn với chủ yếu là nhân quần người Hoa ở Đông Á. Anh đi sâu vào thế giới nhiễm sắc thể Y. Nhân quần này đời đời đều là cha con tương truyền, mà “tính cách” ổn định, thông thường mấy chục đời sau mới có một, hai vị điểm của gen phát sinh biến hóa. Kết cấu của những vị điểm đột biến di truyền này giống như một cái cây. Chính cây gen này đã ghi lại lộ trình phân tán tới những địa điểm khác nhau trên trái đất trong những thời gian khác nhau của nhân loại.
Kha Việt Hải đã phân tích 12127 cá thể nam tính phát hiện trên YAP, M130 và M89 của nhiễm sắc thể Y đều có một vị điểm của nó phát sinh biến hóa. Chúng là ba cành của cây gen trên. Chúng hợp long tại một cây gọi là M168, đây chính là vị điểm đột biến của nhân thể châu Phi. Cũng có nghĩa là người Trung Quốc và người đang sống ở châu Phi là có quan hệ với nhau.
Kha Việt Hải nói, quần thể hữu hiệu của nhiễm sắc thể người Trung Quốc vốn không lớn, chủng loại tồn tại không nhiều, hơn 1 vạn 2 nghìn mẫu này hầu như bao quát tuyệt đại bộ phận loại hình nhiễm sắc thể người Trung Quốc. Điều này chứng minh đầy đủ rằng người Hoa chiếm đại đa số nhân quần Đông Á khởi nguồn từ châu Phi.

Người Hạ đích thực
Người lãnh đạo kề hoạch lập bản đồ thiên di nhân loại nói: “Chúng ta đều từng thuộc một tổ tiên, chẳng qua là theo thời gian trôi mà chúng ta bị phân tán. Người hiện đại trên thế giới dù là người châu Á, châu Mỹ hay châu Âu đều là người đứng thẳng ở Đông Phi tiến hóa mà nên. Họ từ 5 – 10 vạn năm trước bắt đầu khuếch tán đi khắp nơi trên thế giới.
Bắt đầu từ DNA, nghiên cứu về nhân loại dần dần chuyển sang tầng diện văn hóa. Con người từ chính cơ thể mình lại đi tìm cái mất đi của lịch sử. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước ngành nhân loại học phát sinh một phân chi quái dị là phân tử nhân loại học. Từ khi ra đời nó đã có được một lực lượng đáng kinh ngạc. Nó không những khiến cho thuyết “khởi nguồn châu Phi” có được bộ mặt rõ ràng khả tín, mà thậm chí còn dựa vào đó tìm ra được nguồn gốc châu Phi của người Á và người Hạ.
Năm 1987 đại học Hawai tìm ra được DNA tuyến lập thể của phụ nữ, phát hiện ra rằng tuyến ấy của phụ nữ hiện đại đều đến từ một vị phụ nữ cách nay 15 vạn năm ở châu Phi.
Tuyến lập thể tồn tại ở trong chất cua tế bào, nó là “công xưởng năng lượng của tế bào, chúng bao hàm lượng ít vật chất di truyền DNA, tuyến lập thể của mỗi con người đều đến từ người mẹ, vì vậy nó là công cụ quan trọng cho nghiên cứu tiến hóa nhân loại từ góc độ di truyền mẫu hệ, giống như Y nhiễm sắc thể là công cụ nghiên cứu di truyền phụ hệ.”
Tiếp đó các nhà khoa học ngành phân tử nhân loại học lại thành công trong việc phát hiện Y nhiễm sắc thể trong mật mã di truyền nam tính, dẫn đến kết luận rằng nam tính hiện đại đều có chung một ông bố sống cách nay 15 vạn năm tại Đông Phi.
Lý Huy giải thích, đại khái 15 vạn năm trước tại Đông Phi phân hóa ra rất nhiều nhân chủng và bộ lạc, trong đó bao gồm tổ tiên của bốn màu da nhân chủng. Phát hiện M168 trên nhiễm sắc thể Y chính là một vị điểm đột biến rất cổ xưa, phát sinh khoảng 10 vạn năm trước, khi nhân loại rời khỏi châu Phi.
Mười vạn năm trước trái đất bị băng hà phủ kín đạị bộ phận lục địa. Toàn bộ mặt biển thấp hơn mặt biển ngày nay 120 mét, nhiều đáy biển lộ ra mặt đất. Các bộ lạc sống chen chúc trên mảnh đất ấm áp Đông Phi bằng nguồn thực phẩm kiếm được có hạn. Một bộ phận người bắt đầu rời khỏi châu Phi.
Lại qua đi vài ngàn vài vạn năm, người hiện đại trên cơ sở đột biến gen M168 lại xuất hiện hai loại hình đột biến là M130 (80000 năm trước) và M89 (45000 năm trước), nhân loại thông qua Bắc Phi tiến vào đại lục Âu, Á. Ra đi sớm nhất là người da đỏ. Họ sống chủ yếu bằng đánh cá và thu lượm nhuyễn thể ven biển. Họ đi men theo bờ biển Ấn Độ với khí cụ là đồ đá cũ và cây vót nhọn. Họ đã chiếm lĩnh lục địa Nam Á, Đông Nam Á và các đảo bãi đại dương 5 vạn năm trước công nguyên.Trong quá trình vài vạn năm sau đó do sống bằng đánh bắt hải sản, họ đã men theo bờ biển mà đến tận Đông Á, xuyên qua eo biển Bê Rinh mà đến tận Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
Người chủng da vàng rời khỏi châu Phi muộn hơn người da đỏ gần 5 vạn năm. Nhưng tốc độ khuyếch tán của họ nhanh hơn. Họ đã đến được Đông Nam Á với thời gian đã mất chỉ bằng 1/5 thời gian cua người da đỏ. Trong số 12000 mẫu mà Kha Việt Hải lấy của người Trung Quốc thì có 11311 mẫu có phát sinh đột biến M89. Mà đột biến này đánh dấu thời gian hình thành là khi người da vàng đạt đến Đông Nam Á rồi sống lâu dài ở đó, sau đó mới tiến nhập Trung Quốc, phân hóa xuất hiện Hán tộc ngày nay.

Hán Tạng cùng nguồn
Bất luận nhìn bên ngoài hay nhìn văn hóa, khó ai tin được rằng người Hán và người Tạng là cùng nguồn, nhưng các nhà nghiên cứu phân tử nhân loại học thì tin sâu sắc không chút nghi ngờ là Hán, Tạng đồng nguồn.
Đầu tiên nêu ra sự đồng nguồn Hán, Tạng là các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc. Giới ngôn ngữ học cho rằng ngôn ngữ Đồng- Thái ở miền nam và ngôn ngữ Hán là gần nhau nhất, sau đó phát hiện ngôn ngữ Tạng gần gũi nhất với ngôn ngữ Hán. Có thể tìm thấy các từ tiếng Tạng và tiếng các phương ngôn đông nam Trung Quốc phát âm tương tự và đồng nghĩa nhau. Sự tương ứng này mang tính hệ thống chứng tỏ mối quan hệ đồng nguồn.
Nghiên cứu viên Túc Binh thuộc sở nghiên cứu động vật Côn Minh năm 1996 nghiên cứu DNA tìm thấy chứng cứ thể hiện Hán, Tạng cùng nguồn, ở chỗ người Hán và người Tạng trên M122 và trên phân chi M134 đều có đột biến giống nhau. Thông qua phân tích chủ thể nhiễm sắc thể Y thấy rằng tần suất đột biến ở người Tạng gần gũi nhất với tần suất đột biến ở người Hán, chứng tỏ trong số các dân tộc thuộc hệ ngữ Tạng-Miến thì người Tạng và người Hán là gần gũi nhất. Họ phân hóa thành hai dân tộc cách nay khoảng 5000 năm.
Theo trợ lý Tiền Cát của phòng thí nghiệm của giáo sư Kim Lực thì việc Trung Quốc dùng DNA phân tích lộ trình thiên di của tổ tiên đã đến độ thành thạo. Các nhà nghiên cứu lĩnh vực này như Trương Á Bình, Chử Gia Hựu (Vân Nam), Bác Tụng Tân, Lý Nghiệp (Cáp Nhĩ Tân) v.v. chỉ cần tổng hợp các con đường thiên di lại sẽ có được sơ đồ hoàn chỉnh về lộ trình thiên di của người Trung Quốc. Qua những thành tựu nghiên cứu tới nay, có thể thấy rằng 56 dân tộc Hoa Hạ ở Đông Á và các dân tộc ở Đông Nam Á đều là do tiên dân ngữ hệ Nam Á phân hóa mà thành, vì trên cơ thể họ đều có đột biến M122.
Đột biến M122 đại khái xuất hiện khoảng 3 vạn năm trước. Lúc này các dãy núi ở Trung Quốc đều phủ kín tuyết, đại bộ phận đất đai còn trống vắng, chỉ có số ít người da đỏ sống ở vùng Hoàng Hà và Trường Giang. Trong khi đó ở vùng Miến Điện Đông Nam Á bộ lạc người da vàng đã có thế lực nhất định, người da đỏ không ngừng qui tụ về hướng nam.
Khi băng hà trên lục địa Trung Quốc tan dần, một chi có đột biến M122 thuộc hệ ngữ Nam Á bắt đầu tiến nhập Trung Quốc. Theo Lý Huy, tiên dân hệ ngữ Nam Á tiến nhập Trung Quốc chia thành ba đường, vào Trung Quốc qua hai cửa, một là ngả Vân Nam. Hai là ngả lưu vực Châu Giang Một chi theo cao nguyên Vân Quí đi lên hướng tây bắc, cách nay khoảng 1 vạn năm họ đã đến được vùng bồn địa Hà Thao, thượng du Hoàng Hà. Đây là chi tổ tiên của hệ ngữ Hán Tạng mà về sau gọi là tiên Khương, họ chính là tổ tiên chung của người Hán và người Tạng.
Chi tiên dân Nam Á này khi bắt đầu thiên di thì cơ thể họ có đặc trưng là cái đầu của họ chưa được tròn cho lắm, mũi to, môi dầy. Họ đi từ Vân Nam lên Cam Túc, hình trạng nhân thể phát sinh biến hóa, Sau khi đến được vùng cao nguyên, không còn bị các bệnh nhiệt đới ảnh hưởng, ô xi lại thiếu nên khuôn mặt của họ biến dài. Ngôn ngữ của họ cũng biến đổi, có thuyết cho rằng biến đổi này là do cái miệng và cái tai đem lại.
Nhưng điều quan trọng là qua quá trình thiên di 1 vạn năm M122 trong cơ thể họ bắt đầu sinh ra đột biến mới là M134. Như vậy đến cách nay 5000 – 6000 năm DNA trong nhân thể bắt đầu “không yên phận” nữa, lúc này, do nông nghiệp ăn hạt cốc xuất hiện, văn hóa đá mới bắt đầu phát triển. Dân số tăng khiến nhân quần tất yếu tìm nơi cư trú mới. Bắt đầu phân rã hai tộc ngữ Hán và Tạng từ một hệ ngữ Hán Tạng.
Trên cơ sở M134 của một chi nhân quần khác phát sinh đột biến M117. Chi này mang theo đột biến này đi về phía đông một mạch đến lưu vực Vị Hà thì dừng lại. Họ nắm được văn minh nông nghiệp, bắt đầu sống bằng nghề nông. Quần thể này chính là người Hoa mà về sau gọi là người Hán. M117 trên cơ thể người Hán là một đột biến di truyền rất cổ xưa.
Một chi nhân quần khác bị gọi là quần thể ngữ tộc Tạng Miến. Họ rời lưu vực Hoàng Hà thiên di hướng tây và hướng nam, cuối cùng đến định cư ở nam và bắc dãy Himalaya. Trong quá trình thiên di, quần thể này không ngừng phân liệt thành các dân tộc Tạng, Khương, Di, Cảnh Phả, Thổ Gia.
Người Hoa ở lưu vực Vị Hà mài dũa nên một chi rất dũng mãnh thiện chiến là người Tần, tích tụ một thực lực thống nhất Trung Quốc. Còn một bộ phận khác người Hoa lại tiếp thụ ảnh hưởng của văn hóa Long Sơn của người Di và văn hóa của người Miêu Dao, hình thành nên hai quần thể Tề ngữ và Sở ngữ.
Thời kỳ Tần Hán đã thống nhất được một Trung Quốc vốn chia năm sẻ bảy, thống nhất cả ngôn ngữ, văn tự, tiền tệ , đo lường. Chỉnh thể Hán tộc đã ý thức được sự hình thành chân chính. Thêm vào đó là sự thống trị có hiệu lực của tập quyền trung ương, từ đó Hán tộc không bị phân hóa nữa. Còn về mặt văn hóa thì cưỡng chế làm cho Hán tộc giống như một giọt mực lan rộng ra trên toàn bản đồ Trung Quốc. Họ mang đột biến M117 nhanh chóng thẩm thấu bốn phương.

Thân phận mơ hồ của dân tộc phương Nam
Lý Huy thông qua nghiên cứu đã phát hiện, tiên dân Nam Á men theo cao nguyên Vân Quí đi lên phía bắc và phía tây hình thành nên ngữ hệ Hán Tạng, đồng thời từ trong số quần thể Nam Á ấy có một chi đi về hướng đông và nam qua Lào và dãy Sòng Sơn (Trường Sơn- ND), cách nay hơn 1 vạn năm, hình thành nên ở vịnh Bắc Bộ tổ tiên của ngữ hệ Úc – Thái. Chi người da vàng này mang đột biến M119 từ Việt Nam, Quảng Tây tiến nhập Trung Quốc, mên theo bờ biển tiến lên hướng đông bắc, hình thành nên dân tộc Bách Việt.
Lý Huy bản thân thuộc nhân quần ngữ hệ Úc – Thái, đây là phát hiện ngẫu nhiên của anh ta khi nghiên cứu mẫu DNA của phân chi dân tộc. Hai năm trước khi chưa nghiên cứu thì anh ta chưa hề biết đích xác quần tộc của mình, khi ghi hồ sơ lý lịch vẫn điền là “dân tộc Hán”. Nhưng từ nhỏ anh đã phát hiện thấy, tuy sinh ra lớn lên ở Phụng Hiền, Thượng Hải nhưng tập quán rất khác xa quần thể người Hán xung quanh. Cụ ông cụ bà của anh đều bận trang phục màu chàm. Họ có những ngày Tết riêng: âm lịch 18 tháng 4, té nước mừng năm mới; âm lịch 18 tháng 9 tát ao bắt cá chia phần đều cho cả xóm. Họ có ưu việt cảm với dòng giống của mình, không thông hôn với các dân tộc khác. Thời đó các cụ đều nói với thằng nhỏ Lý Huy rằng họ mới chính là dân bản địa của Thượng Hải.
Cho tới khi Lý Huy đi lấy mẫu ở quần thể người Thái ở Vân Nam mới có được phát hiện vỡ òa rằng anh hầu như nghe hiểu gần hết ngôn ngữ của người Thái. Rồi khi giao lưu với người Thủy anh lại càng kinh ngạc, đến những từ nói thầm, từ dùng trong buồng riêng họ nói anh đều nghe hiểu. Khi về Thượng Hải anh mới phân tích mẫu máu của mình, phát hiện cơ thể người Thái, người Thủy và cơ thể anh đều có đột biến M119.
Ngành dân tộc học gọi quần thể có đột biến M119, là hệ thống dân tộc Bách Việt. Lịch sử của họ bao trùm phạm vi từ Giao Chỉ thuộc Bắc Bộ Việt Nam đến Triết Giang. Trong hàng nghìn năm phân hóa thành các tộc Lê, Đồng, Thủy, Lào, Cao Sơn, Choang, Thái. Các tộc người này về ngôn ngữ và văn hóa có sự đồng nhất rất mạnh, bởi vậy gọi chung là người Việt. Xương mày có độ uốn cong xuống dưới rất lớn là đặc trưng của người hệ ngữ Úc – Thái.
Năm ngoái Lý Huy cùng tổ nghiên cứu của mình tiến hành nghiên cứu ở Thượng Hải xem người Ngô và người Việt là thuộc một dân tộc hay thuộc hai dân tộc. Trước đó giới ngôn ngữ học cho rằng họ thuộc một dân tộc, vì họ nói có thể hiểu được nhau.
Nhưng nghiên cứu phát hiện ra rằng họ thuộc hai dân tộc hoàn toàn khác nhau. Người Việt 7 – 8 ngàn năm trước phát triển tại Thông Giang Thượng Hải. Người Ngô khoảng 3 ngàn năm trước mới tiến nhập Thượng Hải. Các sắc dân người Việt trên cơ thể có lượng lớn đột biến M119; người Ngô lại có rất ít, họ có nhiều là đột biến M7, do hệ ngữ Miêu Dao di truyền. Người Ngô thuộc chi tiên dân Nam Á thiên di từ cao nguyên Vân Quí đi về phía đông, sau đó vị điểm trên chuỗi DNA ở M134 phát sinh đột biến M7.
Nhân quần này ở vùng Động Đình hình thành nên ngữ hệ Miêu Dao. Người Ngô chính là sự đồng hóa giữa người Miêu Dao đông tiến và người Hán nam tiến mà hình thành, do vậy biến hóa cơ cấu di truyền của họ nhiều mà phức tạp.

Đông Nam Á là một trung tâm phân hóa dân tộc
Nghiên cứu viên Tiền Cát nói, trong kế hoạch lập bản đồ thiên di nhân loại thì lộ trình thiên di của người Trung Quốc đã khá rõ ràng. Bây giờ chỉ còn là công tác tổng kết và bổ sung.
Ví dụ, nghiên cứu tới nay đã chỉ ra rằng, 2 vạn năm trước, khi hệ ngữ Úc – Thái hình thành, có một chi bộ lạc men theo bờ biển đi lên, hầu như không lưu lại dấu tích nơi họ dừng. Họ đi một mạch đến lưu vực Tây Liêu Hà mới dừng lại. Họ chính là hạt nhân của hệ ngữ A Nhĩ Thái. Sau đó người Di đi lên, người Hoa cũng đi lên, ở đó hội nhập lại lần thứ nhất, hình thành nên văn hóa Hưng Long Thẩm. Đây là nơi ngày nay phát hiện văn hóa đá mới sớm nhất của Trung Quốc.
Sau đó tiên dân ngữ hệ A Nhĩ Thái đi rộng ra bốn xung quanh, về phía tây phân hóa thành Mông Cổ, Đột Quyết; về phía đông nhập Triều Tiên, Nhật Bản; về phía bắc qua eo Bê Rinh sang Mỹ. Vùng này lấy mẫu còn thưa, còn phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung. Trọng tâm nghiên cứu đặt vào Đông Nam Á. Đông Nam Á là vùng lớn các dân tộc giao hội, có tới 2000 dân tộc, chiếm ¼ các dân tộc trên thế giới. Do người châu Phi tới đây sớm, thời gian dài, nên nơi đây thành trung tâm phân hóa các dân tộc. Ở đây hầu như mỗi đảo là một dân tộc, cách một ngọn núi là một dân tộc. Theo suy nghĩ của Lý Huy, nghiên cứu bắt đầu từ Lào và Miến Điện, nơi còn rất nhiều các bộ lạc quần thể cổ xưa.
Từ châu phi tiên nhân da vàng đến Miến Điện, hình thành ở đó hệ ngữ Nam Á. Hiện nay công tác nghiên cứu lấy mẫu hệ ngữ Nam Á còn quá ít và lại đang tiến hành rất chậm chạp. Tiên dân Nam Á chính là tổ tiên chung của người Đông Á. Làm rõ được kết cấu di truyền của nhân quần Nam Á này sẽ có được cống hiến lớn cho hoàn thành sơ đồ thiên di nhân loại.